Góc tư vấn

BẠN TRẺ ĐANG SỐNG VÌ AI? – Lm. Anmai, CSsR (sách dày 522 trang)

BẠN TRẺ ĐANG SỐNG VÌ AI? Lm. Anmai, CSsR (sách dày 522 trang)
Một hành trình rất sâu để nhìn lại đời mình, định hướng lại trái tim mình, và học đặt cả cuộc đời vào tay Thiên Chúa

Có những buổi tối rất lạ trong đời người trẻ.

Bên ngoài thì vẫn sáng đèn. Điện thoại vẫn rung. Tin nhắn vẫn đến. Mạng xã hội vẫn nhảy liên tục những đoạn video ngắn, những câu nói hay, những khuôn mặt đẹp, những cuộc đời có vẻ thành công, những nụ cười có vẻ rất ổn. Người ta vẫn đăng ảnh đi học, đi làm, đi chơi, đi cà phê, đi du lịch, đi hẹn hò, đi nhà thờ, đi thiện nguyện. Mọi thứ nhìn qua đều có vẻ đang chuyển động. Ai cũng bận. Ai cũng có việc để làm. Ai cũng có điều gì đó để theo đuổi.

Nhưng lạ lắm. Chính trong những đêm như thế, khi mọi âm thanh bắt đầu rút xuống, khi căn phòng chỉ còn mình với mình, khi bàn tay đặt điện thoại xuống một chút, khi mắt không còn bị cuốn vào những hình ảnh của người khác nữa, thì có một câu hỏi âm thầm đi ra từ rất sâu trong lòng: mình đang sống vì ai?

Không phải mình đang bận vì ai. Không phải mình đang cố gắng vì ai. Không phải mình đang chứng minh điều gì với ai. Nhưng là mình đang sống vì ai?

Câu hỏi ấy nghe thì đơn giản, nhưng thật ra rất đau. Bởi vì nhiều người trẻ đang sống mà không bao giờ thật sự dám ngồi xuống với câu hỏi này. Người ta quen sống theo quán tính hơn là sống trong tỉnh thức. Người ta quen phản ứng với cuộc đời hơn là chọn lựa cuộc đời. Người ta quen chạy theo những đòi hỏi trước mắt hơn là bước đi theo một tiếng gọi sâu xa. Người ta quen để mình bị kéo đi bởi áp lực, bởi kỳ vọng, bởi sợ hãi, bởi sự so sánh, bởi nhu cầu phải được công nhận, bởi nỗi lo không biết nếu mình sống chậm lại thì mình sẽ bị tụt lại phía sau.

Thế là rất nhiều người trẻ vẫn sống. Nhưng sống mà không rõ mình đang sống cho điều gì. Sống mà lòng không có một cái neo. Sống mà bên ngoài có thể đầy hoạt động, nhưng bên trong lại rất lạc. Sống mà một ngày qua đi, một tuần qua đi, một năm qua đi, nhưng nếu phải trả lời thật lòng rằng đời mình đang đi về đâu, thì lại không dám trả lời.

Có người sống vì ánh mắt của người khác. Chỉ cần được khen thì vui, bị chê thì gãy. Chỉ cần được chú ý thì thấy mình có giá trị, còn bị lãng quên thì thấy mình như rơi xuống hố sâu. Có người sống vì tiền. Không phải vì tiền xấu, nhưng vì họ đã lặng lẽ giao luôn linh hồn mình cho tiền điều khiển. Có người sống vì danh. Có người sống vì một hình ảnh đẹp về bản thân. Có người sống vì gia đình, nhưng theo cách méo mó: không phải yêu thương gia đình, mà là sống cả đời để làm vừa lòng mọi kỳ vọng của gia đình, đến mức đánh mất luôn tiếng nói của Thiên Chúa trong lòng mình. Có người sống vì tình yêu, nhưng thật ra không phải vì yêu, mà vì sợ cô đơn. Có người sống vì thành công, nhưng tận sâu bên trong chỉ là một đứa trẻ đang cố gào lên: xin ai đó nhìn thấy tôi, xin ai đó công nhận tôi, xin ai đó nói với tôi rằng tôi có giá trị.

Và cũng có những người trẻ sống rất đạo đức bên ngoài, rất ngoan, rất sốt sắng, rất chăm đi lễ, rất siêng hoạt động giáo xứ, nhưng sâu bên trong vẫn chưa đặt đời mình vào tay Chúa. Họ vẫn giữ phần quyết định cuối cùng cho mình. Họ vẫn muốn Chúa chúc lành cho kế hoạch của họ, hơn là để Chúa dẫn họ vào kế hoạch của Người. Họ vẫn muốn cầu nguyện để được yên tâm tiếp tục đi theo điều mình muốn, hơn là cầu nguyện để đủ can đảm đi theo điều Chúa muốn. Bề ngoài là có Chúa. Nhưng thật ra trung tâm đời sống vẫn là cái tôi.

Đó là bi kịch tinh vi nhất của đời người trẻ có đạo: có thể mang danh là thuộc về Chúa, nhưng trong những quyết định sâu nhất lại chưa hề trao đời mình cho Chúa.

Cho nên cuốn sách này không bắt đầu bằng một lời kết án. Không phải để mắng người trẻ. Không phải để làm cho người trẻ thấy mình tệ. Không phải để chất thêm áp lực lên những trái tim vốn đã rất nặng. Nhưng là để mời người trẻ đứng lại. Thật sự đứng lại. Không phải đứng lại vài phút cho có. Nhưng đứng lại bằng cả linh hồn. Đứng lại đủ lâu để nghe cho rõ mình đang sống vì ai. Đang làm gì. Đang để điều gì lái cuộc đời mình. Đang chạy về đâu. Đang để ai quyết định giá trị của mình. Đang dùng tuổi trẻ để xây gì. Đang âm thầm thờ lạy điều gì. Và có thật là đã đặt cuộc đời mình vào tay Thiên Chúa hay chưa.

Bởi vì tuổi trẻ không chỉ là một giai đoạn đẹp. Tuổi trẻ là một giai đoạn quyết định. Nhiều thứ trong đời về sau sẽ được hình thành từ những chọn lựa rất âm thầm của tuổi trẻ hôm nay. Một người không lạc đường trong một ngày. Người ta lạc vì từng ngày đi lệch một chút. Một người không đánh mất đời mình trong một khoảnh khắc. Người ta đánh mất đời mình qua vô số những thỏa hiệp nhỏ, những trì hoãn nhỏ, những lần tự dối lòng nhỏ, những lần biết mình phải quay lại mà không quay lại. Một người không tự nhiên sống trống rỗng. Người ta trống rỗng vì quá lâu sống mà không hỏi linh hồn mình thực sự cần gì.

Có lẽ điều đau nhất của nhiều bạn trẻ hôm nay không phải là nghèo tiền, mà là nghèo ý nghĩa. Không phải là thiếu cơ hội, mà là thiếu hướng đi. Không phải là không có việc để làm, mà là không biết vì sao mình làm điều đó. Không phải là không có người bên cạnh, mà là không biết mình là ai khi không còn ai bên cạnh nữa.

Có người học rất nhiều, nhưng không biết mình học để làm gì ngoài chuyện kiếm một công việc ổn định. Có người làm việc rất chăm, nhưng không biết mình lao lực để đi về đâu. Có người yêu đương rất sâu, nhưng không biết tình yêu đó đang giúp mình trưởng thành hay đang kéo mình xa khỏi chính mình. Có người phục vụ rất nhiệt thành trong giáo xứ, nhưng không biết mình đang phục vụ Chúa hay đang phục vụ nhu cầu được thấy mình quan trọng. Có người cầu nguyện rất nhiều, nhưng lòng chưa bao giờ thật sự chịu buông tay.

Con người có thể lừa người khác lâu lắm. Có khi còn lừa được cả chính mình. Nhưng trước mặt Thiên Chúa, mọi thứ rất trong. Chúa nhìn qua những lời hay. Chúa nhìn qua những biểu hiện đẹp. Chúa nhìn qua những thành tích. Chúa nhìn thẳng vào động lực. Người trẻ có thể nói: con đang cố gắng. Nhưng Chúa nhìn và hỏi: con đang cố gắng vì ai? Người trẻ có thể nói: con đang rất bận. Nhưng Chúa hỏi: con bận xây Nước Trời hay bận xây cái tôi? Người trẻ có thể nói: con đang tìm tương lai. Nhưng Chúa hỏi: tương lai đó có chỗ nào cho Ta không? Người trẻ có thể nói: con vẫn cầu nguyện. Nhưng Chúa hỏi: con cầu nguyện để nghe Ta hay để xin Ta ký tên vào ý riêng của con?

Đó là những câu hỏi không dễ nghe. Nhưng chính những câu hỏi không dễ nghe mới cứu được đời người. Một vết thương không được đụng tới sẽ không được chữa lành. Một linh hồn không dám đối diện sự thật sẽ không bao giờ bước vào tự do. Một người trẻ cứ tránh né những câu hỏi nền tảng của đời mình thì sớm muộn gì cũng sẽ kiệt sức giữa đường, bởi vì không ai có thể chạy mãi trên một hướng đi không rõ ràng.

Có những người trẻ mệt không phải vì làm quá nhiều, mà vì sống lệch khỏi ơn gọi sâu nhất của mình. Mệt vì phải gồng làm một con người không phải là mình. Mệt vì phải chạy theo một hình mẫu mà người khác dựng lên. Mệt vì phải tỏ ra ổn trong khi bên trong rối bời. Mệt vì vừa sợ thất bại vừa sợ sống không giống ai. Mệt vì cứ phải so sánh đời mình với nhịp của người khác. Mệt vì nghe quá nhiều tiếng bên ngoài mà không còn nghe được tiếng của Chúa ở bên trong nữa.

Thật ra, người trẻ không chỉ cần lời khuyên. Người trẻ cần ánh sáng. Không chỉ cần kỹ năng sống. Người trẻ cần một điểm tựa linh hồn. Không chỉ cần động lực. Người trẻ cần chân lý. Không chỉ cần cách thành công. Người trẻ cần biết thế nào là sống đúng. Bởi vì có những thành công nhìn từ ngoài rất sáng, nhưng thực chất là một thất bại lớn trong linh hồn. Có những con đường nhìn từ ngoài rất đáng ngưỡng mộ, nhưng lại đưa người ta ngày càng xa hơn khỏi Thiên Chúa, khỏi bình an, khỏi căn tính thật của mình.

Một người trẻ có thể kiếm được rất nhiều thứ trên đời, nhưng nếu đánh mất linh hồn thì cuối cùng vẫn là tay trắng. Một người trẻ có thể được nhiều người ngưỡng mộ, nhưng nếu không biết mình thuộc về ai thì vẫn là một cuộc đời bơ vơ. Một người trẻ có thể có kế hoạch rất chặt chẽ cho 5 năm, 10 năm, 20 năm tới, nhưng nếu kế hoạch đó không được đặt trong bàn tay Chúa, thì tất cả vẫn có thể rất chắc về mặt thế gian mà rất mong manh về mặt vĩnh cửu.

Nhiều bạn trẻ hôm nay sợ giao đời mình cho Chúa. Không nói ra, nhưng sợ. Sợ nếu đặt đời mình vào tay Chúa, Chúa sẽ lấy mất niềm vui của mình. Sợ Chúa sẽ dẫn mình vào con đường khổ. Sợ Chúa sẽ đòi mình từ bỏ nhiều thứ. Sợ Chúa sẽ không cho mình sống như mình muốn. Sợ nếu nghe Chúa thật, mình sẽ phải thay đổi những điều mình đang bám vào. Sợ nếu mở lòng thật với Chúa, Chúa sẽ chạm đến đúng vùng mình muốn giữ riêng.

Nhưng điều lạ lùng là: tay Chúa không bao giờ là nơi làm con người mất đi chính mình. Tay Chúa là nơi duy nhất con người tìm lại được chính mình cách trọn vẹn. Bởi vì Đấng tạo dựng con người hiểu con người hơn chính họ. Đấng thổi sinh khí vào lòng người biết linh hồn ấy được dựng nên để làm gì. Đấng gọi từng người đi vào đời không gọi ai cách vô nghĩa. Không có một tuổi trẻ nào được Thiên Chúa tạo ra chỉ để tồn tại cho qua ngày. Không có một trái tim nào Chúa dựng nên chỉ để chạy hết đời trong mỏi mệt, so sánh, sợ hãi, và lạc hướng. Mỗi đời người đều có một ý nghĩa trong chương trình yêu thương của Thiên Chúa. Mỗi người trẻ đều có một ơn gọi sâu xa: không chỉ là nghề nghiệp, không chỉ là bậc sống, mà trước hết là ơn gọi nên thánh, ơn gọi sống đúng sự thật của mình trong Thiên Chúa, ơn gọi làm cho cuộc đời mình trở thành một câu trả lời đẹp dành cho tình yêu của Chúa.

Nhưng muốn nghe được tiếng gọi ấy, người trẻ phải chấp nhận đi vào thinh lặng. Và đây là điều khó nhất của thời đại này. Thời đại này dạy người ta lấp đầy mọi khoảng trống. Hễ trống là mở điện thoại. Hễ buồn là tìm thứ gì đó để quên. Hễ mệt là kiếm thứ gì đó để giải trí. Hễ lòng chao đảo là tìm ngay một tiếng ồn nào đó để che lại. Nhưng linh hồn chỉ nói rõ trong thinh lặng. Tiếng Chúa không gào như thế gian. Tiếng Chúa thường nhỏ, nhưng sâu. Không náo loạn, nhưng bền. Không ép buộc, nhưng lay động. Không làm con người mất bình an, nhưng khiến họ không thể yên với sự nửa vời nữa.

Nhiều bạn trẻ nói rằng mình không biết ý Chúa. Nhưng thật ra có khi không phải Chúa không nói, mà là lòng mình quá ồn để nghe. Có khi không phải Chúa không dẫn, mà là mình không đứng yên đủ để được dẫn. Có khi không phải Chúa im lặng, mà là mình chỉ muốn nghe điều hợp ý mình, còn điều trái ý thì coi như không phải tiếng Chúa.

Muốn biết mình đang sống vì ai, trước tiên phải dám bỏ bớt những tiếng nói đang chiếm chỗ trong lòng mình. Tiếng của đám đông. Tiếng của nỗi sợ. Tiếng của tham vọng. Tiếng của tự ái. Tiếng của tổn thương cũ. Tiếng của nhu cầu được công nhận. Tiếng của những so sánh vô tận. Tiếng của những lời hứa hẹn rực rỡ nhưng rỗng ruột. Tiếng của dục vọng. Tiếng của trì hoãn. Tiếng của một cái tôi luôn muốn làm chủ mà không muốn vâng phục.

Và sau khi bỏ bớt những tiếng ấy, người trẻ sẽ phải đối diện với một điều rất thật: mình đang làm gì với đời mình?

Câu hỏi này cũng không dễ. Bởi vì người ta có thể làm rất nhiều việc mà vẫn không thật sự sống. Hoạt động không đồng nghĩa với ý nghĩa. Bận rộn không đồng nghĩa với trưởng thành. Có lịch trình kín không đồng nghĩa với có định hướng. Làm nhiều thứ không có nghĩa là đang đi đúng đường. Có người đang dùng tuổi trẻ để tích lũy năng lực, đức hạnh, kỷ luật, chiều sâu, và lòng tin. Có người lại đang dùng tuổi trẻ để tiêu hao linh hồn vào những điều chóng qua. Có người đang âm thầm xây nền cho một cuộc đời vững. Có người lại đang âm thầm tự đục thủng nền móng của chính mình bằng những thói quen nhỏ mà tưởng là vô hại.

Một giờ sống buông thả không làm sập đời người ngay. Nhưng một kiểu sống buông thả kéo dài sẽ làm méo nhân cách. Một lần nói dối không làm hỏng cả cuộc đời ngay. Nhưng một đời quen né sự thật sẽ không thể lớn lên trong tự do. Một vài lần cầu nguyện qua loa chưa chắc đã nguy hiểm. Nhưng một tuổi trẻ đánh mất thói quen gặp Chúa thì sớm muộn gì cũng sẽ đánh mất phương hướng. Một vài vấp ngã không làm mất hy vọng. Nhưng một lối sống coi thường việc hoán cải thì sẽ làm trái tim chai đi lúc nào không hay.

Có những người trẻ rất chăm lo tương lai nghề nghiệp mà bỏ quên tương lai linh hồn. Họ lo học ngoại ngữ, lo kỹ năng, lo bằng cấp, lo quan hệ, lo tài chính, lo hình ảnh cá nhân, lo vị trí trong xã hội. Tất cả những điều đó không sai. Nhưng nếu tất cả đều được chăm chút mà đời sống với Chúa thì hời hợt, việc cầu nguyện thì chắp vá, các bí tích thì lạnh nhạt, lương tâm thì không được xét mình thường xuyên, lòng bác ái thì ngày càng teo lại, thì thật ra họ đang chuẩn bị cho mình một đời sống có thể đứng được giữa người đời, nhưng ngã trước mặt Thiên Chúa.

Cái bi đát nhất là nhiều người trẻ chỉ nghĩ đến chuyện “sau này mình sẽ sống tốt hơn”. Sau này mình sẽ cầu nguyện nghiêm túc hơn. Sau này mình sẽ bỏ tội này. Sau này mình sẽ sắp xếp lại đời sống. Sau này mình sẽ dành thời gian cho Chúa. Sau này mình sẽ sống sâu hơn. Nhưng đời sống thiêng liêng không lớn lên bằng ý định đẹp. Nó lớn lên bằng những chọn lựa thật ngay bây giờ. Không ai tự nhiên có một đời sống đức tin vững nếu hôm nay vẫn sống hời hợt. Không ai tự nhiên có một gia đình thánh thiện nếu tuổi trẻ hôm nay không tập yêu trong sạch và trưởng thành. Không ai tự nhiên có một ơn gọi bền đỗ nếu bây giờ vẫn quen sống theo cảm xúc. Không ai tự nhiên có một đời tận hiến trọn vẹn nếu hiện tại chưa tập từ bỏ mình. Không ai tự nhiên có bình an nếu hôm nay vẫn để linh hồn trôi dạt theo mọi ham muốn.

Người trẻ cần hiểu một điều rất căn bản: định hướng cuộc đời không phải chỉ là chọn nghề gì, làm ở đâu, lấy ai, sống bậc nào. Định hướng cuộc đời sâu hơn thế nhiều. Đó là chọn mình sẽ trở thành người thế nào trước mặt Chúa. Là chọn để Chúa nắn mình thành kiểu người nào. Là chọn điều gì sẽ đứng ở trung tâm cuộc sống mình. Là chọn xem linh hồn mình sẽ cúi đầu trước ai. Là chọn xem khi mọi thứ qua đi, điều gì còn lại.

Một người có thể làm bác sĩ, kỹ sư, giáo viên, doanh nhân, nghệ sĩ, linh mục, tu sĩ, người chồng, người vợ, người cha, người mẹ. Nhưng trước tất cả những vai trò ấy, người đó phải là một con người thuộc về Chúa. Nếu không, mọi vai trò đều có thể biến thành nơi phô diễn cái tôi. Một người trẻ có thể bước vào đời sống hôn nhân, nhưng nếu không đặt Chúa ở trung tâm, hôn nhân dễ biến thành cuộc thương lượng ích kỷ. Một người trẻ có thể bước vào đời tận hiến, nhưng nếu không thực sự yêu Chúa, đời tu cũng có thể trở thành một hình thức sống mà bên trong rỗng. Một người trẻ có thể có sự nghiệp đẹp, nhưng nếu linh hồn không bén rễ trong Chúa, sự nghiệp đó có thể nuôi lớn tham vọng nhiều hơn là phục vụ.

Cho nên vấn đề không chỉ là con sẽ làm gì, mà là con sẽ thuộc về ai.

Đây là câu hỏi sâu nhất. Bởi vì người ta luôn thuộc về một điều gì đó. Không ai hoàn toàn trung tính. Hoặc thuộc về Chúa, hoặc thuộc về cái tôi. Hoặc thuộc về sự thật, hoặc thuộc về ảo tưởng. Hoặc thuộc về tình yêu, hoặc thuộc về nỗi sợ. Hoặc thuộc về ánh sáng, hoặc dần dần thỏa hiệp với bóng tối. Có thể người ta không dùng những chữ ấy mỗi ngày, nhưng cả đời họ đang chứng minh họ thuộc về điều gì.

Người thuộc về Chúa không phải là người không còn yếu đuối. Nhưng là người biết quay về. Người thuộc về Chúa không phải là người không bao giờ sai. Nhưng là người không muốn sống giả. Người thuộc về Chúa không phải là người đời nào cũng suôn sẻ. Nhưng là người để cho ý Chúa lớn hơn ý riêng. Người thuộc về Chúa không phải là người chẳng còn nước mắt. Nhưng là người khóc trong tay Chúa, chứ không bỏ tay Chúa mà đi. Người thuộc về Chúa không phải là người lúc nào cũng hiểu hết đường đi. Nhưng là người dám bước ngay cả khi chưa thấy hết, vì tin Đấng dẫn mình là Đấng trung tín.

Còn người không đặt đời mình trong tay Chúa thì sao? Có khi bên ngoài họ vẫn mạnh. Vẫn tự tin. Vẫn rất làm chủ. Vẫn nghĩ mình biết rõ mình muốn gì. Nhưng sâu trong lòng luôn có một chỗ bấp bênh. Bởi vì con người không đủ lớn để làm Chúa của chính mình. Khi tự cầm lái tuyệt đối, người ta sẽ có lúc kiệt sức vì không gánh nổi chính đời mình. Khi tự quyết mọi sự mà không sống trong tương quan với Chúa, người ta sẽ dễ rơi vào kiêu ngạo lúc thành công và tuyệt vọng lúc thất bại. Người đặt đời mình trong tay mình thì cuộc đời lên xuống theo sức mình. Còn người đặt đời mình trong tay Chúa thì dù có đi qua thung lũng, bên dưới vẫn có một nền đá.

Có lẽ nhiều người trẻ chưa trao đời mình cho Chúa không phải vì xấu, mà vì chưa thật sự tin rằng Chúa tốt. Họ tin Chúa có quyền, nhưng chưa tin Chúa hiền. Họ tin Chúa đòi hỏi, nhưng chưa tin Chúa yêu. Họ tin Chúa dạy điều đúng, nhưng chưa tin rằng ý Chúa là nơi hạnh phúc sâu nhất của đời mình. Họ sợ trao vì nghĩ trao là mất. Nhưng trong Tin Mừng, mất vì Chúa mới là được. Buông cái nhỏ để nhận cái lớn. Buông ý riêng hẹp để bước vào ý định rộng của Thiên Chúa. Buông sự kiểm soát để nhận bình an. Buông lối sống hai lòng để nhận sự tự do của con cái Chúa. Buông những ngẫu tượng nhỏ để nhận chính Đấng là nguồn sự sống.

Người trẻ hôm nay cần được nói rõ một điều: đức tin không phải là món trang sức thêm vào cho cuộc đời. Đức tin không phải là một góc nhỏ cho những lúc buồn. Đức tin không phải là một nghi thức cuối tuần để rồi cả tuần sống như thể Chúa không hiện diện. Đức tin không phải là một tấm biển đạo đức để treo bên ngoài. Đức tin là quyết định để Thiên Chúa bước vào trung tâm, là để mọi chọn lựa lớn nhỏ dần được soi bởi Tin Mừng, là để Chúa không chỉ ở trên bàn thờ mà còn ở trong lịch trình, trong các mối tương quan, trong cách dùng tiền, trong cách yêu, trong cách làm việc, trong cách nghỉ ngơi, trong những ước mơ, trong những lần đau, trong tương lai, trong mọi ngã rẽ.

Khi một người trẻ thật sự đặt đời mình vào tay Chúa, có thể đời họ không bớt thử thách, nhưng sẽ bớt vô nghĩa. Có thể họ không tránh được nước mắt, nhưng nước mắt không còn vô định. Có thể họ không lập tức thấy rõ hết con đường, nhưng họ bắt đầu biết ai đang cầm tay mình. Có thể họ vẫn còn phân định, vẫn còn lo, vẫn còn phải lớn từng ngày, nhưng sâu trong lòng đã có một sự đổi khác: họ không còn sống như người mồ côi giữa cuộc đời. Họ sống như người có Cha.

Người có Cha sẽ khác. Không phải vì lúc nào cũng dễ. Nhưng vì biết rằng cuộc đời mình không phải là một tai nạn. Biết rằng mình không bị quăng vào đời một cách ngẫu nhiên. Biết rằng những khả năng mình có, những vết thương mình mang, những khao khát mình giữ, những ngã rẽ mình đi qua, tất cả đều có thể trở thành nơi Chúa hành động. Biết rằng ngay cả khi mình lạc, vẫn có đường quay về. Biết rằng ngay cả khi mình yếu, vẫn có ơn đủ dùng. Biết rằng ngay cả khi chưa rõ hết tương lai, mình vẫn có thể trung thành với ánh sáng của ngày hôm nay.

Có lẽ đây là lúc người trẻ cần dừng lại thật lâu và tự hỏi.

Mình đang sống vì ai?

Vì Chúa, hay vì cái tôi?

Vì sự thật, hay vì hình ảnh?

Vì yêu thương, hay vì sợ hãi?

Vì ơn gọi, hay vì áp lực?

Vì giá trị đời đời, hay vì những thứ mai này sẽ qua?

Mình đang làm gì với tuổi trẻ Chúa ban?

Đang xây nền hay đang đốt vốn?

Đang tập nên người hay đang tập sống giả?

Đang lớn lên trong tự do hay ngày càng lệ thuộc vào ánh mắt người khác?

Đang tập yêu cách trưởng thành hay chỉ đang bám víu vào cảm xúc?

Đang đi gần Chúa hơn hay đang chỉ giữ vẻ ngoài có đạo?

Và định hướng đời mình ra sao?

Có thật là đang phân định trước mặt Chúa không?

Hay chỉ đang chọn theo đám đông, rồi xin Chúa chúc lành sau?

Có thật là đang hỏi Chúa muốn gì không?

Hay chỉ đang cầu xin cho mình đạt điều mình đã quyết từ trước?

Có thật là sẵn sàng để Chúa cắt tỉa không?

Hay chỉ muốn giữ Chúa ở mức an ủi mà không chạm vào vùng phải hoán cải?

Những câu hỏi này không nhằm làm người trẻ sợ. Nhưng nhằm cứu họ khỏi sống nông. Bởi vì điều đáng sợ nhất không phải là phải thay đổi. Điều đáng sợ nhất là cứ để đời mình trôi đi mà chưa bao giờ sống thật. Điều đáng sợ nhất không phải là phải từ bỏ một vài điều để theo Chúa. Điều đáng sợ nhất là giữ được rất nhiều thứ mà cuối cùng đánh mất linh hồn mình. Điều đáng sợ nhất không phải là đi chậm. Điều đáng sợ nhất là đi nhanh trên một con đường sai. Điều đáng sợ nhất không phải là chưa biết hết tương lai. Điều đáng sợ nhất là không để Chúa bước vào tương lai đó.

Người trẻ thân mến, không ai còn trẻ mãi. Nhưng điều quý không nằm ở chỗ giữ tuổi trẻ lâu, mà ở chỗ dùng tuổi trẻ đúng. Có những tuổi trẻ rất rực rỡ mà sau này chỉ để lại tiếc nuối. Có những tuổi trẻ âm thầm, chiến đấu, cầu nguyện, trung tín, mà sau này nở thành một cuộc đời rất đẹp trước mặt Chúa. Không phải ai nổi bật cũng đang đi đúng. Không phải ai chậm cũng đang thua. Trong mắt Thiên Chúa, người thắng không phải là người gom được nhiều nhất, nhưng là người sống đúng nhất. Không phải là người được nhiều người biết đến nhất, mà là người để Chúa biết đến trong từng quyết định. Không phải là người luôn đứng đầu giữa thế gian, mà là người không đánh mất vị trí quỳ gối trước Chúa.

Cho nên, trước khi hỏi mình sẽ thành công ra sao, hãy hỏi mình sẽ thuộc về ai. Trước khi hỏi mình sẽ kiếm được gì, hãy hỏi mình sẽ trở thành ai. Trước khi hỏi mình có được người khác yêu mến không, hãy hỏi lòng mình có thật sự yêu Chúa không. Trước khi hỏi con đường nào sáng nhất, hãy hỏi con đường nào đúng nhất. Trước khi vẽ tương lai, hãy quỳ xuống. Trước khi quyết định chuyện lớn, hãy cầu nguyện cho sâu. Trước khi nói đời con là của con, hãy nhớ rằng đời con là hồng ân, không phải sở hữu tuyệt đối. Hồng ân thì phải được đón nhận với lòng biết ơn và sống với trách nhiệm trước Đấng ban.

Một ngày nào đó, tất cả những câu hỏi phụ sẽ rơi xuống. Người ta sẽ không còn hỏi bạn kiếm được bao nhiêu, nổi tiếng ra sao, được bao người khen, được mấy lần thành công. Trước mặt Chúa, những gì hào nhoáng sẽ lặng đi. Và khi ấy, chỉ còn lại một điều thật: con đã sống đời con như thế nào? Con đã dùng tuổi trẻ Ta ban để làm gì? Con đã yêu ai? Con đã phục vụ ai? Con đã trung thành với ánh sáng nào? Con đã để Ta dẫn con tới đâu? Con có thật sự đặt cuộc đời mình vào tay Ta không?

Ước gì người trẻ đừng chờ đến lúc mệt quá mới quay về hỏi những câu đó. Đừng chờ đến lúc vỡ ra mới nhận mình đã đi lạc rất xa. Đừng chờ đến khi đánh mất bình an mới nhận ra lâu nay mình sống không có gốc. Đừng chờ đến lúc những đổ vỡ xảy ra mới nhớ rằng mình đã lâu không hỏi Chúa.

Hãy hỏi ngay từ bây giờ.

Khi còn đang trẻ.

Khi còn có thể sửa hướng.

Khi tim còn nóng.

Khi tương lai còn mở.

Khi ơn Chúa vẫn đang gõ rất nhẹ mà rất thật nơi lòng mình.

Và có lẽ lời cầu nguyện đẹp nhất cho một người trẻ không phải là: “Lạy Chúa, xin cho con thành công theo ý con”, mà là: “Lạy Chúa, xin cho con đừng sống uổng tuổi trẻ. Xin cho con biết mình đang sống vì ai. Xin cho con đừng chạy nhanh hơn tiếng Chúa. Xin cho con đừng lấy những thứ chóng qua làm trung tâm đời mình. Xin cho con biết dừng lại, biết lắng nghe, biết hoán cải, biết phân định. Xin cho con dám trao cuộc đời con cho Chúa, không phải một phần, nhưng là trọn vẹn. Xin dạy con sống sao để khi nhìn lại, con không phải xấu hổ vì đã chỉ sống cho mình. Xin làm cho tuổi trẻ của con trở thành một lời đáp trả đẹp đối với tình yêu của Chúa.”

Và từ lời cầu nguyện ấy, một cuộc đời mới có thể bắt đầu.

Không phải bắt đầu bằng tiếng ồn.

Mà bắt đầu bằng một sự thật.

Rằng tôi không muốn sống tiếp như một người chỉ tồn tại.

Tôi muốn sống như một người biết mình thuộc về ai.

Tôi muốn sống như một người có định hướng.

Tôi muốn sống như một người đặt đời mình trong tay Thiên Chúa.

Tôi muốn tuổi trẻ của tôi không chỉ bận rộn, mà có ý nghĩa.

Tôi muốn sau tất cả, cuộc đời tôi không chỉ là một chuỗi ngày đã qua, mà là một hành trình đã được dâng lên.

Đó là lúc một người trẻ thực sự bắt đầu trưởng thành.

Không phải khi họ có nhiều hơn.

Mà khi họ biết trao mình cho Đấng lớn hơn chính mình.

Không phải khi họ nắm chặt mọi thứ.

Mà khi họ học buông tay vào tay Chúa.

Không phải khi họ thôi sợ hoàn toàn.

Mà khi đang sợ vẫn dám thưa: “Xin vâng.”

CHƯƠNG 1

NỖI LẠC LỐI ÂM THẦM CỦA NGƯỜI TRẺ HÔM NAY

Có những người trẻ không hư.

Không sa ngã công khai. Không làm điều gì quá tệ trước mắt người khác. Không gây scandal. Không sống buông thả đến mức ai nhìn vào cũng phải lắc đầu. Họ vẫn đi học, vẫn đi làm, vẫn cười nói, vẫn sinh hoạt, vẫn có mặt trong những cuộc hẹn, vẫn đăng vài tấm hình đẹp, vẫn viết vài dòng trạng thái nghe có vẻ tích cực, vẫn thỉnh thoảng đi lễ, vẫn giữ được một số điều căn bản khiến người chung quanh nghĩ rằng: chắc nó vẫn ổn.

Nhưng chỉ có chính họ mới biết trong lòng mình có một thứ đang âm thầm gãy.

Không hẳn là gãy vì một biến cố lớn. Không hẳn là vì vừa mất đi ai đó. Không hẳn là vì vừa trải qua một thất bại nặng nề. Có khi chẳng có gì quá kịch tính. Mọi thứ vẫn đang diễn ra bình thường. Chính cái bình thường đó mới đáng sợ. Vì người ta có thể lạc đường không phải trong một cơn bão, mà ngay trên một con đường bằng phẳng. Người ta có thể đánh mất chính mình không phải trong một cú ngã quá mạnh, mà trong vô số ngày sống qua loa. Người ta có thể đi xa khỏi Thiên Chúa không phải vì công khai chống lại Người, mà vì từ từ sống như thể Người không còn thật sự cần thiết nữa.

Nỗi lạc lối âm thầm của người trẻ hôm nay thường bắt đầu như thế. Không ồn ào. Không đột ngột. Không dễ nhận ra. Nó len vào đời như sương mù. Không ai nghe được tiếng nó đến. Nhưng rồi một ngày, người trẻ nhìn lại và nhận ra lòng mình mờ quá. Định hướng mờ. Tình yêu mờ. Đức tin mờ. Lý do sống mờ. Tương lai mờ. Cả chính mình cũng mờ.

Và điều đau nhất là có những người sống trong tình trạng đó rất lâu mà không gọi đúng tên nó. Họ chỉ nói là mình hơi mệt. Hơi chán. Hơi trống. Hơi mất lửa. Hơi rối. Hơi áp lực. Hơi cần nghỉ ngơi. Nhưng thật ra phía dưới tất cả những chữ “hơi” ấy là một cuộc khủng hoảng sâu hơn nhiều: linh hồn đang lạc hướng.

Nhiều người trẻ hôm nay đang sống trong một thế giới đầy đường đi mà rất thiếu phương hướng. Càng nhiều lựa chọn, người ta càng tưởng mình tự do. Nhưng không hẳn. Có những lúc nhiều lựa chọn không làm người ta tự do hơn, mà làm họ rối hơn. Mở điện thoại ra là thấy cả ngàn cách sống. Ngàn kiểu thành công. Ngàn mẫu người lý tưởng. Ngàn lời khuyên trái ngược nhau. Người này bảo hãy liều. Người kia bảo hãy an toàn. Người này bảo sống cho mình. Người kia bảo hy sinh. Người này bảo kiếm tiền trước. Người kia bảo theo đuổi đam mê. Người này bảo yêu đi kẻo lỡ. Người kia bảo độc thân mới là tự do. Người này dạy chữa lành. Người kia dạy bứt phá. Người này nói về bình an. Người kia nói về tham vọng. Người này bảo cứ là chính mình. Người kia lại bảo phải thay đổi để phù hợp với thế giới.

Người trẻ đứng giữa quá nhiều tiếng gọi, đến mức không còn biết tiếng nào là tiếng thật. Và vì không biết tiếng nào là tiếng thật, họ dần sống theo tiếng nào mạnh hơn, hấp dẫn hơn, dễ chịu hơn, hoặc đỡ đau hơn trong lúc này. Nhưng điều dễ chịu trước mắt không phải lúc nào cũng cứu được tương lai. Điều hấp dẫn ngay bây giờ không phải lúc nào cũng dẫn tới sự sống. Có những con đường nhìn rất sáng ở đầu lối vào, nhưng đi càng sâu càng tối. Có những chọn lựa làm người ta thấy hưng phấn một thời gian, nhưng rồi để lại một khoảng trống rất dài.

Người trẻ hôm nay mệt vì bị kéo về quá nhiều hướng. Và đằng sau sự bị kéo ấy là một sự thật khác: họ chưa thật sự có một cái gốc đủ sâu để đứng vững.

Một cái cây không chết ngay khi thiếu gốc. Nó vẫn xanh được một thời gian. Nhưng đến mùa gió lớn, nó lộ ra vấn đề. Nhiều người trẻ cũng thế. Khi mọi thứ còn thuận lợi, còn được chống đỡ bởi tuổi trẻ, bởi sức khỏe, bởi một chút thông minh, bởi vài mối quan hệ, bởi cảm hứng, họ tưởng mình vẫn ổn. Nhưng khi bắt đầu bị từ chối, bị thất bại, bị phản bội, bị so sánh, bị áp lực, bị cô đơn, bị hỏi về tương lai, bị đòi phải trưởng thành, bị buộc phải quyết định một điều gì đó thật sự quan trọng, thì họ lộ ra rằng mình không đứng vững như mình nghĩ.

Vì bên trong chưa có gốc.

Không có gốc cầu nguyện.

Không có gốc chân lý.

Không có gốc căn tính.

Không có gốc kỷ luật.

Không có gốc tương quan thật với Thiên Chúa.

Không có gốc của một đời sống nội tâm được chăm sóc.

Thế là họ sống bằng điều gì? Bằng cảm xúc. Bằng phản ứng. Bằng sự công nhận của người khác. Bằng những đợt hưng phấn ngắn. Bằng sự phân tán liên tục. Bằng việc lấp đầy lịch trình để không phải đối diện với chính mình. Bằng việc giữ cho mình luôn có gì đó để làm, gì đó để xem, gì đó để nghe, gì đó để bám vào, vì sợ nếu không còn tiếng ồn thì mình sẽ phải nghe tiếng rỗng của lòng mình.

Có một nỗi sợ rất sâu nơi nhiều người trẻ hôm nay: sợ ở một mình với chính mình.

Họ không nói ra đâu. Nhưng họ sợ. Sợ ngồi yên. Sợ im lặng. Sợ không có ai nhắn tin. Sợ không ai nhớ đến. Sợ một ngày không có gì để đăng. Sợ không được cần đến. Sợ không được chú ý. Sợ mình bình thường. Sợ mình không đặc biệt. Sợ mình sống mà chẳng để lại dấu vết gì. Sợ mình không bằng ai. Sợ mình đang chậm hơn người khác. Sợ tương lai mờ mịt. Sợ mình chọn sai. Sợ mình đi trễ. Sợ mình không có ai để tựa. Sợ ngay cả khi có nhiều người xung quanh, bên trong mình vẫn không có nhà.

Nỗi sợ ấy làm người trẻ chạy. Không phải lúc nào cũng chạy bằng chân. Có khi chạy bằng tâm trí. Chạy qua hết ứng dụng này đến video khác. Chạy từ cuộc trò chuyện này sang cuộc hẹn khác. Chạy từ mục tiêu này sang dự định khác. Chạy từ một phiên bản bản thân sang một phiên bản khác. Chạy cho tới khi chính mình cũng không còn biết đâu là điều mình thực sự muốn, đâu là điều mình chỉ đang làm vì sợ đứng lại.

Nhưng trớ trêu thay, người chạy quá lâu thường không còn cảm giác là mình đang chạy. Họ gọi đó là sống bình thường. Họ gọi đó là nhịp sống hiện đại. Họ gọi đó là bận. Họ gọi đó là tuổi trẻ mà. Họ gọi đó là ai cũng vậy thôi. Họ gọi đó là cần linh hoạt. Họ gọi đó là đang cố gắng. Và có khi đúng là họ đang cố gắng thật. Nhưng không phải mọi cố gắng đều đưa người ta đến đúng nơi. Có những cố gắng chỉ làm người ta mệt thêm vì nó không xuất phát từ một hướng đi sáng rõ.

Lạc lối âm thầm là khi đời mình vẫn đầy chuyển động nhưng bên trong không có trung tâm.

Lạc lối âm thầm là khi mình vẫn cười được nhưng niềm vui rất mỏng.

Lạc lối âm thầm là khi mình vẫn cầu nguyện đôi chút nhưng không còn khao khát gặp Chúa.

Lạc lối âm thầm là khi mình vẫn giữ một số thói quen đạo đức nhưng trái tim không còn cháy.

Lạc lối âm thầm là khi mình không hoàn toàn bỏ Chúa, nhưng cũng không thật sự để Chúa làm Chủ.

Lạc lối âm thầm là khi mình không sa ngã rõ ràng, nhưng mỗi ngày lại bớt trung thực với linh hồn mình một chút.

Lạc lối âm thầm là khi mình bắt đầu quen với một đời sống nửa nạc nửa mỡ: không đủ tội lỗi để thấy mình cần hoán cải, nhưng cũng không đủ thuộc về Chúa để sống bình an.

Đây mới là vùng nguy hiểm nhất. Bởi vì những người sa ngã nặng đôi khi dễ tỉnh ra hơn. Họ đau rõ. Họ thấy đổ vỡ rõ. Họ biết mình đang có vấn đề. Còn những người trẻ lạc âm thầm thì vẫn sống được, vẫn hoạt động được, vẫn được khen là ngoan, là có tương lai, là ổn định. Chính vì vậy mà họ dễ kéo dài tình trạng ấy hơn. Linh hồn vẫn thiếu mà không kêu lớn. Trái tim vẫn lệch mà chưa đổ vỡ ngay. Đức tin vẫn nguội mà chưa tắt hẳn. Thế là người ta tiếp tục sống, tiếp tục trì hoãn, tiếp tục hứa rằng rồi mình sẽ sống sâu hơn sau này.

Nhưng “sau này” là một trong những cái bẫy nguy hiểm nhất của ma quỷ đối với người trẻ.

Sau này con sẽ cầu nguyện nghiêm túc hơn.

Sau này con sẽ bỏ thói quen xấu này.

Sau này con sẽ đọc Lời Chúa đều hơn.

Sau này con sẽ xét lại các mối quan hệ.

Sau này con sẽ sống kỷ luật.

Sau này con sẽ bớt sống ảo.

Sau này con sẽ dành thời gian cho gia đình.

Sau này con sẽ phân định ơn gọi.

Sau này con sẽ hỏi Chúa con nên đi đường nào.

Nhưng rất nhiều đời người bị đánh cắp không phải bằng sự dữ quá rõ, mà bằng sự trì hoãn kéo dài. Không phải bằng một cú phản bội lớn, mà bằng vô số lần hẹn lại với điều phải làm. Không phải bằng một lời từ chối Thiên Chúa thẳng thừng, mà bằng lối sống cứ để Người đứng ngoài cánh cửa thêm một thời gian nữa.

Người trẻ hôm nay còn lạc lối âm thầm vì họ lớn lên trong một nền văn hóa quá coi trọng hình ảnh. Người ta học rất nhanh cách làm cho cuộc sống của mình trông có vẻ tốt. Trông có vẻ vui. Trông có vẻ sâu sắc. Trông có vẻ thành công. Trông có vẻ yêu đời. Trông có vẻ mạnh mẽ. Trông có vẻ tự do. Nhưng “trông có vẻ” không phải là “thật”. Và khi sống quá lâu trong việc quản lý hình ảnh, người ta dần không còn can đảm để sống thật nữa.

Có những người trẻ đăng những câu rất đẹp về bình an nhưng nhiều đêm không ngủ được.

Có những người trẻ nói rất hay về chữa lành nhưng vẫn chưa dám chạm tới vết thương thật của mình.

Có những người trẻ chia sẻ rất nhiều về đức tin nhưng riêng họ lại lâu rồi không có một giờ cầu nguyện tử tế.

Có những người trẻ phục vụ rất hăng nhưng khi về đến phòng thì trống rỗng.

Có những người trẻ xuất hiện rất sáng trong cộng đoàn nhưng thẳm sâu lại đầy cô đơn.

Có những người trẻ được nhiều người ngưỡng mộ nhưng bản thân họ không còn biết mình thật sự là ai ngoài ánh nhìn của đám đông.

Sống quá lâu trong việc làm cho mình “trông có vẻ” ổn sẽ khiến người ta kiệt sức. Vì để duy trì một hình ảnh luôn cần năng lượng. Luôn phải chỉnh. Luôn phải đỡ. Luôn phải che. Luôn phải giữ. Nhưng đời sống thật thì không thể được xây bằng việc diễn. Người ta có thể diễn trước người đời, chứ không thể diễn mãi trước lương tâm. Cũng không thể diễn trước mặt Thiên Chúa.

Điều buồn là nhiều người trẻ ngày nay không còn quen gọi tên lương tâm. Họ gọi đó là tâm trạng. Họ gọi đó là năng lượng. Họ gọi đó là mood. Họ gọi đó là cảm giác tích cực hay tiêu cực. Nhưng lương tâm không chỉ là cảm giác. Lương tâm là nơi con người biết điều gì đang đúng, điều gì đang sai, điều gì đang lệch, điều gì đang cần đổi. Một người trẻ đánh mất tương quan với lương tâm thì rất dễ đánh mất tương quan với sự thật. Và khi không còn sống trong sự thật, người ta sẽ bắt đầu thỏa hiệp với chính mình.

Ban đầu là những thỏa hiệp nhỏ thôi.

Một chút nói dối để tránh phiền.

Một chút giả tạo để được yêu mến hơn.

Một chút lười biếng nhưng tự bào chữa bằng chữ “mệt”.

Một chút buông thả nhưng gọi là “thư giãn”.

Một chút gần dịp tội nhưng tự trấn an là mình biết điểm dừng.

Một chút bỏ cầu nguyện vì hôm nay bận.

Một chút nguội lạnh với Thánh lễ vì thấy không còn cảm xúc.

Một chút chiều mình trong các mối quan hệ thiếu lành mạnh vì sợ mất người kia.

Một chút để điện thoại chiếm trọn thời gian vì không biết đối diện khoảng trống ra sao.

Một chút sống theo số đông để đỡ bị lạc lõng.

Nhưng chính những “một chút” ấy, nếu kéo dài, sẽ dần làm đổi hướng đời người. Linh hồn không lệch vì một ngày. Nó lệch vì thói quen. Một con tim không khô dần vì một biến cố. Nó khô vì không còn được tưới. Một ơn gọi không nguội vì một cơn chán thoáng qua. Nó nguội vì đã quá lâu không được đặt lại trong ánh sáng của Chúa.

Người trẻ hôm nay cũng lạc lối âm thầm vì có quá nhiều thứ khiến họ mất khả năng đi sâu. Cái gì cũng nhanh. Tin nhắn nhanh. Video nhanh. Cảm xúc nhanh. Phán xét nhanh. Quen biết nhanh. Chán nhau nhanh. Bắt đầu nhanh. Bỏ cuộc cũng nhanh. Mọi thứ như được kéo về phía tức thời. Người ta khó chờ, khó bền, khó ở lại, khó đào sâu, khó nhẫn nại với một tiến trình dài. Nhưng những điều đẹp nhất trong đời sống thiêng liêng và đời sống con người lại luôn cần thời gian.

Một nhân cách vững không được xây trong vài hôm.

Một tương quan với Chúa sâu không được sinh ra từ vài phút hứng khởi.

Một tình yêu trưởng thành không nở từ những rung động nhất thời.

Một ơn gọi rõ không xuất hiện chỉ nhờ vài lần xúc động trong một buổi cầu nguyện lớn.

Một tâm hồn tự do không được tạo nên chỉ bằng vài câu truyền cảm hứng.

Tất cả cần một hành trình dài của trung tín. Của ở lại. Của làm điều đúng ngay cả khi không thấy gì rực rỡ. Của tiếp tục cầu nguyện ngay cả khi khô khan. Của tiếp tục sống trong sạch ngay cả khi ai cũng bảo mình cổ hủ. Của tiếp tục giữ kỷ luật ngay cả khi không ai nhìn thấy. Của tiếp tục sống thật ngay cả khi giả tạo có vẻ đem lại nhiều lợi thế hơn.

Nhưng vì bị cuốn vào nhịp sống quá nhanh, nhiều người trẻ mất dần khả năng trung tín với tiến trình. Họ muốn thấy kết quả liền. Muốn rõ liền. Muốn nhẹ liền. Muốn được an ủi liền. Muốn khỏi đau liền. Muốn thành công liền. Muốn lời cầu nguyện có cảm xúc liền. Muốn phân định xong liền. Muốn đi một khóa học rồi về sống sâu liền. Muốn nghe một bài giảng rồi lòng đổi khác liền. Muốn đọc một cuốn sách rồi trở thành con người mới liền.

Nhưng Thiên Chúa thường làm việc theo kiểu khác. Người gieo. Người chờ. Người tưới. Người cắt tỉa. Người thanh luyện. Người để con người lớn lên từng chút một trong sự thật. Người không nuông chiều sự nôn nóng của cái tôi. Người không đáp ứng tham vọng chóng thành của ta. Người yêu đủ sâu để không cho ta loại trưởng thành giả.

Và vì không quen với tiến trình đó, nhiều người trẻ nản ngay khi không thấy kết quả nhanh. Họ nghĩ cầu nguyện không hiệu quả. Họ nghĩ mình không hợp đời sống nội tâm. Họ nghĩ đức tin không còn chạm tới mình. Họ nghĩ ơn gọi là chuyện dành cho ai đó đặc biệt hơn. Họ nghĩ mình cứ sống sao cũng được. Nhưng thật ra không phải Chúa không làm việc. Có khi chỉ là lòng họ đã quá quen với nhịp của thế gian nên không còn nhận ra nhịp của ân sủng.

Có một dạng lạc lối nữa rất phổ biến nơi người trẻ: lạc lối trong chính sự thành công của mình.

Không phải cứ đau khổ mới lạc. Có những người lạc ngay trong lúc mọi thứ đang lên. Học hành tốt. Công việc ổn. Thu nhập khá. Quan hệ rộng. Được tin tưởng. Được mến mộ. Được xem là có tiềm năng. Nhưng chính lúc đó họ bắt đầu ít cầu nguyện hơn. Bắt đầu ít lệ thuộc vào Chúa hơn. Bắt đầu nghĩ rằng chắc mình tự xoay được. Bắt đầu để tham vọng định nghĩa giá trị của mình. Bắt đầu coi việc sống thiêng liêng như một phần phụ. Bắt đầu đo đời mình bằng hiệu suất. Bắt đầu đánh giá người khác bằng thành tích. Bắt đầu cầu nguyện ít đi nhưng phân tích nhiều hơn. Bắt đầu bận với việc xây tên tuổi hơn là xây linh hồn.

Sự thành công không sai. Nhưng nó rất dễ trở thành thuốc mê. Người đau thì dễ cầu nguyện hơn người đang lên. Người vừa thất bại dễ quỳ xuống hơn người đang được tán dương. Người đang mất phương hướng rõ ràng đôi khi lại gần Thiên Chúa hơn người đang tưởng mình nắm chắc tay lái. Vì thế, có những người trẻ lạc không phải khi họ yếu, mà khi họ mạnh. Lạc vì nghĩ mình đủ. Lạc vì lòng từ từ cứng lại trong sự tự mãn. Lạc vì vẫn còn gọi tên Chúa nhưng đã không còn thật sự cần Người.

Lại có những người trẻ lạc trong tình yêu.

Họ khao khát yêu và được yêu. Điều đó rất đẹp. Thiên Chúa dựng nên trái tim con người để biết ra khỏi mình mà trao ban. Nhưng vì trái tim chưa được huấn luyện, chưa được chữa lành, chưa được đặt trong ánh sáng sự thật, nên nhiều người gọi là yêu trong khi thật ra chỉ là nương tựa, là chiếm hữu, là lấp khoảng trống, là sợ cô đơn, là cần ai đó xác nhận giá trị của mình. Thế là họ yêu mà lạc hơn. Gắn bó mà mất mình hơn. Bước vào mối quan hệ mà càng ngày càng xa Chúa hơn. Có người trước khi yêu thì còn siêng năng cầu nguyện, sau khi yêu thì chỉ còn xoay quanh người kia. Có người trước khi yêu còn phân định ơn gọi, sau khi yêu thì mọi câu hỏi lớn bị chìm xuống vì cảm xúc quá mạnh. Có người biết mối quan hệ đó không lành, không sáng, không sạch, nhưng vẫn kéo dài vì sợ mất.

Một người trẻ lạc trong tình yêu thường không nhận mình lạc. Vì họ có cảm giác mình đang sống rất mãnh liệt. Nhưng sống mãnh liệt không đồng nghĩa với sống đúng. Có những lửa không phải từ trời. Có những nồng nhiệt không dẫn đến trưởng thành mà chỉ dẫn đến lệ thuộc. Có những mối quan hệ bắt đầu bằng rất nhiều lời đẹp nhưng dần dần bào mòn phẩm giá, làm yếu đời sống thiêng liêng, làm mất tự do nội tâm, làm người ta sống trong chập chờn, lo âu, giấu giếm, đòi hỏi, bất an. Và điều đáng sợ là người trẻ có thể nhầm sự cồn cào với tình yêu, nhầm sự ám ảnh với gắn bó, nhầm việc không sống nổi thiếu một người với việc mình đã gặp đúng người.

Người trẻ hôm nay cũng lạc lối trong cách họ nhìn chính mình.

Có người tự cao, nhưng đó chỉ là lớp vỏ. Có người tự ti, nhưng tự ti của họ cũng là một cách bị ám ảnh bởi chính mình. Dù là tự tôn hay tự ti, trung tâm vẫn là cái tôi. Có người cả ngày nghĩ mình không đủ đẹp, không đủ giỏi, không đủ nổi bật, không đủ thú vị, không đủ sâu sắc, không đủ hấp dẫn, không đủ thành công. Có người luôn mang trong lòng một cuộc so sánh âm thầm với bạn bè đồng trang lứa. Thấy người khác có người yêu thì sốt ruột. Thấy người khác đi xa thì thấy mình chậm. Thấy người khác có tiền thì thấy mình kém. Thấy người khác phục vụ giỏi thì thấy mình vô dụng. Thấy người khác cầu nguyện sốt sắng thì thấy mình tệ. Thấy người khác có vẻ rõ ơn gọi thì thấy mình mù mịt. Thế là cả một tuổi trẻ bị hút vào chiếc gương soi bản thân, đến nỗi không còn ngẩng lên nhìn Thiên Chúa nữa.

Nhưng chỉ khi ngẩng lên nhìn Chúa, con người mới nhìn mình đúng. Không phải để khinh mình. Cũng không phải để thần tượng mình. Mà để thấy mình là thụ tạo được yêu, được gọi, được nắn, được chờ đợi, được thanh luyện. Người không nhìn mình trong ánh sáng Chúa thì rất dễ hoặc kiêu ngạo, hoặc mặc cảm. Còn người nhìn mình trong ánh sáng Chúa sẽ biết vừa khiêm nhường vừa bình an. Biết mình có giới hạn, nhưng không ghét mình. Biết mình có quà tặng, nhưng không tôn thờ mình. Biết mình cần lớn lên, nhưng không tuyệt vọng.

Một dấu hiệu rất rõ của nỗi lạc lối âm thầm là người trẻ ngày càng khó cầu nguyện thật. Không phải không đọc kinh. Không phải không tới nhà thờ. Nhưng khó thật. Khó ngồi xuống lâu với Chúa. Khó nói thật. Khó im lặng. Khó mở lòng về những gì mình đang sợ, đang muốn, đang vấp, đang bị kéo. Khó đặt câu hỏi lớn với Chúa rồi kiên nhẫn chờ. Khó ở lại với Lời Chúa khi Lời đó chạm đúng vùng mình chưa muốn đổi. Khó thú nhận rằng bên trong mình không ổn. Khó quỳ xuống với sự nghèo thật của linh hồn.

Tại sao? Vì cầu nguyện thật luôn đưa con người vào sự thật. Mà người đang lạc âm thầm lại thường sợ sự thật. Không phải họ không yêu Chúa đâu. Nhưng họ sợ nếu bước sâu vào cầu nguyện, họ sẽ phải đối diện với điều gì đó đang lệch. Sẽ phải bỏ bớt điều gì đó mình đang bám. Sẽ phải dừng lại một nhịp sống mình đã quen. Sẽ phải nhìn nhận rằng lâu nay mình sống nông hơn mình tưởng. Sẽ phải thôi đổ lỗi cho hoàn cảnh và nhận lấy trách nhiệm với linh hồn mình. Cho nên họ thà cầu nguyện sơ sơ hơn là để Chúa chạm sâu.

Nhưng chính sự tránh né ấy làm nỗi lạc lối kéo dài.

Thiên Chúa không bỏ người trẻ. Không bao giờ. Có thể họ nguội, nhưng Chúa không nguội. Có thể họ lơ là, nhưng Chúa không quên. Có thể họ chạy, nhưng mắt Chúa vẫn dõi theo. Có thể họ thấy mình hỗn độn, nhưng Chúa không mệt vì sự hỗn độn đó. Vấn đề không nằm ở chỗ Chúa đã ngừng gọi. Vấn đề nằm ở chỗ người trẻ có dám ngừng trốn không.

