Góc tư vấn

10 SỰ THẬT VỀ ĐỜI TU NHỮNG “GÓC KHUẤT” ÍT ĐƯỢC NHẮC TỚI – Lm. Anmai, CSsR

10 SỰ THẬT VỀ ĐỜI TU

NHỮNG “GÓC KHUẤT” ÍT ĐƯỢC NHẮC TỚI

Có những người nhìn đời tu từ xa và tưởng đó là một khu vườn luôn có nắng dịu, một thế giới ít va chạm, một nơi mà chỉ cần bước qua cánh cổng nhà dòng là lòng người tự nhiên trở nên trong sáng hơn, các tương quan tự nhiên hiền hòa hơn, những yếu đuối tự nhiên lắng xuống, và con đường nên thánh bỗng như được lát bằng những viên đá phẳng. Nhiều người trẻ yêu mến ơn gọi cũng đã đến gần đời tu bằng một trái tim rất đẹp, rất thật, rất quảng đại, nhưng cũng mang theo trong mình một thứ tưởng tượng thiêng liêng hóa quá mức. Họ nghĩ rằng bước vào nhà dòng là bước vào một bầu khí hầu như không còn những căng thẳng rất người. Họ nghĩ rằng ở đó chỉ có cầu nguyện, chỉ có bình an, chỉ có tình huynh đệ, chỉ có hy sinh, chỉ có những khuôn mặt đạo đức, những lời nói nhẹ nhàng, những ánh mắt cảm thông, những người bề trên luôn hiểu mình, những anh em luôn nâng mình dậy khi mình yếu đuối. Họ nghĩ rằng đi tu là đi vào một vùng đất ít gió hơn cuộc đời.

Nhưng rồi có một ngày, rất sớm hay khá muộn, người ta phải học một sự thật khác. Đời tu không phải là chỗ để trốn khỏi phận người. Đời tu là nơi phận người bị đặt sát trước mặt Thiên Chúa hơn, bị lột dần những lớp sơn đẹp hơn, bị gọi tên thật hơn, bị mời đi vào chiều sâu của sự thật khắc nghiệt hơn. Không phải vì đời tu xấu, nhưng chính vì đời tu quá thật nên những ai bước vào đó với ảo tưởng sẽ sớm có ngày hụt chân. Không phải vì cộng đoàn là nơi thiếu Chúa, nhưng chính vì Chúa hiện diện rất thật nên Ngài không nuông chiều những hình dung dễ dãi của ta về sự thánh thiện. Người ta không vào nhà dòng để thôi phải chiến đấu. Người ta vào nhà dòng để chiến đấu đúng hơn, sâu hơn, đau hơn, thật hơn. Không phải chỉ với ma quỷ ngoài kia, không phải chỉ với cám dỗ của thế gian, nhưng trước hết là với cái tôi của mình, với những góc tối trong mình, với những đòi hỏi rất bản năng mà trước đây mình không nhận ra, với những ước mơ đẹp nhưng lẫn vào đó là biết bao tìm kiếm bản thân, với những vết thương cũ, với những nhu cầu được công nhận, với nỗi sợ bị bỏ quên, với cơn khô khan trong cầu nguyện, với nỗi cô độc giữa anh em, với những thất vọng rất người về Giáo hội, về cộng đoàn, về chính mình.

Bởi vậy, nếu phải nói một điều thành thật về đời tu, thì đó là thế này: đời tu không đẹp vì nó không có thập giá; đời tu đẹp vì nó có thập giá mà vẫn đáng để trao hiến cả một đời. Đời tu không cao quý vì người đi tu là những con người hoàn hảo; đời tu cao quý vì những con người bất toàn ấy vẫn ngày ngày học để thuộc trọn về Thiên Chúa hơn. Đời tu không là con đường dành cho những ai muốn dễ thở hơn; đời tu là con đường dành cho những ai chấp nhận để Chúa chạm vào tận gốc rễ đời mình, kể cả ở những nơi đau nhất, xấu nhất, khó nhìn nhất.

Cuốn sách này muốn nói về mười sự thật như thế. Không phải để làm ai nản lòng. Không phải để vẽ một bức tranh u ám về ơn gọi. Không phải để phơi bày các góc khuất rồi kết thúc trong thất vọng. Nhưng để trả đời tu lại cho sự thật của nó. Và chỉ khi ơn gọi được trả lại cho sự thật, người ta mới có thể yêu ơn gọi đó một cách trưởng thành. Cái gì chỉ được yêu bằng tưởng tượng thì cũng sẽ bị bỏ khi tưởng tượng vỡ tan. Chỉ điều gì được yêu sau khi đã nhìn thấy cả những vết nứt của nó mà vẫn còn muốn ở lại, điều đó mới bền. Người ở lại với đời tu không phải là người chưa từng thất vọng. Thường chính là người đã đi qua thất vọng, đã nhìn thấy những mảng tối, đã bị va đập vì thực tế, đã có lúc chới với, đã có lúc muốn lùi, nhưng cuối cùng vẫn thưa với Chúa rằng: con không ở đây vì mọi sự đều đẹp, con ở đây vì chính Ngài là Đấng đáng để con dâng đời, ngay cả khi đường đi không giống như con từng mơ.

Vậy nên, ai đang đứng trước ngưỡng cửa ơn gọi, ai đang ở những năm đầu trong hành trình đào luyện, ai đã sống đời dâng hiến nhiều năm mà trong lòng bắt đầu có những câu hỏi âm thầm, ai đang mệt, đang hoang mang, đang tự hỏi vì sao đời tu không giống điều mình tưởng, xin hãy đọc những trang này như một cuộc trò chuyện không tô hồng, nhưng cũng không tuyệt vọng. Có những sự thật ban đầu nghe giống như một gáo nước lạnh. Nhưng nếu đón nhận chúng trong ánh sáng của Chúa, chính những sự thật ấy sẽ cứu ơn gọi ta khỏi sự nông cạn, khỏi sự ảo tưởng, khỏi một thứ đạo đức mỏng manh chỉ đứng vững khi mọi sự thuận lợi.

Đời tu không cần những người lãng mạn nhất thời. Đời tu cần những trái tim thật. Mà trái tim thật là trái tim biết khóc, biết đau, biết bị thử thách, biết mình yếu, biết người khác yếu, biết Giáo hội mang thương tích, biết cộng đoàn có giới hạn, biết bản thân không phải thiên thần, nhưng vẫn chọn yêu, vẫn chọn ở lại, vẫn chọn đi tới, vẫn chọn để Chúa nhào nặn mình qua tất cả.

Có lẽ đó là lúc một ơn gọi bắt đầu chín.

  1. CỘNG ĐOÀN KHÔNG PHẢI LÀ MỘT “THIÊN ĐƯỜNG HẠ GIỚI”

Một trong những cú chạm thực tế đầu tiên của đời tu là khám phá ra rằng cộng đoàn không phải là nơi tập trung của những con người đã vượt qua mọi yếu đuối. Cộng đoàn là nơi những con người đang trên đường được thanh luyện cùng sống với nhau. Mà đã là con người thì sẽ có khí chất khác nhau, tính nết khác nhau, vết thương khác nhau, trình độ trưởng thành khác nhau, động cơ bước theo Chúa cũng chưa chắc đã tinh ròng như nhau. Có người bước vào vì yêu Chúa rất thật. Có người bước vào vì cảm động trước một hình ảnh thánh thiện nào đó. Có người bước vào vì muốn tìm ý nghĩa cuộc đời. Có người bước vào vì muốn thoát khỏi một môi trường gia đình ngột ngạt. Có người bước vào vì đã chạm một tiếng gọi sâu, nhưng cũng không thiếu những phần còn rất lẫn lộn trong tâm hồn. Và đó là điều có thật.

Có những người vào nhà dòng mà trong lòng vẫn còn mang theo rất nhiều nhu cầu chưa được gọi tên: nhu cầu được thuộc về một tập thể, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu được nhìn nhận là người đạo đức, nhu cầu được sống trong một cấu trúc an toàn hơn thế gian. Có những người ở lại lâu năm nhưng ngọn lửa ban đầu dần yếu đi. Họ vẫn giữ nếp sống, vẫn đi đúng lịch trình, vẫn đọc kinh, vẫn làm việc, vẫn hoàn thành những gì được giao, nhưng cái lõi sống động bên trong không còn cháy mạnh nữa. Có những tu sĩ không làm điều gì sai lớn, nhưng cả đời sống dần rơi vào tình trạng tầm tầm bậc trung, không còn khát vọng vươn lên, không còn thao thức nên thánh, không còn lửa nội tâm, chỉ còn lại thói quen. Họ sống đúng hơn là sống động. Họ tồn tại trong ơn gọi hơn là hiến dâng trong ơn gọi.

Người trẻ bước vào cộng đoàn với một trái tim lý tưởng rất dễ bị sốc khi nhận ra điều đó. Họ tự hỏi: tại sao ở đây lại có người nói hành, có người lạnh lùng, có người hơn thua, có người khó tính, có người bảo thủ, có người thiếu tế nhị, có người tưởng rất đạo đức nhưng cách đối xử lại làm người khác đau? Tại sao nơi vốn được gọi là nhà Chúa lại có những bầu khí nặng nề, những tương quan khó thở, những im lặng đầy ám khí, những va chạm rất đời? Tại sao ở nơi người ta tưởng chỉ có bác ái lại vẫn có những khuynh hướng loại trừ, phe nhóm, thành kiến, nhìn nhau bằng con mắt nghi kỵ?

Sự thật là vì nhà dòng không xóa bỏ bản tính con người chỉ bằng việc thay áo. Tấm áo dòng có thể che thân, nhưng không che được cái tôi. Cộng đoàn không phải phép màu. Cộng đoàn là lò luyện. Và lò luyện thì không dịu dàng theo kiểu chiều chuộng cảm xúc của ta. Nó đòi ta nhìn thấy thực tế: anh em mình không phải thiên thần; và mình cũng vậy. Nếu bước vào đời tu mà vẫn mong cộng đoàn phải là nơi ai cũng hiểu mình, ai cũng nhẹ nhàng với mình, ai cũng trưởng thành hơn mình, ai cũng biết điều như mình muốn, thì sớm muộn gì ta cũng va đập đến đau lòng.

Điều khó nhất không phải là khám phá người khác có giới hạn. Điều khó nhất là chấp nhận người khác có giới hạn mà lòng mình vẫn không mất bình an, vẫn không trở nên cay đắng, vẫn không trượt vào phán xét. Rất nhiều người có thể chịu được nghèo vật chất, nhưng không chịu nổi nghèo tương quan. Rất nhiều người có thể sống kỷ luật, nhưng không chịu nổi việc phải ở cạnh những người mình thấy khó thương. Thế mà chính ở đó, Tin Mừng bắt đầu đi vào tận gốc. Bởi vì yêu người đáng yêu thì chưa nói lên nhiều. Sống được với người làm mình mỏi, vẫn giữ lòng bác ái với người mình thấy khó chịu, vẫn cầu nguyện cho người đã làm mình tổn thương, vẫn tập nhìn thấy nỗi khổ và giới hạn phía sau sự cứng cỏi của anh em, đó mới là điểm mà đời tu bắt đầu thôi không còn là một dự án đẹp nữa, mà trở thành cuộc hoán cải thật.

