Giáo Hội Việt NamTin Giáo Hội

HỌC VIỆN DÒNG CHÚA CỨU THẾ ĐÀ LẠT — ĐÁ CÓ THỂ MANG RÊU, NHƯNG LỜI DÂNG HIẾN KHÔNG ĐƯỢC PHÉP BỊ LÃNG QUÊN – Lm. Anmai, CSsR

HỌC VIỆN DÒNG CHÚA CỨU THẾ ĐÀ LẠT — ĐÁ CÓ THỂ MANG RÊU, NHƯNG LỜI DÂNG HIẾN KHÔNG ĐƯỢC PHÉP BỊ LÃNG QUÊN – Lm. Anmai, CSsR

 

Có những ngôi nhà khiến người ta nhớ một thời đã sống. Có những ngôi nhà khiến người ta phải hỏi lại mình đang sống thế nào.

Có những nơi, người ta chỉ cần nhìn một lần là nhớ dáng vẻ. Nhưng cũng có những nơi, càng hiểu câu chuyện phía sau, người ta càng khó bước đi như thể mình chỉ vừa ghé thăm một công trình. Học viện Dòng Chúa Cứu Thế Đà Lạt thuộc về những nơi như thế. Giữa đồi thông, những bức tường đá mang một vẻ trầm mặc khiến người ta muốn đứng lâu hơn, nhìn kỹ hơn và tự nhiên nói nhỏ lại. Một người khách có thể đến vì yêu kiến trúc, vì tò mò về một tòa nhà cũ, vì muốn tìm một góc chụp hình giữa khung cảnh Đà Lạt. Nhưng với người biết nguồn gốc nơi này, ánh mắt khó dừng ở những ô cửa, mái nhà hay những mảng tường. Người ấy sẽ nghĩ đến những cuộc đời từng được chuẩn bị ở đây, những người trẻ đã đem tuổi thanh xuân bước vào một mái nhà để học thuộc về Thiên Chúa, những con người đã tập đọc một trang sách cho nghiêm túc, sống một ngày cho có trách nhiệm, giữ một giờ kinh cho trung thành và đón nhận một người anh em dù tính tình người ấy không hợp với mình. Đá đứng đó, tưởng như không nói gì, nhưng trước sự im lặng ấy, lòng người lại nghe được nhiều câu hỏi. Chúng ta đã gìn giữ điều gì? Đã để mất điều gì? Và giữa những đổi thay của lịch sử, điều nào trong lời dâng hiến ban đầu vẫn đang đòi chúng ta sống tiếp bằng chính cuộc đời hôm nay?

Theo phần tư liệu được nhắc đến, công trình Học viện được khởi xây năm 1949 và hoàn thành năm 1952, gắn với tâm huyết xây dựng cơ sở đào tạo tại Đà Lạt của cha Alphonse Tremblay. Những con số ấy, nếu chỉ đọc lướt, có thể giống bao mốc thời gian trong một bản giới thiệu kiến trúc. Nhưng hãy thử dừng lại trước việc một thế hệ quyết định xây một học viện. Họ phải dành đất, tìm vật liệu, tổ chức công việc, tính toán nguồn lực và chấp nhận những khó khăn kéo dài. Đằng sau tất cả là niềm tin rằng sẽ có những người trẻ đến, sẽ có những giờ học được mở, sẽ có những cuộc đời được đào luyện và rồi được sai đi. Một học viện được xây cho cả những người mà người khởi công chưa từng gặp. Người đặt viên đá hôm nay làm việc cho một người học trò của ngày mai. Người góp công có thể không biết tên vị linh mục tương lai sẽ được đào tạo trong ngôi nhà mình đang giúp dựng. Có điều gì rất đẹp trong sự quảng đại ấy: làm một việc mà hoa trái có thể lớn hơn đời mình, bắt đầu một công trình mà mình không thể giữ mãi trong tay, đặt hy vọng vào những con người chưa hiện diện. Những người đi trước đã phải tin rằng tương lai đáng để chuẩn bị. Và niềm tin ấy được đặt xuống đất bằng công sức thật, bằng những viên đá có trọng lượng thật, bằng những quyết định chắc hẳn không phải lúc nào cũng dễ dàng.

Một công trình dành cho việc đào tạo có chiều sâu riêng. Nó chứa một câu trả lời về cách người ta muốn phục vụ Hội Thánh và con người. Nếu chỉ cần có người làm việc ngay, người ta sẽ ít kiên nhẫn với những năm học dài. Nếu chỉ quan tâm đến số lượng, người ta có thể quên sự trưởng thành của từng người. Nhưng xây một học viện là thừa nhận rằng một ơn gọi cần được chăm sóc, một ý hướng tốt cần được thanh luyện, một trái tim nhiệt thành cần được hướng dẫn và một con người muốn trao mình cho Thiên Chúa vẫn phải học rất nhiều để biết sống với con người. Không ai bước vào đời tu mà lập tức hết tự ái. Không ai mặc áo dòng rồi tự nhiên biết lắng nghe. Một lời thưa ban đầu có thể chân thành, nhưng để giữ lời ấy qua nhiều năm, con người cần được giúp hiểu mình, hiểu điều mình chọn, hiểu những người mình sống cùng và hiểu cả những giới hạn mà mình không thể dùng lòng sốt sắng để phủ nhận. Bởi thế, học viện phải là nơi con người được học cách sống thật. Thật trong việc cầu nguyện, thật khi trình bày khó khăn, thật trước trách nhiệm của mình, thật cả khi nhận ra có những động cơ ban đầu cần được sửa. Đá có thể được đưa vào khuôn theo bản vẽ. Con người cần được đồng hành trong tự do. Dựng tường có thể cần sự chính xác của thước. Đào tạo cần sự chính xác của nhận định và lòng nhân hậu của người không quên rằng trước mặt mình là một cuộc đời.

Nghĩ đến những dãy phòng của một học viện, người ta dễ hình dung một thời tuổi trẻ có sách vở, có thời khóa biểu, có những ngày phải cố gắng vượt qua sự lười biếng, có lúc hiểu được một vấn đề rồi vui, có lúc đọc nhiều lần vẫn chưa thông. Nhưng đời sống ấy còn có phần rất âm thầm mà không bản giới thiệu nào ghi hết. Một người trẻ có thể đang tự hỏi liệu mình có thật sự được gọi sống con đường này. Một người có thể nhớ gia đình mà ngại nói, vì sợ bị đánh giá là chưa dứt khoát. Một người học chậm hơn bạn bè có thể bắt đầu nghi ngờ giá trị của mình. Một người được khen nhiều có thể đang gặp nguy cơ đặt lòng tự trọng vào thành tích. Một người luôn tỏ ra mạnh mẽ có thể chưa biết tìm ai để thừa nhận rằng mình đang mệt. Những tình huống ấy không phải chuyện riêng của một thời hay một học viện; đó là sự thật của con người trong hành trình trưởng thành. Một môi trường đào tạo tốt cần đủ sáng để người ta học, đủ nghiêm để người ta chịu trách nhiệm và đủ an toàn để người ta không phải giả vờ hoàn hảo. Nếu một người chỉ dám kể những gì khiến mình được chấp nhận, sự hướng dẫn sẽ thiếu phần quan trọng nhất. Nếu mọi yếu đuối đều lập tức biến thành một bản án về ơn gọi, người trẻ có thể học rất nhanh cách giữ kín. Và khi việc giữ kín trở thành thói quen, vẻ yên ổn của cộng đoàn có thể che một nỗi cô độc rất lớn.

