Kỹ năng sống

CỘNG ĐOÀN : ANH EM CHỨ KHÔNG PHẢI ĐỒNG NGHIỆP – Lm. Anmai, CSsR

CỘNG ĐOÀN : ANH EM CHỨ KHÔNG PHẢI ĐỒNG NGHIỆP

Cô độc không phải định mệnh

Nhiều linh mục Việt Nam sống một mình trong nhà xứ. Buổi sáng, cha dâng lễ với giáo dân; ban ngày, cha gặp người xin giấy tờ, người bàn việc xây dựng, người mời đi thăm bệnh, người đến kể chuyện gia đình; buổi tối, cha trả lời điện thoại, giải quyết một bất hòa, chuẩn bị bài giảng, rồi khép cửa phòng. Nhìn từ ngoài, một ngày như thế có rất nhiều người. Nhưng gặp nhiều người không đồng nghĩa với được ai đó biết mình. Cha có thể biết nỗi buồn của cả giáo xứ mà không có một người anh em nào biết cha đang buồn. Cha có thể nghe hàng trăm lời thú nhận mà không có nơi để nói một câu đơn giản: “Dạo này tôi mệt.” Cô độc địa lý là thật, nhất là nơi giáo xứ xa, vùng truyền giáo, nơi chỉ có một linh mục và đường về tòa giám mục dài nhiều giờ. Nhưng cô độc địa lý chưa phải điều đáng sợ nhất. Điều đáng sợ là linh mục quen đến mức không còn muốn được biết, không còn tin rằng mình có thể nói thật với một người anh em mà vẫn được tôn trọng. Khi ấy, nhà xứ đông khách cũng có thể là một hòn đảo; lịch mục vụ kín mít cũng có thể là cách che một khoảng trống rất sâu.

Có người nói: “Đời linh mục thì phải chịu cô đơn.” Câu ấy có một phần sự thật. Người được gọi theo Đức Kitô phải học ở một mình với Chúa, phải chấp nhận những khoảng không ai hiểu hết, phải biết đứng vững cả khi không có tiếng vỗ tay. Nhưng nếu lấy sự thật ấy để biện minh cho một đời sống không có tình huynh đệ, ta đã biến một chiều kích của ơn gọi thành cớ để bỏ quên một chiều kích khác. Thinh lặng cầu nguyện không giống sự cô lập. Ở một mình trước mặt Chúa không giống bị bỏ mặc giữa những bổn phận. Có những cô tịch làm trái tim rộng ra; cũng có những cô độc làm trái tim co lại, khiến một người dần nghi ngờ mọi thiện ý, nghe mọi lời góp ý như một cuộc tấn công, nhìn thành công của anh em như một sự đe dọa. Người mục tử cần một nơi để trở về, không phải để được miễn trách nhiệm, nhưng để có sức tiếp tục yêu thương những người được trao cho mình.

Linh mục đoàn được gọi là gia đình. Hai chữ “gia đình” ấy không thể chỉ dùng trong bài phát biểu ngày lễ dầu rồi cất đi cho đến năm sau. Nếu anh em chỉ gặp nhau khi có đại lễ, khi họp hành, khi chia buồn một đám tang hoặc khi xảy ra một vụ việc khó, thì mối liên hệ ấy dễ trở thành quan hệ của những người cùng cơ quan. Người ta có thể rất lịch sự, rất đúng nghi thức, gọi nhau bằng những danh xưng thân tình, nhưng vẫn không biết người ngồi cạnh mình đã mất ngủ nhiều tháng vì một chuyện ở giáo xứ. Một gia đình không được tạo nên bởi số lần chụp hình chung. Nó được tạo nên bởi những lần có thể gõ cửa mà không sợ làm phiền, những bữa cơm không cần diễn vai, những cuộc trò chuyện không nhằm xin một việc hay vận động một quyết định. Gia đình linh mục không có nghĩa là mọi người phải hợp tính nhau. Anh em ruột cũng có người nói ít, người nói nhiều, người nhanh, người chậm, người thận trọng, người bộc trực. Họ là anh em vì cùng nhận một sự sống, và vì thế không được quyền thản nhiên nhìn nhau lẻ loi.

Có một kiểu cô độc do hoàn cảnh gây ra, cần được cộng đoàn giúp đỡ. Nhưng cũng có một kiểu cô độc do chính linh mục dần xây tường. Ban đầu, bức tường ấy có lý do: một lần nói thật rồi bị đem chuyện đi kể; một lần xin giúp đỡ rồi bị coi là yếu; một lần bất đồng rồi bị ghi nhớ nhiều năm. Ai đã từng bị thương sẽ hiểu vì sao một người đóng cửa. Tuy nhiên, vết thương đáng được chăm sóc, chứ không nên được phong làm nguyên tắc sống. Nếu một kinh nghiệm phản bội khiến cha kết luận rằng không thể tin bất cứ anh em nào, vết thương ấy đã bắt đầu quyết định cả tương lai của cha. Cũng có khi bức tường được xây bằng lòng tự ái: cha thấy mình giỏi hơn, sâu sắc hơn, bận hơn hoặc ngay thẳng hơn người khác, nên không còn kiên nhẫn ngồi cùng bàn. Dù xây bằng sợ hãi hay kiêu căng, bức tường đều lấy đi nơi cha một điều quý: khả năng nhận tình yêu như một người anh em bình thường.

