
TRUYỀN GIÁO: LÝ DO DUY NHẤT ĐỂ Ở GIỮA ĐỜI
Không phải để tồn tại như một định chế
Hội Thánh không ở giữa đời để giữ đất, giữ nhà thờ, giữ tỷ lệ thống kê. Hội Thánh ở giữa đời vì Đức Kitô đã đến với thế gian và sai các môn đệ đi đến với muôn dân. Nhà thờ cần được chăm sóc, tài sản chung cần được quản lý ngay thẳng, sổ sách cần được ghi chép cẩn thận; những việc ấy phục vụ một cộng đoàn sống động. Nhưng khi người ta chỉ còn hỏi mái nhà đã sửa xong chưa, đất đã đứng tên chưa, quỹ đã tăng bao nhiêu, mà không còn hỏi người bệnh lâu ngày có ai thăm, người trẻ bỏ lễ vì điều gì, gia đình mới chuyển đến có ai biết tên, thì phương tiện đã âm thầm chiếm chỗ mục đích. Điều đáng sợ là sự đảo lộn ấy thường diễn ra dưới những lý do rất chính đáng. Mái nhà dột thật. Hóa đơn đến hạn thật. Tranh chấp đất đai có thể đẩy một giáo xứ vào cảnh khó khăn thật. Không ai có quyền khuyên người mục tử bỏ mặc những trách nhiệm ấy. Nhưng chính trong lúc bận giữ gìn những gì cần giữ, Cha phải tự hỏi mình còn đang giữ chúng cho ai. Một nhà thờ được bảo quản tốt để đón người đến cầu nguyện khác với một nhà thờ được bảo quản tốt nhưng cửa lòng của cộng đoàn ngày càng hẹp. Một cơ sở vững chắc có thể nâng đỡ sứ vụ; nó cũng có thể trở thành vật mà mọi người phải phục vụ, trong khi những con người bằng xương bằng thịt đứng chờ ngoài cổng.
Ngày nào còn một người trong xóm chưa từng được ai trong giáo xứ nhìn bằng ánh mắt thân tình, ngày ấy giáo xứ chưa thể tự xem mình đã hoàn tất công việc chỉ vì các hội đoàn hoạt động đều. Ngày nào còn một gia đình vì nghèo, vì mặc cảm, vì một cuộc hôn nhân đổ vỡ, vì một vết thương với người có đạo mà ngại bước vào sân nhà thờ, ngày ấy lịch sinh hoạt dày đặc vẫn chưa trả lời hết câu hỏi truyền giáo. Cha có thể có một giáo xứ rất đông người, rất nhiều thánh lễ, rất nhiều cuộc họp, và vẫn đang sống khép kín. Đông người không tự nó có nghĩa là rộng cửa. Có khi chính vì quá quen với đám đông, ta không nhận ra một người vắng mặt. Có khi vì nhà thờ sáng đèn mỗi tối, ta tưởng ánh sáng ấy đã đi tới căn phòng nơi một bà cụ nằm liệt, tới căn nhà người cha mất việc đang sợ tiếng gõ cửa đòi nợ, tới chiếc bàn học nơi một người trẻ tự hỏi đức tin có còn liên quan đến đời mình không.
Truyền giáo bắt đầu khi Hội Thánh nhớ lại mình đã được sinh ra từ một cuộc ra đi. Chúa Cha sai Con của Người đến với nhân loại; Đức Kitô sai các môn đệ đi; Chúa Thánh Thần đưa họ qua những cánh cửa từng đóng kín vì sợ hãi. Không có cuộc sai đi ấy, đời sống Hội Thánh sẽ co lại thành việc chăm sóc người đã có mặt. Người ta có thể làm công việc ấy rất chu đáo, rất lịch sự, rất thành công về mặt tổ chức, mà vẫn đánh mất nhịp đập của Tin Mừng. Đức Giêsu không chỉ tìm cách giữ nhóm môn đệ khỏi tan. Người đến tìm và cứu điều đã mất. Người gọi những người chưa ngồi cùng bàn. Người dừng lại trước kẻ mà đám đông muốn đi qua thật nhanh. Người bước vào nhà những người bị xem là không xứng đáng. Người đi tới các làng khác, dù nơi vừa ở có người muốn giữ Người lại. Nếu giáo xứ là thân thể của Người tại một nơi chốn cụ thể, giáo xứ không thể chỉ quay vào trong và gọi đó là trung thành.
Bởi vậy, điều đầu tiên Cha cần phân định không phải giáo xứ có bao nhiêu chương trình truyền giáo, nhưng đời sống thường ngày của giáo xứ đang nói gì với người đứng ngoài. Một người chưa có đạo đi ngang cổng nhà thờ sẽ gặp gì? Một lời chào hay một ánh nhìn dò xét? Một gia đình đến xin giúp đỡ sẽ được lắng nghe hay lập tức bị hỏi thuộc giáo họ nào? Một người từng bỏ lễ nhiều năm trở về có được mời ngồi xuống, hay bị nhắc ngay tất cả những điều họ đã thiếu sót? Một phụ huynh không quen ngôn ngữ nhà đạo đến hỏi chuyện cho con có được giải thích bằng những lời dễ hiểu, hay phải tự đoán qua các quy định? Những điều ấy ít khi xuất hiện trong báo cáo tổng kết, nhưng chúng quyết định một người có dám bước thêm một bước về phía Đức Kitô hay không. Cổng truyền giáo đôi khi chính là cách người giữ cổng mở lời.