Nhiều người trẻ tưởng điều mình cần nhất lúc này là một câu trả lời về tương lai. Nhưng chưa chắc. Có khi điều họ cần hơn cả là dừng lại đủ lâu để nhận ra mình đang ở đâu trong tương quan với Thiên Chúa. Vì khi tương quan đó đúng lại, nhiều thứ khác sẽ dần sáng hơn. Không phải sáng ngay lập tức. Nhưng sáng thật. Còn nếu tương quan đó vẫn lệch, thì dù có chọn đúng nghề, đúng môi trường, đúng người, lòng vẫn có thể không yên. Vì sự lạc sâu nhất không phải là lạc nghề, mà là lạc khỏi trung tâm của đời mình là Thiên Chúa.

Người trẻ hôm nay không thiếu thông tin. Họ thiếu sự quy hướng. Không thiếu lời khuyên. Họ thiếu đời sống nội tâm. Không thiếu khả năng kết nối. Họ thiếu hiệp thông thật. Không thiếu cơ hội thể hiện. Họ thiếu khả năng quỳ xuống. Không thiếu những thứ làm mình bận. Họ thiếu điều làm mình sống.

Và bởi vậy, nỗi lạc lối âm thầm không được chữa chỉ bằng việc đổi việc, đổi chỗ ở, đổi môi trường, đổi người yêu, đổi nhóm bạn, đổi kế hoạch. Những thứ ấy có thể cần ở một số trường hợp. Nhưng nếu cái gốc không được chạm, người ta sẽ mang sự lạc của mình vào mọi nơi mới. Đổi chỗ nhưng không đổi lòng thì sự rối vẫn theo. Cắt một mối quan hệ nhưng không chữa cách mình yêu thì rồi cũng lặp lại. Bỏ một môi trường xấu nhưng không xây kỷ luật nội tâm thì rồi vẫn ngã bằng cách khác. Chọn một hướng mới mà không đặt lại đời mình trước mặt Chúa thì có khi chỉ là một cách xoay vòng khác của cùng một sự bấp bênh.

Điều người trẻ cần không chỉ là một khởi đầu mới. Họ cần một trái tim mới. Một ánh nhìn mới. Một thứ tự ưu tiên mới. Một tương quan mới với thời gian, với thành công, với đau khổ, với tình yêu, với chính mình, với Thiên Chúa. Họ cần học lại cách sống từ bên trong chứ không chỉ sắp xếp lại bên ngoài.

Nỗi lạc lối âm thầm của người trẻ hôm nay, nói cho cùng, là nỗi lạc của một trái tim không còn chắc mình thuộc về ai. Và khi không còn chắc mình thuộc về ai, người ta sẽ dễ trao mình cho bất cứ thứ gì hứa hẹn cho họ cảm giác có giá trị: một mối tình, một nhóm bạn, một lý tưởng, một công việc, một giấc mơ, một hình ảnh đẹp, một đám đông tung hô, một thói quen gây nghiện, một thành công nhất thời, một cơn say cảm xúc. Nhưng không có điều gì trong số đó đủ lớn để đỡ cả linh hồn con người. Chỉ Thiên Chúa mới đủ rộng cho trái tim người trẻ nghỉ yên.

Vì thế, chữa nỗi lạc lối âm thầm không bắt đầu bằng việc trách bản thân. Cũng không bắt đầu bằng những lời hứa hùng hồn. Nó bắt đầu bằng sự thành thật. Thành thật mà nói: con đang lạc. Không cần kịch tính. Không cần bi thương hóa. Chỉ cần thật. Con đang sống phân tán. Con đang cầu nguyện hời hợt. Con đang sợ đối diện với đời mình. Con đang để ánh mắt người khác chi phối quá nhiều. Con đang trì hoãn điều con biết mình phải làm. Con đang mất gốc dần. Con đang yêu không đúng cách. Con đang bận nhưng không sống. Con đang ở gần nhiều người nhưng xa Chúa. Con đang mang danh có đức tin nhưng lâu rồi không thật sự đặt đời mình trong tay Chúa.

Sự thật ấy đau. Nhưng là nỗi đau sạch. Đau để tỉnh. Đau để quay lại. Đau để bắt đầu lớn lên. Không ai được cứu bằng việc tiếp tục tự ru ngủ mình. Không ai được dẫn đường khi cứ khăng khăng nói rằng mình không lạc. Người con hoang đàng chỉ bắt đầu trở về khi anh “hồi tâm”. Nghĩa là khi anh thôi kể những câu chuyện giả cho chính mình và nhìn nhận tình trạng thật của mình.

Người trẻ hôm nay rất cần những phút “hồi tâm” như thế.

Những phút không đăng gì cả.

Không trả lời ai cả.

Không cố tỏ ra gì cả.

Chỉ ngồi đó trước mặt Chúa.

Nhìn vào lòng mình.

Nghe sự mệt thật.

Nghe nỗi sợ thật.

Nghe cả sự trống thật.

Rồi nói với Chúa bằng một giọng rất thật: “Con không muốn sống như thế này mãi.”

Đó là lúc ánh sáng bắt đầu lọt vào.

Không phải khi người trẻ trả lời hết mọi câu hỏi.

Mà khi họ ngừng trốn câu hỏi lớn nhất.

Tôi đang sống thế nào?

Tôi đang thuộc về ai?

Tôi còn để Chúa dẫn đời tôi không?

Hay tôi chỉ đang tồn tại trong một vòng quay mà mỗi ngày làm linh hồn mình cạn thêm một chút?

Người trẻ thân mến, lạc lối không phải là dấu chấm hết. Nhưng không nhìn nhận mình lạc mới nguy hiểm. Và có lẽ ân sủng đầu tiên của Chương Một này không phải là cho bạn một bản đồ ngay, nhưng là cho bạn đủ can đảm để thú nhận rằng bạn cần bản đồ. Không phải là cho bạn thấy hết con đường phía trước, nhưng là kéo bạn ra khỏi ảo tưởng rằng bạn vẫn đang ổn trong khi lòng mình đang lệch. Không phải là bắt bạn phải mạnh lên ngay, nhưng là mời bạn mở cửa cho Thiên Chúa bước vào đúng nơi bạn đang hỗn độn.

Chính ở đó, hành trình mới bắt đầu.

Không phải từ thành công.

Không phải từ cảm hứng.

Không phải từ việc bạn đã khá hơn người khác.

Mà từ một lời thú nhận rất nhỏ, rất nghèo, nhưng rất thật:

“Lạy Chúa, có lẽ con đã lạc lâu rồi. Xin dẫn con về.”

Và nếu người trẻ dám nói lời đó từ đáy lòng, thì dù hiện tại còn rối, dù tương lai chưa sáng, dù nhiều câu hỏi còn bỏ ngỏ, một điều đã bắt đầu đổi khác rồi: họ không còn lạc một mình nữa.

CHƯƠNG 2

NGƯỜI TRẺ ĐANG ĐÁNH MẤT CHÍNH MÌNH GIỮA QUÁ NHIỀU TIẾNG GỌI CỦA THẾ GIAN

Có một sự thật rất buồn là nhiều người trẻ hôm nay không đánh mất mình trong một biến cố lớn, nhưng đánh mất mình giữa những tiếng gọi nhỏ lẻ, lặp đi lặp lại mỗi ngày.

Không phải một cơn bão quật ngã ngay.

Mà là hàng ngàn cơn gió nhỏ thổi lệch hướng.

Không phải một quyết định sai duy nhất làm hỏng đời.

Mà là vô số những nhượng bộ âm thầm, những chiều theo nho nhỏ, những lần để lòng mình bị kéo đi mà không kịp nhận ra.

Người trẻ không phải chỉ sống trong một thế giới có nhiều lựa chọn. Người trẻ đang sống trong một thế giới mà gần như mọi thứ đều đang gọi họ. Mỗi màn hình là một tiếng gọi. Mỗi trào lưu là một tiếng gọi. Mỗi khuôn mẫu thành công là một tiếng gọi. Mỗi lời khen chê là một tiếng gọi. Mỗi nỗi sợ tụt lại là một tiếng gọi. Mỗi cơn cám dỗ của hưởng thụ, của hình ảnh, của tiền bạc, của quyền lực, của cảm xúc, của tình yêu vội vàng, của tự do không biên giới, của cái tôi muốn được thỏa mãn ngay lập tức, tất cả đều là những tiếng gọi.

Vấn đề không chỉ là thế gian đang gọi.

Vấn đề là nhiều người trẻ không còn biết tiếng nào nên nghe, tiếng nào phải lọc, tiếng nào phải từ chối, tiếng nào chỉ nên nhìn qua chứ không được để nó bước vào trung tâm đời sống mình.

Thế là họ cứ mở lòng ra cho tất cả.

Mở mắt cho tất cả.

Mở trí cho tất cả.

Mở cảm xúc cho tất cả.

Và cuối cùng, điều đáng sợ nhất xảy ra: họ không còn giữ được một cõi lòng đủ sạch để nghe tiếng Chúa.

Một trái tim bị quá nhiều tiếng nói xâm chiếm thì sẽ rất khó nhận ra giọng nói của Đấng chăn chiên. Không phải vì Chúa im lặng. Nhưng vì trong lòng người trẻ đã có quá nhiều tiếng chen nhau. Tiếng của tham vọng. Tiếng của dục vọng. Tiếng của tự ái. Tiếng của đám đông. Tiếng của nỗi sợ. Tiếng của ký ức tổn thương. Tiếng của thói so sánh. Tiếng của ham muốn được nổi bật. Tiếng của nhu cầu được công nhận. Tiếng của những lời hứa hẹn đầy màu sắc mà rỗng nội dung.

Có những ngày người trẻ vừa thức dậy là đã bị gọi rồi.

Điện thoại gọi.

Tin nhắn gọi.

Thông báo gọi.

Công việc gọi.

Bài vở gọi.

Người mình đang thích gọi.

Nỗi lo tài chính gọi.

Một video hấp dẫn gọi.

Một hình ảnh đẹp gọi.

Một nỗi bất an cũ gọi.

Một sự so sánh mới gọi.

Cả ngày như bị giật về trăm hướng. Linh hồn còn chưa kịp chạm đất, chưa kịp chạm Chúa, chưa kịp nhớ mình là ai, đã bị cuộc đời kéo đi như một món đồ bị cuốn trên băng chuyền.

Và rồi người trẻ tưởng đó là bình thường.

Nhưng không bình thường chút nào khi một con người sống suốt ngày trong tình trạng bị kéo mà không có giờ nào thật sự được neo. Không bình thường khi một linh hồn sống giữa hàng ngàn thông tin mà không còn một khoảng thinh lặng tử tế để tiêu hóa đời mình. Không bình thường khi một người biết rất nhiều chuyện ngoài kia nhưng lại không biết chuyện gì đang xảy ra trong lòng mình. Không bình thường khi người ta phản ứng với mọi thứ rất nhanh nhưng lại không còn khả năng ngồi xuống để phân định điều gì là tốt, điều gì là thật, điều gì là đẹp, điều gì là ý Chúa.

Đây là bi kịch lớn của thời đại này: người trẻ có thể kết nối với cả thế giới mà đánh mất kết nối với chính linh hồn mình.

Có thể biết người khác đang làm gì, ở đâu, với ai, vui buồn ra sao, nhưng lại không biết trái tim mình đang bị dẫn đi đâu.

Có thể đọc rất nhiều thứ, nghe rất nhiều thứ, chia sẻ rất nhiều thứ, nhưng không còn nghe được tiếng nói thầm lặng nhất bên trong: con đang sống lệch rồi.

Một người đánh mất chính mình không phải lúc nào cũng nhận ra ngay. Thường thì họ vẫn thấy mình đang sống bình thường. Vẫn học, vẫn làm, vẫn gặp gỡ, vẫn mơ ước, vẫn yêu đương, vẫn cầu nguyện đôi chút, vẫn có kế hoạch. Nhưng chỉ khi một biến cố chạm đến, họ mới bàng hoàng nhận ra rằng bên trong mình quá rỗng, quá yếu, quá phụ thuộc, quá dễ vỡ, quá không rõ mình là ai nếu lấy đi những thứ bên ngoài đang chống đỡ cho mình.

Vậy người trẻ đang đánh mất chính mình như thế nào?

Trước hết, họ đánh mất mình khi để giá trị bản thân được định nghĩa bởi ánh mắt người khác.

Đây là một trong những xiềng xích phổ biến nhất. Có những người trẻ không còn sống từ bên trong nữa. Họ sống từ sự phản chiếu của người khác. Người khác khen thì họ nở. Người khác chê thì họ gục. Người khác để ý thì họ thấy mình có ý nghĩa. Người khác quên họ thì họ cảm thấy như mình vô hình. Họ không còn biết giá trị của mình được đặt trên điều gì bền vững, mà mỗi ngày đem giá trị ấy treo lên ánh nhìn đổi thay của đám đông.

Sống như thế rất mệt.

Bởi vì đám đông không bao giờ trung tín đủ để trở thành nền móng cho linh hồn một con người. Hôm nay người ta thích bạn, mai người ta có thể quay đi. Hôm nay người ta khen bạn sâu sắc, mai người ta có thể bảo bạn giả tạo. Hôm nay người ta thấy bạn thú vị, mai người ta sẽ bị cuốn bởi ai đó mới hơn. Nếu một người trẻ để trái tim mình đặt trên những cái đó, sớm muộn gì họ cũng sẽ sống như một người ăn xin tình cảm, đi qua đời cố gom từng mẩu công nhận để vá lấy một lòng tự trọng đang rách.

Nhưng cái đau hơn là thế này: khi sống quá lâu để được người khác nhìn nhận, người trẻ sẽ dần đánh mất khả năng sống thật. Họ bắt đầu lựa lời để được yêu mến hơn. Lựa cách xuất hiện để có vẻ đáng ngưỡng mộ hơn. Lựa phiên bản bản thân nào sẽ được tán thưởng nhất. Và rồi có khi chính họ cũng không còn phân biệt được đâu là mình thật, đâu là con người mình đang diễn ra để được đón nhận.

Một con người không thể bình an nếu phải liên tục diễn để tồn tại.

Một trái tim không thể mạnh nếu cả ngày chỉ lo canh sắc mặt của thiên hạ để biết hôm nay mình có giá trị hay không.

Một linh hồn không thể tự do nếu niềm vui và nỗi buồn của nó bị nhốt trong tay người khác.

Người trẻ cũng đánh mất chính mình khi để thành công thế gian trở thành thước đo tối hậu.

Thế gian có cách rất khéo để khiến người trẻ tin rằng đời người đáng giá bao nhiêu thì được tính bằng bấy nhiêu thành tựu. Học trường gì. Làm chỗ nào. Có bao nhiêu tiền. Có bao nhiêu người theo dõi. Có nhà chưa. Có xe chưa. Có tiếng tăm chưa. Có đứng ngang hàng với bạn bè đồng trang lứa chưa. Có làm cho cha mẹ nở mày nở mặt chưa. Có đang “bứt phá” không. Có đủ nổi bật không.

Nghe mãi những điều đó, người trẻ bắt đầu vô thức đồng ý với một công thức rất nguy hiểm: tôi là những gì tôi đạt được.

Và từ lúc đó, họ bắt đầu đánh mất mình.

Bởi vì nếu tôi là những gì tôi đạt được, thì khi tôi thất bại, tôi là ai?

Nếu tôi là công việc của tôi, thì khi tôi mất việc, tôi là ai?

Nếu tôi là thành tích học tập của tôi, thì khi tôi trượt, tôi là ai?

Nếu tôi là hình ảnh đẹp của tôi, thì khi tôi xuống sắc, tôi là ai?

Nếu tôi là sự công nhận của người khác, thì khi tôi bị lãng quên, tôi là ai?

Một con người xây căn tính trên thành tích thì sẽ sống vừa kiêu ngạo vừa bất an. Kiêu ngạo khi đang lên. Bất an khi sợ tụt. Cả hai đều mệt. Cả hai đều không phải tự do. Cả hai đều cho thấy người ấy chưa biết mình là ai trước mặt Thiên Chúa.

Thiên Chúa không tạo nên con người để họ trở thành sản phẩm của hiệu suất. Người không yêu người trẻ vì họ giỏi hơn người khác. Người không yêu vì họ xinh hơn, nổi hơn, nhanh hơn, thành công hơn. Người yêu vì họ là con. Chính chỗ này là nơi người trẻ hiện đại đang bị cướp mất quá nhiều: họ quên mình là con, để rồi biến mình thành một dự án phải thành công bằng mọi giá.

Một người sống như dự án sẽ rất dễ tàn nhẫn với chính mình.

Không cho mình yếu.

Không cho mình chậm.

Không cho mình đau.

Không cho mình được nghèo.

Không cho mình được bắt đầu lại.

Không cho mình được thú nhận rằng thật ra mình đang rối.

Không cho mình được quỳ xuống xin Chúa dẫn đi.

Vì họ sợ tất cả những điều ấy trông giống thất bại.

Nhưng trước mặt Chúa, điều làm một người cao quý không phải là lúc nào cũng mạnh, mà là biết sống trong sự thật. Có những người bên ngoài thành công mà bên trong tan nát. Có những người đang rất chật vật nhưng linh hồn lại đứng đúng chỗ trước mặt Chúa. Ai đẹp hơn? Thế gian sẽ trả lời kiểu khác. Nhưng Nước Trời có thước đo khác.

Người trẻ còn đánh mất chính mình khi để cảm xúc dẫn đời thay cho chân lý.

Một trong những cám dỗ lớn nhất hôm nay là sống theo điều mình cảm thấy. Thích thì làm. Không thích thì thôi. Còn cảm hứng thì tiếp tục. Hết cảm hứng thì bỏ. Cảm thấy gần Chúa thì cầu nguyện. Không thấy gì thì nghỉ. Cảm thấy hợp người này thì lao vào. Cảm thấy mệt thì buông kỷ luật. Cảm thấy buồn thì tìm một thứ gì đó khỏa lấp. Cảm thấy cô đơn thì tìm đại một chỗ bám. Cảm thấy bị chạm tự ái thì rút lui. Cảm thấy không được hiểu thì đóng cửa lòng.

Nhưng cảm xúc là người báo tin, không phải người cầm lái.

Cảm xúc có thật, có giá trị, cần được lắng nghe, nhưng không thể trở thành vua trong đời sống. Một người để cảm xúc dẫn hoàn toàn thì cuộc đời sẽ như chiếc lá gặp gió nào cũng bay. Hôm nay sốt sắng, mai nguội lạnh. Hôm nay quyết tâm, mai buông xuôi. Hôm nay yêu sâu, mai chán nản. Hôm nay tin rằng mình sinh ra cho điều lớn lao, mai lại thấy mình chẳng là gì.

Chân lý mới là nền. Ý Chúa mới là hướng. Kỷ luật mới là cây cầu nối những ngày không có cảm xúc với những điều ta biết là đúng. Người trưởng thành không phải là người lúc nào cũng thấy thích làm điều tốt. Mà là người vẫn làm điều tốt ngay cả khi không còn thấy thích.

Người trẻ hôm nay rất dễ nhầm giữa “tôi không còn cảm thấy” với “điều này không còn giá trị”. Không phải. Có những ngày cầu nguyện khô khan không có nghĩa là Chúa rời xa. Có những ngày giữ bổn phận thấy nặng không có nghĩa là nó vô ích. Có những giai đoạn yêu thương ai đó rất mệt không có nghĩa là mình phải bỏ người đó. Có những tháng ngày phân định bấp bênh không có nghĩa là mình không có ơn gọi. Nhưng nếu chỉ sống theo cảm giác, người ta sẽ không đi xa được. Vì bất cứ điều gì thật sự đáng giá cũng sẽ có những đoạn đòi con người đi qua bằng đức tin chứ không bằng hưng phấn.

Người trẻ cũng đánh mất chính mình khi dùng sự bận rộn để trốn sự trống rỗng.

Đây là một nỗi đau rất kín. Có những người trẻ không dám ngồi yên. Không phải vì họ lười, mà vì họ sợ. Họ sợ khoảng im lặng. Sợ buổi tối không có gì để làm. Sợ cuối tuần không có ai rủ đi đâu. Sợ một giờ không chạm vào điện thoại. Sợ đi ngủ mà không có tiếng gì chạy trong tai. Sợ một ngày không bị việc kéo đi. Vì khi mọi thứ lắng xuống, sự trống ở bên trong sẽ hiện lên.

Và thế là họ tìm cách lấp.

Lấp bằng lịch trình.

Lấp bằng công việc.

Lấp bằng các mối quan hệ.

Lấp bằng giải trí.

Lấp bằng mua sắm.

Lấp bằng các cuộc trò chuyện không cần thiết.

Lấp bằng nội dung vô tận.

Lấp bằng những mục tiêu liên tục.

Lấp bằng việc luôn phải có gì đó mới.

Nhưng khoảng trống linh hồn không được chữa bằng lấp đầy. Nó chỉ được chữa bằng gặp gỡ. Gặp Chúa. Gặp sự thật. Gặp nỗi đau của mình. Gặp cơn đói sâu mà lâu nay mình cứ cố gọi nó bằng tên khác. Có những người trẻ nói mình “chán” nhưng thật ra là đang đói ý nghĩa. Có người nói mình “stress” nhưng sâu hơn là đang xa khỏi trung tâm đời mình. Có người nói mình “cần đổi gió” nhưng thật ra cần quay về cầu nguyện. Có người nói mình “muốn bắt đầu lại cuộc sống” nhưng thật ra điều đầu tiên cần làm là quỳ xuống trong nước mắt mà nói với Chúa: con không muốn sống tản mát thế này nữa.

Có một kiểu đánh mất chính mình rất nguy hiểm nữa: đánh mất trong những mối quan hệ không đặt nền trên sự thật.

Con người được tạo dựng để sống tương quan. Không ai lớn lên một mình. Nhưng chính trong các tương quan, người trẻ có thể hoặc tìm thấy mình, hoặc mất mình nhanh nhất. Có những mối quan hệ giúp một người trở nên sâu hơn, trong sạch hơn, có trách nhiệm hơn, gần Chúa hơn, sáng hơn, thật hơn. Nhưng cũng có những mối quan hệ làm một người sống hai mặt hơn, nặng nề hơn, lệ thuộc hơn, lo âu hơn, xa Chúa hơn, yếu hơn, và dần không còn nhận ra bản thân ban đầu của mình nữa.

Nhiều người trẻ bước vào tình bạn, tình yêu, hội nhóm, môi trường nào đó với hy vọng được thuộc về. Và khát vọng được thuộc về là thật, là đẹp. Nhưng nếu bên trong chưa có căn tính vững trong Chúa, họ sẽ rất dễ trả giá quá đắt cho cảm giác được chấp nhận. Họ sẽ cười theo điều mình không thật sự thấy vui. Đồng ý với điều mình biết là sai. Im lặng trước điều lương tâm mình khó chịu. Nới tiêu chuẩn sống. Nới ranh giới. Nới sự trung thành với Chúa. Chỉ để không bị bỏ lại. Chỉ để không phải cô đơn. Chỉ để giữ một người nào đó bên cạnh.

Dần dần, họ không còn sống theo sự thật nữa. Họ sống theo nhu cầu được giữ lại. Và từ đó, họ mất mình.

Người ta không mất mình chỉ khi làm điều quá xấu. Người ta mất mình ngay từ lúc bắt đầu chối bỏ những điều đúng mà lòng mình đã biết. Mỗi lần phản bội lương tâm để đổi lấy sự thuận tiện, con người đi xa khỏi chính mình một chút. Mỗi lần bóp nhỏ sự thật để vừa với đám đông, con người yếu đi một chút. Mỗi lần cố giữ một mối quan hệ bằng cách không còn là mình trước mặt Chúa, con người nghèo đi một chút.

Người trẻ hôm nay còn đánh mất chính mình khi không còn biết sống trước nhan Chúa.

Sống trước nhan Chúa nghĩa là gì? Nghĩa là ý thức rằng đời mình đang ở trước mặt Thiên Chúa chứ không chỉ trước mặt người đời. Là biết rằng mỗi quyết định không chỉ có hậu quả tâm lý hay xã hội, mà còn chạm tới tương quan giữa mình với Chúa. Là nhớ rằng có một cái nhìn yêu thương nhưng cũng rất thật đang dõi theo đời mình. Là biết hỏi: điều này có đẹp lòng Chúa không? Điều này có dẫn tôi gần Chúa hơn không? Điều này có làm linh hồn tôi sáng hơn hay tối đi? Điều này có làm tôi tự do hơn hay trói tôi thêm?

Khi không còn sống trước nhan Chúa, người trẻ sẽ sống trước nhan đám đông, trước nhan nỗi sợ, trước nhan tham vọng, trước nhan nhu cầu được thích. Và khi đó, những quyết định tuy có vẻ khôn theo kiểu thế gian, nhưng có thể lại dần dần phá hỏng sự sống bên trong.

Người trẻ ngày nay rất giỏi hỏi: điều này có lợi không? Có đáng không? Có tăng cơ hội không? Có giúp mình nổi hơn không? Có làm người khác thích mình hơn không?

Nhưng lại ít hỏi hơn: điều này có thật không? Có sạch không? Có đúng không? Có làm Chúa vui không? Có khiến tôi thành người tốt hơn không?

Khi câu hỏi đổi, đường đi sẽ đổi. Một đời sống chỉ hỏi điều gì có lợi thì rất dễ đánh mất linh hồn. Một đời sống biết hỏi điều gì là đúng thì mới bắt đầu có xương sống.

Và rồi, một dạng đánh mất nữa sâu hơn tất cả: người trẻ đánh mất chính mình khi đánh mất ký ức thiêng liêng về việc mình được Thiên Chúa yêu.

Đây mới là gốc sâu. Một người thật sự biết mình được Chúa yêu sẽ khác. Không phải là khác ở chỗ họ không còn yếu đuối. Nhưng khác ở chỗ họ không còn tuyệt vọng chạy khắp nơi để tìm một danh tính thay thế. Họ không cần thành công để chứng minh mình có giá trị. Không cần quyến rũ để thấy mình đáng được giữ. Không cần được mọi người hiểu để còn giữ bình an. Không cần phải thắng bằng mọi giá. Không cần phải biến mình thành ai đó thật nổi để mới thấy đời mình có ý nghĩa.

Nhưng nhiều người trẻ hôm nay sống như những người mồ côi trong linh hồn. Dù có đạo, dù đi lễ, dù sinh hoạt, nhưng sâu trong lòng vẫn không thật tin rằng mình được Chúa yêu một cách cá vị và bền vững. Họ nghe điều đó nhiều lần, nhưng chưa để nó đi xuống tận đáy tim. Thành ra họ vẫn sống trong cơn đói được xác nhận. Vẫn đi xin giá trị ở những nơi không thể cho họ. Vẫn sống trong một cuộc rượt đuổi mệt mỏi để chứng minh rằng mình xứng đáng tồn tại.

Trong khi Tin Mừng không bắt đầu bằng “hãy chứng minh con đáng yêu”, mà bằng “con là con yêu dấu”.

Chỉ khi trở lại với sự thật ấy, người trẻ mới thôi đánh mất mình vào tay thế gian. Bởi vì người biết mình là con sẽ không còn dễ bán linh hồn để đổi lấy vài mảnh công nhận. Người biết mình được Chúa gọi tên sẽ không còn quá run sợ trước việc bị đám đông quên tên. Người biết mình thuộc về Chúa sẽ không còn dễ quỳ trước những ngẫu tượng hào nhoáng. Người biết mình được yêu sẽ có sức từ chối những thứ chỉ ve vuốt cái tôi mà làm héo linh hồn.

Nhưng để trở lại chỗ đó, người trẻ phải đi qua một cuộc chiến lớn: cuộc chiến giành lại nội tâm mình.

Phải tập tắt bớt tiếng ồn.

Phải tập nhìn lại những gì đang chi phối lòng mình.

Phải tập nhận ra đâu là những tiếng gọi không dẫn về sự sống.

Phải tập từ chối một vài thứ dù chúng đang rất hấp dẫn.

Phải tập ở một mình với Chúa mà không hoảng sợ.

Phải tập cầu nguyện không chỉ khi có cảm hứng.

Phải tập hỏi ý Chúa trước khi hỏi ý đám đông.

Phải tập sống thật hơn là sống được thích.

Phải tập chấp nhận rằng có những mùa đời mình sẽ bị hiểu lầm chỉ vì mình không còn đi cùng hướng với thế gian nữa.

Đó là cái giá của việc tìm lại mình.

Không có chuyện vừa muốn thuộc trọn về Chúa, vừa muốn làm vừa lòng mọi tiếng gọi của thế gian. Không thể cùng lúc đi theo tất cả. Không thể mở trọn cửa lòng cho mọi thứ rồi mong giữ được linh hồn nguyên vẹn. Một người chỉ bắt đầu tìm lại chính mình khi họ biết nói không. Không với cái gì làm mình phân tán. Không với điều làm mình xa Chúa. Không với lối sống khiến mình không còn trong trẻo. Không với kiểu thành công làm mình đánh mất sự thật. Không với mối quan hệ buộc mình phản bội lương tâm. Không với những thói quen đang hút máu nội tâm mình từng ngày.

Nghe vậy thì tưởng như mất mát. Nhưng thật ra đó là giải thoát.

Bởi vì rất nhiều người trẻ không mệt vì thiếu điều gì đó để có thêm. Họ mệt vì đang mang quá nhiều thứ không cần thiết trong lòng. Quá nhiều tiếng nói. Quá nhiều tiêu chuẩn. Quá nhiều áp lực. Quá nhiều so sánh. Quá nhiều phiên bản mình phải duy trì. Quá nhiều ham muốn chen lấn nhau. Quá nhiều nỗi sợ không được đặt dưới ánh sáng.

Chỉ khi lòng được đơn sơ lại, người ta mới bắt đầu nghe thấy mình. Và chỉ khi nghe thấy mình thật, người ta mới có thể nghe thấy Chúa.

Có lẽ đây là điều người trẻ cần tự hỏi rất nghiêm túc:

Trong vô số tiếng gọi đang kéo mình mỗi ngày, tiếng nào đang mạnh nhất?

Tiếng muốn nổi bật?

Tiếng muốn được yêu?

Tiếng muốn kiếm thật nhiều tiền?

Tiếng muốn chứng minh cho người từng coi thường mình thấy rằng mình không thua?

Tiếng muốn hưởng thụ cho đã?

Tiếng muốn chạy trốn cô đơn?

Tiếng muốn sống dễ dãi để đỡ phải chiến đấu?

Tiếng muốn làm điều gì đó chỉ vì ai cũng đang làm?

Hay tiếng của Chúa?

Và nếu trả lời thật, nhiều người sẽ thấy rằng tiếng Chúa không hẳn đã biến mất. Chỉ là lâu rồi họ không đặt Người ở vị trí ưu tiên đủ để tiếng ấy được nghe rõ.

Chúa vẫn gọi qua sự bất an thánh trong lòng.

Gọi qua những lúc vui mà vẫn thấy thiếu.

Gọi qua những thất bại làm mình bớt kiêu.

Gọi qua những lần đang cười mà trong lòng tự hỏi: đời mình chỉ có thế này thôi sao?

Gọi qua những lần bước ra khỏi một cuộc vui mà thấy linh hồn rỗng.

Gọi qua một bài Tin Mừng chạm đúng tim.

Gọi qua một giờ chầu tưởng như bình thường mà mắt tự nhiên cay.

Gọi qua lời nhắc của ai đó.

Gọi qua sự bứt rứt khi mình đang sống không thật.

Gọi qua nỗi đói sâu mà không thứ gì đời này lấp cho đầy.

Tất cả những điều đó có thể là dấu chỉ rằng linh hồn chưa chết, chỉ là đang bị chôn dưới quá nhiều lớp ồn ào.

Và chương này muốn nói với người trẻ một điều rất tha thiết: bạn không được sinh ra để trở thành bản sao của những tiếng gọi hỗn loạn ngoài kia. Bạn không được dựng nên để cả đời bị kéo đi bởi những gì sáng chói nhưng chóng tàn. Bạn không được gọi để sống như một người luôn phản ứng theo đám đông, luôn đo mình bằng ánh mắt người khác, luôn chạy theo cơn đói được công nhận mà quên mất mình là ai trong Thiên Chúa.

Bạn được gọi để thuộc về Chúa.

Được gọi để sống từ bên trong.

Được gọi để có một trung tâm.

Được gọi để có một trái tim không bán mình cho những thứ nhất thời.

Được gọi để lớn lên trong tự do.

Được gọi để không chỉ tồn tại giữa trăm tiếng gọi, nhưng biết chọn một tiếng gọi duy nhất đủ xứng đáng để đặt trọn đời mình vào.

Và tiếng gọi ấy không phải của thế gian.

Mà là tiếng gọi của Đấng đã biết bạn từ trước khi bạn biết mình.

Đấng đã yêu bạn từ trước khi bạn làm được điều gì đáng kể.

Đấng không yêu bạn vì bạn nổi bật, mà vì bạn là bạn.

Đấng không gọi bạn thành công trước, mà gọi bạn theo Người trước.

Đấng không cướp mất đời bạn, mà cứu đời bạn khỏi bị phân mảnh.

Đấng không làm bạn nhỏ đi, mà làm bạn trở nên chính mình cách trọn vẹn nhất.

Cho nên, hành trình tìm lại mình không phải là hành trình quay vào cái tôi để tôn thờ nó. Mà là hành trình quay về với Thiên Chúa để từ đó nhận lại chính mình. Càng xa Chúa, con người càng dễ tan thành nhiều mảnh. Càng gần Chúa, con người càng được gom lại. Gom lại những gì rối. Gom lại những gì bị kéo. Gom lại những gì đã tản mát vì quá nhiều tiếng gọi lạ.

Có lẽ ngay lúc này, người trẻ không cần nghe thêm một trăm lời khuyên mới. Có khi chỉ cần một quyết định đầu tiên rất đơn sơ: ngừng để mọi thứ có quyền bước thẳng vào lòng mình. Bớt mở cửa cho tiếng ồn. Bớt sống theo phản xạ. Bớt hỏi người khác mình là ai. Bớt đem linh hồn đi treo vào từng cái nhìn, từng lượt thích, từng thành công, từng cảm xúc.

Và bắt đầu hỏi Chúa nhiều hơn.

Lạy Chúa, tiếng nào trong lòng con không đến từ Ngài?

Điều gì đang làm con sống lệch?

Con đang trao giá trị mình cho ai giữ?

Con đang đánh mất chính mình ở chỗ nào?

Con đang để điều gì mạnh hơn tiếng Ngài?

Xin dạy con biết trở về.

Xin dạy con nhận ra đâu là tiếng gọi thật.

Xin lấy lại lòng con khỏi những bàn tay không thuộc về Ngài.

Xin cho con đừng sống rải rác nữa.

Xin quy tụ con lại trong chính Ngài.

Bởi vì chỉ ở đó, người trẻ mới thôi bị xé nhỏ giữa trăm hướng.

Chỉ ở đó, họ mới thôi sống như một con thuyền không neo.

Chỉ ở đó, họ mới không còn phải tự hỏi mãi mình là ai dưới hàng ngàn lớp vai diễn.

Và chỉ ở đó, họ mới bắt đầu bước vào một đời sống có hướng, có gốc, có bình an, có căn tính, có tự do thật.

CHƯƠNG 3

VÌ SAO NHIỀU NGƯỜI TRẺ BÊN NGOÀI RẤT MẠNH NHƯNG BÊN TRONG LẠI RẤT CÔ ĐƠN, RẤT TRỐNG, VÀ RẤT THIẾU MỘT NƠI ĐỂ THUỘC VỀ

Có một kiểu mỏi mệt không hiện ra trên gương mặt.

Người ta vẫn cười được. Vẫn nói chuyện lanh lợi. Vẫn làm việc tốt. Vẫn sinh hoạt bình thường. Vẫn trả lời tin nhắn. Vẫn đi học, đi làm, đi lễ, đi chơi, đi gặp gỡ. Thậm chí có khi còn là người làm cho bầu khí xung quanh vui lên. Là người đỡ đần người khác. Là người hay động viên. Là người nghe tâm sự của nhiều người. Là người mà ai nhìn vào cũng nghĩ: chắc người này mạnh lắm. Chắc người này vững lắm. Chắc người này ổn lắm.

Nhưng chỉ khi đêm xuống, hoặc khi một cuộc vui vừa tắt, hoặc khi trở về căn phòng riêng của mình, hoặc khi màn hình điện thoại đột nhiên không còn cứu được nữa, thì một sự thật khác hiện ra: bên trong rất cô đơn.

Không phải cô đơn vì không có ai xung quanh. Có khi quanh họ rất đông người. Có khi họ có bạn bè. Có người yêu. Có gia đình. Có nhóm sinh hoạt. Có cộng đoàn. Có đồng nghiệp. Có người nói chuyện mỗi ngày. Nhưng vẫn cô đơn. Vì cô đơn sâu nhất không đến từ việc thiếu người bên cạnh. Nó đến từ việc không có ai thật sự chạm được vào chỗ sâu nhất trong lòng mình. Và đau hơn nữa, có khi chính mình cũng không dám chạm vào chỗ đó.

Nhiều người trẻ hôm nay sống trong nghịch lý ấy: kết nối rất nhiều mà hiệp thông rất ít. Quen biết rất rộng mà được hiểu rất ít. Có thể trò chuyện cả ngày mà không có được một cuộc đối thoại thật. Có thể xuất hiện giữa rất nhiều người mà vẫn cảm thấy mình như đang đứng một mình giữa đám đông. Có thể nghe rất nhiều tiếng, nhưng không có một nơi nào đủ bình an để linh hồn được đặt xuống mà nghỉ.

Vì thế, họ học cách mạnh ở bên ngoài.

Mạnh để không ai thương hại.

Mạnh để không bị xem thường.

Mạnh để không làm phiền ai.

Mạnh để giữ hình ảnh của mình.

Mạnh để sống sót qua những ngày áp lực.

Mạnh để tiếp tục làm điều phải làm.

Mạnh để che đi sự thật rằng có những đoạn mình rất yếu.

Nhưng có một kiểu mạnh rất buồn: mạnh như một lớp giáp, chứ không phải mạnh như một gốc rễ. Mạnh để phòng thủ. Mạnh để che chắn. Mạnh để không ai thấy mình cần được ôm, cần được hiểu, cần được lắng nghe, cần được cứu. Và càng sống lâu trong lớp giáp đó, người ta càng thấy khó được chạm tới. Bởi vì cái giá của việc luôn phải tỏ ra mạnh là dần dần không còn biết cách yếu đúng chỗ nữa.

Nhiều người trẻ không cho phép mình được yếu trước mặt người khác. Có thể vì từ nhỏ họ đã học rằng yếu là phiền. Khóc là vô ích. Nói ra là bị xem thường. Tỏ ra cần ai đó là dễ bị bỏ rơi. Tin người quá là dễ bị tổn thương. Thế là họ lớn lên với một phản xạ rất nhanh: tự gánh.

Tự buồn một mình.

Tự lo một mình.

Tự rối một mình.

Tự chữa một mình.

Tự nuốt nước mắt một mình.

Tự quyết định một mình.

Tự làm người đỡ cho mình, trong khi lòng mình lại đang rất cần một nơi để dựa.

Nhìn từ ngoài, kiểu người đó thường được khen là trưởng thành, là tự lập, là bản lĩnh. Nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Có những tự lập thật sự đẹp, được xây trên nhân cách và đức tin. Nhưng cũng có những tự lập chỉ là một cách tuyệt vọng để không phải thất vọng thêm lần nữa. Có những người không nhờ ai không phải vì họ không cần ai, mà vì họ đã quá quen với việc nhu cầu của mình không được đón nhận. Có những người im lặng không phải vì họ bình an, mà vì họ không còn tin rằng nếu nói ra thì sẽ có ai thật sự ở lại.

Đó là lý do tại sao nhiều người trẻ bên ngoài rất mạnh nhưng bên trong lại rất trống.

Cái trống ấy không chỉ là thiếu niềm vui. Nó là cảm giác không có nhà trong lòng. Là cảm giác mình cứ sống, cứ làm, cứ đi, cứ cố, nhưng không biết tất cả những điều đó rốt cuộc đang phục vụ cho điều gì sâu xa hơn. Là cảm giác có những lúc đang ở giữa người thân mà vẫn như có một lớp kính vô hình ngăn mình với mọi người. Là cảm giác nhiều chuyện trong lòng không biết nói với ai, vì nói ra sợ bị hiểu lầm, bị xem nhẹ, bị giảng đạo, bị phán xét, hoặc tệ hơn, bị nghe cho có.

Có những người trẻ chỉ cần được ai đó nghe thật là đã bớt đau rất nhiều. Nhưng họ không có. Hoặc từng có rồi bị mất. Hoặc từng mở lòng rồi bị phản bội. Hoặc từng nói ra rồi chỉ nhận lại những câu như: có gì đâu mà buồn, nghĩ tích cực lên, ai mà chẳng vậy, đừng yếu đuối quá, mày phải mạnh mẽ chứ. Những câu đó nghe qua tưởng là động viên. Nhưng nhiều khi nó chỉ làm người ta khép lại sâu hơn. Vì họ thấy rằng nỗi đau của mình không có chỗ đứng. Thế là họ lại học thêm một lần nữa bài học cũ: thôi, tự lo lấy mình.

Nhưng con người không được tạo dựng để tự lo lấy mình theo kiểu cắt mình khỏi mọi nương tựa. Ngay từ đầu, Thiên Chúa đã dựng nên con người cho tương quan. Con người cần Chúa. Cần người khác. Cần gia đình. Cần cộng đoàn. Cần một nơi để được biết đến, được yêu, được chỉnh sửa, được nâng đỡ, được ở lại. Một linh hồn không có nơi nào để thuộc về sẽ dần co lại. Dù bên ngoài vẫn hoạt động, bên trong vẫn sẽ khát. Và khi cái khát ấy kéo dài, người trẻ sẽ dễ tìm đến những nơi thuộc về giả.

Thuộc về giả là gì?

Là những nơi ban đầu cho ta cảm giác được đón nhận rất nhanh, nhưng không giúp ta lớn lên trong sự thật.

Là những mối quan hệ khiến ta thấy bớt cô đơn ngay lập tức, nhưng rồi rút cạn phẩm giá của ta.

Là những nhóm người cho ta cảm giác mình có chỗ đứng, nhưng để được ở đó, ta phải bẻ cong lương tâm mình.

Là những cuộc tình đến rất nhanh vì hai người cùng sợ cô đơn hơn là cùng thật sự yêu.

Là những cơn nghiện nhỏ lặp đi lặp lại chỉ để lấp khoảng trống mỗi tối.

Là việc bám chặt vào một người nào đó như thể họ phải cứu cả linh hồn mình.

Là việc ném bản thân vào công việc, vào giải trí, vào hoạt động liên tục, chỉ để khỏi phải cảm thấy mình đang không có nhà.

Những nơi thuộc về giả luôn hấp dẫn, bởi vì chúng cho cảm giác được chấp nhận ngay mà không đòi hỏi nhiều chiều sâu lúc đầu. Nhưng chính vì vậy, chúng nguy hiểm. Vì nơi thuộc về thật không chỉ là nơi đón nhận mình. Nó còn là nơi gọi mình lớn lên. Gọi mình sống thật. Gọi mình ra khỏi cái tôi. Gọi mình biết trách nhiệm. Gọi mình học yêu cách trong sạch. Gọi mình đối diện với những hỗn độn nội tâm thay vì chỉ che phủ chúng. Còn nơi thuộc về giả thường chỉ làm mình dễ chịu tạm thời, rồi khiến mình lệ thuộc hơn, rối hơn, và xa trung tâm hơn.

Nhiều người trẻ hôm nay rất sợ cô đơn. Nhưng điều đáng nói là họ thường chống lại cô đơn bằng những cách làm cô đơn sâu hơn. Càng sợ ở một mình, họ càng vội vàng bám vào những kết nối nông. Càng sợ khoảng trống, họ càng lấp bằng tiếng ồn. Càng sợ không được yêu, họ càng trao tim cho những nơi chưa xứng đáng. Càng sợ không có ai hiểu, họ càng sống trên bề mặt để đỡ phải bị hiểu sai. Và cuối cùng, họ càng nhiều tiếp xúc thì càng ít gặp gỡ thật. Càng nhiều tương tác thì càng ít hiệp thông. Càng tìm nơi thuộc về thì càng thấy mình không có chỗ nào thật sự là nhà.

Có những người trẻ đi qua nhiều đám đông nhưng chưa từng thật sự được ai nhìn thấy. Không phải nhìn thấy hình ảnh bên ngoài, mà là nhìn thấy nỗi mệt, nỗi sợ, nỗi khát, nỗi đau, nỗi phân vân, nỗi nhớ, nỗi thất vọng, nỗi mặc cảm, nỗi giằng co, nỗi đói được yêu một cách sạch và bền. Không ai thấy. Hoặc có thấy nhưng không ở lại đủ lâu. Hoặc có ở lại nhưng không biết phải làm gì với điều mình thấy. Nên người trẻ học cách thu mình lại. Học cách chỉ cho người khác thấy những phiên bản dễ chấp nhận. Học cách nói những gì an toàn. Học cách giữ phần sâu nhất trong lòng như một căn phòng khóa kín.

Nhưng căn phòng nào khóa quá lâu cũng sẽ ẩm.

Linh hồn nào không có ánh sáng đi vào cũng sẽ lạnh.

Một người cứ giấu mãi phần đau của mình không phải sẽ mạnh hơn. Họ chỉ sẽ cứng hơn. Và có sự khác nhau rất lớn giữa cứng và vững. Người cứng dễ gãy. Người vững thì biết đâu là đá tảng để tựa. Người cứng khép. Người vững mở nhưng có gốc. Người cứng không cho ai chạm tới. Người vững biết chọn đúng nơi để trao phần mong manh của mình. Người cứng sợ lệ thuộc nên giữ tất cả. Người vững biết rằng không ai là một hòn đảo, và được nâng đỡ đúng cách không làm mình yếu đi.

Vì sao người trẻ hôm nay rất thiếu một nơi để thuộc về?

Có lẽ trước hết vì nhiều gia đình không còn là nơi trú ẩn nội tâm đúng nghĩa. Người trẻ vẫn sống cùng nhà, vẫn ăn cùng mâm, vẫn hiện diện trong cùng một mái ấm, nhưng không thật sự có đối thoại. Người lớn mệt. Con cái mệt. Ai cũng có vấn đề riêng. Cả nhà có thể ở sát nhau mà rất xa nhau. Có những bữa cơm có đủ người nhưng không có sự lắng nghe. Có những cha mẹ lo cho con đủ thứ nhưng không thật sự biết con đang sợ gì, đang khủng hoảng gì, đang bị kéo về đâu. Có những người con rất thương cha mẹ nhưng không dám mở lòng vì sợ cha mẹ không hiểu, sợ bị la, sợ bị so sánh, sợ bị áp đặt, sợ nỗi đau của mình bị biến ngay thành một bài học đạo đức.

Thế là nhà không còn là chỗ để trở về bằng cả linh hồn. Nhà chỉ còn là nơi để ngủ, để ăn, để hoàn thành trách nhiệm. Mà khi gia đình không còn là nơi nâng đỡ nội tâm, người trẻ sẽ đi tìm nơi khác. Có người tìm thấy nơi lành. Nhưng cũng có rất nhiều người tìm nhầm.

Ngoài ra, nhiều cộng đoàn, nhiều nhóm, nhiều môi trường thiêng liêng đôi khi cũng chưa thật sự trở thành nhà cho người trẻ. Có sinh hoạt. Có chương trình. Có tổ chức. Có bài hát. Có phục vụ. Nhưng chưa chắc có chỗ cho một trái tim mệt được ngồi xuống. Chưa chắc có chỗ cho người trẻ nói thật về tội lỗi, về nghi ngờ, về sự nguội lạnh, về cảm xúc rối bời, về những cám dỗ rất đời, về nỗi sợ không biết mình có còn tin nữa không, về việc mình đang đi lễ mà không còn cảm thấy gì, về chuyện mình phục vụ nhiều nhưng lòng ngày càng cạn. Có khi họ sợ nói ra những điều ấy vì sợ bị đánh giá là yếu đức tin, là không cố gắng, là tiêu cực.

Cho nên, ngay cả ở nơi mang danh là cộng đoàn, họ vẫn có thể cô đơn.

Cô đơn vì không ai hỏi những câu đủ sâu.

Cô đơn vì ai cũng chỉ thấy phần phục vụ của họ chứ không thấy linh hồn họ.

Cô đơn vì họ được giao việc, được tin dùng, được nhờ cậy, nhưng không được đồng hành.

Cô đơn vì người ta quý sự hữu ích của họ, chứ chưa chắc thật sự yêu con người họ.

Đây là một nỗi đau âm thầm nơi nhiều bạn trẻ đạo đức: họ có chỗ đứng trong sinh hoạt, nhưng không có nơi trú ẩn cho nội tâm. Họ có vai trò, nhưng không có nhà. Họ có việc để làm cho Chúa, nhưng không có ai thật sự giúp họ ở lại với Chúa. Họ có thể rất bận cho công việc nhà Chúa mà vẫn không biết phải đem cơn khô hạn của linh hồn mình đi đâu.

Rồi thế gian lại đưa ra một lời giải rất nhanh: hãy tự yêu bản thân. Nghe qua thì không sai. Con người cần học quý trọng phẩm giá mình, chăm sóc mình, không để bản thân bị dẫm đạp. Nhưng nếu câu đó bị hiểu theo kiểu khép kín, thì người trẻ lại càng cô đơn hơn. Họ được dạy quay vào mình, nâng mình, nuông mình, bảo vệ mình, ưu tiên mình, nhưng không được dạy cách đặt mình trong một mạng lưới yêu thương lành mạnh và trong tương quan sống động với Thiên Chúa. Thế là cái tôi được chăm, nhưng linh hồn vẫn đói. Bởi vì không ai tự trở thành nhà của chính mình theo nghĩa trọn vẹn. Con người cần một ngôi nhà lớn hơn bản thân: đó là tình yêu của Thiên Chúa, và trong Người, những tương quan thật.

Nỗi trống nơi người trẻ hôm nay cũng đến từ việc họ đang sống quá nhiều ở bề mặt. Bề mặt của thông tin. Bề mặt của trò chuyện. Bề mặt của cảm xúc. Bề mặt của các mối quan hệ. Bề mặt của đời sống đức tin. Mà càng sống ở bề mặt, người ta càng ít chạm vào phần cốt lõi của mình. Có thể cả ngày trôi qua với hàng trăm tương tác, nhưng không có một khoảnh khắc nào thật sự đi xuống tận đáy linh hồn. Không có giờ xét mình. Không có giờ im lặng. Không có giờ ngồi trước Thánh Thể đủ lâu. Không có giờ cầm Lời Chúa mà để cho Lời soi mình. Không có giờ gọi đúng tên nỗi buồn, nỗi ghen, nỗi giận, nỗi sợ, nỗi ham muốn được công nhận, nỗi lo không ai cần mình.

Vì không đi sâu, nên cái trống cứ còn. Và nhiều người trẻ tưởng mình cần thêm một thứ gì đó từ bên ngoài, trong khi thật ra thứ họ thiếu là chiều sâu.

Chiều sâu không đến bằng cách sống phức tạp hơn.

Mà bằng cách sống thật hơn.

Thật với Chúa.

Thật với mình.

Thật với vài người có thể tin.

Thật với những gì đang diễn ra bên trong.

Một người sống thật có thể đau, nhưng không trống như người chỉ sống bề mặt. Vì sự thật, dù có làm mình khóc, vẫn nối mình lại với chính mình. Còn giả vờ ổn lâu ngày sẽ làm linh hồn rơi vào một khoảng hẫng rất khó gọi tên.

Có một nguyên nhân nữa khiến người trẻ bên ngoài rất mạnh mà bên trong rất cô đơn: họ đã quen làm người nâng đỡ cho người khác nên không còn biết ai sẽ nâng mình. Những người như thế thường rất tử tế. Rất tinh tế. Rất sẵn sàng lắng nghe. Rất dễ trở thành chỗ dựa cho bạn bè. Rất có trách nhiệm. Nhưng vì luôn là người giữ cho mọi thứ đỡ đổ, họ dần không còn vai được phép nghiêng. Người khác quen với hình ảnh họ mạnh. Quen thấy họ giải quyết được. Quen nghĩ họ không sao đâu. Và chính họ cũng bắt đầu thấy khó nói ra rằng thật ra mình cũng đang cần ai đó.

Đó là nỗi cô đơn của những người luôn phải ổn.

Cô đơn của những người không được quyền sụp.

Cô đơn của những người tưởng như có rất nhiều người xung quanh nhưng ít ai hỏi: còn bạn thì sao?

Nếu những người ấy không học cách trở về với Chúa và tìm một vài tương quan trưởng thành để được đỡ, họ sẽ rất dễ kiệt. Có thể không kiệt thể xác ngay. Nhưng kiệt sự dịu dàng. Kiệt niềm tin. Kiệt sức để tiếp tục mở lòng. Kiệt khả năng vui thật. Và rồi đến một ngày, họ không còn đau theo kiểu ồn ào nữa. Họ chỉ lạnh. Và lạnh là một dấu hiệu rất buồn của một trái tim đã mệt quá lâu.

Nhưng chương này không chỉ để nói về nỗi buồn ấy. Nó phải nói về điều sâu hơn: vì sao con người lại đau khi không có nơi để thuộc về? Bởi vì “thuộc về” không chỉ là nhu cầu tâm lý. Nó là dấu chỉ thần học. Con người được dựng nên để thuộc về. Thuộc về Thiên Chúa trước hết. Và trong Thiên Chúa, thuộc về một dân, một cộng đoàn, một gia đình, một tình yêu đúng, một thân thể mầu nhiệm. Khi con người mất cảm thức thuộc về, họ không chỉ mất an toàn. Họ mất luôn một phần căn tính. Bởi vì không ai biết mình là ai cách trọn vẹn nếu chưa biết mình thuộc về đâu.

Và ở đây là điều rất quan trọng: nơi thuộc về sâu nhất của con người không phải là một nhóm bạn, không phải một người yêu, không phải một cộng đoàn, thậm chí không phải gia đình theo nghĩa tuyệt đối. Tất cả những nơi ấy có thể đẹp, có thể rất quý, nhưng không đủ để gánh toàn bộ cơn đói căn bản của linh hồn. Nơi thuộc về sâu nhất của con người là trái tim Thiên Chúa. Chỉ ở đó, người trẻ mới được biết trọn, yêu trọn, chờ trọn, tha thứ trọn, kiên nhẫn trọn. Chỉ ở đó, họ mới không phải diễn để được chấp nhận. Chỉ ở đó, họ mới không sợ một ngày mình không còn hữu ích thì sẽ bị bỏ lại. Chỉ ở đó, họ mới không cần thành công để chứng minh giá trị. Chỉ ở đó, họ mới được ở yên như một người con.

Nhưng đau ở chỗ là rất nhiều người trẻ có đạo mà chưa thật sự sống như người có Cha. Họ vẫn đọc kinh. Vẫn dự lễ. Vẫn tin Chúa theo nghĩa nào đó. Nhưng trong những vùng sâu nhất của lòng, họ vẫn sống như thể mình phải tự bươn lấy ý nghĩa, tự kiếm lấy giá trị, tự tìm lấy chỗ đứng, tự cứu mình khỏi khoảng trống. Họ chưa đặt hết cái cô đơn của mình vào tay Chúa. Họ chưa thật sự đem sự thiếu nơi thuộc về của mình đến trước mặt Người. Có thể vì họ nghĩ Chúa là chuyện thiêng liêng, còn nỗi cô đơn là chuyện tâm lý. Nhưng không. Chúa chạm tới toàn bộ con người. Chính Chúa biết nỗi cô đơn của con người sâu hơn bất cứ ai. Chính Đức Giêsu đã đi qua cô đơn, bị bỏ rơi, bị không ai hiểu, bị chính người thân tín nhất không ở lại tới cùng. Người không lạ với nỗi trống của trái tim người trẻ.

Điều người trẻ cần học không phải là phủ nhận nỗi cô đơn, mà là mang nó đến đúng nơi. Không đem ngay nỗi cô đơn vào một cuộc tình để mong nó cứu mình. Không đem nó vào tiêu dùng để mua tạm chút khuây khỏa. Không đem nó vào hoạt động liên tục để mình khỏi nghĩ. Mà đem nó đến trước mặt Chúa. Ngồi yên với nó. Gọi đúng tên nó. Thưa thật với Chúa: con rất cô đơn. Con rất mệt vì phải mạnh. Con rất sợ không có ai thật sự là nhà. Con rất sợ bị quên. Con rất sợ nếu bỏ lớp vỏ này ra thì chẳng còn gì hấp dẫn. Con rất sợ mở lòng rồi lại đau. Con rất khát được thuộc về nhưng không biết đi đâu.