Cộng đoàn linh mục bắt đầu từ những việc rất nhỏ. Một bữa cơm trong đó điện thoại được đặt xuống. Một cuộc đi bộ không bàn công trình, bổ nhiệm hay tin đồn. Một tin nhắn hỏi thăm khi biết anh em vừa xuất viện. Một lần ghé thăm cha già mà không đợi ngài gọi. Một chuyến xe đến giáo xứ xa để ngồi với người anh em trẻ mới nhận nhiệm sở. Một lời nhắn sau cuộc họp căng thẳng: “Tôi thấy hôm nay anh khó xử. Nếu cần, tôi có thể nghe.” Những điều ấy không có vẻ lớn lao. Chúng không làm giáo phận lập tức đổi khác. Nhưng một người được đỡ đúng lúc có thể tránh được nhiều tháng chìm trong cay đắng. Một linh mục trẻ được hỏi han đúng lúc có thể hiểu rằng mình không phải chứng minh sức chịu đựng bằng cách im lặng. Một linh mục già được mời vào bữa cơm có thể cảm thấy những năm phục vụ của mình không kết thúc bằng việc bị quên đi.

Muốn sống tình huynh đệ, các linh mục cũng phải tập gặp người khác nhóm mình. Ai cũng dễ thân với người cùng lớp, cùng tuổi, cùng vùng, cùng cách nghĩ. Điều ấy tự nhiên. Tình bạn thân không có lỗi. Nhưng khi toàn bộ đời sống linh mục bị chia thành các vòng chỉ gặp nhau để củng cố ý kiến sẵn có, tình bạn có thể biến thành phe. Lúc ấy, người ta không còn hỏi: “Điều gì tốt cho Hội Thánh và cho dân Chúa?” mà hỏi: “Người ấy thuộc bên nào?” Một lời nói đúng bị bác vì người nói không thuộc nhóm; một việc làm sai được bỏ qua vì người làm là người nhà. Cách vận hành ấy có thể xảy ra dưới những lời lẽ rất đạo đức. Người ta vẫn nói về hiệp thông, nhưng sự hiệp thông được đo bằng mức độ trung thành với một nhóm nhỏ. Tu giữa đời tập cho linh mục mở cửa với người khác tính, khác tuổi, khác quan điểm mục vụ, vì trước mọi khác biệt, họ cùng đứng dưới một lời mời gọi của Đức Kitô. Đời trong tu thích lựa người có ích cho mình. Tình huynh đệ linh mục mời cha đến với người không đem lại lợi ích nào, thậm chí người khiến cha phải kiên nhẫn hơn.

Sự hiệp thông ấy cần một hình hài cụ thể. Nếu lịch của giáo phận chỉ có các cuộc họp để thông báo và phân công, anh em sẽ biết việc của nhau mà vẫn xa nhau. Nếu ngày tĩnh tâm biến thành dịp tranh thủ giải quyết công chuyện, linh mục đoàn sẽ mất một cơ hội hiếm hoi để cùng đứng trước Chúa. Nếu buổi gặp gỡ nào cũng vội, cũng có máy quay, cũng phải phát biểu cho hay, người mệt nhất sẽ tiếp tục giấu mình. Cần những không gian đủ bình thường để anh em hiện diện như con người: được ăn, được nghỉ, được hỏi han, được nghe, được kể một chuyện vui mà không sợ bị đánh giá là thiếu nghiêm trang. Tình huynh đệ không lớn lên chỉ nhờ lời kêu gọi. Nó cần thời gian được dành riêng, một nhịp gặp gỡ có thể giữ được, và những người chịu khó làm bước đầu ngay cả khi bước ấy vụng về.

Một linh mục có thể bắt đầu rất đơn sơ: mỗi tháng gọi cho một người anh em mà lâu nay mình chỉ gặp trong lễ; khi nghe tin ai ốm, hỏi xem họ cần điều gì cụ thể; khi đi ngang một giáo xứ xa, báo trước rồi ghé vào uống chén trà; sau cuộc họp, nói riêng một lời biết ơn với người đã gánh việc khó. Những hành động ấy có thể bị đáp lại bằng sự lạnh nhạt. Không phải ai cũng lập tức mở lòng. Tình huynh đệ không thể bị ép. Nhưng sự dè dặt của người khác không miễn cho ta khỏi yêu thương. Cha không cần trở thành người thân của tất cả. Cha cần tránh sống như thể không ai trong số họ có liên hệ gì đến số phận mình.