Cộng đoàn không là thiên đường hạ giới. Và thật ra, chính vì không là thiên đường nên nó mới có thể trở thành con đường dẫn ta tới trời. Nếu mọi anh em đều dễ thương, mọi bề trên đều tinh tế, mọi tương quan đều êm, mọi lời nói đều dịu, mọi quyết định đều vừa ý, thì ta sẽ dễ tưởng mình là người khiêm nhường, dễ tưởng mình có bác ái, dễ tưởng mình có thể tha thứ, dễ tưởng mình sống vì Chúa. Nhưng đâu ai biết được mình là ai khi chưa bị đụng vào chỗ mình bám nhất. Chỉ khi ở chung với những khác biệt, những bất toàn, những va chạm, ta mới biết lòng mình hẹp hay rộng, đức ái của mình thật hay chỉ là hình ảnh mình thích về bản thân.

Có những người anh em sống mòn trong ơn gọi. Họ không còn làm ai thấy được vẻ đẹp ban đầu của việc dâng hiến. Họ có thể khiến người trẻ thất vọng. Nhưng cũng có thể chính họ, bằng một cách rất lạ, đang trở thành gương soi cho ta. Không phải gương để bắt chước, mà là gương để tỉnh thức. Nhìn họ, ta hiểu rằng mình cũng có thể nguội đi nếu ngừng canh giữ nội tâm. Nhìn họ, ta hiểu ơn gọi không được bảo đảm bằng số năm khấn dòng. Nhìn họ, ta hiểu nguy hiểm lớn nhất không phải là ngã một lần thật đau, nhưng là sống một đời âm thầm tắt lửa mà không nhận ra. Nhìn họ, ta được nhắc rằng sự trung thành với Chúa không phải điều đương nhiên. Nó là cuộc chiến hằng ngày.

Nhưng sâu hơn nữa, nhìn những anh em ấy, ta được mời gọi học một tình yêu trưởng thành hơn. Không phải thứ tình yêu chỉ nở hoa khi đối diện với cái đẹp. Mà là thứ tình yêu biết cúi xuống trước sự tàn úa của người khác mà vẫn không khinh chê. Biết rằng người kia có thể rất khó thương, nhưng cũng đang mang trong mình một câu chuyện dài, một vết thương sâu, một cơn mệt kéo dài, một cuộc chiến không ai thấy. Có thể họ từng sốt sắng lắm. Có thể họ từng khóc nhiều trong những ngày đầu ơn gọi. Có thể họ từng quảng đại mà giờ đây chỉ còn lại lớp vỏ khô cứng. Không ai tự nhiên trở thành một người nguội lạnh chỉ sau một đêm. Thường đó là cả một quá trình mòn mỏi, thất vọng, chiến đấu không tới nơi, buông xuôi từng chút, chấp nhận trung bình từng chút, bỏ cầu nguyện thật từng chút, sống bằng vai trò nhiều hơn bằng tương quan với Chúa.

Nếu không hiểu điều đó, người trẻ rất dễ biến sự thất vọng thành kiêu ngạo. Họ bắt đầu nghĩ: ít ra mình không như thế. Mình còn lửa. Mình còn lý tưởng. Mình còn nghiêm túc. Mình còn thật lòng. Nhưng đó là lúc một nguy hiểm khác xuất hiện. Người ta có thể không sa vào sự tầm thường của người nguội lạnh, nhưng lại sa vào sự kiêu căng của người còn nhiệt thành. Và nhiều khi sự kiêu căng đạo đức còn làm ơn gọi hỏng nhanh hơn cả sự yếu đuối lộ rõ. Bởi vì khi người ta thấy mình còn tốt, người ta ít cầu xin ơn hơn. Khi người ta bắt đầu so mình với anh em để thấy mình sáng hơn, đời tu bắt đầu lệch khỏi trung tâm của nó.

Cộng đoàn không phải là thiên đường. Nhưng chính trong cộng đoàn bất toàn ấy, ta học được một bài học rất căn bản: mình đi tu không phải để tìm một nơi hoàn hảo cho mình trú ngụ; mình đi tu để cho Chúa dùng chính những bất toàn rất thật quanh mình mà cắt tỉa trái tim mình. Ai chờ một cộng đoàn lý tưởng mới sống được thì sẽ sống trong cay đắng. Ai biết đón nhận cộng đoàn như mảnh đất Chúa cho để mình được luyện, người ấy sẽ dần hiểu ra một điều rất sâu: không phải vì cộng đoàn hoàn hảo nên mình ở lại; nhưng vì Chúa đang ở đó, trong chính những điều không hoàn hảo, nên mình ở lại.

  1. KHÔNG AI CÓ THỂ “TU THAY” CHO BẠN

Có một ảo tưởng âm thầm nhưng rất nguy hiểm trong đời tu: cứ vào nhà dòng, sống đúng lịch, nghe bề trên, theo chương trình đào tạo, rồi tự khắc mình sẽ nên người, sẽ nên thánh, sẽ lớn lên. Nhiều người không nói ra điều đó, nhưng vô thức sống như thể điều đó là thật. Họ đi theo nề nếp chung, đọc kinh đúng giờ, tham dự giờ nguyện gẫm, học hành, làm việc, giữ luật, nhưng bên trong lại thiếu một quyết định cá vị, thiếu một cơn đói nội tâm, thiếu một cuộc tìm kiếm riêng tư đối với Thiên Chúa. Họ sống trong một môi trường đạo, nhưng không thực sự đào cho mình một giếng nước thiêng liêng.

Không ai có thể tu thay cho bạn. Bề trên không thể cầu nguyện thay cho bạn. Cha giáo không thể chiến đấu với cái tôi thay cho bạn. Linh hướng không thể hoán cải trái tim bạn thay cho bạn. Cộng đoàn không thể yêu Chúa giùm bạn. Nhà nguyện không thể cứu bạn nếu lòng bạn không thực sự bước vào đó. Một chương trình đào tạo tốt có thể giúp bạn rất nhiều, nhưng nó không thể làm điều mà chỉ tự do của bạn mới làm được: chọn Chúa mỗi ngày.

Có những người ở trong nhà dòng nhiều năm nhưng đời sống nội tâm gần như hoàn toàn phụ thuộc vào hoàn cảnh bên ngoài. Khi cộng đoàn sốt sắng thì họ sốt sắng. Khi bầu khí chung tốt thì họ cũng thấy mình khá ổn. Khi có tĩnh tâm, có giờ chia sẻ, có cha giảng hay, có những người chung quanh nâng đỡ, thì họ thấy lòng mình ấm. Nhưng khi những điều đó giảm đi, khi lịch sống trở nên quen, khi cảm xúc ban đầu nguội xuống, khi những người mình quý mến đổi nơi, khi bề trên không còn gần mình như trước, khi những khủng hoảng rất cá nhân xuất hiện, bỗng nhiên họ trở nên trống rỗng. Vì sao? Vì những năm ấy họ đã dựa vào khung đỡ quá nhiều mà không thật sự xây móng bên trong.

Đời tu có thể cung cấp điều kiện. Nhưng nó không thay thế được quyết định nội tâm. Có người ở một cộng đoàn rất bình thường nhưng lớn lên mạnh mẽ trong Chúa. Có người ở một môi trường đào tạo tốt mà vẫn dậm chân tại chỗ rất lâu. Sự khác biệt không chỉ nằm ở cấu trúc bên ngoài. Nó nằm ở chỗ một người có thật sự đem chính mình vào cuộc hay không. Có thật sự muốn gặp Chúa hay chỉ muốn hoàn thành bổn phận gặp Chúa. Có thật sự muốn để Lời đụng vào mình hay chỉ quen đọc Lời. Có thật sự muốn sửa mình hay chỉ muốn giữ hình ảnh ngoan. Có thật sự muốn nên thánh hay chỉ muốn được đánh giá là ổn.

Rất nhiều người trẻ tưởng kỷ luật là đủ. Nhưng kỷ luật chỉ là cái khung. Nếu bên trong khung ấy không có một ngọn lửa riêng, thì đến một lúc nào đó người ta sẽ chỉ còn là một tu sĩ vận hành tốt. Mà vận hành tốt chưa chắc là sống thánh thiện. Người ta có thể rất đúng giờ mà lòng không hướng về Chúa. Có thể rất thuộc luật mà bên trong nguội lạnh. Có thể rất chỉnh chu trong phụng vụ mà thiếu hẳn lòng mến. Có thể rất có trách nhiệm trong công việc mà đánh mất tương quan sống động với Đấng mình đã hiến đời cho. Có thể nhìn bề ngoài không ai chê được gì, nhưng bên trong linh hồn đã bắt đầu khô như đất mùa hạn.

Không ai tu thay cho bạn, bởi vì cuối cùng ơn gọi không phải chuyện của cấu trúc, mà là chuyện của tương quan. Bạn có thể sống giữa rất nhiều điều thiêng liêng mà vẫn không gặp Chúa cách riêng tư. Bạn có thể học thần học mà trái tim không mềm hơn. Bạn có thể nói về Thiên Chúa rất hay mà không thực sự sống với Ngài. Bạn có thể giúp người khác phân định mà chính mình lại sống theo quán tính. Bạn có thể đi rất xa trong hệ thống đào tạo mà lại chưa từng thật lòng quỳ xuống và nói với Chúa: con cần Ngài hơn tất cả.

Có những người trẻ khi mới vào rất hăng, rất tốt, rất ngoan. Nhưng họ chờ người khác kéo mình. Họ chờ bề trên nhắc, chờ cha giáo thúc, chờ linh hướng hỏi, chờ cộng đoàn tạo bầu khí. Hễ được nâng thì đi, không được nâng thì chững. Hễ có ai quan tâm thì sốt sắng, không ai quan tâm thì chùng xuống. Kiểu sống ấy có thể tồn tại một vài năm, nhưng không thể đưa một linh hồn vào độ sâu. Bởi vì càng đi lâu, Chúa càng đòi một sự tự do trưởng thành hơn. Ngài muốn ta theo Ngài không chỉ vì có người đứng bên cạnh, không chỉ vì có một hệ thống giữ mình, mà vì chính ta đã chọn Ngài như kho báu của đời mình.

Chính ở đây, đời sống nội tâm không thể bị hiểu như một cảm giác sốt sắng mơ hồ. Nó là một quyết định rất cụ thể và rất dai dẳng. Đó là lúc mình vẫn trung thành với giờ nguyện gẫm dù không cảm được gì. Đó là lúc mình không chỉ đọc kinh với môi nhưng học cầu nguyện bằng cả đời sống. Đó là lúc mình đem những khô khan, những bực bội, những xao động, những yếu đuối, những cám dỗ của mình ra trước mặt Chúa thay vì chỉ giữ một khuôn mặt ổn. Đó là lúc mình tập sống thật với linh hướng, dám gọi tên những vùng tối, dám đi vào những nơi mình không muốn nhìn. Đó là lúc mình không lấy sự bận rộn làm bình phong để trốn khỏi đời sống thiêng liêng.

Có một điều rất đau nhưng rất cứu rỗi: sẽ đến ngày không còn ai có thể nâng đỡ bạn theo cách bạn muốn nữa. Bề trên có thể thay đổi. Linh hướng có thể đổi. Cộng đoàn có thể làm bạn hụt hẫng. Bạn thân có thể đi nơi khác. Cảm xúc sốt sắng có thể rút đi. Sự mới mẻ có thể tan. Và lúc đó điều duy nhất còn giữ được bạn là gốc rễ đã cắm sâu hay chưa. Nhiều ơn gọi không đổ vỡ trong những cú sốc lớn. Chúng mòn đi trong một đời sống nội tâm không có rễ. Bên ngoài vẫn ổn, nhưng bên trong không có sức bật. Không có giếng sâu, chỉ có mặt nước nông.