Một lời cầu nguyện như thế không làm mọi thứ lập tức khá hơn. Nhưng nó bắt đầu đưa người trẻ về đúng hướng. Vì mọi chữa lành thật đều bắt đầu từ sự thật. Khi một người thôi chạy trốn nỗi cô đơn của mình, thôi xấu hổ vì nó, thôi che nó bằng quá nhiều thứ phụ, và dám đặt nó trước Chúa, thì khoảng trống ấy không còn chỉ là hố đen nữa. Nó có thể trở thành nơi gặp gỡ. Nơi Chúa đi vào. Nơi Chúa chạm. Nơi Chúa nói: con không mồ côi như con tưởng.

Từ đó, người trẻ mới dần học lại cách tìm nơi thuộc về thật ở trần gian.

Không phải ở nơi làm mình nghiện cảm giác được chú ý.

Mà ở nơi cho mình được sống thật.

Không phải ở nơi luôn vuốt ve cái tôi.

Mà ở nơi vừa yêu mình vừa gọi mình lớn lên.

Không phải ở nơi cho mình cảm giác thân ngay lập tức nhưng chóng tàn.

Mà ở nơi lòng được vun lâu, được thử thách, được xây bằng trung tín.

Không phải ở nơi chỉ hỏi mình phục vụ được gì.

Mà ở nơi cũng quan tâm linh hồn mình đang ra sao.

Không phải ở nơi bắt mình phải giống mọi người để được ở lại.

Mà ở nơi sự khác biệt đúng đắn của mình được tôn trọng trong ánh sáng sự thật.

Người trẻ cần một vài người, chứ không cần rất nhiều người. Một vài người có thể lắng nghe mà không vội sửa. Một vài người có thể ở lại khi mình không đẹp. Một vài người có thể nhắc mình về Chúa khi mình nguội. Một vài người có thể hỏi những câu đủ sâu. Một vài người có thể giữ sự thật lẫn lòng thương xót cùng lúc. Một vài người có thể không lợi dụng phần mong manh của mình. Một vài người có thể là dấu chỉ của “nhà” giữa đời.

Nhưng ngay cả khi chưa có ngay những người đó, người trẻ vẫn có thể bắt đầu một cuộc hồi hương nội tâm bằng cách trở về với Chúa. Vì thật ra, nhà đầu tiên không phải là nơi ta được mọi người hiểu hết. Nhà đầu tiên là nơi ta được Thiên Chúa đón nhận hết. Và từ nhà đó, con người mới bớt đòi người khác phải lấp mọi khoảng trống của mình. Bớt biến tình yêu thành chiếc nạng. Bớt biến bạn bè thành nơi cung cấp giá trị. Bớt biến cộng đoàn thành sân khấu. Bớt biến hoạt động thành thuốc giảm đau. Bớt biến mạng xã hội thành chỗ xin công nhận.

Khi không còn bắt thế gian làm công việc chỉ Thiên Chúa mới làm được, người trẻ sẽ nhẹ hơn. Họ vẫn cần người khác, nhưng không còn tuyệt vọng bám vào người khác. Họ vẫn cần cộng đoàn, nhưng không thần tượng hóa cộng đoàn. Họ vẫn cần yêu và được yêu, nhưng không ép một con người hữu hạn phải là cứu độ của đời mình. Họ vẫn cần gia đình, nhưng cũng biết có những thiếu hụt của gia đình chỉ có Chúa mới bù lấp tận gốc. Từ đó, sự thuộc về trở nên lành hơn. Không còn là lệ thuộc, mà là hiệp thông. Không còn là bám víu, mà là ở lại trong tự do. Không còn là sợ mất nhau nên phải kiểm soát, mà là tin nhau trong ánh sáng của Chúa.

Có lẽ rất nhiều người trẻ hôm nay không cần thêm sức mạnh theo kiểu thế gian. Họ cần can đảm để mềm lại trước mặt Chúa. Cần can đảm để thôi đóng vai người lúc nào cũng ổn. Cần can đảm để thú nhận rằng bên trong mình đang đói một mái nhà. Cần can đảm để bước ra khỏi những nơi thuộc về giả. Cần can đảm để không chạy vào một cuộc tình chỉ vì sợ trống. Cần can đảm để tắt bớt tiếng ồn và nghe nỗi cô đơn của mình nói gì. Cần can đảm để xin giúp đỡ. Cần can đảm để tin rằng mình vẫn có thể được yêu mà không cần diễn.

Và sâu nhất, cần can đảm để để cho Thiên Chúa yêu mình ở đúng nơi mình trống nhất.

Vì có khi chính nơi trống ấy sẽ trở thành cửa ngõ của ân sủng.

Chính nơi cô đơn ấy sẽ là nơi người trẻ lần đầu thật sự hiểu câu này: lòng con khắc khoải cho đến khi nghỉ yên trong Chúa.

Chính nơi mình tưởng là yếu nhất lại là nơi Chúa bắt đầu làm điều đẹp nhất: dạy mình biết mình là ai khi không còn những lớp vỏ.

Không phải là người phải luôn mạnh.

Không phải là người phải luôn làm vui lòng thiên hạ.

Không phải là người phải luôn tỏa sáng.

Không phải là người phải luôn có ích.

Mà là một người con.

Một người con có Cha.

Một người con được chờ.

Một người con được gọi về.

Một người con có thể mệt mà không bị bỏ.

Một người con có thể khóc mà không bị khinh.

Một người con có thể nghèo mà không mất phẩm giá.

Một người con có thể chưa rõ tương lai mà vẫn có nhà.

Khi người trẻ chạm được vào sự thật đó, bên ngoài họ có thể vẫn còn phải chiến đấu nhiều. Vẫn áp lực. Vẫn trách nhiệm. Vẫn đôi lúc bị hiểu lầm. Vẫn đôi lúc một mình. Nhưng họ sẽ không còn cô đơn theo kiểu mồ côi nữa. Vì giữa những khoảng trống của đời mình, họ biết có một Đấng đang ở đó. Và từ chỗ biết mình có Cha, họ sẽ bắt đầu biết chọn lại những tương quan, những cộng đoàn, những cách sống, những nhịp sống giúp linh hồn mình thật sự có chỗ thuộc về.

CHƯƠNG 4

VÌ SAO NHIỀU NGƯỜI TRẺ BIẾT MÌNH PHẢI SỐNG TỐT, PHẢI CẦU NGUYỆN, PHẢI ĐỔI HƯỚNG, NHƯNG LẠI CỨ TRÌ HOÃN, CỨ HẸN CHÚA “ĐỂ SAU”, VÀ CỨ ĐỂ TUỔI TRẺ TRÔI QUA TRONG NỬA VỜI

Có một bi kịch rất âm thầm nơi tuổi trẻ, không phải là không biết điều đúng, mà là biết rất rõ điều đúng mà vẫn chưa sống.

Biết mình nên cầu nguyện sâu hơn, nhưng cứ để ngày mai.

Biết mình nên bỏ một thói quen đang làm lòng mình đục đi, nhưng cứ nói từ từ rồi tính.

Biết có một mối quan hệ không lành mạnh, nhưng vẫn kéo dài.

Biết mình đang sống phân tán, đang nguội lạnh, đang nửa vời với Chúa, nhưng vẫn tự ru mình rằng rồi sẽ có lúc ổn hơn.

Biết mình cần dừng lại để phân định cuộc đời, nhưng cứ để mọi thứ kéo đi.

Biết lòng mình đang đói Chúa, nhưng lại đưa nó đi ăn những thứ khác.

Biết tuổi trẻ không kéo dài mãi, nhưng vẫn sống như thể mình còn vô hạn thời gian để sửa.

Đây là điều rất lạ nơi con người. Có những điều nếu không biết thì còn dễ hiểu. Nhưng có những điều mình biết là phải làm, thậm chí đã nhiều lần xúc động, nhiều lần được đánh động, nhiều lần hứa với Chúa, nhiều lần rơi nước mắt, nhiều lần quyết tâm, vậy mà rồi vẫn đâu vào đó. Vẫn chậm đổi. Vẫn trì hoãn. Vẫn nửa bước tới rồi lại lùi. Vẫn để ngày này qua ngày khác trôi qua trong một tình trạng nửa tối nửa sáng.

Tại sao?

Tại sao người trẻ có thể rất xúc động trong một giờ cầu nguyện, nhưng sau đó trở lại cuộc sống cũ nhanh đến thế?

Tại sao có thể nghe một bài giảng chạm đến tận tim, nhưng chỉ vài ngày sau lại tiếp tục lối sống cũ?

Tại sao có thể biết mình đang lệch mà vẫn chưa thật sự quay lại?

Tại sao có thể nói yêu Chúa mà lại cứ để Chúa chờ?

Có lẽ trước hết bởi vì con người không chỉ sợ điều xấu. Con người còn sợ điều tốt nếu điều tốt đó đòi mình thay đổi thật.

Nhiều người trẻ không trì hoãn vì không yêu Chúa. Họ trì hoãn vì yêu Chúa nhưng vẫn còn muốn giữ một số thứ cho riêng mình. Họ muốn gần Chúa, nhưng chưa muốn mất quyền kiểm soát. Muốn bình an, nhưng chưa muốn bỏ điều đang làm mình lệch. Muốn sống đẹp, nhưng chưa muốn trả giá cho vẻ đẹp đó. Muốn thuộc về Chúa, nhưng vẫn còn tiếc một vài bóng tối. Muốn có một đời sống nội tâm, nhưng không muốn hy sinh sự dễ dãi đã quen. Muốn đổi hướng, nhưng lại sợ con đường mới sẽ đòi mình phải từ bỏ nhiều điều mình đang thấy dễ chịu.

Vì thế, trì hoãn không chỉ là vấn đề quản lý thời gian. Nó là vấn đề của trái tim. Một trái tim bị kéo đôi. Một trái tim muốn Chúa, nhưng cũng muốn giữ cái tôi. Một trái tim biết ánh sáng là tốt, nhưng mắt vẫn còn quen với bóng tối. Một trái tim nghe tiếng gọi đi lên, nhưng chân vẫn còn thích chỗ thấp vì chỗ đó ít phải chiến đấu hơn.

Đôi khi người trẻ nói: con chưa sẵn sàng. Nghe thì có vẻ hợp lý. Nhưng thật ra nhiều khi không phải là chưa sẵn sàng. Mà là chưa muốn đánh đổi. Chưa muốn cắt đứt. Chưa muốn bước hẳn. Chưa muốn đặt một quyết định dứt khoát. Chưa muốn chôn vùi phiên bản cũ của mình. Chưa muốn dứt một sự trì hoãn đã trở thành thói quen. Chưa muốn để Chúa đi vào đến tận gốc của đời mình.

Có những người trẻ sống như thể mình đang thương lượng với Thiên Chúa. Thưa với Chúa bằng những lời rất đẹp, nhưng trong lòng vẫn ngầm đặt điều kiện. Lạy Chúa, con sẽ sống tốt hơn, nhưng để con giải quyết chuyện này trước. Lạy Chúa, con sẽ quay về nghiêm túc hơn, nhưng để con vui nốt một thời gian. Lạy Chúa, con sẽ dứt khoát, nhưng chưa phải bây giờ. Lạy Chúa, con biết con phải đổi, nhưng xin đừng đụng đến chỗ này. Lạy Chúa, con sẽ trao đời con cho Ngài, nhưng xin để con giữ quyền quyết định cuối cùng.

Nghe thì nhẹ. Nhưng chính những cuộc thương lượng âm thầm ấy làm tuổi trẻ trôi đi trong nửa vời.

Nửa vời là một tình trạng rất đáng sợ. Bởi vì nó không đau rõ như sa ngã lớn, cũng không sáng rõ như hoán cải thật. Nó là vùng lưng chừng. Không đủ xa Chúa để thấy mình hỏng hẳn, nhưng cũng không đủ gần Chúa để nếm bình an thật. Người sống nửa vời vẫn có thể đi lễ, vẫn có thể đọc kinh, vẫn có thể sinh hoạt, vẫn có thể nói chuyện đạo đức, nhưng bên trong không có lửa. Không có quyết định. Không có chiều sâu. Không có sự từ bỏ thật. Không có một lời xin vâng đủ lớn để đổi hướng đời mình.

Sống lâu trong nửa vời sẽ làm linh hồn mệt một cách đặc biệt. Bởi vì nó giống như kéo co mãi. Một bên là tiếng Chúa. Một bên là tiếng thế gian. Một bên là lý tưởng. Một bên là dễ dãi. Một bên là ơn gọi sâu. Một bên là những cám dỗ trước mắt. Một bên là sự thật. Một bên là sự trì hoãn. Và vì không chọn dứt khoát, người ta bị xé. Bị xé nên mệt. Mà cái mệt ấy không phải lúc nào cũng được gọi tên.

Nhiều người trẻ cứ tưởng mình mệt vì học, vì làm, vì gia đình, vì công việc, vì áp lực. Tất cả những điều đó đúng phần nào. Nhưng sâu hơn nữa, có những người mệt vì linh hồn bị chia đôi quá lâu. Mệt vì sáng nghe Chúa gọi mà chiều lại đi theo hướng khác. Mệt vì hết muốn sống thánh lại muốn sống dễ. Mệt vì biết điều phải làm nhưng cứ không làm. Mệt vì liên tục phản bội ánh sáng mình đã nhận được. Mệt vì hứa nhiều với Chúa quá mà giữ quá ít.

Một linh hồn bị chia đôi không thể có bình an. Có thể có những niềm vui ngắn. Có thể có những đoạn hưng phấn. Có thể có những lúc thấy mọi thứ vẫn ổn. Nhưng bình an sâu thì không. Vì bình an sâu chỉ đến khi con người đứng đúng chỗ của mình trước mặt Chúa.

Tại sao người trẻ lại cứ hẹn Chúa “để sau”?

Có lẽ vì họ nghĩ mình còn nhiều thời gian.

Đây là một ảo tưởng rất phổ biến của tuổi trẻ. Người trẻ nhìn cuộc đời như một cánh đồng dài phía trước. Họ nghĩ còn trẻ mà, từ từ cũng được. Bây giờ cứ sống đã. Sau này sẽ nghiêm túc hơn. Sau này sẽ bớt chơi lại. Sau này sẽ dành thời gian cho Chúa. Sau này sẽ lo chuyện linh hồn. Sau này sẽ sống đạo sâu hơn. Sau này trưởng thành hơn rồi tính.

Nhưng không ai được hứa cho chữ “sau này”.

Không ai biết chắc mình còn bao nhiêu mùa nữa để đổi.

Không ai biết trái tim mình sẽ mềm được mãi đâu.

Có những điều nguy hiểm không phải vì nó phá mình ngay. Mà vì nó làm mình chai dần. Một lần trì hoãn không làm con người biến chất ngay. Nhưng nhiều lần trì hoãn sẽ tạo thành một kiểu người luôn biết điều đúng mà không làm. Luôn xúc động mà không đổi. Luôn hứa mà không bước. Luôn nghĩ về một đời sống đẹp nhưng không chịu trả giá để bước vào đời sống đó.

Và đó là một thảm kịch.

Bởi vì tuổi trẻ không chỉ qua đi ở ngoài thân xác. Tuổi trẻ còn có thể qua đi trong khả năng đáp lại ân sủng. Hôm nay một lời Chúa chạm tim mạnh lắm. Nhưng nếu liên tục dập tắt, ngày mai có thể không còn rung như vậy nữa. Hôm nay lương tâm còn bứt rứt. Nhưng nếu cứ nhiều lần làm ngơ, mai kia có thể bớt đau. Hôm nay một điều sai còn khiến mình thấy cấn. Nhưng nếu cứ giữ nó lâu, rồi sẽ quen. Điều đáng sợ không phải là mình yếu một lần. Điều đáng sợ là mình quen sống dưới mức ánh sáng Chúa muốn cho mình.

Người trẻ cũng trì hoãn vì sợ phải bắt đầu từ những điều nhỏ.

Ai cũng thích một quyết tâm lớn, một cảm hứng mạnh, một bước ngoặt đẹp, một câu chuyện hoán cải rất đáng kể. Nhưng đời sống thiêng liêng thật lại thường bắt đầu bằng những điều rất nhỏ: ngủ sớm hơn để sáng dậy cầu nguyện, bớt một giờ vô ích trên điện thoại, tập xét mình cuối ngày, dám cắt một mối tương quan đang làm mình yếu, đi xưng tội cho tử tế, tập ở lại với Lời Chúa mỗi ngày, bắt đầu sống kỷ luật với mắt, với miệng, với thời gian, với cảm xúc.

Những điều đó không rực rỡ. Không kể ra nghe cũng không oai. Không làm người khác trầm trồ. Nhưng chính ở đó mà cuộc đời đổi hướng. Chỉ là nhiều người trẻ chê cái nhỏ vì lòng còn thích những chuyển biến ngoạn mục. Họ đợi một ngày nào đó thật đặc biệt để bắt đầu lại, trong khi Chúa chỉ đang đợi họ trung thành ngay hôm nay với một bước rất nhỏ.

Sự trì hoãn nhiều khi không xuất phát từ yếu đuối lớn, mà từ khinh thường điều nhỏ. Mà trong Nước Trời, điều nhỏ lại là nơi thử lòng con người rõ nhất. Ai trung tín trong việc nhỏ mới có thể bền trong việc lớn. Ai không thắng được một thói quen nhỏ sẽ khó đứng được trước những đòi hỏi lớn của ơn gọi. Ai không dành nổi mười lăm phút thật cho Chúa thì đừng vội nghĩ đến chuyện trao cả đời mình. Không phải vì Chúa hẹp hòi, nhưng vì sự thật là trái tim con người được bộc lộ rõ trong những điều lặp đi lặp lại mỗi ngày.

Người trẻ còn trì hoãn vì họ đã quen sống theo cảm xúc. Họ chỉ muốn bắt đầu khi thấy có lửa. Muốn cầu nguyện khi thấy lòng mình mềm. Muốn đổi khi thấy mình chạm đáy. Muốn từ bỏ khi đủ đau. Muốn bước đi khi nhìn thấy rõ hết con đường. Nhưng trưởng thành thiêng liêng không vận hành như thế. Có những ngày phải cầu nguyện dù khô. Có những lúc phải đổi dù chưa thấy mình đủ quyết tâm. Có những lúc phải bước dù còn run. Có những lúc phải từ bỏ dù trái tim chưa hoàn toàn nhẹ. Có những lúc phải sống đúng không phải vì thấy hứng, mà vì biết đó là điều đúng.

Nếu đợi cảm xúc thuận lợi mới đổi, có thể người ta sẽ chẳng bao giờ đổi thật. Bởi vì phần cũ trong mình luôn biết cách trì hoãn bằng những lý do nghe rất hợp lý: hôm nay con mệt, mai con cầu nguyện kỹ hơn; bây giờ đang rối, để ổn rồi con đổi; thời điểm này chưa phù hợp, để khi nào nhẹ hơn; lúc này cắt chuyện đó thì khó quá, từ từ rồi tính. Và “từ từ rồi tính” có thể trở thành cách cả một tuổi trẻ bị đánh cắp.

Có một điều rất đau nhưng phải nói thật: nhiều người trẻ không thiếu ơn Chúa. Họ thiếu dứt khoát.

Ơn Chúa vẫn có. Lời Chúa vẫn có. Các bí tích vẫn có. Những cơ hội làm lại vẫn có. Những lần được đánh động vẫn có. Những người nâng đỡ vẫn có. Vấn đề là họ không cắt. Không đóng. Không bỏ. Không bắt đầu. Không dọn đường thật sự để Chúa làm việc sâu. Họ muốn biến đổi mà không đụng tới nguyên nhân. Muốn bình an mà không bỏ lối sống đang làm mình chia đôi. Muốn gần Chúa mà vẫn mở cửa cho những thứ kéo mình ra xa. Muốn có đời sống nội tâm mà vẫn sống như thể không cần bảo vệ nội tâm.

Không có ai nên thánh bằng mơ ước. Không có ai đổi đời bằng ý định đẹp. Không có ai phân định ra ơn gọi bằng cách cứ kéo dài tình trạng lưng chừng. Phải có một lúc nào đó, người trẻ phải ngưng đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho nhịp sống, cho tâm trạng, cho tính cách, cho quá khứ, cho áp lực, cho việc mình chưa đủ tốt, và thú nhận một điều: con đang trì hoãn điều con biết mình phải làm.

Thú nhận điều đó đau lắm. Vì từ giây phút ấy, người ta không thể giả vờ ngây thơ nữa. Không thể nói là mình không biết. Không thể kể tiếp những câu chuyện làm nhẹ trách nhiệm của mình. Phải nhìn nhận rằng có những chỗ mình chưa đổi không phải vì Chúa chưa đủ rõ, mà vì mình chưa đủ thành thật. Có những chỗ mình cứ ở lì không phải vì Chúa không cho đường, mà vì mình còn tiếc xiềng xích cũ.

Người trẻ cũng trì hoãn vì sợ thất bại trong việc bắt đầu lại.

Đây là một nỗi sợ rất kín. Có người nghĩ: thôi đừng hứa nữa, vì hứa rồi lại ngã. Đừng quyết tâm nữa, vì quyết tâm rồi cũng hỏng. Đừng bắt đầu lại nghiêm túc nữa, vì mình biết mình không giữ được. Thế là họ chọn sống lửng lơ để đỡ phải đối diện với nỗi xấu hổ của việc thất bại lần nữa.

Nhưng đó là một cái bẫy rất sâu. Bởi vì ma quỷ không cần bạn phạm tội thật nặng mỗi ngày. Nhiều khi nó chỉ cần bạn mất hy vọng vào việc mình có thể bắt đầu lại. Chỉ cần bạn ngưng tin rằng ân sủng có thể nâng bạn lên từng ngày. Chỉ cần bạn thôi chiến đấu. Chỉ cần bạn chấp nhận phiên bản nửa vời của mình như thể đó là số phận không đổi được.

Thiên Chúa không ngạc nhiên vì những lần con người ngã. Điều làm trái tim Người đau không phải chỉ là việc họ ngã, mà là việc họ nằm lì và tự thuyết phục rằng mình không thể đứng dậy nữa. Cha nhân hậu không mệt với chuyện đứa con quay về nhiều lần. Điều Người chờ là sự thật và lòng tín thác. Người trẻ có thể yếu. Có thể té lại. Có thể chậm. Nhưng đừng biến sự yếu của mình thành lý do để ngừng quay về. Một người thánh không phải là người chưa từng ngã. Mà là người không ở lại trong chỗ ngã như thể đó là quê hương.

Có khi người trẻ trì hoãn vì họ đang đợi một phiên bản hoàn hảo của mình để rồi mới đến với Chúa. Nhưng Chúa không đợi bạn trở nên hoàn hảo rồi mới gọi bạn. Chính vì bạn yếu, rối, lẫn lộn, chưa sạch, chưa dứt khoát, nên bạn càng cần đến với Người. Không phải đến để trình diễn tiến bộ, mà để được chữa. Không phải đến vì đã xứng, mà vì biết mình cần ơn.

Cái nghịch lý của ân sủng là thế này: người ta không thể tự làm sạch mình hoàn toàn rồi mới đến với Chúa. Họ phải đến với Chúa để được Người thanh tẩy. Nhưng rất nhiều người trẻ làm ngược lại. Họ nói: để con ổn hơn rồi con quay lại. Để con bớt tội này rồi con cầu nguyện tử tế. Để con sắp xếp lại đời sống rồi con đến với Chúa sâu hơn. Không. Chính trong mớ hỗn độn đó, hãy đến. Chính trong nỗi chia đôi đó, hãy đến. Chính trong sự trì hoãn đã kéo dài đó, hãy đến. Bởi vì nếu cứ chờ đến khi mình đủ sạch mới đến, có khi chẳng bao giờ đến thật.

Người trẻ còn trì hoãn vì họ chưa thấy đủ rõ giá trị của tuổi trẻ được hiến dâng. Họ nghĩ trao cho Chúa là mất bớt niềm vui. Sống kỷ luật là thiệt. Từ bỏ là nghèo đi. Đặt Chúa ở trung tâm là làm đời mình bớt tự do. Nhưng thật ra điều ngược lại mới đúng. Chính sự nửa vời mới làm người ta mệt nhất. Chính việc vừa muốn Chúa vừa muốn thế gian mới làm lòng bị xé. Chính sự trì hoãn mới làm tuổi trẻ phai đi trong tiếc nuối. Còn một đời sống được gom lại trong Chúa, dù có chiến đấu, lại rất sáng. Dù có phải bỏ nhiều thứ, lại rất tự do. Dù có đoạn đau, lại không vô nghĩa.

Không có gì đẹp bằng một người trẻ sống trọn. Không phải trọn theo kiểu không tì vết. Mà trọn theo kiểu không giữ lại một góc tối để mặc cả với Chúa. Một người trẻ có thể còn rất bình thường, còn rất yếu, còn phải chiến đấu từng ngày, nhưng nếu họ đã quyết đặt đời mình về đúng hướng, thì cả trời đất đều khác. Ánh mắt khác. Nhịp sống khác. Cách yêu khác. Cách dùng thời gian khác. Cách chọn bạn bè khác. Cách nhìn tương lai khác. Cách đứng dậy sau sa ngã cũng khác. Bởi vì từ đây, họ không còn sống như một người chơi với ơn Chúa nữa. Họ bắt đầu sống như một người hiểu rằng đời mình là chuyện thật.

Phải nói thêm điều này: trì hoãn với Chúa không phải chuyện nhỏ. Vì mỗi lần trì hoãn, trái tim bị huấn luyện theo một hướng xấu. Nó học cách nghe mà không đáp. Xúc động mà không bước. Thấy mà không làm. Biết mà không vâng. Và nếu kiểu sống ấy kéo dài, người ta sẽ dần trở thành một kiểu Kitô hữu chỉ biết nói về điều tốt chứ không còn đủ lực để sống điều tốt. Lâu ngày, họ không còn sốc vì sự nửa vời của mình nữa. Họ sống hòa bình giả với nó. Họ xem việc mình cầu nguyện chắp vá, quyết tâm nửa chừng, đức tin nguội lạnh, kỷ luật rời rạc như một chuyện bình thường. Đó là lúc linh hồn rất nguy.

Bởi vì linh hồn bị thương còn dễ cứu hơn linh hồn đã quen với bệnh.

Có lẽ đây là lúc người trẻ cần hỏi thật lòng:

Mình đang hẹn Chúa điều gì?

Mình đang biết rõ điều gì mà chưa làm?

Mình đang giữ lại góc nào trong đời không cho Chúa bước vào?

Mình đang dùng chữ “sau này” để che cho nỗi sợ nào?

Mình đang đợi điều gì mới chịu bắt đầu?

Mình có thật sự muốn đổi, hay chỉ muốn đỡ cắn rứt?

Mình có đang thích cảm giác được đánh động hơn là bước vào thay đổi thật không?

Bởi vì có một khác biệt rất lớn giữa xúc động và hoán cải. Xúc động có thể đến rất nhanh. Hoán cải thì phải đi qua quyết định, qua kỷ luật, qua việc bỏ một điều gì đó, qua việc xây lại một điều gì đó, qua những ngày rất bình thường mà vẫn trung tín. Nhiều người trẻ nghiện cảm giác xúc động thiêng liêng, nhưng lại sợ công việc âm thầm của hoán cải. Họ thích những buổi cầu nguyện làm tim nóng lên, nhưng lại không kiên nhẫn với việc dậy sớm hơn mười lăm phút để gặp Chúa mỗi ngày. Họ thích nước mắt trong tĩnh tâm, nhưng không thích chuyện phải cắt bớt thời gian vô ích. Họ thích những lời mời gọi lớn, nhưng không thích việc phải sửa một tật nói dối, một thói trì hoãn, một kiểu sống lệch giờ, một sự dễ dãi với thân xác, một mối tương quan bất chính.

Nhưng ơn thánh thật luôn đi vào chỗ cụ thể. Nếu một giờ cầu nguyện không đụng tới lịch sống, cách dùng điện thoại, kỷ luật thân xác, các mối quan hệ, thời gian dành cho Chúa, thì rất có thể nó chỉ dừng ở xúc động. Còn nếu ân sủng chạm thật, nó sẽ bắt đầu hỏi bạn: vậy từ ngày mai, con sẽ đổi điều gì?

Và đó là chỗ nhiều người sợ.

Sợ bước từ cảm xúc sang quyết định.

Sợ bước từ lời hay sang nếp sống.

Sợ bước từ ước ao sang hành động.

Sợ bước từ “con biết” sang “con làm”.

Nhưng chính bước ấy mới cứu tuổi trẻ khỏi trôi qua vô ích.

Không ai buộc người trẻ phải đổi cả đời trong một ngày. Nhưng có một điều Chúa vẫn chờ: hãy vâng một bước hôm nay. Không phải mai. Không phải khi nào thuận hơn. Không phải sau khi giải quyết hết mọi vấn đề. Mà là hôm nay, trong điều mình đã biết rõ nhất.

Nếu bạn biết mình cần cầu nguyện, hãy bắt đầu bằng một giờ cố định.

Nếu bạn biết có một điều phải cắt, hãy cắt.

Nếu bạn biết cần đi xưng tội, đừng dời nữa.

Nếu bạn biết có một mối liên hệ đang làm mình xa Chúa, hãy thành thật nhìn nó.

Nếu bạn biết mình đang sống vô kỷ luật, hãy sửa từ một nếp nhỏ.

Nếu bạn biết mình quá lệ thuộc vào điện thoại, hãy thiết lập lại ranh giới.

Nếu bạn biết lòng mình lâu rồi không ở yên với Chúa, hãy ngồi xuống dù không cảm thấy gì.

Thiên Chúa không coi thường những khởi đầu nhỏ. Chính con người thường coi thường. Nhưng trời cao vui vì một bước quay về thật. Một bước nhỏ nhưng thật có giá trị hơn một ngàn ý định đẹp mà không đi tới đâu. Một kinh tối đọc bằng lòng trung thành giữa ngày mệt mỏi có thể quý hơn cả một cơn xúc động lớn rồi tan mất. Một quyết định dứt khoát với điều làm mình lệch có thể mở đường cho cả một mùa ân sủng mới.

Người trẻ thân mến, tuổi trẻ không mất đi một lúc. Nó mất qua từng lần trì hoãn điều tốt. Từng lần hẹn Chúa để sau. Từng lần dập tiếng lương tâm. Từng lần biết mà không làm. Từng lần sống thấp hơn ánh sáng mình đã nhận. Và rồi đến một ngày, nhìn lại, người ta sẽ đau vì không phải mình không có ơn, mà vì mình đã để ơn đi qua quá nhiều lần mà không đón.

Đừng để mình thành người như thế.

Đừng để mai này phải buồn vì đã có biết bao lần Chúa gọi rất gần mà mình cứ nói: chưa phải bây giờ.

Đừng để những năm đẹp nhất của đời mình chỉ là quãng thời gian mình lưỡng lự với điều mình biết là phải sống.

Đừng để lòng mình quen với sự nửa vời tới mức không còn thấy nó đau nữa.

Đừng để chữ “sau này” trở thành cái hố chôn lời đáp của tuổi trẻ.

Có thể bạn chưa đổi được hết.

Có thể bạn còn yếu.

Có thể bạn còn run.

Có thể bạn còn sợ.

Có thể bạn còn phải ngã rồi đứng dậy nhiều lần.

Nhưng xin đừng trì hoãn bước đầu tiên.

Vì bước đầu tiên không phải là chứng minh mình mạnh. Mà là thú nhận rằng mình không muốn sống nửa vời nữa.

Lạy Chúa, con không muốn hẹn Ngài mãi.

Con không muốn cứ biết mà không làm.

Con không muốn tuổi trẻ của con bị chôn trong những lần “để sau”.

Con không muốn chỉ xúc động mà không đổi.

Con không muốn cứ thương lượng với Ngài mãi.

Con muốn bắt đầu.

Dù nhỏ.

Dù chậm.

Dù còn run.

Nhưng là thật.

Nếu người trẻ dám nói với Chúa lời đó, và biến nó thành một quyết định rất cụ thể ngay hôm nay, thì đã có một điều lớn xảy ra rồi: tuổi trẻ của họ không còn trôi đi như một vùng đất bỏ hoang nữa. Nó bắt đầu trở thành một mảnh đất được cày lên cho hạt giống của Thiên Chúa.

CHƯƠNG 5

NGƯỜI TRẺ ĐANG ĐỂ NHỮNG THÓI QUEN NHỎ MỖI NGÀY ÂM THẦM XÂY ĐỜI MÌNH HAY ÂM THẦM PHÁ ĐỜI MÌNH NHƯ THẾ NÀO

Có những điều làm hỏng một đời người không đến từ một biến cố quá lớn.

Không phải lúc nào cũng là một cú ngã quá đau. Không phải lúc nào cũng là một quyết định sai rõ ràng đến mức ai nhìn vào cũng thấy. Không phải lúc nào cũng là một lần phản bội lớn, một lần sa ngã nặng, một biến cố dữ dội. Có khi đời người hỏng đi trong những điều rất nhỏ. Nhỏ đến mức người ta không sợ. Nhỏ đến mức người ta không thấy cần phải xét lại. Nhỏ đến mức người ta cứ nghĩ: chuyện này có là gì đâu. Ai mà chẳng thế. Mai sửa cũng được.

Nhưng chính những cái rất nhỏ ấy, khi lặp lại đủ lâu, sẽ trở thành hình dáng của một con người.

Một thói quen không chỉ là một hành vi lặp lại. Nó là một người thợ âm thầm. Ngày nào nó cũng đục, cũng gọt, cũng mài, cũng kéo đời mình đi theo một hướng nào đó. Có những thói quen dựng nên một con người vững. Có những thói quen phá nát một con người mà không gây tiếng động lớn. Có những thói quen như những viên gạch âm thầm xây nên một nội tâm sáng. Có những thói quen như nước rỉ từng giọt làm mục cả nền móng linh hồn.

Người trẻ thường thích nhìn đời mình ở những quyết định lớn. Chọn ngành gì. Chọn việc gì. Yêu ai. Cưới ai. Đi tu hay lập gia đình. Ở đâu. Làm gì cho tương lai. Tất cả những điều đó rất quan trọng. Nhưng trước những quyết định lớn ấy là một điều khác còn âm thầm hơn và cũng quyết định không kém: mỗi ngày bạn đang sống bằng những thói quen nào.

Bởi vì đến một lúc nào đó, con người không sống bằng ước mơ mình nói ra. Họ sống bằng nếp mình đã quen. Không sống bằng những câu rất đẹp về lý tưởng. Họ sống bằng những điều mình làm lặp đi lặp lại khi không ai nhìn thấy. Không sống bằng những phút xúc động hiếm hoi. Họ sống bằng nhịp đều của những gì mình nuôi trong một ngày rất bình thường.

Có những người trẻ nói rằng họ muốn nên người tử tế, muốn sống sâu, muốn gần Chúa, muốn có một đời sống đẹp, muốn trở thành người trưởng thành, muốn không lãng phí tuổi trẻ. Nhưng nếu nhìn thật vào đời sống mỗi ngày, ta sẽ thấy một khoảng cách rất đau giữa điều họ muốn và điều họ đang tập cho mình trở thành.

Vì có khi miệng nói rất yêu Chúa, nhưng thói quen mỗi ngày lại không dành nổi cho Chúa một chỗ đứng tử tế.

Có khi nói muốn trưởng thành, nhưng thói quen lại là trì hoãn, ngủ muộn, sống tùy hứng, nói cho qua, làm cho có, hứa rồi để đó.

Có khi nói muốn bình an, nhưng mỗi ngày lại nhét vào lòng quá nhiều thứ vô ích.

Có khi nói muốn sống trong sạch, nhưng lại liên tục nuôi mắt, nuôi trí, nuôi tưởng tượng bằng những thứ làm linh hồn đục đi.

Có khi nói muốn có định hướng, nhưng ngày nào cũng để thời gian rơi vụn qua tay.

Có khi nói muốn có nội tâm, nhưng chưa từng bảo vệ nội tâm bằng một kỷ luật cụ thể nào.

Chính ở đây mà người trẻ phải đối diện với một sự thật rất mạnh: không ai trở thành người mình mơ ước chỉ bằng việc mơ ước. Người ta trở thành người mà những thói quen mỗi ngày đang âm thầm huấn luyện họ thành.

Một người không tự nhiên trở nên sâu. Họ được làm nên bởi thói quen biết dừng lại, biết suy nghĩ, biết đọc, biết cầu nguyện, biết lắng nghe, biết xét mình, biết ở yên với sự thật.

Một người không tự nhiên trở nên nhẹ dạ. Họ cũng được làm nên bởi thói quen sống hời hợt, đọc lướt, nghe lướt, nghĩ lướt, phản ứng nhanh, chạy theo cảm xúc, không chịu đào sâu điều gì tới nơi tới chốn.

Một người không tự nhiên trở nên mạnh trong cám dỗ. Họ mạnh lên vì đã tập kỷ luật với những chuyện nhỏ.

Một người không tự nhiên yếu đi trước cám dỗ. Họ yếu dần vì ngày này qua ngày khác cứ cho phép mình dễ dãi trong những thứ tưởng như không đáng kể.

Đời sống thiêng liêng cũng thế. Không ai tự nhiên có một tương quan sâu với Chúa. Không ai tự nhiên có một trái tim bén nhạy với điều thiện. Không ai tự nhiên có khả năng phân định tốt. Không ai tự nhiên có lòng trung thành bền bỉ. Tất cả đều được tạo bởi một nếp sống. Một nhịp sống. Một cấu trúc nội tâm được xây từng ngày. Và thói quen là một phần rất lớn trong cấu trúc ấy.

Có lẽ đây là điều nhiều người trẻ chưa thấy đủ rõ: thói quen nhỏ không nhỏ chút nào. Nó là hướng đi của linh hồn được đóng gói trong một hành động lặp lại.

Cách bạn thức dậy mỗi sáng không nhỏ.

Cách bạn chạm vào điện thoại đầu tiên không nhỏ.

Cách bạn dùng một giờ rảnh không nhỏ.

Cách bạn ăn, nói, nhìn, trả lời, hẹn rồi giữ hay không giữ, làm việc tới nơi hay làm cho xong, đi ngủ lúc nào, dành thời gian cho Chúa ra sao, để đầu óc mình gặm nhấm thứ gì, tất cả những điều ấy không nhỏ. Chúng là những đường rãnh. Và đời người giống như nước, chảy mãi theo những đường rãnh đã được tạo.

Người trẻ hôm nay thường có một sai lầm rất phổ biến: coi thường những điều nhỏ nhưng lại lo lắng rất nhiều về tương lai lớn. Họ nghĩ nhiều về năm năm tới, mười năm tới, nhưng lại không để ý hôm nay đang được sống ra sao. Họ hỏi mình có thành công không, có đúng ơn gọi không, có sống ý nghĩa không, nhưng lại không hỏi thói quen hiện tại của mình có đang dẫn mình tới loại người có thể sống được cuộc đời đó hay không.

Một người mơ có một gia đình hạnh phúc nhưng không tập trung thành, tập kiên nhẫn, tập làm chủ cảm xúc, tập trách nhiệm với lời nói, thì tương lai ấy khó thành.

Một người mơ có một đời tu bền đỗ nhưng hiện tại không tập cầu nguyện đều, không tập vâng phục, không tập từ bỏ mình, không tập kỷ luật trong điều nhỏ, thì ơn gọi dễ chỉ là xúc động đẹp chứ chưa thành nền móng.

Một người mơ có một sự nghiệp tử tế nhưng hằng ngày sống vô định, trì hoãn, thiếu chiều sâu, không chịu học tới nơi, không có thói quen làm việc bền, thì ước mơ đó chỉ treo lơ lửng.

Một người mơ sống gần Chúa nhưng mỗi ngày không chừa cho Chúa một khoảng thật, không cắt bớt tiếng ồn, không bảo vệ tâm hồn khỏi những thứ đang làm nó đục đi, thì mối tương quan ấy sẽ mãi mỏng.

Con người thường đau vì mơ một đằng mà sống một nẻo. Và cái nẻo đó phần lớn được quyết định bởi thói quen.

Có những thói quen âm thầm phá đời người trẻ theo cách rất khó nhận ra lúc đầu.

Thói quen sống theo màn hình ngay khi vừa thức dậy. Một điều tưởng rất nhỏ. Chỉ là mở điện thoại thôi mà. Nhưng chính khoảnh khắc đầu ngày đó nói lên nhiều lắm. Trái tim bạn đi tìm ai trước? Nội tâm bạn được giao cho điều gì định hình đầu tiên? Nếu ngày nào cũng mở mắt ra là nhảy vào thế giới ồn ào, so sánh, kích thích, phản ứng, thì linh hồn bạn chưa kịp gặp chính mình đã bị xé ra trăm mảnh. Một ngày được mở bằng điện thoại quá dễ sẽ thường khó được sống bằng sự tập trung sâu. Không phải vì điện thoại tự nó là xấu, mà vì nó quá dễ cướp mất trung tâm của ngày sống.

Thói quen trì hoãn những điều mình biết là phải làm. Có những người trẻ rất thông minh, rất nhạy, rất nhiều tiềm năng, nhưng bị ăn mòn từng chút bởi thói quen này. Việc tốt để sau. Cầu nguyện để sau. Học nghiêm túc để sau. Xét lại lòng mình để sau. Xin lỗi ai đó để sau. Xưng tội để sau. Cắt bỏ điều đang làm mình lệch để sau. Mỗi lần “để sau” là một lần nội tâm học thêm một bài học nguy hiểm: biết mà không làm cũng không sao. Và khi bài học ấy thành thói quen, người trẻ sẽ dần trở thành kiểu người phản ứng nhanh với điều dễ nhưng chậm chạp với điều đúng.

Thói quen sống phân tán. Đang làm việc này lại nhảy sang việc khác. Đang học lại xem tin nhắn. Đang cầu nguyện lại nghĩ chuyện khác. Đang nói chuyện với người trước mặt lại lén nhìn vào màn hình. Đang ăn mà đầu óc chạy đi đâu không biết. Đang dự lễ mà hồn không ở đó. Sống phân tán lâu ngày không chỉ làm giảm hiệu suất. Nó còn làm con người mất khả năng hiện diện. Mà người không hiện diện được với hiện tại thì cũng rất khó hiện diện được với Chúa, với tha nhân, với chính mình. Một đời sống bị xé vụn bởi phân tán sẽ khó đi vào chiều sâu.

Thói quen nuông chiều bản thân trong những điều tưởng như rất nhỏ. Hôm nay thôi kệ. Hôm nay nghỉ một chút. Hôm nay cho mình dễ dãi một lần. Hôm nay sống thấp hơn tiêu chuẩn một chút cũng chẳng sao. Những chữ “một chút” ấy rất nguy. Vì chúng huấn luyện trái tim quen với việc xin ngoại lệ cho chính mình. Và khi con người đã quen xin ngoại lệ trong điều nhỏ, họ sẽ rất dễ xin ngoại lệ trong điều lớn. Kỷ luật không sinh ra từ những tuyên ngôn mạnh. Nó sinh ra từ việc trong điều nhỏ, ta không luôn cúi đầu trước sự dễ dãi.

Thói quen sống bằng cảm xúc hơn là bằng chân lý. Thấy vui thì làm. Thấy có hứng thì cầu nguyện. Thấy chán thì bỏ. Thấy nặng thì né. Thấy khó thì lùi. Thói quen này làm người trẻ sống thiếu xương sống. Họ không có nhịp. Không có trục. Không có điều gì đủ bền để giữ họ đứng lại trong những ngày không có cảm hứng. Mà đời sống thật, cả thiêng liêng lẫn con người, không bao giờ được xây chỉ bằng cảm xúc.

Thói quen tiêu thụ quá nhiều. Quá nhiều nội dung. Quá nhiều thông tin. Quá nhiều âm thanh. Quá nhiều thứ để xem, để nghe, để cuốn mình đi. Tưởng là mình đang tiếp nhận, nhưng thật ra nhiều khi chỉ đang làm đầy đầu óc bằng những thứ không nuôi nổi linh hồn. Một tâm trí luôn bị nhồi liên tục sẽ dần mất khả năng suy nghĩ sâu. Một trái tim luôn bị kích thích sẽ dần mất khả năng cảm nếm những điều tinh tế. Và rồi người trẻ sẽ thấy mình khó đọc một trang sách lâu, khó cầu nguyện trong thinh lặng, khó nghe một người nói hết câu, khó ở lại với một điều gì đó mà không thấy sốt ruột. Đó không phải chuyện nhỏ. Đó là một sự thay đổi cấu trúc của nội tâm.

Thói quen sống thiếu thật với chính mình. Đây là một điều rất kín. Có người luôn có lý do để bào chữa. Đi trễ vì đường. Hứa không giữ vì bận. Cầu nguyện ít vì mệt. Học hành hời hợt vì áp lực. Lòng nguội vì hoàn cảnh. Thất thường vì tính cách. Chuyện gì cũng có thể kể thành một câu chuyện đỡ đau cho cái tôi. Lâu ngày, người ta mất thói quen nhìn sự thật trần trụi. Và đây là một bi kịch lớn. Bởi vì không ai thay đổi được điều mình luôn bào chữa.

Nhưng bên cạnh những thói quen âm thầm phá, cũng có những thói quen âm thầm cứu.

Một người trẻ có thể chưa thấy mình thánh thiện lắm, chưa sâu lắm, chưa ổn lắm, nhưng nếu họ bắt đầu tạo những thói quen đúng, đời họ đang được xoay hướng. Chưa cần thấy kết quả ngay. Chỉ cần biết rằng mỗi ngày mình đang gieo đúng.

Thói quen thức dậy và dành khoảnh khắc đầu tiên cho Chúa. Không nhất thiết phải thật dài ngay từ đầu. Nhưng thật. Một dấu thánh giá có ý thức. Một lời dâng ngày. Một phút ngồi yên trước khi chạm vào điện thoại. Một câu thưa đơn sơ: lạy Chúa, xin ở với con hôm nay. Những điều ấy nhìn bên ngoài nhỏ lắm. Nhưng nó đặt đúng trật tự. Nó nhắc trái tim rằng ngày này không chỉ là của công việc, của áp lực, của các cuộc hẹn, mà trước hết là của Chúa.

Thói quen cầu nguyện đều chứ không đợi có hứng. Đây là một viên đá nền. Một người giữ được nhịp cầu nguyện, dù đơn sơ, sẽ khác hẳn. Không phải vì họ luôn thấy sốt sắng. Nhưng vì nội tâm họ có một cái mỏ neo. Ngày có thể hỗn loạn, lòng có thể bấp bênh, nhưng vẫn có một chỗ để quay về. Cầu nguyện đều là cách người trẻ nói với Chúa rằng con không chỉ tìm Ngài khi con cần cảm xúc; con muốn sống với Ngài như một tương quan thật.

Thói quen xét mình cuối ngày. Đây là một việc nhỏ nhưng rất mạnh. Chỉ vài phút thôi. Nhìn lại một ngày. Tạ ơn ở đâu. Sai ở đâu. Lệch ở đâu. Được ơn ở đâu. Bị kéo ở đâu. Điều gì làm lòng mình sáng hơn. Điều gì làm lòng mình tối đi. Người có thói quen xét mình sẽ ít bị trôi. Họ không để đời sống đi qua như nước đổ. Họ học được cách nhìn linh hồn mình dưới ánh sáng Chúa. Và dần dần, họ bén nhạy hơn với những chuyển động bên trong.

Thói quen làm tới nơi những việc nhỏ. Xếp gọn chỗ của mình. Đến đúng giờ. Giữ lời hứa. Trả lời tử tế. Học nghiêm túc. Làm xong điều phải làm. Không bỏ dở vì chán. Những điều đó có vẻ rất đời thường, nhưng thật ra nó luyện nên rất nhiều nhân đức. Ai không trung tín trong việc nhỏ sẽ rất khó có uy tín với chính mình trong việc lớn. Người làm tới nơi những việc nhỏ đang tập cho mình một linh hồn biết đứng thẳng.

Thói quen bảo vệ đôi mắt và trí tưởng tượng. Đây là chuyện rất thật mà nhiều người trẻ né nói. Nhưng đời sống trong sạch không chỉ là tránh một tội nặng. Nó bắt đầu từ việc mình để mắt nhìn gì, để trí nuôi gì, để lòng bị kéo bởi điều gì. Một người không bảo vệ cửa ngõ của tâm hồn thì sẽ rất khó nói mình muốn nội tâm sáng. Có những hình ảnh ở lại rất lâu. Có những nội dung làm tâm trí biến dạng. Có những trò tiêu khiển tưởng vô hại nhưng làm hạ thấp phẩm giá của cái nhìn. Người trẻ muốn sống mạnh không thể sống buông trong lãnh vực này.

Thói quen đọc những gì nuôi mình. Không phải đọc cho có vẻ sâu. Mà là đọc để tâm trí có chất liệu lành. Lời Chúa. Sách tốt. Gương sống đẹp. Những suy tư đòi mình nghĩ sâu hơn. Một người không chọn lọc điều mình đọc sẽ để đầu óc bị dẫn bởi những gì ngẫu nhiên nhất. Còn người biết đọc đúng sẽ dần có một thế giới nội tâm phong phú hơn, bền hơn, ít bị đám đông kéo đi hơn.

Thói quen ở yên một chút với chính mình. Không phải cô lập. Nhưng là biết tắt bớt tiếng ồn. Biết đi bộ một đoạn không cần tai nghe. Biết ngồi im vài phút. Biết để một ngày có những khoảng trắng. Biết không chạy trốn khoảng trống bằng lập tức lấp đầy nó. Trong thinh lặng, nhiều điều sẽ hiện ra. Ban đầu có thể khó chịu. Nhưng nếu không có thinh lặng, người trẻ sẽ sống cả đời trên bề mặt.

Thói quen sống thật. Nói thật hơn với Chúa. Thành thật hơn với bản thân. Bớt diễn. Bớt kể câu chuyện đẹp hơn về mình. Bớt đổ lỗi. Bớt tự thương theo kiểu làm mình yếu. Bớt tô màu cho sự nửa vời. Sống thật là một thói quen, không chỉ là một khoảnh khắc. Và một người tập sống thật mỗi ngày sẽ có cơ may lớn để được chữa lành thật.

Có một điều rất đáng suy nghĩ: thói quen không chỉ làm ra ngày sống. Nó dần làm ra vận mệnh. Dù người ta không thích nghe chữ này, nhưng nó rất đúng. Một người có thể có tài, nhưng nếu thói quen xấu ăn mòn, tài đó sẽ rất khó nở trọn. Một người có thể không nổi bật lắm ban đầu, nhưng nếu có những thói quen đúng, đời họ sẽ ngày càng vững. Thế nên đừng chỉ hỏi mình có ước mơ gì. Hãy hỏi mình đang có những nếp sống nào đủ trung thành để đưa mình tới ước mơ đó dưới ánh sáng Thiên Chúa.

Người trẻ nhiều khi chờ một cú đổi đời lớn, trong khi Chúa lại muốn cứu họ qua việc đổi lại những nhịp nhỏ mỗi ngày.

Không phải lúc nào Chúa cũng làm phép lạ bằng cách lấy đi hết yếu đuối trong một đêm. Nhiều khi Người cứu bằng cách mời con người hợp tác với ân sủng trong một nếp sống mới. Dậy sớm hơn một chút. Giữ giờ cầu nguyện. Xưng tội đều hơn. Bớt một thứ đang làm lòng mình phân tán. Trung tín với việc phải làm hôm nay. Chọn im lặng thay vì phản ứng ngay. Chọn nói thật thay vì nói cho nhẹ tội. Chọn nhìn đi chỗ khác thay vì nuôi mắt bằng điều làm mình đục. Chọn ngồi lại với Lời Chúa thay vì tiếp tục cuốn mình vào vô số nội dung.

Những chọn lựa ấy không hoành tráng. Nhưng chúng có sức cứu.

Chúng cứu một người khỏi sống tan tác.

Chúng cứu một tuổi trẻ khỏi trôi thành vô định.

Chúng cứu một linh hồn khỏi bị bào mòn bởi những thứ tưởng nhỏ mà hóa lớn.

Đôi khi người trẻ tự hỏi: tại sao mình cứ yếu mãi? Tại sao mình cứ nguội? Tại sao mình cứ rối? Tại sao mình không giữ được quyết tâm? Có nhiều nguyên nhân, nhưng một phần rất thực tế là vì những thói quen hiện tại đang kéo họ ngược hướng với điều họ cầu xin. Họ xin bình an, nhưng sống vô trật tự. Họ xin gần Chúa, nhưng không dành chỗ cho Chúa. Họ xin bớt cám dỗ, nhưng vẫn nuôi cửa ngõ cho cám dỗ đi vào. Họ xin bớt rối, nhưng tiếp tục sống phân tán. Họ xin trưởng thành, nhưng vẫn chiều mình trong điều nhỏ. Không phải Chúa không nghe. Mà là ân sủng cần một mảnh đất hợp tác. Và thói quen chính là một phần của mảnh đất đó.

Nếu một người trẻ muốn biết đời mình đang đi đâu, đừng chỉ nhìn những dự định lớn. Hãy nhìn lịch sống một tuần. Hãy nhìn cách họ tiêu thời gian. Hãy nhìn điều họ làm khi rảnh. Hãy nhìn việc gì được ưu tiên. Hãy nhìn điều gì lặp lại. Hãy nhìn họ đối xử với bổn phận nhỏ ra sao. Hãy nhìn cách họ dùng điện thoại, cách họ ngủ nghỉ, cách họ cầu nguyện, cách họ nói thật hay né thật. Những điều đó sẽ tiết lộ nhiều hơn cả những câu tuyên bố về tương lai.

Có thể đây là chỗ người trẻ phải dừng lại và xét rất kỹ:

Những thói quen nào trong đời mình đang làm lòng mình sáng hơn?

Những thói quen nào đang làm mình yếu đi?

Mỗi sáng mình bắt đầu ngày bằng điều gì?

Mỗi tối mình kết thúc ngày bằng điều gì?

Điều gì đang chiếm phần đẹp nhất trong thời gian và sự chú ý của mình?

Có thói quen nào mình vẫn gọi là nhỏ nhưng thật ra đang đào rãnh cho cả một lối sống lệch không?

Có thói quen tốt nào mình cứ xem thường nên chưa bắt đầu, trong khi nó có thể đổi hướng cả một chặng đời không?

Bởi vì sự thật là đời người được dẫn đi không chỉ bởi những quyết định lớn hiếm hoi, mà còn bởi những bước nhỏ lặp đều. Một bánh lái lệch rất ít nhưng giữ nguyên hướng lệch ấy đủ lâu thì con tàu sẽ tới một nơi hoàn toàn khác. Thói quen cũng vậy.

Người trẻ thân mến, đừng coi thường ngày thường. Đừng xem nhẹ những việc lặp lại. Đừng nghĩ rằng chỉ khi có biến cố lớn mới cần nghiêm túc với đời mình. Có khi chính cách bạn sống vào một ngày rất bình thường mới đang quyết định bạn sẽ là ai sau mười năm nữa.

Một đời sống đẹp không được dệt từ vài khoảnh khắc rực rỡ. Nó được dệt từ những sợi chỉ lặp đi lặp lại: trung tín, kỷ luật, thật, cầu nguyện, làm tới nơi, biết dừng, biết cắt, biết chọn, biết nói không, biết giữ lòng, biết quay về. Tất cả nghe rất bình thường. Nhưng chính cái bình thường đó, khi được thấm ánh sáng Chúa, sẽ thành phi thường.

Có lẽ Chúa không chờ người trẻ hôm nay làm ngay những việc vĩ đại. Có khi Người chỉ chờ họ sửa lại một thói quen. Và từ một thói quen được sửa, một nhịp sống mới được hình thành. Từ nhịp sống mới, một nội tâm mới được vun lên. Từ nội tâm mới, những quyết định lớn rồi sẽ khác.

Thế nên, đừng hỏi quá xa trước: khi nào đời con mới đổi? Hãy hỏi gần hơn: hôm nay con sẽ lặp lại điều gì? Vì chính điều bạn lặp lại hôm nay đang viết nên con người ngày mai.

Lạy Chúa, xin đừng để con chỉ mơ một cuộc đời đẹp mà không chịu sống đẹp trong điều nhỏ. Xin đừng để con chỉ buồn về những sa ngã lớn mà không nhìn ra những thói quen nhỏ đang âm thầm bào mòn con. Xin cho con biết sợ điều làm lòng mình chai đi từng chút. Xin cho con biết quý những điều nhỏ có thể xây nên một linh hồn sáng. Xin dạy con trung tín trong việc bé mọn, để đời con không trôi vào hỗn độn. Xin cho từng ngày bình thường của con được sống như một nơi Ngài âm thầm nắn lại số phận con.

CHƯƠNG 6

VÌ SAO NHIỀU NGƯỜI TRẺ KHÔNG HẲN GHÉT SỰ THẬT, NHƯNG LẠI RẤT SỢ ĐỐI DIỆN VỚI CHÍNH MÌNH, SỢ NHÌN VÀO NHỮNG GÌ ĐANG THẬT SỰ DIỄN RA TRONG LÒNG MÌNH

Có những người trẻ không phải không muốn sống tốt.

