Tâm tình độc giả

DÒNG NHẠC TRẦM LẮNG VÀ DỊU NGỌT TÌNH CHÚA ĐÃ ĐI VÀO CÕI LẶNG – Lm. Anmai, CSsR

DÒNG NHẠC TRẦM LẮNG VÀ DỊU NGỌT TÌNH CHÚA ĐÃ ĐI VÀO CÕI LẶNG

Dấu ấn Tình Yêu – Lm. Ân Đức (Lm. Anmai, CSsR trình bày)

https://youtu.be/3U_codBCfGU

 

 

Có những cuộc ra đi làm người ta bàng hoàng vì quá bất ngờ, có những cuộc ra đi khiến người ta hụt hẫng vì còn quá nhiều điều chưa kịp nói, nhưng cũng có những cuộc ra đi rất lặng, lặng đến mức người ở lại không biết nên khóc trước hay nên ngồi yên thật lâu để nghe lại những dư âm cuối cùng của một đời người vừa khép lại. Với tôi, sự ra đi của linh mục nhạc sĩ Ân Đức – cha Trần Ngọc Hoan – là một cuộc ra đi như thế.

 

Tối Chúa Nhật 20 tháng 9 năm 2026, dòng nhạc trầm lắng và dịu ngọt của tình Chúa đã đi vào cõi lặng. Một người đan sĩ khép lại hành trình dương thế. Một người linh mục cử hành xong Thánh lễ đời mình. Một người nhạc sĩ đặt xuống cây bút sau bao năm miệt mài chắt lọc những rung động của tâm hồn để viết thành những cung nhạc cho Chúa, cho Hội Thánh, cho những người sống đời dâng hiến, cho những linh mục đang đi qua những mùa vui buồn của ơn gọi, cho những người đau khổ đang cần một lời an ủi, cho những tâm hồn đang khát khao được trở về, và cho cả những con người mà cha chưa từng gặp nhưng một ngày nào đó, ở một nơi nào đó, lại được nâng đỡ chỉ vì nghe một câu hát cha đã viết. Cha ra đi lặng lẽ, dường như cũng giống hệt cách cha đã sống. Không ồn ào. Không phô trương. Không cần một cao trào cuối cùng để người khác phải chú ý đến mình. Cha chỉ nhẹ nhàng đi vào cõi lặng như một người đan sĩ sau giờ kinh tối, khép sách lại, cúi đầu trước Nhà Tạm, bước ra khỏi cung nguyện và trở về phòng. Chỉ khác lần này, căn phòng cha trở về không còn nằm trong một đan viện của trần gian, nhưng là Nhà Cha, nơi không còn đêm, không còn bệnh tật, không còn chia ly, không còn những dang dở, không còn phải tìm kiếm một giai điệu đủ đẹp để nói về Thiên Chúa, bởi chính Thiên Chúa đã ở trước mặt. Tôi may mắn đã có một khoảng thời gian được gần gũi với cha. Và có lẽ chính nhờ khoảng thời gian ấy mà mỗi khi nghe nhạc cha, tôi không chỉ nghe những nốt nhạc. Tôi nghe cả sự lặng lẽ phía sau những nốt nhạc ấy. Tôi nghe một đời đan sĩ đã sống lâu trong cô tịch. Tôi nghe một tâm hồn quen bước vào những khoảng vắng mà người đời thường sợ. Tôi nghe một trái tim đã có rất nhiều cuộc đối thoại với Thiên Chúa mà người ngoài không thể biết. Có những người khi ngồi bên họ, ta phải nói liên tục để tránh khoảng trống. Nhưng cũng có những người ta có thể ngồi rất lâu mà chẳng cần nói gì, bởi sự hiện diện của họ tự nó đã là một thứ bình an. Cha Ân Đức là người như vậy.

 

Nơi cha có một nét lặng rất riêng. Không phải sự xa cách của một con người khép kín, cũng không phải sự lạnh lùng của người không muốn gần ai, mà là sự lặng của một người đã quen sống với Đấng Vô Hình. Càng ở gần, càng thấy nơi cha có một cõi riêng rất khó gọi tên, một nơi mà không ai thật sự bước vào được ngoài Thiên Chúa. Và chính vì cha đã sống lâu trong cõi riêng ấy nên cha viết về Chúa thật hay. Người ta có thể học hòa âm, có thể học đối âm, có thể học phối khí, có thể học cách xây dựng một giai điệu, nhưng không trường lớp nào có thể dạy một người làm cho một câu hát trở thành lời cầu nguyện.

 

Người ta có thể học cách viết cho đúng, nhưng để một bài hát có thể làm một người đang mỏi mệt bỗng muốn quay về với Chúa, thì kỹ thuật thôi không đủ. Phải sống. Phải đau. Phải cầu nguyện. Phải biết cô đơn. Phải biết thất bại. Phải có những lúc không còn gì để bám vào ngoài Thiên Chúa. Phải từng quỳ rất lâu trước Nhà Tạm mà không biết nói gì. Phải từng nếm sự khô khan đến mức ngay cả một lời kinh quen thuộc cũng trở nên nặng nề. Phải từng hiểu rằng tình yêu không chỉ là cảm xúc ngọt ngào, nhưng còn là trung thành khi không còn cảm xúc nào nâng đỡ. Có lẽ chính vì vậy mà dòng nhạc của cha luôn có một nét rất riêng: dịu nhưng không nhạt, buồn nhưng không tuyệt vọng, sâu nhưng không cố làm ra vẻ sâu, đơn sơ nhưng lại có một sức ở lại rất lâu trong lòng người.

 

Những bài như Dấu Ấn Tình Yêu, Hoa Dại, Có Một Tình Yêu, Dầu Con Là Ai, Chúa Đã Chiếm Đoạt Con, Đường Con Theo Chúa, Hạnh Phúc Đời Thánh Hiến, Tình Ca Dâng Hiến, Bài Ca Linh Mục, Nguyện Ước Đời Linh Mục, Một Đời Người Tôi Tớ, Trong Âm Thầm, Hương Tình Thập Giá, Chén Đắng, Chúa Là Điểm Tựa, Chuỗi Hồng Ân, Để Nên Lời Ngợi Ca, Hy Lễ Cuối Cùng, Đứng Trước Nhan Ngài, Niềm Hy Vọng Hằng Sống… không chỉ là những tựa ca khúc. Khi đặt cạnh cuộc đời cha, chúng giống như những chương của một bản tự sự thiêng liêng kéo dài suốt bao nhiêu năm. Nhìn lại, ta có cảm giác cha đã viết từng phần của đời mình vào những bài hát ấy mà có khi chính cha cũng không nghĩ đến điều đó.