Nói như thế không có nghĩa truyền giáo chỉ là dễ thương. Sự tử tế có giá trị của nó, nhưng Đức Kitô sai Hội Thánh đi để làm chứng về Người. Người cần cơm phải được cho ăn vì họ đang đói, không phải để biến bữa cơm thành một điều kiện nghe giảng. Người đau phải được chăm sóc vì họ đáng được yêu, dù họ có bao giờ bước vào nhà thờ hay không. Chính tình yêu vô điều kiện ấy làm cho lời nói về Thiên Chúa có trọng lượng. Nếu giúp người nghèo rồi chờ họ đổi đạo để chứng minh việc giúp đỡ có hiệu quả, ta đã đặt một gánh nặng lên lòng biết ơn của họ. Nếu giúp đỡ mà sợ không dám nói vì sao lòng mình được thúc đẩy yêu thương, ta lại giấu đi nguồn suối khi có người chân thành hỏi tới. Truyền giáo đòi cả hai sự ngay thẳng: phục vụ con người vì chính họ và sẵn lòng nói về Đức Kitô bằng một lời tự do, không ép buộc, khi cuộc gặp gỡ mở ra cơ hội.
Ở Việt Nam, nhiều người không gặp Tin Mừng lần đầu qua một bài giảng. Họ gặp Tin Mừng qua một người hàng xóm công giáo có giữ lời hứa không, qua một chủ tiệm có cân đúng không, qua một gia đình có cư xử với người giúp việc như người nhà không, qua cách cộng đoàn phản ứng khi xảy ra tranh chấp. Người ta nhìn vào cách giáo xứ xây dựng, cách giáo xứ sử dụng tiếng loa, cách một đám cưới chiếm lối đi, cách một cuộc rước đi qua khu phố, cách những người có thế lực trong xứ nói chuyện với người ít tiền. Có những lời chứng không cần ai tuyên bố mà vẫn được nhớ rất lâu. Một giáo dân từ chối đưa tiền để được ưu tiên bất công, rồi chấp nhận chịu thiệt; một người trẻ nhặt rác sau lễ hội dù đó không phải rác của mình; một nhóm trong xứ đến giúp gia đình khác đạo dọn nhà sau trận ngập mà không mang theo máy ảnh: những việc ấy nói rằng đức tin đã chạm tới lương tâm. Chúng không thay thế việc loan báo Tin Mừng, nhưng cho người ta một lý do để tin rằng lời loan báo ấy phát xuất từ một đời sống thật.
Chính ở đây, Cha phải nhìn lại cách mình đào tạo đoàn chiên. Nếu giáo dân nghĩ truyền giáo chỉ là việc của linh mục, tu sĩ và một ban chuyên trách, Cha có thể làm rất nhiều việc mà giáo xứ vẫn đứng yên. Một người mẹ đi làm mỗi ngày gặp những người Cha không bao giờ gặp. Một bạn trẻ trò chuyện trong những không gian Cha khó bước vào. Một công nhân sống cùng ca với đồng nghiệp, nghe những câu chuyện không ai kể tại phòng khách nhà xứ. Họ là những người được sai đi ngay trong đời sống của mình. Nhưng được sai đi không có nghĩa họ phải biến mọi cuộc trò chuyện thành một bài giáo lý. Cha cần giúp họ biết sống trung thực, biết nghe người khác, biết nhận lỗi, biết trả lời đơn sơ khi được hỏi về niềm hy vọng, biết phân biệt lúc nào nên nói và lúc nào người trước mặt chỉ cần được ở bên. Một giáo xứ truyền giáo là giáo xứ giúp giáo dân nhận ra bàn làm việc, căn bếp, lớp học, bệnh viện và con hẻm của họ đều là nơi họ có thể làm chứng cho Chúa.
Việc ấy bắt đầu từ tòa giảng, nhưng không dừng ở tòa giảng. Nếu Cha liên tục nói với giáo dân rằng họ phải đưa người khác vào nhà thờ, nhưng lại không dạy họ đón một người đang mang nhiều câu hỏi, họ sẽ hoặc im lặng vì sợ, hoặc nói quá nhiều vì lo. Họ cần được học cách kể đức tin bằng ngôn ngữ của mình: “Tôi cầu nguyện khi mẹ tôi bệnh, và điều ấy giúp tôi ở lại với bà”; “Tôi đi lễ vì tôi cần để Chúa sửa lòng mình”; “Tôi chưa trả lời được hết câu hỏi ấy, nhưng tôi muốn cùng bạn tìm hiểu.” Một lời thật, nhỏ và khiêm tốn, thường mở đường hơn một lời giải thích dài mà người nói không sống nổi. Cha cũng cần tập cho cộng đoàn đón nhận câu hỏi khó mà không hoảng. Người ta có thể hỏi về đau khổ, về gương xấu của người có đạo, về tiền bạc trong giáo xứ, về sự khác biệt giữa các tôn giáo. Mỗi câu hỏi là một con người đang đứng đó. Nếu cộng đoàn chỉ lo thắng cuộc tranh luận, con người ấy sẽ đi về với cảm giác mình đã bị xem như đối thủ.
Có một hình thức tự bảo vệ rất kín đáo: ta chỉ thích truyền giáo với những người mà sự hiện diện của họ không làm xáo trộn nếp sống của ta. Ta vui khi một gia đình khá giả xin học đạo, nhưng bối rối khi người lang thang muốn ngồi lâu trong sân nhà thờ. Ta dễ mời người có học đến đối thoại, nhưng thiếu kiên nhẫn với một người hỏi đi hỏi lại những điều căn bản. Ta sẵn lòng nói về tình thương với một nhóm khách có thể cảm ơn công khai, nhưng ngại nhận cuộc điện thoại của một người phụ nữ đang tuyệt vọng vì bị bạo hành. Những phản ứng ấy cho thấy truyền giáo không chỉ là đi xa về địa lý. Có khi cuộc ra đi khó nhất là rời khỏi ý nghĩ rằng người khác phải đến với Hội Thánh theo đúng dáng vẻ khiến ta thấy thoải mái. Đức Kitô thường đến dưới dáng vẻ làm gián đoạn lịch trình của ta. Người mục tử phải biết bảo vệ thời gian cầu nguyện và nghỉ ngơi để còn phục vụ bền lâu; nhưng ngài cũng cần nhận ra khi nào một sự gián đoạn mang theo tiếng gọi của Chúa.