Câu hỏi xưa “Tôi là người giữ em tôi sao?” vẫn vang lên giữa các nhà xứ. Nó vang lên khi một anh em nhiều tháng không xuất hiện mà không ai hỏi. Nó vang lên khi một người bắt đầu uống quá nhiều, cáu gắt quá nhiều, tiêu tiền bất thường, thu mình bất thường, mà mọi người chỉ thì thầm: “Chắc có chuyện.” Nó vang lên khi một cha già ngày càng lẫn, phải tự lo việc ăn uống, nhưng mỗi lần gặp lại chỉ được nghe: “Cha giữ sức khỏe nhé.” Nó vang lên khi một người trẻ kiệt sức mà được khen là nhiệt thành, vì những người được lợi từ sự kiệt sức ấy không muốn nhìn kỹ hơn. Câu trả lời của Tin Mừng không cho phép ta bình thản bước qua: có, tôi có trách nhiệm với người anh em của tôi. Trách nhiệm ấy không trao cho tôi quyền kiểm soát đời anh ấy; nó đòi tôi đừng biến sự riêng tư của anh ấy thành lý do để khỏi quan tâm.

Sửa lỗi và được sửa

Huynh đệ không có nghĩa là luôn dễ chịu với nhau. Nếu chỉ biết ăn cơm, cười nói, kể chuyện cũ và khen nhau, tình huynh đệ ấy sẽ rất mỏng khi một người đi sai đường. Có những lúc bác ái phải lên tiếng. Có một cách im lặng tưởng là hiền nhưng thật ra là bỏ mặc: thấy anh em lạm dụng quyền, nói lời làm tổn thương người yếu, quản lý tiền bạc thiếu minh bạch, sống hai mặt, hoặc mỗi ngày một xa Chúa, mà chỉ nói sau lưng: “Ai rồi cũng biết.” Nói sau lưng thường đem lại cảm giác mình đã làm gì đó, nhưng người cần nghe nhất lại không được nghe. Nó làm danh dự người ấy tổn thương mà không mở cho người ấy một con đường trở lại. Khi chuyện lan ra, người sai có thể chỉ còn biết phòng thủ; người chịu thiệt có thể tiếp tục chịu thiệt; cộng đoàn mất dần khả năng nói sự thật với nhau.

Nói trước mặt trong bác ái khó hơn nhiều. Nó đòi người nói xét lòng mình trước: tôi muốn anh em tốt lên, hay tôi muốn trút bực? Tôi đã biết đủ sự việc chưa, hay chỉ nghe một phía? Tôi có chọn lúc và nơi để người ấy có thể nghe không? Tôi đang nói về một hành vi cụ thể, hay đang kết án cả con người? Một lời sửa lỗi bắt đầu bằng thái độ “Tôi muốn hiểu điều đã xảy ra” sẽ khác hẳn lời mở đầu “Ai cũng biết cha là người như thế.” Sự thật không cần được làm sắc hơn bằng nhục mạ. Một người có thể phải nghe điều rất nghiêm trọng mà vẫn được đối xử như một con người có khả năng hoán cải. Nói sự thật trong bác ái không phải nói nhỏ đến mức chẳng còn sự thật; cũng không phải lấy sự thật làm cớ để đánh cho hả giận.

Văn hóa sợ mất lòng khiến nhiều cộng đoàn mục ruỗng từ bên trong. Người ta có thể bỏ qua một cách nói chuyện thô bạo suốt nhiều năm vì ngại đụng đến một cha lớn tuổi. Có thể không dám hỏi một khoản chi mập mờ vì sợ bị coi là chống đối. Có thể cười trừ trước những câu đùa làm nhục giáo dân, nữ tu hoặc người làm công, vì người nói có thế lực hoặc từng giúp mình. Ban đầu, ai cũng nghĩ sự im lặng chỉ là một lần nhịn cho yên. Nhưng nhiều lần nhịn sẽ thành một tập quán; tập quán sẽ thành một bầu khí; bầu khí ấy dạy người yếu rằng họ phải chịu đựng và dạy người mạnh rằng họ có thể tiếp tục. Trong một cộng đoàn như thế, lời cầu nguyện chung vẫn vang lên, nhưng lòng tin đã bị bào mòn.

Dĩ nhiên, không phải mọi sai sót đều cần một cuộc đối chất. Có lúc anh em chỉ mệt, lỡ lời, quên hẹn; một chút bao dung sẽ làm nhiều việc hơn một bài học đạo đức. Phân định là biết khi nào nên bỏ qua, khi nào nên hỏi, khi nào phải nói rõ, và khi nào cần đưa sự việc đến người có trách nhiệm. Nếu sự việc liên quan đến an toàn hoặc quyền lợi của người khác, đặc biệt là người dễ bị tổn thương, tình huynh đệ không cho phép ta thu nhỏ nó thành “chuyện nội bộ anh em”. Lúc ấy, bảo vệ người bị ảnh hưởng và hành động theo trách nhiệm của mình là một phần của đức ái. Che giấu một tổn hại nghiêm trọng để giữ hình ảnh cho một linh mục không phải là giữ anh em. Người anh em đang sai cũng cần được ngăn lại trước khi gây thêm tổn hại.