 

 

Có lẽ không thể nói về cha Ân Đức mà không nhắc đến Dấu Ấn Tình Yêu. Chỉ riêng cái tên ấy thôi đã đủ để nói về cả một đời người. Mỗi con người đi qua trần gian đều để lại một dấu ấn nào đó. Có người để lại tài sản, có người để lại danh vọng, có người để lại quyền lực, có người để lại những công trình lớn, nhưng những thứ ấy rồi cũng phai. Còn một dấu ấn tình yêu thì có thể ở lại rất lâu trong trái tim người khác. Cha Ân Đức đã để lại một dấu ấn như thế. Không chỉ bằng những trang nhạc, mà bằng cách cha sống, cách cha im lặng, cách cha cầu nguyện, cách cha phục vụ, cách cha để tài năng của mình không biến thành phương tiện tìm kiếm bản thân, nhưng thành con đường đưa người khác đến gần Thiên Chúa hơn. Dấu Ấn Tình Yêu vì thế không chỉ là một bài hát nổi tiếng. Nó giống như lời tóm kết đời cha. Thiên Chúa đã để lại dấu ấn trên đời cha, và qua cha, dấu ấn ấy lại được in vào biết bao cuộc đời khác. Có những nữ tu đã hát nhạc cha trong ngày khấn. Có những linh mục đã nghe nhạc cha trong những ngày kỷ niệm chức thánh. Có những người đau khổ đã tìm được sự dịu lại trong lòng nhờ một giai điệu của cha. Có những người chẳng bao giờ gặp cha, thậm chí không biết rõ khuôn mặt cha, nhưng vẫn được cha dẫn vào cầu nguyện qua những nốt nhạc. Đó chính là một kiểu hiện diện rất đẹp của người viết thánh ca: người viết có thể ở rất xa, nhưng lời cầu nguyện của họ lại ở rất gần. Và rồi khi nghe Hoa Dại, tôi lại nghĩ về chính cha như một bông hoa mọc bên đường, không cần được trồng trong khu vườn danh vọng, không cần ai dừng lại ngắm thật lâu, không cần được gọi tên quá nhiều, chỉ âm thầm nở đúng nơi Chúa gieo mình xuống. Hoa dại đẹp vì nó không cố chứng minh mình đẹp. Nó cứ nở. Người đan sĩ cũng vậy. Người ấy không sống để trở thành trung tâm. Người ấy chỉ mong được thuộc về Thiên Chúa. Đời đan tu tự bản chất đã là một lựa chọn đi ngược lại với xu hướng của thế gian. Thế gian thích được thấy; người đan sĩ chấp nhận khuất đi. Thế gian thích nói; người đan sĩ học im. Thế gian thích chiếm hữu; người đan sĩ học buông. Thế gian sợ cô đơn; người đan sĩ bước vào cô tịch để gặp Đấng mà thế gian không thấy. Bởi thế, nếu muốn hiểu tại sao âm nhạc của cha có một thứ dịu ngọt rất khác, phải hiểu rằng trước khi là nhạc sĩ, cha là một đan sĩ. Trước khi ngồi xuống viết, cha đã học ngồi trước Chúa. Trước khi biết dùng nốt nhạc để diễn tả tình yêu, cha đã để tình yêu ấy đi qua đời mình. Từ Hoa Dại, tôi nghĩ đến Có Một Tình Yêu. Phải, có một Tình Yêu. Có một Tình Yêu đã gọi cha. Có một Tình Yêu khiến một người chấp nhận bước vào đời tu. Có một Tình Yêu khiến người ta có thể sống rất nhiều năm trong một chọn lựa mà thế gian không hiểu. Có một Tình Yêu giữ người ta lại khi lý tưởng ban đầu không còn rực rỡ như ngày đầu. Có một Tình Yêu ở lại trong những giờ kinh khô khan, những ngày lao động, những lần bệnh tật, những khi mệt mỏi, những lúc chẳng còn cảm thấy mình làm được gì lớn. Đời dâng hiến nếu chỉ nhìn bằng con mắt bên ngoài rất dễ bị hiểu lầm như một chuỗi từ bỏ. Nhưng người đã sống sâu trong đó hiểu rằng nếu không có tình yêu thì không ai chịu nổi. Không ai có thể từ bỏ suốt một đời chỉ bằng ý chí. Phải có một cái gì lớn hơn sự từ bỏ. Phải có một Đấng lớn hơn mọi điều đã bỏ lại. Và chính vì có Có Một Tình Yêu nên mới có thể nói Chúa Đã Chiếm Đoạt Con. Tôi rất thích chữ “chiếm đoạt” trong ngôn ngữ ơn gọi, bởi nó diễn tả một điều rất thật: một khi Thiên Chúa đã chạm đến tận sâu một con người, người ấy không còn sống như trước được nữa. Có thể họ trốn. Có thể họ sợ. Có thể họ hoãn. Nhưng lời gọi cứ ở đó. Cuối cùng người ta phải trả lời. Cha Ân Đức đã trả lời bằng cả đời mình. Không phải chỉ trong ngày khấn, không phải chỉ trong ngày chịu chức, nhưng bằng từng ngày rất bình thường. Thật ra lời khấn không được hoàn thành trong ngày tuyên khấn. Ngày ấy chỉ là ngày lời khấn bắt đầu. Mỗi buổi sáng thức dậy, mỗi giờ kinh, mỗi công việc, mỗi lần chịu đựng, mỗi lần tha thứ, mỗi lần đặt ý riêng xuống, mỗi lần giữ mình ở lại khi muốn buông – tất cả là cách người tu sĩ viết thêm vào lời khấn của mình. Và vì thế khi nghe Dầu Con Là Ai, tôi lại thấy một nét đẹp khác. Đời dâng hiến chân thật luôn làm người ta khiêm tốn hơn. Người trẻ lúc mới bước vào đời tu thường dễ nghĩ mình có thể làm nhiều điều cho Chúa. Nhưng sống lâu mới hiểu Chúa không cần ta theo cách ta từng nghĩ. Ngài có thể làm mọi sự mà chẳng cần ai. Nếu Ngài gọi, đó là ân huệ cho người được gọi chứ không phải vì Ngài thiếu người. Khi hiểu được điều ấy, người linh mục hay tu sĩ không còn bận tâm quá nhiều về giá trị riêng của mình. Dầu con là ai, Chúa vẫn thương. Dầu con yếu, Chúa vẫn dùng. Dầu con có những thiếu sót, Chúa vẫn kiên nhẫn. Dầu con không hoàn hảo, Ngài vẫn có thể làm điều tốt qua con. Và rồi Đường Con Theo Chúa lại mở ra cả một hành trình dài. Theo Chúa không bao giờ chỉ là một ngày đẹp. Có những đoạn đường có nắng, có những đoạn mưa. Có đoạn người ta đi rất nhanh vì đầy nhiệt huyết. Có đoạn mỗi bước rất nặng. Có lúc thấy Chúa gần. Có lúc tưởng như Ngài im lặng. Có lúc tưởng mình hiểu ơn gọi, có lúc không hiểu tại sao mình lại ở đây. Nhưng theo Chúa nghĩa là vẫn đi. Không cần nhìn thấy cả con đường. Chỉ cần đủ ánh sáng cho bước kế tiếp. Cha đã đi như vậy qua rất nhiều năm. Và rồi đến tối Chúa Nhật 20 tháng 9, con đường ấy chạm đến cánh cửa cuối cùng của trần thế.