Một giáo xứ có thể dành nhiều tiền cho mặt tiền và rất ít thời gian cho việc tìm hiểu vì sao người trẻ vắng mặt. Có thể vấn đề không nằm ở chỗ họ ghét đức tin. Có người phải làm ca cuối tuần. Có người đã nghe quá nhiều lời kết án trước khi được nghe Tin Mừng. Có người không biết hỏi ai về những nghi ngờ của mình. Có người chứng kiến cha mẹ giữ đạo sốt sắng ngoài nhà thờ mà đối xử tàn nhẫn với nhau trong nhà, rồi không còn biết tin vào điều gì. Cha không thể giải quyết mọi vết thương bằng một chương trình mới. Nhưng Cha có thể bắt đầu bằng cách đi gặp, nghe cho hết, nhận phần trách nhiệm của cộng đoàn khi có trách nhiệm, và mời họ bước những bước vừa sức. Truyền giáo đối với người đã rời xa nhiều khi bắt đầu bằng câu: “Cha muốn hiểu điều gì đã xảy ra với con.” Câu ấy cần được nói với lòng sẵn sàng nghe một câu trả lời làm mình đau.
Ngay cả cách giáo xứ giữ cơ sở vật chất cũng có thể trở thành lời chứng. Quản lý minh bạch là tôn trọng đồng tiền giáo dân đã góp, nhất là đồng tiền được chắt ra từ lao động khó nhọc. Sửa một mái nhà trước mùa mưa có thể là phục vụ người già và trẻ nhỏ đến cầu nguyện. Sắp một lối đi cho người dùng xe lăn có thể nói về phẩm giá con người rõ hơn nhiều khẩu hiệu. Dành một không gian yên tĩnh để người bất kỳ có thể ngồi lại cũng là mở cửa. Điều cần cảnh giác là khi công trình được đo chủ yếu bằng tiếng khen, còn việc chăm sóc con người bị xem là chuyện sẽ làm sau. Cái “sau” ấy có thể kéo dài nhiều năm. Mỗi lần cộng đoàn quyết định chi một khoản tiền lớn, một câu hỏi mục vụ nên được đặt bên cạnh các câu hỏi kỹ thuật: quyết định này giúp ai đến gần Chúa và gần nhau hơn? Câu hỏi ấy không tự tính được ngân sách, nhưng nó giữ cho ngân sách biết mình phục vụ điều gì.
Truyền giáo cũng đòi Cha chấp nhận rằng mình sẽ không nhìn thấy hết kết quả. Người gieo hạt không ra lệnh cho hạt nảy mầm đúng ngày báo cáo. Cha có thể gặp một người ba lần rồi họ vẫn chưa muốn bước vào nhà thờ. Một gia đình được giáo xứ nâng đỡ qua cơn bệnh có thể tiếp tục sống trong tôn giáo của họ và quý mến người công giáo như bạn. Một người trẻ từng chất vấn Cha gay gắt có thể nhiều năm sau mới nhớ lại một câu Cha đã nói. Nếu Cha chỉ chịu được những việc có thể thống kê thành thành tích, Cha sẽ bắt đầu lựa chọn con người theo khả năng mang lại kết quả nhanh. Khi ấy những người cần được đồng hành lâu dài nhất lại bị bỏ rơi. Đức Kitô gọi các môn đệ trung thành gieo, tưới, chăm sóc; phần lớn sự tăng trưởng thuộc về Thiên Chúa. Sự thật ấy giúp Cha vừa làm hết sức mình vừa thoát khỏi ham muốn sở hữu hành trình của người khác.
Đối thoại không phải hòa tan
Sống giữa một xã hội có nhiều tôn giáo, nhiều cách nghĩ và nhiều hoàn cảnh đòi người môn đệ biết kính trọng. Kính trọng bắt đầu từ việc nhận ra người trước mặt không phải một nhãn gọi. “Người ngoài đạo” có thể là bà hàng xóm đã bế con giúp một gia đình công giáo đi cấp cứu; là thầy giáo tận tụy đã dạy bao thế hệ trẻ trong xứ; là người bạn sẵn lòng đứng bên Cha khi khu phố gặp khó khăn. Họ có tên, có lịch sử, có niềm tin, có lý do để tin hoặc chưa thể tin như ta. Nếu Cha chỉ gặp họ trong đầu mình như một nhóm cần thuyết phục, Cha chưa thật sự gặp họ. Đối thoại bắt đầu khi Cha đủ bình an để hỏi, đủ kiên nhẫn để nghe câu trả lời, và đủ chân thành để người kia cũng có thể hỏi ngược lại mình.