Cho nên, ai đang bước vào đời tu, điều cần học rất sớm là đừng gửi linh hồn mình vào tay hệ thống. Hệ thống cần thiết, nhưng không cứu được bạn. Cứu bạn là Chúa. Và Chúa chỉ có thể cứu một người chịu mở lòng thật với Ngài. Bạn phải tự mình học cầu nguyện. Tự mình học ở lại trong tịch lặng. Tự mình học đọc ra những chuyển động nội tâm. Tự mình học chiến đấu với các vùng tối. Tự mình học dựng cho mình một đời sống thật trước mặt Chúa, chứ không chỉ một nếp sống đúng trước mặt cộng đoàn.

Người chịu trách nhiệm lớn nhất về ơn gọi của mình không phải bề trên. Cũng không phải chương trình đào tạo. Chính là bạn. Câu nói ấy nghe nặng. Nhưng thật ra nó đẹp. Bởi vì nó trả lại cho bạn phẩm giá của một người tự do. Bạn không là sản phẩm của nhà dòng. Bạn là người được mời gọi đáp lại tình yêu. Mà tình yêu thì không thể bị ép thành. Nó phải được chọn, rồi chọn lại, rồi chọn nữa, qua từng ngày rất bình thường.

  1. LỜI KHẤN KHIẾT TỊNH KHÔNG PHẢI LÀ PHÉP MÀU

Có những người nghĩ rằng khi bước vào đời tu, hoặc đặc biệt khi sống dưới lời khấn khiết tịnh, thì các xung năng tự nhiên của con người sẽ tự động yếu đi, các vết thương liên quan đến tình cảm sẽ tự động lành lại, những lệch lạc tâm lý sẽ tự động được nâng cấp thành nhân đức, và mọi cơn chao động trong thân xác lẫn trái tim sẽ dần tan biến chỉ nhờ môi trường tu trì. Đó là một hiểu lầm lớn. Lời khấn không phải là phép màu xóa cấu trúc nhân tính. Ân sủng không phá hủy tự nhiên; ân sủng thanh luyện, nâng đỡ, giáo dục, kiện toàn tự nhiên. Nhưng nếu phần tự nhiên bị bỏ bê, bị chối bỏ, bị phủ đạo đức lên để trốn tránh, thì nó không biến mất. Nó chỉ đổi hình.

Người sống đời tận hiến không thôi là con người. Thân xác vẫn là thân xác. Ký ức vẫn là ký ức. Nhu cầu được yêu, được nhìn nhận, được gần gũi, được thuộc về vẫn còn đó trong chiều sâu nhân tính. Những tổn thương từ gia đình, những thiếu thốn cảm xúc thời thơ ấu, những kinh nghiệm tình cảm chưa được hiểu đúng, những thói quen lệch lạc, những tưởng tượng không lành mạnh, những đứt gãy trong cách gắn bó với người khác, tất cả không vì khoác áo dòng mà tự biến mất. Nhiều khi, chính môi trường kỷ luật và việc phải giữ hình ảnh lại làm cho những điều ấy bị nén xuống. Mà cái gì bị nén xuống quá lâu mà không được chữa lành, nó sẽ đi đường vòng.

Có người không sống được sự thân mật lành mạnh, nên khi khấn khiết tịnh, thay vì học yêu một cách tự do hơn, họ trở nên khép kín, lạnh lùng, sợ gần người khác, sợ chính trái tim mình. Có người từ bỏ tương quan đôi lứa nhưng lại bám víu rất mạnh vào những mối thân tình mang màu sắc sở hữu. Có người giữ được bề ngoài rất nghiêm, nhưng bên trong lại đầy những tưởng tượng bí mật không bao giờ dám đem ra ánh sáng. Có người không sa vào một tội rõ rệt nào, nhưng sự năng lượng bị dồn nén lại biến thành khó chịu, gắt gỏng, kiểm soát, cay nghiệt, hoặc tìm thú vui tinh vi trong quyền lực, trong sự được ngưỡng mộ, trong thành công mục vụ. Có người không đụng vào điều bị cấm, nhưng trái tim không hề tự do hơn. Nó chỉ chuyển chỗ bám.

Bởi vậy, giữ khiết tịnh không thể chỉ được hiểu như tránh một số hành vi. Khiết tịnh đích thực là một hành trình thống nhất con người, trong đó tình cảm, thân xác, trí tưởng tượng, ký ức, khát vọng, tương quan, năng lượng sống, tất cả dần được quy hướng về một tình yêu lớn hơn. Nhưng hành trình đó đòi hỏi lao động nội tâm rất nghiêm túc. Đòi hỏi sự thật. Đòi hỏi can đảm đối diện với mình. Đòi hỏi biết mình yếu ở đâu, dễ tìm gì để khỏa lấp ở đâu, dễ rơi vào kiểu gắn bó nào, dễ tìm an ủi nơi điều gì, dễ dùng người khác cho nhu cầu bản thân ở điểm nào.

Nhiều người chỉ muốn nghe nói về vẻ đẹp cao quý của khiết tịnh, nhưng không muốn đi vào vùng đất lấm bùn của quá trình thanh luyện nó. Họ thích nói rằng khiết tịnh là yêu rộng hơn, nhưng không chấp nhận rằng muốn yêu rộng hơn thì trước hết phải học không dùng người khác để khỏa lấp trống rỗng của mình. Họ thích nói rằng người tu sĩ thuộc trọn về Chúa, nhưng không nhìn rằng để thuộc trọn về Chúa, con tim phải đi qua những lần giằng co rất thật với chính những cơn đói tình cảm, những thèm khát được một người hiểu riêng, được một ánh mắt đặc biệt, được một chỗ dựa ngọt ngào mà ơn gọi không cho phép ôm theo theo kiểu sở hữu.

Có những cuộc khủng hoảng khiết tịnh không bắt đầu từ thân xác. Chúng bắt đầu từ cô đơn. Từ mệt mỏi. Từ thiếu cầu nguyện thật. Từ một đời sống quá bận rộn mà không có chiều sâu. Từ việc không sống huynh đệ đủ lành mạnh nên trái tim bắt đầu đi tìm một điểm dựa riêng. Từ việc không hiểu bản thân nên rơi vào những gắn bó tưởng là vô hại nhưng dần trở thành lệ thuộc. Từ việc không dám thú nhận với linh hướng những chuyển động rất người, nên chúng âm thầm lớn lên trong bóng tối. Bóng tối luôn làm mọi thứ nguy hiểm hơn. Cái được đem ra ánh sáng chưa chắc đã biến mất ngay, nhưng nó bắt đầu mất bớt quyền lực.

Đời tu không đòi bạn không có cảm xúc. Đời tu không đòi bạn trở thành đá. Đời tu cũng không đòi bạn ghét thân xác mình, ghét những nhu cầu tình cảm lành mạnh, ghét nhân tính của mình. Điều đời tu đòi là bạn học mang tất cả những điều ấy vào trong một tiến trình hiến dâng. Hiến dâng không phải là chối bỏ. Hiến dâng là nhìn nhận, hiểu, thanh luyện, và quy hướng. Nếu bạn không hiểu những chuyển động bên trong mình, bạn sẽ sợ chúng hoặc nuôi chúng cách vô thức. Cả hai đều nguy hiểm.

Lời khấn khiết tịnh không phải phép màu. Nó là lời mời đi vào chiến đấu. Có khi rất đẹp. Có khi rất nhức. Có khi rất tự do. Có khi rất cô đơn. Có những đêm người ta phải ngồi thật lâu trước Chúa chỉ để thú nhận rằng trái tim mình đang không bình an, trí tưởng tượng mình đang không sạch, lòng mình đang bám vào một người nào đó quá mức, hay những vết thương cũ đang khiến mình hành xử méo mó. Và chính những giờ như thế mới là nơi lời khấn trở thành sự thật. Không phải lúc mình được người ta khen là sống nghiêm túc. Mà lúc mình không còn diễn, không còn giấu, không còn lãng mạn hóa chính mình, chỉ còn biết thưa với Chúa: con yếu thật, xin đừng để con sống đời dâng hiến chỉ bằng bề ngoài.

Cần nói thật thêm một điều nữa: không phải ai yếu trong lĩnh vực này cũng là người giả dối, và không phải ai bề ngoài nghiêm nhặt cũng là người đã tự do. Trong hành trình tận hiến, điều làm một linh hồn lớn lên không phải là việc họ không bao giờ chiến đấu dữ dội, nhưng là cách họ chiến đấu. Họ có sống trong sự thật không. Họ có biết cầu cứu không. Họ có chịu để Chúa chạm vào tận gốc những vết thương và nhu cầu sai hướng không. Họ có dám đi con đường chữa lành tâm lý khi cần không. Họ có biết giữ những biên giới lành mạnh trong tương quan không. Họ có biết nghỉ ngơi đúng cách, làm việc quân bình, sống huynh đệ thật, chăm sóc cơ thể, canh giữ các giác quan, và không chơi đùa với lửa không.

Khiết tịnh không dành cho người ảo tưởng về mình. Nó dành cho người khiêm tốn. Người biết rằng nếu không bám lấy Chúa thì mình có thể ngã. Người biết không có chỗ cho tự mãn trong đời dâng hiến. Người biết rằng chiến thắng hôm qua không bảo đảm cho hôm nay. Người biết rằng chỉ một trái tim luôn tỉnh thức mới dần trở nên trong sạch. Và trong sạch ở đây không phải là không còn phải chiến đấu, mà là mỗi ngày sống đơn nhất hơn trong tình yêu, bớt dùng người khác hơn, bớt tìm mình hơn, bớt che giấu hơn, bớt lệch hướng hơn.

Có lẽ vẻ đẹp sâu nhất của lời khấn khiết tịnh không nằm ở chỗ nó làm người ta thành thiên thần. Mà ở chỗ nó giữ người ta ở lại trong thân phận rất người, nhưng dạy họ yêu theo một cách được đóng đinh và được giải phóng.

  1. NỖI CÔ ĐƠN GIỮA LÒNG CỘNG ĐOÀN

Một trong những điều ít được nói thật đủ về đời tu là nỗi cô đơn. Nhiều người ngoài đời nghĩ rằng người đi tu không cô đơn vì luôn sống trong cộng đoàn, luôn có anh em, luôn có giờ giấc chung, luôn có những sinh hoạt chung, luôn có nhà nguyện, có bàn ăn, có hành lang, có công việc, có sứ vụ. Nhưng cô đơn không chỉ là không có người xung quanh. Cô đơn sâu nhất là không có ai chạm được đến vùng thật của lòng mình. Và kiểu cô đơn ấy hoàn toàn có thể xảy ra ngay giữa một cộng đoàn rất đông.

Bạn có thể ăn cùng bàn với anh em mỗi ngày mà vẫn thấy mình như người ngoài. Bạn có thể cười nói, làm việc, dự giờ kinh, tham gia hội họp, và vẫn mang cảm giác không ai thực sự hiểu mình. Bạn có thể ở trong cùng một mái nhà với những người cùng lý tưởng, cùng lời khấn, cùng sứ mạng, mà bên trong vẫn là một khoảng trống dài. Có những nỗi đau không ai biết. Có những mệt mỏi không ai hỏi tới. Có những xung đột nội tâm không có chỗ để nói. Có những lúc người ta không thiếu người chung quanh; họ thiếu một tương quan đủ thật để mình không phải luôn giữ một gương mặt ổn.