Khi nghĩ về cha, tôi cũng không thể không nghĩ đến những ca khúc viết về đời linh mục và đời dâng hiến, bởi đó là một mạch rất sâu trong âm nhạc của cha. Bài Ca Linh Mục, Nguyện Ước Đời Linh Mục, Bài Ca Người Mục Tử, Hạnh Phúc Đời Thánh Hiến, Tình Ca Dâng Hiến, Tình Ca Kết Ước, Tình Ca Muôn Đời, Tròn Dâng, Lời Nguyện Hiến Tế, Ngài Chọn Con, Một Đời Người Tôi Tớ – chỉ đọc những tựa ấy thôi đã thấy cả một thế giới thiêng liêng của ơn gọi. Người ngoài thường nhìn đời linh mục qua những gì thấy được: bàn thờ, áo lễ, bài giảng, chức vụ, sự kính trọng. Nhưng bên trong đời linh mục là một hành trình rất khác. Có những ngày đẹp đến mức người linh mục thấy lòng đầy biết ơn. Có những ngày lại rất cô đơn. Có những lúc được yêu thương. Có những lúc bị hiểu lầm. Có những lúc cảm thấy mình hữu ích. Có những lúc chỉ thấy mình vô dụng. Có những lúc đứng giữa rất nhiều người mà vẫn cô độc. Có những lúc nâng đỡ người khác trong khi chính mình cũng đang mệt. Có những đêm không biết nói với ai ngoài Chúa. Vì vậy khi một linh mục viết về linh mục, những lời ấy có một chiều sâu khác. Cha Ân Đức không viết về một ơn gọi đứng ngoài mình. Cha viết từ bên trong. Và chính điều đó làm cho Bài Ca Linh Mục hay Nguyện Ước Đời Linh Mục không chỉ là những bài hát dùng trong ngày lễ, mà còn có thể trở thành chiếc gương để người linh mục soi lại chính mình. Tôi nghĩ đời linh mục nào cũng bắt đầu bằng những nguyện ước rất đẹp: muốn thánh thiện, muốn sống cho Chúa, muốn phục vụ, muốn thuộc về người nghèo, muốn không giữ lại gì. Nhưng thời gian sẽ thử mọi lời đẹp. Ba mươi năm sau, bốn mươi năm sau, năm mươi năm sau, người ta mới biết mình còn giữ được bao nhiêu. Có những nguyện ước được thanh luyện bằng thất bại. Có những nguyện ước bị thử bằng cô đơn. Có những nguyện ước phải đi qua nước mắt. Có những điều lúc trẻ nói rất dễ nhưng về già mới hiểu hết giá phải trả. Bởi vậy, Một Đời Người Tôi Tớ là một tựa quá đẹp. Đời linh mục suy cho cùng không phải đời của người làm chủ. Là người tôi tớ. Là người được trao để phục vụ. Nhưng phục vụ không phải chuyện lãng mạn. Phục vụ có lúc phải chấp nhận làm điều chẳng ai ghi nhận. Có lúc phải chịu hiểu lầm. Có lúc phải âm thầm. Có lúc phải đứng sau người khác. Có lúc phải để người khác được lớn lên còn mình nhỏ lại. Và chính ở đây, tôi nghĩ tới Chúa Phải Lớn Lên. Có lẽ đây là quy luật sâu nhất của bất cứ đời dâng hiến chân thật nào. Càng được biết đến, càng phải nhỏ. Càng có tài, càng phải biết đó là quà. Càng có tác phẩm được người khác yêu thích, càng phải nhắc mình rằng mục đích cuối cùng không phải để người ta yêu tác giả, mà để người ta yêu Chúa hơn. Một người viết thánh ca mà người nghe chỉ dừng ở chỗ “nhạc sĩ hay quá” thì chưa đủ. Bài hát phải trở thành một cửa sổ. Cửa sổ không giữ ánh nhìn ở chính mình. Nó mở ra cảnh phía sau. Cha Ân Đức đã dùng âm nhạc như một ô cửa như thế. Và có lẽ đó là điều đáng quý nhất. Khi nghe Chúa Biết Lòng Con, Chúa Nhìn Con, Biết Chúa Biết Con, người ta cảm nhận rất rõ thứ linh đạo của người đã sống lâu trong cầu nguyện. Có những điều đời không hiểu. Có những lúc chẳng ai biết mình đang mang gì trong lòng. Nhưng Chúa biết. Có khi chỉ câu “Chúa biết” đủ giúp một người tiếp tục đi. Có những lúc mình bị hiểu lầm mà không thể giải thích. Có những lúc bị phán xét. Có những lúc mọi cố gắng dường như không ai thấy. Nếu cứ sống dưới ánh mắt người khác, người ta sẽ kiệt sức. Người dâng hiến phải học chuyển trọng tâm từ ánh mắt thế gian sang ánh mắt Chúa. Chúa Nhìn Con – nếu thực sự sống được điều ấy, người ta tự do hơn rất nhiều. Không cần phải chứng minh tất cả. Không cần ai cũng hiểu. Không cần mọi người đều công nhận. Chỉ cần sống thật trước mặt Ngài. Và chính sự thật ấy mới làm nên một người tự do. Tôi nghĩ cha Ân Đức có nét tự do ấy trong sự lặng lẽ của mình. Người có đời sống nội tâm sâu thường không quá cần tiếng ồn bên ngoài để khẳng định mình. Họ đã có một nơi để trở về.