Bởi vậy, khi ngắm một học viện đẹp, lòng ta nên nghĩ đến trách nhiệm của những người đào tạo. Họ đứng trước một công việc cần nhiều hơn kinh nghiệm quản lý. Họ cần biết lắng nghe mà không vội chiếm lấy câu chuyện của người khác bằng những kết luận có sẵn. Cần phân biệt sự vụng về với thiếu thiện chí, sự mệt mỏi với lười biếng, một câu hỏi chân thành với thái độ chống đối. Cần biết rằng cùng một biểu hiện bên ngoài có thể đến từ những hoàn cảnh bên trong rất khác nhau. Có người im lặng vì đang suy nghĩ, có người im lặng vì chưa tin rằng mình được phép nói. Có người nhận nhiều việc vì quảng đại, có người nhận vì sợ làm người trên thất vọng. Có người cười rất dễ nhưng không biết phải làm gì với nỗi buồn riêng. Muốn hướng dẫn họ, cần có thời gian và lòng tôn trọng. Sự nghiêm khắc có chỗ của nó, nhưng không ai được dùng sự nghiêm khắc để biện hộ cho việc làm nhục một người. Một lời sửa lỗi tốt giúp người nghe thấy rõ điều phải thay đổi và còn đủ can đảm để thay đổi. Một lời khinh miệt khiến họ chỉ muốn biến mất hoặc tìm cách không bị phát hiện lần sau. Đời tu cần những con người có lương tâm trưởng thành, biết chọn điều đúng ngay cả khi không ai kiểm tra. Nếu chỉ đào tạo được những người giỏi đoán ý, giỏi tránh bị trách, giỏi giữ vẻ ngoài thuận hòa, chúng ta sẽ có sự trật tự dễ nhìn mà thiếu nền tảng cần thiết cho lòng trung tín.

Trong mái nhà ấy, việc học phải được tôn trọng. Có những người nghĩ người tu sĩ chỉ cần đạo đức và có lòng là đủ. Lòng thành là quý, nhưng trách nhiệm phục vụ đức tin của người khác đòi người ta chịu khó học. Một lời giải thích cẩu thả có thể làm giáo dân hiểu sai trong nhiều năm. Một phán đoán thiếu kiến thức có thể khiến người đang đau khổ mang thêm mặc cảm không cần thiết. Một bài giảng không được chuẩn bị có thể sử dụng rất nhiều thời gian mà vẫn không giúp người nghe hiểu rõ điều phải sống. Có khi người giảng càng nói càng hăng, còn người nghe càng nghe càng cố giữ lòng bác ái. Câu nói vui ấy có phần thật khiến người linh mục cần xét lại mình: chúng ta có tôn trọng thời gian và khả năng tiếp nhận của người khác không? Có đủ khiêm nhường để đọc lại, tìm hiểu thêm, sửa một ý chưa đúng, bỏ một câu nghe hay nhưng dễ gây hiểu lầm không? Một giờ học nghiêm túc có thể là việc bác ái dành trước cho người mình sẽ gặp nhiều năm sau. Một trang sách được đọc cẩn thận có thể giúp mình bớt gây tổn thương khi đứng trước một hoàn cảnh phức tạp. Người học thần học cần biết rằng kiến thức của mình sẽ đi vào đời người khác qua lời giảng, lời khuyên, cách phân định và quyết định. Vì thế, học hành có một trách nhiệm luân lý. Người giáo dân đến tìm một lời hướng dẫn xứng đáng được gặp một người đã chịu chuẩn bị.

Nhưng chính trong một học viện, việc học cũng phải luôn được đưa trở về với đời sống. Có người biết rất rõ những khái niệm về tình yêu mà sống cạnh lại khó cảm nhận được sự ân cần. Có người nói về hiệp thông lưu loát nhưng không chịu nghe ai bất đồng. Có người phân tích đức khiêm nhường rất sâu mà một lời góp ý nhỏ cũng khiến họ lạnh nhạt suốt nhiều ngày. Tri thức trở nên hữu ích khi người học cho phép điều mình hiểu soi vào cách mình sống. Học về công bằng thì phải công bằng với người cộng tác, với người làm việc trong nhà, với người không có khả năng đòi quyền lợi. Học về phẩm giá thì phải tránh dùng người yếu thế làm chỗ trút sự bực bội. Học về đời sống cộng đoàn thì phải làm phần việc chung mà không đợi được khen. Có những bài kiểm tra không có giấy thi. Chúng diễn ra khi người khác dùng món đồ mình thích, khi công việc mình làm bị quên tên trong lời cảm ơn, khi một người trẻ được tín nhiệm hơn mình, khi một quyết định đi ngược kế hoạch mình đã ấp ủ. Lúc ấy, con người thật xuất hiện. Và đó cũng là lúc việc đào tạo còn phải tiếp tục. Có người đã hoàn tất chương trình học từ rất lâu mà mỗi ngày vẫn phải học lại môn lắng nghe. Có người có thể giảng một giờ về đức ái nhưng cần cả buổi chiều để nguôi giận vì một câu nói ở bàn ăn. Nhận ra điều ấy bằng sự thành thật sẽ giúp ta khiêm nhường và biết bắt đầu lại.

Nhà nguyện, vì vậy, có một chỗ không thể bị thay thế trong đời sống đào tạo. Ở đó, người học giỏi không có thêm quyền trước mặt Chúa vì điểm số của mình. Người có trách nhiệm vẫn phải thưa lời cầu xin. Người vừa được ca ngợi và người đang bị hiểu lầm cùng hiện diện trước một Thiên Chúa biết rõ hơn mọi nhận xét. Cầu nguyện đưa con người ra khỏi nhu cầu trình bày bản thân theo cách có lợi nhất. Nếu chịu ở lại đủ lâu, ta bắt đầu nghe được những điều mình thường tránh: sự ganh tị đang nằm trong lời chê, nỗi sợ đang đứng sau nhu cầu kiểm soát, lòng kiêu hãnh đang dùng công việc tốt để nuôi mình. Có những điều không ai trong cộng đoàn biết, nhưng người cầu nguyện chân thành phải dần dám nhìn. Tuy nhiên, cầu nguyện cũng là nơi con người được nâng đỡ để không tuyệt vọng trước sự thật ấy. Nhìn nhận mình yếu không có nghĩa đời mình hết giá trị. Nhận ra động cơ chưa trong không có nghĩa mọi điều mình đã làm đều vô ích. Chúa mời con người sửa, và để sửa, con người cần vừa thành thật vừa có hy vọng. Một nhà nguyện được sử dụng đúng ý nghĩa là nơi người ta có thể đến với cả lòng biết ơn lẫn sự xấu hổ, cả niềm vui lẫn điều chưa giải quyết nổi, rồi học cách đứng dậy để sống ngày tiếp theo có trách nhiệm hơn.