Giám mục có trách nhiệm riêng đối với linh mục đoàn, nhưng ngài không thể thay từng người làm công việc của tình huynh đệ hằng ngày. Không ai có thể chỉ đến khi một vấn đề đã trở nên quá lớn mới hỏi: “Sao đức cha không biết?” Có những điều anh em gần nhau nhận ra sớm hơn: một giọng nói ngày càng cay nghiệt, một sự vắng mặt không giải thích, một thói quen tự cô lập, một nhu cầu được ngưỡng mộ đang lớn dần. Nhận ra không đồng nghĩa với chẩn đoán hoặc phán xét. Nó mời gọi một bước đầu: đến gần, hỏi han, lắng nghe, đề nghị giúp đỡ; nếu cần, cùng người ấy tìm sự hỗ trợ thích hợp. Một linh mục không nên phải đợi đến khi vấp ngã công khai mới được anh em quan tâm.

Sửa lỗi là việc khó; được sửa còn khó hơn. Người làm mục tử quen khuyên nhủ người khác rất dễ thấy nhói khi có người khuyên lại mình. Cha có thể giảng về khiêm nhường với vẻ bình an, rồi cả ngày mất bình an vì một anh em góp ý rằng cha nói quá dài, quyết định quá vội, ít lắng nghe hoặc thiên vị một nhóm giáo dân. Phản ứng đầu tiên thường là tự vệ: “Anh không hiểu hoàn cảnh của tôi.” Có khi điều ấy đúng. Người góp ý có thể thiếu thông tin, chọn lời vụng, thậm chí có thành kiến. Nhưng một lời góp ý chưa hoàn hảo vẫn có thể chứa phần sự thật cha cần nghe. Nếu mọi lời nói trái ý đều bị loại bỏ vì người nói không hoàn hảo, cha sẽ chỉ còn nhận được những lời tán thành. Rồi đến một ngày, cả giáo xứ biết điều cha không biết về mình.

Được sửa bắt đầu bằng khả năng dừng lại trước khi đáp trả. Cha có thể hỏi: “Anh có thể nói rõ một lần cụ thể không?” Cha có thể nói: “Điều ấy làm tôi khó nghe, nhưng tôi sẽ suy nghĩ.” Cha cũng có thể hẹn một cuộc gặp khác khi hai người bình tĩnh hơn. Không phải lời góp ý nào cũng phải nhận nguyên vẹn. Khiêm nhường không buộc cha tin mọi lời buộc tội. Nó buộc cha đừng vội lấy lòng tự ái làm quan tòa cuối cùng. Có khi sau khi xét lại, cha nhận ra mình bị hiểu lầm và cần giải thích. Có khi cha nhận ra mình đã làm đau người khác dù ý định ban đầu là tốt. Lời xin lỗi lúc ấy không làm chức linh mục nhỏ đi. Một mục tử có thể nói “Tôi đã sai” sẽ giúp cộng đoàn tin rằng sự thật có chỗ trong nhà Chúa.

Khó nhất là sửa người mình quý và nhận lời sửa từ người mình không quý. Với người thân, ta sợ mất tình bạn. Với người không hợp tính, ta nghi ngờ mọi điều họ nói. Vì vậy, tình huynh đệ cần được nuôi từ trước những lúc phải sửa lỗi. Nếu lâu nay chỉ cạnh tranh, dò xét, nói cạnh nói khóe, một lời đúng cũng sẽ nghe như vũ khí. Nếu lâu nay đã có những lần ăn cơm, làm việc, cầu nguyện, giúp nhau lúc khó, lời sửa dù đau vẫn có cơ may được nhận như một hành vi yêu thương. Người ta tin lời khó nghe hơn khi biết người nói đã từng đứng về phía mình trong một ngày không có lợi gì cho họ.

Sửa lỗi cũng cần sự kín đáo đúng mức. Danh dự của anh em không phải món để đem ra mua vui trong bữa ăn. Một chuyện đáng nói riêng không nên thành câu chuyện kể cho cả nhóm để dò phản ứng. Khi cần xin ý kiến, cha có thể trình bày điều cần thiết với người có trách nhiệm hoặc người thật sự giúp phân định, thay vì phân phát từng mẩu chuyện cho nhiều người. Có những lời đồn bắt đầu bằng câu “Tôi chỉ lo cho cha ấy”, rồi đi qua nhiều bàn ăn đến mức người được “lo” không còn cách nào bảo vệ mình. Đó là một sự bất công. Mặt khác, kín đáo không có nghĩa là giữ bí mật bằng mọi giá. Khi có nguy cơ gây hại, nhất là với người yếu thế, điều phải làm là hành động đúng trách nhiệm. Sự phân định trưởng thành giữ được cả sự thật, sự công bằng và lòng thương xót.