Kính trọng không đòi Cha giấu Đức Kitô. Một tình bạn chỉ có thể sâu khi người ta được hiện diện bằng căn tính thật của mình. Cha là linh mục; việc Cha cầu nguyện, cử hành thánh lễ, yêu mến Chúa Giêsu thuộc về con người Cha. Có lúc một người bạn khác niềm tin muốn biết vì sao Cha sống như thế. Cha có thể kể. Có lúc họ mời Cha đến một biến cố quan trọng trong đời họ. Cha có thể hiện diện với sự tế nhị của người khách, không biến niềm vui hay nỗi buồn của họ thành dịp để nói điều mình chuẩn bị sẵn. Có lúc cả hai cùng làm việc để giúp người nghèo, chăm người bệnh, bảo vệ một đứa trẻ. Cha có thể cộng tác hết lòng, không đòi mọi người phải đồng ý về Thiên Chúa trước khi cùng làm một việc tốt. Có lúc trong cuộc trò chuyện xuất hiện một khác biệt không thể xóa. Cha có thể nói rõ điều mình tin bằng một giọng bình tĩnh. Đối thoại trưởng thành không yêu cầu các bên giả vờ rằng khác biệt không tồn tại; nó yêu cầu họ đối xử với nhau tử tế trong lúc tìm hiểu khác biệt ấy.
Người tu giữa đời phải học cả nghệ thuật nói và nghệ thuật im. Im khi một gia đình vừa mất người thân và lời giải thích về đau khổ sẽ làm họ thấy mình chưa được phép khóc. Im khi người đang giận Hội Thánh lần đầu dám kể điều đã xảy ra. Im khi một câu hỏi được nêu ra giữa đám đông chỉ để kích động và mọi câu trả lời tức thì đều sẽ biến con người thành trò tranh thắng. Nhưng cũng phải biết nói khi im lặng sẽ khiến người khác hiểu rằng Cha xấu hổ về Chúa. Nói khi một người chân thành hỏi: “Điều gì giúp Cha không bỏ cuộc?” Nói khi một lối cư xử bất công đang được biện hộ bằng danh nghĩa đạo đức. Nói khi một người từng nghĩ mình đã bị Chúa từ bỏ cần nghe rằng lòng thương xót vẫn mở lối về. Không có công thức máy móc quyết định mọi lần nên nói hay nên im. Cha chỉ phân định được khi biết yêu người trước mặt hơn yêu cảm giác mình nói đúng.
Sự hòa tan đôi khi bắt đầu từ một mong muốn dễ hiểu: được mọi người quý mến. Cha ngại nhắc đến lời mời gọi hoán cải vì sợ cuộc trò chuyện mất vui. Cha tránh nói đến tha thứ vì người nghe có thể hiểu là Cha xem nhẹ vết thương của họ. Cha chỉ giữ lại những câu Tin Mừng dễ được đồng tình và để dành mãi những câu đụng đến lòng tham, thói kiêu căng, sự bất công hay lối sống hai mặt. Dần dần, Đức Giêsu trở thành một biểu tượng cho sự tử tế chung chung, còn việc Người gọi con người bước theo, vác thập giá, đổi đời thì mờ đi. Nhưng cũng có một kiểu nói tưởng là trung thành mà thật ra thiếu đức ái: vừa gặp người khác đã nói như thể mình biết hết cuộc đời họ; mượn Lời Chúa để kết luận thay cho việc lắng nghe; lấy sự thẳng thắn làm cớ cho lời nói làm nhục. Đức Kitô không cần Cha làm cho Người dễ chấp nhận bằng cách che giấu Tin Mừng, cũng không cần Cha bảo vệ sự thật bằng sự thô bạo.
Đối thoại còn đòi Cha nhận ra những điều tốt đẹp ở người khác và biết đón nhận sự giúp đỡ của họ. Có những người không cùng niềm tin nhưng sống sự trung thực, lòng hiếu thảo, sự kiên nhẫn và tinh thần phục vụ khiến Cha phải tự xét mình. Nhìn nhận điều ấy không làm đức tin của Cha nghèo đi. Nó chữa Cha khỏi thói quen nghĩ mình chỉ có bổn phận cho và không có gì cần học. Một linh mục biết cảm ơn người hàng xóm góp ý về tiếng ồn của giáo xứ, biết xin lỗi khi một sinh hoạt làm phiền người khác, biết cùng khu phố giữ sạch con đường chung, đang cho thấy đức tin tạo ra trách nhiệm. Nếu chỉ sẵn sàng đối thoại khi người khác khen giáo xứ, Cha đang tìm một tấm gương để soi mình. Đối thoại thực sự có lúc buộc Cha nghe điều cộng đoàn cần sửa.
Trong gia đình có người theo những truyền thống tôn giáo khác nhau, sự tế nhị lại càng cần thiết. Một người học giáo lý có thể yêu mến Đức Kitô thật lòng và vẫn lo rằng cha mẹ mình sẽ đau khi biết quyết định của họ. Một đôi vợ chồng khác niềm tin có thể cần nhiều năm để học cách tôn trọng những thực hành thiêng liêng của nhau. Nếu cộng đoàn thúc ép họ chọn giữa đức tin và tình yêu gia đình bằng những lời thiếu phân định, họ sẽ phải gánh thêm một cuộc xung đột mà ta không sống thay được. Cha có trách nhiệm trình bày điều Hội Thánh tin và những gì việc gia nhập Hội Thánh đòi hỏi. Cha cũng có trách nhiệm bảo vệ tự do lương tâm, cho người ta thời gian, giúp họ nói thật với người thân trong khả năng có thể, và đi cùng họ qua hậu quả của một quyết định nghiêm túc. Một người được đón nhận bằng sự kiên nhẫn sẽ hiểu rõ hơn rằng đức tin là lời đáp tự do trước tình yêu Thiên Chúa.