Đời tu có một nghịch lý rất lạ. Người ta được mời gọi sống hiệp thông sâu, nhưng cũng bị cám dỗ sống rất một mình. Có thể vì ai cũng bận. Có thể vì văn hóa cộng đoàn chưa đủ mở. Có thể vì người ta sợ chia sẻ thật sẽ bị đánh giá. Có thể vì những cuộc nói chuyện quá nhiều chuyện bề mặt nhưng quá ít chuyện linh hồn. Có thể vì đã từng mở lòng và bị tổn thương nên thôi. Có thể vì ai cũng học cách đúng mực, tế nhị, giữ khuôn, nên vô tình khoảng cách vẫn còn nguyên. Cộng đoàn có thể rất trật tự nhưng không hẳn rất thân. Có thể rất nề nếp nhưng chưa chắc rất ấm. Có thể rất chung nhưng vẫn thiếu sâu.

Người cô đơn lâu ngày trong đời tu không chỉ buồn. Họ dễ mỏi. Dễ khô. Dễ đi tìm bù trừ. Dễ sống cơ chế. Dễ đeo mặt nạ. Dễ có một đời sống bên trong và một đời sống bên ngoài tách rời nhau. Họ có thể làm việc tốt, nhưng niềm vui ít dần. Họ có thể cầu nguyện, nhưng lời cầu không còn thoát ra từ một trái tim được nâng đỡ. Họ có thể trung thành, nhưng sự trung thành ấy mang màu chịu đựng hơn là hiến dâng. Cô đơn kéo dài làm linh hồn mất sinh khí. Và điều nguy hiểm là nhiều khi người ấy không sa ngã kiểu ồn ào nào cả, chỉ âm thầm cạn đi.

Có những người cô đơn vì không ai hợp mình. Có những người cô đơn vì mình quá khép. Có những người cô đơn vì mang một vết thương cũ làm họ không dám tin ai. Có những người cô đơn vì bản chất nhạy cảm, trong khi môi trường chung lại thực tế và ít diễn tả tình cảm. Có những người cô đơn vì bị hiểu lầm. Có những người cô đơn vì quá khác về thế hệ, về nền tảng, về nhịp suy nghĩ. Cũng có những người cô đơn vì chính họ quá đòi người khác phải hiểu mình theo cách mình muốn. Cô đơn trong đời tu không chỉ do người khác gây ra. Nhiều khi nó cũng đến từ những giới hạn của chính bản thân, từ cách mình dựng tường, từ sự tự ái, từ nỗi sợ mong manh bị lộ ra.

Nhưng nói như vậy không phải để quy hết về lỗi của người cô đơn. Thực tế có những cộng đoàn nghèo sự lắng nghe. Có những nơi sinh hoạt chung nhiều mà sự đồng hành thật rất ít. Có những bầu khí khiến người trẻ học cách im hơn là mở. Có những nền văn hóa cộng đoàn đánh giá nhanh, dán nhãn nhanh, kết luận nhanh, nên ai mang chút khác biệt, nhạy cảm, yếu đuối, hoặc có những câu hỏi sâu, dễ chọn cách rút vào trong. Người ta ở gần nhau mà không thực sự gặp nhau. Điều ấy đau lắm. Bởi vì đời tu không chỉ cần tổ chức; đời tu cần tình huynh đệ. Mà tình huynh đệ không thể được thay bằng lịch sinh hoạt.

Nỗi cô đơn cũng trở thành nơi mặc khải một sự thật khác: có những đoạn đường Chúa cho phép ta đi qua mà không ai hiểu đủ. Đó không phải lúc Ngài bỏ ta. Có khi Ngài đang kéo ta khỏi chỗ bám quá người để học bám vào Ngài sâu hơn. Nhưng phải cẩn thận, vì nói như thế không có nghĩa là thiêng liêng hóa mọi thiếu sót của cộng đoàn. Không phải cứ ai cô đơn cũng nên mặc kệ và tự nhủ đó là thánh giá. Có những cô đơn cần được ôm bằng một cuộc đối thoại chân thành. Có những nỗi mỏi cần được lắng nghe. Có những tương quan cần được hàn gắn. Có những khoảng cách cần một ai đó bước tới. Có những cộng đoàn cần học lại nghệ thuật hiện diện với nhau, chứ không chỉ ở cạnh nhau.

Người đi tu không thể chỉ biết cầu nguyện một mình. Cũng phải học nối kết. Học lắng nghe. Học hỏi thăm thật. Học nhận ra khi một anh em đang rút vào bóng tối. Học chia sẻ không phải để kể chuyện, mà để bộc lộ linh hồn. Học tạo nên những khoảng không gian trong đó người ta được quyền chưa ổn. Học đón nhận nước mắt của nhau mà không vội sửa. Học cho nhau cảm giác rằng giữa cộng đoàn này, tôi không cần lúc nào cũng phải mạnh.

Ai không biết kết nối sâu sắc sẽ rất khó sống lâu trong đời tu mà vẫn mềm lòng. Bởi vì đời dâng hiến không chỉ đứng nhờ tương quan với Chúa, mà còn lớn lên qua những tương quan huynh đệ phản chiếu phần nào sự dịu hiền của Ngài. Không có những tương quan ấy, người ta dễ trở thành một người đạo đức nhưng khô, một người trung thành nhưng cứng, một người làm việc tốt nhưng thiếu sức sống.

Và cũng phải nói cho đúng: có những nỗi cô đơn không hoàn toàn xấu. Có một cô tịch ân sủng. Có một khoảng trống mà Chúa dùng để mở rộng trái tim. Có một sự đơn chiếc giúp người ta thôi dựa dẫm quá mức vào cảm xúc được nâng đỡ. Có những đêm không ai hiểu mình, và chính trong đó người ta học nói với Chúa những lời chưa từng nói. Nhưng để cô tịch trở thành ân sủng chứ không thành gánh nặng, linh hồn phải không khép lại. Phải để nỗi cô đơn đưa mình đến gần Chúa hơn, chứ không đến gần cay đắng hơn.

Điều đau nhất trong đời tu không phải chỉ là bị thiếu thốn vật chất. Nhiều khi là cảm giác mình đang ở giữa nhà mà như không có nhà. Nhưng cũng chính tại nơi ấy, nếu người ta không bỏ cuộc với sự thật, không đóng trái tim mình lại, không nuôi những câu chuyện tự thương hại, mà dám vừa bước về phía Chúa vừa bước về phía anh em, thì nỗi cô đơn có thể trở thành nơi tái sinh một chiều sâu rất hiếm. Một người đã đi qua cô đơn mà không hóa cay nghiệt, người ấy thường trở nên dịu hơn với nỗi đau của tha nhân. Họ không nói những câu đạo đức rẻ tiền với người đang lạc lõng. Họ biết im lặng bên cạnh một linh hồn mỏi. Họ biết rằng có những lúc điều một người cần nhất không phải là một lời khuyên hay, mà là một sự hiện diện không phán xét.

  1. TỪ BỎ “CÁI TÔI” TRONG TỪNG ĐIỀU NHỎ NHẶT

Người ta thường tưởng từ bỏ mình trong đời tu là những chuyện lớn: bỏ gia đình, bỏ tương lai riêng, bỏ quyền sở hữu, bỏ tình yêu đôi lứa, bỏ con đường mình có thể đã chọn ngoài đời. Đúng, tất cả những điều ấy đều lớn. Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, ta vẫn chưa chạm tới nơi khó nhất. Cái tôi không chết chủ yếu trong những quyết định vĩ mô. Nó chết trong những va chạm rất nhỏ mỗi ngày. Và đó mới là nơi đời tu trở nên một cuộc tử đạo âm thầm.

Cái tôi của con người không thường hét lên ở những biến cố lớn. Nó hay thì thầm trong chuyện chỗ ngồi, trong cách người khác nói với mình, trong việc món ăn mình thích không có, trong chuyện mình bị hiểu sai, trong chuyện ý kiến mình không được nghe, trong việc người ta chọn người khác chứ không chọn mình, trong chuyện người kia làm khác mình nhưng vẫn được chấp nhận, trong việc phải làm một công việc mình thấy tẻ nhạt, trong chuyện phải xin phép một điều mình nghĩ là nhỏ, trong việc phải chờ, phải nhường, phải chịu một nhịp sống không hoàn toàn theo ý mình.

Sống cộng đoàn nghĩa là liên tục đụng vào cái tôi như thế. Có khi ta không nổi loạn gì cả, chỉ âm thầm khó chịu. Nhưng chính những khó chịu âm thầm ấy cho thấy bên trong mình còn bao nhiêu chỗ chưa được trao hiến. Có người có thể rất quảng đại với các sứ vụ lớn, nhưng không chịu nổi khi người khác xê dịch lịch riêng của mình. Có người nói rất hay về đức vâng phục, nhưng chỉ cần bị góp ý một cách không đúng lúc là lòng nổi sóng cả ngày. Có người sẵn sàng đi vùng xa, nhưng không chịu được một anh em khác tính khí trái ngược mình. Có người tưởng mình khiêm nhường, cho đến khi bị bỏ qua trong một quyết định nào đó mới nhận ra lòng mình vẫn đói được nhìn nhận đến thế nào.

Chính những điều nhỏ nhặt ấy mới là nơi đời tu lột trần con người thật của ta. Và đó cũng là nơi nhiều người bắt đầu thấy ngột ngạt. Họ nói mình mệt vì cộng đoàn, nhưng thật ra nhiều khi họ mệt vì cái tôi bị đụng liên tục. Đời tu không cho ta dễ dàng sắp đặt cuộc sống xoay quanh sự tiện nghi tâm lý của mình. Ta phải ở chung với những người không giống mình, theo những giờ giấc mình không hoàn toàn chọn, đón nhận những quyết định mình không luôn hiểu, làm những việc mình không phải lúc nào cũng thích. Nếu không biết coi đó là con đường thanh luyện, ta sẽ thấy mọi thứ như gông cùm. Nếu biết nhìn bằng đức tin, ta sẽ nhận ra Chúa đang đi vào từng ngõ ngách mà cái tôi ta ẩn náu.

Từ bỏ cái tôi không có nghĩa là đánh mất nhân cách hay triệt tiêu bản thân. Không phải Chúa muốn người tu sĩ trở thành những bản sao nhợt nhạt, không ý kiến, không cá tính, không sáng tạo. Điều Ngài muốn là cái tôi không còn ngồi trên ngai. Vẫn có bản sắc, nhưng không lấy bản sắc làm thần tượng. Vẫn có ý kiến, nhưng không bám chặt vào ý kiến như thể mình luôn đúng. Vẫn có sở thích, nhưng không coi sở thích của mình là chuẩn cho người khác. Vẫn có khát vọng phục vụ, nhưng không muốn mọi thứ phải diễn ra theo kịch bản mình dựng.