Đời tu cần những giờ như thế, bởi công việc tôn giáo có thể làm con người tưởng mình luôn ở gần Chúa. Một người có thể nói về Chúa cả ngày mà đã lâu không thưa với Người điều thật nhất trong lòng. Có thể tổ chức nhiều buổi cầu nguyện mà chính mình luôn đứng ở vị trí điều khiển, lo chương trình, theo dõi thời gian, sửa âm thanh, rồi hết buổi vẫn chưa có phút nào thật sự hiện diện. Có thể phục vụ nhiều người đến mức ai cũng cho rằng mình rất mạnh, trong khi bên trong ngày càng khô và mệt. Công việc có thể tốt, cần thiết và đầy ý nghĩa, nhưng người làm vẫn cần được chăm sóc. Không ai có thể mãi sống bằng sự khẩn cấp. Không ai được tạo dựng để luôn luôn trao mà không cần đón nhận. Khi nhớ một học viện có nhà nguyện, có giờ học và nhịp sống chung, ta nên nhớ cả sự khôn ngoan của một đời sống có trật tự: con người cần lao động, cần cầu nguyện, cần nghỉ, cần học, cần có lúc ở một mình và có lúc thật sự ở với người khác. Đừng đợi đến khi một người gãy xuống mới thừa nhận rằng họ đã bị kéo quá lâu. Sự tận tụy cần được nâng đỡ để có thể bền. Một ngọn đèn cháy sáng cũng cần được chăm, chứ không thể chỉ được khen là sáng rồi tiếp tục bị dùng cho đến lúc tắt.

Từ nhà nguyện bước ra, người tu sĩ trở về đời sống chung. Và ở đó, lòng mến phải có hình dạng cụ thể. Một lời chào không miễn cưỡng. Một cuộc hẹn được giữ đúng giờ. Một phần việc được làm đến nơi đến chốn. Một chiếc cửa đóng nhẹ vì biết có người đang nghỉ. Một lời góp ý được nói riêng thay vì biến thành câu chuyện trước mặt nhiều người. Một người vắng bữa được hỏi thăm mà không bị tra xét. Có những cộng đoàn không thiếu tiện nghi nhưng người sống trong đó lại cảm thấy phải tự bảo vệ liên tục. Họ cân nhắc từng câu vì sợ bị đem ra bàn tán. Không dám kể chuyện gia đình vì ngại bị đánh giá. Không dám nhận mình không hiểu vì sợ mất hình ảnh. Không dám nói đang mệt vì biết câu trả lời sẽ là ai mà chẳng mệt. Một ngôi nhà như thế có thể rất ngăn nắp, nhưng lòng người khó được nghỉ. Khi người tu sĩ đi ra ngoài phục vụ bằng tất cả sự dịu dàng rồi trở về chỉ còn sự cáu gắt dành cho anh em, cần có lúc nhìn lại. Những người ở gần mình cũng là những người Chúa trao để mình yêu. Họ không nên chỉ nhận phần kiệt sức, thiếu kiên nhẫn và khó chịu còn lại sau khi ta đã dành hết vẻ dễ thương cho người ngoài.

Câu hỏi về một mái nhà thánh hiến đôi khi rất đơn sơ: sau một ngày mệt, tôi có muốn trở về đây không? Nếu một người luôn muốn ở ngoài lâu hơn, tìm mọi công việc để tránh giờ chung, thấy nhẹ lòng mỗi khi phải đi xa và nặng nề mỗi lần trở lại, điều ấy đáng được lắng nghe. Không nên vội kết luận họ thiếu tinh thần cộng đoàn. Cần tìm hiểu chuyện gì đang làm họ khó sống: một xung đột chưa được giải quyết, một nỗi sợ, một cách đối xử khiến họ mất an toàn, hay chính những giới hạn của họ cần được giúp. Tình huynh đệ đòi sự quan tâm đủ cụ thể để nhận ra người anh em đang khác đi. Một người ít nói hơn. Một người không còn tham gia như trước. Một người làm việc liên tục mà mặt ngày càng căng. Một người bắt đầu phản ứng quá mức với những việc nhỏ. Những dấu hiệu ấy không cho phép ta tự chẩn đoán hay phán quyết, nhưng đủ để ta đến gần với sự tôn trọng. Đừng để một người phải gây ra một biến cố lớn mới được cộng đoàn nhìn thấy. Đừng để câu “sao anh không nói?” trở thành lời đến quá muộn, trong khi đã có nhiều lần họ thử mở lòng mà chúng ta không dừng lại để nghe.

Khi đọc dòng chữ “COPIOSA APUD EUM REDEMPTIO” được nhắc trong tư liệu về Học viện, lòng người mang linh đạo Chúa Cứu Thế phải dừng lại. Ơn cứu chuộc chứa chan nơi Người. Lời ấy là một niềm an ủi lớn và cũng là một đòi hỏi lớn. Người đến gặp chúng ta cần có cơ hội cảm nhận rằng họ vẫn còn đường trở về. Một người đã sai không nên bị giữ mãi trong sai lầm của họ bằng ánh mắt của cộng đoàn. Một người ăn năn cần được hướng dẫn sống có trách nhiệm, sửa lại điều đã gây ra, chấp nhận hậu quả cần thiết và tập bước tiếp; họ cũng cần được đối xử như một người có khả năng thay đổi. Có người đã nghe quá nhiều lời nói về lỗi của mình mà chưa từng được ai kiên nhẫn giúp bắt đầu lại từ đâu. Có người biết đời mình rối nhưng sợ bước vào nhà thờ vì nghĩ chỉ gặp thêm sự khinh chê. Người mang danh Chúa Cứu Thế phải rất thận trọng với cách mình đón họ. Sự thật cần được nói rõ, nhưng giọng nói và thái độ có thể quyết định người ấy còn đủ can đảm ở lại hay muốn chạy đi. Lòng thương xót đòi ta không bỏ mặc sự thật, đồng thời không dùng sự thật như một cách hạ thấp người khác. Khẩu hiệu trên mặt tiền đẹp nhất khi nó được sống trong phòng tiếp khách, trong tòa giải tội, trong cách sửa lỗi và trong cách cộng đoàn đón một người đang yếu.

Một học viện trên đồi có thể rất yên, nhưng lý tưởng đào tạo không được dừng ở sự yên ổn của chính ngôi nhà. Việc học hướng đến người sẽ được phục vụ. Giờ cầu nguyện chuẩn bị cho những cuộc gặp khó. Kỷ luật giúp con người có khả năng đi đến nơi mình được sai, làm việc mình có trách nhiệm làm và ở lại với người đau khổ mà không chỉ tìm điều dễ chịu cho bản thân. Người tu sĩ cần nhớ gương mặt của những người đang ở ngoài cổng: gia đình thiếu hòa thuận, người trẻ không biết hướng đi, người lao động bị đối xử bất công, người đau yếu sợ thành gánh nặng, người mang tội lỗi không biết phải trở về thế nào. Nếu mọi công sức đào tạo chỉ giúp ta trở nên thông thạo ngôn ngữ nội bộ, có vị trí tốt trong cơ cấu và sống ngày càng xa những nỗi đau thật, cần xét lại điều mình đang làm. Một người có thể giải thích nhiều vấn đề cao xa mà không biết ngồi yên nghe người mẹ kể chuyện đứa con. Có thể rất đúng trong lý luận mà thiếu sự tế nhị trước người vừa mất người thân. Học để phục vụ đòi biết giới hạn của lời nói. Có khi điều cần nhất là sự hiện diện không vội, một câu hỏi đúng lúc, một lời hứa được giữ, một sự giúp đỡ thiết thực.