Cũng không phải họ không biết sự thật là quan trọng.

Họ không ghét ánh sáng. Không ghét những bài giảng đánh động. Không ghét những lúc cầu nguyện sâu. Không ghét những cuộc trò chuyện khiến mình phải suy nghĩ lại. Không ghét việc sống tử tế. Không ghét chuyện phải hoán cải. Có khi họ còn rất thích nghe về sự trưởng thành, rất thích đọc những điều sâu sắc, rất thích những giờ phút mình được lay động.

Nhưng lạ lắm.

Họ thích nghe sự thật, miễn là sự thật ấy chưa đụng thẳng vào vùng họ đang giấu.

Họ thích nói về chữa lành, miễn là chưa phải chạm tới vết thương mình vẫn đang né.

Họ thích những lời mời gọi nên thánh, miễn là chưa phải bỏ điều mình đang bám.

Họ thích ánh sáng, miễn là ánh sáng chưa rọi đến đúng góc tối mình đang giữ lại.

Đó là lý do tại sao có rất nhiều người trẻ không ghét sự thật, nhưng lại rất sợ đối diện với chính mình.

Sợ ngồi xuống đủ lâu để nghe lòng mình.

Sợ gọi đúng tên điều đang diễn ra bên trong.

Sợ thôi kể những câu chuyện đẹp về bản thân.

Sợ nhìn nhận rằng có những thứ trong mình không đẹp như mình tưởng.

Sợ nhận ra rằng nhiều quyết định của mình không phát xuất từ tình yêu, mà từ nỗi sợ.

Sợ thú nhận rằng bấy lâu nay mình không hẳn đang sống, mà phần nào chỉ đang chạy.

Con người có thể chịu được nhiều thứ, nhưng có một điều rất khó chịu: bị kéo ra khỏi ảo tưởng về chính mình.

Vì ảo tưởng dễ chịu hơn sự thật. Ảo tưởng cho ta cảm giác mình vẫn ổn. Vẫn đúng hướng. Vẫn khá tốt. Vẫn tốt hơn nhiều người. Vẫn còn thời gian. Vẫn chưa đến mức nguy hiểm. Vẫn có thể từ từ. Vẫn chưa cần phải thay đổi mạnh. Vẫn chưa cần cắt bỏ điều gì. Vẫn chưa cần đau.

Còn sự thật thì thường đau hơn.

Sự thật nói rằng có thể bạn đang sống bên ngoài khá ổn nhưng bên trong rất rối.

Sự thật nói rằng bạn không chỉ mệt vì nhiều việc, mà còn vì đang sống lệch.

Sự thật nói rằng bạn không chỉ bận, mà còn đang trốn.

Sự thật nói rằng điều bạn gọi là tự do có khi chỉ là một kiểu dễ dãi đã được đổi tên.

Sự thật nói rằng điều bạn gọi là cá tính có khi chỉ là cái tôi chưa được thanh luyện.

Sự thật nói rằng điều bạn gọi là yêu có khi chỉ là bám víu vì sợ cô đơn.

Sự thật nói rằng điều bạn gọi là yếu đuối có khi nhiều phần là nuông chiều bản thân.

Sự thật nói rằng điều bạn gọi là “tôi không sao đâu” có khi chỉ là “tôi không dám chạm vào chỗ đau đó”.

Vì thế, nhiều người trẻ chọn sống trên bề mặt.

Sống đủ để không phải nhìn quá sâu.

Sống đủ bận để không phải tự hỏi.

Sống đủ ồn để không phải nghe.

Sống đủ đẹp bên ngoài để không ai chất vấn.

Sống đủ có lý do để mình không phải nhận trách nhiệm với linh hồn mình.

Có một kiểu chạy trốn rất tinh vi: không phải chạy khỏi cuộc đời, mà chạy khỏi nội tâm.

Người ta có thể vẫn học hành chăm, làm việc tốt, sinh hoạt đều, gặp gỡ bình thường, phục vụ nhiệt thành, nói năng khá sáng, nhưng sâu trong lòng thì không dám bước xuống tầng hầm của chính mình. Không dám hỏi vì sao mình phản ứng mạnh như vậy. Không dám nhìn vì sao mình cứ cần được chú ý. Không dám đối diện với cơn ghen âm thầm. Không dám thú nhận nỗi mặc cảm cũ vẫn còn chi phối. Không dám gọi tên sự tổn thương từ gia đình. Không dám nhận rằng mình đang sống bằng việc chứng minh giá trị cho một ai đó. Không dám thừa nhận rằng lâu rồi mình không còn thật với Chúa.

Tại sao đối diện với chính mình lại khó đến vậy?

Bởi vì bên trong con người không chỉ có những điều đẹp. Có cả những điều ta xấu hổ. Những vùng ta không muốn ai thấy, và nhiều khi chính mình cũng không muốn thấy. Có những ký ức còn đau. Có những vết thương chưa lành. Có những cơn giận bị chôn. Có những nỗi tủi từ thời nhỏ vẫn âm thầm lớn cùng mình. Có những thèm khát được nhìn nhận. Có những ham muốn không trong sạch. Có những mối tương quan làm mình lệch. Có những lần mình sống giả. Có những lần mình biết rõ mà vẫn chọn sai. Có những điều nếu gọi đúng tên, mình sẽ không thể tiếp tục sống như cũ được nữa.

Và đó mới là cái đáng sợ nhất.

Nhiều người trẻ không sợ sự thật chỉ vì sự thật làm họ đau. Họ sợ vì nếu nhìn ra sự thật, họ sẽ phải thay đổi.

Mà thay đổi thật thì không chỉ là hiểu ra thêm một chút. Thay đổi thật đòi phải bỏ điều gì đó. Cắt điều gì đó. Xin lỗi ai đó. Thú nhận điều gì đó. Quay lại với Chúa theo cách sâu hơn. Sống kỷ luật hơn. Sống khiêm nhường hơn. Bớt đổ lỗi hơn. Bớt chiều mình hơn. Bớt kể công hơn. Ít diễn hơn. Ít xin ngoại lệ cho bản thân hơn.

Con người có thể chấp nhận việc mình chưa hoàn hảo, nhưng rất ngại chuyện phải đánh đổi để nên người mới.

Cho nên họ trì hoãn việc nhìn vào lòng mình.

Họ nói mình chưa có thời gian.

Họ nói giờ đang bận.

Họ nói giai đoạn này căng quá.

Họ nói để khi nào ổn hơn rồi sẽ ngồi lại.

Họ nói chắc ai cũng thế thôi.

Họ nói mình không muốn suy nghĩ nhiều.

Họ nói nhìn sâu quá chỉ thêm mệt.

Nhưng thật ra, có những cái mệt không đến từ việc nhìn sâu, mà đến từ việc quá lâu không nhìn sâu.

Một căn phòng lâu ngày đóng kín sẽ bí.

Một vết thương không được rửa sẽ âm ỉ.

Một linh hồn không được soi sáng sẽ dễ sinh những góc tối ngày càng khó gọi tên.

Nhiều người trẻ hiện nay sống với một nội tâm không được dọn dẹp. Những cảm xúc cũ để nguyên. Những nỗi đau cũ chưa bao giờ đem ra trước mặt Chúa. Những giận hờn cũ chưa được gọi đúng tên. Những thói quen sai vẫn được nuôi bằng những lý do rất hợp lý. Những lệ thuộc nhỏ không bị cắt đứt. Những động lực lệch không bị bóc ra. Những vùng thiếu tự do không được nhận diện. Và rồi họ tự hỏi vì sao mình cứ rối, cứ nặng, cứ dễ bị kéo, cứ dễ gãy.

Bởi vì nội tâm không thể mạnh nếu không được sống trong ánh sáng.

Có một điều rất đáng sợ là con người có thể quen với sự không thật. Quen đến mức không còn thấy nó lạ nữa. Quen nói một kiểu mà sống một kiểu. Quen bên ngoài sốt sắng mà bên trong nguội. Quen phục vụ mà không cầu nguyện. Quen nói về yêu thương mà trong lòng đầy cay đắng. Quen nói mình bận vì trách nhiệm, trong khi nhiều phần là vì đang không dám ở yên với chính mình. Quen dùng những chữ đẹp để che những chỗ chưa đổi.

Một người sống lâu trong sự không thật sẽ rất khó gặp được chính mình. Mà nếu không gặp được chính mình, người đó cũng khó gặp Chúa một cách sâu xa. Bởi vì Thiên Chúa gặp con người ở nơi thật của họ, chứ không ở vai diễn của họ.

Có lẽ đây là một lý do khiến nhiều người trẻ cầu nguyện mà vẫn không thấy mình đổi nhiều: họ mang tới Chúa phiên bản đã chỉnh sửa của mình. Họ nói với Chúa những điều nghe được. Đọc những lời đẹp. Xin những ơn tốt. Nhưng không đem tới Người cái vùng thật của đời mình. Không nói thật rằng con đang ghen. Con đang thèm được người khác công nhận. Con đang rất giận. Con đang tị nạnh. Con đang bám víu vào một mối quan hệ không lành mạnh. Con đang sống hai mặt. Con đang dùng việc bận để trốn. Con đang giả vờ là mình ổn. Con đang tin vào hình ảnh mình dựng hơn là sự thật về mình.

Cầu nguyện mà không thật thì vẫn có thể đem lại chút an ủi, nhưng khó chữa tận gốc. Bởi vì điều không được đem ra ánh sáng thì không được chạm vào. Điều không được gọi tên thì vẫn tiếp tục có quyền ở lại trong bóng tối.

Người trẻ sợ đối diện với chính mình còn vì họ sợ thất vọng về bản thân. Nhiều người đã xây một hình ảnh khá đẹp về mình: mình sống cũng được mà, mình cũng có lòng tốt, cũng đâu tệ, cũng có đức tin, cũng có lý tưởng, cũng không đến nỗi nào. Và đúng là họ không hoàn toàn sai. Nhưng sự trưởng thành thiêng liêng đòi con người phải chấp nhận một điều rất khó: trong mình vừa có ánh sáng, vừa có bóng tối; vừa có thiện chí, vừa có lệch lạc; vừa có khao khát nên thánh, vừa có những tầng sâu rất cần được thanh luyện.

Người không chấp nhận điều đó sẽ luôn dao động giữa hai cực: hoặc tô hồng mình, hoặc dìm mình. Khi thấy mình có vài điều tốt, họ yên tâm quá mức. Khi phát hiện vài điều xấu, họ tuyệt vọng quá mức. Nhưng sự thật không ở hai cực đó. Sự thật là con người cần được cứu, mỗi ngày. Không ai nên thánh nhờ phủ nhận bóng tối. Nhưng cũng không ai lớn lên nhờ ngồi khóc trước bóng tối mà không đem nó ra cho Chúa.

Đối diện với chính mình không phải để ghét mình.

Không phải để tự kết án.

Không phải để lôi hết khuyết điểm ra rồi chìm trong mặc cảm.

Mà là để ngừng sống giả.

Để biết mình đang ở đâu thật.

Để phân biệt đâu là vết thương cần chữa, đâu là tội cần bỏ, đâu là thói quen cần sửa, đâu là khao khát tốt cần được nuôi, đâu là tiếng gọi của Chúa đang bị lớp bụi che kín.

Nhiều người trẻ sợ nội tâm mình vì tưởng rằng nếu bước vào đó, họ sẽ chỉ thấy hỗn độn. Nhưng không hẳn. Có hỗn độn, đúng. Nhưng bên dưới hỗn độn ấy còn có một điều khác: có tiếng Chúa đang chờ. Có sự thật đang chờ được đón nhận. Có nỗi đau đang chờ được chữa lành. Có một phiên bản thật hơn của mình đang chờ được sinh ra. Chỉ là để đi tới đó, người ta phải đủ can đảm bước qua lớp đầu tiên của sợ hãi.

Và lớp đầu tiên ấy thường là thinh lặng.

Rất nhiều người trẻ sợ thinh lặng không phải vì họ ghét yên tĩnh, mà vì trong yên tĩnh, những điều bị chôn bắt đầu nổi lên. Khi không còn tiếng nhạc, không còn thông báo, không còn người trò chuyện, không còn việc để giải quyết, không còn nội dung để cuốn mình đi, thì lòng bắt đầu lên tiếng. Và lòng thường không nói những điều dễ nghe trước. Nó nhắc những điều dang dở. Nó gợi những chỗ đau. Nó gọi tên sự trống. Nó nhắc những lần mình sống không thật. Nó khơi lại những khát vọng bị lãng quên. Nó hỏi những câu mình không muốn trả lời.

Mình đang sống vì ai thật?

Mình đang sợ điều gì thật?

Mình đang bám vào cái gì thật?

Mình có đang yêu Chúa hơn chính hình ảnh đẹp về mình không?

Mình có đang sống như người có căn tính, hay chỉ đang phản ứng theo những gì xảy đến?

Những câu hỏi ấy có thể làm người ta khó chịu. Nhưng chính những khó chịu thánh đó lại là dấu hiệu của sự sống. Một linh hồn còn đau khi nghe sự thật là một linh hồn còn có thể đổi. Đáng sợ hơn là khi con người không còn thấy cần phải hỏi nữa.

Có nhiều người trẻ hiện nay chọn cách hiểu bản thân theo kiểu rất nhanh. Họ gắn nhãn cho cảm xúc. Gắn nhãn cho tính cách. Gắn nhãn cho vết thương. Rồi nghĩ vậy là xong. Nhưng gọi tên sơ bộ một trạng thái không có nghĩa là đã đi vào sự thật của nó. Có những cơn giận không chỉ là do mệt, mà là vì một cái tôi quá dễ bị đụng. Có những nỗi buồn không chỉ là do áp lực, mà là do mình đã lâu sống xa điều Chúa muốn. Có những bất an không chỉ là do tương lai chưa rõ, mà là vì mình đang đặt giá trị nơi sai chỗ. Có những bám víu không chỉ là vì mình yêu, mà là vì mình chưa học đủ cách ở yên trong tình yêu của Chúa.

Đối diện với chính mình đòi chiều sâu hơn là chỉ dán nhãn.

Nó đòi hỏi ngồi lại.

Đòi hỏi thành thật.

Đòi hỏi chấp nhận những tầng nghĩa không dễ chịu.

Đòi hỏi cho phép Chúa soi vào nơi mình thường tránh.

Và điều này không dễ, vì ai cũng thích nghĩ mình tốt hơn thực tế một chút. Cái tôi luôn muốn kể một câu chuyện thuận cho mình. Nhưng đời sống thiêng liêng thật lại không lớn lên bằng câu chuyện thuận, mà bằng ánh sáng thật.

Có một dạng sợ đối diện khác nữa: sợ vì nghĩ mình không đủ sức để thay đổi điều sẽ thấy. Người trẻ nghĩ nếu nhìn sâu ra hết, chắc mình rối quá, nhiều vấn đề quá, không biết sửa từ đâu, không biết chữa thế nào, không biết có được không. Cho nên thà khỏi nhìn còn hơn. Thà sống tạm còn hơn phải đối diện với một công trình quá lớn.

Nhưng đó là một hiểu lầm.

Chúa không bao giờ đòi con người sửa hết mọi thứ trong một ngày. Người chỉ cần họ thật trong ánh sáng. Một bước thật hôm nay còn quý hơn cả một tham vọng đổi toàn bộ bản thân trong một tuần rồi bỏ cuộc. Đối diện với chính mình không có nghĩa là phải giải quyết xong hết. Nó chỉ có nghĩa là ngừng chối bỏ. Ngừng trốn. Ngừng phủ lớp màu đẹp lên những chỗ đang hỏng. Từ đó mới có thể bắt đầu từng chút một, cùng với ơn Chúa.

Một người trẻ bắt đầu trưởng thành thật sự từ lúc họ thôi sợ sự thật về mình hơn sợ việc tiếp tục sống giả. Đây là bước ngoặt lớn. Khi người ta còn sợ nhìn vào mình hơn, họ sẽ tiếp tục chạy, tiếp tục trì hoãn, tiếp tục diễn, tiếp tục để năm tháng đi qua trong một phiên bản chắp vá. Nhưng khi họ bắt đầu thấy sống không thật còn đau hơn việc đối diện với điều thật, thì họ đã bước vào một cánh cửa mới.

Cánh cửa đó dẫn tới sự tự do.

Không phải tự do kiểu muốn gì làm nấy.

Mà là tự do khỏi vai diễn.

Tự do khỏi câu chuyện sai về bản thân.

Tự do khỏi nhu cầu phải lúc nào cũng ổn.

Tự do khỏi việc phải che liên tục.

Tự do để nói: đúng, con đang yếu ở chỗ này; đúng, con đang lệch ở chỗ kia; đúng, con cần được chữa; đúng, con phải cắt bỏ điều này; đúng, con không muốn sống như cũ nữa.

Có lẽ người trẻ cần học lại một nghệ thuật rất đơn sơ nhưng rất hiếm: nghệ thuật ở lại với lòng mình trước mặt Chúa mà không bỏ chạy.

Ngồi xuống.

Không cần nhiều lời ngay.

Không cần quá hay.

Không cần phải sốt sắng kiểu đặc biệt.

Chỉ ở đó.

Và cho phép những gì đang có trong lòng được hiện ra.

Nỗi buồn.

Nỗi giận.

Nỗi tủi.

Nỗi thèm được công nhận.

Nỗi cô đơn.

Sự ghen tị.

Sự mệt mỏi.

Cơn chán sống đạo.

Cảm giác vô hướng.

Sự bám víu không lành.

Nỗi sợ tương lai.

Vết thương với cha mẹ.

Khó chịu với chính mình.

Tất cả.

Đem ra trước Chúa.

Không để tự kết án mình.

Mà để Chúa chạm vào.

Nhiều người trẻ không được dạy rằng Chúa có thể chịu được sự thật của họ. Họ tưởng phải chỉnh mình sạch sẽ rồi mới tới gần Chúa. Nhưng không. Chính vì mình rối nên mới phải đến. Chính vì lòng mình hỗn độn nên mới cần ánh sáng. Chính vì có những điều xấu hổ nên mới phải đem vào lòng thương xót. Không có vùng nào của con người mà Chúa sợ chạm. Chỉ có con người sợ để Chúa chạm.

Vì thế, điều người trẻ cần không chỉ là thêm kiến thức, thêm lời khuyên, thêm kỹ năng quản trị bản thân. Họ cần can đảm thiêng liêng. Can đảm để thôi chạy trốn nội tâm. Can đảm để gọi đúng tên cái đang điều khiển mình. Can đảm để nhìn thẳng vào những vùng chưa được cứu chuộc. Can đảm để từ bỏ ảo tưởng rằng mình chỉ cần chỉnh bên ngoài là đủ. Can đảm để trở nên nghèo trước mặt Chúa.

Bởi vì chỉ người nghèo mới có chỗ cho ơn vào.

Người cứ nghĩ mình ổn sẽ khó nhận chữa lành.

Người cứ kể câu chuyện đẹp về mình sẽ khó bước vào thật.

Người cứ chạy mãi sẽ không nghe được tiếng Chúa ở tầng sâu.

Nhưng người dám dừng, dám nhìn, dám khóc, dám thú nhận, dám ở lại trong ánh sáng, người đó đang đi về phía tự do.

Người trẻ thân mến, có thể điều bạn cần lúc này không phải là một câu trả lời lớn cho toàn bộ tương lai, mà là một cuộc gặp thật với chính mình trước mặt Chúa. Không phải để giải mã hết mọi thứ. Không phải để ngay lập tức thành người mới. Nhưng để ngừng sống xa chính mình. Để nhận ra đâu là điều đang làm bạn lệch. Để nhận ra đâu là nỗi đau cần được đem vào lời cầu nguyện. Để nhận ra đâu là cơn đói sâu mà lâu nay bạn cứ cố lấp bằng thứ khác. Để nhận ra đâu là tiếng Chúa bạn đã nghe nhiều lần nhưng cứ tránh.

Đừng sợ sự thật.

Sự thật có thể làm bạn khóc.

Nhưng không phải để nghiền nát bạn.

Mà để giải phóng bạn.

Đừng sợ nhìn vào lòng mình.

Điều bạn thấy có thể không đẹp hết.

Nhưng nếu không nhìn, bạn sẽ cứ mãi bị nó chi phối từ trong tối.

Đừng sợ gọi tên điều lệch.

Tên của nó không làm nó mạnh hơn.

Ánh sáng mới làm nó yếu đi.

Đừng sợ thú nhận với Chúa rằng bạn không ổn.

Người không yêu bạn ít hơn vì điều đó.

Trái lại, chính ở đó mà tình yêu của Người bắt đầu đi sâu.

Lạy Chúa, con mỏi vì phải luôn ổn.

Con mệt vì cứ tránh chính mình.

Con sợ những gì ở bên trong con.

Con sợ nếu nhìn kỹ, con sẽ thất vọng.

Con sợ nếu gọi đúng tên, con sẽ phải đổi.

Nhưng con cũng mệt vì sống không thật.

Xin cho con can đảm ngồi lại với lòng mình trước mặt Ngài.

Xin cho con đừng chạy khỏi ánh sáng.

Xin cho con dám nhìn điều gì đang thật sự điều khiển đời con.

Xin cho con biết rằng sự thật không giết con, mà cứu con.

Xin cho con thôi diễn trước mặt Ngài.

Và xin bắt đầu nơi sâu nhất của con công trình tự do mà chỉ Ngài mới làm được.

CHƯƠNG 7

VÌ SAO NHIỀU NGƯỜI TRẺ MANG NHỮNG VẾT THƯƠNG TỪ GIA ĐÌNH, TUỔI THƠ, SỰ THIẾU THỐN TÌNH CẢM, SỰ SO SÁNH, ÁP LỰC VÀ NHỮNG LỜI NÓI CŨ, RỒI ĐỂ CHÚNG ÂM THẦM ĐIỀU KHIỂN CÁCH MÌNH SỐNG, CÁCH MÌNH YÊU, CÁCH MÌNH CHỌN LỰA CẢ TƯƠNG LAI

Có những người trẻ không biết rằng mình đang sống đời hiện tại bằng những vết thương của quá khứ.

Họ tưởng mình đang phản ứng với chuyện hôm nay. Tưởng mình đang chọn lựa vì lý trí. Tưởng mình đang yêu vì con tim. Tưởng mình đang sợ vì hoàn cảnh. Tưởng mình đang cố gắng vì tương lai. Nhưng thật ra, rất nhiều điều đang diễn ra trong hiện tại lại có gốc từ những năm tháng rất cũ. Những năm tháng đã qua rồi, nhưng chưa đi qua hẳn khỏi lòng mình. Những biến cố tưởng nhỏ mà không nhỏ. Những câu nói người khác quên rồi nhưng mình vẫn còn giữ. Những cách đối xử ngày xưa bây giờ đã biến thành cách mình nhìn chính mình. Những thiếu thốn mình đã quen quá lâu nên tưởng đó là tính cách, trong khi thật ra đó là một vết thương.

Có những vết thương không chảy máu ra ngoài.

Không ai thấy.

Không ai hỏi.

Không ai nghĩ nó vẫn còn đó.

Chính người mang nó cũng nhiều khi không biết gọi tên.

Họ chỉ thấy mình khó tin ai. Khó mở lòng. Khó nhận lời góp ý. Khó tin mình đủ tốt. Dễ thấy mình thua người khác. Dễ bị một câu nói chạm vào rồi đau cả ngày. Dễ hoảng khi ai đó im lặng. Dễ bám víu vào người yêu. Dễ sợ bị bỏ. Dễ cố gắng quá sức để chứng minh giá trị. Dễ thấy mình có lỗi. Dễ cảm thấy không bao giờ đủ. Dễ giận quá mức. Dễ tự thu mình. Dễ mang nặng trong lòng một cảm giác mơ hồ rằng mình phải làm gì đó để xứng đáng được thương.

Tất cả những điều đó không tự nhiên sinh ra.

Có khi chúng đến từ một tuổi thơ thường xuyên bị so sánh.

Có khi đến từ một gia đình mà tình yêu có, nhưng không được diễn tả.

Có khi đến từ cha mẹ rất lo cho con, nhưng chỉ biết đòi hỏi mà không biết ôm.

Có khi đến từ một môi trường nơi thành tích được khen còn con người thật thì ít được lắng nghe.

Có khi đến từ những lần bị mắng trước mặt người khác.

Có khi đến từ việc lớn lên trong bầu khí căng thẳng, cãi vã, lạnh nhạt, hoặc quá nhiều kỳ vọng.

Có khi đến từ một tuổi thơ thiếu lời công nhận đúng đắn.

Có khi đến từ một lần bị bỏ rơi, bị phản bội, bị xem nhẹ, bị chế giễu, bị coi thường.

Có khi đến từ một ngôi nhà không hẳn thiếu cơm áo, nhưng thiếu sự bình an cần thiết để linh hồn một đứa trẻ được nở ra cách lành mạnh.

Người trẻ hôm nay mang rất nhiều vết thương như thế. Chỉ có điều, họ không luôn biết mình đang mang. Họ gọi đó là tính mình vậy. Họ gọi đó là do mình nhạy cảm. Họ gọi đó là vì áp lực hiện tại. Họ gọi đó là do người kia không hiểu mình. Họ gọi đó là do mình khó tính, do mình yếu đuối, do mình overthinking. Nhưng có khi, sâu hơn tất cả những cái tên ấy, là một đứa trẻ bên trong chưa từng được thật sự an ủi, chưa từng được nghe rằng con đủ rồi, chưa từng được nhìn bằng ánh mắt làm cho nó tin rằng nó có giá trị không phải vì nó giỏi, mà chỉ vì nó là nó.

Có một sự thật rất đau là con người thường đem những gì họ chưa được chữa vào mọi tương quan sau này.

Người từng lớn lên trong sự thiếu an toàn sẽ rất khó cảm thấy an toàn dù được yêu.

Người từng bị so sánh sẽ rất dễ sống trong hơn thua.

Người từng chỉ được công nhận khi thành công sẽ rất dễ biến đời mình thành cuộc chạy đua không hồi kết.

Người từng không được lắng nghe sẽ hoặc im lặng quá mức, hoặc phản ứng rất mạnh để không bị bỏ qua.

Người từng bị bỏ rơi sẽ dễ bám víu hoặc kiểm soát.

Người từng lớn lên giữa quá nhiều căng thẳng sẽ rất dễ sống với thần kinh luôn cảnh giác, luôn sẵn sàng phòng thủ, luôn khó nghỉ yên.

Người từng bị chê bai nhiều sẽ rất dễ sống cả đời để chứng minh rằng mình không tệ.

Và điều đau nhất là: khi những vết thương ấy không được nhận diện, người trẻ sẽ tưởng đó chính là con người thật của mình. Họ không biết rằng mình đang sống bị chi phối. Họ tưởng mình đang tự do, nhưng nhiều quyết định lại phát xuất từ một vùng chưa được cứu chữa.

Có người chọn nghề không hoàn toàn vì ơn gọi hay giá trị thật, mà vì muốn chứng minh cho gia đình thấy mình không thua ai.

Có người lao vào thành công không chỉ vì trách nhiệm, mà vì sợ nếu không nổi bật thì mình sẽ vô hình.

Có người yêu một cách cuống quýt, giữ chặt, lo âu, không phải vì yêu quá sâu, mà vì bên trong họ có một vết sợ bị bỏ rơi chưa lành.

Có người không dám bước vào mối tương quan nào thật, không phải vì họ lạnh lùng, mà vì trong lòng có một ký ức cũ nói rằng mở lòng sẽ đau.

Có người đi tu hay chọn đời sống đạo đức với ý hướng tốt, nhưng bên dưới vẫn còn những động lực lẫn lộn như muốn trốn vết thương, muốn tìm chỗ an toàn, muốn không phải đối diện với những đứt gãy của lòng mình.

Có người phục vụ rất hăng, nhưng sâu hơn là đang cố kiếm giá trị từ việc mình hữu ích.

Có người rất ngoan, rất nghe lời, nhưng thật ra chưa chắc là tự do; có khi chỉ là quá sợ làm ai đó thất vọng.

Nếu không nhìn ra điều này, người trẻ sẽ sống rất cực. Cực vì bên ngoài làm bao nhiêu cũng không đủ để xoa dịu một cơn đói cũ. Cực vì họ cứ đòi hiện tại phải chữa điều mà hiện tại không tự chữa nổi. Cực vì họ bắt người yêu phải lấp khoảng trống của gia đình. Bắt công việc phải cho mình căn tính. Bắt thành công phải cho mình giá trị. Bắt cộng đoàn phải làm điều mà chỉ lòng thương xót của Chúa mới làm trọn được.

Những vết thương gia đình là một vùng rất nhạy. Vì nói đến nó, nhiều người trẻ cảm thấy có lỗi. Họ thương cha mẹ. Họ biết cha mẹ đã hy sinh. Họ biết cha mẹ cũng cực, cũng thiếu thốn, cũng bị đời làm cho mệt. Và đúng. Rất nhiều cha mẹ không cố ý làm con bị thương. Họ yêu con bằng hết những gì họ biết. Chỉ có điều, yêu không luôn đồng nghĩa với chữa lành. Có những bậc cha mẹ rất thương nhưng không biết cách diễn tả. Có những người lo cho con đủ đường nhưng lại không hiểu chiều sâu tâm hồn con. Có những người lớn lên trong môi trường cứng cỏi nên họ chỉ biết dạy bằng áp lực, bằng trách, bằng so sánh, bằng ép, bằng kiểm soát. Có những người không xấu, nhưng chính vì họ chưa được chữa lành nên họ trao tiếp những đứt gãy cho con cái mà không biết.

Cho nên nói về vết thương gia đình không phải để kết án cha mẹ. Cũng không phải để nuôi oán trách. Mà để gọi tên một sự thật. Nếu không gọi tên, nó sẽ cứ âm thầm chi phối. Nếu không nhận diện, nó sẽ cứ luồn vào mọi phản ứng, mọi chọn lựa, mọi nỗi sợ, mọi cách yêu. Người trẻ rất cần học điều này: thành thật với vết thương không có nghĩa là bất hiếu. Nhìn nhận những điều mình đã bị tổn thương không có nghĩa là phủ nhận công ơn của cha mẹ. Chỉ là dám sống trong sự thật. Dám nói rằng con thương, nhưng con cũng đau. Con biết cha mẹ yêu con, nhưng có những điều trong con vẫn còn bị thương. Và những điều đó cần được đem ra ánh sáng để không tiếp tục làm hỏng đời con và những người con yêu.

Có những câu nói cũ đi theo người ta cả đời.

“Sao con không bằng người ta?”

“Có thế mà cũng không làm được.”

“Nhìn con người ta mà học.”

“Con làm gì cũng hỏng.”

“Mày chỉ được cái nói.”

“Đừng có mơ mộng.”

“Cứ như thế thì ai mà thương nổi.”

“Im đi, trẻ con biết gì.”

“Chỉ giỏi làm tao mất mặt.”

Có những người lớn nói rồi quên. Nhưng đứa trẻ nghe thì không quên. Nó không chỉ nghe bằng tai. Nó nuốt những lời đó vào căn tính. Rồi lớn lên, mỗi khi thất bại một chút, câu nói cũ lại trồi lên. Mỗi khi bị góp ý, nó không chỉ nghe lời góp ý hiện tại, nó nghe lại cả một kho lời chê xưa. Mỗi khi so mình với người khác, nó không chỉ đang nhìn người khác, nó đang nhìn bằng đôi mắt từng bị dạy rằng mình không đủ. Mỗi khi muốn thử một điều mới, nó bị những tiếng nói cũ kéo lại: mày không làm được đâu, mày sẽ làm người ta thất vọng thôi.

Những lời nói có thể không để lại vết bầm ngoài da, nhưng nhiều khi để lại một cấu trúc mặc cảm bên trong. Và mặc cảm là thứ rất nguy hiểm. Nó làm người trẻ hoặc thu mình, hoặc chứng minh quá mức. Hoặc không dám bước, hoặc bước điên cuồng để được công nhận. Hoặc luôn tự nghi ngờ, hoặc tỏ ra quá tự tin để che nỗi tự ti. Cả hai đều mệt. Cả hai đều không phải tự do.

Rồi còn có những áp lực không đến từ câu chửi, mà đến từ sự kỳ vọng kéo dài. Phải giỏi. Phải ngoan. Phải thành công. Phải làm rạng danh gia đình. Phải ổn. Phải không được yếu. Phải không làm ai buồn. Phải gánh. Phải nhịn. Phải hiểu chuyện. Phải hy sinh. Phải thế này, phải thế kia. Lâu ngày, người trẻ không còn sống từ căn tính con cái nữa, mà sống như một dự án phải đáp ứng. Họ không hỏi mình là ai trong ánh mắt Chúa, mà hỏi mình đã đủ chưa trong ánh mắt người khác. Họ không còn biết nghỉ yên. Không còn biết được yêu mà không phải trả bài. Không còn biết có giá trị ngoài hiệu suất.

Người lớn đôi khi tưởng rằng áp lực sẽ làm con cái nên người. Nhưng áp lực chỉ có thể đẩy một quãng. Nó không thể thay thế cho sự nâng đỡ nội tâm. Một đứa trẻ lớn lên chỉ bằng áp lực có thể thành đạt, nhưng chưa chắc bình an. Có thể giỏi, nhưng chưa chắc biết yêu mình đúng. Có thể trách nhiệm, nhưng chưa chắc có tự do nội tâm. Có thể làm được nhiều thứ, nhưng sâu bên trong luôn sống với cảm giác mình phải tiếp tục chứng minh.

Có những người trẻ càng lớn càng mệt không phải vì họ lười, mà vì họ đã sống quá lâu như một người phải gồng để xứng đáng tồn tại.

Và vì mệt như vậy, họ bắt đầu chọn sai.

Họ chọn một người yêu chỉ vì người đó làm họ thấy mình được cần, dù mối quan hệ ấy không lành.

Họ chọn công việc làm họ kiệt nhưng đem lại tiếng khen, vì bên trong họ đói công nhận.

Họ chọn im lặng trong những chỗ cần lên tiếng, vì từ nhỏ đã quen với việc tiếng nói của mình không có trọng lượng.

Họ chọn bám víu vào cộng đoàn, vào nhóm bạn, vào một vai trò, vì không biết mình là ai nếu lấy đi tất cả những điều đó.

Họ chọn tránh né xung đột bằng mọi giá, hoặc ngược lại phản ứng quá mức trước những chuyện nhỏ, vì hệ thần kinh nội tâm của họ đã được huấn luyện trong những năm tháng bất an.

Người trẻ mang vết thương mà không biết thường có xu hướng lặp lại điều đã làm mình đau. Không phải vì họ muốn, mà vì cái quen kéo họ. Ai lớn lên trong lạnh nhạt có thể vô thức thấy những người lạnh nhạt là quen thuộc. Ai lớn lên trong áp lực có thể bị hút vào những môi trường áp lực. Ai lớn lên trong việc phải cố mới được thương có thể dễ yêu những người làm mình phải rướn mãi. Ai từng thiếu an toàn có thể vừa khát được ôm, vừa sợ bị ôm thật. Cái đau của con người là nhiều khi họ quay lại với điều cũ không phải vì điều đó tốt, mà vì điều đó quen.

Nếu không được chữa lành, người trẻ sẽ không chỉ mang vết thương. Họ còn xây cả một đời sống xoay quanh việc né vết thương. Họ tránh những chỗ khiến mình phải chạm vào nỗi đau. Tránh những cuộc trò chuyện sâu. Tránh sự thân mật thật. Tránh thinh lặng. Tránh cầu nguyện lâu. Tránh đối diện với ký ức. Tránh những ai góp ý thật. Tránh mọi thứ làm lớp giáp của họ rạn ra. Nhưng khi một đời sống được xây quanh sự né tránh, nó sẽ rất mỏng. Vì sức khỏe thiêng liêng không đến từ việc ta giỏi tránh, mà từ việc ta dám để Chúa chạm vào điều mình tránh.

Nhiều người trẻ hỏi: tại sao con cứ phản ứng như vậy, tại sao con cứ sợ, cứ ghen, cứ thấy không an toàn, cứ không tin ai, cứ mệt, cứ phải làm quá, cứ dễ tổn thương? Có thể có nhiều lý do. Nhưng một trong những lý do sâu là vì bên trong còn có một đứa trẻ chưa được đón nhận đúng cách, chưa được an ủi đúng lúc, chưa được xác nhận phẩm giá cách lành mạnh, chưa được ai thật sự giúp nó hiểu rằng nó đáng được yêu không phải vì nó làm tốt, mà vì nó là con.

Ở đây, Tin Mừng chạm vào tận gốc. Vì Kitô giáo không chỉ nói với người trẻ rằng hãy cố lên, hãy mạnh mẽ, hãy sống tích cực, hãy vượt qua. Tin Mừng nói điều sâu hơn nhiều: con cần được tái sinh trong căn tính. Con cần biết mình là con yêu dấu của Chúa Cha. Con cần để cho tiếng nói của Chúa mạnh hơn những tiếng nói cũ đã đóng đinh lên lòng con. Con cần để cho ánh mắt của Đức Kitô nhìn vào nơi con vẫn còn tưởng mình không đáng được thương. Con cần để Thánh Thần đi xuống đúng chỗ ký ức, chỗ đau, chỗ giận, chỗ tủi, chỗ thiếu, chỗ sợ, mà từ đó làm lại cách con nhìn bản thân, cách con nhìn người khác, cách con yêu, cách con chọn.

Nếu không, người trẻ có thể học đủ kỹ năng, đọc đủ sách, biết đủ lý thuyết chữa lành, nhưng vẫn cứ sống dưới ách của quá khứ. Không phải vì Chúa không đủ mạnh, mà vì họ chưa thật sự đem quá khứ ấy vào ánh sáng cứu độ. Họ vẫn cố sống tốt phía trên một nền móng chưa được sửa. Và khi những cơn gió lớn đến, vết nứt cũ lại hiện ra.

Có một điều rất đẹp nhưng cũng rất khó: Chúa không chỉ muốn giúp người trẻ “quên đi” quá khứ. Người muốn cứu chuộc nó. Không phải xóa sạch ký ức như thể chưa từng có gì xảy ra. Nhưng bước vào đó để những gì từng làm mình bị định nghĩa sai không còn quyền định nghĩa mình nữa. Những lời chê cũ không còn là tiếng nói cuối cùng. Những thiếu thốn cũ không còn là nơi mình đi xin giá trị suốt đời. Những tổn thương cũ không còn là cái cớ để tiếp tục làm đau người khác hay làm đau chính mình. Chúa không đổi quá khứ thành chưa từng có. Nhưng Người có thể đổi quyền lực của quá khứ trên hiện tại.

Đây là điều người trẻ cần nghe thật kỹ: bạn không có lỗi vì mình đã bị thương. Nhưng bạn có trách nhiệm với việc để những vết thương ấy tiếp tục cai trị đời mình hay đem chúng đến cho Chúa chữa. Không phải trách nhiệm theo kiểu tự kết án. Mà là trách nhiệm trưởng thành. Đến một lúc nào đó, bạn không thể cứ mãi nói: vì nhà tôi thế nên tôi thế, vì cha mẹ tôi thế nên tôi thế, vì quá khứ tôi thế nên tôi không đổi được. Quá khứ có thật, đau có thật, vết thương có thật. Nhưng ân sủng cũng có thật. Và trưởng thành bắt đầu từ lúc một người thôi lấy vết thương làm danh tính, thôi lấy quá khứ làm định mệnh, thôi lấy nỗi đau làm căn cước cuối cùng.

Bạn không phải chỉ là người đã bị so sánh.

Bạn không phải chỉ là người đã bị bỏ qua.

Bạn không phải chỉ là người lớn lên thiếu lời yêu thương.

Bạn không phải chỉ là người từng bị coi thường.

Bạn không phải chỉ là người bị áp lực đè nặng.

Bạn không phải chỉ là người từng bị tổn thương trong tình cảm.

Bạn là người Chúa biết đến tận gốc, yêu đến tận cùng, và muốn gọi ra khỏi những định nghĩa cũ.

Nhưng để bước vào điều đó, người trẻ phải can đảm làm ba việc rất thật.

Trước hết, phải gọi tên vết thương. Không vòng vo. Không né. Không tô hồng. Không giảm nhẹ cho dễ chịu. Phải dám nói: đúng, chỗ này trong con đau. Chỗ này trong con bị méo vì cách con lớn lên. Chỗ này trong con đang thiếu. Chỗ này trong con luôn phản ứng quá mức vì nó từng bị đụng quá nhiều. Chỗ này trong con luôn phải gồng vì nó từng không được ai đỡ. Không gọi tên thì không biết đang chữa cái gì.

Tiếp đến, phải ngừng đồng hóa mình với vết thương. Đây là chỗ khó. Vì nhiều người đã sống với nỗi đau quá lâu nên nó trở thành cách họ kể về chính mình. Nhưng vết thương là thứ đã xảy ra với bạn, không phải toàn bộ con người bạn. Nó có thể ảnh hưởng bạn mạnh, nhưng nó không có quyền trở thành tên cuối cùng của bạn. Tên cuối cùng của bạn là do Chúa gọi.

Và sau cùng, phải đem nó vào lời cầu nguyện, vào bí tích, vào đồng hành thiêng liêng, vào những tương quan lành mạnh. Vết thương không phải lúc nào cũng tự lành chỉ bằng thời gian. Thời gian có thể làm lớp ngoài đỡ đau. Nhưng phần sâu thường cần ánh sáng, cần nước mắt thật, cần sự thật, cần lời tha thứ, cần hành trình rất kiên nhẫn. Có những vết thương còn cần được đồng hành nhân bản đúng đắn. Điều đó không trái đức tin. Trái lại, ân sủng nhiều khi làm việc qua những phương thế rất cụ thể.

Người trẻ đừng xấu hổ vì mình cần được chữa lành. Điều đáng xấu hổ không phải là có vết thương. Mà là để vết thương âm thầm điều khiển cách mình yêu, cách mình sống, cách mình chọn, rồi làm đau thêm mình và người khác, trong khi mình vẫn giả vờ như không có gì.

Một người được chữa không phải là người chưa từng đau. Mà là người không để nỗi đau tiếp tục làm vua trong lòng mình nữa. Người đó vẫn nhớ, nhưng không còn bị ký ức trói. Vẫn có thể chạm vào chuyện cũ mà không sụp như trước. Vẫn có thể yêu mà không biến tình yêu thành chỗ đòi bù. Vẫn có thể nhận góp ý mà không thấy như bị kết án. Vẫn có thể thất bại mà không thấy mình vô giá trị. Vẫn có thể bước đi mà không cần chứng minh liên tục.

Đó là tự do. Và tự do ấy không tự nhiên mà có. Nó là hoa trái của sự thật, của nước mắt, của ơn Chúa, của việc dám nhìn vào ký ức mình dưới ánh sáng Thiên Chúa.

Người trẻ thân mến, có thể nhiều điều trong bạn hôm nay không chỉ là chuyện của hôm nay. Có thể bạn đang phản ứng từ một chỗ rất cũ. Có thể bạn đang đòi người hiện tại trả món nợ của quá khứ. Có thể bạn đang yêu bằng nỗi thiếu hơn là bằng tự do. Có thể bạn đang chạy nhanh vì bên trong luôn nghe một tiếng nói cũ rằng mình chưa đủ. Có thể bạn đang mệt không chỉ vì cuộc sống nhiều việc, mà vì bạn đã gồng quá lâu để vượt lên một cảm giác thua kém chưa từng được chữa lành.

Nếu đúng là như vậy, xin đừng tuyệt vọng. Điều đó không có nghĩa là đời bạn hỏng. Nó chỉ có nghĩa là đã đến lúc phải quay về chỗ sâu hơn. Không chỉ hỏi mình cần làm gì cho tương lai, mà hỏi mình cần để Chúa chạm vào điều gì trong quá khứ. Không chỉ hỏi mình phải mạnh hơn thế nào, mà hỏi mình đang mang điều gì quá nặng mà chưa đặt xuống. Không chỉ hỏi mình phải chọn ai, chọn gì, đi đâu, mà hỏi mình đang chọn bằng trái tim tự do hay trái tim bị thương.

Lạy Chúa, có những điều trong con đến từ rất lâu rồi mà con chưa từng thật sự dám nhìn. Có những lời nói cũ vẫn còn quyền trên con. Có những nỗi sợ cũ vẫn đang làm con chọn lựa. Có những thiếu thốn cũ làm con yêu lệch, sống lệch, phản ứng lệch. Có những vết thương con đã quen mang đến mức tưởng nó là con. Xin cho con can đảm gọi tên những điều đó. Xin đừng để quá khứ tiếp tục âm thầm viết tương lai con theo cách nó muốn. Xin bước vào ký ức con. Xin chạm vào đứa trẻ trong con từng bị tủi, bị ép, bị so sánh, bị bỏ qua, bị làm cho nghĩ rằng mình không đủ. Xin nói lại cho con điều mà đời đã nói sai. Xin dạy con nhìn mình không phải bằng mắt của những người từng làm con đau, mà bằng ánh mắt của Ngài. Và xin cho con đừng chỉ sống để chịu đựng vết thương, nhưng sống để để Ngài cứu chuộc nó.

 

 

CHƯƠNG 8

VÌ SAO NHIỀU NGƯỜI TRẺ KHÁT ĐƯỢC YÊU, ĐƯỢC THUỘC VỀ, ĐƯỢC HIỂU, NHƯNG LẠI RẤT DỄ RƠI VÀO NHỮNG MỐI QUAN HỆ LÀM MÌNH LỆCH HƯỚNG, MỆT MỎI VÀ XA CHÚA HƠN THAY VÌ GẦN CHÚA HƠN

Có lẽ không có cơn đói nào vừa đẹp vừa nguy hiểm nơi người trẻ cho bằng cơn đói được yêu.

Đẹp, vì nó rất người. Con người không được dựng nên để sống khô cằn. Trái tim được tạo ra để hướng về một ai đó, để được biết đến, được đón nhận, được gọi tên, được thuộc về. Khát được yêu không phải là yếu đuối. Không phải là tội lỗi. Không phải là điều phải xấu hổ. Nó là một phần rất thật của thân phận con người. Một người trẻ không khao khát yêu thương có khi mới là điều đáng lo, vì có thể trái tim họ đã quá mệt, quá sợ, hoặc quá chai.

Nhưng cũng chính vì cơn đói này quá thật, nên nó trở thành một nơi rất dễ bị đánh lừa.

Một người đang đói thì dễ ăn vội.

Một người quá khát thì dễ uống nhầm.

Một trái tim quá lâu không được nghe một lời đúng nghĩa, quá lâu không được ôm bằng sự hiện diện an toàn, quá lâu không được nhìn bằng ánh mắt làm nó thấy mình có giá trị, sẽ rất dễ nghiêng về bất cứ ai cho nó chút cảm giác được chọn, được nhớ, được cần, được hiểu.

Và đó là lúc rất nhiều người trẻ rơi vào những mối quan hệ không hẳn vì yêu, mà vì đói.

Họ gặp ai đó biết nói những lời làm tim họ mềm lại.

Ai đó nhắn tin đều.

Ai đó hỏi han lúc họ cô đơn.

Ai đó làm họ cảm thấy mình không vô hình.

Ai đó cho họ cảm giác cuối cùng cũng có người để quay về.

Ai đó lấp vào khoảng trống mà bao lâu nay họ cứ mang theo như một cái giếng không đáy.

Ban đầu, mọi thứ rất đẹp.

Rất dịu.

Rất ngọt.

Rất giống cứu rỗi.

Nhưng không phải cái gì làm mình thấy ấm ngay cũng là tình yêu.

Có những mối quan hệ đến như một tấm chăn phủ lên nỗi cô đơn, nhưng bên dưới nỗi cô đơn ấy không được chữa. Nó chỉ được làm cho bớt nhói tạm thời. Và khi không được chữa tận gốc, người ta sẽ bắt đầu bám.

Bám vào tin nhắn.

Bám vào sự hiện diện của người kia.

Bám vào lời xác nhận.

Bám vào việc phải được trả lời.

Bám vào việc phải được ưu tiên.

Bám vào cảm giác mình thuộc về một ai đó.

Lúc đó, mối quan hệ không còn là nơi hai người tự do gặp nhau. Nó trở thành nơi một người hoặc cả hai người đi xin oxy cho những khoảng trống họ chưa dám đặt vào tay Chúa.

Nhiều người trẻ không thật sự bước vào tình yêu. Họ bước vào một chỗ dựa tâm lý rồi gọi nó là tình yêu.

Điều này không có nghĩa tình cảm của họ là giả. Không. Cảm xúc có thật. Sự rung động có thật. Sự quý mến có thật. Nhưng có thật chưa chắc đã là đúng. Có thật chưa chắc đã là lành. Có thật chưa chắc đã là điều dẫn về sự sống. Có những điều ta cảm rất sâu mà vẫn làm ta lệch rất xa.

Vì thế, điều cần hỏi không chỉ là: con có yêu người này không?

Mà còn là: kiểu yêu này đang làm con thành người thế nào?

Nó làm con bình an hơn hay bất an hơn?

Nó làm con trưởng thành hơn hay lệ thuộc hơn?

Nó làm con gần Chúa hơn hay khiến con quên Chúa dần?

Nó làm con trong hơn hay đục hơn?

Nó làm con tự do hơn hay sợ mất hơn?

Nó làm con sống thật hơn hay buộc con diễn, buộc con gồng, buộc con nới lỏng lương tâm để giữ lấy?

Rất nhiều người trẻ không hỏi những câu đó. Họ chỉ hỏi mình có cảm xúc đủ mạnh không. Có nhớ đủ nhiều không. Có nghĩ về nhau đủ thường xuyên không. Có đau khi xa nhau không. Có thấy thiếu khi không có nhau không. Nhưng đau khi xa chưa chắc là dấu hiệu của yêu lành. Có khi chỉ là dấu hiệu của lệ thuộc. Nhớ nhiều chưa chắc là sâu. Có khi chỉ là vì người kia đang giữ chìa khóa của một nỗi đói trong mình. Cảm xúc mạnh chưa chắc là thật. Có khi chỉ là một phản ứng lớn của vết thương gặp đúng thứ nó lâu nay thiếu.

Người trẻ rất dễ rơi vào những mối quan hệ làm mình lệch vì họ đang mang trong mình ba cơn khát cùng lúc.

Khát được thấy mình có giá trị.

Khát được có nơi thuộc về.

Khát được ai đó hiểu.

Ba cơn khát ấy rất mạnh. Mà nếu chúng chưa được đặt trong Thiên Chúa, thì bất cứ ai chạm vào được chúng cũng sẽ có sức ảnh hưởng rất lớn trên mình.

Một người nói với bạn rằng bạn đặc biệt, trong khi bấy lâu nay bạn luôn thấy mình tầm thường.

Một người kiên nhẫn lắng nghe bạn, trong khi gia đình bạn chưa bao giờ thật sự nghe.

Một người làm bạn thấy an tâm, trong khi lâu nay lòng bạn luôn chao đảo.

Một người nhắn bạn ngủ chưa, ăn chưa, đừng thức khuya, đừng buồn nữa, trong khi bên trong bạn có một đứa trẻ đã thiếu những câu như thế rất lâu.

Làm sao mà không động lòng?

Làm sao mà không nghiêng?

Làm sao mà không tưởng rằng đây chính là điều mình chờ đợi bấy lâu?

Nhưng ở đây có một sự thật rất quan trọng: điều chạm đúng chỗ thiếu của mình không phải lúc nào cũng là điều được gửi đến để xây mình. Có khi nó chỉ là điều mình đang khát đến mức không còn phân định nổi.

Nhiều người trẻ không ngã vì muốn điều xấu. Họ ngã vì quá cần được yêu.

Nên họ chấp nhận những điều trước đây họ từng nghĩ mình sẽ không chấp nhận.

Chấp nhận mập mờ.

Chấp nhận một mối tương quan không rõ ràng.

Chấp nhận ở trong tình trạng kéo dài không tên gọi, không hướng đi, không sự thật, chỉ vì sợ mất người kia.

Chấp nhận bị đối xử nửa vời.

Chấp nhận bị bỏ đói cảm xúc rồi lại được kéo về bằng vài lời ngọt.

Chấp nhận sống trong chờ đợi, phỏng đoán, bất an.

Chấp nhận để một người dần dần lấy mất sự tập trung, sự bình an, giờ cầu nguyện, định hướng sống của mình.

Chấp nhận nới lỏng tiêu chuẩn đạo đức, vì sợ nếu giữ thì người kia sẽ xa.

Ban đầu, họ chỉ muốn được yêu. Nhưng dần dần, họ bắt đầu đánh đổi mình để giữ lấy cảm giác được yêu.

Đó là lúc mối quan hệ trở thành một chiếc bàn thờ sai chỗ. Người trẻ dâng lên đó thời gian, cảm xúc, nước mắt, phẩm giá, lương tâm, thậm chí cả nhịp sống thiêng liêng của mình. Không ai bắt họ cả. Họ tự dâng vì sợ quay lại với khoảng trống cũ.

Và chính ở đây, phải nói một điều rất thật: một mối quan hệ làm bạn xa Chúa không thể là nơi cứu đời bạn.

Có thể nó làm tim bạn rung động.

Có thể nó cho bạn những khoảnh khắc đẹp.

Có thể nó làm bạn thấy đời bớt cô đơn.

Nhưng nếu càng đi vào đó, bạn càng ít cầu nguyện hơn, càng ít trung thực với lương tâm hơn, càng ít bình an hơn, càng dễ thỏa hiệp hơn, càng bị hút khỏi trung tâm đời sống mình, thì điều đó không phải là ánh sáng. Dù nó có đẹp tới đâu lúc đầu.

Tình yêu thật không cạnh tranh với Thiên Chúa. Tình yêu thật không buộc con người phải rời khỏi sự thật để giữ nó. Tình yêu thật không làm bạn mờ dần trước mặt Chúa. Tình yêu thật không bắt bạn phải nhỏ đi, giả đi, dễ dãi đi, mệt đi. Tình yêu thật, dù còn non, dù còn phải học, vẫn phải có một hướng đi về phía sáng hơn, sạch hơn, trưởng thành hơn, tự do hơn.

Người trẻ dễ rơi vào mối quan hệ lệch còn vì họ thường nhầm giữa được quan tâm và được yêu.

Quan tâm có thể rất ngọt.

Một người nhớ những chi tiết nhỏ về bạn.

Một người hiện diện đúng lúc.

Một người làm bạn cười.

Một người biết cách khiến bạn thấy mình quan trọng.

Tất cả những điều ấy quý. Nhưng chưa đủ để gọi tên một tình yêu đúng nghĩa. Bởi vì yêu không chỉ là làm cho một người thấy mình được chú ý. Yêu còn là muốn điều tốt thật cho linh hồn người đó. Muốn họ gần Chúa hơn. Muốn họ sống đúng hơn. Muốn họ giữ được phẩm giá. Muốn họ không đánh mất mình vì mối quan hệ này.

Có những người rất quan tâm bạn nhưng không hề giúp bạn tốt lên.

Có những người nhớ bạn từng chi tiết nhưng lại kéo bạn xa khỏi điều bạn biết là đúng.

Có những người rất giỏi làm bạn thấy mình đặc biệt, nhưng chỉ khi bạn ở trong vùng mà họ muốn.

Có những người rất dịu ngọt khi sợ mất bạn, nhưng rất lạnh lùng khi đã có bạn trong tay.

Nếu người trẻ không có nội tâm sáng, họ sẽ rất dễ lầm những kiểu quan tâm đó với tình yêu. Và khi đã lầm rồi, họ sẽ bảo vệ mối quan hệ ấy bằng mọi giá, ngay cả khi nó đang bào mòn mình.

Một dạng lệch rất phổ biến khác là người trẻ dùng tình yêu để chữa một căn tính đang rạn.

Họ không thật sự biết mình là ai ngoài mối quan hệ ấy.

Khi được yêu, họ thấy mình có giá trị.

Khi bị lơ, họ thấy mình vô nghĩa.

Khi người kia vui, họ có thể thở.

Khi người kia lạnh, cả ngày họ như rơi.

Cuộc đời họ bắt đầu co vào quanh phản ứng của một người. Đó không còn là tình yêu nữa. Đó là việc giao linh hồn mình cho một người hữu hạn quản lý thay cho Chúa.

Một người không có gốc nơi Chúa sẽ rất dễ biến người mình yêu thành trung tâm mới. Và khi đó, mọi thứ đảo trật tự. Cầu nguyện trở thành thứ phụ. Phân định bị mờ. Bổn phận bị sao lãng. Những tương quan lành khác bị đẩy ra. Các quyết định lớn nhỏ bắt đầu xoay quanh người kia. Người trẻ không còn hỏi điều gì đúng, mà hỏi điều gì giữ được mối quan hệ này. Không còn hỏi Chúa muốn gì, mà hỏi người kia sẽ nghĩ gì. Không còn hỏi điều gì làm linh hồn mình sáng, mà hỏi điều gì giúp mình bớt sợ bị bỏ.