Rất nhiều xung đột trong cộng đoàn không bắt đầu từ các vấn đề lớn. Chúng bắt đầu từ những cái tôi không chịu nhường nhau trong những chuyện rất bé. Một câu nói thiếu tế nhị không được bỏ qua. Một việc phân công không vừa ý không được đón nhận bình thản. Một khác biệt nhỏ về lối sống bị thổi phồng thành nguyên tắc. Một hiểu lầm không được giải thích trở thành khoảng cách. Một vết xước không được chữa ngay trở thành cục u trong tim. Và thế là cộng đoàn mệt không hẳn vì những tội lớn, mà vì quá nhiều cái tôi nhỏ không chịu chết.

Có một kiểu tử đạo rất ít người nói tới: tử đạo vì những điều vặt vãnh. Không đẫm máu. Không ai thấy. Không ai phong thánh cho. Nhưng rất thật. Mỗi ngày tự nhủ: thôi, đừng cãi câu này. Thôi, đừng giữ trong lòng chuyện ấy. Thôi, nhường anh em đi. Thôi, làm điều này vì ích chung. Thôi, đừng nhất thiết phải chứng minh mình đúng. Thôi, đừng bám vào việc được công nhận. Thôi, cứ âm thầm mà làm. Thôi, thôi cái nhu cầu luôn muốn mình được đối xử theo cách mình nghĩ là hợp lý. Những chữ “thôi” ấy đau lắm. Nhưng cũng chính chúng mở đường cho bình an.

Người không chịu mất mình trong những điều nhỏ sẽ rất khó đi xa trong ơn gọi. Họ sẽ luôn cảm thấy bị ép, bị hiểu lầm, bị đối xử không xứng. Họ sẽ tích góp những bất mãn lặt vặt thành một núi mệt mỏi. Và có khi họ sẽ tưởng vấn đề là do cộng đoàn quá nhiều, bề trên quá khó, anh em quá khác, công việc quá phiền. Dĩ nhiên, đôi khi quả thật những yếu tố ấy có vấn đề thật. Nhưng dù hoàn cảnh có cần được điều chỉnh đến đâu, một điều vẫn không đổi: nếu cái tôi không chịu hạ xuống, người ta sẽ đem nó đi khắp nơi. Đổi cộng đoàn khác, đổi sứ vụ khác, đổi môi trường khác, vẫn chính những xung đột ấy trở lại dưới hình khác.

Sự tự do thật trong đời tu không phải là được làm điều mình thích. Mà là bớt bị bản thân mình cai trị. Một tu sĩ có thể sống trong nếp kỷ luật mà rất tự do, nếu lòng họ không còn phải giành phần hơn, không còn phải được chiều, không còn phải thắng, không còn phải chứng tỏ. Và ngược lại, một người ở giữa rất nhiều cơ hội phục vụ mà vẫn không tự do, nếu lòng họ lúc nào cũng xoay quanh mình.

Từ bỏ cái tôi là công việc của cả đời. Nó không xong trong năm tập, năm học, năm thử. Nó đi theo người tu sĩ đến cuối đời. Có khi càng lớn tuổi càng phải học lại bài này theo một cách tinh tế hơn. Lúc trẻ là từ bỏ ý riêng trong việc làm. Khi lớn hơn là từ bỏ nhu cầu kiểm soát. Khi già hơn là từ bỏ cảm giác mình luôn biết hơn. Khi yếu đi là từ bỏ cả việc mình không còn được dùng như trước. Cái tôi luôn tìm cách sống sót. Nó mặc áo đạo đức rất giỏi. Nó có thể núp sau lòng nhiệt thành, sau tinh thần kỷ luật, sau kinh nghiệm, sau bổn phận, sau lập trường. Chỉ có ánh sáng Chúa và một tinh thần canh chừng liên lỉ mới bóc được nó ra.

Nhưng một khi cái tôi được hạ xuống, dù chỉ một chút, người ta bắt đầu thở khác. Cộng đoàn vẫn vậy mà bình an hơn. Anh em vẫn có giới hạn mà lòng đỡ nặng. Công việc vẫn lắm điều trái ý mà không còn ngột ngạt như trước. Không phải vì hoàn cảnh đổi. Mà vì trong lòng, ngai đã bớt chật.

  1. SỰ KHÁC BIỆT GIỮA CÁC THẾ HỆ TU SĨ

Mỗi dòng tu không chỉ là một gia đình thiêng liêng. Nó còn là một dòng chảy thời gian. Trong cùng một mái nhà, có những người được hình thành trong một bối cảnh giáo hội rất khác, trong một nền văn hóa rất khác, trong một kiểu đào tạo rất khác, trong những thương tích lịch sử rất khác, và cũng trong những hy vọng rất khác. Vì vậy, khác biệt giữa các thế hệ là điều gần như không thể tránh. Nhưng điều đáng nói là những khác biệt ấy không chỉ nằm ở tuổi tác. Chúng nằm trong cách cảm nhận về đời tu, cách hiểu về sứ mạng, cách sống kỷ luật, cách dùng thời gian, cách tiếp cận thế giới, cách nói về truyền thống, cách đón nhận đổi mới.

Có một giai đoạn, nhiều người lớn tuổi đã sống qua thời thiếu thốn, qua những năm tháng phải dấn thân giữa hoàn cảnh khắc nghiệt, nên trong họ nổi bật một tinh thần linh hoạt, thực tế, bền bỉ, ít câu nệ hình thức. Họ quý sự trung thành trong sứ vụ, quý sức chịu đựng, quý sự dấn thân cụ thể, quý việc ra đi phục vụ dù điều kiện không lý tưởng. Trong khi đó, không ít người trẻ hôm nay lớn lên giữa một thời đại phân mảnh, nhiều xáo trộn, nhiều nhiễu loạn giá trị, nên họ lại có xu hướng tìm về sự rõ ràng hơn, nghiêm nhặt hơn, truyền thống hơn, thích một khung sống sắc nét hơn, thích phụng vụ trang nghiêm hơn, thích luật lệ được giữ chặt hơn như một cách bám vào điều chắc chắn giữa thời bất định.

Từ đó dễ phát sinh những cách nhìn nhau thiếu công bằng. Người trẻ có thể thấy người lớn tuổi quá thực dụng, quá thoáng, quá dễ dãi, thiếu chiều sâu phụng vụ hay thiếu tinh thần tu trì rõ nét. Người lớn tuổi có thể nhìn người trẻ như quá lý thuyết, quá hình thức, quá thích vẻ nghiêm mà thiếu sức dấn thân thực tế, hoặc quá khăng khăng với những điều phụ mà quên điều chính. Mỗi bên đều có thể đúng một phần và sai một phần. Mỗi bên đều có thể đang giữ một kho báu và cũng đang mang một mù điểm.

Khi không hiểu điều ấy, cộng đoàn rất dễ bị âm thầm chia làm hai nhịp. Không phải luôn bằng những xung đột công khai, nhưng bằng một bầu khí phê phán lẫn nhau. Người trẻ nói chuyện với nhau về các bậc đàn anh trong sự thất vọng. Người lớn tuổi nhắc đến lớp trẻ trong sự ngao ngán. Những câu nói như “hồi xưa khác lắm” hay “bây giờ người ta sống dễ dãi quá” hoặc “giới trẻ chỉ thích hình thức” hoặc “thế hệ trước không hiểu khát vọng của chúng tôi” cứ thế tích dần thành khoảng cách. Khoảng cách ấy không chỉ là khác quan điểm. Nó làm đứt mạch truyền sinh của gia đình dòng tu. Vì khi hai thế hệ không còn thật sự lắng nghe nhau, đoàn sủng bị nghèo đi.

Người lớn tuổi mang ký ức. Người trẻ mang thao thức. Một bên giữ lại căn tính qua kinh nghiệm đã sống. Một bên muốn làm mới cách diễn tả căn tính ấy giữa bối cảnh mới. Nếu không có ký ức, dòng tu dễ mất gốc. Nếu không có thao thức, dòng tu dễ đông cứng. Vấn đề là làm sao để ký ức không trở thành thần tượng của quá khứ, và thao thức không trở thành kiêu ngạo của hiện tại. Đó là một bài học rất khó.

Khác biệt thế hệ trong đời tu còn chạm đến những điều rất tế nhị như cách dùng công nghệ, cách hiện diện trên mạng xã hội, cách hiểu về mục vụ, cách tiếp cận thế giới đương đại, cách diễn tả lòng đạo đức, cách đánh giá cái gì là “đúng tinh thần dòng”. Người trẻ có thể cảm thấy mình bị kiểm soát hoặc không được tin tưởng. Người lớn tuổi có thể cảm thấy mình bị bỏ lại phía sau hoặc không còn được tôn trọng. Nếu thiếu đối thoại, mỗi bên sẽ chỉ thấy cái khó chịu của bên kia mà không thấy nỗi sợ của họ. Mà phía sau nhiều căng thẳng thế hệ, thường là nỗi sợ. Người lớn tuổi sợ mất căn tính. Người trẻ sợ bị bóp nghẹt. Người lớn tuổi sợ những điều từng giữ dòng sống còn bị xem thường. Người trẻ sợ những điều mình thấy cần thiết cho tương lai không được đón nhận.

Ở đây, trái tim quảng đại không phải là một khẩu hiệu đẹp. Nó là điều kiện để cộng đoàn khỏi rơi vào chiến tranh lạnh thiêng liêng. Người trẻ cần học sự kiên nhẫn của lắng nghe. Không phải mọi điều thuộc về truyền thống đều là gánh nặng. Có những thứ mình thấy cũ nhưng lại cất giữ một trí khôn mà tuổi trẻ chưa có. Có những người lớn tuổi diễn tả vụng về, nhưng trong họ có một đức trung thành quý hơn rất nhiều thứ hiện đại. Có những điều mình tưởng là bảo thủ, nhưng thật ra là kết tinh của một kinh nghiệm đức tin đã đi qua lửa.

Và ngược lại, người lớn tuổi cũng cần học sự rộng lòng của một người cha, người anh. Không phải mọi câu hỏi của lớp trẻ đều là chống đối. Không phải mọi ước muốn về sự nghiêm túc hơn, sâu hơn, đẹp hơn trong phụng vụ hay kỷ luật đều là cực đoan. Nhiều khi đó là tiếng kêu của một thế hệ đang sống giữa thế gian hỗn loạn và khao khát một dấu chỉ rõ ràng hơn về sự thuộc trọn về Chúa. Nếu chỉ vội gắn nhãn, người ta sẽ bỏ lỡ cơ hội gặp nhau trong điều cốt lõi.

Có một vẻ đẹp rất cảm động khi một dòng tu biết làm nhịp cầu giữa các thế hệ. Khi người lớn tuổi không chỉ kể về quá khứ, nhưng trao lại ngọn lửa. Khi người trẻ không chỉ muốn đổi mới, nhưng biết cúi đầu đón lấy di sản. Khi hai bên không tranh nhau quyền định nghĩa đoàn sủng, mà cùng để đoàn sủng phán xét mình. Khi sự khác biệt không còn là mối đe dọa, mà là cơ hội để căn tính được đào sâu hơn.

Một cộng đoàn trưởng thành không phải cộng đoàn không có khoảng cách thế hệ. Mà là cộng đoàn biết biến khoảng cách ấy thành cuộc đối thoại ân sủng. Điều đó khó. Nhưng rất đáng. Vì nếu không, người trẻ sẽ lớn lên trong bực bội, người lớn tuổi sẽ già đi trong cô độc, và dòng tu sẽ mất dần sức sống ở chính điểm đáng lẽ phải là sự phong phú của nó.