Cũng vì thế, ký ức về Học viện phải dành chỗ cho những người ít được nhắc tên. Công trình nào cũng có người khởi xướng, người thiết kế, người lãnh trách nhiệm. Nhưng một ngôi nhà sống được qua từng ngày nhờ rất nhiều công việc nhỏ. Người chuẩn bị bữa ăn để người khác có thể vào lớp đúng giờ. Người sửa một chỗ hỏng trước khi nó gây bất tiện. Người chăm khoảng sân, giữ đồ dùng, làm những việc không xuất hiện trong các buổi lễ. Có những con người chẳng bao giờ đứng trước cộng đoàn để giảng, nhưng sự tận tụy của họ là một bài học được nhìn thấy mỗi ngày. Khi lịch sử chỉ nhớ người phát biểu mà quên người đã đến sớm mở cửa, chuẩn bị bàn ghế và ở lại dọn dẹp, lòng biết ơn của chúng ta vẫn còn thiếu. Trong Hội Thánh, không ai tự mình làm nên tất cả. Một bài giảng có thể mang giọng của một người, nhưng khả năng để người ấy đứng giảng được nâng đỡ bởi gia đình, thầy dạy, anh em, ân nhân và nhiều người vô danh khác. Nhận ra điều ấy giúp người có chức vụ bớt tự mãn. Thành quả của mình có phần công sức của người khác ở trong. Nếu hôm nay ta được học, được phục vụ, được tin cậy, có biết bao bàn tay đã giúp mình đi đến đây. Một người quên mình từng được kiên nhẫn sẽ dễ trở nên quá khắt khe với người đang cần kiên nhẫn.

Đằng sau mỗi ơn gọi còn có một gia đình đã học cách trao người con của mình. Có người mẹ không nói nhiều về hy sinh nhưng thấy bàn ăn vắng một chỗ là lòng chùng xuống. Có người cha diễn tả tình thương bằng những việc ít lời, bằng sự dành dụm, bằng việc không làm người con thêm nặng lòng dù chính mình cũng nhớ. Có những anh chị em đã gánh thêm phần việc ở nhà. Có những người giáo dân góp một phần nhỏ từ thu nhập không dư để giúp việc đào tạo được tiếp tục. Nghĩ về học viện mà nhớ những đóng góp ấy, người tu sĩ sẽ thấy đời mình gắn với trách nhiệm. Không phải trách nhiệm phải trở thành một hình ảnh hoàn hảo khiến mọi người tự hào, nhưng là trách nhiệm sống ngay thẳng với những gì đã nhận. Đừng phung phí cơ hội học hành vì lười. Đừng dùng của chung như thể không có ai vất vả phía sau. Đừng xem sự phục vụ của người khác là điều đương nhiên. Đừng quên nói lời cảm ơn chỉ vì đã quen được giúp. Người có lòng biết ơn thường biết chừng mực hơn trong những đòi hỏi. Họ hiểu một món đồ có giá, một bữa ăn có công, một giờ học có sự chuẩn bị, và đời sống của mình đang được đỡ bằng nhiều điều không thể ghi đủ trên một tờ giấy.

Nhưng khi câu chuyện đi đến những đổi thay của công trình sau năm 1975 như phần tư liệu đề cập, lòng người gắn bó với nguồn gốc của Học viện khó tránh một nỗi buồn. Một nơi được dựng cho đời sống cầu nguyện và đào tạo, khi không còn sống theo nhịp ban đầu, có thể để lại cảm giác hụt hẫng rất sâu nơi những người coi đó là mái nhà. Người ngoài dễ nhìn công trình bằng diện tích, công năng và cách sử dụng. Người đã gắn bó còn nhìn thấy một quãng đời. Họ có thể nhớ người thầy đã hướng dẫn mình, một người bạn nay đã qua đời, một ngày khó khăn mình từng muốn bỏ cuộc, một câu nói đã giúp mình ở lại với điều tốt. Những ký ức ấy không có cách định giá thông thường. Vì thế, đừng vội yêu cầu con người quên đi chỉ để câu chuyện bớt phức tạp. Có những mất mát cần được gọi đúng tên thì lòng người mới được tôn trọng. Cũng đừng cho rằng ai nhớ nơi cũ đều không biết sống hiện tại. Có khi chính lòng biết ơn quá khứ giúp họ sống hiện tại có chiều sâu hơn. Một người nhớ mái nhà cũ không nhất thiết đang muốn quay lưng với hôm nay. Họ có thể chỉ mong điều từng thiêng liêng với mình được hiểu và được đối xử tử tế.

Sự gắn bó ấy càng cần được gìn giữ bằng thái độ trung thực. Những chi tiết về mức độ hư hại, cách sử dụng từng phần công trình hay việc can thiệp vào kiến trúc cần được xác minh ở thời điểm cụ thể. Một ghi nhận của nhiều năm trước không thể tự động dùng làm mô tả hiện tại. Tình yêu đối với Học viện không được lợi khi chúng ta lặp lại điều chưa rõ như thể đã tận mắt biết. Có những câu nói khiến người đọc xúc động ngay nhưng lại làm câu chuyện yếu đi nếu thiếu căn cứ. Một nỗi đau có thật không cần được thêm thắt. Một công trình đáng quý xứng đáng được nói đến bằng sự cẩn thận. Hãy phân biệt điều đã biết, điều được kể lại, điều cần khảo sát và điều thuộc suy tư của người viết. Sự phân biệt ấy không làm lời văn lạnh đi; nó cho thấy ta tôn trọng cả người đọc lẫn đối tượng mình yêu mến. Giữ sự thật đôi khi cần kiềm lại một câu mình rất muốn nói. Người có đức tin càng phải biết điều ấy. Không thể bảo vệ ký ức bằng cách làm nó lẫn với những khẳng định không vững. Nếu muốn người khác lắng nghe nỗi thao thức của mình một cách nghiêm túc, hãy bắt đầu bằng việc chính mình nghiêm túc với từng điều được nói ra.