Sau cùng, mục đích của sửa lỗi không phải để một bên thắng. Mục đích là người anh em được giữ lại trong sự thật, người bị tổn thương được đối xử công bằng, và cộng đoàn có thể sống ngay thẳng hơn. Đôi khi việc ấy dẫn đến một lời xin lỗi và hòa giải. Đôi khi cần một thay đổi cụ thể, một thời gian đồng hành, một sự hỗ trợ chuyên môn, hoặc một quyết định của người có thẩm quyền. Không thể dùng một cái ôm vội để xóa một tổn hại chưa được nhìn nhận. Cũng không nên biến một sai lầm đã được nhận và sửa thành bản án suốt đời, chỉ vì cộng đoàn không biết trao cho ai một cơ hội bắt đầu lại. Lòng thương xót biết mở cửa; sự thật chỉ cho người ta đi qua cửa ấy bằng con đường nào.

Đừng để anh em chỉ còn là một chức danh

Trong đời sống giáo phận, linh mục thường được nhắc đến bằng nhiệm sở: cha xứ nơi này, cha phó nơi kia, cha phụ trách ban nọ. Cách gọi ấy tiện cho công việc, nhưng nếu kéo dài vào mọi cuộc gặp, một con người dần bị rút gọn thành vai trò. Người ta hỏi một cha xứ về số giáo dân, tiến độ xây nhà thờ, sinh hoạt giới trẻ, các khoản đóng góp; hiếm khi hỏi cha đang sống thế nào sau nhiều năm gánh những việc ấy. Một cha phó được hỏi đã làm theo kế hoạch của cha xứ chưa; ít ai hỏi cậu đã học được gì, đang vướng ở đâu, cần được nâng đỡ điều gì. Một cha già được giới thiệu bằng các giáo xứ đã coi sóc, rồi sau bài phát biểu tri ân lại về căn phòng yên ắng của mình. Danh sách chức vụ có thể đầy đủ mà sự hiểu biết về anh em vẫn rất nghèo.

Tình huynh đệ đòi ta nhớ rằng trước khi là người đảm nhận một công việc, mỗi linh mục là một con người với lịch sử riêng. Có người lớn lên trong một gia đình nghèo và đến nay vẫn khó nhận sự giúp đỡ. Có người mang mặc cảm vì học không bằng anh em. Có người từng mất cha mẹ quá sớm, nên khi một giáo dân thân thiết qua đời, nỗi đau cũ lại thức dậy. Có người gặp khó khăn với sức khỏe, với giấc ngủ, với những đổi thay của tuổi tác, nhưng ngại nói vì sợ bị coi là không còn hữu dụng. Biết những điều ấy không phải để xâm phạm đời tư. Chúng nhắc ta bớt vội khi phán xét, bớt dùng một kiểu đối xử cho tất cả, và nhận ra phía sau một quyết định vụng về có thể là một người đang loay hoay cần được giúp.

Trong nhà xứ, sự cô độc đôi khi được che bởi quyền lực. Một linh mục có người nấu ăn, người lái xe, ban hành giáo sẵn sàng thực hiện mọi chỉ dẫn, giáo dân kính trọng và ít phản đối. Nhưng được phục vụ không đồng nghĩa với có bạn. Người xung quanh có thể quan tâm cha mà vẫn không dám nói thật với cha, vì cha quyết định nhiều điều liên quan đến họ. Khi không có anh em đồng hàng để lắng nghe và trao đổi, cha rất dễ chỉ nghe hai loại tiếng nói: lời tán thưởng của người muốn làm vừa lòng mình và lời chỉ trích vọng đến sau lưng. Cả hai đều khó giúp cha lớn lên. Một người anh em có thể ngồi đối diện, không xin gì, cũng không sợ mất gì, là một hồng ân lớn.

Cũng có những linh mục tìm được sự gần gũi nơi giáo dân, và đó là một phần đẹp của đời mục tử. Cha được một gia đình mời ăn cơm, được một cụ già coi như con, được người trẻ chia sẻ và tin tưởng. Những mối tương quan ấy đáng trân trọng, miễn là được sống trong sự tự do và chừng mực. Nhưng giáo dân không thể gánh toàn bộ nhu cầu được hiểu của linh mục. Khi cha đặt một người hay một gia đình vào vai trò người duy nhất nghe mọi nỗi cô độc của mình, tương quan mục vụ có thể trở nên nặng nề và thiếu sáng suốt. Tình huynh đệ linh mục giúp cha có một nơi thích hợp để nói về những khó khăn của đời linh mục, nhờ đó cha đến với giáo dân bằng trái tim tự do hơn.

Anh em cũng cần biết vui với nhau. Đời linh mục có nhiều chuyện buồn: bệnh tật, tang chế, bất hòa, những cuộc hôn nhân đổ vỡ, những người rời Hội Thánh, những công việc làm mãi chưa xong. Nếu mỗi lần gặp nhau chỉ là để kể khó, nói về khủng hoảng hoặc trao đổi nhiệm vụ, tình huynh đệ sẽ mất hơi thở. Một câu chuyện vui lành mạnh, một bữa cơm mừng ngày chịu chức, một lần chúc mừng cha trẻ hoàn thành việc đầu tiên, một lời cảm ơn gửi người anh em đã âm thầm phục vụ nhiều năm: đó cũng là cách giữ nhau. Niềm vui chung nhắc linh mục nhớ rằng ơn gọi của mình là một hồng ân đang được sống, chứ không chỉ là một gánh nặng phải chịu.