Từ đó, nỗi mệt bắt đầu lớn.

Mệt vì phải giữ.

Mệt vì phải đoán.

Mệt vì phải làm vừa lòng.

Mệt vì phải kiểm tra.

Mệt vì phải chờ.

Mệt vì phải dồn quá nhiều ý nghĩa cuộc đời vào một người không thể gánh nổi từng ấy.

Thật ra không ai sinh ra để làm Đấng Cứu Độ cho trái tim người khác. Nhưng nhiều người trẻ vô thức bắt người mình yêu phải làm công việc đó. Và khi người kia không làm nổi, họ thất vọng, trách móc, đau đớn, tuyệt vọng. Không hẳn vì người kia tệ, mà vì cái họ đang đòi quá lớn. Họ muốn người kia lấp vào khoảng trống chỉ có Thiên Chúa mới lấp trọn.

Có những người trẻ cũng rơi vào mối quan hệ lệch vì họ sợ cô đơn hơn là yêu người kia. Nói vậy nghe đau, nhưng nhiều trường hợp là thật. Họ không chọn người đó vì đây là một hướng đi sáng, một con đường giúp cả hai nên người hơn. Họ chọn vì người đó có mặt đúng lúc mình yếu nhất. Vì mình đang trống. Vì mình vừa bị bỏ. Vì mình chán quá. Vì ai cũng có đôi có cặp. Vì mình cần một nơi dựa. Vì mình không chịu nổi cảm giác đi về một mình nữa.

Khi một mối quan hệ bắt đầu chủ yếu để giải quyết nỗi cô đơn, nó sẽ rất khó lành. Bởi vì gốc của nó không phải là sự tự do. Gốc của nó là nỗi sợ. Mà điều xây trên nỗi sợ thì sớm muộn gì cũng sinh bất an. Người trẻ sẽ vừa bám vừa nghi, vừa cần vừa giận, vừa muốn gần vừa sợ mất, vừa thấy ấm vừa thấy ngộp.

Tình yêu đúng không đến từ một trái tim hoàn hảo. Nhưng nó cần ít nhất một hướng đi về phía tự do. Còn nếu một người bước vào quan hệ với tâm thế: xin cứu em khỏi cô đơn, xin cho em giá trị, xin đừng bỏ em, xin làm cho em thấy mình đủ, thì người đó đang đặt lên vai người kia một gánh quá lớn. Và chính vì gánh quá lớn, mối quan hệ dễ méo.

Người trẻ còn dễ lệch trong tương quan vì họ không quen được yêu cách chậm, cách thật, cách có ranh giới. Họ bị hấp dẫn bởi cái gì mạnh, nhanh, dồn dập, làm tim rung ngay. Họ tưởng cường độ là chiều sâu. Nhưng không phải. Có những thứ cháy rất mạnh vì nó bén vào đúng chỗ dễ bắt lửa, chứ không phải vì nó có nền. Còn tình yêu lành nhiều khi đến chậm hơn, bình hơn, ít kịch tính hơn, nhưng sạch hơn. Nó không cuốn bạn ra khỏi chính mình. Nó không bắt bạn sống trong hỗn loạn. Nó không làm bạn mất ngủ vì bất an triền miên. Nó không khiến bạn phải đoán lòng người kia mỗi ngày như một canh bạc. Nó có ánh sáng. Có sự thật. Có hướng đi. Có khả năng gọi nhau lên cao hơn.

Nhưng người trẻ quen với cảm xúc dồn dập có khi lại chê kiểu tình yêu lành là nhạt. Đó là một bi kịch. Họ nghiện những dao động mạnh nên không còn cảm được vẻ đẹp của sự bình an. Họ nghiện bị kéo lên kéo xuống nên không còn tin vào sự ổn định. Họ nghiện cảm giác phải rướn mới chạm được, nên khi gặp điều lành, họ lại thấy không đủ kích thích. Chính vì thế mà có khi họ quay lại với những kiểu người làm mình mệt, vì mệt đã thành quen và quen thì bị nhầm là tình yêu.

Nói tới đây cần nhấn mạnh một điều: không phải cứ yêu là sai, không phải cứ rung động là lệch, không phải cứ gắn bó là xấu. Không. Tình yêu là một quà tặng lớn. Vấn đề là phải học yêu bằng trái tim đang được quy hướng, chứ không phải bằng trái tim đang đói đến mức quơ lấy bất cứ điều gì có vẻ là bánh.

Một trái tim được quy hướng trong Chúa sẽ khác.

Nó vẫn biết rung động.

Vẫn biết nhớ.

Vẫn biết chờ.

Vẫn biết đau vì một người.

Nhưng nó không đánh mất tiêu chuẩn của sự thật.

Nó không giao lương tâm mình cho cảm xúc.

Nó không lấy mối quan hệ làm trung tâm thay cho Thiên Chúa.

Nó không xem việc được yêu là bằng chứng cuối cùng của giá trị bản thân.

Nó biết rằng mình có thể quý một người rất nhiều mà vẫn phải nói không nếu hướng đi đó không lành.

Nó biết rằng mất một mối quan hệ đau thật, nhưng mất linh hồn còn đau hơn.

Nó biết rằng có những điều đẹp chưa chắc là điều Chúa muốn lúc này.

Nó biết rằng tình yêu thật phải đi cùng sự sáng, chứ không thể sống nhờ mập mờ.

Người trẻ cần học phân định mối quan hệ không chỉ bằng cảm giác, mà bằng hoa trái.

Hoa trái của nó là gì?

Bạn cầu nguyện hơn hay cầu nguyện ít đi?

Bạn sống thật hơn hay sống giấu giếm hơn?

Bạn nên người hơn hay thất thường hơn?

Bạn hiền hơn hay nóng nảy hơn?

Bạn trung tín hơn hay lơ là hơn?

Bạn tôn trọng bản thân hơn hay dễ dãi hơn?

Bạn gần gia đình, gần cộng đoàn, gần Chúa hơn hay tách khỏi tất cả để chỉ còn xoay quanh một người?

Nếu hoa trái ngày càng tối, đừng tiếp tục gọi cái cây đó là tốt chỉ vì ban đầu nó nở hoa đẹp.

Nhiều người trẻ đau vì cứ muốn một mối quan hệ không lành phải trở nên lành chỉ nhờ mình yêu đủ nhiều. Nhưng không phải cứ yêu nhiều là cứu được hướng sai. Có những thứ càng cố giữ càng lệch. Có những người mình thương thật, nhưng đường đi với họ không đưa cả hai về phía sáng. Có những mối quan hệ không thiếu tình cảm, chỉ thiếu chân lý. Mà thiếu chân lý thì tình cảm rồi cũng mệt, rồi cũng bào nhau, rồi cũng làm nhau xa Chúa.

Cũng phải nói đến một điều rất thật khác: nhiều người trẻ không chỉ sợ mất người kia. Họ sợ mất phiên bản của mình khi có người kia. Phiên bản được nhớ, được đợi, được cần, được thương, được ai đó xem là quan trọng. Nên khi mối quan hệ có vấn đề, họ không chỉ đau vì người kia, mà còn đau vì sợ quay lại làm người vô hình, người trống, người không được gọi tên nữa. Cho nên họ níu không chỉ vì yêu, mà vì hoảng. Hoảng trước việc phải trở về với chính mình mà không có chiếc nạng cảm xúc ấy.

Đây là lúc cần một sự thật rất mạnh của Tin Mừng: bạn không vô giá trị khi không có ai yêu bạn theo kiểu trần gian. Bạn không ít đáng quý hơn khi một mối quan hệ kết thúc. Bạn không nhỏ đi khi không còn là trung tâm trong mắt một người. Giá trị của bạn không được treo trên việc có ai nhắn tin mỗi đêm. Bạn là người được Thiên Chúa biết đến, muốn đến, yêu đến tận cùng. Không phải để phủ nhận nỗi đau mất mát của trần gian, mà để đặt nỗi đau ấy vào đúng chỗ. Nó đau thật, nhưng không có quyền định nghĩa con là ai.

Khi một người trẻ chạm được vào căn tính ấy, họ sẽ bắt đầu yêu khác.

Không còn yêu để xin sống.

Mà yêu từ chỗ mình đang sống.

Không còn yêu để vá bản thân.

Mà yêu từ chỗ mình đang để Chúa chữa.

Không còn yêu để trốn cô đơn.

Mà yêu với khả năng ở một mình trước mặt Chúa mà không tuyệt vọng.

Không còn yêu như người đi đòi bù.

Mà yêu như người biết trao và nhận trong tự do.

Đó là một hành trình dài. Không dễ. Nhất là với những người từng thiếu, từng bị thương, từng lớn lên trong khát khao được chọn. Nhưng không phải không thể. Với ơn Chúa, với sự thật, với cầu nguyện, với đồng hành tốt, người trẻ có thể dần dần học lại cách yêu.

Học rằng có những lúc phải đi ra khỏi một mối quan hệ không vì hết thương, mà vì còn thương sự sống của linh hồn mình.

Học rằng cảm xúc mạnh không đủ để bảo đảm đây là đường đúng.

Học rằng có những người đến không phải để thuộc về, mà để cho mình thấy chỗ nào trong lòng mình còn quá đói.

Học rằng khi một mối quan hệ làm mình xa Chúa, điều cần nhất không phải là cố cứu mối quan hệ ấy bằng mọi giá, mà là cứu trật tự trong lòng mình.

Học rằng đôi khi Chúa không lấy đi một người để phạt mình, mà để cứu mình khỏi nhầm một chiếc bóng với quê hương.

Người trẻ thân mến, bạn có quyền khát được yêu. Khát đó không xấu. Nhưng xin đừng để cơn khát ấy làm bạn cúi xuống những dòng nước không sạch. Xin đừng để nỗi sợ cô đơn khiến bạn gọi tên cứu độ cho một điều đang bào mòn mình. Xin đừng để việc được ai đó chú ý làm bạn quên mất mình thuộc về ai. Xin đừng vì muốn có một người mà đánh mất chính mình. Xin đừng vì sợ trống mà nộp linh hồn cho một mối quan hệ không có ánh sáng.

Hãy để Chúa đi vào tận gốc cơn đói của bạn.

Không để Chúa dập tắt khả năng yêu.

Mà để thanh luyện nó.

Để nó không còn là cơn khát mù quáng.

Mà trở thành một khả năng yêu đúng, yêu sạch, yêu trưởng thành, yêu mà vẫn giữ linh hồn mình trong ánh sáng.

Lạy Chúa, con khát được yêu. Nhiều lúc con yếu vì cơn khát ấy. Nhiều lúc chỉ cần ai đó nhìn con, nhớ con, hỏi han con, là tim con đã nghiêng. Có những lúc con không phân biệt được giữa tình yêu và chỗ dựa. Giữa quan tâm và lệ thuộc. Giữa rung động và hướng đi đúng. Xin đừng để nỗi thiếu trong con dẫn con vào những mối tương quan làm con xa Ngài. Xin chữa nơi con cơn đói được công nhận, cơn sợ bị bỏ, cơn thèm được thuộc về bằng mọi giá. Xin dạy con biết rằng con không phải đi xin giá trị ở nơi khác. Xin dạy con yêu từ sự tự do của một người con, không từ nỗi hoảng của một trái tim mồ côi. Xin cho con đủ can đảm rời khỏi những gì không lành, dù con còn thương. Và xin giữ lòng con cho một tình yêu nào làm con gần Ngài hơn, sáng hơn, trong hơn, và thành người hơn.

 

 

CHƯƠNG 9

VÌ SAO NHIỀU NGƯỜI TRẺ MUỐN SỐNG THÁNH THIỆN, TRONG SẠCH, CÓ KỶ LUẬT, NHƯNG LẠI LIÊN TỤC BỊ KÉO NGƯỢC BỞI THÂN XÁC, CẢM XÚC, DỤC VỌNG, SỰ DỄ DÃI VÀ NHỮNG CÁM DỖ RẤT ÂM THẦM CỦA THỜI ĐẠI NÀY

Có một cuộc chiến rất thật trong lòng người trẻ mà không phải ai cũng dám gọi tên.

Đó không chỉ là cuộc chiến giữa tốt và xấu theo kiểu đơn giản. Không chỉ là chuyện biết điều nào đúng, điều nào sai. Không chỉ là chuyện nghe lời Chúa hay không nghe lời Chúa. Mà còn là một cuộc giằng co rất sâu giữa điều lòng muốn vươn lên và điều thân xác kéo xuống, giữa khát vọng nên người và sự dễ dãi muốn được chiều ngay, giữa tiếng gọi sống trong sáng và những hấp lực rất gần, rất mạnh, rất ngọt, rất kín của một thế giới luôn biết cách vuốt ve những phần yếu nhất trong con người.

Nhiều người trẻ thật sự muốn sống tốt.

Muốn cầu nguyện.

Muốn giữ lòng trong sạch.

Muốn có kỷ luật.

Muốn không sống buông theo bản năng.

Muốn nên người trưởng thành, tự do, sáng.

Muốn thuộc về Chúa hơn.

Điều đó là thật.

Nhưng cũng thật không kém là rất nhiều lần họ thấy mình bị kéo ngược. Không chỉ một hai lần. Mà nhiều lần. Lặp đi lặp lại. Có khi vừa mới quyết tâm xong thì lại ngã. Vừa mới sốt sắng được ít hôm thì lại nguội. Vừa mới cắt một điều gì đó thì ít lâu sau lại quay về. Vừa mới thề với lòng mình rằng từ nay phải khác, thì rồi một lúc yếu, một giờ rảnh, một buổi tối cô đơn, một lần buồn bực, một cơn mệt, một màn hình sáng lên đúng lúc, tất cả lại đổ.

Người trẻ đau vì điều đó.

Đau vì không phải họ không biết.

Không phải họ không muốn.

Mà vì họ thấy giữa điều mình ước và điều mình sống có một khoảng cách quá lớn.

Họ bắt đầu thất vọng về mình.

Bắt đầu tự hỏi có phải mình giả hình không.

Có phải lòng mình không thật không.

Có phải mình chẳng bao giờ thay đổi được không.

Có phải mình quá yếu không.

Có phải sống thánh thiện chỉ dành cho một số người đặc biệt hơn, còn mình thì không thể.

Và đó là chỗ cuộc chiến trở nên đau hơn nữa. Không chỉ đau vì cám dỗ. Mà đau vì mất niềm tin vào khả năng mình có thể sống khác.

Nhưng phải nói ngay điều này: việc người trẻ phải chiến đấu với thân xác, với dục vọng, với cảm xúc, với sự lười biếng, với những cơn thôi thúc kéo mình ra khỏi điều tốt, không có nghĩa là họ hư. Nó có nghĩa là họ là con người. Một con người mang nơi mình cả vẻ đẹp của ơn gọi lẫn sự mong manh của bản tính bị thương tổn bởi tội lỗi. Một con người có khả năng hướng lên, nhưng cũng có những phần rất dễ nghiêng xuống nếu không được rèn luyện, soi sáng, và giữ trong ân sủng.

Nói cách khác, không ai nên thánh mà không đi qua chiến đấu.

Không ai giữ được sự trong sạch mà chưa từng thấy mình bị kéo.

Không ai sống kỷ luật mà chưa từng nếm mệt mỏi, trì hoãn, buông xuôi.

Không ai tự do thật nếu chưa từng nhìn thấy những xiềng xích vô hình trong mình.

Vấn đề không phải là bạn có bị cám dỗ hay không.

Vấn đề là bạn đang hiểu cuộc chiến ấy ra sao, đang chiến đấu thế nào, đang bảo vệ lòng mình bằng gì, và có thật sự để Chúa bước vào tận gốc của cuộc chiến ấy hay chưa.

Có lẽ điều đầu tiên phải hiểu là thân xác không xấu.

Cảm xúc không xấu.

Khả năng rung động không xấu.

Khát vọng được gần, được ôm, được cảm nhận, được vui, được thỏa mãn theo nghĩa lành mạnh không xấu.

Thiên Chúa tạo dựng con người cả hồn lẫn xác. Và thân xác có phẩm giá. Có ý nghĩa. Có ngôn ngữ riêng. Có chỗ đứng trong kế hoạch của Chúa. Nhưng vì con người đã bị thương tổn bởi tội lỗi, nên những năng lực vốn đẹp ấy rất dễ lệch. Điều vốn được dựng nên để trao ban có thể trở thành đòi lấy. Điều vốn được dựng nên để nối kết có thể biến thành chiếm hữu. Điều vốn phải phục vụ tình yêu có thể quay thành phục vụ khoái cảm. Điều vốn phải nằm trong trật tự của sự thật có thể vượt lên làm chủ tất cả.

Thế nên cuộc chiến của người trẻ không phải là ghét thân xác, ghét cảm xúc, ghét những năng lượng sống động nơi mình. Mà là học đưa tất cả vào đúng trật tự. Để thân xác không làm vua. Để cảm xúc không cầm lái. Để dục vọng không viết luật cho linh hồn. Để cái muốn ngay bây giờ không giết mất điều đẹp của cả một đời.

Nhưng thời đại này làm cho cuộc chiến ấy khó hơn nhiều.

Ngày xưa, cám dỗ vẫn có, nhưng không sẵn ngay trong túi áo như bây giờ. Không chỉ cần vài cái chạm là cả một thế giới hình ảnh, ham muốn, gợi dục, so sánh, kích thích, tiêu thụ, giải trí vô tận ùa vào. Không chỉ cần một buổi tối trống, một khoảnh khắc yếu lòng, là người trẻ có thể lao vào đủ thứ mà không ai biết. Không chỉ cần thấy buồn, thấy chán, thấy cô đơn, thấy áp lực, là ngay lập tức có vô số lối xoa dịu rẻ tiền mở sẵn.

Thời đại này không chỉ cám dỗ con người phạm tội. Nó còn huấn luyện con người sống theo nguyên tắc này: hễ muốn là phải có ngay, hễ khó chịu là phải xoa ngay, hễ thiếu là phải lấp ngay, hễ buồn là phải làm mình vui lại ngay.

Chính điều đó làm cho người trẻ yếu đi trong khả năng chờ, khả năng chịu đựng, khả năng chiến đấu, khả năng từ chối, khả năng ở lại với một cơn đói mà không lập tức quăng cho nó món ăn đầu tiên. Trong khi đời sống thánh thiện đòi rất nhiều ở khả năng không phục tùng mọi thôi thúc đi qua trong lòng mình.

Người trẻ bị kéo ngược bởi thân xác và dục vọng không chỉ vì họ yếu. Mà còn vì họ đang sống trong một nền văn hóa khiến sự dễ dãi trông có vẻ bình thường. Người ta nói như thể mọi thứ chỉ là nhu cầu. Chỉ là bản năng. Chỉ là ai cũng vậy. Chỉ là sống thật với mình. Chỉ là quyền cá nhân. Chỉ là giải tỏa. Chỉ là không nên gò bó quá. Chỉ là cơ thể thôi mà. Chỉ là tưởng tượng thôi mà. Chỉ là xem một chút thôi mà. Chỉ là nhắn tin flirt một chút thôi mà. Chỉ là gần gũi cảm xúc thôi mà.

Những chữ “chỉ là” ấy rất nguy.

Vì ma quỷ hiếm khi đẩy con người ngã bằng những câu rất thô. Nó thường làm nhỏ điều xấu để người ta không còn cảnh giác. Làm cho điều lệch trông tự nhiên. Làm cho điều đục trông bình thường. Làm cho việc chiều mình có vẻ như chăm sóc bản thân. Làm cho việc phá ranh giới có vẻ như sống thật với cảm xúc. Làm cho việc không kỷ luật có vẻ như sống tự do.

Nhưng tự do không phải là muốn gì làm nấy. Tự do là có khả năng không bị cai trị bởi bất cứ điều gì thấp hơn căn tính làm con Thiên Chúa của mình.

Một người không làm chủ được đôi mắt mình thì chưa tự do.

Không làm chủ được trí tưởng tượng mình thì chưa tự do.

Không làm chủ được thời gian, giấc ngủ, điện thoại, cơn tức, cơn buồn, cơn thèm được xoa dịu ngay, thì chưa tự do.

Có thể người đó rất hiện đại, rất thoải mái, rất tự nhiên theo mắt thế gian. Nhưng sâu bên trong vẫn đang bị dẫn đi bởi những lực không được quy hướng.

Và đó là điều người trẻ phải đau đủ để nhìn thẳng vào.

Nhiều người trẻ muốn sống thánh thiện nhưng lại không hiểu rằng sự thánh thiện không thể lớn lên trên một đời sống không có rào chắn.

Họ cầu nguyện xin Chúa cho mình mạnh hơn, nhưng không cắt những thứ đang làm mình yếu.

Họ xin bớt cám dỗ, nhưng vẫn nuôi cám dỗ bằng nội dung mình xem, bằng cách mình nói chuyện, bằng chỗ mình lui tới, bằng những giờ quá khuya, bằng những mối quan hệ mập mờ, bằng sự buông thả trong trí óc.

Họ xin được trong sạch, nhưng không bảo vệ các cửa ngõ đi vào linh hồn.

Họ xin có kỷ luật, nhưng không thay đổi nhịp sống.

Họ xin bớt phân tán, nhưng vẫn để mình chìm trong vô số kích thích.

Ân sủng là thật. Nhưng ân sủng không hủy tự do của con người. Chúa giúp, nhưng con người phải hợp tác. Và một phần rất cụ thể của sự hợp tác ấy là biết nói không với những gì đang làm mình ngã.

Không ai ngã từ hư không.

Đằng sau nhiều lần sa ngã thường có một chuỗi nhỏ: mệt, buồn, cô đơn, tự thương hại, buông cảnh giác, tìm chút giải trí, nới ranh giới, ở một mình không ánh sáng, mở một cánh cửa nhỏ tưởng vô hại, rồi dần dần bóng tối bước vào.

Cho nên, người trẻ khôn không chỉ hỏi: tại sao con cứ ngã?

Họ còn hỏi: con đã đi tới cú ngã đó bằng lối nào?

Điều gì thường đến trước?

Buổi tối nào?

Tâm trạng nào?

Kiểu mệt nào?

Kiểu nội dung nào?

Kiểu trò chuyện nào?

Kiểu tưởng tượng nào?

Kiểu tự thương mình nào?

Kiểu trì hoãn nào?

Bởi vì nếu không đọc được đường đi của cám dỗ, người ta sẽ cứ tưởng mình ngã bất ngờ, trong khi thật ra mình đã bị kéo từng bước.

Một lý do khác khiến người trẻ cứ bị kéo ngược là vì họ đang quá cô đơn trong cuộc chiến của mình. Họ chiến đấu một mình, xấu hổ một mình, thất vọng một mình, hứa rồi ngã một mình, xin tha thứ một mình, rồi lại tiếp tục giấu. Họ không có ai đồng hành đủ thật. Không có người để nói ra mà không bị khinh. Không có nơi để thú nhận rằng mình đang rất khổ vì điều này. Và khi cuộc chiến bị nhốt trong bóng tối, nó thường mạnh hơn.

Ma quỷ rất thích cô lập con người trong xấu hổ. Nó thì thầm rằng đừng nói với ai, đừng đem ra ánh sáng, đừng đi xưng tội nữa, đừng bắt đầu lại nữa, ngươi giả hình lắm, ngươi bẩn lắm, ngươi không thể thay đổi đâu. Và nếu người trẻ nghe những lời đó đủ lâu, họ sẽ không chỉ ngã vì dục vọng. Họ còn ngã vào tuyệt vọng.

Phải nói thật: dục vọng không chỉ tấn công thân xác. Nó còn tấn công hy vọng. Sau nhiều lần ngã, điều nguy hiểm nhất không chỉ là hành vi sai, mà là cảm giác mình không còn đáng để chiến đấu nữa. Mình tệ quá rồi. Mình hết cứu rồi. Mình cứ thế này thôi. Đây là tính mình rồi. Không. Đó là dối trá. Một người còn đau vì điều xấu là người còn chưa thuộc về điều xấu. Một người còn muốn đứng dậy là người vẫn còn chỗ cho ân sủng vào.

Nhưng muốn chiến đấu tốt, người trẻ phải hiểu rằng không thể vừa yêu sự thánh thiện vừa nuôi sự dễ dãi.

Không thể muốn sống trong sạch mà vẫn thích chơi với ranh giới.

Không thể muốn nên người trưởng thành mà vẫn chiều mình trong mọi cơn khó chịu.

Không thể muốn cầu nguyện sâu mà đời sống lại không có nếp.

Không thể muốn thắng cám dỗ mà vẫn dành cho cám dỗ những căn phòng riêng trong lòng.

Một số người trẻ ngã nhiều không phải vì họ xấu hơn ai, mà vì họ chưa chịu dứt khoát với những “phòng chờ” của tội. Những mập mờ cảm xúc. Những cuộc trò chuyện quá giới hạn. Những nội dung nửa kín nửa hở. Những tưởng tượng được dung dưỡng. Những đêm thức muộn vô nghĩa. Những lần tự nói: chắc không sao đâu. Những lần ở lì trong trạng thái mệt mà không tìm đến Chúa hay việc lành, mà đi tìm thứ làm mình quên.

Tội nặng nhiều khi không bắt đầu ở chỗ nặng. Nó bắt đầu ở chỗ người ta không nghiêm túc với những điều tưởng như nhẹ.

Người trẻ cũng bị kéo ngược vì họ chưa thật hiểu giá trị của sự khổ chế. Chữ này nghe có vẻ cũ, có vẻ khô, có vẻ khó, nhưng nó rất thật. Khổ chế không phải là ghét mình. Cũng không phải là hành hạ mình. Khổ chế là tập cho con người không phải cái gì muốn cũng có, không phải cái gì thích cũng làm, không phải cái gì dễ chịu cũng được giữ lại, không phải cái gì đòi liền cũng được đáp liền. Nó là trường học của tự do.

Một người không biết khổ chế trong ăn uống, ngủ nghỉ, màn hình, lời nói, cảm xúc, thời gian, sẽ rất khó mạnh trong những cơn cám dỗ lớn. Vì thân xác và bản năng đã được huấn luyện quá lâu theo hướng: hễ muốn là được phục vụ. Mà khi linh hồn muốn hướng lên, nó phải kéo cả một con người đi theo. Nếu các phần khác trong mình chưa từng được tập vâng lời, thì đến lúc chiến đấu sẽ rất khó.

Bởi vậy, có những việc nhỏ mà rất quan trọng: biết dừng lại khi đã đủ, biết tắt khi phải tắt, biết đứng lên khỏi chỗ lười, biết đi ngủ đúng giờ, biết giữ ánh mắt, biết không nuông mình vô hạn. Không phải vì Chúa thích thấy con người khổ. Nhưng vì Chúa muốn con người tự do khỏi sự chuyên chế của cái tôi.

Có một điểm rất sâu nữa: nhiều cám dỗ thân xác thật ra không chỉ là chuyện thân xác. Nó là ngôn ngữ méo mó của những cơn đói sâu hơn. Có người tìm khoái cảm vì quá cô đơn. Có người chìm trong tưởng tượng vì quá thiếu dịu dàng thật. Có người buông thả vì quá áp lực và cần đường thoát. Có người sống mập mờ tình cảm vì đang thèm được xác nhận giá trị. Có người dùng thân xác như nơi trú ẩn khỏi nỗi đau nội tâm. Có người ngã lúc buồn nhất, không phải vì ham muốn quá mạnh, mà vì quá muốn quên.

Nếu không chạm tới những cái gốc ấy, người trẻ có thể chỉ chiến đấu ở phần ngọn. Họ cắt một biểu hiện, nhưng không hiểu nỗi đói phía dưới. Rồi khi nỗi đói đó trở lại, nó lại tìm đường khác. Cho nên muốn sống thánh thiện, người trẻ không chỉ phải hỏi: con làm gì? Mà còn phải hỏi: con đang thiếu gì, đau gì, khát gì, và đang dùng cái gì để lấp?

Có khi điều cần không chỉ là lời nhắc “đừng phạm nữa”, mà còn là: hãy để Chúa đi vào nỗi cô đơn này, hãy học nghỉ ngơi lành mạnh, hãy xây một đời sống có người đồng hành, hãy thôi ghét mình, hãy chữa những vết thương đang đẩy mình tới những nơi đó, hãy tập sống có nhịp, có bổn phận, có thể thao, có tình bạn tốt, có cầu nguyện đều, có ánh sáng.

Không ít người trẻ ngã nặng hơn vào những mùa họ sống vô cấu trúc. Ngủ thất thường. Ăn uống thất thường. Cầu nguyện thất thường. Không có việc làm tới nơi. Nhiều giờ trống. Ít vận động. Nhiều tưởng tượng. Ít gặp người thật. Nhiều màn hình. Trong những mùa ấy, cám dỗ gần như có sẵn đất tốt để mọc. Không phải vì chỉ cần sống bận là sẽ thánh. Nhưng vì một con người không có nhịp là một con người dễ bị kéo bởi xung động nhất thời.

Thánh thiện không đối nghịch với thân xác. Thánh thiện cứu thân xác khỏi bị dùng sai. Trong sạch không phải là lạnh. Trong sạch là khả năng nhìn, chạm, yêu, hiện diện mà không chiếm hữu, không tiêu thụ, không biến người khác thành đối tượng cho cơn đói của mình. Kỷ luật không phải là mất vui. Kỷ luật là bảo vệ những niềm vui cao hơn khỏi bị giết bởi những khoái cảm thấp và chóng qua.

Đây là điều thời đại hôm nay rất khó chấp nhận, nhưng vẫn là sự thật: không phải mọi niềm vui đều cùng phẩm giá. Có niềm vui làm con người sáng lên. Có niềm vui làm con người tối đi. Có niềm vui để lại bình an. Có niềm vui để lại bẩn, nặng, mệt, trống. Có niềm vui làm mình nên người hơn. Có niềm vui làm mình tan ra thành mảnh vụn. Người trẻ phải học phân biệt. Không phải vì trở nên khắt khe, mà vì quá yêu linh hồn mình để không cho nó ăn bất cứ thứ gì.

Nhiều người trẻ muốn nên thánh nhưng vẫn còn thương tiếc quá nhiều thứ làm mình đục. Họ chưa thấy rằng cái giá của vài phút dễ dãi có khi là nhiều ngày tâm trí nặng nề, cầu nguyện khó, ý chí yếu, lòng tự trọng giảm, xấu hổ tăng, khoảng cách với Chúa lớn hơn. Tội không chỉ làm buồn lòng Chúa theo nghĩa luân lý. Nó còn làm tổn thương cấu trúc bên trong của người phạm. Nó bẻ cong ánh nhìn. Nó làm ý chí mềm yếu. Nó giảm khả năng yêu đúng. Nó khiến linh hồn khó ngẩng lên.

Nhưng cũng phải nhấn mạnh điều này để người trẻ không chìm trong sợ hãi: Chúa không mệt vì những lần bạn quay lại. Người không xua bạn ra khỏi lòng thương xót chỉ vì bạn chiến đấu chưa đẹp. Điều Người muốn là bạn đừng ký hòa ước với điều đang giết bạn. Đừng gọi nó là bình thường. Đừng biến nó thành căn tính. Đừng bỏ cuộc. Đừng để xấu hổ chặn đường trở về. Hãy xưng tội. Hãy bắt đầu lại. Hãy sửa nhịp sống. Hãy xin giúp đỡ. Hãy đứng lên ngay, đừng nằm nướng trong thất vọng.

Một linh hồn mạnh không phải là linh hồn chưa từng có cám dỗ. Mà là linh hồn học được cách ngã mà không tuyệt vọng, học được cách trở về nhanh, học được cách khiêm nhường, học được cách không tin vào sức riêng mình, học được cách dựng hàng rào chứ không khoe mình đủ mạnh để sống giữa bờ vực.

Người trẻ hôm nay cần một cái nhìn rất thực tế và rất thánh về cuộc chiến này.

Phải ngủ cho đúng.

Phải dùng màn hình có kỷ luật.

Phải tránh những giờ, những chỗ, những kiểu nội dung mình biết là nguy.

Phải có việc làm tử tế.

Phải vận động thân thể.

Phải có đời sống bí tích.

Phải có giờ cầu nguyện cố định.

Phải có những người bạn kéo mình lên.

Phải biết khi nào mình đang yếu để không tự đặt mình vào tình huống dễ ngã.

Phải tập từ chối những tự thương hại ngọt ngào dẫn tới buông thả.

Phải biết nhận ra nỗi buồn nào cần được khóc với Chúa chứ không phải được làm tê bằng khoái cảm.

Tất cả những điều đó không làm mất thiêng liêng. Trái lại, đó là cách thiêng liêng chạm xuống thân phận thật của con người.

Bởi vì con người không nên thánh bằng ý tưởng. Họ nên thánh bằng cách mang cả xác, hồn, thời gian, nhịp sống, cơn đói, nỗi yếu của mình vào dưới ánh sáng Thiên Chúa.

Có thể người trẻ đang đọc chương này và thấy đau. Vì họ thấy đây chính là vùng mình đang chiến đấu nhất. Có thể họ đã nhiều lần hứa với Chúa rồi lại ngã. Có thể họ đang rất xấu hổ. Có thể họ cảm thấy mình không xứng nói về đời sống thiêng liêng nữa. Nhưng xin nhớ điều này: bạn không bị định nghĩa bởi cú ngã của mình. Bạn bị định nghĩa bởi Đấng đã đổ máu để cứu bạn khỏi cú ngã ấy. Tội có thật. Trách nhiệm có thật. Cần chiến đấu thật. Nhưng lòng thương xót cũng thật. Và lòng thương xót không phải để bạn dễ dãi hơn, mà để bạn có can đảm quay lại mạnh hơn.

Lạy Chúa, con muốn sống trong sạch, nhưng nhiều lúc con thấy mình bị kéo quá mạnh. Con muốn có kỷ luật, nhưng con lại chiều mình. Con muốn gần Ngài, nhưng có những lúc thân xác, cảm xúc, thói quen cũ, sự dễ dãi của con mạnh hơn lời con hứa. Con xấu hổ. Con mệt. Con thất vọng về chính mình. Nhưng hôm nay con không muốn trốn nữa. Xin cho con nhìn cuộc chiến này trong ánh sáng của Ngài. Xin cho con biết cắt những gì cần cắt, tránh những gì cần tránh, xây những gì cần xây. Xin cứu con khỏi sự ngây thơ nghĩ rằng con có thể sống thánh mà không chiến đấu. Xin cứu con khỏi tuyệt vọng nghĩ rằng vì con đã ngã nhiều nên con không thể nên người. Xin thanh luyện mắt con, trí con, trí tưởng tượng của con, thân xác con, ký ức con, cơn đói của con. Xin dạy con yêu phẩm giá mình đủ để không bán nó cho vài phút dễ dãi. Và khi con yếu, xin cho con chạy về với Ngài nhanh hơn chạy về với bóng tối.

 

 

CHƯƠNG 10

VÌ SAO NHIỀU NGƯỜI TRẺ KHÔNG HẲN LƯỜI, NHƯNG ĐANG BỊ SỰ TRÌ TRỆ, MẤT LỬA, MỆT MỎI TINH THẦN, SỐNG KHÔNG MỤC TIÊU VÀ SỰ TÊ LIỆT NỘI TÂM ÂM THẦM LÀM CHO TUỔI TRẺ CỦA MÌNH TRÔI ĐI MÀ KHÔNG CÒN SỨC BẬT NỮA

Có những người trẻ không thật sự lười.

Họ không phải kiểu người ghét làm việc. Không phải kiểu người chỉ muốn nằm yên và mặc kệ đời. Không phải không có ước mơ. Không phải không từng cháy. Không phải không từng nghĩ đến một cuộc đời đẹp, một con đường sáng, một tương lai tử tế, một hành trình nghiêm túc với Chúa. Có khi họ còn là những người từng rất nhiệt, rất sốt sắng, rất có lý tưởng, rất muốn làm điều gì đó có ý nghĩa.

Nhưng rồi dần dần, một cái gì đó trong họ nguội đi.

Không tắt hẳn.

Nhưng nguội.

Không chết hẳn.

Nhưng đờ.

Không bỏ cuộc công khai.

Nhưng cũng không thật sự tiến nữa.

Họ vẫn sống.

Vẫn đi học, đi làm, đi lễ, gặp gỡ, sinh hoạt, trò chuyện, hoàn thành những việc tối thiểu.

Nhưng bên trong không còn sức bật.

Mọi thứ như bị phủ một lớp bụi mỏng.

Cầu nguyện cũng được, không cầu nguyện cũng được.

Cố gắng cũng được, buông một chút cũng được.

Mơ cũng còn đó, nhưng không đủ lửa để đi.

Biết phải đổi, nhưng không đủ lực để bắt đầu.

Biết mình không nên sống như thế này mãi, nhưng ngày cứ trôi, rồi hôm nay lại giống hôm qua.

Đây là một dạng đau rất âm thầm của tuổi trẻ: không phải sa ngã quá rõ, mà là héo dần.

Không phải sụp hẳn, mà là mềm ra, chảy ra, trôi ra, mất dần độ căng cần có của một đời trẻ.

Không phải không sống.

Mà là sống mà không còn bốc lên được nữa.

Sống mà không còn cảm thấy mình đang đi đâu cho rõ.

Sống mà không đến mức bi kịch để phải kêu cứu, nhưng cũng không có sinh khí để gọi là đang nở ra.

Và điều đau nhất là nhiều người trẻ mang tình trạng này rất lâu mà không gọi đúng tên nó.

Họ chỉ nói: chắc dạo này mình mệt.

Chắc mình hết động lực.

Chắc mình đang chán.

Chắc tại áp lực quá.

Chắc tại cuộc sống bây giờ ai cũng vậy.

Chắc tại mình lớn rồi nên không còn hăng như trước.

Chắc tại mình thực tế hơn thôi.

Nhưng sâu hơn những câu đó, có thể là một sự trì trệ nội tâm đang diễn ra.

Một sự tê liệt rất kín.

Một sự nguội lạnh không ồn ào.

Một kiểu sống thiếu mục tiêu sâu, thiếu nhựa sống thiêng liêng, thiếu lực bên trong để dấn thân, để đứng dậy, để làm mới mình, để đi xa.

Nhiều người trẻ hôm nay không phải không bận. Họ bận lắm. Nhưng bận không đồng nghĩa với sống có hướng. Bận không đồng nghĩa với có lửa. Một người có thể kín lịch cả tuần mà lòng vẫn rỗng. Có thể làm đủ thứ mà bên trong vẫn không có sức sống. Có thể hoàn thành nhiều trách nhiệm mà vẫn thấy mình như đang kéo một cỗ xe bằng đôi chân rã rời, không biết rốt cuộc nó sẽ tới đâu.

Có một sự khác nhau rất lớn giữa mệt vì đang sống hết mình cho một điều có ý nghĩa và mệt vì đang kéo lê một đời sống không còn trung tâm.

Nhiều người trẻ rơi vào kiểu mệt thứ hai.

Họ mệt không chỉ vì việc nhiều.

Mà vì lòng không còn một điểm quy tụ.

Không còn biết rõ mình đang sống vì điều gì lớn hơn.

Không còn giữ được một tương quan đủ sâu với Chúa để mọi thứ khác được sắp lại.

Không còn biết mình thức dậy mỗi sáng để phục vụ điều gì ngoài một chuỗi việc phải làm.

Không còn thấy ngày sống như một ơn gọi.

Chỉ thấy nó như một guồng quay.

Và guồng quay ấy, nếu kéo dài, sẽ làm con người mất lửa.

Người trẻ mất lửa không phải lúc nào cũng vì họ thiếu tài.

Nhiều khi họ rất có khả năng.

Không phải vì họ không có cơ hội.

Có khi cơ hội quanh họ không thiếu.

Không phải vì họ không biết điều hay.

Có khi họ đã nghe quá nhiều điều hay.

Nhưng biết điều hay không bảo đảm người ta còn sinh lực để sống điều hay.

Bởi vì sinh lực của một đời người không chỉ đến từ thông tin.

Nó đến từ ý nghĩa.

Đến từ tương quan.

Đến từ căn tính.

Đến từ việc lòng mình có đang nối với một nguồn sống thật hay không.

Một cành nho không khô vì nó không biết phải xanh.

Nó khô vì không còn ở lại trong thân nho.

Người trẻ cũng vậy. Họ không luôn trì trệ vì không biết mình nên sống tử tế, nên cầu nguyện, nên kỷ luật, nên dấn thân. Họ trì trệ vì đã lâu rồi họ sống tách khỏi nguồn làm cho điều đó có nhựa, có lực, có lửa.

Nguồn đó trước hết là Thiên Chúa.

Nhưng cũng còn là một đời sống nội tâm được chăm, một nhịp sống có trật tự, một mục tiêu có chiều sâu, một cộng đoàn có thể nâng đỡ, một lý do sống không chỉ xoay quanh mình.

Khi những điều ấy rạn dần, tuổi trẻ bắt đầu trôi vào một kiểu sống rất nguy: sống tối thiểu.

Làm tối thiểu.

Yêu tối thiểu.

Cầu nguyện tối thiểu.

Cố gắng tối thiểu.

Mơ tối thiểu.

Hy sinh tối thiểu.

Không hư hẳn, nhưng cũng không dám sống lớn.

Không phá đời mình dữ dội, nhưng cứ để nó nhạt dần.

Mà nhạt dần mới là điều rất đáng sợ.

Vì một người đang đốt đời mình trong tội lỗi rõ ràng có thể sẽ sớm thấy đau mà quay lại. Còn một người đang sống nhạt dần nhiều khi không thấy cần quay. Họ vẫn hoạt động được mà. Vẫn tồn tại được mà. Vẫn được khen là ổn mà. Vẫn đâu tới mức tệ đâu. Và chính “vẫn đâu tới mức tệ đâu” là một chiếc gối rất êm để linh hồn ngủ quên.

Có lẽ phải hỏi rất thật: vì sao người trẻ bị trì trệ như vậy?

Một lý do lớn là vì họ đang sống quá lâu trong tình trạng phân mảnh. Quá nhiều thứ cùng kéo. Quá nhiều việc dang dở. Quá nhiều tiếng ồn. Quá nhiều mục tiêu nhỏ chen nhau. Quá nhiều nội dung đi qua đầu. Quá nhiều cuộc trò chuyện không đủ sâu. Quá nhiều kích thích. Quá nhiều việc phải phản ứng. Khi một con người bị phân mảnh quá lâu, họ không chỉ mệt. Họ còn mất khả năng tập trung năng lượng vào điều gì đó đủ lâu để thấy sức bật sinh ra.

Lửa cần hội tụ.

Ánh nắng chiếu tản thì ấm thôi.

Nhưng ánh nắng được hội tụ có thể đốt lên.

Người trẻ hôm nay rất thiếu hội tụ.

Tâm trí tản.

Thời gian tản.

Cảm xúc tản.

Ước mơ tản.

Ý chí tản.

Mà cái gì tản lâu ngày sẽ không còn lực xuyên.

Sự trì trệ thường không bắt đầu từ việc con người không còn muốn gì cả.

Nó bắt đầu từ việc muốn quá nhiều thứ mà không có trục.

Hôm nay muốn sống sâu.

Mai muốn kiếm tiền nhanh.

Rồi muốn được công nhận.

Rồi muốn bình an.

Rồi muốn nổi bật.

Rồi muốn nghỉ ngơi.

Rồi muốn dấn thân.

Rồi muốn an toàn.

Rồi muốn một điều gì đó thật lớn nhưng chưa biết là gì.

Quá nhiều muốn chen nhau mà không có điều gì đủ cao để sắp lại tất cả.

Thế là lòng người trẻ như một căn nhà có quá nhiều khách ra vào, không ai thật sự ở lại làm chủ.

Một lý do khác là vì nhiều người trẻ đã đánh đồng cảm hứng với sức sống.

Họ nghĩ khi nào mình thấy hứng thì mình còn lửa. Khi không còn hứng thì chắc là mình hết đường rồi. Nhưng không. Có những mùa Chúa không cho cảm hứng nhiều, để con người học sống từ chiều sâu hơn là từ cảm xúc. Có những giai đoạn lửa không còn bùng kiểu dễ thấy, nhưng có thể đang được tinh luyện để trở nên bền hơn. Vấn đề là nhiều người trẻ không được dạy điều đó. Họ quen sống bằng những đợt hưng phấn. Thấy thích thì lao lên. Hết thấy thích thì dừng. Nên đời sống của họ giống những cơn sóng hơn là một dòng sông.

Kết quả là gì?

Lúc đầu họ rất nhiệt.

Sau đó nhanh nguội.

Rồi chán chính mình.

Rồi sợ bắt đầu lại.

Rồi dần tin rằng chắc mình không phải kiểu người có thể bền.

Không. Không phải thế. Chỉ là họ chưa học cách đi từ lửa bùng sang lửa ủ. Chưa học sống trung tín khi không có cảm giác. Chưa học rằng trưởng thành là vẫn tiếp tục trong điều đúng ngay cả khi bên trong không còn rực như lúc đầu.

Sự trì trệ của người trẻ còn đến từ một dạng mệt mỏi sâu hơn thể chất: mệt mỏi vì quá lâu phải sống không đúng với mình.

Có người đang học một điều mình không thật sự gọi.

Có người đang ở trong môi trường làm mình cạn.

Có người đang mang trên vai những kỳ vọng không thuộc về mình.

Có người đang yêu theo cách làm mình mệt.

Có người đang phục vụ quá nhiều mà không có thời gian thở với Chúa.

Có người đang cố là phiên bản mà người khác thích, chứ không phải con người Thiên Chúa muốn họ nên.

Sống như thế rất hao lực.

Vì mỗi ngày phải gồng.

Phải kéo.

Phải đỡ.

Phải duy trì.

Phải mặc một bộ áo không vừa với linh hồn mình.

Ban đầu còn chịu được.

Lâu dần thì trì trệ.

Không phải vì người đó yếu.

Mà vì không ai có thể sống trái sâu với chính mình quá lâu mà không kiệt.

Nhưng cũng có một dạng trì trệ khác còn đau hơn: trì trệ vì thất vọng lặp đi lặp lại.

Nhiều người trẻ từng cố.

Từng hứa.

Từng bắt đầu lại.

Từng mơ lớn.

Từng làm kế hoạch.

Từng viết mục tiêu.

Từng quyết tâm cầu nguyện đều.

Từng muốn đổi đời.

Nhưng rồi họ ngã.

Rồi bỏ dở.

Rồi thất bại.

Rồi bị hiểu lầm.

Rồi bị chê.

Rồi tự chán chính mình.

Và sau đủ nhiều lần như thế, trong lòng họ mọc lên một tiếng nói rất nhỏ nhưng rất độc: thôi, đừng kỳ vọng vào mình nữa.

Tiếng nói ấy làm người ta không còn dám đòi hỏi điều cao nơi bản thân. Không còn dám mơ sáng. Không còn dám đặt mục tiêu rõ. Không còn dám tin mình có thể đi đến cùng. Họ sống co lại. Sống thấp xuống. Sống an toàn trong mức vừa đủ để khỏi thất vọng thêm. Đây là một bi kịch lớn. Vì không phải họ hết khả năng. Mà là họ bị nỗi sợ thất vọng làm tê liệt ý chí.

Một người bị thế sẽ thường nói những câu như:

“Em vậy thôi.”

“Chắc em không hợp sống kỷ luật.”

“Em cứ hay bắt đầu rồi bỏ.”

“Em không phải kiểu người mạnh mẽ.”

“Em cũng muốn lắm nhưng không giữ được.”

Nghe thì như khiêm tốn.

Nhưng nhiều khi đó là một hình thức đầu hàng đã được nói bằng giọng tỉnh táo.

Người trẻ còn bị trì trệ vì họ quá ít nghỉ ngơi thật.

Nói vậy nghe lạ, vì nhiều người đã nghỉ rất nhiều kiểu rồi: xem, lướt, ngủ nướng, đi chơi, cà phê, giải trí, đổi gió. Nhưng nghỉ thật không phải chỉ là dừng làm việc. Nghỉ thật là linh hồn được trở về nguồn. Được yên trong Chúa. Được thở. Được thoát khỏi nhu cầu phải liên tục phản ứng. Được ở một nơi không ai đòi mình diễn. Được sống chậm lại đủ để nhựa sống quay về.

Rất nhiều người trẻ hôm nay có giải trí nhưng không có nghỉ ngơi.

Có xả nhưng không có hồi phục.

Có quên tạm nhưng không có chữa lành.

Cho nên sau tất cả, họ vẫn mệt.

Vẫn lì.

Vẫn nặng.

Vẫn không muốn bắt đầu điều gì nghiêm túc nữa.

Một đất ruộng nếu cứ bị cày xới, bị dẫm lên, bị lấy đi mãi mà không được bồi, sẽ chai. Tâm hồn con người cũng vậy. Nếu cứ làm, cứ lo, cứ phản ứng, cứ tiếp nhận, cứ bị đòi hỏi, cứ bị kéo mà không có thời gian ở với Chúa, ở với sự thật, ở với cái đẹp lành mạnh, thì rồi sẽ chai. Chai không phải vì xấu. Mà vì quá mệt.

Vậy sự trì trệ này chữa thế nào?

Trước hết phải ngừng tự kết án mình quá nhanh. Có những người trẻ thấy mình mất lửa là lập tức khinh mình. Gọi mình lười. Kém. Vô dụng. Yếu đuối. Nhưng không phải mọi mất lửa đều là lười. Có khi đó là dấu hiệu cho thấy linh hồn đang cần được nhìn lại sâu hơn. Cần xem mình đang sống lệch ở đâu. Đang cạn vì đâu. Đang để điều gì hút máu nội tâm mình từng ngày. Đang thiếu điều gì nền tảng. Đang mất kết nối với nguồn ở chỗ nào.

Nếu chỉ mắng mình, người ta sẽ không chữa tận gốc.

Phải học đọc cơn mệt của mình.

Cơn mệt này đến từ tội lỗi hay từ quá tải?

Từ sống giả hay từ sống không đúng gọi?

Từ thiếu cầu nguyện hay từ không biết nghỉ trong Chúa?

Từ mất mục tiêu hay từ quá nhiều mục tiêu lộn xộn?

Từ cô đơn hay từ đời sống không có cộng đoàn nâng đỡ?

Từ lối sống vô kỷ luật hay từ một vết thương làm mình mất sức chiến đấu?

Đọc được cơn mệt là bước đầu của khôn ngoan.

Tiếp đến, người trẻ phải tái lập mục tiêu sống ở tầng sâu.

Không phải chỉ hỏi: tuần này mình phải làm gì?

Mà hỏi: mình đang sống vì điều gì đủ lớn để đáng dậy sớm, đáng từ chối một số dễ dãi, đáng kiên trì khi không còn hứng?

Một đời người không thể bền nếu chỉ được kéo bởi những việc trước mắt. Nó cần một vì sao. Cần một hướng. Cần một ý nghĩa vượt lên trên cảm xúc nhất thời. Với người Kitô hữu, đó không chỉ là thành công, cũng không chỉ là “phiên bản tốt hơn của mình”, mà là nên người con của Thiên Chúa cách trọn hơn, dùng đời mình để đáp lại tình yêu của Người, và để mọi chọn lựa dần dần được gom lại trong ơn gọi nên thánh.

Khi mục tiêu ấy mờ, mọi thứ khác sẽ mờ.

Khi mục tiêu ấy sáng, ngay cả những việc nhỏ cũng bắt đầu có lý do.

Rồi phải xây lại những nhịp rất cụ thể.

Vì nhiều người trẻ không thiếu lý tưởng. Họ thiếu nhịp.

Thiếu giờ ngủ.

Thiếu giờ dậy.

Thiếu giờ cầu nguyện.

Thiếu giờ làm việc tập trung.

Thiếu giờ nghỉ đúng.

Thiếu giờ để màn hình xuống.

Thiếu giờ thinh lặng.

Thiếu nhịp nên đời sống bị trôi.

Mà cái gì bị trôi thì khó có lực.

Những việc này nghe tầm thường, nhưng rất quan trọng. Một đời sống không có cấu trúc rất khó giữ lửa lâu dài. Lửa cần bếp. Nước cần bờ. Cây cần đất. Ơn Chúa rất rộng, nhưng con người vẫn cần tạo chỗ cho ơn hoạt động cách đều đặn.

Một điều rất quan trọng nữa là người trẻ phải chấp nhận bắt đầu nhỏ.

Sự trì trệ hay nói: làm gì cũng vô ích thôi.

Làm ít thì chẳng thay đổi được gì.

Phải có một cú hích lớn.

Phải có một ngày rất khác.

Phải có động lực mạnh.

Nhưng không. Phần lớn những đời được cứu không bắt đầu bằng cú nổ. Chúng bắt đầu bằng một cử chỉ nhỏ được lặp lại trung tín.

Dậy đúng giờ hơn một chút.

Đọc một đoạn Lời Chúa ngắn.

Đi bộ mười lăm phút thay vì tiếp tục nằm lì.

Tắt điện thoại sớm hơn.

Làm xong một việc còn dang dở.

Xưng tội sau thời gian dài trì hoãn.

Ngồi lại trước Nhà Tạm dù chẳng cảm thấy gì.

Nhắn một tin xin lỗi.

Viết lại mục tiêu sống.

Cắt một thứ hút sức mình vô ích.

Những điều đó không hào nhoáng. Nhưng chúng cứu.

Sự trì trệ rất sợ những hành động nhỏ nhưng thật.

Vì khi một người bắt đầu làm được một điều nhỏ, họ sẽ thấy mình chưa chết hẳn như mình tưởng. Và từ đó, hy vọng trở lại.

Người trẻ cũng cần học sống với cộng đoàn đúng nghĩa. Một ngọn than tách khỏi bếp lửa sẽ mau tàn. Một người trẻ sống một mình quá lâu với nỗi mệt, với mục tiêu mờ, với những lặp lại vô hồn, rất dễ chìm sâu hơn vào trì trệ. Họ cần một vài người không chỉ hỏi họ “dạo này sao rồi” cho có, mà thật sự biết họ đang sống thế nào, đang nguội ở đâu, đang cần được đỡ ở chỗ nào. Không phải để dựa dẫm. Mà để không bị nuốt chửng trong sự tê liệt âm thầm.

Nhưng sâu nhất, người trẻ cần học một điều rất quan trọng: lửa thật không được giữ bằng cách cứ ép mình hưng phấn mãi. Nó được giữ bằng việc ở lại trong Đấng là nguồn lửa.

Có những lúc bạn không thấy gì.

Không sao.

Vẫn cầu nguyện.

Có những lúc bạn không thấy mình tiến.

Không sao.

Vẫn trung tín.

Có những lúc bạn thấy lòng như đất khô.

Không sao.

Vẫn ở lại.

Bởi vì sự sống thiêng liêng không chỉ lớn lên ở những lúc bạn thấy mình rực. Nó còn lớn lên trong những ngày rất bình thường, rất ít cảm xúc, nhưng bạn vẫn không bỏ chỗ hẹn với Chúa.

Chính những ngày ấy mới làm nên xương sống.

Chính những ngày ấy mới làm nên lòng bền.

Chính những ngày ấy mới dạy con người rằng mình không chỉ sống nhờ cảm hứng, mà nhờ ơn.

Có lẽ đây là điều người trẻ cần hỏi mình hôm nay:

Điều gì đang hút mất lửa của tôi?

Tôi đang cạn vì quá tải hay vì vô hướng?

Tôi có đang nghỉ nhưng không thật sự nghỉ trong Chúa không?

Tôi có đang kéo lê đời mình trong một nhịp sống thiếu trật tự không?

Tôi có đang quá thất vọng về mình đến mức không còn dám bắt đầu lại không?

Tôi có đang sống mà không còn một mục tiêu đủ sâu để kéo mình dậy mỗi sáng không?

Và sâu hơn nữa:

Tôi có còn tin rằng Chúa vẫn có thể làm bùng lại một linh hồn đã nguội rất lâu không?

Vì sự thật là có thể.

Một linh hồn có thể rất mệt mà vẫn được hồi sinh.

Một tuổi trẻ có thể đã trôi lãng phí một đoạn mà vẫn có thể được gom lại.

Một người có thể đã sống nhạt rất lâu mà vẫn có thể tìm lại hướng.

Không phải bằng cách tự hét vào mặt mình.

Không phải bằng vài câu động lực.

Mà bằng việc trở về nguồn.

Trở về với Chúa.

Trở về với sự thật.

Trở về với một nhịp sống bớt hỗn độn.

Trở về với những bước nhỏ nhưng trung tín.

Trở về với mục tiêu đủ lớn.

Trở về với lời mời gọi làm con, chứ không chỉ làm máy.