Về việc bảo tồn, tình cảm cần đi cùng sự hiểu biết. Một công trình bằng đá có những đòi hỏi kỹ thuật riêng; đánh giá kết cấu, xử lý hư hỏng, chọn vật liệu và gìn giữ chi tiết kiến trúc đều cần người có chuyên môn. Có những can thiệp nhìn mới hơn nhưng làm mất dấu vết có giá trị. Có những sửa chữa thiện chí nhưng thiếu hiểu biết khiến công việc về sau khó hơn. Cũng có những chỗ xuống cấp cần được xử lý kịp thời để bảo đảm an toàn. Vì thế, gìn giữ không thể chỉ là giữ nguyên mọi thứ bất chấp tình trạng, cũng không thể là muốn làm gì cho tiện thì làm. Cần khảo sát, lập hồ sơ, nhận diện phần có giá trị và có phương án phù hợp. Những dòng chữ, tỷ lệ không gian, cách tổ chức kiến trúc, dấu vết sử dụng và nguồn gốc của công trình đều là những điều đáng được nghiên cứu. Một lần thay đổi thiếu cân nhắc có thể khiến thế hệ sau mất đi điều không thể phục hồi bằng bản sao. Chúng ta thường dễ tiếc khi sự mất mát đã xảy ra; trách nhiệm là biết quan tâm trước lúc ấy. Bảo tồn cần những người chịu làm việc cẩn thận, có khi rất âm thầm, chưa tạo ra kết quả đẹp mắt ngay, nhưng giúp điều quý còn có thể được trao lại.

Khi một công trình có nguồn gốc tôn giáo mang công năng khác, nguồn gốc ấy vẫn cần được trình bày trung thực. Tên gọi về sau không khiến tên gọi ban đầu trở thành chuyện không đáng nhắc. Người đến tham quan có quyền được biết ngôi nhà đã được xây vì điều gì, bởi những ai và đã trải qua những chặng nào. Lịch sử có thể có nhiều lớp, nhưng mỗi lớp cần được đặt đúng chỗ. Một bảng giới thiệu đủ công bằng có thể giúp người không cùng đức tin vẫn hiểu và tôn trọng ý nghĩa của nơi ấy. Không ai bị buộc phải mang cảm xúc giống nhau; nhưng việc nhận biết sự thật là nền tảng cho sự tôn trọng. Có những người nhìn một thánh giá và thấy dấu chỉ đức tin. Có người nhìn bằng sự quan tâm đến kiến trúc. Có người muốn tìm hiểu lịch sử địa phương. Các cách tiếp cận ấy có thể cùng hiện diện nếu câu chuyện được kể nghiêm túc. Điều gây tổn thương là khi một nguồn gốc bị coi như không đáng tồn tại trong ký ức chung. Một xã hội trưởng thành cần biết gìn giữ những công trình mang dấu ấn của nhiều cộng đồng, bởi di sản giúp con người hiểu mình đã đi qua những gì và đã được hình thành bởi những ai.

Tấm biển Latinh được nhắc trong tư liệu, với ý nghĩa dâng công trình cho Đức Kitô Cứu Thế trong đức tin, đức cậy và lòng mến, làm người đọc khó chỉ dừng ở chuyện kiến trúc. Một lời dâng đã được đặt nơi cửa nhà như để nhắc người bước vào biết mình đang đi vào một nơi có mục đích. Khi đọc lại hôm nay, người có đức tin có thể thấy xúc động vì lòng thành của người đi trước. Nhưng lời dâng ấy cũng quay về phía mình: đời tôi hiện đang dành cho ai? Ta có thể trả lời rất nhanh bằng một danh xưng, một chức vụ hoặc lời khấn đã tuyên. Tuy nhiên, câu trả lời thật còn nằm trong cách mình dùng thời gian, tiêu tiền, tìm sự công nhận và phản ứng khi bị trái ý. Có khi một người nói đã dâng tất cả nhưng vẫn giữ rất chặt quyền quyết định. Có khi nói sống khó nghèo nhưng không chịu nổi một sự bất tiện nhỏ. Có khi nói thuộc về cộng đoàn nhưng chỉ tham gia những việc hợp ý. Những điều ấy không phải lý do để tự kết án toàn bộ đời mình. Chúng là lời mời sống thật hơn. Một lời dâng chân thành cần được nhắc lại trong những chọn lựa nhỏ, nơi ta có thể làm điều tốt mà không ai biết, nhường một điều thuận lợi mà không cần kể, nhận lỗi mà không thêm ngay một lời bào chữa.

Điều đáng sợ trong đời tu có khi là sự quen thuộc. Quen đi ngang nhà nguyện đến mức không còn dừng. Quen nghe Lời Chúa đến mức chỉ nghĩ hôm nay nên dùng câu nào giảng cho người khác. Quen với áo dòng đến mức quên mình đang mang một lời nhắc về trách nhiệm. Quen được gọi bằng danh xưng kính trọng đến mức khó nghe một lời phê bình bình thường. Những điều thiêng liêng có thể ở rất gần mà lòng ta đã xa. Ta có thể sống trong nhà Chúa nhưng dành quá ít sự chú ý cho Người. Có thể làm nhiều việc của Hội dòng mà lòng ngày càng bị điều khiển bởi nhu cầu được cần đến. Đến khi một người khác được trao công việc mình từng làm, ta thấy như giá trị bản thân bị lấy mất. Lúc ấy, lời khấn khó nghèo đi sâu hơn chuyện có bao nhiêu đồ dùng. Nó chạm đến câu hỏi mình có tin rằng được Chúa yêu ngay cả khi không còn giữ vị trí quen thuộc hay không. Một học viện cũ đứng trước mắt có thể nhắc ta nhớ lúc ban đầu, khi điều mình muốn đơn sơ hơn rất nhiều: được theo Chúa và làm điều có ích. Sau nhiều năm, có lẽ cần xin ơn trở lại với sự đơn sơ ấy, mang theo sự trưởng thành đã có và buông bớt những thứ mình đã vô tình đặt vào giữa lòng.

Ký ức về một mái nhà dâng hiến cũng buộc ta chăm sóc những người đã già trong đời tu. Những bước chân từng nhanh trên cầu thang sẽ có ngày cần chậm lại. Người từng đọc và giảng nhiều giờ có ngày thấy chữ mờ. Người từng chăm sóc cả cộng đoàn có ngày phải đợi người khác giúp mình một việc rất nhỏ. Khi ấy, tình huynh đệ được thử bằng cách chúng ta đối xử với người không còn làm được nhiều. Nếu họ chỉ được quý lúc còn hữu dụng, tình thương trong cộng đoàn đã bị thu hẹp thành một thứ trao đổi. Người già có thể nhắc một chuyện nhiều lần, hỏi lại điều vừa được nói, chậm trong những việc người trẻ làm rất nhanh. Ta có thể mệt, có thể cần sắp xếp công việc, có thể không đáp ứng mọi yêu cầu; nhưng vẫn có thể giữ một giọng nói hiền và tránh làm họ xấu hổ. Một người già cần được biết rằng sự hiện diện của mình còn được đón nhận. Họ không phải xin lỗi vì đang yếu. Họ không phải chứng minh công trạng cũ mỗi lần cần giúp. Khi thương một công trình lâu năm, hãy nhớ thương cả những con người đang mang dấu thời gian. Thật buồn nếu ta tiếc một ô cửa cũ mà lại thiếu kiên nhẫn với người đã dành cả đời gìn giữ mái nhà.