Nhưng đời dâng hiến không chỉ có những bài ca ngọt ngào. Cha cũng viết những tựa gợi rất nhiều về đau khổ: Hương Tình Thập Giá, Chén Đắng, Khi Tim Con Khô Cứng, Hy Lễ Cuối Cùng. Chính những tựa này làm tôi thấy dòng nhạc của cha không phải một thứ lãng mạn hóa đời tu. Cha biết dâng hiến có thập giá. Cha biết tình yêu nếu thật sẽ phải đi qua đau. Cha biết người cầu nguyện cũng có ngày khô. Cha biết người linh mục cũng có những chén đắng. Và có lẽ chính vì đã từng đi qua những kinh nghiệm ấy nên cha mới viết được những câu chạm đến những người cũng đang đau. Người chưa từng khóc rất khó an ủi một người đang khóc. Người chưa từng thấy Chúa im lặng rất khó hiểu những người đang sống trong đêm tối thiêng liêng. Người chưa từng bị giới hạn rất khó viết về phó thác. Bởi thế, khi nghe Khi Tim Con Khô Cứng, tôi thấy một sự thành thật rất đẹp. Có những người tưởng người tu lúc nào cũng cầu nguyện sốt sắng. Không. Có ngày chỉ ngồi đó vì bổn phận. Có ngày miệng đọc kinh mà lòng trống. Có ngày chẳng cảm thấy gì. Nhưng chính những ngày đó mới đo chiều sâu của lòng trung thành. Yêu Chúa khi thấy ngọt ngào thì dễ. Ở lại khi chẳng thấy gì mới khó. Và có lẽ cha đã đi qua rất nhiều ngày như thế. Hương Tình Thập Giá cũng gợi một điều rất đẹp: thập giá tự nó không thơm. Đau khổ tự nó không đáng yêu. Nhưng khi đi qua tình yêu, nó có thể tỏa hương. Người Kitô hữu không yêu đau khổ, nhưng tin rằng đau khổ được kết hợp với Đức Kitô không bị phí đi. Một vết thương nếu được trao có thể trở thành nơi ánh sáng đi qua. Và rồi Chén Đắng. Ai cũng có chén riêng. Có chén người khác nhìn thấy, có chén không ai biết. Chúng ta không cần biết hết những chén đắng của cha. Một đời người cần có những khoảng bí mật chỉ dành cho Chúa. Nhưng có một điều chắc chắn: không ai sống đời dâng hiến lâu năm mà không đi qua thử luyện. Cái đẹp là người ta đi qua thử luyện ấy mà không để lòng mình trở thành cay đắng. Có những người đau rồi làm người khác đau. Có người đau rồi trở nên dịu hơn. Có lẽ cha thuộc kiểu thứ hai. Sự dịu trong nhạc cha nói điều đó. Người đã từng đau mà còn viết được dịu là người không để đau khổ thắng mình. Và khi nghe Chúa Là Điểm Tựa, tôi nghĩ đó không còn là một câu hát khi tuổi già đến. Lúc còn trẻ, người ta có nhiều điểm tựa. Sức khỏe. Trí óc. Khả năng. Công việc. Bạn bè. Danh tiếng. Nhưng tuổi già dần dần lấy đi từng thứ. Thân xác yếu. Trí nhớ giảm. Những người quen biết ra đi. Công việc không còn như trước. Khi ấy câu “Chúa là điểm tựa” không còn là một ý niệm đẹp. Nó trở thành thực tại. Người tu sĩ đi đến cuối đời nếu trung thành sẽ càng nghèo. Nhưng nghèo như thế lại là một ân huệ, bởi mọi điểm tựa phụ dần bị rút đi để người ta học tựa vào Một Đấng duy nhất. Và có lẽ tối Chúa Nhật ấy, khi mọi điểm tựa trần gian không còn, cha đã tựa vào chính Chúa để bước qua cánh cửa cuối.

Tôi đặc biệt xúc động khi nghĩ tới cái tên Hy Lễ Cuối Cùng. Một linh mục dành cả đời đứng trước bàn thờ để cử hành hy tế của Đức Kitô. Mỗi ngày nâng bánh lên. Mỗi ngày nâng chén lên. Mỗi ngày nhắc lại lời “Này là Mình Thầy… Này là Máu Thầy…” Nhưng rồi đến một ngày chính người linh mục trở thành lễ vật. Không còn chỉ là nâng bánh và rượu. Là nâng chính tuổi già. Nâng những giới hạn. Nâng những đau đớn. Nâng sự bất lực. Nâng cả hơi thở đang yếu dần. Một đời linh mục đẹp nhất không chỉ ở những Thánh lễ đã cử hành, nhưng ở chỗ cuối cùng bản thân người linh mục cũng dám trở thành điều mình đã cử hành: một lễ dâng. Nếu nhìn như thế, cái chết của cha không chỉ là một sự chấm dứt. Nó là Hy Lễ Cuối Cùng. Một đời đã được đặt lên bàn thờ rất lâu nay được trao trọn. Không giữ lại gì nữa. Không kế hoạch nữa. Không tác phẩm nữa. Không những điều “con còn muốn làm”. Chỉ còn một lời: “Lạy Cha, con xin phó linh hồn con trong tay Cha.” Và rồi từ Hy Lễ Cuối Cùng, tôi nghĩ đến Đứng Trước Nhan Ngài. Cả đời cha đã viết về Chúa. Cả đời cha cầu nguyện với Đấng mình không thấy bằng mắt. Cả đời cha tin. Bây giờ điều duy nhất chúng ta cầu xin là cha được đứng trước nhan Ngài. Người nhạc sĩ không còn cần viết về ánh sáng, bởi được ở trong ánh sáng. Không cần viết về tình yêu, bởi đứng trước Tình Yêu. Không cần viết về bình an, bởi ở trong bình an. Không cần hỏi Chúa ở đâu, bởi đã về nhà. Và đó cũng là lý do Niềm Hy Vọng Hằng Sống trở nên thật đẹp khi đặt sau tất cả. Nếu không có niềm hy vọng phục sinh, cái chết chỉ là một bức tường. Với đức tin, nó là một cánh cửa. Điều đó không có nghĩa người ở lại không buồn. Đức tin không làm trái tim hóa đá. Chúa Giêsu đã khóc trước mộ Lazarô. Ta có thể tin mạnh mẽ và vẫn đau vì chia ly. Nhưng nỗi đau Kitô giáo luôn có một ô cửa. Ta khóc nhưng không tuyệt vọng. Ta nhớ nhưng không nghĩ người mình yêu rơi vào hư vô. Ta tiễn họ bằng lời cầu nguyện. Ta trao họ cho lòng thương xót của Chúa. Đó là niềm hy vọng của chúng ta hôm nay khi tiễn cha Ân Đức.