  1. ĐỐI DIỆN VỚI “MẶT TỐI” CỦA TỔ CHỨC

Có những người đến với đời tu bằng một tình yêu rất đẹp đối với Giáo hội. Họ yêu phụng vụ, yêu các bí tích, yêu sự thánh thiêng, yêu vẻ đẹp của các chứng tá thánh thiện, yêu lịch sử tử đạo, yêu gương các vị sáng lập, yêu những giờ cầu nguyện sâu, yêu hình ảnh Giáo hội như Hiền Thê của Đức Kitô. Tình yêu ấy không sai. Nó rất quý. Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, một ngày nào đó người ta sẽ phải đi qua một cú sốc: Giáo hội trong chiều kích thần linh là thánh, nhưng Giáo hội trong chiều kích nhân loại thì mang đầy vết nhăn của phận người. Và đời tu, khi đi vào bên trong, không cho phép ta chỉ nhìn từ xa bằng ánh sáng lung linh nữa.

Người trẻ có thể bàng hoàng khi lần đầu nhận ra rằng trong những cơ chế của Giáo hội cũng có những tính toán, những căng thẳng quyền bính, những va chạm giữa các cá tính, những quyết định chưa khôn ngoan, những cứng nhắc của bộ máy, những thủ tục mệt mỏi, những hình thức bảo vệ cơ cấu hơn là phục vụ con người, thậm chí có khi cả những sai lầm đáng đau. Họ tự hỏi: tại sao ở đây cũng có chính trị? Tại sao người ta có thể đối xử nhau như thế? Tại sao những người mang chức vụ thiêng liêng lại vẫn có thể rất người trong các quyết định? Tại sao một cơ cấu vốn nhằm phục vụ Nước Trời lại đôi lúc vận hành theo logic khiến lòng người tổn thương?

Những câu hỏi ấy không phải dấu hiệu của thiếu đức tin. Chúng có thể là dấu hiệu của một đức tin đang rời khỏi sự ngây thơ để đi vào trưởng thành. Vấn đề không phải là ta có thấy mặt tối ấy hay không. Sớm muộn gì ta cũng thấy. Vấn đề là khi thấy rồi, ta sẽ làm gì. Có người vỡ mộng và cay đắng. Có người từ cay đắng trượt sang khinh chê. Có người giữ bề ngoài ngoan nhưng bên trong hết yêu Giáo hội. Có người bắt đầu nhìn mọi sự bằng lăng kính nghi ngờ. Có người thất vọng đến mức đánh mất cả đời cầu nguyện. Có người từng yêu mến đến đâu thì khi bị sốc lại phản ứng cực đoan đến đó.

Nhưng cũng có một con đường khác, đau hơn mà lành hơn. Đó là yêu Giáo hội sau khi đã nhìn thấy những thương tích của Giáo hội. Không còn yêu bằng tưởng tượng nữa. Mà yêu bằng một trái tim đã bị đóng đinh phần nào. Yêu mà không mù. Yêu mà không tô hồng. Yêu mà không đồng lõa với sai trái. Yêu mà không đánh mất sự thật. Yêu mà vẫn biết đau khi thấy điều cần đau. Yêu mà vẫn dám gọi tên điều cần gọi. Yêu mà không bỏ chạy chỉ vì phát hiện ra phận người vẫn hiện diện trong cơ cấu thánh.

Đây là một trưởng thành rất hiếm. Vì nhiều người chỉ biết yêu cái đẹp nguyên vẹn. Còn Giáo hội thì không bao giờ hiện ra trong lịch sử như một thân thể không thương tích. Ai bước vào sâu sẽ phải chạm đến sự mâu thuẫn ấy: nơi mang kho tàng ân sủng vô giá lại cũng được trao cho những chiếc bình sành dễ nứt đến vậy. Đời tu không cho bạn quyền chỉ sống bằng thẩm mỹ thiêng liêng. Nó ép bạn đối diện với cái nhọc nhằn của việc ở trong một thân thể vừa thánh vừa mang dấu vết con người.

Nguy cơ lớn ở đây là để thất vọng làm mình trở nên mỉa mai. Một người tu sĩ mỉa mai về Giáo hội là một bi kịch buồn. Họ vẫn ở trong đó, vẫn cử hành, vẫn giảng, vẫn làm việc, nhưng bên trong không còn lòng tôn kính sâu. Họ thấy hết các lỗ hổng, các cơ chế nặng nề, các sai sót, và dần để cái nhìn phê phán nuốt mất lòng yêu. Mỉa mai có vẻ thông minh, nhưng nó giết ơn gọi rất chậm và rất chắc. Vì ơn gọi không thể sống lâu nếu trái tim đã rút lòng con thảo ra khỏi Mẹ mình.

Tuy nhiên, yêu Giáo hội trưởng thành cũng không đồng nghĩa với việc im lặng trước mọi bất cập. Không. Tình yêu thật không bao giờ là bao che. Tình yêu thật cũng không xem mọi thứ con người trong cơ cấu là bất khả đụng đến. Nhưng người trưởng thành sẽ đấu tranh hay góp ý theo cách không cắt đứt lòng hiệp thông. Họ không dùng sự thật như dao để hả giận. Họ không biến phê bình thành căn tính. Họ không đứng bên lề để tự cho mình sạch hơn toàn bộ cơ cấu. Họ vẫn ở trong thân thể ấy với trái tim đau, với đức tin đang bị thử lửa, và với một lời nguyện âm thầm: lạy Chúa, xin đừng để con chỉ biết thấy những vết thương mà quên mất chính Ngài vẫn đang ở đây.

Có những người trẻ chỉ yêu Giáo hội khi Giáo hội đẹp. Nhưng đời tu mời họ đi xa hơn: yêu Giáo hội khi Giáo hội đang mệt, đang chậm, đang mang nhiều gánh nặng của lịch sử và con người. Điều đó không lãng mạn. Nó giống tình yêu của Chúa Giêsu hơn. Ngài không yêu Hiền Thê của mình chỉ khi Hiền Thê rực rỡ. Ngài yêu đến mức hiến mạng để thanh tẩy Hiền Thê ấy.

Có lẽ, một trong những thử thách lớn nhất của người sống đời dâng hiến là học cách ở lại trong Giáo hội mà trái tim không biến thành đá. Thấy những điều chưa đẹp mà vẫn không khinh chê. Bị thương mà vẫn không ly khai trong lòng. Đau vì những yếu đuối rất người mà vẫn không mất lòng tôn thờ đối với mầu nhiệm thánh đang mang những yếu đuối đó. Đó là một đau khổ rất trưởng thành. Và ai đi qua được đau khổ ấy mà lòng vẫn còn yêu, người ấy thường bước vào một độ sâu mà không sách đào tạo nào tự nó dạy nổi.

  1. NHỮNG CÔNG VIỆC “PHÀM TRẦN” CHIẾM ĐA SỐ THỜI GIAN

Nhiều người bước vào đời tu với những hình dung rất đẹp: cầu nguyện sâu, học hỏi Lời Chúa, giảng thuyết, đồng hành thiêng liêng, phục vụ người nghèo, sống chiêm niệm, cử hành phụng vụ sốt sắng. Những điều ấy có thật. Nhưng ai sống lâu trong đời tu cũng biết một sự thật giản dị mà không đơn giản: phần rất lớn đời sống hằng ngày được lấp đầy bởi những việc bình thường đến mức dễ làm người ta hụt hẫng. Trả lời thư từ. Soạn giấy tờ. Họp hành. Báo cáo. Xin phép. Ghi sổ sách. Chạy ngân hàng. Quản lý tài chính. Kiểm tra hóa đơn. Lo xây sửa. Tìm thợ. Mua vật dụng. Sắp xếp lịch. Làm việc hành chính. Trông coi cơ sở. Giải quyết những chuyện rất đời. Người ta tưởng đi tu sẽ suốt ngày sống với trời, nhưng hóa ra phải sống rất nhiều với những thứ bụi bặm của đất.

Có những người bị sốc vì điều đó. Họ cảm thấy mình như một nhân viên văn phòng mặc áo dòng. Họ tự hỏi: đây có phải đời tận hiến mình đã mơ không? Tại sao thời giờ dành cho giấy tờ lại nhiều hơn thời giờ dành cho những điều tưởng như cốt lõi? Tại sao công việc lặt vặt cứ nuốt hết sức lực? Tại sao mình phải bận tâm cả những thứ rất phàm trần? Tại sao có những ngày mình gần như chưa kịp thở sâu với Chúa đã bị cuốn vào hàng chục chuyện vụn vặt?

Nhưng có lẽ chính ở đây, đời tu thử xem ta có thật sự yêu Chúa không. Vì ai cũng có thể tìm thấy Ngài trong những giờ tĩnh lặng đẹp. Không phải ai cũng tìm được Ngài giữa email, hồ sơ, hóa đơn, vật liệu, lịch làm việc, trách nhiệm quản trị, và những chuyện chẳng có gì thơ. Vấn đề không phải là những việc đó thấp kém. Vấn đề là trái tim ta có đủ đức tin để nhận ra Chúa ẩn trong điều không hấp dẫn không. Nếu không, ta sẽ dễ chia đời mình làm hai: phần thiêng liêng là của Chúa, phần hành chính là điều bất đắc dĩ. Và sự chia đôi ấy làm ta mệt.

Thật ra, phần lớn đời sống của Chúa Giêsu ở Nazareth cũng không diễn ra trong những khoảnh khắc mà người ta gọi là “rực rỡ thiêng liêng”. Đó là những ngày rất bình thường, rất lao động, rất âm thầm. Mầu nhiệm nhập thể không chỉ cứu những gì cao cả; nó thấm vào cả những gì bình thường. Nếu người tu sĩ không học nhìn công việc phàm trần bằng ánh sáng nhập thể, họ sẽ thấy đời mình bị phân mảnh. Họ sẽ chỉ sống khi được giảng, được cầu nguyện sâu, được làm các việc mang nhãn thiêng liêng. Còn lại, họ chỉ tồn tại.

Nhưng đúng là điều này không dễ. Vì những việc bình thường không chỉ tẻ. Chúng còn có sức ăn mòn. Người ta dễ bị chúng hút hết sự tươi mới. Làm mãi những chuyện quản trị, thủ tục, điều phối, người ta có thể trở nên khô, thực dụng, chỉ còn nhìn sự việc bằng hiệu suất. Dần dần, trái tim thiêng liêng bị đè xuống dưới gánh nặng vận hành. Nhiều người trong đời tu không bỏ Chúa công khai; họ chỉ bận tới mức không còn ở với Ngài được nữa. Họ vẫn làm việc cho Chúa, nhưng không còn sống với Chúa. Đó là một trong những nghịch lý đau nhất của đời phục vụ.

Thành ra, thách đố không chỉ là làm những việc phàm trần. Mà là không để chúng cướp mất linh hồn mình. Làm giấy tờ mà không để mình thành người giấy tờ. Làm quản trị mà không để tim mình khô quản trị. Lo vật chất mà không để toàn bộ ý thức mình ngập trong vật chất. Chạm vào tiền bạc, cơ sở, tổ chức, kế hoạch mà không đánh mất cái nhìn chiêm niệm. Điều này đòi một kỷ luật nội tâm lớn hơn rất nhiều điều người ngoài tưởng.