Cũng cần dành lòng tôn trọng cho những người từng bước vào môi trường đào tạo rồi nhận ra con đường của mình ở nơi khác. Khi nhìn lịch sử chỉ qua những người đã đi đến chức vụ hoặc lời khấn trọn đời, ta có thể bỏ quên những cuộc đời đã nhận được điều tốt từ mái nhà ấy và mang điều tốt đó vào gia đình, công việc, cộng đoàn giáo dân. Việc phân định chân thành có khi dẫn một người đến một quyết định khác với điều họ từng nghĩ. Nếu quyết định được thực hiện trong tự do, sự thật và trách nhiệm, không nên dùng nó để phủ nhận toàn bộ quãng đường đã qua. Một người trở thành người cha biết cầu nguyện với con, người chồng sống trung tín, người làm việc giữ lương tâm ngay thẳng có thể đang cho thấy những gì tốt đẹp họ đã học vẫn sinh hoa trái. Lòng biết ơn của một mái nhà đào tạo nên đủ rộng để nhìn nhận điều ấy. Và người ở lại cũng cần khiêm nhường: sống trong một cơ cấu lâu năm chưa tự động có nghĩa là lòng mình đã gần Chúa hơn. Mỗi người vẫn phải sống phần ơn gọi được trao. Điều quyết định là sự trung thành trong sự thật, chứ không phải nhu cầu dùng hành trình của người khác để củng cố cảm giác mình đúng.

Ta cũng không cần biến quá khứ thành một thời hoàn hảo để yêu Học viện. Người đi trước là những con người thật, sống trong hoàn cảnh thật, có tài năng và giới hạn. Một mái nhà thánh hiến vẫn có thể có hiểu lầm, bất đồng, những quyết định chưa tốt và những điều cần sửa. Nhìn nhận điều đó không làm mất giá trị của công sức dựng xây hay lòng thành đã được trao. Trái lại, nó giúp người hôm nay có một ký ức đủ thật để học. Nếu quá khứ chỉ được kể bằng những gương mặt không bao giờ mệt, những cộng đoàn không bao giờ xung đột, những người tu sĩ không bao giờ phải chiến đấu với mình, người trẻ sẽ thấy khó tìm chỗ cho sự yếu đuối của bản thân. Họ có thể nghĩ mình không xứng đáng chỉ vì đang phải chật vật với những điều rất người. Một ký ức trưởng thành cho phép họ hiểu rằng lòng trung tín được tập sống qua nhiều lần sửa, nhiều lần xin giúp và nhiều lần bắt đầu lại. Chúng ta kính trọng người đi trước vì những điều tốt đẹp họ đã sống trong thân phận con người, không cần dựng thêm một sự hoàn hảo mà không ai mang nổi. Sự thật có khả năng nâng đỡ bền hơn một câu chuyện chỉ đẹp ở bề mặt.

Có một câu hỏi khá đau cần được đặt ra khi chúng ta xúc động trước một nơi dành cho Chúa đã đổi khác: những nơi vẫn còn dành cho Chúa trong đời mình hôm nay, ta đang sử dụng thế nào? Nhà nguyện còn đó, nhưng mình có đến không? Kinh Thánh còn đó, nhưng mình có mở bằng lòng muốn nghe không? Cộng đoàn còn đó, nhưng mình có hiện diện hay chỉ có mặt? Người anh em vẫn ở căn phòng bên cạnh, nhưng đã bao lâu mình không hỏi họ một câu thật lòng? Có những sự bỏ hoang xảy ra ngay giữa chỗ đông người. Một gia đình có bàn thờ đẹp mà lâu rồi không còn kinh chung. Một tu viện giữ đủ giờ mà các thành viên không còn dám nói thật với nhau. Một người linh mục có lịch phục vụ kín nhưng không còn khoảng nào để xem lại mình đang sống ra sao. Chúng ta có thể buồn vì một công trình không còn giữ công năng ban đầu; nỗi buồn ấy sẽ thêm chân thành nếu nó thúc mình gìn giữ điều đang có. Đừng chỉ thương một nhà nguyện ở xa mà bỏ mặc nhà nguyện nơi mình đang sống. Đừng chỉ muốn giữ ký ức tình huynh đệ của thế hệ trước mà tiếp tục làm người anh em hôm nay phải cô độc.

Đối với gia đình Công giáo, câu chuyện một mái nhà được dâng cho Chúa cũng gần gũi hơn ta tưởng. Một ngôi nhà có thể giữ nhiều dấu chỉ tôn giáo mà nhịp sống đã không còn chỗ cho đức tin. Người ta vẫn kính ảnh thánh, vẫn nhớ ngày lễ, vẫn có thể nói những lời rất đạo đức, nhưng vợ chồng ngày càng ít nói chuyện, cha mẹ không biết con đang nghĩ gì, bữa cơm chung bị bỏ, lời cầu nguyện cứ hoãn và những xung đột được giữ lại qua nhiều năm. Có những đứa trẻ thuộc kinh nhưng sợ về nhà vì nhà quá căng. Có người trẻ nghe cha mẹ nhắc sống đạo nhưng lại thấy người lớn gian dối trong làm ăn hoặc xúc phạm nhau mỗi ngày. Đức tin cần được nhìn thấy trong cách cư xử. Một thánh giá trên tường nhắc cha mẹ yêu con có trách nhiệm, nhắc vợ chồng giữ lời đã hứa, nhắc con cái kính trọng mà vẫn được lắng nghe. Nếu mọi người đều biết treo ảnh Chúa ở đâu nhưng không ai biết dành cho nhau một giờ bình an, mái nhà đang cần được canh tân. Cũng như với một học viện, vẻ ngoài trang nghiêm chỉ có ý nghĩa đầy đủ khi đời sống bên trong được chăm sóc. Chúa cần được đón nhận trong cả lời cầu lẫn cách ta đối xử với người ngồi cùng bàn.

Một nỗi tiếc đúng đắn có thể trở thành trách nhiệm. Nếu thương Học viện, hãy quan tâm đến việc ghi lại ký ức một cách cẩn thận. Những người còn nhớ trực tiếp một giai đoạn có thể không còn nhiều thời gian để kể. Một tấm ảnh cần được nhận diện nhân vật. Một lá thư cần được giữ đúng nguồn gốc. Một câu chuyện cần ghi rõ ai kể, họ biết trực tiếp hay nghe lại. Một chi tiết kiến trúc cần được chụp, mô tả và đối chiếu trước khi mất. Những việc ấy không tạo cảm xúc mạnh ngay như một bài viết đầy lời than, nhưng có thể giúp người sau hiểu điều gì đã có thật. Ký ức cần lòng mến và phương pháp. Lòng mến khiến ta không thờ ơ; phương pháp giúp ta không làm rối điều cần giữ. Với những vấn đề thuộc quyền sử dụng, lịch sử quản lý hay trách nhiệm bảo tồn, càng cần hồ sơ phù hợp và cách tìm hiểu nghiêm túc. Người yêu di sản có thể lên tiếng bình tĩnh mà rõ ràng. Không cần xúc phạm ai để chứng minh mình đau. Cũng không cần làm nhẹ điều đáng quan tâm để được xem là dễ chịu. Giữa sự cay đắng và sự lãng quên, vẫn có con đường của lòng kiên trì biết dựa vào sự thật.