Lạy Chúa, có những lúc con không còn thấy mình cháy nữa. Con không hư hẳn, nhưng con cũng không sống hết mình. Con vẫn đi, vẫn làm, vẫn cố, nhưng bên trong rất mờ. Con mệt. Con lì. Con trì trệ. Có khi con đã quen với việc sống thấp hơn điều Ngài muốn cho con. Có khi con đã chấp nhận một tuổi trẻ chỉ vừa đủ để tồn tại. Xin đừng để con ngủ quên trong sự nửa sống ấy. Xin cho con đủ thật để nhận ra mình đang cạn ở đâu. Xin đưa con về lại nguồn. Xin dạy con đừng đợi cảm hứng mới sống, nhưng sống để ơn Ngài thắp lại cảm hứng đúng lúc. Xin cho con một mục tiêu đủ sâu để ngày thường của con không trôi vô nghĩa. Xin cho con dám bắt đầu lại từ điều nhỏ. Và xin thổi lại trong con ngọn lửa mà có thể lâu rồi chỉ còn âm ỉ, nhưng vẫn chưa chết, vì Ngài chưa bỏ con bao giờ.

 

 

CHƯƠNG 11

VÌ SAO NHIỀU NGƯỜI TRẺ CÓ TÀI, CÓ LÒNG, CÓ KHẢ NĂNG, NHƯNG LẠI SỐNG TRONG MẶC CẢM, TỰ TI, HOẶC PHẢI CHỨNG MINH QUÁ MỨC, VÌ HỌ CHƯA THẬT SỰ BIẾT MÌNH LÀ AI TRƯỚC MẶT THIÊN CHÚA

Có những người trẻ nhìn bên ngoài rất ổn.

Họ có năng lực.

Có đầu óc.

Có sự nhạy bén.

Có khả năng làm việc.

Có lòng tốt.

Có trách nhiệm.

Có những nét rất đẹp khiến người khác quý.

Có người học giỏi.

Có người nói hay.

Có người phục vụ nhiệt thành.

Có người rất sáng trong đám đông.

Có người làm việc rất được.

Có người có khả năng lãnh đạo.

Có người có tâm hồn tinh tế.

Có người có sức hút tự nhiên.

Nhưng lạ lắm. Chính những người như thế lại nhiều khi sống rất khổ với chính mình.

Bởi vì sâu bên trong, họ không thật sự yên.

Họ không thật sự tin rằng mình đủ.

Không thật sự tin rằng mình có giá trị ngay cả khi không nổi bật.

Không thật sự tin rằng mình được yêu trước khi làm được điều gì đáng kể.

Không thật sự biết mình là ai nếu lấy đi thành tích, vai trò, sự công nhận, lời khen, hiệu suất, hình ảnh đang có.

Và vì không biết mình là ai trước mặt Thiên Chúa, nên họ dễ sống theo hai hướng tưởng đối nghịch mà thật ra rất gần nhau: hoặc tự ti, hoặc phải chứng minh quá mức.

Có người thu mình.

Có người phô mình.

Có người luôn cảm thấy mình thua.

Có người luôn phải cố để thắng.

Có người thấy mình chẳng là gì.

Có người không cho phép mình là người bình thường.

Có người luôn sợ bị đánh giá thấp.

Có người sống cả đời như thể đang đứng trước một phiên tòa vô hình, lúc nào cũng phải biện hộ rằng mình có giá trị, mình làm được, mình không thua, mình xứng đáng có mặt ở đây.

Người ngoài nhìn vào có thể khen họ cố gắng, bản lĩnh, cầu tiến. Nhưng chỉ có chính họ mới biết phía sau rất nhiều cố gắng ấy là một nỗi bất an không nhỏ.

Một nỗi đói được xác nhận.

Một nỗi sợ bị xem thường.

Một cơn khát được thấy mình có trọng lượng.

Một tiếng nói âm thầm thúc ép: phải hơn nữa, phải giỏi nữa, phải làm được nữa, phải nổi hơn nữa, phải chứng minh đi, nếu không thì mày là ai?

Đây là một trong những nỗi mệt kín nhất của tuổi trẻ.

Bởi vì nó không chỉ làm người ta đau khi thất bại. Nó còn làm người ta không nghỉ được cả khi thành công. Thành công xong lại phải giữ. Giữ xong lại phải nâng. Nâng xong lại phải vượt. Và sau tất cả, lòng vẫn không yên. Vì vấn đề không nằm ở chỗ đã đạt được bao nhiêu. Vấn đề nằm ở chỗ nền móng căn tính vẫn chưa được đặt đúng chỗ.

Một người không biết mình là ai trong Thiên Chúa sẽ phải đi xin danh tính ở những nơi khác.

Có người xin ở thành tích.

Có người xin ở ngoại hình.

Có người xin ở một mối quan hệ.

Có người xin ở vai trò phục vụ.

Có người xin ở sự nổi bật.

Có người xin ở việc mình cần thiết cho người khác.

Có người xin ở khả năng kiếm tiền.

Có người xin ở việc mình “hơn mặt bằng chung”.

Có người xin ở việc mình ngoan, mình đạo đức, mình hy sinh.

Nhưng xin ở đâu thì cũng khổ. Vì những nơi đó không bền. Hôm nay có, mai có thể mất. Hôm nay người ta công nhận, mai người ta quay đi. Hôm nay mình làm tốt, mai mình hụt. Hôm nay mình được cần, mai có người thay mình. Hôm nay mình đẹp, mai thời gian đổi khác. Hôm nay mình sáng, mai người khác sáng hơn.

Nếu căn tính được treo lên những thứ đó, lòng người trẻ sẽ sống trong một cuộc động đất kéo dài.

Không có gì chắc.

Không có gì đủ.

Không có gì làm họ nghỉ yên được.

Tự ti là một biểu hiện của chuyện ấy.

Người tự ti không chỉ là người nghĩ mình thấp. Sâu hơn, đó là người nhìn mình bằng một ánh mắt bị lệch. Họ không thấy mình như Chúa thấy. Họ hoặc chỉ nhìn vào chỗ thiếu, hoặc nhìn chỗ mình có mà vẫn không tin nó đủ để làm nên phẩm giá. Họ nghĩ nếu mình không giỏi bằng người khác, không đẹp bằng người khác, không nhanh bằng người khác, không nổi bằng người khác, thì mình ít đáng quý hơn.

Nên họ so sánh.

So sánh âm thầm.

So sánh liên tục.

So sánh đến mệt.

Gặp ai cũng soi mình vào.

Thấy ai hơn một chút là lòng trùng xuống.

Thấy ai thành công là tự hỏi sao mình chưa.

Thấy ai được yêu là tự hỏi sao mình không.

Thấy ai cầu nguyện sốt sắng là thấy mình tệ.

Thấy ai tự tin là thấy mình nhỏ.

Thấy ai được khen là thấy mình mờ.

Một người sống trong so sánh sẽ rất khó vui thật. Vì niềm vui của họ luôn bị treo lên sự hơn thua. Không ai có thể bình an nếu giá trị của mình cứ phải được đo bằng người bên cạnh.

Nhưng cũng có người không đi theo hướng tự ti thấy rõ. Họ đi theo hướng ngược lại: chứng minh quá mức.

Họ phải thật giỏi.

Phải thật nhanh.

Phải thật tốt.

Phải làm hơn mong đợi.

Phải khiến người khác nể.

Phải làm tới kiệt.

Phải luôn có gì đó để đưa ra.

Phải giữ cho hình ảnh mình không xuống.

Phải làm sao để không ai có cớ coi thường mình.

Bề ngoài họ có vẻ mạnh hơn người tự ti. Nhưng nhiều khi, đó chỉ là tự ti mặc áo giáp. Chỉ là một cái tôi bị thương đang cố xây một tòa tháp thật cao để không ai thấy chỗ rạn bên dưới. Chỉ là một nỗi sợ vô hình đang đẩy họ chạy mãi. Và người chạy để chứng minh thì rất hiếm khi có bình an, bởi vì đích của họ không bao giờ đứng yên.

Ngày hôm nay phải hơn hôm qua.

Tháng này phải hơn tháng trước.

Mình phải làm nhiều hơn.

Phải đáng nể hơn.

Phải tránh sai.

Phải ít lộ yếu hơn.

Phải kiểm soát được hình ảnh hơn.

Thế là họ thành công mà vẫn căng.

Được công nhận mà vẫn đói.

Được khen mà vẫn không tin.

Bởi vì những lời khen ấy không chạm vào tận gốc. Gốc của họ vẫn đang khát một lời khác sâu hơn: con là con Ta, con quý không phải vì con làm tốt, mà vì con thuộc về Ta.

Khi chưa chạm được vào lời ấy, con người sẽ tiếp tục đi xin danh tính.

Có nhiều người trẻ bên ngoài tưởng như rất tự tin nhưng sâu trong lòng rất sợ bị lộ ra là mình không đủ. Họ sợ bị phát hiện ra mình bình thường thôi. Sợ bị thấy yếu. Sợ người khác không còn ngưỡng mộ. Sợ không còn nổi bật. Sợ mất chỗ đứng. Nên họ gồng.

Gồng để luôn sắc.

Gồng để luôn làm tốt.

Gồng để luôn hiểu.

Gồng để luôn là người giải quyết được.

Gồng để không ai thấy mình cũng mệt, cũng rối, cũng cần được đỡ.

Nhưng sống gồng thì không thể sống nhẹ. Mà một người không sống nhẹ được thì rất khó mở lòng thật với Chúa. Vì trước mặt Chúa, muốn được chữa, phải dám nghèo. Muốn được yêu đúng, phải dám bỏ bớt vai diễn.

Có lẽ nhiều người trẻ chưa bao giờ thật sự được dạy rằng phẩm giá của họ không đến từ hiệu suất. Thế gian dạy điều ngược lại quá nhiều. Nó dạy rằng bạn đáng giá khi bạn nổi bật. Khi bạn hữu ích. Khi bạn thành công. Khi bạn đẹp. Khi bạn tạo ảnh hưởng. Khi bạn khiến người khác muốn có bạn. Khi bạn đủ thú vị để không bị lãng quên.

Nhưng Tin Mừng không nói như thế.

Tin Mừng không bắt đầu bằng: con hãy chứng minh để được yêu.

Tin Mừng bắt đầu bằng: con là người được yêu, nên hãy sống xứng với tình yêu đó.

Khác nhau rất nhiều.

Nếu sống để chứng minh mình đáng yêu, con người sẽ luôn mệt. Còn nếu sống từ chỗ mình đã được yêu, con người sẽ có nền khác hẳn. Họ vẫn cố gắng, vẫn học, vẫn làm, vẫn phát triển, vẫn trau dồi, vẫn đi tới. Nhưng không phải để giành lấy giá trị. Mà để đáp lại một giá trị đã được ban.

Đây là điểm bản lề của đời sống nội tâm.

Một người làm điều tốt để xin giá trị sẽ rất dễ kiệt.

Một người làm điều tốt từ chỗ biết mình có giá trị rồi sẽ bền hơn.

Một người phục vụ để được thấy mình quan trọng sẽ dễ cay đắng khi không ai ghi nhận.

Một người phục vụ từ chỗ biết mình là con sẽ tự do hơn.

Một người cố thành công để vá mặc cảm sẽ không bao giờ thấy đủ.

Một người làm việc như một cách cộng tác với Chúa sẽ có bình an hơn cả giữa áp lực.

Người trẻ hôm nay nhiều khi rất giỏi chăm bên ngoài nhưng rất ít chăm căn tính. Họ học kỹ năng. Học giao tiếp. Học xây hình ảnh. Học cách trình bày mình. Học cách tăng hiệu suất. Học cách gây ấn tượng. Tất cả đều có thể cần. Nhưng nếu bên dưới không có một căn tính vững trong Chúa, thì tất cả những thứ ấy chỉ giống như trang trí một căn nhà chưa có móng đủ sâu.

Gió tới là rung.

Ai chê là rạn.

Ai hơn là lo.

Ai lạnh là đau.

Ai quên là buồn.

Ai vượt là hoảng.

Một linh hồn như vậy rất dễ bị đời dắt đi. Vì chỉ cần chạm vào nỗi mặc cảm của họ là đủ điều khiển họ. Chạm vào nỗi sợ bị bỏ lại, họ sẽ lao. Chạm vào nỗi sợ mình vô hình, họ sẽ cố tỏa sáng quá mức. Chạm vào nỗi sợ thua kém, họ sẽ chạy không nghỉ. Chạm vào nỗi khát được công nhận, họ sẽ dễ đánh đổi sự thật.

Phải nói thật rằng mặc cảm không chỉ làm người ta buồn. Nó còn làm người ta chọn sai.

Chọn nghề vì muốn chứng minh.

Chọn nhóm chơi vì muốn được thấy mình có giá.

Chọn người yêu vì người đó làm mình thấy đỡ thấp kém.

Chọn kiểu sống bận rộn vì không chịu nổi khi phải ở yên với chính mình.

Chọn phục vụ thật nhiều vì sợ nếu không còn hữu ích thì chẳng ai cần.

Chọn im lặng trước bất công vì nghĩ tiếng nói mình chẳng đáng gì.

Chọn phô trương một số thứ vì bên trong sợ mình quá mờ.

Có những người trẻ rất hiền nhưng lại đánh mất nhiều cơ hội chỉ vì mặc cảm. Họ không dám bước vào nơi mình có thể lớn lên, vì trong lòng luôn có tiếng nói rằng: mày không đủ đâu. Mày thua mà. Mày sẽ bị phát hiện là rỗng thôi. Mày sẽ thất bại thôi. Nên họ tự rút trước. Tự loại mình trước. Tự thu nhỏ đời mình trước. Không ai cấm họ cả. Chính họ cấm mình. Vì họ đã tin vào một bản án sai về giá trị bản thân quá lâu.

Ngược lại, có người bước rất mạnh, nhưng không phải vì tự do. Mà vì sợ dừng lại sẽ phải nghe tiếng rỗng trong lòng. Nên họ cứ làm, cứ đạt, cứ tiến, cứ chứng minh. Thoạt nhìn rất ấn tượng. Nhưng nếu không chữa gốc, họ sẽ đến một ngày rất mệt. Mệt vì cả đời leo mà vẫn thấy chưa chạm được điều mình thật sự cần. Điều họ cần không chỉ là đỉnh cao mới. Họ cần được chạm vào căn tính.

Một trong những dấu hiệu cho thấy người trẻ chưa thật sự biết mình là ai trước mặt Chúa là họ rất khó chịu khi thất bại. Không phải chỉ buồn vì kết quả không như ý. Mà như thể cả con người mình sụp theo. Một chuyện không thành mà họ thấy mình vô dụng. Một lỗi nhỏ mà thấy mình kém hẳn. Một lời góp ý mà như nghe phán quyết về giá trị. Tại sao? Vì họ đã nhập giá trị của mình vào kết quả. Nên kết quả rung là cả con người rung.

Nhưng người biết mình là ai trong Chúa thì khác. Họ vẫn đau khi thất bại. Vẫn buồn. Vẫn phải học. Vẫn phải sửa. Nhưng không tan. Vì nền của họ ở chỗ khác. Họ biết mình có thể làm sai mà không thành đồ bỏ. Có thể thua mà không mất phẩm giá. Có thể bị góp ý mà không đồng nghĩa là mình vô giá trị. Có thể bắt đầu lại mà không thấy nhục. Có thể chưa bằng người khác ở một điểm nào đó mà vẫn hoàn toàn đáng quý trước mặt Chúa.

Đây là điều rất nhiều người trẻ cần được chữa: tách giá trị bản thân ra khỏi thành tích.

Bạn không phải điểm số của bạn.

Không phải lương của bạn.

Không phải số người thích bạn.

Không phải mức độ nổi bật của bạn.

Không phải số việc bạn làm được.

Không phải mức độ người khác khen bạn.

Không phải cả những vai trò đạo đức mà bạn đang mang.

Bạn là một người con.

Nghe câu đó dễ. Nhưng sống được bằng câu đó rất khó. Vì nó đòi cả một hành trình gỡ những lớp định nghĩa sai đã bám vào mình suốt bao năm.

Có khi từ gia đình.

Có khi từ trường lớp.

Có khi từ mạng xã hội.

Có khi từ môi trường làm việc.

Có khi từ những thất bại cũ.

Có khi từ những so sánh lặp đi lặp lại.

Có khi từ những lần mình bị quý vì mình hữu ích hơn là vì mình là mình.

Nên biết mình là ai trước mặt Chúa không phải là học thuộc một định nghĩa đạo đức. Mà là để cho ánh mắt của Chúa từ từ đi xuống những chỗ lâu nay mình vẫn đặt giá trị sai. Đi xuống chỗ mình luôn thấy mình thua. Đi xuống chỗ mình luôn phải gồng. Đi xuống chỗ mình luôn đi xin lời xác nhận. Đi xuống chỗ mình không chấp nhận được sự bình thường của mình. Đi xuống chỗ mình khinh chính mình khi không làm tốt.

Chúa không hạ thấp con người. Chính cái tôi bị thương mới làm vậy. Chúa nhìn người trẻ với một ánh mắt vừa thật vừa thương. Người không bảo cái xấu là tốt. Nhưng Người cũng không đồng hóa con người với chỗ yếu nhất của họ. Người biết họ có thể lớn hơn rất nhiều so với những nhãn dán họ đang tự dán lên mình.

Và đây là điều quan trọng: biết mình là ai trước mặt Chúa không làm người trẻ thụ động. Trái lại, nó giải phóng năng lực thật của họ. Vì lúc đó họ không còn phải tiêu quá nhiều sức để bảo vệ hình ảnh. Không còn phải dùng hết năng lượng để chứng minh mình xứng đáng. Không còn bị nỗi sợ thua kém ăn mòn. Họ có thể học, có thể làm, có thể phát triển, có thể phấn đấu, nhưng từ một nội tâm bớt hoảng hơn, bớt đói hơn, bớt run hơn.

Họ sẽ làm tốt hơn nhưng không vì tuyệt vọng.

Họ sẽ dấn thân hơn nhưng không vì sợ mình vô hình.

Họ sẽ phục vụ hơn nhưng không vì nghiện được cần đến.

Họ sẽ học hỏi hơn nhưng không vì ghét chính mình.

Họ sẽ khiêm nhường hơn vì không còn phải dựng tượng đài cho cái tôi.

Một người biết mình là ai trong Chúa sẽ không còn quá dễ ghen với người khác. Vì người đó hiểu ơn gọi của mình không cần phải giống ai để có ý nghĩa. Họ có thể nhìn người khác giỏi mà không thấy mình bị đe dọa. Có thể nhìn người khác đẹp mà không thấy mình xấu đi. Có thể nhìn người khác thành công mà không cần lập tức đánh giá lại toàn bộ giá trị của mình. Vì họ biết Chúa không tạo con người hàng loạt. Người không yêu theo kiểu chia phần, hôm nay yêu người này nhiều thì yêu người kia ít. Người không gọi ai phải là bản sao của ai khác.

Nhưng vì chưa chạm được vào điều đó, nhiều người trẻ cứ mang trong mình một cơn nóng ruột phải trở thành “ai đó”. Và cơn nóng ruột ấy rất nguy. Nó làm họ không chịu nổi những tiến trình chậm. Không chịu nổi việc mình chưa bằng ai. Không chịu nổi việc mình đang ở một chỗ bình thường. Họ muốn vươn rất nhanh, sáng rất nhanh, được nhìn thấy rất nhanh. Nhưng người đi quá nhanh để thoát khỏi mặc cảm thường không đi xa bằng người bước vững từ căn tính.

Cũng cần nói điều này: có những người trẻ có vẻ rất khiêm tốn, nhưng thật ra đang sống trong tự ti chứ không phải khiêm nhường. Khiêm nhường là biết mình có gì, thiếu gì, và đặt tất cả trước mặt Chúa trong bình an. Còn tự ti là phủ nhận quà tặng, khinh thường bản thân, co mình lại, không dám nhận điều tốt Chúa đặt nơi mình, hoặc luôn nghi ngờ nó. Tự ti nhìn giống khiêm tốn ở bề ngoài vì nó nhỏ giọng, rút lui, không phô mình. Nhưng bên trong nó vẫn xoay quanh cái tôi, vẫn ám ảnh về mình, vẫn không có bình an.

Khiêm nhường thật thì nhẹ hơn nhiều.

Người khiêm nhường có thể nhận mình yếu mà không ghét mình.

Có thể nhận mình giỏi ở điểm nào đó mà không kiêu.

Có thể bước ra phục vụ mà không cần tỏa sáng.

Có thể bị quên mà không chết.

Có thể được nhớ mà không nghiện.

Có thể thất bại mà không tan.

Có thể được khen mà không bay.

Có thể bị chê mà vẫn đứng.

Tất cả chỉ có thể khi người ta biết mình đứng trên nền nào.

Nền ấy là tình yêu nhưng không của Thiên Chúa.

Không phải thứ tình yêu chiều chuộng để mình khỏi lớn. Mà là tình yêu xác định căn tính mình trước cả khi mình làm được điều gì. Từ đó, mọi cố gắng mới bớt tuyệt vọng. Mọi phấn đấu mới bớt điên cuồng. Mọi thành công mới bớt là thuốc gây mê. Mọi thất bại mới bớt là bản án.

Có lẽ người trẻ cần dành nhiều thời gian hơn để cầu nguyện không phải xin thêm sức mạnh để chứng minh, mà xin ánh sáng để thấy mình đúng. Xin được nhìn chính mình bằng cái nhìn của Chúa. Xin biết đâu là quà tặng phải trân trọng. Đâu là vết thương phải chữa. Đâu là mặc cảm phải bóc ra. Đâu là động lực lệch đang làm mình chạy. Đâu là những chỗ mình đang lấy thành tích thay căn tính.

Vì nếu không, họ sẽ tiếp tục sống hai cực ấy mãi: hoặc trốn trong tự ti, hoặc chạy trong chứng minh. Mà cả hai đều làm mệt linh hồn.

Người trẻ thân mến, bạn không cần phải hơn người khác để có quyền hiện diện trên đời này. Bạn không cần làm ai trầm trồ để có giá trị. Bạn không cần giữ mãi hình ảnh mạnh mẽ để đáng được yêu. Bạn không cần gồng cả đời để chứng minh rằng mình xứng đáng tồn tại. Và bạn cũng không cần co mình lại như thể mình chẳng có gì để trao.

Bạn cần một điều sâu hơn: biết mình là ai trước mặt Chúa.

Là người được biết đến từ trước.

Là người được dựng nên không nhầm lẫn.

Là người có quà riêng và giới hạn riêng.

Là người được mời gọi lớn lên chứ không phải cạnh tranh để đáng sống.

Là người có thể phát triển mạnh mẽ mà không cần xây đời mình trên mặc cảm.

Là người có thể bình thường mà vẫn hoàn toàn có giá trị.

Là người có thể có tài mà không cần biến tài năng thành bàn thờ.

Là người có thể yếu mà vẫn không mất phẩm giá.

Là người con.

Khi chạm được vào điều đó, rất nhiều gánh sẽ rơi xuống.

Bạn sẽ không còn phải cật lực làm cho mình đáng yêu.

Bạn sẽ bắt đầu học cách sống như người đã được yêu.

Bạn sẽ không còn phải chứng minh tới kiệt.

Bạn sẽ bắt đầu phấn đấu từ bình an.

Bạn sẽ không còn coi mọi người là mối đe dọa cho giá trị của mình.

Bạn sẽ bắt đầu nhìn họ như anh chị em cùng được yêu.

Bạn sẽ không còn dễ tan vỡ khi không làm tốt.

Bạn sẽ biết mình vẫn còn chỗ để bắt đầu lại.

Lạy Chúa, có những lúc con sống như thể giá trị của con phải được con tự kiếm lấy. Có những lúc con thấy mình nhỏ bé trước người khác. Có những lúc con phải gồng để không ai coi thường con. Có những lúc con làm rất nhiều, nhưng sâu trong lòng chỉ để được công nhận. Có những lúc con không dám bước ra vì sợ mình không đủ. Có những lúc con chạy quá sức vì sợ nếu dừng lại, con sẽ chẳng là gì cả. Xin cứu con khỏi chiếc ách ấy. Xin dạy con biết mình là ai trước mặt Ngài. Xin cho con thôi lấy thành tích làm căn tính. Xin cho con biết nhận quà tặng của Ngài mà không kiêu, biết nhận giới hạn của mình mà không ghét. Xin cho con không co lại trong tự ti, cũng không phóng ra trong cơn đói phải chứng minh. Xin cho con lớn lên trong sự thật của một người con. Và từ chỗ đó, xin cho con biết sống, học, làm việc, yêu thương và phục vụ với một trái tim tự do hơn.

 

 

CHƯƠNG 12

VÌ SAO NHIỀU NGƯỜI TRẺ CỨ ĐỨNG GIỮA NHIỀU NGÃ RẼ, HỌC NHIỀU, NGHĨ NHIỀU, HỎI NHIỀU, NHƯNG VẪN KHÔNG DÁM QUYẾT ĐỊNH, KHÔNG DÁM DẤN THÂN, KHÔNG DÁM TRAO ĐỜI MÌNH CHO MỘT HƯỚNG ĐI RÕ RÀNG TRƯỚC MẶT THIÊN CHÚA

Có những người trẻ không thiếu suy nghĩ.

Họ suy nghĩ rất nhiều.

Họ cân nhắc.

Họ phân tích.

Họ hỏi ý người này, nghe ý người kia.

Họ đọc thêm, tìm thêm, xem thêm, cầu nguyện thêm, chờ thêm, quan sát thêm.

Họ luôn cảm thấy mình cần rõ hơn một chút nữa rồi mới quyết.

Cần chắc hơn một chút nữa rồi mới bước.

Cần bình an hơn một chút nữa rồi mới dấn thân.

Cần tín hiệu rõ hơn, thời điểm đẹp hơn, lòng ổn hơn, điều kiện đủ hơn, mọi thứ sáng hơn rồi mới chọn.

Và thế là ngày qua ngày, tháng qua tháng, năm qua năm, họ cứ đứng giữa ngã ba.

Không hẳn quay lại.

Không hẳn đi tiếp.

Không từ chối hẳn điều tốt.

Nhưng cũng không trao mình cho nó.

Họ ở trong một trạng thái rất đặc biệt: luôn chuẩn bị để sống, nhưng chưa thật sự sống.

Luôn phân định, nhưng chưa quyết.

Luôn tìm đường, nhưng chưa đi.

Luôn nói rằng mình đang đợi ý Chúa, nhưng có khi sâu hơn là đang đợi một bảo đảm mà Chúa không hứa ban theo kiểu mình muốn.

Đây là một trong những nỗi mệt âm thầm nhất của người trẻ: mệt vì lưng chừng.

Không hẳn sai nên không đau dữ.

Không hẳn đúng nên không bình an sâu.

Không hẳn lạc, nhưng cũng không có hướng rõ.

Không hẳn từ chối ơn gọi, nhưng cũng không dám đón nhận ơn gọi.

Không hẳn bỏ Chúa, nhưng cứ để Chúa đứng đợi ở ngưỡng cửa quyết định.

Có những người trẻ sống rất lâu trong tình trạng đó, đến mức chính họ tưởng rằng như vậy là khôn ngoan. Tưởng rằng mình đang thận trọng. Đang chín chắn. Đang nghiêm túc. Đang phân định. Nhưng phải nói thật rằng không phải mọi chậm trễ đều là khôn ngoan. Có những chậm trễ phát sinh từ chiều sâu. Nhưng cũng có những chậm trễ phát sinh từ sợ hãi.

Và người trẻ hôm nay, rất nhiều khi, không thiếu thông tin. Họ thiếu can đảm quyết định.

Tại sao lại như vậy?

Bởi vì quyết định thật sự rất tốn.

Không chỉ tốn công.

Không chỉ tốn thời gian.

Mà tốn chính cái cảm giác mình còn giữ được mọi khả năng mở.

Khi chưa chọn, người ta vẫn có thể mơ nhiều thứ cùng lúc.

Vẫn có thể nghĩ rằng mình còn vô số hướng đẹp.

Vẫn có thể giữ trong tay nhiều khả năng.

Nhưng một khi chọn thật, thì đồng nghĩa với từ bỏ những hướng khác.

Chọn một đường là chấp nhận không đi những đường còn lại.

Chọn một người là không chọn những người khác.

Chọn một nghề, một sứ mạng, một bậc sống, một cách dâng tuổi trẻ, là đồng ý để đời mình có hình cụ thể chứ không chỉ là vô số tiềm năng treo lơ lửng.

Và nhiều người trẻ sợ điều đó.

Họ không chỉ sợ chọn sai.

Họ còn sợ mất những điều mình không chọn.

Sợ sau này tiếc.

Sợ mình đã khóa một cánh cửa quá sớm.

Sợ mình đang bỏ lỡ cái gì đó tốt hơn ở phía khác.

Sợ nếu dấn thân rồi mới thấy không đúng thì sao.

Sợ nếu đi rồi mới thấy mình không đủ thì sao.

Sợ nếu trao đời mình cho một hướng rõ ràng rồi một ngày mình mệt thì sao.

Nỗi sợ ấy làm họ cứ giữ mình ở vùng mở.

Nhưng sống mãi trong vùng mở thì nhìn có vẻ tự do, mà thật ra rất dễ trở thành một thứ ngục tù. Vì con người không được dựng nên để sống cả đời như một bản nháp. Người ta được dựng nên để có hình, có dáng, có lời xin vâng, có chỗ thuộc về, có một lịch sử dấn thân thật chứ không chỉ là một chuỗi khả năng chưa bao giờ thành hình.

Có một kiểu người trẻ rất ham học, rất thích tìm hiểu, rất thích nói về ơn gọi, về định hướng, về sứ mạng, về cuộc đời, nhưng cuối cùng đời họ cứ không chuyển được sang hành động. Họ hiểu ngày càng nhiều, nhưng bước đi ngày càng ít. Họ biết rất rõ các khả năng, nhưng không đi sâu vào khả năng nào. Họ nghĩ mình đang làm giàu cho phân định, nhưng có khi đang dùng hiểu biết để trì hoãn dấn thân.

Bởi vì hiểu biết không thay thế cho quyết định.

Sự sáng trí không thay thế cho lòng can đảm.

Biết nhiều về bờ bên kia không có nghĩa là đã dám xuống thuyền.

Có khi người trẻ tưởng mình cần thêm một chút sáng, nhưng thật ra điều họ cần là dám bước trong lượng sáng mình đã có.

Thiên Chúa hiếm khi cho con người thấy toàn bộ con đường rồi mới bảo họ đi. Người thường cho đủ ánh sáng cho bước kế tiếp. Và chính ở đây, nhiều người trẻ vấp. Họ muốn nhìn hết rồi mới vâng. Nhưng đời sống đức tin luôn có yếu tố của bước đi trong tín thác. Không mù quáng, nhưng cũng không được bảo đảm theo kiểu thế gian.

Người trẻ muốn Chúa nói thật rõ:

“Con phải đi chỗ này.”

“Con phải chọn nghề kia.”

“Con phải cưới người này.”

“Con phải đi tu.”

“Con phải ở lại.”

“Con phải rẽ.”

Nhưng nhiều khi Chúa không nói kiểu áp đặt như vậy. Người nói trong chiều sâu lương tâm, trong những ước muốn thánh, trong bình an đi kèm sự thật, trong các dấu chỉ, trong lời khuyên khôn ngoan, trong hoàn cảnh, trong khả năng, trong sự thôi thúc bền bỉ chứ không chỉ cảm xúc thoáng qua. Và rồi Người chờ con người lớn lên đủ để quyết định như một người con trưởng thành, chứ không như một đứa trẻ chỉ muốn được bảo từng bước để khỏi phải chịu trách nhiệm.

Có lẽ đây là điều nhiều người trẻ chưa nhận ra: không quyết định cũng là một kiểu quyết định.

Khi bạn cứ chần chừ mãi, bạn đang quyết định để thời gian chọn thay bạn.

Khi bạn cứ ở lưng chừng mãi, bạn đang quyết định đánh đổi sức sống của tuổi trẻ lấy cảm giác an toàn giả.

Khi bạn cứ nghĩ thêm mãi mà không bước, bạn đang quyết định để nỗi sợ làm người cầm lái.

Khi bạn cứ đợi tới lúc hoàn hảo mới dấn thân, bạn đang quyết định sống ngoài lịch sử thật của đời mình.

Nghe đau, nhưng thật.

Vì rất nhiều người trẻ không từ chối ơn gọi bằng một tiếng “không” lớn. Họ từ chối bằng hàng ngàn lần “để sau”.

Không từ chối tình yêu thật bằng việc ghét yêu. Họ từ chối bằng việc không dám yêu theo sự thật, không dám chọn, không dám đặt tương lai trên nền rõ ràng.

Không từ chối đời sống dâng hiến bằng lời chống đối. Họ từ chối bằng việc cứ đứng ngoài cửa, nhìn vào, xúc động, rồi quay đi vì sợ mất cái khác.

Không từ chối một hướng đi đẹp bằng lập luận sai. Họ từ chối bằng trì hoãn cho đến khi lửa nguội.

Nhiều người trẻ ở mãi trong tình trạng “đang phân định” không phải vì họ sâu sắc, mà vì họ chưa dám đánh mất cái tôi muốn giữ mọi quyền chọn lựa trong tay.

Bởi vì quyết định thật là một hình thức chết đi.

Chết đi cho những tưởng tượng không thực tế.

Chết đi cho những phương án mình muốn giữ làm lối lui.

Chết đi cho thói quen sống lỏng.

Chết đi cho việc lúc nào cũng để một cánh cửa sau lưng mở hé.

Chết đi cho quyền được không thuộc hẳn về điều gì.

Mà chết đi thì đau.

Nên người trẻ ngại.

Có những người không dám quyết vì họ đã sống quá lâu trong văn hóa của vô số lựa chọn. Cái gì cũng có thể đổi. Cái gì cũng có phiên bản mới. Không thích thì bỏ. Không hợp thì rẽ. Không vừa thì thay. Thói quen đó len cả vào cách họ nhìn cuộc đời. Họ muốn một lựa chọn mà không đánh mất gì. Một hướng đi vẫn giữ được mọi phương án khác. Một tình yêu mà vẫn chừa đường lui. Một ơn gọi mà không phải trả giá. Một dấn thân mà không phải chết đi cho mình.

Nhưng như thế không có.

Tình yêu thật luôn có tính loại trừ.

Ơn gọi thật luôn có tính định hình.

Dấn thân thật luôn mang tính không quay về kiểu cũ nữa.

Không phải vì Chúa thích làm khó con người. Nhưng vì một đời sống có hình luôn đòi sự trung tín. Còn trung tín thì không thể nở ra từ một lòng cứ muốn giữ mọi khả năng mở mãi.

Nhiều người trẻ sợ quyết định còn vì họ sợ mình phải chịu trách nhiệm cho đời mình. Khi chưa chọn, họ còn có thể đổ cho hoàn cảnh, cho chưa rõ, cho còn trẻ, cho chưa tới lúc. Nhưng khi đã chọn, họ phải sống với lựa chọn ấy. Phải xây nó. Phải chịu những ngày khô, ngày khó, ngày hoang mang trong chính con đường mình đã nhận. Mà nhiều người không sợ con đường khó bằng sợ việc không còn ai khác để đổ thay.

Đây là chỗ người trẻ phải lớn lên. Trưởng thành là khi con người thôi sống như thể cuộc đời mình luôn cần một bàn tay khác quyết hết để mình khỏi phải gánh. Không phải không cần lời khuyên. Không phải không cần đồng hành. Nhưng sau tất cả, vẫn có một giây phút phải đứng trước mặt Chúa và nói: con chọn. Con xin nhận. Con xin đi. Con xin ở lại. Con xin sống. Con xin không lẩn nữa.

Không ai có thể sống hộ lời ấy.

Cha mẹ không sống hộ.

Bạn bè không sống hộ.

Người hướng dẫn thiêng liêng không sống hộ.

Cộng đoàn không sống hộ.

Cuối cùng, trước mặt Chúa, vẫn là tự do của bạn.

Một lý do rất sâu khác khiến người trẻ không dám quyết định là vì họ chưa thật sự tin rằng Chúa có thể làm cho lựa chọn của họ sinh hoa trái, kể cả khi nó không hoàn hảo theo tiêu chuẩn thế gian. Họ sợ chọn xong rồi hỏng. Sợ mình không đủ sức mang nổi điều mình chọn. Sợ tương lai không đẹp như tưởng tượng. Sợ đi rồi không thành. Sợ yêu rồi đau. Sợ cưới rồi khổ. Sợ đi tu rồi lạc. Sợ nhận một sứ mạng rồi kiệt. Sợ mình không có tài đủ để trung thành.

Nhưng đức tin không nói rằng người theo Chúa sẽ không đau, không vất, không phải học lại từ đầu, không có lúc chao đảo. Đức tin nói rằng không có gì trong tay Chúa là vô nghĩa nếu con người thật lòng trao cho Người. Vấn đề không phải là bạn có chọn một con đường hoàn hảo hay không. Vấn đề là bạn có dám bước với Chúa trong sự thật, khiêm nhường và trung tín hay không.

Có những người trẻ đứng mãi ở ngã rẽ vì họ cứ nghĩ phải chắc chắn trăm phần trăm mới được chọn. Không. Trong nhiều chuyện lớn của đời, con người chỉ có thể chắc vừa đủ. Phần còn lại là tín thác, là học dần, là sửa dần, là để Chúa dạy mình trong chính con đường đã chọn. Nếu đợi tuyệt đối rõ mới bước, có thể sẽ chẳng bao giờ bước. Vì đời sống con người không vận hành bằng thứ ánh sáng tuyệt đối như thế.

Nhiều người trẻ còn lẫn lộn giữa phân định và loay hoay. Phân định thật có hướng. Có tiêu chuẩn. Có cầu nguyện. Có lắng nghe. Có thử. Có đối diện với sự thật. Có khả năng đi tới một tiếng vâng. Còn loay hoay thì cứ xoay vòng quanh chính mình. Hỏi để hỏi. Nghĩ để nghĩ. Xem để xem. Sợ để sợ. Thêm dữ kiện nhưng không thêm chiều sâu. Thêm ý kiến nhưng không thêm sáng. Loay hoay nhìn giống phân định ở bề ngoài, nhưng bên trong không có sức đẩy về quyết định.

Một câu hỏi rất quan trọng là: tôi đang thật sự tìm ý Chúa, hay đang tìm một cảm giác an toàn tuyệt đối?

Nếu là cái thứ hai, bạn sẽ rất khó quyết. Vì không có lựa chọn nào trên đời bảo đảm bạn khỏi mọi đau khổ, mọi hiểu lầm, mọi thử thách. Nhưng ý Chúa không phải lúc nào cũng là con đường dễ nhất. Nó là con đường thật nhất, và trong đó có đủ ơn cho bạn sống điều được trao.

Nhiều người trẻ cũng không dám trao đời mình cho một hướng đi rõ vì họ đã quá quen với việc sống như người quan sát. Họ nhìn đời người khác. Đọc hành trình người khác. Nghe chứng từ người khác. Soi các kiểu sống khác. Họ đứng ngoài và đánh giá, phân tích, cân đo. Nhưng đời mình thì vẫn đứng đó, chưa nhảy vào dòng thật. Đây là một cám dỗ rất hiện đại: biết quá nhiều về đời sống mà lại ít dấn thân vào đời sống của chính mình.

Có những người trẻ hiểu rất rõ thế nào là một hôn nhân tốt, nhưng không dám yêu theo hướng trưởng thành.

Hiểu rất rõ vẻ đẹp đời thánh hiến, nhưng không dám đi vào phân định thực tế.

Hiểu rất rõ thế nào là một công việc có ý nghĩa, nhưng lại không dám từ bỏ những thứ hút mình vào sự an toàn trống rỗng.

Hiểu rất rõ mình phải sống gần Chúa, nhưng không dám sắp xếp lại đời mình thật sự.

Họ giống như người đứng bên bờ sông, tả nước rất hay, phân tích dòng chảy rất giỏi, nhưng vẫn chưa chạm chân xuống nước.

Vì thế, điều người trẻ cần không phải chỉ là thêm một lần nghĩ nữa. Có khi họ cần một sự thật khác: đời mình không được cứu bằng suy nghĩ mãi. Nó được cứu bằng một quyết định có cầu nguyện, có phân định, có sáng vừa đủ, rồi dám bước.

Bước không có nghĩa là không còn run.

Bước không có nghĩa là không còn câu hỏi.

Bước không có nghĩa là không bao giờ thấy mình yếu.

Bước chỉ có nghĩa là không để nỗi sợ giữ quyền tối hậu nữa.

Một người trẻ bắt đầu thật sự sống khi họ dám để đời mình có hình.

Có hình nghĩa là gì?

Là có một lời “xin vâng” cụ thể.

Là không chỉ nói chung chung rằng con muốn sống tốt, mà là chọn cách sống.

Không chỉ nói con muốn gần Chúa, mà là sắp lịch đời mình quanh Chúa.

Không chỉ nói con muốn yêu sâu, mà là yêu trong ánh sáng, với hướng đi rõ.

Không chỉ nói con muốn phục vụ, mà là nhận một sứ mạng chứ không chỉ đứng ngoài ngắm.

Không chỉ nói con mở với ơn gọi, mà là bước vào những chặng thực tế của phân định.

Không chỉ nói con muốn ý nghĩa, mà là đặt tay vào việc phải làm.

Đời người không nở trong vùng lưng chừng quá lâu.

Ở đó chỉ có hồi hộp, hao lực, và cảm giác tuổi trẻ đang trôi qua mà mình vẫn chưa thật sự sinh ra.

Có thể người trẻ sẽ hỏi: nhưng nếu con chọn rồi mà sai thì sao?

Câu hỏi ấy thật.

Nhưng phải hỏi lại: còn nếu con không chọn gì hết thì sao?

Nếu con cứ ở đó mãi thì sao?

Nếu con để nỗi sợ quyết định thay con thì sao?

Nếu con đánh đổi cả sức sống của tuổi trẻ chỉ để bảo toàn cảm giác mình còn mọi khả năng trong tay, thì cái giá ấy có quá đắt không?

Sự thật là không ai sống mà không có lúc phải điều chỉnh. Có những lựa chọn cần sửa. Có những con đường phải học lại. Có những phân định cần thời gian để chín. Điều đó bình thường. Nhưng khác rất xa với việc vì sợ điều chỉnh nên chẳng dám đi đâu hết. Một con thuyền đứng yên không bao giờ lạc tuyến, nhưng nó cũng chẳng bao giờ tới bến.

Người trẻ thân mến, Chúa không gọi bạn sống như một khả năng treo mãi trên không. Người gọi bạn thành hình. Thành người con với một lời đáp trả cụ thể. Một lịch sử cụ thể. Một tình yêu cụ thể. Một sứ mạng cụ thể. Một sự trung tín cụ thể. Đẹp nhất của tuổi trẻ không phải là lúc còn vô số khả năng mở. Đẹp nhất là lúc bắt đầu có một lời xin vâng đủ thật để các khả năng tan ra thành một cuộc đời.

Có thể khi quyết định, bạn sẽ phải khóc.

Có thể sẽ phải bỏ một vài giấc mơ đẹp nhưng không thật.

Có thể sẽ mất cảm giác mình còn giữ hết mọi cửa.

Có thể sẽ có lúc rất run.

Có thể sẽ bị hiểu lầm.

Có thể sẽ phải chấp nhận sống với một số giới hạn.

Nhưng chỉ từ đó, đời bạn mới bắt đầu có gốc.

Một cái cây không thể lớn nếu cứ đòi lúc nào cũng được bứng lên để thử mọi mảnh đất. Nó phải bén rễ ở đâu đó. Bén rễ đau đấy. Vì phải chấp nhận không còn là hạt lang thang. Nhưng chỉ khi bén rễ, nó mới lớn thành cây, mới ra hoa, mới sinh trái, mới che mát cho ai đó.

Người trẻ cũng vậy.

Đừng sợ một lời xin vâng làm bạn mất đi.

Chính sự lưng chừng mới làm bạn hao đi.

Đừng sợ dấn thân làm bạn nghèo đi.

Chính việc giữ mọi đường lui mới làm bạn không bao giờ giàu sâu.

Đừng sợ chọn một hướng làm bạn bỏ lỡ nhiều thứ.

Chính không chọn gì hết mới làm bạn bỏ lỡ đời mình.

Lạy Chúa, có những lúc con đứng giữa nhiều ngã rẽ quá lâu. Con nghĩ nhiều, hỏi nhiều, lo nhiều, nhưng chưa bước. Con sợ chọn sai. Sợ mất những gì con không chọn. Sợ phải chịu trách nhiệm. Sợ đời con bị đóng khung. Sợ tương lai không như con tưởng. Có khi con nói là đang phân định, nhưng thật ra con đang sợ phải trao đời mình cho Ngài cách cụ thể. Xin cứu con khỏi vùng lưng chừng ấy. Xin cho con biết đủ những gì cần biết, nhưng xin đừng để con nghiện việc hiểu mà quên sống. Xin cho con can đảm chọn trong lượng sáng Ngài đã ban. Xin cho con dám từ bỏ những khả năng chỉ đẹp trong tưởng tượng nhưng không phải lối gọi thật của con. Xin dạy con nói lời xin vâng không phải khi mọi thứ chắc chắn tuyệt đối, mà khi lòng con biết đây là nơi con phải bước với Ngài. Và xin đừng để tuổi trẻ của con bị mất trong do dự, nhưng được sinh ra trong một quyết định có Chúa ở giữa.

 

 

CHƯƠNG 13

VÌ SAO NHIỀU NGƯỜI TRẺ NÓI MUỐN ĐẶT CUỘC ĐỜI MÌNH TRONG TAY THIÊN CHÚA, NHƯNG THỰC TẾ LẠI VẪN MUỐN TỰ CẦM LÁI, CHỈ XIN CHÚA CHÚC LÀNH CHO KẾ HOẠCH CỦA MÌNH HƠN LÀ THẬT SỰ ĐI VÀO KẾ HOẠCH CỦA CHÚA

Có một kiểu đạo đức rất quen nơi nhiều người trẻ: họ thật sự yêu Chúa, nhưng vẫn chưa thật sự trao quyền làm Chủ cho Chúa.

Họ cầu nguyện.

Họ đi lễ.

Họ xin ơn.

Họ đọc Lời Chúa.

Họ xúc động trong những giờ chầu.

Họ nói rằng đời con là của Chúa.

Họ nói rằng con muốn theo ý Chúa.

Họ nói rằng xin Chúa dẫn đường.

Tất cả những điều ấy có thể rất thật.

Nhưng sâu hơn nữa, vẫn còn một câu hỏi rất cần phải hỏi: Chúa đang là Đấng dẫn đường thật, hay chỉ là Đấng được mời đến để chúc lành cho con đường mà mình đã âm thầm chọn sẵn?

Bởi vì có một khác biệt rất lớn giữa hai điều đó.

Một đàng là đặt cuộc đời mình vào tay Chúa.

Một đàng là cầm rất chặt cuộc đời mình rồi thưa với Chúa: xin ở bên cạnh con, xin giúp con thành công, xin cho kế hoạch này suôn sẻ, xin đừng để điều con muốn bị đổ, xin làm cho ý con được nên trọn.

Nói cách khác, nhiều người trẻ không thật sự xin Chúa chỉ đường. Họ xin Chúa hỗ trợ.

Không thật sự trao vô-lăng. Họ chỉ mời Chúa ngồi ghế phụ.

Không thật sự để Chúa viết đời mình. Họ viết sẵn rồi xin Chúa ký tên.

Điều này tinh vi lắm. Vì bề ngoài nó vẫn rất đạo đức. Vẫn có Chúa trong lời nói. Vẫn có cầu nguyện trong tiến trình. Vẫn có những câu nghe rất đẹp như “nếu Chúa muốn”, “con phó thác”, “xin Chúa hướng dẫn”. Nhưng trong chiều sâu, cái tôi vẫn ngồi ở trung tâm. Vẫn muốn quyết định cuối cùng. Vẫn muốn giữ quyền phủ quyết. Vẫn muốn mọi chuyện đi theo cách mình nghĩ là tốt. Và nếu Chúa dẫn khác đi, lòng bắt đầu khó chịu, lo sợ, giằng co, thậm chí giận.

Đó là một dấu hiệu rất rõ: con người chưa thật sự trao.

Vì trao thật không chỉ là nói “con tin Chúa”, mà là chấp nhận rằng ý Chúa có thể không giống ý mình, nhịp Chúa có thể không giống nhịp mình, con đường Chúa mở có thể không giống bản vẽ mình đã thích từ lâu.

Người trẻ hôm nay rất dễ sống kiểu đó.

Không phải vì họ xấu.

Mà vì họ lớn lên trong một thế giới quá đề cao việc tự thiết kế đời mình. Người ta được dạy rằng phải có kế hoạch. Phải biết mình muốn gì. Phải làm chủ tương lai. Phải xây thương hiệu bản thân. Phải nắm cơ hội. Phải tính đường. Phải chủ động. Những điều ấy tự nó không sai. Trái lại, chúng còn phản ánh một phần trách nhiệm trưởng thành. Nhưng vấn đề xảy ra khi tất cả những điều đó dần nuốt mất chỗ của Thiên Chúa. Khi người trẻ không còn sống như người cộng tác với Chúa, mà như người tự thiết kế mọi thứ rồi chỉ cần Chúa đừng cản.

Thế là họ cầu nguyện, nhưng để yên tâm hơn với điều mình muốn.

Họ xin Chúa soi sáng, nhưng chỉ trong phạm vi điều mình đã chấp nhận.

Họ xin ơn phân định, nhưng thật ra chỉ muốn được xác nhận.

Họ thưa “xin vâng”, nhưng là xin vâng nếu điều Chúa muốn trùng với điều con đã định.

Có những lời cầu nguyện rất ngoan bên ngoài nhưng rất kiểm soát bên trong.

Lạy Chúa, xin cho con đậu vào nơi này.

Xin cho con cưới người này.

Xin cho công việc này mở ra.

Xin cho con giữ được điều con đang mong.

Xin cho mọi thứ theo ý đẹp nhất của con.

Những lời đó không sai vì chúng phát xuất từ trái tim thật. Chúa muốn con người nói thật điều mình mong. Nhưng đời sống thiêng liêng không thể dừng ở chỗ nói cho Chúa biết ý mình. Nó phải đi tới chỗ để Chúa thanh luyện ý mình, nắn ý mình, đôi khi bẻ gãy ý mình, để đưa mình vào một điều sâu hơn điều mình tưởng là tốt.

Có một nỗi sợ rất kín nơi người trẻ: sợ nếu trao đời mình thật cho Chúa, Chúa sẽ lấy mất những điều mình thích.

Sợ Chúa sẽ dẫn vào con đường khó.

Sợ Chúa sẽ đòi từ bỏ.

Sợ Chúa sẽ không cho mình thứ mình ao ước.

Sợ nếu nghe Chúa kỹ quá, mình sẽ phải bỏ một mối quan hệ.

Sợ mình sẽ phải đổi hướng nghề nghiệp.

Sợ mình sẽ phải sống khác bạn bè.

Sợ mình sẽ phải hy sinh sự thoải mái.

Sợ Chúa sẽ phá kế hoạch đẹp mình đã mất bao lâu để vẽ.

Nỗi sợ ấy làm người trẻ yêu Chúa, nhưng giữ khoảng cách.

Tin Chúa, nhưng không dám mở hết cửa.

Muốn Chúa hiện diện, nhưng không muốn Người động vào chỗ quyết định nhất.

Muốn Chúa an ủi, nhưng không muốn Người cắt tỉa.

Muốn Chúa làm dịu khổ, nhưng không muốn Người làm đảo trật tự.

Thật ra, ở rất sâu, đây không chỉ là vấn đề kế hoạch. Đây là vấn đề tin tưởng.

Người trẻ chưa trao thật vì chưa tin thật rằng ý Chúa tốt hơn ý mình.

Họ tin Chúa quyền năng. Có thể.

Tin Chúa thánh thiện. Có thể.

Tin Chúa dạy điều đúng. Có thể.

Nhưng chưa chắc đã tin bằng xương bằng thịt rằng nếu để Chúa làm Chủ, đời mình sẽ không mất đi, mà sẽ được tìm lại.

Và đó là mấu chốt.

Con người chỉ dám trao khi họ tin bàn tay đang giữ mình là bàn tay yêu thương hơn chính mình yêu mình.

Nếu vẫn nghĩ Chúa là Đấng có thể lấy mất niềm vui, thì người ta sẽ chỉ trao nửa vời.

Nếu vẫn nghĩ ý Chúa luôn trái với hạnh phúc của mình, thì người ta sẽ sống đạo trong thế thủ.

Nếu vẫn nghĩ đi sát Chúa quá sẽ thiệt, sẽ khó, sẽ ít vui hơn, thì người ta sẽ chỉ giữ Chúa ở mức vừa đủ để yên tâm, chứ không để Người cầm lái.

Có những người trẻ nói rằng: con đặt cuộc đời mình trong tay Chúa rồi.

Nhưng thử hỏi sâu hơn:

Nếu Chúa không cho điều con đang mong, con còn tin Người tốt không?

Nếu Chúa dẫn con đi chậm hơn những gì con muốn, con còn bình an không?

Nếu Chúa đóng cánh cửa con đã cầu xin rất lâu, con còn thờ phượng không?

Nếu Chúa mời con bước vào điều con chưa từng nghĩ, con có dám mở lòng không?

Nếu con phải mất một hình ảnh đẹp về tương lai để nhận một thực tại ít hào nhoáng hơn nhưng thật hơn, con có chịu không?

Chính ở những câu hỏi đó mà lộ ra người ta có thật sự trao hay chưa.

Vì phó thác thật không phải là nói “con tin Chúa” khi ý Chúa trùng ý mình.

Phó thác thật là vẫn thưa “con tin Chúa” khi ý Người làm mình không hiểu, không vui ngay, không dễ chấp nhận ngay.

Có những người trẻ thực ra đang dùng Chúa như một bảo hiểm tâm linh. Họ muốn có Chúa để đời bớt rủi ro. Có Chúa để cầu khi thi cử, khi phỏng vấn, khi bệnh tật, khi khủng hoảng, khi rối tình cảm, khi cần quyết định. Tất cả điều đó đều tốt. Nhưng nếu mối tương quan chỉ dừng ở đó, Chúa sẽ chỉ là một nguồn trợ giúp, chứ chưa là Chúa của đời họ.

Chúa không đến chỉ để giúp con người sống dễ hơn. Người đến để cứu họ, đổi họ, dẫn họ vào sự thật, và mời họ bước vào một tương quan làm trung tâm đời sống mình.

Mà trung tâm thì không thể chỉ được gọi tới những lúc cần.

Trung tâm là nơi mọi sự được quy chiếu về.

Là nơi trước khi lên kế hoạch, người ta hỏi: Chúa muốn gì?

Trước khi giữ một mối quan hệ, hỏi: điều này có làm con gần Chúa hơn không?

Trước khi dấn vào một hướng đi, hỏi: nó có thật với ơn gọi nên thánh của con không?

Trước khi theo một giấc mơ, hỏi: giấc mơ này có chỗ nào cho ý Chúa không?

Nhiều người trẻ không hỏi những câu đó. Họ chỉ hỏi: điều này có tốt cho con không? Có lợi không? Có hợp không? Có làm con vui không? Có đúng thời điểm không? Những câu hỏi ấy cần, nhưng chưa đủ. Bởi vì đời một Kitô hữu không chỉ được định nghĩa bởi điều gì phù hợp với mình, mà còn bởi điều gì đẹp lòng Chúa.

Có một kiểu sống rất mệt là vừa muốn Chúa, vừa không muốn mất quyền tự quyết.

Nó tạo ra một đời sống thiêng liêng căng. Người ta vừa cầu nguyện vừa giữ. Vừa xin Chúa hướng dẫn vừa ngầm đặt giới hạn cho sự hướng dẫn ấy. Vừa nói phó thác vừa âm thầm loay hoay tính hết đường lui. Vừa đọc Lời Chúa vừa chọn nghe điều mình thích hơn là điều mình cần. Vừa yêu Chúa vừa mặc cả với Chúa.

Mặc cả là một hình thức rất phổ biến trong nội tâm người trẻ.

Lạy Chúa, nếu Ngài cho con điều này, con sẽ sống tốt hơn.

Nếu chuyện này xong, con sẽ nghiêm túc hơn với Ngài.

Nếu Ngài mở đường đó, con sẽ phục vụ nhiều hơn.

Nếu Ngài cho con giữ người ấy, con sẽ biết ơn lắm.

Nếu Ngài làm cho kế hoạch này thành, con sẽ cố sống tử tế.

Nghe qua thì có vẻ sốt sắng. Nhưng thật ra vẫn còn tinh thần giao dịch. Vẫn là con người ở trung tâm. Vẫn là kiểu yêu còn điều kiện. Vẫn là chưa để Chúa được là Chúa.

Tình yêu thật không mặc cả như thế.

Phó thác thật không dựa trên việc Chúa có làm theo ý mình hay không.

Phó thác thật là: dù Ngài dẫn con qua đâu, con vẫn thuộc về Ngài.

Đó là điều rất khó.

Nhưng chỉ ở đó, người trẻ mới thật sự bình an.

Bởi vì nếu lòng bình an của họ phụ thuộc vào việc Chúa có chiều ý mình hay không, thì đức tin của họ sẽ rất mong manh. Một biến cố trái ý là đủ làm họ chao đảo. Một cánh cửa đóng là đủ làm họ nghi ngờ. Một mùa chờ lâu là đủ làm họ nóng ruột. Một mất mát là đủ làm họ thấy Chúa xa.