Trên môi trường mạng, truyền giáo và đối thoại bị thử theo một cách khác. Cha có thể đăng một câu rất đúng nhưng đặt nó trong giọng điệu khinh miệt; người đọc sẽ nhớ sự khinh miệt trước khi kịp nghĩ đến điều đúng. Một giáo dân có thể nhân danh bảo vệ Hội Thánh để chế giễu người đặt câu hỏi. Một đoạn video cắt ngắn có thể làm cả cộng đoàn phản ứng trước khi biết câu chuyện đầy đủ. Vì thế, sống chứng nhân trên mạng cũng cần đức kiên nhẫn, sự kiểm chứng và khả năng chịu đựng việc không phải cuộc tranh luận nào cũng cần mình tham gia. Có người sau màn hình đang tìm hiểu đức tin trong cô đơn; có người đang mang vết thương với một linh mục; có người chỉ muốn gây sự. Cha không biết hết. Chính vì không biết hết, Cha càng phải giữ cho lời mình vừa rõ ràng vừa có chỗ cho con người. Một bình luận tử tế không thay thế cuộc gặp trực tiếp, nhưng nó có thể mở hoặc đóng cánh cửa dẫn tới cuộc gặp ấy.
Cuối cùng, truyền giáo không cho Cha quyền đo mức độ trung thành của mình bằng số người đồng ý với Cha, cũng không cho Cha quyền tự mãn vì mình đã lên tiếng. Sau một cuộc đối thoại, câu hỏi đáng giữ lại là: người kia có được đối xử như một người tự do và được yêu thương không? Tôi đã nói thật điều mình tin chưa? Tôi có nghe điều họ thực sự nói không? Tôi có sẵn lòng gặp lại họ ngay cả khi cuộc trò chuyện hôm nay chưa đi đến đâu không? Những câu hỏi ấy giữ chứng nhân ở lại trong sự khiêm nhường. Cha có thể gieo một lời rồi phải để nó nằm yên. Cha có thể im lặng hôm nay để mai này có một cuộc nói chuyện chân thành hơn. Cha có thể nói rõ về Đức Kitô và chấp nhận rằng người nghe chưa sẵn sàng đáp lại. Tình yêu không buộc người khác phải đi theo nhịp của mình.
Từ một giáo xứ phục vụ mình đến một giáo xứ được sai đi
Một giáo xứ được sai đi không nhất thiết phải bắt đầu bằng việc lập thêm một ban mới. Trước hết, giáo xứ cần học nhìn lại bản đồ con người chung quanh mình. Trong khu vực này, ai dễ bị bỏ quên? Người cao tuổi sống một mình ở đâu? Những gia đình nhập cư có biết mình có thể tìm đến cộng đoàn khi cần không? Người khuyết tật gặp trở ngại nào khi bước vào nhà thờ? Những người phải làm việc vào giờ lễ quen thuộc có còn đường để tham dự đời sống đức tin không? Con của các gia đình nghèo có bỏ lớp giáo lý vì thiếu phương tiện đi lại không? Có ai từng xin gặp Cha nhiều lần mà chỉ nhận được lời hẹn qua loa? Những câu hỏi ấy không nhằm tạo ra một cuộc điều tra vô tận. Chúng giúp giáo xứ nhìn thấy những người đã ở rất gần mà lâu nay bị khuất sau lịch sinh hoạt của mình.
Muốn nhìn thấy, Cha cần những người biết nghe. Hội đồng mục vụ, các hội đoàn, giáo lý viên, người thăm bệnh, những người trẻ làm việc ngoài giáo xứ đều có thể mang về những điều Cha không tự thấy. Nhưng nếu mỗi cuộc họp chỉ dành để phân công lễ nghi và giải quyết công việc, tiếng nói từ ngoài sẽ không có chỗ bước vào. Thỉnh thoảng, Cha có thể hỏi một câu giản dị: “Trong tháng này, ai đang cần chúng ta mà chúng ta chưa đến?” Câu hỏi ấy có thể làm cuộc họp chậm lại. Sự chậm lại đó cần thiết. Một cộng đoàn chỉ biết chạy từ việc này sang việc khác sẽ dần đánh giá con người theo việc họ giúp được. Người già không còn phục vụ được sẽ trở nên ít được nhớ; người trẻ chưa chịu tham gia sẽ bị gọi là thờ ơ; người nghèo chỉ xuất hiện khi cần trợ giúp sẽ bị xem như gánh nặng. Truyền giáo thay đổi cái nhìn ấy, vì mỗi người là người Đức Kitô muốn gặp trước khi là người giáo xứ có thể huy động.
Từ cái nhìn mới sẽ nảy ra những quyết định cụ thể. Một nhóm nhỏ có thể đều đặn đến với người bệnh, không chỉ mang Mình Thánh Chúa mà còn mang thời gian lắng nghe. Giáo xứ có thể tập cho người đón tiếp biết chỉ đường, biết nhận ra người lần đầu đến, biết giữ sự kín đáo khi ai đó muốn xin gặp linh mục. Một gia đình có thể mời người hàng xóm cô đơn ăn cùng trong dịp lễ. Giáo lý viên có thể tìm cách liên lạc với một em nhỏ vắng mặt nhiều tuần trước khi gạch tên em khỏi danh sách. Cha có thể dành một khoảng giờ rõ ràng, được giữ nghiêm túc, để ai cần cũng có thể tới nói chuyện mà không phải chứng minh mình đủ quan trọng. Mỗi việc riêng lẻ trông nhỏ. Được làm bền bỉ, chúng thay đổi cảm giác của một nơi: người ta biết ở đây mình có thể được gọi bằng tên.