Nhìn lại kho tàng âm nhạc cha để lại, tôi thấy một điều rất đẹp: những tựa ca khúc ấy như những viên đá ghép thành chân dung một người. Ân Huệ Tình Yêu nói rằng mọi sự là quà. Dấu Ấn Tình Yêu nói tình yêu ấy đã in lên đời người. Có Một Tình Yêu nói nguồn gốc của mọi chọn lựa. Chúa Đã Chiếm Đoạt Con nói về tiếng gọi. Dầu Con Là Ai nói về sự bất xứng. Ngài Chọn Con nói về mầu nhiệm ơn gọi. Đường Con Theo Chúa nói hành trình. Tình Ca Dâng Hiến nói sự trao mình. Hạnh Phúc Đời Thánh Hiến nói niềm vui. Hương Tình Thập Giá nói giá của tình yêu. Chén Đắng nói thử luyện. Chúa Là Điểm Tựa nói phó thác. Một Đời Người Tôi Tớ nói phục vụ. Trong Âm Thầm nói phong cách sống. Chuỗi Hồng Ân nói ánh nhìn biết ơn. Để Nên Lời Ngợi Ca nói mục đích. Hy Lễ Cuối Cùng nói sự trao trả. Đứng Trước Nhan Ngài nói đích đến. Niềm Hy Vọng Hằng Sống nói phần cuối không phải là kết thúc. Nếu xếp những tựa ấy theo thứ tự, ta gần như có thể đọc được một tiểu sử thiêng liêng không cần ngày tháng. Một người được yêu. Một người được gọi. Một người thấy mình bất xứng. Một người đi theo. Một người dâng hiến. Một người vui. Một người chịu đau. Một người học phó thác. Một người phục vụ. Một người nhìn lại và biết ơn. Một người trao mình lần cuối. Một người đứng trước Chúa. Chẳng phải đó chính là đường đi của một đời dâng hiến sao? Và có lẽ vì âm nhạc của cha luôn xoay quanh những đề tài căn bản ấy nên nó dễ chạm đến người sống đời tu. Bởi họ thấy đời mình trong đó. Một nữ tu hát Dấu Ấn Tình Yêu trong ngày khấn không chỉ đang hát một bài hát đẹp. Chị đang nghe chính lòng mình. Một linh mục nghe Nguyện Ước Đời Linh Mục sau bốn mươi năm chịu chức có thể rơi nước mắt vì nhớ lại ngày đầu. Một tu sĩ đang khủng hoảng nghe Chúa Là Điểm Tựa có thể được giữ lại. Một người đau bệnh nghe Niềm Hy Vọng Hằng Sống có thể tìm được chút ánh sáng. Đó là điều kỳ lạ của nghệ thuật thiêng liêng: người viết ra đi, nhưng tác phẩm tiếp tục phục vụ. Thân xác dừng, lời cầu vẫn đi. Người nhạc sĩ không còn hiện diện, nhưng bài hát có thể hiện diện ở nơi ông chưa từng tới. Có những ca khúc của cha có lẽ đã được hát trong những nhà nguyện nhỏ ở những nơi cha chẳng bao giờ biết. Có những người đã khóc khi hát mà cha không bao giờ thấy. Có những ơn gọi đã được nâng đỡ mà cha không bao giờ nghe kể. Đó là mùa gặt chỉ Thiên Chúa mới biết đầy đủ.

Và chính điều đó khiến tôi nghĩ rất nhiều về Trong Âm Thầm. Có lẽ đây là một tựa rất hợp với cha. Thiên Chúa làm rất nhiều điều lớn trong âm thầm. Hạt giống nảy dưới đất chẳng phát tiếng. Một em bé lớn lên trong lòng mẹ chẳng ai thấy từng giây. Bình minh đến từng chút, không ồn ào. Ân sủng cũng vậy. Những thay đổi sâu nhất trong một tâm hồn thường không xảy ra trước đám đông. Chúng xảy ra trong một căn phòng đóng cửa, trong một giờ quỳ gối, trong một lần tha thứ, trong một quyết định ở lại, trong một tiếng “xin vâng” chỉ Chúa nghe. Cha đã sống rất nhiều trong âm thầm. Và có lẽ vì thế âm nhạc của cha có sức của những gì được ủ lâu. Một câu nhạc không cần phô diễn kỹ thuật nhưng nghe vẫn đầy. Một lời ca rất đơn giản mà người ta hát xong lại thấy lòng mình lắng. Đó không phải chuyện dễ làm. Để viết đơn giản mà không nông, người viết phải sâu. Người ta thường phức tạp khi chưa đủ sâu. Càng đi sâu, càng thấy những điều thật sự quan trọng rất đơn sơ: Chúa. Tình yêu. Thập giá. Dâng hiến. Tin tưởng. Tạ ơn. Hy vọng. Cha cứ viết quanh những điều ấy, nhưng mỗi lần lại có một sắc thái khác. Giống như người đan sĩ đọc một bộ Thánh Vịnh suốt cả đời mà không chán. Không phải vì câu chữ thay đổi, mà vì người đọc thay đổi. Hai mươi tuổi đọc một câu khác. Năm mươi tuổi đọc lại câu ấy mà nghĩa sâu hơn. Bảy mươi tuổi, một chữ thôi cũng đủ làm rơi nước mắt. Thánh nhạc cũng vậy. Một người trẻ hát Đường Con Theo Chúa bằng nhiệt huyết. Một người già hát lại bằng vết thương. Một người mới khấn hát Hạnh Phúc Đời Thánh Hiến bằng niềm vui. Một người sống đời tu năm mươi năm hát lại bằng sự trung thành. Một chủng sinh hát Chúa Là Điểm Tựa như một ý tưởng đẹp. Một linh mục trong cơn bệnh nặng mới hiểu thế nào là điểm tựa. Một người nghe Hy Lễ Cuối Cùng trong lễ an táng người khác thấy xúc động. Đến ngày mình sắp chết, bài ấy trở thành bài của chính mình. Có lẽ cha Ân Đức đã đi hết những tầng nghĩa như thế trong những bài cha viết. Và bây giờ, chính cái chết của cha lại làm cho chúng ta nghe nhạc cha khác đi. Từ nay khi nghe Dấu Ấn Tình Yêu, người ta sẽ không chỉ nghĩ về một bài hát. Người ta sẽ nhớ một cuộc đời. Khi nghe Hoa Dại, người ta sẽ nhớ một người sống lặng. Khi nghe Chúa Đã Chiếm Đoạt Con, người ta sẽ nhớ một người đã để Thiên Chúa lấy đời mình. Khi nghe Một Đời Người Tôi Tớ, người ta sẽ nhớ một sứ vụ đã hoàn tất. Khi nghe Hy Lễ Cuối Cùng, người ta sẽ nhớ tối Chúa Nhật 20 tháng 9. Khi nghe Đứng Trước Nhan Ngài, người ta sẽ cầu xin đó là nơi cha đang ở. Khi nghe Niềm Hy Vọng Hằng Sống, người ta sẽ nhớ rằng cái chết không thắng được một người thuộc về Đức Kitô.

Tôi cũng nghĩ rất nhiều đến sự cô tịch nơi cha. Ngày nay người ta rất sợ cô tịch. Chỉ cần vài phút không có tiếng động đã thấy khó chịu. Người ta cầm điện thoại từ lúc mở mắt đến khi đi ngủ. Một phút chờ đợi cũng phải lấp bằng màn hình. Ta sống trong biển thông tin nhưng lại rất ít khi thực sự nghe lòng mình. Đời đan sĩ thì ngược lại. Người đan sĩ chấp nhận sống trong một môi trường nơi họ không thể chạy trốn mãi khỏi bản thân. Thinh lặng sẽ bóc đi rất nhiều lớp. Nó làm ta gặp những nỗi sợ. Nó làm ta thấy cái tôi. Nó làm ta nhận ra những động cơ không tinh sạch. Nhưng nếu ở lại đủ lâu, chính thinh lặng cũng chữa lành. Bởi qua những lớp ấy, người ta dần chạm đến một nơi sâu hơn, nơi chỉ có mình và Chúa. Cha đã sống trong một truyền thống như thế. Có lẽ đó là lý do tôi cảm thấy nơi cha sự cô tịch mà lại không lạnh. Đó là cô tịch có Chúa. Khác hẳn cô độc. Cô độc là thấy không có ai. Cô tịch đan tu là biết có Một Đấng đủ. Người ngoài nhìn thấy vắng, người ở trong lại thấy đầy. Và từ sự đầy ấy, người ta mới có thể trao ra. Một nhạc sĩ chỉ sống trên bề mặt sẽ dễ hết điều để nói. Một nhạc sĩ có đời sống nội tâm thì mỗi sự im lặng đều có thể thành chất liệu. Một tiếng chuông chiều. Một bóng nắng trên tường. Một câu Thánh Vịnh. Một nấm mồ. Một lễ khấn. Một ánh mắt của người già. Một giọt nước mắt của một tu sĩ trẻ. Một đêm mất ngủ. Một lần thất vọng. Một buổi cầu nguyện khô. Tất cả có thể nằm lại trong lòng rất lâu rồi một ngày hóa thành giai điệu. Đó là cách thinh lặng sinh âm nhạc. Và có lẽ đó là bí mật đẹp nhất của cha Ân Đức: cha không viết từ tiếng ồn; cha viết từ khoảng sâu bên trong.