Trong khi người thật sự đặt đời mình vào tay Chúa thì khác. Họ vẫn đau. Vẫn khóc. Vẫn không hiểu hết. Vẫn có lúc hoang mang. Nhưng sâu bên dưới vẫn có một nền chắc hơn cảm xúc: con thuộc về Chúa, nên dù hôm nay con chưa hiểu đường đi, con vẫn biết tay đang giữ con là tay tốt.

Đây là điều nhiều người trẻ cần cầu xin hơn hết: không phải chỉ xin Chúa cho biết tương lai, mà xin cho có lòng tin đủ để không cần nắm hết tương lai mà vẫn dám đi với Chúa.

Bởi vì chính nhu cầu phải kiểm soát tương lai làm người ta không trao được hiện tại.

Họ cứ muốn chắc.

Muốn biết rồi mới dâng.

Muốn thấy rồi mới tin.

Muốn nắm rồi mới buông.

Nhưng hành trình với Chúa đi ngược lại rất nhiều lần.

Buông rồi mới thấy.

Tin rồi mới hiểu sâu hơn.

Đi rồi mới biết đường.

Trao rồi mới nhận lại mình.

Có một điều nghịch lý mà Tin Mừng luôn lặp lại: ai giữ mạng sống mình thì sẽ mất, ai liều mất mạng sống mình vì Chúa thì sẽ tìm được.

Nhiều người trẻ hiểu câu này như một lời đạo đức xa xôi. Nhưng thật ra nó rất sát đời. Ai giữ quá chặt kế hoạch mình, hình ảnh mình, tham vọng mình, các phương án an toàn của mình, cuối cùng sẽ bị chính những thứ ấy làm mệt và rỗng. Còn người dám trao, dám mất đi sự kiểm soát tuyệt đối, dám để Chúa có tiếng nói cuối cùng, thì từ từ tìm được chính mình.

Không phải ngay lập tức.

Không phải như phép màu.

Nhưng thật.

Bởi vì khi Chúa làm Chủ, đời người không còn phải mang một gánh quá sức mình nữa.

Không còn phải tự làm cứu tinh cho chính tương lai mình.

Không còn phải tự gánh mọi điều chưa tới như thể không có Cha.

Người trẻ hôm nay rất cần được chữa ở điểm này: sống như người mồ côi dù miệng vẫn nói có Chúa. Người mồ côi phải tự lo tất. Phải tự tính tất. Phải tự chống. Phải tự cầm hết. Còn người có Cha thì vẫn làm hết trách nhiệm, nhưng không làm trong hoảng loạn. Vẫn lên kế hoạch, nhưng với lòng mềm. Vẫn cố gắng, nhưng không thần tượng hóa sức riêng. Vẫn chủ động, nhưng biết dừng lại để hỏi: lạy Chúa, ý Ngài ở đâu trong chuyện này?

Đặt đời trong tay Chúa không có nghĩa là buông xuôi.

Không có nghĩa là không suy nghĩ.

Không có nghĩa là lười biếng rồi gọi đó là phó thác.

Không có nghĩa là không lập kế hoạch.

Không có nghĩa là không dùng trí khôn Chúa ban.

Trái lại, người phó thác thật lại càng phải trưởng thành. Họ lập kế hoạch, nhưng không tôn thờ kế hoạch. Họ làm việc, nhưng không lấy thành công làm chúa. Họ chọn lựa, nhưng không tự khóa lòng trước khả năng Chúa muốn điều khác. Họ hành động hết sức, nhưng bên trong vẫn để một khoảng tự do cho Chúa bất ngờ.

Khoảng tự do ấy rất quý.

Nó là nơi người trẻ có thể nói:

Con muốn điều này, nhưng con muốn Ngài hơn.

Con thấy hướng này đẹp, nhưng nếu Ngài muốn khác, xin dạy con vâng.

Con đang gắn bó với kế hoạch này, nhưng xin đừng để con yêu nó hơn ý Ngài.

Con sợ mất điều con thích, nhưng con sợ mất Ngài hơn.

Đó là lời cầu nguyện của một trái tim đang lớn lên trong phó thác thật.

Không còn dùng Chúa như tấm bùa cho các dự tính riêng.

Không còn chỉ gọi tên Chúa để yên lương tâm.

Không còn chỉ thêm chút đạo đức vào giữa một đời sống do cái tôi điều khiển.

Mà đang dần dần trở thành người để Chúa thực sự bước vào trung tâm.

Người trẻ thường chỉ nhận ra mình đã bám kế hoạch riêng quá mức khi kế hoạch ấy bị đe dọa. Lúc đó mới lộ ra sự căng. Sự giận. Sự hụt. Sự sợ. Sự chống lại trong lòng. Có những người nói mình phó thác, nhưng khi Chúa đóng một cánh cửa, họ gãy như thể mọi ý nghĩa đời mình đi theo cánh cửa đó luôn. Điều đó cho thấy họ đã đặt quá nhiều vào nó. Không chỉ hy vọng. Mà cả căn tính. Cả an toàn. Cả cảm giác có tương lai.

Chúa nhiều khi phải cho một cánh cửa đóng lại không phải để làm đau con người, mà để cứu họ khỏi việc biến cánh cửa ấy thành thần tượng. Không phải cánh cửa nào đóng cũng là vì nó xấu. Có khi nó tốt. Nhưng Chúa biết có cái tốt nào đang dần thế chỗ của Đấng Tốt Lành trong lòng người trẻ.

Cho nên, đôi khi điều người trẻ cần không phải là hỏi: sao Chúa không cho con điều con xin?

Mà là: điều con xin này đang đứng ở đâu trong trật tự lòng con?

Nó là ơn con đón nhận, hay là chỗ con bám để thấy mình sống nổi?

Nó là một điều tốt trong tay Chúa, hay là một ngẫu tượng đẹp mà con không dám để mất?

Nếu người trẻ dám hỏi như thế, họ sẽ trưởng thành hơn rất nhiều.

Họ sẽ bắt đầu hiểu rằng đặt đời trong tay Chúa không làm họ mất bản thân. Nó cứu họ khỏi việc bị kế hoạch riêng, tham vọng riêng, nỗi sợ riêng, nhu cầu kiểm soát riêng nuốt mất.

Họ sẽ học được rằng có thể lập kế hoạch rất nghiêm túc mà vẫn phó thác.

Có thể yêu rất sâu mà vẫn để Chúa là Chúa.

Có thể theo đuổi điều mình tin là tốt mà vẫn sẵn lòng được Chúa sửa.

Có thể mơ lớn mà không bắt Chúa phải làm theo giấc mơ của mình.

Người trẻ thân mến, nói muốn đặt đời mình trong tay Chúa là một câu rất đẹp. Nhưng câu ấy chỉ thật khi đi kèm một sự chuyển chỗ trong lòng: từ chỗ mình là trung tâm sang chỗ Chúa là trung tâm. Từ chỗ xin Chúa làm theo sang chỗ xin mình biết theo Chúa. Từ chỗ chỉ muốn được chúc lành sang chỗ chấp nhận được dẫn dắt. Từ chỗ ôm chặt vô-lăng sang chỗ dám buông tay vào tay Cha.

Có thể điều này làm bạn sợ.

Có thể bạn nghĩ nếu trao thật, bạn sẽ mất nhiều.

Nhưng thử nhìn lại những gì bạn giữ quá chặt từ trước đến nay: có cái nào thật sự làm bạn bình an chưa? Hay càng giữ, càng mệt? Càng kiểm soát, càng lo? Càng bám, càng sợ?

Có lẽ đã đến lúc phải thử một con đường khác.

Không phải con đường buông thả.

Mà là con đường buông mình vào Chúa.

Không phải bỏ trách nhiệm.

Mà là sống trách nhiệm trong niềm tin.

Không phải không còn ước mơ.

Mà là để ước mơ được đặt trong bàn tay lớn hơn mình.

Lạy Chúa, con vẫn nói rằng con muốn đặt đời mình trong tay Ngài, nhưng xin tha cho con vì nhiều lúc con chỉ muốn Ngài chúc lành cho điều con đã tự chọn. Con vẫn còn sợ mất quyền cầm lái. Con vẫn còn sợ nếu nghe Ngài thật, con sẽ phải bỏ điều con thích. Con vẫn còn muốn kiểm soát tương lai để đỡ run. Xin cho con can đảm hơn niềm sợ ấy. Xin dạy con biết rằng ý Ngài không phải là mối đe dọa cho đời con, nhưng là nơi cứu đời con khỏi lạc. Xin cho con biết lên kế hoạch mà không tôn thờ kế hoạch. Biết yêu ước mơ mà không để nó làm chúa. Biết xin điều con mong mà vẫn luôn để chỗ cho ý Ngài lớn hơn. Xin lấy khỏi tay con chiếc vô-lăng mà con giữ đến mệt. Và xin cho con tập ngồi xuống trong niềm tin của một người con, để con không chỉ có Chúa bên cạnh đời mình, mà thật sự có Chúa làm Chủ đời mình.

 

 

CHƯƠNG 14

VÌ SAO NHIỀU NGƯỜI TRẺ LUÔN NÓI “ĐỢI KHI NÀO ỔN HƠN CON SẼ SỐNG ĐẠO SÂU HƠN”, NHƯNG THỰC TẾ LẠI CHÍNH VÌ KHÔNG SỐNG ĐẠO SÂU HƠN NÊN ĐỜI HỌ MÃI KHÔNG ỔN

Có một câu rất quen trong lòng nhiều người trẻ, dù họ không luôn nói thành lời.

“Đợi khi nào bớt bận.”

“Đợi khi nào đỡ rối.”

“Đợi khi nào thi xong.”

“Đợi khi nào công việc ổn hơn.”

“Đợi khi nào hết khủng hoảng.”

“Đợi khi nào tâm trạng khá hơn.”

“Đợi khi nào con sắp xếp lại được đời sống.”

“Đợi khi nào con bớt tội lỗi, bớt hỗn độn, bớt nặng nề.”

“Lúc đó con sẽ cầu nguyện đàng hoàng hơn.”

“Lúc đó con sẽ sống đạo sâu hơn.”

“Lúc đó con sẽ trở về với Chúa cho tử tế.”

Nghe câu ấy rất hợp lý.

Rất người.

Rất dễ thông cảm.

Và cũng rất nguy.

Bởi vì nó làm người ta tưởng rằng điều kiện để sống gần Chúa là đời mình phải ổn trước.

Trong khi sự thật thường ngược lại: chính vì không sống gần Chúa nên đời người ta mãi không ổn.

Không phải theo nghĩa cứ cầu nguyện là mọi chuyện sẽ hết khó, hết áp lực, hết rối, hết nước mắt. Không. Đức tin không phải phép thần để biến đời thành đường bằng. Nhưng theo một nghĩa sâu hơn: khi không có Chúa ở trung tâm, những rối ren bên ngoài rất dễ xâm chiếm toàn bộ nội tâm, làm người ta sống như người bị cuốn đi không có neo, không có trục, không có nơi để quy tụ lại.

Người trẻ cứ nghĩ rằng mình phải chỉnh được mọi thứ rồi mới đến với Chúa sâu hơn.

Nhưng nếu Chúa bị để ở ngoài cho tới lúc mọi thứ yên, thì ai sẽ giúp họ đi qua lúc chưa yên?

Nếu Chúa chỉ được mời vào sau khi con người đã ổn, thì đức tin còn là gì ngoài một thứ trang trí cho những giai đoạn đẹp?

Nếu lời cầu nguyện chỉ được dành cho lúc lòng mình gọn gàng, thì rồi người trẻ sẽ hiếm khi cầu nguyện thật. Bởi vì lòng họ rất ít khi gọn gàng. Cuộc sống rất ít khi thật sự “xong hết rồi”. Áp lực này vừa xong thì áp lực khác tới. Chuyện này vừa lắng thì chuyện kia nổi. Một nỗi lo vừa đỡ thì một nỗi lo khác mở ra. Đời sống thật không cho con người một khoảng sạch hoàn toàn để rồi mới bắt đầu gặp Chúa. Chúa phải được gặp ngay giữa những lộn xộn ấy.

Và đó là điều nhiều người trẻ chưa hiểu.

Họ dùng sự rối của mình như lý do để trì hoãn Chúa, trong khi chính sự rối ấy là nơi họ cần Chúa nhất.

Họ nói: bây giờ con không cầu nguyện nổi.

Nhưng chính vì thế càng phải đến với Chúa, dù chỉ bằng một câu rất nghèo.

Họ nói: con đang quá mệt.

Nhưng chính vì thế càng phải ngồi xuống trước Chúa, chứ không chỉ ngồi trước màn hình.

Họ nói: đầu con đầy chuyện.

Nhưng chính vì thế càng phải để lòng mình có một nơi đổ xuống.

Họ nói: con chưa xứng để đến gần Chúa.

Nhưng nếu người tội lỗi, yếu đuối, hỗn độn không đến gần Chúa thì ai sẽ đến?

Có một sự lừa dối rất tinh vi ở đây: người trẻ nghĩ rằng họ đang chờ để sống đạo cho tốt hơn. Nhưng thật ra, nhiều khi họ đang để mình ngày càng yếu hơn trong vùng không có Chúa. Và khi ở đó lâu, mọi thứ càng khó hơn: đầu óc càng rối, lòng càng đục, ý chí càng yếu, cám dỗ càng gần, định hướng càng mờ, nỗi cô đơn càng rộng, nỗi sợ càng lớn. Thế rồi họ lại nhìn vào tình trạng ấy và nói: thấy chưa, bây giờ con còn bề bộn hơn nữa, để khi nào khá hơn rồi con quay về.

Cứ như thế, họ bước vào một vòng lặp rất buồn.

Không đến với Chúa vì mình chưa ổn.

Rồi vì không đến với Chúa nên càng không ổn.

Rồi lại lấy sự không ổn ấy làm lý do để trì hoãn thêm.

Đó là một vòng luẩn quẩn mà rất nhiều tuổi trẻ bị mắc kẹt.

Có lẽ phải nói rất rõ một điều: Chúa không chờ bạn ổn rồi mới yêu bạn sâu hơn. Chúa muốn đi vào chính phần chưa ổn đó. Không phải để làm bạn xấu hổ, mà để làm nơi ấy thành chỗ gặp gỡ. Nhưng vì người trẻ chưa quen nghĩ như vậy, nên họ thường mang đến Chúa phần đẹp hơn của mình. Phần đã chỉnh lại. Phần nói năng được. Phần sốt sắng. Phần có thể trình bày. Còn phần bối rối, phần mệt, phần cay đắng, phần đục, phần sa sút, phần rối bời, phần xấu hổ, họ giữ lại. Họ nghĩ phải dọn xong mới mời Chúa vào.

Nhưng thử nghĩ mà xem.

Một người đi khám bệnh không cần khỏe rồi mới đi.

Một người khát không cần tự làm hết cơn khát rồi mới tìm nước.

Một người đang lạc không cần tự tìm ra đường trước rồi mới hỏi đường.

Vậy tại sao người trẻ lại cứ nghĩ mình phải ổn hơn rồi mới sống gần Chúa hơn?

Có thể vì họ vẫn nghĩ đức tin là một việc thêm vào khi đời còn chỗ trống. Khi nào rảnh hơn sẽ cầu nguyện. Khi nào nhẹ hơn sẽ đọc Lời Chúa. Khi nào đầu óc yên hơn sẽ xét mình. Khi nào bớt việc sẽ đi chầu. Nghĩa là Chúa được đặt vào khoảng thừa, chứ chưa phải là nền. Mà cái gì được đặt vào khoảng thừa thì sẽ luôn bị đẩy ra trước tiên khi đời chật.

Chính vì vậy mà có những người trẻ không bao giờ có một tương quan sâu với Chúa, bởi vì đời họ chẳng bao giờ thừa. Họ lúc nào cũng có lý do hợp lý để trì hoãn. Nhưng vấn đề không nằm ở việc họ quá bận. Mà nằm ở chỗ họ chưa xem Chúa là cần thiết như hơi thở của linh hồn.

Con người có thể bỏ bữa vài tiếng, nhưng không thể bỏ thở rồi nói “đợi khi nào ổn hơn tôi sẽ thở lại”.

Vậy mà nhiều người trẻ đang làm điều tương tự với đời sống thiêng liêng.

Họ bỏ cầu nguyện như bỏ một món phụ.

Bỏ gặp Chúa như bỏ một thói quen có cũng được không có cũng được.

Bỏ đời sống bí tích như bỏ một điều nên có nhưng chưa gấp.

Trong khi đối với linh hồn, đó không phải món phụ. Đó là nguồn sống.

Chính điều này giải thích tại sao nhiều người trẻ càng ngày càng dễ chao đảo. Không phải chỉ vì cuộc sống hiện đại phức tạp hơn. Mà vì họ đang cố sống những gánh lớn của đời người bằng một nội tâm không được ăn uống đủ. Họ muốn mang áp lực, mang thất bại, mang những câu hỏi tương lai, mang cám dỗ, mang cô đơn, mang tổn thương, mang các quyết định lớn, nhưng lại không ở lại đủ với Đấng có thể giữ linh hồn họ khỏi tan.

Họ giống một người ra trận mà không ăn, không uống, không nghỉ, không nhận lệnh, không chạm vào nguồn tiếp tế, rồi thắc mắc sao mình kiệt.

Người trẻ hay nghĩ sống đạo sâu là chuyện dành cho khi đời đã yên. Nhưng thật ra, sống đạo sâu là cách để linh hồn có xương sống mà đi qua đời chưa yên.

Một người có giờ cầu nguyện, có đời sống bí tích, có Lời Chúa, có thinh lặng, có nhịp trở về với Chúa, không phải là người không gặp khủng hoảng. Nhưng họ đi qua khủng hoảng khác hẳn. Họ đau mà không tan nhanh như người không có gốc. Họ bối rối mà vẫn còn nơi để neo. Họ mệt mà vẫn còn chỗ đặt đầu. Họ thất bại mà không xem đó là tận cùng. Họ bị từ chối mà không thấy giá trị mình sụp theo.

Còn người cứ chờ ổn hơn mới sống đạo sâu thì sao? Họ thường bước vào mọi biến cố với một nội tâm đói, khô, phân tán. Và khi sóng tới, họ không có sức chống. Họ phản ứng bằng hoảng, bằng mù, bằng tự thương mình, bằng trốn chạy, bằng buông theo cảm xúc. Rồi sau đó lại nói: chắc bây giờ con chưa có tâm trí để sống thiêng liêng. Không. Chính lúc ấy càng phải sống thiêng liêng, không theo kiểu cảm xúc, mà theo kiểu bám lấy nguồn sống.

Có một sự thật rất đáng sợ: nếu người trẻ chỉ cầu nguyện khi thấy ổn, thì họ sẽ dần dần gắn Chúa với những lúc đẹp, còn những lúc tối thì đi tìm nơi khác. Tìm giải trí. Tìm ai đó. Tìm công việc. Tìm cảm giác. Tìm tiêu thụ. Tìm bất cứ gì giúp mình quên hoặc đỡ. Và chính lúc ấy, linh hồn học một phản xạ sai: khi đau thì không chạy về Chúa trước, mà chạy về thứ làm tê nhanh nhất.

Phản xạ ấy, nếu lặp đủ lâu, sẽ làm người trẻ xa Chúa mà không biết.

Không phải vì họ ghét Chúa.

Mà vì họ đã quen dùng Chúa cho phần sáng của đời, còn phần tối thì đưa nơi khác xử lý.

Đó là một đức tin bị chia cắt.

Một đức tin không đủ đi xuống chỗ sâu.

Một đức tin giữ được bề mặt nhưng không giữ được trái tim lúc giông.

Người trẻ cần nghe điều này thật rõ: đừng đợi lòng mình gọn rồi mới cầu nguyện. Hãy cầu nguyện để lòng mình được gỡ ra từng chút. Đừng đợi mình bớt tội rồi mới đến với Chúa. Hãy đến với Chúa để được mạnh mà bớt tội. Đừng đợi mình hết rối rồi mới đọc Lời Chúa. Hãy đọc Lời Chúa ngay giữa lúc rối, dù chỉ bằng một câu rất ngắn, để ít ra có một ánh sáng đi vào cái rối ấy. Đừng đợi mình có thời gian trống rồi mới đi chầu. Hãy học dành thời gian cho Chúa như dành cho điều không thể sống thiếu.

Nhiều người trẻ thất bại không phải vì họ không có thiện chí. Mà vì họ đặt Chúa sai chỗ trong ngày sống. Chúa bị để vào cuối ngày, khi đầu đã mệt, mắt đã díp, lòng đã tiêu gần hết năng lượng cho trăm thứ khác. Chúa bị để vào khi có hứng. Khi không hứng thì thôi. Chúa bị để sau những việc gấp. Nhưng đời thì luôn có việc gấp. Vậy là Chúa luôn bị đẩy.

Một tương quan như thế không sâu được.

Không phải vì Chúa không muốn.

Mà vì người ta chỉ đưa cho Người phần thừa.

Nhưng điều lạ là chính phần người ta coi là “thừa” ấy lại là thứ quyết định hết mọi phần còn lại. Một giờ sáng có Chúa hay không sẽ đổi cách mình đi qua cả ngày. Một khoảnh khắc dừng lại trước Chúa hay không sẽ đổi cách mình phản ứng trong khủng hoảng. Một nhịp xét mình cuối ngày hay không sẽ đổi khả năng mình nhận ra đường đi của lòng mình. Một lần xưng tội hay tiếp tục trì hoãn sẽ đổi cả mức sáng của lương tâm. Những điều đó không hề phụ.

Người trẻ cũng hay nói: bây giờ con không có tâm trạng để cầu nguyện. Nhưng cầu nguyện không phải chỉ là hoạt động của tâm trạng. Nếu thế thì hầu hết những giờ cầu nguyện quý nhất đã không diễn ra. Có những giờ cầu nguyện rất nghèo, rất khô, rất mệt, rất không thấy gì, nhưng chính vì thế mà nó thật. Vì lúc đó con người không đến với Chúa vì thấy dễ, mà vì biết mình cần Chúa. Và nhiều khi, chính những giờ nghèo như vậy lại giữ cho linh hồn họ khỏi tan.

Phải nói thật rằng nhiều người trẻ đánh giá thấp sức cứu của những trung tín nhỏ.

Một kinh sáng đọc trong lúc bận.

Một đoạn Tin Mừng ngắn giữa giờ nghỉ.

Một dấu thánh giá có ý thức trước khi làm việc.

Một lần thưa “Lạy Chúa, xin ở với con” lúc lòng rối.

Một giờ chầu ngắn nhưng đều.

Một quyết định đi xưng tội dù rất ngại.

Một vài phút xét mình cuối ngày.

Tất cả những điều ấy nhìn thì nhỏ, nhưng nó giữ lửa. Nó tạo nhịp. Nó giữ cho linh hồn không bị nuốt chửng trong guồng quay. Nó nhắc con người rằng giữa hàng ngàn tiếng gọi, vẫn có một tiếng sâu hơn. Giữa hàng ngàn áp lực, vẫn có một Đấng lớn hơn. Giữa hàng ngàn rối ren, vẫn có một nơi để trở về.

Cũng phải nói thêm điều này: nhiều người trẻ nói “đợi khi nào ổn hơn con sẽ sống đạo sâu hơn” vì họ đang hình dung đời sống thiêng liêng như một gói hoàn chỉnh phải làm cho thật đẹp. Phải cầu nguyện dài. Phải sốt sắng. Phải tập trung. Phải thấy lắng. Phải đều hoàn hảo. Vì thế khi không đạt được mức đó, họ bỏ luôn. Nhưng Chúa không đòi phần trình diễn. Chúa đón phần thật. Một lời cầu nguyện rất vụng mà thật còn quý hơn một sự trì hoãn kéo dài vì thấy mình chưa đủ đẹp để bắt đầu.

Có những người trẻ tưởng mình cần đổi hết rồi mới quay về. Nhưng không. Hãy quay về để bắt đầu đổi từ từ. Hãy đến với Chúa như mình đang là, không phải như mình ước mình đã là. Hãy đưa cho Người mớ hỗn độn. Chính Chúa mới biết làm gì với mớ hỗn độn ấy. Bạn càng chậm trao, bạn càng phải một mình gánh lâu hơn.

Người trẻ thường quên rằng sự “ổn” mà họ chờ đợi nhiều khi không bao giờ tự đến. Nó phải được xây. Và một trong những viên gạch nền nhất của sự ổn ấy là đời sống với Chúa. Không phải ổn theo nghĩa mọi việc suôn sẻ. Nhưng ổn theo nghĩa có tâm điểm, có gốc, có hướng, có khả năng chịu đựng, có bình an sâu hơn biến động, có sự thật để soi lòng mình, có nơi để khóc, có nơi để đặt những điều mình không giải nổi.

Nếu không có những điều đó, người ta vẫn có thể sống, nhưng rất dễ sống như một người bị phân mảnh.

Có lẽ đây là lúc người trẻ cần hỏi mình thật nghiêm túc:

Tôi đang chờ điều gì để mới chịu sống sâu hơn với Chúa?

Tôi có đang đòi một điều kiện mà chính tôi biết là sẽ không bao giờ hoàn hảo đủ không?

Tôi có đang dùng sự bận như một lý do, trong khi thật ra là mình chưa xem Chúa là cần thiết ngang với những điều khác?

Tôi có đang mong đời mình ổn mà lại cứ trì hoãn điều có thể làm cho linh hồn mình vững hơn không?

Tôi có đang chỉ đem phần đẹp đến với Chúa, còn phần tối thì để cho những nơi khác xử lý không?

Nếu trả lời thật, nhiều người trẻ sẽ thấy mình không thiếu cơ hội đến với Chúa. Mình chỉ thiếu quyết định đặt Chúa vào chỗ trung tâm hơn. Không phải sau mọi chuyện. Mà ngay trong mọi chuyện. Không phải sau khi đời gọn lại. Mà ngay lúc đời đang rối.

Người trẻ thân mến, nếu bạn chờ tới khi hết bão mới học cầu nguyện, có thể bạn sẽ chẳng bao giờ học cầu nguyện thật. Vì đời luôn có bão kiểu nào đó. Nếu bạn chờ đến khi hết khủng hoảng mới sống gần Chúa, có thể chính sự xa Chúa sẽ kéo dài khủng hoảng ấy hơn. Nếu bạn chờ đến khi lòng sạch mới đến với Chúa, có thể bạn sẽ cứ đứng ngoài mãi, trong khi chính Chúa là Đấng có thể thanh tẩy lòng bạn.

Đừng đợi ổn mới đến.

Hãy đến để được giữ giữa lúc chưa ổn.

Đừng đợi hết rối mới cầu nguyện.

Hãy cầu nguyện ngay trong lúc rối.

Đừng đợi hết yếu mới bắt đầu.

Hãy bắt đầu ngay trong lúc yếu.

Đừng đợi có hứng mới sống đạo sâu hơn.

Hãy trung tín trước, rồi cảm xúc sẽ được chữa dần trong một nhịp khác.

Có thể bạn không làm được nhiều ngay.

Không sao.

Chỉ cần bắt đầu thật.

Một khung giờ nhỏ.

Một đoạn Lời Chúa.

Một lần xưng tội.

Một quyết định đi lễ, đi chầu, ngồi lại với Chúa không trốn nữa.

Một lời nói thật với Chúa: con chưa ổn, nhưng con không muốn để sự chưa ổn này thành lý do để xa Ngài thêm nữa.

Chỉ cần như vậy thôi cũng đã là một cuộc quay về thật.

Lạy Chúa, con vẫn hay nói rằng khi nào ổn hơn con sẽ sống gần Ngài hơn. Nhưng hôm nay con nhận ra có lẽ vì con không sống gần Ngài hơn nên đời con cứ mãi không có chỗ nào thật sự ổn. Con cứ để Ngài ở ngoài lúc con rối, rồi đến khi quá mệt con lại không còn sức quay về. Xin tha cho con vì đã để Ngài đứng chờ nơi ngưỡng cửa của những ngày bề bộn nhất. Xin cho con thôi nghĩ rằng Ngài chỉ dành cho phần đẹp của đời con. Xin cho con biết đem cả sự hỗn độn, mệt mỏi, yếu đuối, trì trệ, bối rối của con đến với Ngài. Xin cho con hiểu rằng con không cần ổn mới được đến gần Ngài; con cần đến gần Ngài để không bị tan trong sự chưa ổn của mình. Và xin dạy con bắt đầu lại bằng những điều nhỏ nhưng thật, để đời con không tiếp tục chờ sống, mà thật sự bắt đầu sống trong Ngài.

 

 

CHƯƠNG 15

VÌ SAO NHIỀU NGƯỜI TRẺ VẪN ĐI LỄ, VẪN ĐỌC KINH, VẪN CÓ VẺ GIỮ ĐẠO, NHƯNG LÒNG LẠI NGÀY CÀNG KHÔ, NGÀY CÀNG XA, NGÀY CÀNG MẤT CẢM NẾM THIÊNG LIÊNG, NHƯ THỂ ĐANG SỐNG ĐẠO BẰNG QUÁN TÍNH CHỨ KHÔNG CÒN BẰNG TƯƠNG QUAN SỐNG ĐỘNG VỚI CHÚA NỮA

Có một nỗi buồn rất âm thầm nơi nhiều người trẻ có đạo.

Họ không bỏ đạo.

Họ vẫn đi lễ.

Vẫn đọc kinh.

Vẫn làm dấu.

Vẫn biết những ngày lễ lớn.

Vẫn giữ một số thói quen quen thuộc.

Vẫn tham gia nhóm này nhóm kia.

Vẫn có mặt trong sinh hoạt nhà thờ.

Vẫn nói về Chúa với sự kính trọng.

Vẫn không hẳn đi ra khỏi đời sống đức tin.

Nhưng sâu bên trong, có một điều gì đó đang lặng lẽ tắt.

Không phải ngọn lửa bên ngoài, mà là sức nóng bên trong.

Không phải hình thức, mà là tương quan.

Không phải việc giữ đạo như một nếp, mà là việc gặp Chúa như một con người sống động.

Họ bắt đầu thấy mình đang làm những điều quen mà lòng không chạm.

Đọc kinh mà tâm trí đi đâu.

Dự lễ mà như có mặt bằng thân xác nhiều hơn bằng linh hồn.

Nghe Lời Chúa mà không thấy gì lay.

Đi xưng tội mà giống một lần hoàn tất thủ tục hơn là một cuộc trở về.

Làm việc đạo đức mà không còn cảm nếm.

Phục vụ mà không còn niềm vui thánh.

Thậm chí có người còn hoảng khi phải thú nhận rằng: con vẫn ở trong đời sống đạo, nhưng lâu rồi con không còn thấy mình thật sự sống với Chúa.

Đây là một tình trạng rất nhiều người trẻ đi qua, nhưng ít dám nói.

Bởi vì họ xấu hổ.

Họ sợ nếu nói ra thì bị đánh giá là nguội lạnh, là yếu đức tin, là tệ, là vô ơn, là có vấn đề.

Nên họ im.

Và trong sự im lặng đó, một kiểu sống đạo bằng quán tính tiếp tục kéo dài.

Quán tính là gì?

Là làm vì đã quen.

Đi lễ vì Chúa nhật nào cũng đi.

Đọc kinh vì trước giờ vẫn đọc.

Sinh hoạt vì đã ở trong nhóm lâu rồi.

Phục vụ vì đang giữ vai trò.

Giữ một số nguyên tắc vì đó là nếp của gia đình, của cộng đoàn, của môi trường.

Tất cả những điều đó tự nó không xấu. Quán tính đôi khi còn giúp con người không bỏ hẳn những điều lành trong mùa khô. Nhưng nếu đời sống đức tin chỉ còn quán tính mà không còn tương quan, nó sẽ dần trở thành một cái xác đẹp mà thiếu nhựa sống.

Bên ngoài vẫn cử động.

Bên trong thì ít máu chảy.

Bên ngoài vẫn giữ.

Bên trong thì không còn gặp.

Có lẽ phải hỏi thật thẳng: tại sao điều này xảy ra?

Tại sao một người vẫn giữ đạo, nhưng lòng lại xa dần?

Tại sao có thể ở rất gần các sinh hoạt tôn giáo, mà lại ngày càng ít chạm đến Thiên Chúa?

Tại sao có thể biết rất nhiều điều về Chúa, mà lại sống như thể không còn nghe được tiếng Người nữa?

Một lý do lớn là vì người trẻ đã thay tương quan bằng thói quen mà không nhận ra.

Thói quen rất cần.

Nhưng thói quen không phải đích đến.

Thói quen là cái khung để tương quan được bảo vệ.

Nhưng nếu cái khung còn mà tương quan mất, thì rồi mọi sự sẽ trở nên cơ học.

Giống như một người chồng vẫn về nhà, vẫn ăn cùng mâm, vẫn làm đủ bổn phận, nhưng lâu rồi không còn thật sự gặp vợ mình nữa.

Giống như một người con vẫn sống cùng cha mẹ, vẫn gọi điện, vẫn chào hỏi, nhưng trong lòng đã xa.

Sự xa ấy không đến trong một ngày.

Nó đến qua việc ngừng trò chuyện thật.

Ngừng lắng nghe.

Ngừng nhìn.

Ngừng mở lòng.

Đời sống với Chúa cũng vậy.

Nhiều người trẻ vẫn đọc kinh nhưng không còn nói thật với Chúa.

Vẫn dự lễ nhưng không còn đem đời mình đặt lên bàn thờ.

Vẫn cầu xin nhưng ít khi ở lại lắng nghe.

Vẫn giữ công thức nhưng mất cuộc gặp gỡ.

Và khi cuộc gặp gỡ mất đi, đức tin dần trở thành một chuỗi cử chỉ không còn lửa bên trong.

Một lý do khác là vì lòng người trẻ bị lấp quá đầy bởi những thứ khác.

Không hẳn toàn là điều xấu.

Có thể là công việc.

Áp lực.

Mối quan hệ.

Mục tiêu.

Kế hoạch.

Nỗi lo.

Cảm xúc.

Màn hình.

Nội dung vô tận.

Sự so sánh.

Những kích thích liên tục.

Lòng họ bận đến mức không còn khoảng trống để Chúa thấm vào.

Họ vẫn cho Chúa một chút thời gian, nhưng không cho Chúa một cõi lòng đủ tĩnh để ở lại.

Nhiều người trẻ đi lễ với một đầu quá ồn.

Đọc kinh với một lòng quá phân tán.

Ngồi trước Nhà Tạm với một tâm trí đã bị chia năm xẻ bảy từ sáng tới tối.

Họ mong mình cảm được Chúa ngay, nhưng lòng họ giống như mặt nước luôn bị khuấy. Mà mặt nước bị khuấy thì khó phản chiếu trời.

Không phải Chúa không hiện diện.

Mà là lòng họ không có độ lặng cần thiết để nhận ra sự hiện diện ấy.

Có những người trẻ than rằng mình không còn cảm nếm thiêng liêng. Nhưng thật ra họ đang sống trong một nhịp độ làm cho cảm nếm đó gần như không có cơ hội lớn lên. Họ tiêu thụ quá nhiều. Phản ứng quá nhiều. Tiếp nhận quá nhiều. Nên nội tâm không còn tinh tế. Mà những thực tại của Chúa thường không gào. Chúng đến nhẹ. Sâu. Kín. Cần một trái tim bớt ồn để nhận.

Cũng có một lý do rất quan trọng khác: nhiều người trẻ không còn thật với Chúa.

Không phải họ nói dối bằng lời.

Nhưng họ không còn đem phần thật nhất của mình đến.

Họ đọc những lời quen.

Xin những ơn quen.

Nói những câu nghe được.

Nhưng không nói: lạy Chúa, con đang ghen.

Con đang nghi ngờ.

Con đang nguội.

Con đang mệt vì chính con.

Con đang không muốn cầu nguyện.

Con đang giận ai đó.

Con đang sống hai mặt.

Con đang giữ một điều con biết là không đúng.

Con đang đi lễ mà lòng vắng.

Con đang sợ đối diện với Ngài.

Con đang trốn.

Khi cầu nguyện không còn là chỗ để sự thật được mở ra, nó sẽ dần trở thành một hành vi tôn giáo hơn là một tương quan cứu độ.

Và một tương quan không có sự thật thì sớm muộn gì cũng khô.

Có người trẻ khô không phải vì họ không cầu nguyện, mà vì họ chưa từng cầu nguyện thật.

Họ nói với Chúa bằng phần chỉnh sửa của mình.

Họ đến với Chúa như học sinh trình bài, chứ không như đứa con trở về.

Họ giữ sự đoan trang bên ngoài, nhưng phần rách nát thật thì không dám mở.

Nên Chúa ở đó, rất gần, nhưng chưa chạm tới chỗ sâu nhất.

Lại có những người trẻ sống đạo khô vì họ đã thay Thiên Chúa bằng cảm giác về Thiên Chúa.

Điều này tinh vi lắm.

Lúc đầu họ đi lễ thấy sốt sắng.

Cầu nguyện thấy ấm.

Đi tĩnh tâm thấy được chạm.

Nghe nhạc đạo thấy lòng mở ra.

Họ nghĩ đó là đức tin.

Thật ra đó có thể là một phần đẹp của đức tin, nhưng không phải toàn bộ.

Rồi đến lúc cảm giác ấy ít đi.

Không còn xúc động như trước.

Không còn thấy rưng rưng.

Không còn thấy “có lửa”.

Không còn thấy buổi lễ nào cũng đánh động.

Lúc đó họ bắt đầu nghĩ rằng mình xa Chúa.

Nhưng chưa chắc.

Có khi Chúa đang đưa họ sang một giai đoạn khác: yêu mà không chỉ dựa vào cảm giác.

Ở lại mà không được nâng bằng xúc động.

Trung tín mà không cần được thưởng bằng những an ủi dễ cảm nhận.

Đó là lúc đức tin trưởng thành hơn.

Nhưng nhiều người trẻ không được dạy điều đó, nên khi không còn “cảm thấy”, họ nghĩ mình không còn “có”.

Và thế là họ bỏ dần chỗ hẹn với Chúa, hoặc tiếp tục nhưng với tâm thế thất vọng.

Thực ra, có những mùa khô không phải là dấu hiệu Chúa xa, mà là dấu hiệu tình yêu cần được thanh luyện. Tình yêu thật không thể sống mãi bằng mật ngọt. Có những chặng Chúa rút bớt an ủi cảm tính để xem người trẻ có còn ở lại vì chính Chúa không, hay chỉ vì điều mình nhận được khi ở với Chúa.

Nhưng cũng phải thành thật rằng không phải mọi khô khan đều là thử luyện thánh. Có những khô khan là hậu quả rất thực của một đời sống chia đôi.

Sống cầu nguyện ít mà màn hình nhiều.

Muốn gần Chúa mà vẫn nuôi những gì làm lòng đục.

Muốn cảm nếm mà không sống kỷ luật.

Muốn sốt sắng mà không bảo vệ thinh lặng.

Muốn có lửa mà vẫn đi từ kích thích này sang kích thích khác.

Muốn Chúa chạm nhưng không chịu buông những điều đang làm mình cứng.

Một linh hồn cứ mở cửa cho mọi tiếng ồn, mọi cám dỗ, mọi sự dễ dãi, rồi lại mong đi lễ là lòng bừng sáng ngay, điều đó rất khó. Không phải vì Chúa không thể, mà vì mảnh đất không được chuẩn bị.

Có những người trẻ than mình không còn cảm nghiệm Chúa, nhưng lâu rồi không xưng tội thật lòng.

Lâu rồi không ngồi lại với Lời Chúa.

Lâu rồi không có giờ thinh lặng tử tế.

Lâu rồi không cầu nguyện bằng trái tim thật.

Lâu rồi không sống điều mình biết là phải sống.

Thế thì khô là điều dễ hiểu.

Khô không phải lúc nào cũng là hình phạt.

Nhiều khi nó chỉ là hậu quả tự nhiên của một nội tâm bị bỏ đói.

Một lý do nữa là vì nhiều người trẻ đã biến đời sống đạo thành một phần của hình ảnh bản thân.

Họ quen được xem là người có đạo.

Người phục vụ.

Người ngoan.

Người hiểu biết về Chúa.

Người có mặt trong các sinh hoạt.

Nhưng sâu bên trong, lâu rồi họ không còn ngồi trước Chúa như một người nghèo. Họ đến với Người qua vai trò nhiều hơn qua sự thật. Và vai trò tôn giáo, nếu không được nuôi bằng tương quan thật, sẽ nhanh chóng làm người ta khô.

Phục vụ nhiều có thể làm ta gần Chúa hơn.

Nhưng cũng có thể làm ta dùng việc của Chúa để che việc không còn ở với Chúa.

Nghe rất đau, nhưng rất thật.

Có những người trẻ làm rất nhiều việc tốt trong Giáo Hội, nhưng nội tâm lại ngày càng rỗng vì mọi năng lượng đã đổ vào hoạt động, mà không còn chỗ cho việc ở lại bên chân Chúa. Họ lo cho nhà Chúa, nhưng quên ngồi với Chúa của ngôi nhà. Họ nói về Chúa rất nhiều, nhưng lâu rồi không nói thật với Chúa. Họ giúp người khác gặp Chúa, nhưng chính mình thì đi ngang qua Người như một người quen lâu năm mà không còn ngạc nhiên nữa.

Quen với điều thánh cũng là một cám dỗ.

Quen đi lễ.

Quen bài đọc.

Quen bài giảng.

Quen các cử hành.

Quen nhà thờ.

Quen tượng đài, nến sáng, thánh ca.

Quen tới mức không còn run trước mầu nhiệm.

Không còn thấy kỳ diệu khi được ở trước Thánh Thể.

Không còn thấy mình nhỏ bé và được thương khi nghe Tin Mừng.

Không còn thấy bàn thờ là nơi cả đời mình phải được đặt lên.

Sự quen thuộc, nếu không đi kèm lòng biết ơn và nội tâm thức tỉnh, sẽ làm điều thánh trở nên bình thường trong mắt con người. Và khi điều thánh trở thành bình thường, người ta sẽ đi ngang qua kho tàng mà không còn nhận ra mình đang đứng trước kho tàng.

Nhiều người trẻ còn khô vì họ chưa học cầu nguyện như một cuộc ở lại, mà chỉ như một hành vi hoàn tất.

Đọc xong mấy kinh.

Dự xong Thánh lễ.

Xem xong bài giảng.

Nghe xong một bài hát đạo.

Làm xong một giờ chầu.

Tất cả đều mang dạng “xong”.

Nhưng cầu nguyện không phải chuyện xong.

Nó là chuyện ở.

Ở với Chúa.

Ở với mình trước mặt Chúa.

Ở với những gì Chúa đánh động.

Ở đủ lâu để lời không chỉ đi ngang tai, mà đi xuống lòng.

Người trẻ hôm nay làm mọi thứ rất nhanh, nên họ cũng dễ muốn cầu nguyện có kết quả nhanh. Nhưng Chúa nhiều khi không làm việc theo kiểu nhanh thấy. Người làm việc như mưa ngấm vào đất. Như men trong bột. Như hạt chôn xuống lòng đất. Ai sống quá vội sẽ tưởng không có gì xảy ra. Nhưng thật ra có, chỉ là họ không ở lại đủ để nhận ra.

Có một điều cần nói rất dịu mà rất thật: nhiều người trẻ không mất cảm nếm thiêng liêng hoàn toàn. Họ chỉ đang mất khả năng nhận ra những cảm nếm nhỏ, sâu, kín. Vì họ đã quen với những kích thích mạnh. Quen với thứ gì cũng phải rõ, phải tức thì, phải làm mình rung ngay. Trong khi Chúa có thể đến qua một câu Lời Chúa rất lặng, một bình an rất mỏng, một ánh sáng nhỏ trong lương tâm, một thôi thúc âm thầm muốn quay lại, một giọt nước mắt rất nhẹ. Người trẻ tưởng thế là ít, là không có gì. Không. Đó có thể là Chúa đang đi qua. Nhưng trái tim họ đã quen đòi tiếng động lớn, nên không nhận ra bước chân nhẹ.

Vậy làm sao để một người trẻ đang sống đạo bằng quán tính có thể trở về tương quan thật?

Trước hết, phải thành thật nhận rằng mình đang khô. Đừng giả vờ. Đừng tô màu. Đừng dùng hoạt động để che. Đừng dùng ngôn ngữ đạo đức để lấp sự thật. Một lời thú nhận rất đơn sơ đã là cửa mở lớn rồi: lạy Chúa, con vẫn giữ đạo, nhưng lâu rồi con không còn sống với Ngài như trước. Con không muốn giả nữa.

Sự thật ấy không làm Chúa thất vọng. Sự giả mới làm tương quan tiếp tục đóng.

Tiếp đến, phải tập nói với Chúa bằng lời riêng của mình, không chỉ bằng lời có sẵn. Những kinh quen rất quý. Nhưng bên cạnh đó, người trẻ cần học thưa thật: hôm nay con khô. Hôm nay con chán. Hôm nay con cầu nguyện mà chẳng thấy gì. Hôm nay con thấy mình xa. Hôm nay con không hiểu tại sao lòng mình cứng. Hôm nay con giận. Hôm nay con chẳng muốn ở đây. Nhưng con vẫn ở đây. Xin nhìn con.

Một lời cầu nguyện như thế, dù rất nghèo, lại thường thật hơn nhiều lời đẹp mà lòng không ở trong đó.

Rồi phải tạo lại thinh lặng.

Không có thinh lặng, đức tin rất khó đào sâu.

Không cần lập tức làm điều gì lớn.

Chỉ cần bớt một số tiếng ồn.

Bớt một chút màn hình.

Bớt một chút lướt vô tận.

Bớt một chút phản ứng liên tục.

Để lòng có cơ hội lắng xuống.

Chỉ một trái tim bớt bị tán mới có thể cảm được Chúa theo cách sâu hơn.

Ngoài ra, phải trở lại với bí tích Hòa Giải cách thật.

Không chỉ kể tội cho xong.

Mà đem cả sự khô, sự giả, sự nguội, sự chia đôi, sự trì trệ đến đó.

Rất nhiều người trẻ muốn có lửa lại, nhưng không chịu để Chúa lau lòng mình. Họ muốn cảm được, nhưng không muốn bị đụng tới chỗ tối. Điều đó không được. Ánh sáng muốn ấm thì trước hết phải sạch đường đi.

Cũng phải học yêu Thánh lễ lại từ đầu.

Không đi như người xem quen.

Mà đi như người đem đời mình tới.

Đem nỗi mệt.

Đem công việc.

Đem cơn khô.

Đem tội lỗi.

Đem những điều chưa hiểu.

Đem người mình thương.

Đem nỗi sợ tương lai.

Đem cả chuyện mình chẳng cảm được gì.

Đặt lên bàn thờ.

Một Thánh lễ sẽ rất khác khi người trẻ không đến chỉ để “tham dự”, mà để dâng chính đời mình.

Và còn một điều rất quan trọng: đừng đánh đồng khô khan với vô ích.

Có những mùa bạn không thấy gì, nhưng Chúa đang làm rất nhiều trong phần bạn chưa thấy.

Có những giờ cầu nguyện tưởng trống, nhưng lại luyện cho bạn điều quý nhất: ở lại vì Chúa, chứ không chỉ vì consolations.

Có những giai đoạn đức tin như đêm, nhưng chính trong đêm, rễ đi sâu hơn.

Nếu người trẻ bỏ ngay khi khô, họ sẽ mãi ở mức sơ sinh trong tương quan với Chúa. Họ sẽ chỉ biết yêu Chúa khi Chúa cho họ cảm. Nhưng tình yêu trưởng thành phải đi tới chỗ: dù không thấy, con vẫn ở lại. Dù không ngọt, con vẫn trung tín. Dù không có gì làm con rung, con vẫn tin rằng Ngài ở đây.

Người trẻ thân mến, khô không phải lúc nào cũng là dấu chấm hết. Nhưng sống giả trong cơn khô mới là điều nguy hiểm. Nếu bạn đang thấy mình giữ đạo bằng quán tính, xin đừng chỉ buồn. Hãy coi đó là lời gọi trở về chiều sâu. Không cần diễn lại một cảm xúc xưa. Không cần ép mình phải sốt sắng như trước ngay lập tức. Chỉ cần thật. Chỉ cần ở lại. Chỉ cần bắt đầu mở cửa lại cho Chúa ở những chỗ lâu nay bạn chỉ giữ hình thức.

Có thể lúc đầu bạn chẳng thấy gì khác.

Không sao.

Hãy cứ thật với Chúa.

Hãy cứ trung tín.

Hãy cứ bớt ồn.

Hãy cứ đem đời mình thật tới bàn thờ.

Hãy cứ mở Lời Chúa như mở một cánh cửa, không đòi phải thấy ánh sáng rực ngay.

Hãy cứ đi xưng tội như người muốn được rửa thật.

Hãy cứ ở lại trước Nhà Tạm như người chẳng còn biết làm gì ngoài việc ngồi đó.

Từ từ, tương quan sẽ thở lại.

Không phải theo kiểu bạn điều khiển được.

Nhưng theo cách rất lặng của ân sủng.

Lạy Chúa, có thể lâu rồi con vẫn giữ đạo, nhưng lòng con không thật sự sống với Ngài. Con đi lễ, đọc kinh, sinh hoạt, làm nhiều điều quen, nhưng bên trong lại khô, lại xa, lại mờ. Có những lúc con sợ phải thú nhận điều này. Con sợ nhìn vào sự thật rằng con đang sống bằng quán tính nhiều hơn bằng tình yêu. Xin tha cho con vì đã quen với những điều thánh đến mức không còn run trước Ngài nữa. Xin cứu con khỏi lối sống chỉ giữ hình thức mà thiếu cuộc gặp gỡ. Xin dạy con cầu nguyện thật. Xin dạy con ở lại khi không cảm gì. Xin dạy con đem phần khô nhất của lòng con đến với Ngài thay vì giấu đi. Xin trả lại cho con một trái tim biết ngạc nhiên, biết biết ơn, biết lắng, biết đau khi xa Ngài, biết vui khi được ở trước mặt Ngài. Và nếu bây giờ con chưa thấy lửa, xin cho con ít nhất vẫn còn đủ trung tín để ở lại cho đến khi Ngài thổi lại trong con hơi ấm của một tương quan thật.

CHƯƠNG 16

VÌ SAO NHIỀU NGƯỜI TRẺ LUÔN NÓI MÌNH BẬN, NHƯNG SÂU HƠN, CÓ KHI HỌ ĐANG DÙNG SỰ BẬN RỘN ĐỂ TRỐN NỖI TRỐNG, TRỐN CÂU HỎI ĐỜI MÌNH, TRỐN VIỆC PHẢI ĐỐI DIỆN VỚI CHÍNH MÌNH VÀ VỚI TIẾNG GỌI CỦA CHÚA

Có một câu mà người trẻ hôm nay nói rất nhiều, nhiều đến mức gần như trở thành tiếng thở của thời đại:

“Con bận lắm.”

“Dạo này em bận quá.”

“Không có thời gian.”

“Đầu óc em kín hết rồi.”

“Đợi qua giai đoạn này đã.”

Nghe quen quá.

Và đúng là người trẻ hôm nay thật sự bận.

Bận học.

Bận làm.

Bận chạy deadlines.

Bận lo tương lai.

Bận các mối quan hệ.

Bận gia đình.

Bận phục vụ.

Bận trả lời.

Bận cập nhật.

Bận thích nghi.

Bận sống trong một thế giới không cho người ta nghỉ nhiều.

Điều đó là thật.

Nhưng chỉ nói vậy thì chưa đủ.

Bởi vì có một tầng sâu hơn cần phải nhìn: không phải mọi sự bận đều chỉ là gánh nặng từ bên ngoài. Có những bận rộn được con người giữ lấy vì nó giúp họ khỏi phải dừng lại. Khỏi phải nghe. Khỏi phải nghĩ. Khỏi phải đối diện. Khỏi phải chạm vào những câu hỏi rất lớn mà nếu ngồi xuống, họ biết lòng mình sẽ không yên nữa.

Có những người trẻ bận không chỉ vì đời ép họ. Mà còn vì họ cần sự bận như một lớp vải phủ lên nỗi trống.

Phủ lên câu hỏi: mình đang sống vì ai?

Phủ lên cảm giác: mình đang đi đâu?

Phủ lên nỗi sợ: nếu một ngày không còn gì để làm, mình sẽ phải đối diện với điều gì trong lòng?

Phủ lên tiếng gọi âm thầm của Chúa mà mình biết nếu nghe kỹ, đời mình sẽ phải thay đổi.

Đây là một điều rất tinh vi.

Người ta không dễ nhận ra mình đang trốn bằng cách làm việc.

Vì làm việc là điều được khen.

Bận là điều được xã hội hiểu.

Có lịch kín là dấu hiệu của người có giá trị trong mắt nhiều người.

Luôn có việc để làm nghe rất có trách nhiệm.

Nhưng không phải lúc nào cũng vậy.

Có những người rất siêng, nhưng sự siêng ấy là một cách để không phải ở một mình với chính mình.

Có những người nhận quá nhiều việc không phải vì họ có sức, mà vì họ sợ khoảng trống.

Có những người luôn phải mở gì đó, xem gì đó, nói chuyện với ai đó, lên kế hoạch gì đó, đi đâu đó, vì họ không chịu nổi cảm giác ngồi yên mà không bị kéo đi.

Ngồi yên đáng sợ với họ.

Không phải vì yên là xấu.

Mà vì trong yên, những tiếng họ cố vùi xuống sẽ bắt đầu nổi lên.

Có thể là nỗi buồn họ chưa khóc.

Có thể là sự khô khan họ chưa dám nhìn.

Có thể là một ơn gọi họ đang tránh.

Có thể là một mối quan hệ họ biết là không đúng.

Có thể là một khoảng trống trong lòng mà bao lâu nay họ cứ cố lấp bằng công việc, bằng giải trí, bằng giao tiếp, bằng cống hiến, bằng thành công, bằng hoạt động.

Có những người trẻ gần như không biết sống trong thinh lặng nữa.

Không phải vì họ ghét thinh lặng.

Mà vì thinh lặng làm họ thấy mình không có nơi nào để chạy.

Khi điện thoại không còn.

Khi công việc ngưng.

Khi đám đông rút.

Khi nhạc tắt.

Khi thông báo im.

Khi không còn ai hỏi mình cần gì, muốn gì, đang làm gì.

Thì một câu hỏi rất lớn sẽ đi lên:

Bên trong mình còn gì?

Và nhiều người sợ câu hỏi đó.

Sợ thấy mình trống.

Sợ thấy mình vô hướng.

Sợ thấy mình lâu rồi không thật sự vui.

Sợ thấy mình không ổn như mình vẫn biểu diễn.

Sợ thấy rằng sự bận không chữa được cái gốc.

Cho nên, họ tiếp tục bận.

Bận như một chiến lược sinh tồn.

Bận để khỏi phải đau sâu hơn.

Bận để khỏi phải đối diện với việc lòng mình đang khát điều gì thật.

Bận để khỏi phải nghe tiếng Chúa hỏi.

Bận để khỏi phải nhìn chính mình như mình là.

Có một kiểu người trẻ rất dễ được khen: năng nổ, trách nhiệm, xông xáo, được việc, luôn có mặt, luôn nhận phần khó, luôn bận. Nhưng nếu nhìn kỹ, có khi họ là những người mệt nhất. Không chỉ vì nhiều việc. Mà vì họ đang dùng việc để giữ cho linh hồn mình khỏi sụp xuống một khoảng trống nào đó.

Khi làm, họ đỡ nghĩ.

Khi chạy, họ đỡ cảm.

Khi bận, họ đỡ phải hỏi.

Khi phải lo cho người khác, họ đỡ phải đối diện với sự hỗn độn của mình.

Khi luôn được cần đến, họ đỡ phải chạm vào nỗi sợ rằng nếu không còn hữu ích, mình là ai.

Đây là chỗ sự bận rộn nối rất sâu với căn tính.

Có những người trẻ không chỉ bận vì trách nhiệm. Họ bận vì họ lấy việc mình hữu ích làm nền cho giá trị của mình. Thành ra nếu không bận, họ thấy mình mất ý nghĩa. Nếu không còn ai nhờ, họ bất an. Nếu một ngày trống, họ thấy khó thở. Vì bên dưới đó là một niềm tin sai: mình đáng quý khi mình có ích, khi mình làm ra được, khi mình còn được cần.

Nên họ không cho mình nghỉ.

Không cho mình dừng.

Không cho mình chậm.

Không cho mình được là người con trước khi là người có ích.

Và đó là một cuộc đời rất mệt.

Bởi vì con người không thể chỉ sống như công cụ.

Họ phải có một nơi được yêu mà không cần biểu diễn.

Một nơi được ở mà không cần làm gì để chứng minh mình xứng đáng hiện diện.