Tuy nhiên, một giáo xứ truyền giáo cũng cần biết giới hạn của mình để không biến lòng nhiệt thành thành lời hứa rỗng. Nếu có người cần chăm sóc y tế, hỗ trợ pháp lý hay trợ giúp tâm lý chuyên môn, Cha không nên nghĩ lòng tốt của cộng đoàn đủ thay tất cả. Cha có thể giúp họ tìm người có năng lực, đi cùng họ khi cần, và tiếp tục là một sự hiện diện đáng tin. Khi một gia đình đang sống trong bạo lực, vài lời khuyên chung về nhẫn nhịn có thể khiến người bị hại thêm cô độc. Khi một người đang kiệt sức, mời họ tham gia thêm hoạt động có thể làm gánh nặng tăng lên. Truyền giáo bắt đầu bằng việc nhìn người thật trước mặt, rồi làm điều thực sự giúp họ sống. Nó cần sự đào tạo, sự phối hợp và sự khiêm tốn nhận rằng không ai một mình làm được mọi việc.
Cha cũng phải chăm sóc những người đang phục vụ. Có những giáo dân nhận việc vì yêu Chúa, rồi bị dùng như người luôn sẵn có. Họ thiếu giờ cho gia đình, mất niềm vui, nhưng ngại nói vì sợ bị xem là thiếu nhiệt thành. Một cộng đoàn đối xử với người phục vụ như nguồn lực vô tận sẽ khó nói với thế giới về tình yêu nhưng không. Hãy để họ được nghỉ, được nói rằng mình quá tải, được huấn luyện, được làm việc phù hợp khả năng, được sửa sai mà không bị bẽ mặt. Khi một người phục vụ xin rút lui, trước khi tìm người thay, Cha nên hỏi xem họ có đang mang một vết thương không. Cách giáo xứ đối xử với chính những người gần mình nhất là một phần của lời chứng trước thế giới.
Một ngày lễ bổn mạng cũng có thể bộc lộ hướng đi của giáo xứ. Nếu tất cả năng lượng đổ vào nghi thức long trọng, danh sách khách mời và những bức ảnh, còn người trong khu phố chỉ phải chịu thêm tiếng ồn và đường khó đi, ngày lễ ấy đang nói một điều khác với điều bài giảng tuyên bố. Nhưng nếu công việc được chuẩn bị chu đáo, người chung quanh được tôn trọng, những người ít xuất hiện được mời dự phần, bàn ăn có chỗ cho người không thể đáp lễ, thì niềm vui phụng vụ có thể lan ra khỏi sân nhà thờ. Hội Thánh không cần xấu hổ vì vẻ đẹp của thánh lễ hay một ngày hội đông vui. Hội Thánh cần để vẻ đẹp ấy dẫn đến hiệp thông, chứ không dừng ở vẻ đẹp của chính mình.
Truyền giáo còn thay đổi cách Cha nghĩ về người “ở xa”. Có người xa nhà thờ nhưng vẫn âm thầm cầu nguyện. Có người đi lễ đều mà lòng đã xa Chúa từ lâu. Có người chỉ trở lại vào dịp tang lễ, nhưng mang theo một câu hỏi chưa dám nói. Có người muốn đưa con đến lớp giáo lý dù đời sống gia đình họ không giống khuôn mẫu cộng đoàn quen thuộc. Nếu Cha chỉ dùng mức độ hiện diện trong sinh hoạt để đo khoảng cách với Thiên Chúa, Cha sẽ không thấy hết con đường của họ. Cha vẫn phải mời gọi họ bước vào đời sống bí tích và cộng đoàn cách trọn vẹn hơn; đồng thời, Cha cần bắt đầu từ cuộc gặp đang có thật. Người mục tử không thể dẫn một người đi tiếp khi chưa biết họ đang đứng ở đâu.
Rồi sẽ có lúc giáo xứ phải chấp nhận mất đi một vài thói quen để có chỗ cho người mới. Một nhóm đã quen làm mọi việc có thể cần chia trách nhiệm. Một cách xếp chỗ có thể khiến người không quen ngại bước vào. Một giờ sinh hoạt thuận tiện cho ban tổ chức lại bất khả thi với công nhân làm ca. Một lối nói nội bộ làm người mới không hiểu mình đang được mời tham dự điều gì. Những thay đổi ấy có thể gây khó chịu, vì thói quen thường gắn với kỷ niệm và công sức thật. Cha đừng xem người yêu điều cũ là kẻ cản đường. Hãy nghe họ, trân trọng phần tốt họ gìn giữ, rồi cùng hỏi: “Chúng ta có thể mở thêm chỗ bằng cách nào?” Sứ vụ cần lòng can đảm đổi thay, nhưng lòng can đảm ấy phải đi cùng lòng biết ơn những người đã gánh vác cộng đoàn qua nhiều năm.
Một giáo xứ được sai đi cũng biết vui với điều tốt xảy ra ngoài ranh giới của mình. Một nhóm hàng xóm tổ chức giúp người nghèo, một trường học tạo nơi an toàn cho trẻ, một cơ sở y tế tận tình chăm người bệnh: giáo xứ có thể cộng tác, nâng đỡ, học hỏi. Không cần đặt tên mình lên mọi việc tốt. Nếu điều Cha mong là người nghèo được giúp, người trẻ được bảo vệ và tình người được vun trồng, Cha sẽ biết mừng khi người khác làm được điều ấy. Sự rộng lòng này làm cho việc loan báo Tin Mừng đáng tin hơn. Người ta nhận ra Cha yêu khu phố, yêu con người, chứ không chỉ yêu những thành quả có thể ghi vào báo cáo giáo xứ.