Cha trẻ cần anh, cha già cần em

Một linh mục mới chịu chức có thể đến nhiệm sở với nhiều kiến thức, nhiều nhiệt tình và cả nhiều điều chưa biết về chính mình. Ở chủng viện, đời sống có lịch chung, người đồng hành, giờ cầu nguyện, các cuộc gặp đều đặn. Ra xứ, cha trẻ có thể bước vào một nhà xứ nơi các quyết định đã có nếp từ lâu, các mối quan hệ có lịch sử riêng, còn lỗi nhỏ của mình thì nhiều người nhìn thấy. Nếu gặp một cha xứ biết hướng dẫn, cha trẻ được học cách yêu Hội Thánh qua những việc không có trong giáo trình. Nếu chỉ được giao việc mà ít được giải thích, bị chê trước mặt người khác, hoặc bị xem như một cặp tay để lấp chỗ thiếu, cha trẻ có thể rất nhanh học thói thu mình, chiều lòng cho yên, hoặc phản kháng âm thầm.

Người đi trước không cần tỏ ra mình luôn đúng để có thể nâng đỡ người đi sau. Có khi bài học quý nhất một cha xứ trao cho cha phó là lời kể: “Việc này ngày trước tôi đã làm vội và gây khó cho giáo dân. Mình thử đi chậm hơn.” Khi cha lớn tuổi nhận rằng mình từng sai, người trẻ học được một cách làm linh mục không cần đeo mặt nạ toàn năng. Hướng dẫn không phải kiểm soát từng lời nói, từng buổi đi thăm, từng sáng kiến. Hướng dẫn là cho người trẻ hiểu lý do của các quyết định, có cơ hội thử sức trong phạm vi phù hợp, được góp ý rõ ràng và được bảo vệ khi một sai sót nhỏ bị phóng đại. Một người cha thiêng liêng tốt không giữ cha trẻ bé mãi; ngài giúp người trẻ lớn lên để một ngày có thể phục vụ độc lập mà vẫn biết tìm anh em.

Ngược lại, cha trẻ cũng cần kính trọng nhịp sống và kinh nghiệm của cha đi trước. Có những việc nhìn từ bên ngoài có vẻ chậm, nhưng phía sau là nhiều năm hiểu người, hiểu đất, hiểu những vết thương chưa lành của giáo xứ. Một sáng kiến tốt vẫn cần được đặt vào lịch sử cụ thể của cộng đoàn. Nhiệt tình không cho phép người trẻ coi những điều mình chưa hiểu là lỗi thời. Cha có thể đặt câu hỏi, đề nghị thay đổi, nói về nhu cầu mới; làm thế với thái độ muốn cùng xây dựng sẽ khác việc dùng cái mới để chứng minh người đi trước đã cũ. Khi hai thế hệ chỉ nhìn nhau bằng nghi ngại, giáo dân bị kéo vào thế chọn bên. Khi hai thế hệ biết hỏi và nghe, giáo dân thấy một chứng tá có sức giáo dục hơn nhiều bài nói về hiệp nhất.

Với các linh mục cao tuổi, nỗi đau đôi khi không nằm ở bệnh tật mà ở cảm giác mình đã hết phần. Suốt nhiều thập niên, một cha quen với việc có người tìm đến, có quyết định phải đưa ra, có ngày nào cũng bận. Khi nghỉ trách nhiệm, khoảng trống có thể đến rất nhanh. Lời cảm ơn trong ngày bàn giao cần được nối bằng những lần thăm hỏi sau đó. Nếu cộng đoàn chỉ tìm đến cha già khi cần ngài giúp dâng lễ, rồi quên ngài trong những ngày còn lại, ta đang đối xử với một người anh em như một khả năng phục vụ còn sót lại. Anh em trẻ có thể đến hỏi cha già về một kinh nghiệm mục vụ, mời ngài ăn cơm, đưa ngài đi khám bệnh, hoặc đơn giản ngồi nghe câu chuyện ngài đã kể hơn một lần. Tình huynh đệ có trí nhớ: nó không quên người đã đi trước chỉ vì người ấy bước chậm hơn.

Cha già cũng có một sứ mạng khó mà đẹp: để mình được giúp. Người từng chăm sóc bao người có thể thấy ngượng khi phải nhờ một người trẻ chở đi khám hoặc giải thích một ứng dụng trên điện thoại. Có người cố tự làm mọi việc đến mức kiệt sức vì sợ bị coi là gánh nặng. Nhưng đón nhận sự chăm sóc không làm đời linh mục kém giá trị. Nó cho phép người khác sống đức ái. Trong một linh mục đoàn biết yêu nhau, người trẻ có quyền cần được hướng dẫn và người già có quyền cần được nâng đỡ. Không ai phải che giấu tuổi tác, bệnh tật hay sự thiếu kinh nghiệm để giữ lấy chỗ đứng của mình.