Có những nghệ sĩ sợ mình bị quên. Có lẽ người đan sĩ thì khác. Người đan sĩ được huấn luyện để biết rằng một ngày mình sẽ biến mất khỏi thế gian. Cái chết không phải chủ đề xa lạ trong linh đạo đan tu. Người ta sống mỗi ngày trong ý thức về sự hữu hạn để biết điều gì đáng giữ. Cha có thể đã viết hàng trăm bài, nhưng rồi tối Chúa Nhật ấy, tất cả phải để lại. Không mang theo một bản nhạc. Không mang theo một giải thưởng. Không mang theo danh tiếng. Không mang theo tên tuổi. Chỉ mang theo chính con người mình đứng trước Thiên Chúa. Điều ấy làm mọi thành tựu trở nên tương đối. Và đồng thời làm tình yêu trở nên tuyệt đối. Cuối cùng, điều quan trọng không phải người ta nhớ ta bao lâu. Mà là ta đã yêu thế nào. Không phải đã viết bao nhiêu bài. Mà là ta đã dùng tài năng mình nhận được để làm gì. Không phải người ta đã vỗ tay bao nhiêu lần. Mà là có ai qua công việc của ta được gần Chúa hơn không. Nếu có, thế là đủ. Chính vì thế tôi rất thích Để Nên Lời Ngợi Ca. Một đời người đẹp nhất khi chính đời ấy thành bài ca. Không cần giọng hay. Không cần sân khấu. Một đời trung thành chính là bài hát. Một hy sinh âm thầm chính là nốt nhạc. Một lần tha thứ chính là hợp âm. Một giờ cầu nguyện là khoảng lặng. Một lời khấn được giữ đến chết là giai điệu chính. Khi tất cả những điều ấy hòa lại, cuộc đời tự nó trở thành thánh ca. Cha đã viết nhiều bài, nhưng có lẽ bài hay nhất cha để lại là chính đời mình.

Giờ đây tôi cứ tưởng tượng một hình ảnh rất đơn sơ: cây đàn vẫn còn đó nhưng người chơi đã đứng dậy. Căn phòng bỗng lặng. Những phím đàn nằm yên. Không còn bàn tay quen thuộc. Nhưng ai đã từng nghe người ấy chơi sẽ biết âm thanh không biến mất ngay khi tay rời phím. Nó còn rung trong không gian. Cha cũng vậy. Cha đã rời cây đàn của đời mình, nhưng dư âm vẫn còn. Trong một ca đoàn đang tập nhạc. Trong một nhà nguyện nữ tu. Trong một ngày lễ khấn. Trong một lễ truyền chức. Trong một Thánh lễ cầu hồn. Trong chiếc điện thoại của một người trẻ vô tình nghe lại bài cũ. Trong ký ức một người từng gặp cha. Trong lòng tôi, người đã từng có thời gian được ở gần cha và hôm nay mới thấy quý hơn bao giờ hết cái lặng của cha. Có những điều chỉ khi người ta mất đi ta mới hiểu giá trị. Khi người ấy còn đó, ta nghĩ còn nhiều lần gặp. Còn nhiều câu có thể hỏi. Còn nhiều thời gian. Cái chết làm mọi “còn nhiều” ấy biến mất. Và rồi những điều rất nhỏ bỗng trở nên quý. Một ánh mắt. Một lần ngồi bên nhau. Một câu nói. Một sự im lặng. Có khi thứ ở lại sâu nhất không phải điều người ấy làm, mà là cảm giác mình đã có khi ở bên họ. Với cha Ân Đức, điều đó đối với tôi là sự lặng. Một sự lặng không làm người khác khó chịu, nhưng khiến ta muốn nói nhỏ lại. Một sự lặng làm người ta nhớ Chúa. Nếu một con người có thể khiến người khác chỉ bằng sự hiện diện mà muốn sống chậm hơn, cầu nguyện hơn, thì đó đã là một bài giảng rất đẹp.

Từ nay, chắc chắn sẽ có những lúc nghe một bài hát của cha và lòng tôi chùng xuống. Nghe Dấu Ấn Tình Yêu, tôi sẽ nhớ một người đã để tình yêu Chúa ghi dấu trên đời mình. Nghe Hoa Dại, tôi sẽ nhớ một tâm hồn âm thầm. Nghe Có Một Tình Yêu, tôi sẽ nhớ một Tình Yêu lớn hơn cái chết. Nghe Dầu Con Là Ai, tôi sẽ nhớ mọi ơn gọi đều bắt đầu từ lòng thương xót. Nghe Chúa Đã Chiếm Đoạt Con, tôi sẽ nhớ một đời đã thuộc về Chúa. Nghe Đường Con Theo Chúa, tôi sẽ nhớ con đường ấy nay đã đi đến đích. Nghe Bài Ca Linh Mục, tôi sẽ cầu cho những người đang mang chức thánh. Nghe Nguyện Ước Đời Linh Mục, tôi sẽ tự hỏi những lời nguyện ban đầu của mình còn nguyên không. Nghe Hạnh Phúc Đời Thánh Hiến, tôi sẽ nhớ hạnh phúc không có nghĩa là không có thập giá. Nghe Hương Tình Thập Giá, tôi sẽ nhớ một đời người chỉ thật sự có hương khi biết để đau khổ đi qua tình yêu. Nghe Chén Đắng, tôi sẽ nhớ chẳng ai theo Chúa mà không có chén riêng. Nghe Chúa Là Điểm Tựa, tôi sẽ nhớ rồi mọi điểm tựa khác cũng lần lượt rời đi. Nghe Một Đời Người Tôi Tớ, tôi sẽ nhớ cuộc đời không được đo bằng mình đứng cao đến đâu, mà bằng mình đã cúi xuống bao nhiêu. Nghe Trong Âm Thầm, tôi sẽ nhớ những gì Thiên Chúa làm lớn nhất thường chẳng cần ai thấy. Nghe Chuỗi Hồng Ân, tôi sẽ học nhìn lại đời mình bằng lòng biết ơn. Nghe Để Nên Lời Ngợi Ca, tôi sẽ tự hỏi đời mình đã là lời ngợi ca hay chưa. Nghe Hy Lễ Cuối Cùng, tôi sẽ nhớ một ngày chính mình cũng phải trao lại mọi sự. Nghe Đứng Trước Nhan Ngài, tôi sẽ cầu xin đó là niềm vui cha đang được hưởng. Nghe Niềm Hy Vọng Hằng Sống, tôi sẽ nhớ nghĩa trang không phải trang cuối của Tin Mừng.