Có những người không chịu được sự tầm thường của các công việc ấy nên ngấm ngầm khinh thường chúng. Họ chỉ thích những việc nổi, những việc có vẻ mục vụ, những việc “đúng sở trường”, những việc người khác nhìn vào thấy đẹp. Nhưng một ơn gọi không trưởng thành sẽ luôn muốn chọn phần sáng. Trong khi đời tu thật đòi mình biết cúi xuống phần khuất. Có những ngày trung thành nhất với Chúa không phải là ngày giảng hay, cầu nguyện sốt sắng, mà là ngày âm thầm giải quyết từng chuyện nhỏ với lòng mến, không bực bội, không than vãn, không tự coi mình bị phí đời.

Cũng cần nói ngược lại: việc phải làm nhiều công việc phàm trần không thể là cái cớ để bỏ mặc đời sống thiêng liêng. Không thể lấy sự bận rộn để biện minh cho việc khô khan kéo dài. Không thể nói vì quá nhiều trách nhiệm nên mình không còn cầu nguyện nổi. Bởi vì đến một lúc nào đó, chính sự bận rộn sẽ cho lộ ra mình đang lấy gì làm trung tâm. Nếu cầu nguyện chỉ còn là phần dư ra sau mọi công việc, thì sớm muộn gì cũng sẽ chẳng còn gì. Người tu sĩ không sống nhờ thời gian rảnh cho Chúa. Họ phải dành phần đầu tim mình cho Chúa, nếu không mọi việc khác sẽ chiếm hết.

Có một vẻ đẹp rất lặng nơi những tu sĩ biết tìm Chúa trong những việc không tên. Họ lo thủ tục mà không cằn nhằn. Họ sửa mái nhà mà vẫn giữ được lòng nguyện. Họ ngồi trước những bảng tính, những kế hoạch, những công trình, những chi phí, những cuộc gọi, những chuyện phát sinh liên tục, mà vẫn không đánh mất sự dịu dàng. Họ không ảo tưởng rằng đời tu sẽ chỉ có những khoảnh khắc bay bổng. Họ chấp nhận đất. Và vì chấp nhận đất nên trời có chỗ để ngự xuống.

Nếu một người không gặp được Chúa trong việc bình thường, rất có thể họ cũng chưa thật sự gặp Ngài trong việc lớn. Vì Thiên Chúa thật luôn đi vào trọn cuộc đời, không chỉ những khung giờ được gọi là thiêng.

  1. THỬ THÁCH CỦA LÒNG KIÊN NHẪN TRONG ĐÀO TẠO

Hành trình đào tạo đời tu dài hơn nhiều người tưởng. Từ lúc một người trẻ bắt đầu tìm hiểu, rồi ứng sinh, thỉnh sinh, đệ tử, tập viện, học viện, tạm khấn, khấn trọn, hoặc những giai đoạn tương tự tùy từng hội dòng, từng ơn gọi, có khi là cả một chặng đường dài gần chục năm hoặc hơn. Đó là một quãng rất dài của tuổi trẻ. Rất nhiều mơ ước, nhiều háo hức, nhiều nhiệt thành ban đầu sẽ phải đi qua những năm tháng tưởng như chậm, tưởng như lặp lại, tưởng như chuẩn bị quá lâu trong khi ngoài kia biết bao nhu cầu mục vụ đang chờ.

Nhiều người trẻ đã từng trải qua cảm giác này: mình muốn ra tay phục vụ, muốn đi đến các vùng biên, muốn làm điều gì có ích cho Chúa và các linh hồn, nhưng lại đang ngồi ở lớp học, đang làm bài, đang theo một tiến trình xem ra quá dài, quá nhiều quy định, quá nhiều giai đoạn thẩm định, quá nhiều bước trung gian. Họ bắt đầu sốt ruột. Họ nhìn bạn bè ngoài đời đã đi làm, lập nghiệp, lập gia đình, hoặc ít ra cũng đang tiến rất nhanh trong hướng đi của họ. Còn mình như bị giữ lại. Có lúc họ thấy mình dậm chân tại chỗ. Có lúc thấy đời mình như đang bị treo giữa các bậc cửa chưa mở hẳn.

Sự sốt ruột ấy không hẳn sai. Nó cho thấy lòng nhiệt thành muốn được dùng. Nhưng nếu không được thanh luyện, nó có thể biến thành một cơn nóng vội thiêng liêng rất nguy hiểm. Người ta muốn làm việc cho Chúa trước khi để Chúa làm việc trong mình đủ sâu. Người ta muốn cho đi khi bản thân còn rất thiếu thống nhất. Người ta muốn trở thành công cụ trong tay Chúa nhưng lại không đủ kiên nhẫn để được mài giũa. Mà một dụng cụ chưa được luyện kỹ, càng sắc bên ngoài đôi khi càng dễ làm tổn thương.

Đào tạo dài không chỉ là chuyện học tri thức hay kiểm tra khả năng. Cốt lõi hơn, đó là thời gian để những ảo tưởng rơi bớt, để các động cơ được thanh lọc, để cái tôi bớt hung hăng, để người trẻ học ở lại khi không còn mới, để họ tập trung thành với những điều nhỏ, để họ thấy rõ hơn các giới hạn của mình, để những vết thương có cơ hội lộ diện, để những cơn ham muốn phục vụ pha lẫn tìm mình được phân định lại. Nói cách khác, đào tạo không phải chỉ để xem người này có làm được gì cho Dòng hay cho Giáo hội không. Trước hết là để xem người này có thật sự thuộc về Chúa theo cách ơn gọi ấy đòi hỏi hay chưa.

Khó là ở chỗ tiến trình đó thường chậm hơn lòng ta muốn. Chúa không gấp theo cách ta gấp. Ngài kiên nhẫn uốn nắn một con người từ gốc, trong khi ta chỉ muốn thấy kết quả nơi ngọn. Có những giai đoạn người ta thấy mình không thay đổi bao nhiêu. Vẫn những yếu đuối cũ. Vẫn những xao động cũ. Vẫn những câu hỏi cũ. Vẫn những khô khan. Vẫn những lần ngã rồi đứng lên. Và người ta mệt vì tưởng rằng mình chẳng tiến gì. Nhưng thật ra, có những tăng trưởng rất chậm đến mức chỉ vài năm sau nhìn lại mới thấy.

Thử thách của lòng kiên nhẫn trong đào tạo còn nằm ở chỗ phải chấp nhận được nhìn, được thử, được sửa. Không phải ai cũng thích điều đó. Có những người nhiệt thành nhưng không chịu để ai chạm vào các vùng yếu. Có những người chăm chỉ nhưng không chịu đón nhận góp ý. Có những người muốn được đi nhanh vì họ thấy mình đã đủ. Và càng nghĩ mình đủ, người ta càng chưa sẵn sàng. Đào tạo đòi một nhân đức sâu là khả năng ở lại trong quá trình. Không hấp tấp tự phong cho mình. Không khó chịu vì Chúa và Hội dòng không đi theo tốc độ của cái tôi mình. Không coi thời gian chuẩn bị là vô ích chỉ vì chưa được xuất hiện nhiều.

Có một cám dỗ tinh vi nơi những người trẻ là muốn được “hữu ích” sớm. Nghe thì rất đẹp. Nhưng nếu đào sâu, nhiều khi bên dưới là nhu cầu được thấy mình có giá trị, được dùng, được công nhận. Thành ra, giai đoạn học hành, chuẩn bị, âm thầm, chờ đợi trở thành một thử thách khủng khiếp. Vì lúc ấy mình không có nhiều cái để chứng minh. Mình chỉ có thể sống trung thành với tiến trình. Và sống trung thành với tiến trình khó hơn làm vài việc nổi bật.

Sự thật là trong đời tu, “dọn mình” thường quan trọng hơn “ra tay” nhiều hơn ta tưởng. Một con người nội tâm chưa được xây chắc mà lao vào phục vụ sớm có thể đạt hiệu quả nào đó trước mắt, nhưng dễ đổ vỡ hoặc gây tổn thương lâu dài hơn. Một trái tim chưa được thanh luyện đủ, khi nắm trách nhiệm, dễ trộn lẫn giữa phục vụ và kiểm soát, giữa dấn thân và tìm mình, giữa mục vụ và khẳng định bản thân. Đào tạo dài không nhằm trì hoãn sứ vụ. Nó nhằm cứu sứ vụ khỏi sự nông cạn.

Dĩ nhiên, cũng có những hình thức đào tạo quá nặng tính hệ thống, quá nhiều thủ tục, quá ít sinh khí, khiến người trẻ thấy bị bào mòn. Điều này cần được nhìn nhận thành thật. Không phải mọi cơ chế đào tạo đều lý tưởng. Nhưng ngay cả giữa những bất cập của hệ thống, vẫn có một bài học không mất: kiên nhẫn là nhân đức nền của ơn gọi. Người không biết chờ, không biết lớn lên từng chút, không biết chấp nhận thời gian của Thiên Chúa, người ấy sẽ rất khó đi xa trong một con đường vốn được xây bằng trung thành hơn là bằng bùng nổ.

Có những mùa trong đời tu tưởng như chỉ là trì hoãn. Nhưng sau này người ta mới hiểu, đó là lúc Chúa đang xây phần nền mà mình không thấy. Điều đau không phải là phải chậm. Điều đau là không biết việc chậm ấy có ý nghĩa gì. Và đức tin chính là ở chỗ đó: tin rằng những năm dường như không sinh hoa trái trước mắt cũng không vô ích, nếu mình sống chúng cách trọn vẹn.

  1. NHỮNG NGHỊCH CẢNH CHÍNH LÀ “LÒ LUYỆN THÁNH”

Điều cuối cùng, và có lẽ là điều nghịch lý nhất, là chính những điều làm ta khó chịu nhất trong đời tu thường lại là những công cụ Chúa dùng để thánh hóa ta mạnh nhất. Người anh em làm ta mệt. Người bề trên không hiểu ta. Công việc ta ghét. Sự chậm chạp của tiến trình. Những hiểu lầm không được giải tỏa ngay. Những thất vọng về cộng đoàn. Những va chạm với các thế hệ. Những nỗi cô đơn kéo dài. Những chuyện phàm trần phải xử lý mỗi ngày. Những lúc khô khan không thấy Chúa đâu. Tất cả những điều ấy, nếu nhìn bằng con mắt tự nhiên, chỉ là gánh nặng. Nhưng nếu nhìn bằng con mắt đức tin, đó có thể là lò luyện.

Con người thường muốn nên thánh theo một cách đẹp. Muốn cầu nguyện sâu, yêu mến nhiều, phục vụ quảng đại, được biến đổi trong những giờ linh thiêng. Nhưng Chúa thường thánh hóa bằng những dụng cụ ít thơ hơn nhiều. Ngài không chỉ dùng ánh sáng. Ngài còn dùng ma sát. Không chỉ dùng an ủi. Ngài còn dùng va chạm. Không chỉ dùng những giờ lòng sốt sắng. Ngài còn dùng những ngày lòng không cảm gì mà vẫn phải trung thành. Không chỉ dùng những người dễ thương. Ngài còn dùng cả những người đụng vào đúng chỗ ta yếu nhất.

Vì sao? Bởi nếu mọi sự đều thuận, ta sẽ không biết lòng mình thật. Ta có thể tưởng mình khiêm nhường cho đến khi bị sửa. Tưởng mình bác ái cho đến khi phải sống với người khó thương. Tưởng mình vâng phục cho đến khi quyết định của bề trên không hợp ý. Tưởng mình phó thác cho đến khi tương lai mờ đi. Tưởng mình thanh thoát cho đến khi một việc nhỏ đụng vào nhu cầu được nhìn nhận. Tưởng mình yêu Chúa nhiều cho đến khi cầu nguyện không còn ngọt. Chính nghịch cảnh bóc lớp sơn. Và điều bị bóc ra tuy đau, nhưng cần.