Khi người truyền giáo cần được hoán cải
Cha không thể mời giáo xứ đi ra nếu chính lòng Cha chỉ muốn ở nơi mình được công nhận. Truyền giáo đòi người mục tử để Chúa gửi mình đến những nơi không cho mình cảm giác thành công. Có những cuộc thăm viếng không ai nhắc lại. Có những người nghe Cha kiên nhẫn suốt một giờ rồi vẫn trách Cha chưa hiểu. Có những gia đình tiếp Cha rất lịch sự nhưng không muốn tiếp tục gặp. Có những đề nghị của Cha được đón nhận chậm, có khi bị từ chối. Nếu Cha cần được yêu mến ngay sau mỗi lần trao ban, Cha sẽ dần tránh những nơi khiến mình bất lực. Đường truyền giáo, trái lại, có nhiều quãng Cha chỉ biết trung thành hiện diện và cầu nguyện. Sự bất lực ấy có thể làm Cha đau, nhưng cũng có thể cứu Cha khỏi ý nghĩ mình là vị cứu tinh.
Một cám dỗ khác là yêu “người ở xa” như một ý tưởng đẹp, còn người đang sống gần mình thì không chịu nổi. Cha có thể nói say sưa về những vùng truyền giáo nhưng đối xử lạnh lùng với người giúp việc nhà xứ. Có thể quyên góp cho người nghèo ở xa và thiếu kiên nhẫn với một giáo dân túng thiếu liên tục gõ cửa. Có thể cổ võ đối thoại với xã hội mà không đối thoại được với một linh mục anh em khác ý. Sứ vụ bắt đầu từ những khuôn mặt Cha không tự chọn. Không ai có thể yêu hết mọi người với cùng một cảm xúc; Cha cũng không buộc phải giải quyết một mình mọi nhu cầu. Nhưng Cha được gọi để đừng biến người gần mình thành chướng ngại trên đường đi làm việc lớn cho Chúa. Nhiều khi chính họ là nơi Chúa đang chờ Cha.
Cha cần để người khác góp ý về cách mình thi hành sứ vụ. Có thể bài giảng của Cha chứa nhiều lời thúc giục nhưng ít Tin Mừng nâng đỡ. Có thể giờ tiếp giáo dân quá thất thường nên người ta thôi không xin gặp. Có thể Cha dễ trò chuyện với người có học và vô tình làm người ít chữ thấy mình không biết nói sao cho đúng. Có thể một người trẻ rời khỏi phòng Cha với cảm giác mọi câu hỏi của mình đã bị kết luận quá nhanh. Nghe những điều ấy không dễ, nhất là khi Cha đã làm việc mệt và biết mình có lòng tốt. Nhưng ý hướng tốt không xóa đi tất cả tác động của lời nói và cách hành xử. Một người mục tử còn chịu học là một người mục tử còn có thể được Chúa sai đi xa hơn trong chính giáo xứ của mình.
Sự hoán cải của người truyền giáo cũng liên quan đến tiền bạc và quyền lực. Cha cần tiền để lo công việc; Cha cần quyền quyết định để chịu trách nhiệm. Nhưng tiền bạc và quyền quyết định có sức làm hẹp tai người ta. Khi một người đóng góp lớn được nghe nhiều hơn người góp ít, giáo xứ đã dạy một bài học dù chẳng ai đứng giảng. Khi những người thân cận Cha được ưu tiên mà không có lý do chính đáng, người khác sẽ ngại nói thật. Khi một đề nghị mục vụ được giữ lại chủ yếu vì nó làm hình ảnh của Cha đẹp lên, sứ vụ đã bị dùng để nuôi cái tôi. Không ai miễn nhiễm với những chuyển động ấy. Vì thế Cha cần những người có thể nói thật với mình, những cách làm việc đủ minh bạch, một đời cầu nguyện trong đó Cha chịu để Đức Kitô hỏi: “Con đang tìm ai?”
Có khi Chúa hỏi bằng giọng của người mà Cha từng bỏ qua. Một giáo dân nói: “Con đã tìm Cha nhiều lần.” Một em nhỏ hỏi: “Sao Cha không nhớ tên con?” Một người nghèo nói: “Con chỉ cần Cha ngồi với con một chút.” Cha không thể đáp ứng mọi mong đợi. Cha có thể cần giải thích giới hạn, hẹn một thời điểm khác, nhờ người phù hợp giúp đỡ. Nhưng nếu phản ứng đầu tiên luôn là tự vệ, Cha sẽ khó nghe điều Chúa muốn cho mình biết. Truyền giáo không biến linh mục thành người phải có mặt ở mọi nơi. Nó giữ linh mục ở trong tư thế sẵn sàng để được Chúa chỉnh lại hướng đi, kể cả qua tiếng nói nhỏ của người không có vị trí nào trong cơ cấu.
Muốn sống như thế, Cha phải trở về với nguồn. Có những ngày Cha cần đặt trước Chúa gương mặt của người mình vừa gặp, thay vì chỉ đặt danh sách công việc chưa xong. Có những ngày Cha cần mở Tin Mừng và nhìn Đức Giêsu dừng bước: Người nhìn người thanh niên giàu có với lòng yêu mến; Người hỏi người mù muốn Người làm gì cho anh; Người để một phụ nữ kể ra điều bà đã chịu đựng; Người ăn cùng những người khiến người đạo đức khó chịu. Cha không thể sao chép từng hoàn cảnh, nhưng có thể để cách Người hiện diện sửa cách mình hiện diện. Không có sự trở về ấy, truyền giáo dễ trở thành một công việc nữa trên vai người đã quá nhiều việc. Được nuôi bằng lời cầu nguyện, sứ vụ trở lại là sự tham dự vào công việc của Đức Kitô. Cha được đi cùng Người, chứ không phải gánh thay Người cả thế giới.