Thưa cha Ân Đức, hôm nay chúng con tiễn cha mà lòng không chỉ buồn. Có một sự biết ơn rất lớn. Cảm ơn cha vì một đời đã viết tình ca cho Thiên Chúa. Cảm ơn cha vì đã đặt tài năng mình trong phục vụ. Cảm ơn cha vì những giai điệu không chỉ làm đẹp phụng vụ mà còn đi vào những góc rất sâu của đời người. Cảm ơn cha vì những bài ca dâng hiến đã giúp không biết bao người nhớ lại tiếng gọi ban đầu. Cảm ơn cha vì những bài viết về linh mục đã giúp người linh mục soi lại đời mình. Cảm ơn cha vì những bài về thập giá đã cho người đau một ngôn ngữ để cầu nguyện. Cảm ơn cha vì đã giữ được một khoảng thinh lặng trong một thế giới rất ồn. Cảm ơn cha vì đã cho thấy người nghệ sĩ không nhất thiết phải sống bằng ánh đèn. Có những nghệ sĩ đẹp nhất khi họ lùi xuống để tác phẩm đưa người nghe đi xa hơn chính họ. Cảm ơn cha vì đã nhắc rằng người viết thánh ca trước hết phải là người biết quỳ. Có thể một người viết rất hay bằng kỹ thuật, nhưng chỉ người đã quỳ lâu mới viết được lời có mùi cầu nguyện. Cảm ơn cha vì sự cô tịch đã không làm cha khép lại, mà trái lại, trở thành nơi từ đó cha mở ra cho người khác rất nhiều cánh cửa vào với Chúa.

Tối Chúa Nhật 20 tháng 9, một nốt trầm đã dừng. Nhưng kỳ lạ thay, chính khi nốt ấy dừng, người ta mới nghe rõ nó đã nâng đỡ cả bản hòa âm thế nào. Có những nốt không đứng ở cao nhất, không nổi bật nhất, nhưng thiếu nó bản nhạc sẽ hụt. Cha Ân Đức giống một nốt như thế trong đời sống thánh nhạc Công giáo Việt Nam. Không cần quá nhiều tiếng động. Không cần chen ra phía trước. Chỉ âm thầm ở đó, tạo chiều sâu. Bây giờ nốt ấy lặng, ta mới thấy một khoảng trống. Nhưng khoảng trống ấy không phải tuyệt vọng. Nó mời ta nghe lại. Nghe kỹ hơn. Nghe chậm hơn. Nghe những bản nhạc cũ bằng một đôi tai mới. Và có lẽ đó là điều đẹp xảy ra sau sự ra đi của một nghệ sĩ: người ta bắt đầu nghe tác phẩm bằng cả ký ức về con người phía sau nó.

Tôi thích nghĩ rằng trên thiên quốc cha không còn cần tìm hợp âm nào nữa. Mọi hợp âm trần gian đều chỉ là bóng của một vẻ đẹp lớn hơn. Không còn phải ngồi sửa từng câu nhạc. Không còn phải tìm một chữ đủ đúng cho tình yêu. Không còn phải cố diễn tả Thiên Chúa. Người nghệ sĩ dành đời mình để diễn tả điều không thể diễn tả. Nhưng đến khi gặp chính Đấng ấy, mọi nghệ thuật đều phải im. Có lẽ sự thinh lặng cuối cùng mới là bài ca đẹp nhất. Không nốt. Không lời. Không nhịp. Chỉ có một tâm hồn đứng trước Thiên Chúa. Một người đã hát về Ngài suốt đời nay không cần hát nữa. Chỉ cần nhìn.

Thưa cha, cha đã viết Tình Ca Muôn Đời. Có lẽ giờ đây tình ca ấy mới bắt đầu theo nghĩa trọn vẹn. Ở đời này, mọi bài hát đều có đoạn kết. Giọng người sẽ mỏi. Dây đàn sẽ cũ. Người nghệ sĩ sẽ già. Một ngày tay không còn chơi được. Nhưng tình yêu nếu được đặt trong Chúa không kết thúc. Và đó là điều cho chúng con bình an khi tiễn cha. Chúng con không nghĩ cha đã biến mất. Chúng con chỉ tin cha đã đi trước. Người đi trước và người ở lại tạm xa nhau. Rồi đến lượt chúng con.

Mỗi người cũng đang viết một bản nhạc đời mình. Có người được giao phần rất sáng. Có người toàn nốt trầm. Có người có nhiều cao trào. Có người sống bình thường đến mức chẳng ai chú ý. Nhưng điều quan trọng không phải phần mình có nổi bật hay không. Điều quan trọng là nó có nằm đúng trong bản nhạc Chúa đang viết hay không. Cha đã chơi phần của cha. Bây giờ cha đặt nhạc cụ xuống. Chúng con còn phải chơi tiếp. Xin cha cầu cho chúng con đừng cố đánh phần của người khác. Đừng ganh với nốt của người khác. Đừng sống chỉ để được nghe thấy. Hãy trung thành với phần mình. Có lúc phải cất tiếng. Có lúc phải im. Có lúc phải đi lên. Có lúc phải hạ xuống. Có lúc phải để người khác dẫn giai điệu. Nhưng tất cả cùng hướng về một chủ âm: Thiên Chúa.

Và nếu có thể nói với cha một lời cuối, tôi chỉ muốn nói: thưa cha, cảm ơn cha vì một đời đã sống đủ lặng để nghe Chúa và đủ yêu để biến điều đã nghe thành âm nhạc. Cảm ơn cha vì đã để Dấu Ấn Tình Yêu không chỉ nằm trên khuông nhạc mà trên chính đời cha. Cảm ơn cha vì đã sống như Hoa Dại, nở mà không đòi người khác nhìn. Cảm ơn cha vì đã tin Có Một Tình Yêu đủ lớn để giữ một đời. Cảm ơn cha vì đã để Chúa Đã Chiếm Đoạt Con không chỉ là một ca khúc mà là lời thật. Cảm ơn cha vì đã đi trọn Đường Con Theo Chúa. Cảm ơn cha vì Một Đời Người Tôi Tớ nay đã hoàn thành. Cảm ơn cha vì những ngày Trong Âm Thầm chẳng ai biết. Cảm ơn cha vì những Chén Đắng cha đã uống mà không biến lòng thành cay đắng. Cảm ơn cha vì đã chọn Chúa Là Điểm Tựa. Cảm ơn cha vì một Chuỗi Hồng Ân đã được trao lại. Cảm ơn cha vì cả cuộc đời cha đã cố Để Nên Lời Ngợi Ca. Cảm ơn cha vì Hy Lễ Cuối Cùng đã được dâng. Và giờ đây, điều duy nhất chúng con xin là cha được Đứng Trước Nhan Ngài, trong Niềm Hy Vọng Hằng Sống mà cha đã từng gieo vào lòng biết bao người.