Đức tin giúp con người bước trên con đường ấy mà không bị nỗi buồn chiếm hết. Một công trình có thể trải qua đổi thay, nhưng những điều tốt đẹp đã được sống ở đó không vì thế mà trở thành vô nghĩa. Ta không biết hết các hoa trái, không nên tự bịa ra những câu chuyện cảm động. Tuy nhiên, có thể nhận ra một nguyên tắc rất gần với đời sống: điều một người đã thật sự học và sống có thể theo họ đến nhiều nơi. Một người từng được hướng dẫn bằng sự kiên nhẫn có thể đối xử kiên nhẫn với lớp trẻ sau này. Một người học được trách nhiệm trong việc nhỏ có thể làm việc lớn mà bớt cẩu thả. Một người được giúp cầu nguyện chân thành có thể mang sự bình an ấy vào những hoàn cảnh khó. Bởi vậy, ảnh hưởng của một mái nhà không nằm hết trong khuôn viên. Nó tiếp tục qua những người đã được đào luyện và qua những người họ phục vụ. Điều đó càng làm việc gìn giữ công trình đáng quý, vì công trình là một chứng tích cụ thể giúp ký ức có nơi nương tựa. Nhưng nó cũng giữ ta khỏi nghĩ rằng mọi ý nghĩa đã kết thúc khi một cánh cửa thay đổi người sử dụng. Lời dâng hiến cần được tiếp tục bằng cuộc sống, ở bất cứ nơi nào người được sai đến.

Nhớ về Học viện, người tu sĩ có thể xét mình về một nguy cơ khác: yêu hình ảnh đời tu hơn yêu đời tu thật. Ta thích cảnh tu viện giữa sương, thích nhà nguyện đẹp, thích tiếng chuông, thích những câu văn về dâng hiến. Nhưng đời tu thật có những buổi sáng phải dậy khi rất muốn ngủ thêm, có phần việc không ai để ý, có người anh em không hợp tính, có lúc mình được góp ý đúng mà vẫn thấy đau. Có ngày cầu nguyện khô khan, làm việc không được ghi nhận, kế hoạch bị thay đổi, ý riêng phải được đặt lại. Những điều ấy không làm đời tu mất đẹp; chúng là nơi lòng mến được thử và được tập. Một bức ảnh tu viện không bao giờ làm trái ý ta. Một cộng đoàn thật thì có. Một hành lang đẹp không nhắc ta đừng nói nặng. Người sống cạnh ta có thể phải nhắc. Vì vậy, ai muốn giữ vẻ đẹp của đời thánh hiến cần chấp nhận công việc rất cụ thể của việc đào luyện bản thân. Hãy để lòng mình được sửa, thay vì chỉ muốn mọi người quanh mình đổi. Hãy học niềm vui của sự đóng góp âm thầm, thay vì chỉ thấy đời mình có giá khi đứng ở chỗ nổi bật. Một người sống được như thế làm mái nhà mình ở trở nên đáng trở về hơn.

Thời gian là điều những công trình cũ nhắc ta rất rõ. Người khởi sự rồi sẽ rời tay khỏi công việc. Người đứng đầu rồi sẽ có người kế nhiệm. Căn phòng mình cho là gắn liền với mình sẽ có ngày mang dấu vết của người khác. Một việc mình tưởng không ai thay được rồi cũng được tiếp tục theo cách khác. Nhìn nhận điều ấy có thể làm lòng buồn, nhưng cũng giúp ta sống nhẹ và ngay thẳng hơn. Ta không cần giữ mọi thứ để chứng minh đời mình đã có ích. Điều cần là làm tốt phần việc trong thời gian được trao và chuẩn bị để người khác có thể tiếp nối. Có những người trao việc mà không trao lòng, luôn đứng sau để so sánh, phê bình và nhắc rằng thời mình khác. Có những người buông chức vụ nhưng giữ quyền làm người khác thấy có lỗi. Một đời dâng hiến trưởng thành cần học cả cách rời một chỗ quen bằng sự quảng đại. Ngôi nhà được xây cho nhiều thế hệ; công việc cũng vậy. Người đi trước có thể để lại một nền tảng vững hoặc để lại nhiều khó khăn vì không chịu chuẩn bị. Một cách yêu Hội dòng rất thật là giúp người đến sau làm việc thuận lợi hơn, có đủ thông tin, được tin cậy và không phải bước đi dưới chiếc bóng quá nặng của người tiền nhiệm.

Những bức tường đá cũng khiến người ta nghĩ về cái chết, nhưng suy nghĩ ấy không nhất thiết u tối. Nó nhắc con người biết dùng phần thời gian còn có. Một ngày, tên mình sẽ được nhắc ở thì quá khứ. Có người nhớ điều tốt, có người còn giữ một vết đau do mình gây ra. Ta không thể kiểm soát hết ký ức của người khác, nhưng hôm nay vẫn có thể sửa một điều, trả một món nợ công bằng, xin một lời tha thứ, nói một lời cảm ơn. Đừng để mọi sự cứ nằm trong dự định: khi nào rảnh sẽ gọi, khi nào thuận tiện sẽ làm hòa, khi nào bớt bận sẽ cầu nguyện nghiêm túc hơn. Có những cuộc gặp mất đi mà không báo trước. Có những người ra đi khi ta còn đang chờ mình hết tự ái. Một ngôi nhà có tuổi đứng đó để nhắc rằng thời gian đã đi qua thật, và những người từng nghĩ mình còn nhiều thời gian nay đã thuộc về ký ức. Lòng biết ơn người đi trước nên làm ta bớt trì hoãn việc lành. Nếu thực sự xúc động, hãy để sự xúc động biến thành một cuộc điện thoại hỏi thăm, một giờ cầu nguyện, một hành vi công bằng, một cách nói hiền hơn với người trong nhà. Nỗi buồn đẹp đến đâu cũng cần được đưa đến một việc tốt.

Có lẽ điều người tu sĩ mong để lại sâu nhất không phải là người ta nhớ mình có bao nhiêu công việc hay đã được trao chức vụ gì. Điều đáng mong là có ai đó nói rằng nhờ gặp người ấy, tôi đã bớt sợ; nhờ được lắng nghe, tôi đã dám sống thật; nhờ một lời hướng dẫn và sự kiên nhẫn, tôi đã không bỏ cuộc; nhờ thấy cách người ấy nhận lỗi, tôi hiểu người có đạo cũng phải khiêm nhường. Đó là di sản không cần ghi trên bia mà vẫn ở lại trong đời người. Một công trình có thể ghi tên nhiều người, nhưng lòng người còn giữ những điều không có chỗ trên tấm bảng. Một lần được bảo vệ khỏi sự làm nhục. Một bữa ăn khi đang khó khăn. Một sự giúp đỡ không bị kể lại để lấy tiếng. Một lời nhắc đúng lúc nhưng không làm mất phẩm giá. Người mang danh Chúa Cứu Thế cần quý những việc ấy, bởi qua đó, lời tuyên xưng về ơn cứu chuộc trở nên có thể cảm nhận. Không ai trong chúng ta là Đấng Cứu Thế. Chúng ta có thể trở thành người cộng tác, người chỉ đường, người biết đứng gần khi một người đang cố bước ra khỏi điều làm họ khổ.