Hạt giống, mùa gặt và niềm vui không sở hữu
Người làm mục vụ thường được hỏi: “Năm nay giáo xứ thêm được bao nhiêu người?” Câu hỏi có chỗ của nó. Cần biết ai đang đến, ai đang rời xa, việc đồng hành có hiệu quả ra sao. Nhưng con số không kể hết câu chuyện của ân sủng. Nó không ghi lại một người cha đã chịu xin lỗi con sau nhiều năm. Nó không ghi một người trẻ bắt đầu cầu nguyện trở lại trong căn phòng trọ. Nó không ghi bà hàng xóm khác đạo lần đầu cảm thấy có thể nói chuyện thật với một linh mục. Nó cũng không ghi những lần cộng đoàn phải nhận lỗi, sửa cách làm, bắt đầu lại sau khi từng làm ai đó tổn thương. Có những hạt giống nằm rất lâu dưới đất. Nếu mỗi ngày Cha đào lên xem chúng đã mọc chưa, Cha sẽ làm hỏng chính điều mình mong đợi.
Niềm vui của người truyền giáo vì thế có một nét rất tự do. Cha vui khi ai đó lãnh nhận bí tích và bước vào đời sống Hội Thánh. Cha cũng vui khi một người chưa tin vẫn được chăm sóc tử tế và giữ được lòng tin vào tình người. Cha vui khi giáo dân biết nói về đức tin bằng đời sống của họ, ngay cả lúc không ai nhắc đến công Cha. Cha vui khi một người trẻ trưởng thành đến mức dám nói với Cha điều mình nghĩ, kể cả khi người ấy chưa đồng ý. Cha vui khi một người cộng tác làm tốt hơn mình một công việc. Niềm vui ấy lớn lên khi Cha thôi đòi mọi hoa trái phải mang tên mình. Người gieo có thể không phải người gặt. Cả người gieo lẫn người gặt đều sống nhờ một sự sống họ không tự tạo ra.
Rồi sẽ đến những mùa giáo xứ khô. Một chương trình chuẩn bị kỹ mà ít người đến. Một nhóm đang tốt bỗng tan vì chuyển việc, chuyển nhà. Một người Cha đã kiên nhẫn đồng hành quyết định rời xa cộng đoàn. Những lúc ấy, Cha cần được phép buồn. Đức tin không bắt người mục tử giả vờ rằng mất mát không đau. Nhưng đừng vội kết luận Chúa đã vắng mặt chỉ vì công việc không diễn ra theo dự định. Hãy xem lại điều có thể sửa: cách mời gọi, cách lắng nghe, thời gian, con người, những rào cản Cha đã không thấy. Hãy nhận lỗi nếu có lỗi. Rồi hãy tiếp tục yêu. Sự trung thành qua một mùa khô có thể là lời chứng mạnh hơn thành công của một mùa đông người, vì nó cho thấy Cha phục vụ những con người ấy cả khi họ không làm Cha thấy mình hữu ích.
Giáo xứ truyền giáo không hình thành trong một năm và không tùy thuộc vào một linh mục duy nhất. Nếu mọi sáng kiến đều cần Cha có mặt để chạy, ngày Cha chuyển đi chúng có thể dừng. Cha hãy trao cho giáo dân quyền được trưởng thành: cho họ học, cho họ thử, cho họ chịu trách nhiệm phù hợp, cho họ được sai và được sửa trong sự tôn trọng. Hãy làm cho người già có thể trao kinh nghiệm mà không phải giữ chặt chỗ đứng. Hãy để người trẻ được góp tiếng nói thật chứ không chỉ làm phần việc cần sức. Hãy vun trồng mối liên hệ giữa những gia đình, để khi Cha vắng nhà xứ một ngày, sự quan tâm trong cộng đoàn vẫn tiếp tục. Một người mục tử đã làm tốt công việc của mình khi giáo xứ ngày càng biết cùng nhau nhận ra Chúa gọi họ đi đâu.
Sau hết, truyền giáo bắt nguồn từ một tin vui đã được trao cho chính Cha. Cha không bước ra đời với bàn tay đầy những câu trả lời khiến mình đứng cao hơn người khác. Cha bước ra như người đã được thương xót. Cha biết mình từng sợ, từng mệt, từng muốn đóng cửa, từng nói vụng, từng không đủ can đảm; và chính trong cuộc đời có giới hạn ấy, Đức Kitô vẫn gọi Cha. Sự thật ấy làm lời chứng của Cha mềm lại mà không yếu đi. Người đối diện không cần một linh mục hoàn hảo để có thể tìm đến Chúa. Họ cần gặp một người đủ thật để nhận lỗi, đủ vững để giữ lời hứa, đủ khiêm nhường để chỉ về Đấng lớn hơn mình.
Vậy lý do để ở giữa đời là gì? Là vì ở giữa đời có những người Đức Kitô yêu. Là vì Tin Mừng được trao cho Hội Thánh để được sống và được loan báo. Là vì những con đường, căn nhà, bàn làm việc, giường bệnh và cuộc gặp gỡ bình thường vẫn đang chờ một lời chứng có thân thể, có thời gian, có sự kiên nhẫn. Cha ở giữa đời không phải để đời khen Cha gần gũi. Cha ở đó để có thể cùng đoàn chiên đi đến với người khác; để khi một người hỏi vì sao vẫn còn hy vọng giữa bao đổ vỡ, họ được nghe một câu trả lời bắt đầu từ đời sống Cha và dẫn về Đức Giêsu. Cha không biết hạt nào sẽ nảy mầm, cũng không cần biết mọi mùa gặt sẽ mang tên ai. Cha chỉ cần mỗi ngày mở cửa, bước đi, nói thật, yêu thật, trở về cầu nguyện, rồi lại bước đi. Bởi Đấng sai Cha vào đời đã ở đó trước Cha, đang làm việc trong những con người Cha sắp gặp, và sẽ tiếp tục yêu họ sau khi Cha đã rời đi.
Lm. Anmai, CSsR