Có những anh em làm ta bực không phải ngẫu nhiên. Không phải Chúa thích làm khổ ta. Nhưng nhiều khi qua họ, Ngài cho ta thấy chính ta còn hẹp ở đâu, tự ái ở đâu, kiểm soát ở đâu, thích được vừa ý đến đâu, và khả năng yêu mà không chọn lựa của ta còn yếu đến mức nào. Có những công việc mình ghét không chỉ vì chúng nặng. Mà vì chúng không cho mình cảm giác mình đặc biệt. Chúng buộc mình sống như hạt lúa chìm xuống đất, âm thầm, không hào quang. Và cái tôi không thích như thế. Nên chính công việc ấy lại là nơi đụng đúng gốc bệnh.

Nhiều người cứ mong Chúa dùng những cách cao siêu để làm mình nên thánh. Nhưng Ngài thường dùng những gì rất đời. Một người anh em chậm chạp. Một lịch sinh hoạt không như ý. Một cuộc phân công trái mong muốn. Một trách nhiệm lặp đi lặp lại. Một biến cố khiến mình bị xem nhẹ. Một nỗi khô khan kéo dài. Một mệt mỏi thể lý. Một vết thương trong tương quan. Một lần bị hiểu sai. Những thứ đó không mang vẻ lấp lánh của trải nghiệm thiêng liêng mạnh mẽ, nhưng lại có sức đập thẳng vào cốt lõi của lòng mình. Và ở đó, nếu mình không chạy trốn, không phản kháng bằng cay đắng, không tự phong cho mình là nạn nhân, thì nghịch cảnh bắt đầu làm công việc thánh hóa.

Lò luyện không dễ chịu. Đã là lò thì nóng. Có những giai đoạn trong đời tu người ta không còn thấy mình đẹp như thuở ban đầu nữa. Không còn những tưởng tượng anh hùng, không còn cảm giác rất rõ mình đang đi trên đường tuyệt vời, mà chỉ thấy mình bé, mỏng, yếu, đụng đâu cũng thấy chưa xong. Nhưng có khi đó lại là lúc ơn gọi bắt đầu thật. Vì chỉ khi ảo tưởng về chính mình tan bớt, người ta mới có chỗ thật cho ân sủng. Chúa không xây các vị thánh bằng cách giữ mãi những hình ảnh đẹp họ muốn tin về mình. Ngài xây bằng cách cho họ đi qua sự thật.

Điều kỳ lạ là những nghịch cảnh ban đầu tưởng như cản đường, nhiều năm sau nhìn lại lại thành những cột mốc đã cứu mình. Một bề trên khó tính từng khiến mình đau, hóa ra đã dạy mình bớt trẻ con. Một anh em làm mình mệt, hóa ra đã dạy mình bác ái hơn. Một giai đoạn khô khan dài, hóa ra đã tách đức tin mình khỏi cảm xúc. Một công việc mình chán, hóa ra đã dạy mình tìm Chúa ngoài vùng hứng thú. Một lần bị gạt qua bên, hóa ra đã lật mặt nạ của nhu cầu được nhìn nhận. Nếu tất cả đều êm, ta sẽ vẫn nghĩ mình ổn hơn rất nhiều so với sự thật.

Nói như vậy không có nghĩa là phải thần thánh hóa mọi đau khổ hay để mặc mọi bất công. Không. Có những điều cần được sửa. Có những lạm dụng cần được chặn. Có những sai trái cần được gọi tên. Nhưng ngay cả khi điều phải sửa vẫn phải sửa, linh hồn trưởng thành vẫn có thể hỏi một câu khác bên dưới: qua điều này, Chúa đang luyện trái tim con ở đâu? Câu hỏi ấy không làm ta thụ động. Nó làm ta sâu hơn. Nó ngăn ta chỉ phản ứng bên ngoài mà quên mất công việc bên trong.

Thánh thiện không được rèn trong môi trường hoàn hảo. Nó được rèn nơi những va đập được đón nhận trong đức tin. Có khi chính dấu chỉ cho thấy ta đang đi đúng đường không phải là vì mọi sự đang dễ, mà vì có những thứ đang đụng vào ta khiến ta phải bỏ mình thật hơn. Đường Thập giá không hấp dẫn cái tôi. Nhưng chỉ ở đó tình yêu mới thôi là một ý tưởng.

ĐẠI KẾT

Sau tất cả những gì đã nói, có người sẽ hỏi: vậy đời tu còn đẹp không, nếu có quá nhiều góc khuất như thế? Câu trả lời là có. Không phải đẹp theo kiểu ngây thơ. Không phải đẹp theo kiểu ai bước vào cũng sẽ thấy nhẹ nhàng. Không phải đẹp theo kiểu tránh được đau đớn rất người. Nhưng đẹp theo một cách chín hơn, thật hơn, sâu hơn nhiều so với những bức tranh lý tưởng ban đầu.

Đời tu đẹp không phải vì cộng đoàn là thiên đường, nhưng vì giữa một cộng đoàn không hoàn hảo, vẫn có những con người âm thầm chọn yêu hơn mỗi ngày. Đời tu đẹp không phải vì có ai đó sẽ tu thay cho mình, nhưng vì giữa tất cả mong manh, một linh hồn vẫn học tự đứng trước mặt Chúa bằng tự do của mình. Đời tu đẹp không phải vì lời khấn khiết tịnh làm con người hết chiến đấu, nhưng vì ngay trong chiến đấu ấy, trái tim dần được thanh luyện để yêu trong tự do hơn. Đời tu đẹp không phải vì không có cô đơn, nhưng vì có những người đã đi qua cô đơn mà không đóng lòng lại. Đời tu đẹp không phải vì cái tôi chết dễ dàng, nhưng vì từng chút một, qua biết bao điều nhỏ nhặt, người ta học bớt sống cho mình. Đời tu đẹp không phải vì các thế hệ luôn hiểu nhau, nhưng vì vẫn có thể có một cuộc trao ban giữa ký ức và hy vọng. Đời tu đẹp không phải vì cơ cấu Giáo hội không thương tích, nhưng vì vẫn có những người yêu Giáo hội ngay trong các thương tích ấy. Đời tu đẹp không phải vì công việc lúc nào cũng thiêng liêng theo cảm nhận, nhưng vì chính trong những việc bình thường nhất, người ta vẫn có thể tìm thấy Chúa. Đời tu đẹp không phải vì hành trình đào tạo ngắn và dễ, nhưng vì sự chậm ấy có thể làm một con người sâu hơn. Đời tu đẹp không phải vì nghịch cảnh ít, nhưng vì chính nghịch cảnh trở thành lò luyện thánh.

Cái đẹp của đời tu, rốt cuộc, không nằm ở việc nó cho ta một cuộc sống khác người. Cái đẹp của đời tu nằm ở chỗ nó là con đường để một con người rất thường được Thiên Chúa kiên nhẫn nhào nặn thành của lễ. Mà của lễ thì không đẹp vì nó bóng bẩy. Nó đẹp vì nó được đặt lên bàn thờ.

Người đi tu không phải là người không còn bóng tối. Họ là người dám để Chúa bước vào bóng tối ấy. Người đi tu không phải là người không còn yếu đuối. Họ là người không muốn thỏa hiệp với yếu đuối, dù có thể phải ngã lên ngã xuống nhiều lần. Người đi tu không phải là người lúc nào cũng đầy lửa. Họ là người học giữ một đốm than nhỏ qua cả mùa lạnh. Người đi tu không phải là người không bao giờ thất vọng. Họ là người không để thất vọng trở thành điểm kết thúc. Người đi tu không phải là người ở giữa toàn những điều cao quý. Họ là người học yêu Chúa giữa vô số điều tầm thường. Người đi tu không phải là người thoát khỏi phận người. Họ là người dâng phận người ấy cho Thiên Chúa, để Ngài từ từ biến nó thành nơi ngự.

Có những người sẽ không hiểu đời tu nếu chỉ nhìn từ bên ngoài. Và cũng có những người ở trong đời tu nhưng vẫn chưa thật sự hiểu đời tu, nếu họ cứ bám mãi vào một giấc mơ đẹp mà không chịu đi qua sự thật. Chỉ người nào đủ can đảm nhìn thẳng vào những góc khuất mà vẫn không rút lui khỏi tiếng gọi yêu thương, người ấy mới bắt đầu hiểu rằng ơn gọi không được xây trên cảm hứng, cũng không đứng trên hình ảnh đạo đức đẹp, mà đứng trên một chữ “xin vâng” được lặp lại giữa những điều nhiều khi rất chẳng thơ.

Nếu bạn đang đứng trước cửa nhà dòng, xin đừng sợ sự thật. Sự thật không giết ơn gọi thật. Nó chỉ giết ảo tưởng. Nếu bạn đang ở trong đời tu và cảm thấy nhiều điều trong những trang này chạm đúng những vùng mình đang mang, xin đừng nghĩ rằng vì có những góc khuất nên tiếng gọi mất giá. Có khi chính lúc bạn bắt đầu thấy rõ những góc khuất ấy mà vẫn còn muốn thuộc về Chúa, ơn gọi của bạn mới từ từ đi vào phần trưởng thành nhất. Nếu bạn đang mệt, đang cô đơn, đang phải chiến đấu với chính mình, đang thất vọng về cộng đoàn, đang chật vật với cầu nguyện, đang thấy những công việc mình làm quá bình thường, đang sốt ruột vì tiến trình quá dài, đang bị anh em nào đó làm mình khổ, xin nhớ điều này: rất có thể Chúa không ở xa trong những chuyện ấy. Rất có thể Ngài đang ở ngay đó, làm công việc âm thầm nhất và sâu nhất của Ngài.

Đời tu không phải đường dành cho người mạnh sẵn. Nó là đường nơi những người yếu chấp nhận để Chúa dẫn qua từng lần chết đi. Và mỗi lần chết đi ấy, nếu được đón bằng tình yêu, lại làm nảy ra một mức sống mới. Có những nụ cười trưởng thành chỉ nở sau nhiều nước mắt. Có những bình an thật chỉ đến sau khi lý tưởng bị thanh lọc. Có những lời khấn sâu nhất không nằm ở ngày tuyên khấn, mà ở những ngày không ai biết mình đang phải chiến đấu điều gì nhưng mình vẫn ở lại. Có những mùa đời người tu sĩ chẳng có gì để khoe, nhưng lại là lúc thiên đàng cúi xuống gần nhất, vì linh hồn ấy đang âm thầm để Chúa thắng.

Cuối cùng, nếu phải nói một câu ngắn nhất về toàn bộ những “góc khuất” này, có lẽ là thế này: đời tu không bớt đẹp đi khi ta nhìn thấy sự thật; đời tu chỉ bớt nông đi. Và một vẻ đẹp không còn nông mới là vẻ đẹp đủ sức giữ một con người ở lại suốt đời.

Nếu Chúa gọi, Ngài không hứa cất mọi gai. Nhưng Ngài hứa đi cùng. Và với người yêu mến Ngài thật, cuối cùng, như thế đã là đủ để dâng cả một đời.

Lm. Anmai, CSsR

Bài viết liên quan

Back to top button
error: Content is protected !!