Cùng bàn thờ, cùng gánh nặng

Tình huynh đệ linh mục có một nguồn sâu hơn sự hợp ý. Các linh mục cùng được gọi để phục vụ dân Chúa, cùng đứng trước bàn thờ, cùng nghe Lời làm đảo lộn những tính toán riêng, cùng cầu xin lòng thương xót mà mình không thể tự tạo ra. Vì thế, khi một linh mục khác gặp khó, cha không đứng ở vị trí khán giả xem một câu chuyện xa lạ. Nỗi khó của anh ấy chất vấn cả cách linh mục đoàn đang sống: chúng ta có tạo được chỗ để người ta xin giúp trước khi quá muộn không? Chúng ta có biết nhận dấu hiệu kiệt sức không? Chúng ta có để việc phục vụ trở thành một cuộc thi âm thầm, trong đó ai nghỉ ngơi cũng thấy có lỗi và ai thừa nhận giới hạn cũng thấy xấu hổ không?

Có những gánh nặng cần được chia bằng việc làm cụ thể. Một cha xứ đang chăm cha mẹ già có thể cần anh em nhận giúp một giờ lễ hoặc một buổi họp. Một linh mục vừa trải qua một mất mát có thể cần được nghỉ vài ngày mà không phải giải thích quá nhiều. Một cha làm việc ở nơi khó khăn có thể cần người đến thay phiên ngắn hạn. Một người gặp vấn đề sức khỏe tinh thần cần được đón nhận nghiêm túc, được giúp tìm sự chăm sóc phù hợp, và không bị quy mọi khó khăn về “thiếu cầu nguyện”. Cầu nguyện cho anh em là việc thiết yếu; nhiều khi lời cầu nguyện ấy thúc ta cầm lái xe, mở lịch của mình, hoặc ngồi chờ cùng anh trước cửa phòng khám.

Cùng gánh nặng cũng có nghĩa là không để một vài người gánh mãi những việc ít ai muốn làm. Có những giáo xứ xa, những trách nhiệm âm thầm, những cuộc thăm viếng dài, những hồ sơ phức tạp, những người khó đối thoại. Nếu linh mục đoàn chỉ quý những nhiệm sở được nhìn thấy và những công việc dễ đem lại tiếng tốt, tình huynh đệ đã bị một thước đo đời chi phối. Anh em ở nơi ít được nhắc tên cần được biết rằng phần việc của họ có ý nghĩa và họ không bị đẩy ra ngoài đời sống chung. Một lời hỏi han chân thành với người đang ở nơi xa đôi khi quý hơn lời khen được đọc trước hội trường, vì nó cho thấy có người nhớ đến phần đời không ai chụp hình.

Thánh lễ đồng tế là một dấu chỉ đẹp, nhưng dấu chỉ ấy hỏi đời sống bên ngoài bàn thờ. Nếu trong nhà thờ các linh mục đứng cạnh nhau, cùng thưa “Amen”, rồi bước ra tiếp tục bôi xấu, loại trừ hoặc thờ ơ với nhau, chính họ làm dấu chỉ trở nên khó hiểu. Không ai đòi linh mục đoàn không có bất đồng. Cùng dâng một hy lễ không xóa đi những khác biệt về tính tình và cách làm mục vụ. Nhưng nó đòi mỗi người xét lại cách mình mang sự bất đồng ấy: tôi có cầu nguyện cho người anh em mà tôi không đồng ý không? Tôi có thể nói với anh điều tôi đang kể cho người khác không? Tôi có để cho anh một cơ hội giải thích không? Tôi có muốn điều tốt cho anh, hay chỉ mong anh thất bại để quan điểm của tôi được chứng minh?

Tình hiệp thông trưởng thành không cần mọi cuộc họp kết thúc bằng sự nhất trí bề ngoài. Nó cần những người có thể bất đồng rõ ràng mà vẫn giữ phẩm giá cho nhau. Có những cuộc tranh luận mục vụ đáng có: ưu tiên nguồn lực cho đâu, cách đồng hành với người trẻ thế nào, nên xây thêm hay sửa lại điều đang có, cần thay đổi một thói quen trong giáo xứ hay nên đi chậm. Nếu ai nói khác lập tức bị xem là thiếu vâng phục hoặc thiếu nhiệt thành, linh mục đoàn sẽ dần chỉ còn những lời phát biểu an toàn. Nếu ai cũng nói để thắng, cuộc họp sẽ thành cuộc đấu. Anh em cần tập trình bày lý do, nghe lý do của người khác và chấp nhận rằng một người chân thành có thể nhìn thấy điều mình bỏ sót. Khi đã có quyết định thuộc thẩm quyền, mỗi người lại được mời gọi góp phần thực hiện cách ngay thẳng, kể cả khi đề nghị của mình không được chọn.