Dòng nhạc trầm lắng và dịu ngọt tình Chúa đã đi vào cõi lặng. Nhưng cõi lặng ấy không phải cõi không. Cõi lặng ấy là Nhà. Cõi lặng ấy là vòng tay Cha. Cõi lặng ấy là nơi không còn cần âm nhạc để nói về tình yêu, vì chính Tình Yêu đã hiện diện. Cõi lặng ấy là nơi người nhạc sĩ không còn cần viết về Thiên Chúa, vì đã gặp Thiên Chúa. Cõi lặng ấy là nơi người đan sĩ không còn phải tìm một khoảng vắng để gặp Chúa, vì cả vĩnh cửu là sự hiện diện của Ngài. Cõi lặng ấy là nơi người linh mục không còn cử hành Thánh lễ dưới dấu chỉ, nhưng được dự vào phụng vụ không bao giờ chấm dứt.

Xin cha nghỉ yên. Xin cha ngủ bình an sau một hành trình dài. Xin cha để cây đàn lại cho chúng con. Xin cha để những bản nhạc lại cho Hội Thánh. Xin cha mang theo chỉ một điều: tình yêu đã làm nên tất cả. Và xin từ Nhà Cha, cha cầu cho những người vẫn đang sống giữa một thế giới quá ồn biết tìm lại thinh lặng, cho những linh mục mỏi mệt biết tìm lại tiếng gọi đầu đời, cho những tu sĩ đang khủng hoảng biết nhìn lại Dấu Ấn Tình Yêu, cho những nghệ sĩ Công giáo biết rằng trước khi viết về Chúa cần học sống với Chúa, cho những người đang đau biết rằng Hương Tình Thập Giá vẫn có thể tỏa ra ngay từ vết thương, cho những người đang cô đơn biết rằng cô tịch có Chúa không bao giờ là trống rỗng, và cho tất cả chúng con một ngày kia cũng biết trao lại đời mình nhẹ nhàng như cha đã trao.

Có những bản nhạc kết thúc bằng một hợp âm rất lớn. Có những bản nhạc lại kết thúc bằng một nốt nhẹ đến mức người nghe không biết nó đã hết lúc nào. Cuộc đời cha dường như thuộc về cách thứ hai. Không ầm vang. Không phô trương. Chỉ là một tối Chúa Nhật, một người đan sĩ đi vào cõi lặng. Nhưng chính vì thế mà dấu lặng ấy đẹp.

Cha đã đi.

Nhưng Dấu Ấn Tình Yêu còn ở lại.

Cha đã lặng.

Nhưng Tình Ca Muôn Đời vẫn còn ngân.

Cha không còn viết nữa.

Nhưng Một Đời Người Tôi Tớ vẫn đang kể chuyện.

Cha đã hoàn tất Hy Lễ Cuối Cùng.

Và chúng con tin cha đang Đứng Trước Nhan Ngài.

Thưa cha Ân Đức, dòng nhạc của cha đã đi vào cõi lặng, nhưng tình yêu trong dòng nhạc ấy không lặng. Nó vẫn đi. Vẫn chạm. Vẫn cầu nguyện. Vẫn làm cho những người chưa từng gặp cha nhớ đến Chúa. Ngày nào còn một người hát nhạc cha bằng lòng tin, ngày ấy sứ vụ âm nhạc của cha vẫn tiếp tục. Ngày nào còn một người được nâng đỡ bởi một giai điệu cha viết, ngày ấy hạt giống vẫn sinh hoa. Ngày nào còn một người nghe Dấu Ấn Tình Yêu và muốn sống đời mình đẹp hơn, ngày ấy cuộc đời cha vẫn còn một tiếng nói.

Xin Chúa thương đón người tôi tớ của Ngài.

Xin Ngài nhận lấy người linh mục đã phụng sự bàn thờ.

Xin Ngài nhận lấy người đan sĩ đã tìm kiếm Ngài trong thinh lặng.

Xin Ngài nhận lấy người nhạc sĩ đã dùng những cung đàn để nói về tình yêu của Ngài.

Xin Ngài tha thứ những giới hạn, hoàn tất những gì còn thiếu, thanh luyện những gì chưa trọn và đưa cha vào ánh sáng đời đời.

Xin Ngài nói với cha lời mà bất cứ một người tận hiến nào cũng mong được nghe sau cả cuộc đời:

“Người tôi tớ tốt lành và trung tín, hãy vào hưởng niềm vui của Chủ ngươi.”

Và khi ấy, có lẽ cha sẽ hiểu tất cả.

Hiểu vì sao có những nốt buồn.

Hiểu vì sao có những khoảng lặng.

Hiểu vì sao có những đoạn đời tưởng như chẳng có nghĩa.

Hiểu vì sao có những lời cầu xin Chúa không trả lời theo điều mình muốn.

Một nhạc sĩ chỉ khi nghe toàn bộ bản giao hưởng mới hiểu vì sao một nốt phải nằm ở vị trí ấy.

Ở đời này chúng con chỉ nghe từng đoạn.

Thiên Chúa nghe toàn bộ.

Bây giờ cha đã bước sang phía Người Nhạc Sĩ.

Xin cha cầu cho chúng con vẫn đang loay hoay trong từng ô nhịp nhỏ của đời mình biết tin rằng Ngài không viết sai.

Một ngày nào đó, khi bản nhạc của chúng con cũng kết thúc, xin cho chúng con được gặp lại cha nơi không còn chia ly, nơi mọi tiếng hát trở thành một bài ca, nơi mọi nước mắt được lau, nơi mọi khát vọng được đáp đầy, nơi mọi tình ca của đời người hòa lại trong một bản trường ca duy nhất:

Tình yêu Thiên Chúa.

Và từ nay, mỗi khi những nốt đầu tiên của Dấu Ấn Tình Yêu vang lên, có lẽ tôi sẽ nhớ mãi một người đan sĩ lặng lẽ đã đi qua đời này, đã dùng cả đời để viết tình ca cho Chúa, rồi một tối Chúa Nhật cũng lặng lẽ trở về với chính Tình Yêu mà mình đã hát suốt bao năm.

DÒNG NHẠC TRẦM LẮNG VÀ DỊU NGỌT TÌNH CHÚA ĐÃ ĐI VÀO CÕI LẶNG.

Nhưng tình yêu thì không chết.

Lời cầu nguyện thì không mất.

Và những gì đã được viết bằng cả một cuộc đời dâng hiến sẽ còn ngân rất lâu trong lòng người ở lại.

Xin cha Ân Đức an nghỉ trong bình an của Chúa.

Lm. Anmai, CSsR.

 

Bài viết liên quan

Back to top button
error: Content is protected !!