Khi trở lại với hình ảnh Học viện giữa đồi thông, lòng người có thể giữ một nỗi mong rất chính đáng: mong nguồn gốc được nhìn nhận, mong những dấu tích đáng quý được chăm sóc, mong câu chuyện được kể đủ trung thực, mong người đến hôm nay biết rằng mình đang bước vào một nơi đã được dựng lên với một ý hướng dâng hiến. Đồng thời, cũng mong người thuộc về truyền thống ấy biết sống xứng đáng hơn với ký ức mình trân trọng. Một bài viết có thể nhắc người đọc nhớ công trình. Một đời sống ngay thẳng có thể làm người khác hiểu vì sao lý tưởng gắn với công trình ấy đáng quý. Nếu ta nói rất hay về sự thánh thiện của quá khứ mà hiện tại sống thiếu trách nhiệm, câu chuyện sẽ bị yếu đi ngay nơi người kể. Nếu ta gìn giữ được lòng nhân hậu, sự nghiêm túc trong học hành, sự chân thành trong cầu nguyện và tình huynh đệ trong cộng đoàn, ký ức ấy sẽ có sức sống. Thế hệ sau cần cả hồ sơ và mẫu gương. Cần biết điều gì đã xảy ra và thấy điều gì còn đang được sống. Một truyền thống được tiếp tục nhờ những người chịu mang lấy trách nhiệm hôm nay bằng lòng biết ơn, chứ không chỉ nhờ những lời ca ngợi ngày hôm qua.

Lạy Chúa Giêsu Cứu Thế, khi nghĩ đến ngôi Học viện trên đồi thông Đà Lạt, chúng con xin nhớ trước mặt Chúa những người đã khởi sự, góp công và dành tâm huyết cho nơi ấy. Chúa biết từng người, biết cả những bàn tay chúng con không còn tìm được tên. Chúa biết lòng thành, những nỗ lực, sự hy sinh và những giới hạn của họ. Xin thương đón nhận điều tốt đẹp họ đã trao, tha thứ những gì còn thiếu sót và cho những công việc được làm trong lòng mến tiếp tục đem ích lợi. Chúng con cầu cho những người từng học tập và phục vụ trong mái nhà ấy: người đang sống, xin được nâng đỡ trong hoàn cảnh hiện nay; người đã qua đời, xin được phó thác cho lòng thương xót Chúa. Xin gìn giữ ký ức khỏi bị lãng quên và khỏi những cách kể không đúng sự thật. Xin cho người có trách nhiệm biết quan tâm đến công trình bằng sự hiểu biết, công bằng và tôn trọng. Xin cho những người đau khi nhớ nơi này tìm được cách giữ lòng khỏi cay đắng, có đủ kiên nhẫn để làm điều cần làm và đủ bình an để không bị nỗi buồn lấy mất khả năng yêu thương hôm nay.

Lạy Chúa, xin cũng nhìn đến những mái nhà thánh hiến hiện tại của chúng con. Có nơi cần sửa tường, có nơi cần sửa cách con người nói với nhau. Có nơi thiếu phương tiện, có nơi đầy đủ nhưng lòng người vẫn cô độc. Xin cho chúng con đừng mải chăm bề ngoài mà bỏ quên người đang sống bên trong. Xin cho người trẻ được hướng dẫn bằng sự thật và lòng nhân hậu; người có trách nhiệm biết nghe trước khi kết luận; người mệt được nghỉ mà không phải xấu hổ; người yếu được giúp mà không bị coi thường; người già được yêu cả khi không còn làm được nhiều việc. Xin cho những giờ kinh của chúng con có sự hiện diện thật, những giờ học có trách nhiệm thật và những công việc phục vụ còn giữ được sự quan tâm đến con người cụ thể. Khi chúng con dùng việc tốt để nuôi sự tự mãn, xin giúp chúng con nhận ra. Khi chúng con sợ nói thật đến mức tìm chỗ ẩn trong vẻ đạo đức, xin cho chúng con gặp được người đồng hành khôn ngoan và có can đảm mở lòng. Khi chúng con đã làm đau ai, xin giúp chúng con nhận lỗi và sửa bằng hành động, thay vì chỉ xin được bỏ qua cho nhanh.

Lạy Chúa, chúng con dễ xúc động trước một lời dâng hiến được khắc trên đá, nhưng có lúc lại lơ là lời dâng hiến đang cần được sống trong chính mình. Xin dạy chúng con dâng lại những điều đã nguội, những công việc đã trở thành thói quen, những tương quan bị bỏ mặc, những giờ cầu nguyện bị đẩy xuống cuối ngày rồi biến mất. Xin nhận cả sự mệt mỏi và những câu hỏi chúng con chưa giải quyết được. Xin cho chúng con không bỏ cuộc chỉ vì thấy mình còn yếu, cũng không tự bênh mãi để khỏi phải lớn lên. Khi cần học, xin cho chúng con chịu học. Khi cần xin giúp, xin cho chúng con bớt ngại. Khi phải buông một vị trí, xin cho chúng con nhớ mình vẫn được yêu. Khi gặp người lầm lỗi, xin giúp chúng con nói sự thật theo cách còn mở ra một con đường. Và khi một ngày chúng con cũng trở thành người được nhắc lại, xin cho ký ức nơi người khác có một chút ấm áp: rằng chúng con đã cố sống ngay thẳng, đã biết nhận lỗi, đã không khinh người yếu và đã dùng phần thời gian mình có để làm một điều có ích.

Rồi người đến sau vẫn có thể đứng trước ngôi nhà ấy, nhìn những lớp thời gian trên đá và biết rằng ở đây đã có một niềm hy vọng được đặt xuống bằng công sức của con người. Họ có thể không biết hết tên người dựng xây, không tìm lại được mọi câu chuyện, không nghe được những giọng nói đã đi xa. Nhưng mong sao họ được biết nguồn gốc của nơi này và gặp một cách gìn giữ xứng đáng. Còn chúng ta, khi rời những bức tường ấy, xin đừng chỉ mang về một tấm hình đẹp hoặc một nỗi buồn khó gọi tên. Hãy mang theo một việc mình cần làm: trở về hỏi thăm người anh em, mở lại trang sách đang bỏ dở, dành lại giờ cho Chúa, nói lời xin lỗi, chăm sóc người già, sống công bằng trong công việc, ghi lại một ký ức có thật trước khi quá muộn. Đá rồi sẽ có thêm dấu thời gian. Người rồi sẽ phải đi hết phần đường của mình. Điều đang nằm trong tay chúng ta là ngày hôm nay, với khả năng yêu thương vẫn còn được trao. Trước lời dâng hiến của người đi trước, lời đáp xứng đáng nhất có lẽ là sống phần đời này cho chân thành.

“Lạy Chúa Giêsu Cứu Thế, ngôi nhà ấy đã được dựng lên để dâng cho Chúa. Còn con, hôm nay con vẫn đang được sống. Xin giúp con đừng giữ lại cho mình phần lòng mến mà lẽ ra con phải trao. Xin dạy con sống sao cho người gặp con còn có thể tin rằng nơi Chúa, ơn cứu chuộc thật sự chứa chan.”

Lm. Anmai, CSsR

Bài viết liên quan

Back to top button
error: Content is protected !!