Một mái nhà có chỗ cho sự thật

Không cộng đoàn nào trở nên huynh đệ chỉ nhờ thêm khẩu hiệu. Muốn có một mái nhà cho linh mục, phải có những nếp sống có thể nhìn thấy: người mới đến được đón tiếp; người đi xa được liên lạc; người bệnh được thăm; người vấp ngã được xử lý trong sự thật và công bằng; người phục vụ âm thầm được ghi nhận; người đưa ra ý kiến khác được lắng nghe; người già không bị quên. Những nếp sống ấy cần người chịu khởi đầu. Đôi khi một linh mục trẻ làm bước trước bằng lời mời ăn cơm. Đôi khi một cha lớn tuổi mở cửa bằng câu: “Nếu cần nói chuyện, cứ đến.” Đôi khi người giữ trách nhiệm tạo một khoảng thời gian trong cuộc gặp chung để anh em thật sự hỏi nhau sống ra sao. Việc nhỏ được làm đều đặn có thể đổi một bầu khí đã lạnh nhiều năm.

Mỗi linh mục cũng phải tự hỏi mình đem điều gì đến cho tình huynh đệ ấy. Cha có dễ được tiếp cận không? Người khác có thể không đồng ý với cha mà vẫn được cha tôn trọng không? Cha có giữ được điều người ta nói riêng không? Khi nghe tin một anh em được tín nhiệm, cha có vui nổi không? Khi một người bị hiểu lầm, cha có chịu kiểm tra sự thật trước khi kể tiếp không? Khi chính cha kiệt sức, cha có dám nói với ai đó hay chỉ âm thầm trách mọi người không nhận ra? Những câu hỏi ấy chạm đến phần rất thật của đời tu. Bởi vì “đời trong tu” có thể đi vào tình huynh đệ qua lòng ganh, qua nhu cầu có phe, qua sự khoái chí khi người khác sai, qua thói giúp người để rồi tính nợ. “Tu giữa đời” lại hiện ra khi một người biết vui với người khác, chịu nói thật, chịu nghe thật, chịu đến gần mà không chiếm hữu.

Có lúc tình huynh đệ không đem đến cảm giác ấm áp nào. Cha đi thăm một người anh em và cuộc trò chuyện vẫn gượng gạo. Cha cố giảng hòa nhưng hai bên chưa sẵn sàng. Cha đã xin lỗi mà người kia cần thêm thời gian. Cha quan tâm một người đang khép kín nhưng chỉ nhận một câu trả lời ngắn. Những lúc ấy, bác ái cần lòng bền bỉ. Không ai được phép đòi người khác mở lòng theo thời hạn mình đặt ra. Cha có thể giữ cửa mở, giữ lời nói ngay thẳng, tiếp tục cầu nguyện và làm phần việc của mình. Tình huynh đệ không phải kỹ thuật tạo ra sự thân thiết tức khắc. Nó là một cách trung thành với người Chúa đã đặt bên cạnh, cả khi tương quan ấy chưa dễ dàng.

Đức Giêsu đã gọi những người rất khác nhau ở lại với Người và đi cùng nhau. Các môn đệ đã tranh cãi, hiểu lầm, sợ hãi, bỏ chạy; vậy mà Người vẫn kiên nhẫn dạy họ rửa chân cho nhau. Linh mục đoàn không thể lấy những thiếu sót của các môn đệ làm cớ để dễ dãi với chính mình. Trái lại, câu chuyện ấy cho ta hy vọng rằng tình huynh đệ có thể được học, được sửa, được bắt đầu lại. Mỗi lần một linh mục vượt qua tự ái để hỏi thăm người mình đã tránh mặt, mỗi lần một người dừng câu chuyện nói xấu, mỗi lần một cha nhận lời góp ý, mỗi lần anh em bảo vệ người yếu và giúp người sai trở về với sự thật, chiếc khăn rửa chân lại được cầm lên trong đời thường.

Sau cùng, cộng đoàn linh mục không được đo bằng vẻ đẹp của tấm hình chụp chung, cũng không chỉ bằng số buổi gặp đã tổ chức. Hãy nhìn xem một người anh em đang đau có biết tìm đến ai không. Hãy nhìn xem người trẻ có thể xin hướng dẫn mà không sợ bị chê yếu không. Hãy nhìn xem người già có còn được mời ngồi vào bàn không. Hãy nhìn xem khi một sự thật khó xuất hiện, anh em có đủ lòng can đảm và lòng thương để đối diện với nó không. Nếu có, linh mục đoàn đang dần trở thành gia đình như mình vẫn gọi. Và từ một gia đình như thế, linh mục có thể trở về với giáo dân bằng trái tim bớt phòng thủ, bớt cô độc, biết yêu mà không phải tự mình gánh cả thế giới. Anh em được trao cho nhau để cùng bước theo Chúa; đừng để người đi bên cạnh mình phải bước một mình.

Lm. Anmai, CSsR

Bài viết liên quan

Back to top button
error: Content is protected !!