Nếu không có nơi ấy trong Thiên Chúa, họ sẽ cứ lao ra ngoài để kiếm nó bằng hoạt động. Nhưng hoạt động không bao giờ cho thứ đó trọn vẹn.

Nhiều người trẻ nói rằng mình bận nên không cầu nguyện được.

Nhưng có khi sâu hơn, họ không cầu nguyện vì cầu nguyện buộc họ phải dừng.

Và dừng lại thì khó.

Khó hơn làm tiếp.

Khó hơn nhận thêm việc.

Khó hơn lướt tiếp.

Khó hơn nhắn tiếp.

Khó hơn bật tiếp một thứ gì đó.

Vì cầu nguyện thật, nhất là cầu nguyện trong thinh lặng, là chỗ con người không còn làm gì nhiều được nữa. Họ phải ở đó. Phải đối diện. Phải để cho lòng mình hiện ra. Phải nghe. Phải nhận rằng có những điều mình không giải quyết nổi bằng chính nỗ lực của mình.

Nhiều người trẻ sợ điều đó.

Họ thích một đời sống thiêng liêng nhanh hơn. Một lời cầu nguyện ngắn. Một bài hát đạo mở nền. Một câu Lời Chúa lướt qua. Một dấu thánh giá cho yên tâm. Nhưng ngồi lại lâu với Chúa thì khó. Vì càng ngồi lâu, những gì bị chôn càng dễ nổi lên. Và chính vì thế, họ gọi tên nó là “không có thời gian”, trong khi có phần là “không dám để thời gian đó xảy ra”.

Sự bận rộn cũng có thể là cách người trẻ trốn câu hỏi ơn gọi.

Bởi vì nếu dừng lại đủ lâu, họ sẽ phải nghe tiếng lòng mình: mình có thật đang đi đúng không? Công việc này có phải chỉ là nơi kiếm sống, hay còn là nơi mình đang đánh mất linh hồn? Mối quan hệ này có thực sự dẫn mình về phía sáng không? Lối sống hiện tại có đang làm mình lớn lên trong Chúa không? Mình có đang sống như người được gọi hay chỉ như người bị kéo?

Những câu hỏi ấy không dễ chịu.

Và nếu một người trẻ biết rằng trả lời thật có thể kéo theo việc phải đổi hướng, phải bỏ một vài thứ, phải nói không với một số dễ dãi, phải nghiêm túc với ơn gọi hơn, thì sự bận trở thành một nơi trú ẩn rất tiện.

Tôi bận nên chưa phân định.

Tôi bận nên chưa nghĩ tới chuyện đó.

Tôi bận nên chưa đi tĩnh tâm.

Tôi bận nên chưa thể nghiêm túc hơn với đời sống thiêng liêng.

Nghe rất hợp lý.

Nhưng nhiều khi, đó là những cánh cửa đóng được làm bằng lịch trình.

Người trẻ không chỉ trốn Chúa bằng tội lỗi rõ ràng.

Họ còn có thể trốn Chúa bằng sự bận rộn được xã hội khen.

Đây là điều rất đáng suy nghĩ.

Một người có thể rất bận với điều tốt mà vẫn xa dần điều cốt yếu.

Martha trong Tin Mừng không làm điều xấu. Cô lo việc tốt. Việc cần. Việc phục vụ. Nhưng Chúa vẫn nói có một điều cần hơn. Điều ấy không phủ nhận giá trị của công việc. Nó chỉ đặt lại trật tự. Rằng nếu công việc làm ta không còn ngồi dưới chân Chúa, không còn nghe được tiếng Người, không còn sống từ tương quan với Người, thì điều tốt cũng có thể biến thành điều làm lòng mình chia năm xẻ bảy.

Nhiều người trẻ ngày nay sống với lòng bị chia như thế.

Làm nhiều.

Lo nhiều.

Chạy nhiều.

Nhưng bên trong không có trung tâm.

Không có một nơi mà mọi việc được quy tụ lại.

Nên càng bận càng tản.

Càng làm càng mỏng.

Càng hoạt động càng dễ khô.

Không phải vì công việc xấu.

Mà vì họ đang làm mà không bén rễ đủ vào Đấng cho công việc ấy ý nghĩa.

Có những người bận vì họ không muốn nhìn nỗi buồn trong mình.

Có những người bận vì họ không muốn cảm nhận nỗi cô đơn.

Có những người bận vì mỗi khi trống ra, họ lại muốn khóc mà không biết vì sao.

Có những người bận vì họ sợ mình sẽ nhận ra lâu rồi mình không hạnh phúc thật.

Có những người bận vì họ không muốn chạm vào vết thương gia đình.

Có những người bận vì nếu ngồi yên, họ sẽ nghe lòng mình kêu tên một điều mà họ chưa muốn vâng.

Không phải ai cũng ý thức điều đó rõ ràng.

Nhưng cơ chế bên trong thường là như vậy.

Con người không luôn chạy về phía việc phải làm.

Nhiều khi họ chạy khỏi điều phải đối diện.

Và khi đã sống kiểu đó lâu, họ bắt đầu mất khả năng hiện diện với những gì sâu.

Nói chuyện thì nói được.

Làm việc thì làm được.

Nhưng ngồi với chính mình thì không.

Ngồi với Chúa thì càng khó.

Một giờ thinh lặng thành nặng.

Một giờ chầu thành dài.

Một đoạn Lời Chúa thành khó nuốt.

Một buổi tĩnh tâm thành bất an.

Không phải vì Chúa không còn hấp dẫn.

Mà vì lòng người đã quen với nhịp độ không cho chiều sâu có chỗ.

Người trẻ cũng có thể dùng sự bận rộn để tránh cảm giác thất bại.

Khi họ liên tục làm, họ ít có thời gian nhìn lại đời mình cách tổng thể. Không cần tự hỏi mình đang đi đâu, vì hôm nay còn ba việc phải làm, năm thứ phải lo, mười người phải trả lời. Bề mặt luôn được giữ đầy để câu hỏi lớn không chen vào. Nhưng điều bị trì hoãn không vì thế mà biến mất. Nó chỉ chờ một ngày mình kiệt, và lúc đó nó đổ ra cùng lúc.

Nên có những người trẻ không ngã ngay lúc bận nhất. Họ ngã lúc vừa trống ra. Lúc không còn guồng quay chống đỡ. Lúc kỳ nghỉ đến. Lúc một việc kết thúc. Lúc một mối quan hệ đổ. Lúc thân xác mệt quá rồi. Lúc đó họ mới thấy bên trong mình rỗng hơn mình tưởng nhiều.

Thật ra sự bận không cứu được linh hồn.

Nó chỉ trì hoãn cuộc gặp giữa mình với linh hồn.

Nếu cuộc gặp ấy được thực hiện trong Chúa, nó sẽ cứu.

Nếu không, một ngày nào đó nó sẽ đến như một khủng hoảng.

Vì thế, người trẻ rất cần học phân biệt giữa bổn phận thật và sự bận rộn gây nghiện.

Bổn phận thật có thể làm mình mệt, nhưng nó thường có ánh sáng, có hướng, có trật tự.

Sự bận rộn gây nghiện thì khác. Nó làm mình luôn phải đầy. Luôn phải có gì đó mới. Luôn phải phản ứng. Luôn phải ở trong chuyển động. Nó không cho linh hồn nghỉ. Không cho câu hỏi lớn chạm vào. Không cho Chúa có chỗ đứng đủ sâu.

Một dấu hiệu cho thấy sự bận đã trở thành nơi trốn là khi người trẻ rất khó chịu trước khoảng trống.

Không biết làm gì với một buổi tối yên.

Không chịu nổi việc không chạm điện thoại.

Không chịu nổi việc đi bộ mà không nghe gì.

Không biết ngồi với Chúa quá vài phút.

Không biết ở một mình mà không phải mở một thứ gì lên.

Khi đó, vấn đề không chỉ là lịch trình dày.

Mà là một nội tâm không còn biết nghỉ trong sự hiện diện.

Đây là chỗ người trẻ phải tập lại một điều rất căn bản: dừng không phải là vô ích.

Dừng là điều kiện để thấy mình đang ở đâu.

Dừng là điều kiện để nghe tiếng nào đang điều khiển đời mình.

Dừng là điều kiện để phân biệt đâu là việc phải làm, đâu là việc mình ôm vào chỉ để khỏi phải đối diện.

Dừng là điều kiện để Chúa đi từ ngoại vi vào trung tâm.

Nhưng dừng rất đau với người đã quen sống bằng chạy. Vì khi dừng, những gì bị nén lại sẽ dội lên. Một nỗi buồn. Một mệt mỏi. Một trống rỗng. Một chán nản. Một câu hỏi ơn gọi. Một nỗi sợ tương lai. Một vết thương cũ. Một cảm giác mình không còn chắc mình đang sống đúng. Những điều đó sẽ trồi lên.

Và nhiều người lại chạy tiếp vì không biết làm gì với chúng.

Trong khi thật ra, đó chính là nguyên liệu của lời cầu nguyện thật.

Không phải cản trở cầu nguyện.

Mà là nội dung của cầu nguyện.

“Lạy Chúa, con đang trống.”

“Con đang mệt.”

“Con đang không biết mình bận vì gì.”

“Con đang sợ dừng lại.”

“Con đang dùng việc để không phải nghĩ.”

“Con đang chạy để khỏi phải nghe.”

“Con đang sợ nếu ngồi yên, con sẽ phải đổi.”

Một lời cầu nguyện như thế rất thật.

Và chính từ chỗ thật đó, người trẻ mới bắt đầu thoát khỏi thứ bận rộn làm linh hồn mình hao đi.

Thoát không có nghĩa là bỏ hết việc.

Không có nghĩa là sống vô trách nhiệm.

Không có nghĩa là phủ nhận áp lực thực sự.

Mà là đặt lại trật tự.

Biết việc nào là bổn phận.

Việc nào là trốn tránh đội lốt tận tụy.

Biết lúc nào mình cần làm.

Lúc nào mình cần dừng.

Biết Chúa không chỉ dành cho lúc xong việc, mà phải ở trong lòng công việc.

Biết một ngày đầy việc vẫn có thể có trung tâm nếu nó được neo vào Chúa.

Biết mình không phải người máy.

Không phải cái máy tạo hiệu quả.

Không phải dụng cụ luôn phải hữu ích.

Mà là một con người có hồn, có ơn gọi, có nội tâm, có những câu hỏi lớn cần được nhìn trong ánh sáng.

Người trẻ thân mến, nếu bạn luôn nói mình bận, có thể bạn thật sự bận. Nhưng cũng xin can đảm hỏi thêm: tôi đang bận vì sống có trách nhiệm, hay vì sợ phải đối diện? Tôi đang chạy về phía điều Chúa muốn, hay chỉ đang chạy để khỏi phải nghe tiếng Chúa? Tôi đang làm việc với một nội tâm có gốc, hay đang lấy công việc làm thuốc mê cho khoảng trống? Tôi có đang dùng hoạt động để tránh việc phải ngồi xuống và hỏi: cuộc đời mình đang đi đâu?

Nếu dám hỏi như vậy, bạn sẽ bắt đầu bớt bị sự bận lừa.

Không phải bằng cách sống ít hơn ngay.

Mà bằng cách sống thật hơn.

Làm trong hiện diện.

Nghỉ trong hiện diện.

Cầu nguyện giữa công việc.

Giữ những khoảng dừng không bị nuốt.

Không để mọi chỗ trống bị lấp lập tức.

Không dùng điện thoại như phản xạ đầu tiên cho mọi cơn khó chịu.

Không để đời mình kín đến mức Chúa không còn chỗ chạm.

Bởi vì sâu nhất, điều người trẻ cần không phải là một cuộc đời ít việc hơn, mà là một cuộc đời có trung tâm hơn.

Có Chúa ở giữa.

Có sự thật ở giữa.

Có những khoảng thinh lặng để linh hồn thở.

Có đủ can đảm để nghe những câu hỏi không dễ.

Có đủ niềm tin để không trốn nữa.

Lạy Chúa, con vẫn thường nói rằng con bận. Và đúng là nhiều lúc con thật sự bận. Nhưng xin cho con can đảm nhìn sâu hơn xem có khi nào con đang dùng sự bận để trốn những điều con không muốn đối diện hay không. Trốn nỗi trống. Trốn câu hỏi ơn gọi. Trốn việc nhìn lại đời mình. Trốn sự thật rằng có những chỗ trong con đang rất mệt, rất xa, rất lệch. Xin cho con đừng biến công việc thành nơi ẩn náu khỏi Ngài. Xin cho con biết dừng mà không sợ. Biết thinh lặng mà không bỏ chạy. Biết nhìn vào những gì con vẫn lấp đi bằng lịch trình và tiếng ồn. Xin dạy con làm việc với một trái tim có Chúa, chứ không làm việc để khỏi cần Chúa. Và xin cho mọi sự bận của con, thay vì kéo con xa trung tâm, lại được quy tụ lại trong Ngài, để con không chỉ là người làm nhiều, mà là người đang thật sự sống.

 

 

CHƯƠNG 17

VÌ SAO NHIỀU NGƯỜI TRẺ LUÔN CẢM THẤY THIẾU THỜI GIAN, NHƯNG SÂU HƠN, VẤN ĐỀ KHÔNG CHỈ LÀ THỜI GIAN ÍT, MÀ LÀ VÌ LÒNG HỌ ĐANG BỊ CHIA NHỎ CHO QUÁ NHIỀU THỨ, NÊN KHÔNG CÒN ĐỦ CHIỀU SÂU ĐỂ SỐNG ĐIỀU GÌ ĐẾN NƠI ĐẾN CHỐN

Có một lời than rất quen của người trẻ hôm nay:

“Không có thời gian.”

“Em thiếu thời gian quá.”

“Ngày trôi nhanh quá.”

“Muốn làm nhiều lắm nhưng không kịp.”

“Muốn cầu nguyện mà không có giờ.”

“Muốn đọc sách mà không có lúc.”

“Muốn sống sâu hơn, muốn học hơn, muốn ở với gia đình hơn, muốn nghỉ hơn, muốn nghĩ lại đời mình hơn, nhưng thời gian không đủ.”

Nghe rất thật.

Và quả thật, nhiều người trẻ đang sống trong những nhịp rất dày. Công việc nhiều. Bài vở nhiều. Đòi hỏi nhiều. Mối quan hệ nhiều. Thông tin nhiều. Trách nhiệm nhiều. Cuộc sống thời này dường như ăn vào thời gian con người nhanh hơn bất cứ thời nào khác.

Nhưng chỉ nói rằng thiếu thời gian thôi thì chưa chạm đến gốc.

Bởi vì có những người thật sự rất ít thời gian mà vẫn sống có chiều sâu.

Vẫn cầu nguyện được.

Vẫn giữ được một vài điều cốt lõi.

Vẫn làm việc đàng hoàng.

Vẫn yêu người thân có chất lượng.

Vẫn không để lòng mình tan vụn.

Trong khi có những người thời gian nhìn qua không phải ít hơn bao nhiêu, nhưng luôn sống với cảm giác trễ, thiếu, rượt đuổi, không chạm được điều gì đến nơi đến chốn.

Tại sao?

Bởi vì vấn đề không chỉ là số giờ trong ngày.

Vấn đề là linh hồn người trẻ đang bị chia nhỏ.

Ngày sống của họ không chỉ bận.

Nó còn vỡ.

Thời gian không chỉ ít.

Nó còn bị rò rỉ.

Lòng không chỉ làm nhiều.

Nó còn bị xé ra cho quá nhiều thứ cùng lúc.

Mà điều gì bị xé nhỏ quá thì mất chiều sâu.

Một ly nước đổ xuống đất khô từng giọt lẻ sẽ biến mất rất nhanh. Nhưng nếu được gom thành dòng, nó có thể tưới được cả một mảnh vườn. Đời người cũng vậy. Không phải ai cũng thiếu khả năng. Không phải ai cũng thiếu thiện chí. Nhưng rất nhiều người trẻ đang thiếu khả năng quy tụ. Họ sống trong một tình trạng mà tâm trí, cảm xúc, chú ý, thời gian, ước muốn, ý chí của mình bị phân tán vào quá nhiều nơi, nên đến cuối ngày, nhìn lại, cái gì cũng chạm một chút mà không điều gì được sống đến cùng.

Đọc một chút.

Làm một chút.

Cầu nguyện một chút.

Nghĩ về tương lai một chút.

Nhắn vài tin.

Lướt vài thứ.

Xem vài đoạn.

Trả lời vài người.

Bắt đầu vài việc.

Mơ vài hướng.

Lo vài chuyện.

Cả ngày trôi qua trong những “một chút” như thế.

Và đến tối, người trẻ thấy mình rất mệt, nhưng không rõ vì sao. Bởi vì mệt không chỉ đến từ việc nhiều. Nó còn đến từ việc bị xé liên tục. Một người bị gọi khỏi điều mình đang làm mười mấy lần trong một giờ sẽ mệt kiểu khác hẳn với người làm một việc liền mạch. Một linh hồn cứ phải chuyển cảnh mãi sẽ không chỉ hao năng lượng. Nó còn mất khả năng đi sâu.

Đây là điều rất quan trọng.

Thiếu thời gian nhiều khi là hậu quả của việc thiếu chiều sâu trong hiện diện.

Người trẻ hôm nay dành rất nhiều giờ cho một việc nào đó, nhưng không thật sự ở trong việc đó. Họ học mà đầu óc nhảy đi. Họ làm mà lòng nghĩ chuyện khác. Họ cầu nguyện mà tay muốn cầm điện thoại. Họ ngồi với gia đình mà tâm trí ở nơi khác. Họ nói chuyện với một người mà vẫn mở mấy cánh cửa trong đầu. Vì thế, điều họ thiếu không chỉ là thời gian. Họ thiếu sức ở lại. Thiếu khả năng sống trọn một khoảnh khắc. Thiếu năng lực dồn cả mình vào một điều.

Mà khi không dồn được mình vào đâu, đời người sẽ luôn có cảm giác thiếu. Thiếu vì cái gì cũng dở dang. Thiếu vì mọi thứ đều còn nửa nửa. Thiếu vì không bao giờ nếm được sự viên mãn của việc sống trọn một điều đúng lúc. Thiếu vì ngày nào cũng qua trong việc đuổi theo những mảnh vỡ.

Có những người trẻ đang sống như những căn phòng mở toang tất cả cửa.

Ai cũng vào được.

Thứ gì cũng chen được.

Thông báo chen vào.

Tin nhắn chen vào.

Hình ảnh chen vào.

Lo âu chen vào.

Người khác chen vào.

Mạng xã hội chen vào.

Những việc vụn chen vào.

Những cơn tò mò chen vào.

Những ý nghĩ thoáng qua chen vào.

Và rồi họ nói mình không có thời gian.

Đúng hơn phải nói: họ không còn giữ được không gian nội tâm để thời gian của mình có chiều sâu.

Bởi vì thời gian không chỉ là đồng hồ.

Thời gian còn là mức độ hiện diện của linh hồn trong điều mình đang sống.

Một giờ cầu nguyện mà lòng thật ở đó có thể dày hơn cả một tuần sống tản mát.

Một bữa cơm gia đình mà người ta thật sự hiện diện có thể nuôi hơn nhiều cuộc gặp kéo dài mà ai cũng chỉ ở đó nửa lòng.

Một buổi học tập trung có thể sinh hoa trái hơn nhiều giờ ngồi bàn mà đầu óc lang thang.

Một khoảnh khắc ở lại với Chúa bằng tất cả cái nghèo thật của mình có thể sâu hơn rất nhiều hành vi đạo đức được làm trong vội vàng.

Người trẻ thiếu thời gian còn vì họ đang để những điều thứ yếu hút mất phần đẹp nhất trong ngày. Điều này đau nhưng thật. Nhiều khi không phải họ không có thời gian cho Chúa, cho gia đình, cho việc học nghiêm túc, cho việc suy nghĩ lại đời mình. Mà là thời gian ấy đã được tiêu mất vào những thứ không cần thiết đủ nhiều để tới lúc cần điều cốt lõi, họ chỉ còn lại phần mệt.

Phần tươi nhất của buổi sáng đi vào điện thoại.

Phần tỉnh nhất của tâm trí đi vào phản ứng với thông báo.

Phần mạnh nhất của sự chú ý đi vào nội dung rời rạc.

Phần đẹp nhất của năng lượng đi vào những việc không thật sự tạo ra giá trị sâu.

Đến khi ngồi cầu nguyện thì buồn ngủ.

Đến khi đọc sách thì đầu mệt.

Đến khi muốn nói chuyện tử tế với người thân thì không còn kiên nhẫn.

Đến khi muốn suy nghĩ nghiêm túc về tương lai thì lòng đã quá tán.

Nên họ bảo mình thiếu thời gian. Nhưng thật ra, họ đang thiếu trật tự trong việc dâng phần đầu mùa của ngày sống cho điều gì.

Điều này rất quan trọng trong đời sống thiêng liêng và đời sống người trẻ nói chung: cái gì được phần đầu thường sẽ định hình phần còn lại. Nếu phần đầu của ngày, của tâm trí, của sức lực, của chú ý, của ước muốn luôn được trao cho điều vụn, thì điều sâu sẽ phải sống bằng phần thừa. Mà điều sâu không thể lớn lên bằng phần thừa mãi được.

Chúa không thể luôn là phần cuối còn sót lại của một ngày.

Gia đình không thể chỉ nhận phiên bản kiệt quệ nhất của mình.

Ơn gọi không thể chỉ được nghĩ tới trong vài phút còn lại sau khi mọi thứ khác đã hút sạch sự chú ý.

Nội tâm không thể được chữa nếu người ta chỉ thỉnh thoảng nhớ rằng mình cũng có một linh hồn.

Nhiều người trẻ còn thiếu thời gian vì họ không biết nói không. Đây là một chỗ rất đau. Họ muốn làm vừa lòng. Muốn không bỏ lỡ. Muốn không bị quên. Muốn không bị xem là kém nhiệt thành. Muốn giữ nhiều cửa mở. Muốn nhận nhiều cơ hội. Muốn thử nhiều thứ. Muốn hiện diện nhiều nơi. Muốn ở với nhiều người. Muốn không phụ ai. Và dần dần, đời họ đầy lên bởi những “có” không được phân định.

Họ nói có với quá nhiều điều tốt vừa vừa, để rồi không còn sức cho điều tốt nhất.

Họ nhận thêm việc vì ngại từ chối.

Họ tiếp tục những cuộc trò chuyện không cần thiết vì sợ mất lòng.

Họ đồng ý tham gia quá nhiều vì không muốn bị xem là nguội.

Họ mở cửa cho quá nhiều kết nối vì sợ lỡ mất điều gì.

Nhưng một đời sống không có những lời từ chối đúng lúc sẽ rất nhanh chóng đánh mất linh hồn mình vào vô số mảnh vụn. Không ai có thể sống sâu với mọi thứ. Muốn có chiều sâu, phải có chọn lựa. Muốn có trật tự, phải có giới hạn. Muốn có thời gian cho điều cốt lõi, phải chấp nhận rằng có những điều dù không xấu, mình cũng không thể ôm.

Đây là một hình thức khổ chế rất quan trọng của người trẻ: khổ chế trong sự chú ý. Không để mọi thứ có quyền bước vào lòng mình. Không để mọi lời mời chen ngang lịch sống. Không để mọi cơn tò mò bẻ gãy tập trung. Không để mọi tiếng chuông làm mình phải phản ứng lập tức. Không để thời gian bị rút máu bởi những chuyện không đáng cho nó.

Người trẻ hôm nay không chỉ bị thiếu thời gian. Họ còn bị đánh cắp sự chú ý. Mà sự chú ý là một dạng của tình yêu. Cái gì có được sự chú ý sâu và bền của mình thì đang dần định hình mình. Nếu sự chú ý ấy liên tục bị lấy mất bởi những thứ rời rạc, thì rồi con người sẽ khó yêu điều gì bền, khó ở với điều gì lâu, khó đi hết một con đường tới nơi.

Chính vì thế, họ khó cầu nguyện. Không phải vì Chúa quá xa. Mà vì tâm trí họ đã được huấn luyện theo kiểu nhảy cảnh. Họ khó học sâu. Không phải vì kém thông minh. Mà vì nội tâm không còn sức bám lâu. Họ khó trung tín với ơn gọi. Không phải vì không có ơn gọi. Mà vì họ quen sống trong vô số hướng kéo cùng lúc.

Có một nỗi buồn nữa là nhiều người trẻ đang sống trong ảo tưởng năng suất. Họ thấy mình làm rất nhiều, rất nhanh, rất phản ứng kịp, rất cập nhật, rất linh hoạt. Nhưng sau tất cả, cái tạo nên đời họ không tăng bao nhiêu. Vì chiều sâu không sinh ra từ việc mình chạm được bao nhiêu thứ. Nó sinh ra từ việc mình dám ở lại với điều gì đủ lâu để nó đổi mình.

Một hạt giống không lớn lên vì được nhổ lên nhìn mỗi giờ.

Một mối tương quan không sâu vì được nhắn tin suốt ngày.

Một đời sống thiêng liêng không chín vì cứ chạy từ cảm xúc này sang cảm xúc khác.

Một nhân cách không vững vì biết quá nhiều thứ lẻ mà không sống đến nơi thứ nào.

Người trẻ muốn có mùa gặt, nhưng nhiều khi họ chưa cho hạt giống nào đủ thời gian ở trong đất.

Một lý do sâu xa hơn nữa khiến người trẻ thấy thiếu thời gian là vì họ không sống từ trung tâm, mà sống từ phản ứng. Ai gọi thì trả lời. Việc gì tới thì lo. Cái gì hiện lên thì xem. Điều gì kích thích thì đuổi theo. Họ không thật sự chọn nhịp sống của mình từ bên trong. Họ để nhịp sống bị viết bởi những gì lao vào mình từ bên ngoài. Và một đời sống bị dẫn bằng phản ứng sẽ luôn có cảm giác thiếu thời gian, vì mình không bao giờ đi trước. Mình luôn đi sau những gì đang dồn tới.

Người có trung tâm thì khác. Họ không nhất thiết ít việc hơn. Nhưng họ biết việc nào thuộc về sứ mạng của mình, việc nào chỉ là tiếng ồn. Họ biết ưu tiên nào phải giữ, cho dù có những thứ khác chen vào. Họ biết điều gì là phần đầu mùa phải dành cho Chúa, điều gì là bổn phận chính, điều gì có thể đợi, điều gì phải từ chối. Họ sống từ một trục, chứ không từ hàng loạt lực kéo.

Không phải lúc nào họ cũng làm được hoàn hảo. Nhưng ít nhất họ còn có một trục để quay về. Còn người sống không trục thì dù có nhiều cố gắng, vẫn sẽ thấy mình như bị cuốn.

Người trẻ cũng hay lầm giữa nghỉ ngơi và xả trôi. Nghỉ ngơi thật giúp con người trở lại nguyên vẹn hơn. Xả trôi thì chỉ làm người ta quên tạm rồi mệt hơn. Nhiều người bảo mình không có thời gian nghỉ, nhưng thật ra họ dành rất nhiều giờ cho những thứ không hồi phục được linh hồn. Lướt mãi. Xem mãi. Đổi ứng dụng liên tục. Tiêu thụ liên tục. Cười một chút, quên một chút, nhưng sau đó đầu nặng hơn, lòng rỗng hơn, thời gian mất nhiều hơn. Rồi họ lại thấy mình không còn thời gian cho điều quan trọng.

Đó là một kiểu nghèo rất lạ: nghèo không phải vì không có giờ, mà vì giờ của mình không còn được trao cho điều làm mình sống.

Có lẽ đây là chỗ người trẻ cần một cuộc hoán cải trong cách nhìn thời gian. Thời gian không chỉ là cái để lấp. Không chỉ là cái để chạy qua. Không chỉ là cái để tận dụng tối đa theo kiểu hiệu suất. Thời gian là nơi cuộc đời diễn ra. Là nơi mình dâng hiến. Là nơi mình trở nên ai đó. Là nơi mình hoặc để Chúa nắn, hoặc để vô số chuyện vặt xé ra. Mỗi ngày không chỉ là một lịch. Nó là một phần đời không quay lại.

Khi nhìn như vậy, người trẻ sẽ bắt đầu sống khác. Không phải làm ít đi ngay lập tức, nhưng chọn kỹ hơn. Bớt mở cửa cho những gì không đáng. Bớt phản ứng lập tức với mọi thứ. Dành phần đầu ngày cho điều cốt lõi hơn. Giữ vài khoảng thinh lặng không bị nuốt. Làm một việc tới nơi thay vì mười việc nửa chừng. Cầu nguyện như người biết mình không thể sống sâu nếu không trở lại nguồn. Ở với gia đình như người biết sự hiện diện thật quý hơn số giờ cùng ở một nơi. Làm việc như người có sứ mạng, không như người bị đời đuổi.

Người trẻ thân mến, nếu bạn cứ luôn thấy mình thiếu thời gian, xin đừng chỉ hỏi: làm sao để có thêm giờ? Hãy hỏi sâu hơn: lòng mình đang bị chia nhỏ cho những gì? Cái gì đang rút máu sự chú ý của mình? Mình có đang trao phần tốt nhất cho điều tốt nhất không? Mình có đang sống từ trung tâm hay chỉ đang phản ứng? Mình có đang ôm quá nhiều vì sợ bỏ lỡ, trong khi điều mình thật sự bỏ lỡ lại là chiều sâu của chính đời mình không?

Bởi vì bi kịch của tuổi trẻ không chỉ là bận. Bi kịch còn là sống nhiều mà không sâu. Là chạm nhiều mà không ở lại. Là làm nhiều mà không thành hình. Là có cả một ngày nhưng cuối cùng không thật sự hiện diện trong ngày đó.

Có thể hôm nay Chúa không đòi bạn thay toàn bộ lịch sống. Có thể Người chỉ mời bạn bắt đầu gom lại. Gom sự chú ý. Gom trái tim. Gom thời gian. Gom những mảnh vỡ. Gom ngày sống quanh vài điều cốt lõi: Chúa, bổn phận chính, những tương quan chính, sự thật của đời mình. Từ đó, những thứ khác sẽ dần tìm được chỗ đúng.

Không ai có thể sống một cuộc đời lớn nếu linh hồn mình cứ mãi sống như đống vụn.

Không ai có thể nghe tiếng Chúa rõ nếu bên trong có quá nhiều tiếng chen nhau.

Không ai có thể đi đến nơi nếu cứ vừa đi vừa chia mình cho mười hướng.

Cho nên, thiếu thời gian không phải lúc nào cũng được chữa bằng việc có thêm thời gian. Nhiều khi nó được chữa bằng việc có lại một trái tim không bị chia quá mức.

Lạy Chúa, con vẫn hay nói rằng con thiếu thời gian. Và có lẽ điều đó đúng một phần. Nhưng hôm nay xin cho con can đảm nhìn sâu hơn để thấy có khi lòng con mới là điều đang bị thiếu nhất: thiếu trật tự, thiếu hội tụ, thiếu trung tâm, thiếu khả năng ở lại. Con để mình bị chia nhỏ cho quá nhiều thứ, nên đến cuối ngày, điều gì cũng chạm một chút mà chẳng điều gì đủ sâu để nuôi con. Xin cứu con khỏi lối sống tan vụn ấy. Xin dạy con biết chọn. Biết từ chối. Biết đặt điều cốt yếu ở đầu. Biết giữ phần đẹp nhất của ngày cho những gì thật sự đáng. Xin gom lại những gì trong con đang bị xé nhỏ. Xin dạy con sống từng giờ như người biết đó là nơi đời mình đang thành hình trước mặt Ngài. Và xin cho con đừng chỉ có một lịch đầy, nhưng có một linh hồn sâu.

 

 

CHƯƠNG 18

VÌ SAO NHIỀU NGƯỜI TRẺ LUÔN MUỐN “TỰ DO”, NHƯNG LẠI KHÔNG NHẬN RA RẰNG MÌNH ĐANG NGÀY CÀNG LỆ THUỘC VÀO CẢM XÚC, ĐIỆN THOẠI, SỰ CÔNG NHẬN, CÁC MỐI QUAN HỆ, VÀ NHỮNG THÓI QUEN ĐANG ĐIỀU KHIỂN MÌNH TỪ BÊN TRONG

Có lẽ một trong những chữ được người trẻ yêu nhất hôm nay là chữ tự do.

Ai cũng muốn tự do.

Tự do để sống theo điều mình thấy đúng.

Tự do để không bị ép.

Tự do để không bị kiểm soát.

Tự do để được là chính mình.

Tự do để chọn điều mình muốn.

Tự do để không bị ràng buộc vào những khuôn cứng.

Khát vọng ấy không sai.

Thậm chí rất đẹp.

Bởi vì con người thật sự được dựng nên cho tự do.

Thiên Chúa không tạo dựng con người như những cái máy biết vâng lời một cách vô thức. Người dựng nên họ có trí khôn, có ý chí, có khả năng đáp lại tình yêu bằng sự tự nguyện. Tự do là phẩm giá rất lớn. Nhưng chính vì nó lớn, nên nó cũng rất dễ bị hiểu sai.

Nhiều người trẻ nghĩ tự do là được làm điều mình muốn.

Muốn ngủ lúc nào thì ngủ.

Muốn trả lời khi nào thì trả lời.

Muốn yêu ai thì yêu.

Muốn bỏ thì bỏ.

Muốn xem gì thì xem.

Muốn nói gì thì nói.

Muốn gần ai thì gần.

Muốn giữ hay cắt điều gì là quyền của mình.

Muốn sống theo cảm xúc nào cũng được, miễn là mình thấy thật.

Nghe qua có vẻ rất phóng khoáng.

Nhưng sự thật không đơn giản như vậy.

Bởi vì nếu tự do chỉ là làm điều mình muốn, thì bất cứ thứ gì khiến mình “muốn” thật mạnh đều có thể trở thành ông chủ của mình. Và lúc đó, người ta không còn tự do nữa. Người ta chỉ đang bị điều khiển bởi điều mình tưởng là “ý mình”.

Một người không thể không chạm vào điện thoại mỗi vài phút thì chưa tự do.

Một người không chịu nổi việc bị người khác hiểu lầm nên phải liên tục giải thích, chứng minh, giữ hình ảnh, thì chưa tự do.

Một người không thể ở một mình mà không lập tức phải tìm ai đó, tìm gì đó, mở gì đó, thì chưa tự do.

Một người cứ buồn là phải xả bằng tiêu dùng, bằng giải trí, bằng nội dung, bằng một cuộc trò chuyện mập mờ, bằng một cơn ăn uống vô thức, bằng một thứ gì đó làm mình quên nhanh, thì chưa tự do.

Một người nói mình yêu nhưng thật ra không rời nổi một mối quan hệ đang bào mòn mình, chỉ vì sợ cô đơn, thì chưa tự do.

Một người cứ bị kéo lên kéo xuống theo từng lời khen chê, từng phản hồi, từng lượt thích, từng ánh nhìn, thì chưa tự do.

Nói cách khác, rất nhiều người trẻ hôm nay đang nhân danh tự do để sống trong lệ thuộc mà không nhận ra.

Đây là điều rất đáng sợ.

Bởi vì con người không chỉ bị xích bằng những sợi dây thô.

Họ còn bị xích bằng những sợi dây mềm, êm, đẹp, hợp thời, rất giống lựa chọn cá nhân, nhưng thực chất đang điều khiển họ từ bên trong.

Có những xiềng xích không làm đau ngay.

Nó chỉ làm con người ngày càng khó sống thiếu điều đang trói mình.

Và khi đã khó sống thiếu, người ta thường gọi đó là nhu cầu.

Trong khi nhiều khi, đó là lệ thuộc.

Người trẻ hôm nay rất dễ lệ thuộc vào cảm xúc.

Thích thì làm.

Không thích thì thôi.

Còn hứng thì tiếp tục.

Hết hứng thì bỏ.

Vui thì gần Chúa.

Khô thì nghỉ cầu nguyện.

Thấy ai đó dễ thương thì gọi là duyên trời.

Không còn rung động thì nghĩ chắc không hợp nữa.

Cảm xúc trở thành tiêu chuẩn quyết định điều gì đáng tiếp tục, điều gì không.

Nhưng cảm xúc vốn không được dựng nên để làm vua. Nó có giá trị, nhưng không có quyền tối hậu. Nó là người báo tin, không phải người cầm lái. Người nào để cảm xúc ngồi lên ngai sẽ sống rất mong manh. Hôm nay muốn điều này, mai muốn điều khác. Hôm nay thấy đúng, mai lại thấy chán. Hôm nay quyết tâm, mai lại mềm. Một đời như thế nhìn có vẻ “sống thật với mình”, nhưng thật ra đang sống rất lệ thuộc vào những chuyển động nhất thời.

Tự do thật không phải là làm theo mọi cảm xúc mình có.

Tự do thật là có khả năng lắng nghe cảm xúc, hiểu nó, đặt nó vào ánh sáng sự thật, rồi quyết định theo điều đúng hơn là theo điều đang mạnh hơn.

Người trẻ cũng đang lệ thuộc vào điện thoại theo những cách rất khó gọi tên.

Không chỉ là dùng nhiều.

Mà là không còn chịu nổi khi không có nó.

Ngồi chờ vài phút cũng phải mở.

Đi đâu một đoạn cũng phải xem.

Đầu vừa trống là tay tự tìm tới màn hình.

Buồn mở.

Chán mở.

Mệt mở.

Vui mở.

Rảnh mở.

Căng mở.

Muốn tránh một cuộc trò chuyện thật cũng mở.

Muốn khỏi phải ngồi với chính mình cũng mở.

Điện thoại không chỉ còn là công cụ nữa. Nó trở thành phản xạ xoa dịu, phản xạ lấp khoảng trống, phản xạ chạy trốn.

Điều này nguy hơn người ta tưởng.

Vì cái gì thành phản xạ cho mọi cơn khó chịu thì đang dần thay thế những con đường lành hơn để con người xử lý nội tâm mình. Thay vì cầu nguyện, mở điện thoại. Thay vì đi bộ cho đầu nhẹ, mở điện thoại. Thay vì ngồi yên với nỗi buồn và đem nó đến với Chúa, mở điện thoại. Thay vì suy nghĩ sâu hơn một chút, mở điện thoại. Dần dần, người trẻ mất khả năng ở lại với chính mình. Mất khả năng chịu đựng một chút trống mà không phải lấp ngay. Mất khả năng phân định những gì đang diễn ra trong lòng.

Và như thế, họ tưởng mình tự do vì có thể tiếp cận mọi thứ. Nhưng thật ra, họ đang bị điều khiển bởi chính công cụ mình cầm trên tay.

Còn có một lệ thuộc khác còn kín hơn: lệ thuộc vào sự công nhận.

Đây là một sợi dây rất mảnh nhưng rất bền.

Người trẻ có thể nói rằng họ sống cho mình, nhưng chỉ cần bị chê một câu là lòng chao. Chỉ cần không được ghi nhận là buồn. Chỉ cần bị bỏ quên là thấy hụt. Chỉ cần ai đó không nhìn nhận công sức của mình là lòng cay. Chỉ cần có ai thành công hơn là bắt đầu thấy mình nhỏ lại. Điều đó cho thấy cái tôi vẫn đang treo ở ngoài mình.

Một người lệ thuộc vào công nhận sẽ luôn sống trong căng thẳng.

Làm mà phải nhìn xem người ta có thấy không.

Phục vụ mà phải chờ người ta nhắc không.

Sống mà phải xem mình có đủ thú vị để không bị quên không.

Đăng cái gì cũng phần nào chờ phản ứng.

Nói điều gì cũng phần nào ngóng được hiểu.

Giúp ai đó cũng có lúc thầm mong được biết ơn.

Nếu không, lòng bắt đầu hụt, bắt đầu giận, bắt đầu thấy mình như bị thiệt.

Không phải người đó xấu.

Chỉ là họ đang quá đói được xác nhận.

Mà càng đói như thế, càng dễ bị điều khiển.

Chỉ cần người khác khen, mình sẽ nghiêng về phía họ hơn.

Chỉ cần người khác chê, mình có thể đổi thái độ với chính mình.

Chỉ cần ai đó cho mình cảm giác được quý, được chọn, được nhớ, là họ đã có một quyền lực nào đó trên lòng mình.

Đó không còn là tự do.

Đó là sống bằng dây điều khiển đặt trong tay thiên hạ.

Người trẻ cũng rất dễ lệ thuộc vào các mối quan hệ.

Không phải chỉ trong tình yêu đôi lứa.

Cả trong tình bạn.

Cả trong cộng đoàn.

Cả trong nhóm làm việc.

Cả trong những kết nối rất thường ngày.

Họ cần ai đó trả lời để thấy yên.

Cần ai đó nhắn lại để thấy mình còn đáng giá.

Cần được cập nhật để không thấy mình bị ra rìa.

Cần có mặt trong mọi cuộc để không thấy mình bị bỏ rơi.

Cần giữ liên lạc mãi, ngay cả những liên lạc không còn lành, chỉ vì sợ cắt xong sẽ trống.

Càng như vậy, họ càng khó đưa ra quyết định tự do. Họ không còn chọn dựa trên điều gì là đúng, mà dựa trên điều gì giúp mình đỡ sợ hơn. Không còn hỏi điều gì tốt cho linh hồn, mà hỏi điều gì giúp mình không bị bỏ lại. Thế là họ giữ những quan hệ mập mờ, tiếp tục những mối dây cũ, ở lại trong những nhóm không còn lành, chỉ vì không dám bước ra khoảng trống.

Nhưng khoảng trống, dù đáng sợ, nhiều khi lại là nơi Chúa cần để làm việc.

Còn người sợ trống quá mức sẽ luôn chấp nhận nhiều sự ràng buộc chỉ để không thấy mình một mình.

Đó cũng là một dạng lệ thuộc.

Có những người trẻ còn lệ thuộc vào thói quen sống dễ.

Nghe có vẻ nhẹ, nhưng không nhẹ chút nào.

Họ lệ thuộc vào việc ngủ thêm.

Lệ thuộc vào việc để mai làm.

Lệ thuộc vào cảm giác phải thấy thoải mái mới bắt đầu.

Lệ thuộc vào việc cứ để bản thân được chiều ngay.

Không phải họ không biết điều đúng. Nhưng thân xác, nếp sống, tâm trí của họ đã được huấn luyện quá lâu theo hướng: hễ không thích thì né, hễ nặng thì dời, hễ khó thì thôi, hễ muốn ngay thì phải có.

Một người như thế nhìn bên ngoài có vẻ rất “tự nhiên”, rất “sống thật”, rất “không gồng ép”. Nhưng thật ra, họ đang bị chính phần thấp trong mình kéo đi. Không điều gì làm chủ được bản thân nhiều bằng việc không làm chủ được những đòi hỏi nhỏ nhất của bản thân.

Nếu không thắng được cái muốn ngủ thêm năm phút, làm sao dám nghĩ mình sẽ thắng được những cám dỗ lớn?

Nếu không thể đặt điện thoại xuống khi cần, làm sao dám nói mình tự do trước những hấp lực mạnh hơn?

Nếu không thể giữ một lời hứa nhỏ với chính mình, làm sao dám nghĩ mình sẽ trung tín với một lời khấn, một hôn ước, một sứ mạng lớn?

Chính ở đây, người trẻ phải học một điều rất quan trọng: tự do không đối nghịch với kỷ luật. Kỷ luật là con đường của tự do.

Nghe thì nghịch lý, nhưng rất thật.

Người không kỷ luật với giờ giấc thì bị giờ giấc kéo lê.

Người không kỷ luật với thân xác thì bị thân xác cầm đầu.

Người không kỷ luật với sự chú ý thì bị màn hình và tiếng ồn xé nhỏ.

Người không kỷ luật với cảm xúc thì bị từng cơn vui buồn làm nghiêng ngả.

Người không kỷ luật với các mối quan hệ thì bị người khác định nghĩa tâm trạng của mình.

Kỷ luật không phải là kẻ thù của tự do. Kỷ luật là cách con người lấy lại quyền chủ động trên những gì đang âm thầm chi phối mình.

Nhiều người trẻ sợ kỷ luật vì nghĩ nó làm mình mất tự nhiên. Nhưng có lẽ điều họ gọi là tự nhiên nhiều khi chỉ là “thói quen bị thương” đang được sống theo bản năng. Chúa không muốn người trẻ thành máy. Nhưng Người cũng không muốn họ sống như người bị kéo bởi mọi lực bên trong mà không có khả năng phân định và chọn lựa.

Có một lệ thuộc rất nguy nữa: lệ thuộc vào việc phải thấy mình tiến bộ, phải thấy kết quả, phải thấy mình đang “ra gì đó”. Người trẻ có thể áp dụng cả tinh thần thành tích vào đời sống thiêng liêng. Họ cầu nguyện mà ngầm muốn thấy mình sốt sắng hơn. Họ cố gắng mà ngầm muốn thấy mình thánh hơn. Họ sửa mình mà ngầm muốn chóng bớt yếu hơn. Rồi khi không thấy như thế, họ chán, họ bỏ, họ kết luận rằng mình không hợp đường này.

Thật ra đó cũng là lệ thuộc.

Lệ thuộc vào việc kiểm soát cảm nhận về bản thân.

Lệ thuộc vào việc mình phải liên tục đo được tiến trình.

Lệ thuộc vào việc không chịu nổi sự nghèo, sự chậm, sự chưa hoàn thiện của hành trình.

Trong khi tự do thật còn là tự do để lớn lên chậm.

Tự do để yếu mà không tuyệt vọng.

Tự do để tiếp tục điều đúng dù chưa thấy kết quả rõ.

Tự do để ở lại với Chúa không vì mình đang “thấy tốt”, mà vì mình biết Người là Đấng đáng ở cùng.

Cũng phải nói rằng lệ thuộc không luôn làm người ta khó chịu ngay. Nhiều lệ thuộc cho cảm giác dễ chịu lúc đầu. Nó giống như một chiếc ghế mềm. Ngồi vào thấy nhẹ. Dựa vào thấy êm. Nhưng lâu dần, nó lấy mất xương sống. Người ta mất khả năng đứng trên đôi chân mình trong Chúa. Mất khả năng chịu đựng một chút thiếu, một chút đói, một chút trống, một chút buồn mà không phải chạy đi tìm cái gì đó để lấp. Và ai không chịu được một chút thiếu thì sẽ dễ bán tự do của mình cho thứ hứa lấp đầy nhanh nhất.

Trong đời sống thiêng liêng, điều này cực kỳ quan trọng.

Bởi vì Chúa không phải lúc nào cũng đến bằng kiểu làm đầy tức thì.

Nhiều khi Người đến bằng một sự hiện diện rất kín.

Một sự nghèo.

Một đòi hỏi đức tin.

Một lời mời ở lại trong khô.

Một khoảng thinh lặng không được lấp ngay.

Nếu người trẻ không có khả năng chịu được chút trống, chút chờ, chút đói, chút thiếu, thì họ rất khó bước sâu với Chúa. Vì họ sẽ chạy về những thứ khác nhanh hơn chạy về với Người.

Vậy làm sao để người trẻ nhận ra mình đang lệ thuộc?

Hãy nhìn điều gì làm mình hoảng khi bị lấy đi.

Điều gì làm mình bứt rứt nếu không có vài giờ.

Điều gì mình phải quay lại liên tục dù biết nó đang hút mình.

Điều gì đang âm thầm quyết định tâm trạng cả ngày của mình.

Điều gì mình vẫn gọi là “em kiểm soát được mà”, nhưng thật ra lâu rồi không thử sống thiếu nó.

Điều gì mình luôn biện hộ, luôn giảm nhẹ, luôn xem là “có gì đâu”, trong khi nó đang có quyền rất lớn trên nếp sống mình.

Đó thường là chỗ lệ thuộc đang nằm.

Có thể là điện thoại.

Có thể là một người.

Có thể là thói quen cần được nhìn nhận.

Có thể là việc không được phép thất bại.

Có thể là nội dung kích thích.

Có thể là việc sống theo hứng.

Có thể là cảm giác phải luôn kết nối.

Có thể là những giờ vô định nhưng không bỏ được.

Nhận ra điều đó đau.

Vì không ai thích thấy mình không tự do như mình tưởng.

Nhưng đau ấy là đau cần thiết.

Vì chỉ điều được gọi tên mới có thể được chữa.

Và điều bị bóc ra ánh sáng thì bắt đầu mất bớt quyền lực.

Người trẻ rất cần học lại tự do theo Tin Mừng.

Tự do không phải là không ai nói gì với mình.

Cũng không phải là không có luật nào chạm tới mình.

Không phải là luôn để ngỏ mọi cửa.

Không phải là muốn gì sống nấy.

Tự do theo Tin Mừng là năng lực thuộc về điều thiện dù điều ác hấp dẫn.

Là khả năng chọn điều đúng dù cảm xúc đang nghiêng về điều khác.

Là khả năng yêu mà không chiếm hữu.

Là khả năng từ chối cái đang lôi kéo mình xuống.

Là khả năng không bán phẩm giá cho sự dễ chịu.

Là khả năng không giao tâm hồn mình cho điện thoại, đám đông, người yêu, sự nổi bật, cơn ham muốn, hay nỗi sợ.

Là khả năng nói với Chúa: con thuộc về Ngài hơn là thuộc về những gì đang kéo con.

Để có tự do ấy, người trẻ phải chấp nhận một cuộc chiến.

Phải tập dừng.

Tập đặt xuống.

Tập ngồi yên mà không mở gì.

Tập không phản ứng ngay.

Tập để điện thoại ngoài tầm tay một lúc.

Tập giữ giờ cầu nguyện dù lòng không thích.

Tập nói không với vài mối dây khiến mình yếu.

Tập để một số khoảng trống không bị lấp.

Tập không đi tìm công nhận ở mọi nơi.

Tập ở một mình trước mặt Chúa mà không hoảng.

Tập không để cảm xúc làm vua.

Nghe có vẻ nhỏ.

Nhưng chính những điều đó là trường học của tự do.

Không ai tự nhiên thành người tự do.

Người ta trở nên tự do bằng vô số lần chọn điều cao hơn điều dễ, điều thật hơn điều hấp dẫn, điều có Chúa hơn điều làm mình khoái ngay.

Người trẻ thân mến, bạn khao khát tự do là đúng. Nhưng xin đừng bằng lòng với một thứ tự do giả, nơi bạn được làm điều mình muốn trong khi thật ra chính những cái muốn ấy đang trói bạn. Xin đừng để cả đời mình chạy theo cảm giác “được là chính mình” mà không bao giờ hỏi xem cái “mình” ấy đang được dẫn dắt bởi ánh sáng hay bởi lệ thuộc. Xin đừng lầm tưởng rằng bớt kỷ luật hơn là tự do hơn. Có khi chính vì quá ít kỷ luật nên bạn đang ngày càng ít tự do.

Tự do thật bao giờ cũng làm con người nhẹ hơn, trong hơn, đứng thẳng hơn.

Nó không làm bạn hoảng khi thiếu thứ gì đó.

Không làm bạn tan theo một ánh nhìn.

Không làm bạn sống chỉ để được xác nhận.

Không làm bạn không chịu nổi thinh lặng.

Không làm bạn thành nô lệ cho từng cơn thôi thúc bên trong.

Nó làm bạn thành người con.

Một người con có thể yêu mà không dính.

Có thể làm việc mà không nghiện hữu ích.

Có thể dùng công cụ mà không bị công cụ nuốt.

Có thể có cảm xúc mà không bị cảm xúc thống trị.

Có thể bị cám dỗ mà không phải cúi đầu.

Có thể sống giữa thế giới đầy lực kéo mà lòng vẫn thuộc về Chúa.

Lạy Chúa, con vẫn nghĩ mình muốn tự do. Nhưng xin cho con can đảm nhìn thật để thấy có khi con đang bị điều khiển bởi rất nhiều thứ từ bên trong. Con bị cảm xúc kéo. Bị điện thoại kéo. Bị sự công nhận kéo. Bị nỗi sợ bị bỏ quên kéo. Bị những thói quen dễ dãi kéo. Có những điều con vẫn nghĩ là quyền của con, nhưng thật ra chúng đang có quyền trên con. Xin cho con đừng sợ sự thật ấy. Xin cho con thấy rõ đâu là những dây trói mềm đang làm con mất dần khả năng thuộc trọn về Ngài. Xin dạy con đi vào con đường tự do thật, dù con đường ấy đòi kỷ luật, đòi từ bỏ, đòi chiến đấu. Xin cho con biết đặt xuống điều gì phải đặt xuống, cắt điều gì phải cắt, và giữ điều gì phải giữ để linh hồn con không bị chia chủ nữa. Xin làm cho con thành người tự do theo cách của Tin Mừng: tự do để yêu điều thiện, tự do để thuộc về Chúa, tự do để không bị bất cứ điều gì thấp hơn tình yêu của Ngài làm chủ.

 

 

CHƯƠNG 19

VÌ SAO NHIỀU NGƯỜI TRẺ RẤT SỢ MẤT, SỢ THIẾU, SỢ BỊ BỎ LẠI, SỢ THUA NGƯỜI KHÁC, NÊN CỨ ÔM QUÁ CHẶT MỌI THỨ, TRONG KHI CHÍNH SỰ BÁM CHẶT ẤY LẠI LÀM HỌ KHÔNG THỂ BÌNH AN VÀ KHÔNG THỂ PHÓ THÁC ĐỜI MÌNH CHO THIÊN CHÚA

Có một nỗi sợ âm thầm đi cùng rất nhiều người trẻ hôm nay: sợ mất.

Sợ mất cơ hội.

Sợ mất người mình thương.

Sợ mất vị trí.

Sợ mất hình ảnh.

Sợ mất tương lai mình đã vẽ.

Sợ mất nhịp với bạn bè đồng trang lứa.

Sợ mất một điều gì đó mà người khác đang có còn mình thì chưa.

Sợ mất chỗ đứng trong lòng ai đó.

Sợ mất cảm giác được cần.

Sợ mất những gì mình đã đổ bao công sức mới gây dựng được.

Sợ đến mức nhiều người không còn sống nữa, mà chỉ còn giữ.

Giữ người.

Giữ việc.

Giữ hình ảnh.

Giữ kế hoạch.

Giữ cảm xúc.

Giữ các phương án an toàn.

Giữ những cánh cửa lui.

Giữ những gì làm mình thấy đỡ hoang mang.

Và lạ lùng thay, càng giữ, lòng càng không yên.

Càng ôm, càng sợ rơi.

Càng bám, càng lo mất.

Càng cố kiểm soát, càng mệt.

Bởi vì có một sự thật rất sâu: điều gì ta ôm quá chặt thường sẽ bắt đầu ôm ngược lại ta. Nó không còn là thứ mình đang giữ. Nó trở thành thứ đang giữ mình. Giữ mình trong sợ hãi. Trong căng thẳng. Trong ám ảnh. Trong một đời sống lúc nào cũng phải canh chừng, lúc nào cũng phải nghĩ trước, lúc nào cũng phải lo bảo toàn.

Đây là chỗ nhiều người trẻ đang kiệt.

Không phải chỉ vì họ thiếu.

Mà vì họ sợ thiếu quá mức.

Không phải chỉ vì họ đang mất.

Mà vì họ sống như người lúc nào cũng sắp mất.

Không phải chỉ vì họ bị bỏ lại.

Mà vì họ mang trong lòng một nỗi hoảng rằng nếu mình không bám thật chặt, cả đời mình sẽ tuột khỏi tay.

Nỗi sợ ấy làm họ sống co cứng.

Không còn tự do yêu nữa.

Không còn tự do cho đi nữa.

Không còn tự do tin nữa.

Không còn tự do phó thác nữa.

Bởi vì phó thác luôn đòi một điều rất khó: mở tay ra.

Mà người sợ mất thì rất khó mở tay.

Họ sợ nếu mở ra, điều mình yêu sẽ rơi.

Nếu buông ra, ai đó sẽ đi.

Nếu không kiểm soát, mọi thứ sẽ hỏng.

Nếu không giữ chặt, mình sẽ bị vượt.

Nếu không ôm lấy bằng mọi giá, mình sẽ trở thành kẻ thua cuộc.

Đây là một kiểu sống rất mệt.

Và cũng rất phổ biến.

Có những người trẻ giữ một mối quan hệ không lành mạnh rất lâu, không phải vì họ không thấy nó làm mình mệt, mà vì họ sợ mất cảm giác mình vẫn còn có ai đó. Có những người giữ một công việc làm mình cạn khô, không phải vì đó là nơi Chúa muốn mình ở, mà vì họ sợ nếu rời ra, mình sẽ chẳng còn gì chắc chắn. Có những người giữ một hình ảnh đẹp về bản thân như giữ một mạng sống, vì họ nghĩ nếu người ta thôi nhìn mình như thế, mình sẽ nhỏ đi ngay lập tức. Có những người giữ một kế hoạch đến mức không còn chỗ cho Chúa sửa nó nữa, vì họ quá sợ nếu kế hoạch ấy đổ, mình sẽ không biết sống để làm gì.

Nỗi sợ mất thường không đến một mình. Nó đi cùng với nỗi sợ thiếu.

Thiếu tiền.

Thiếu cơ hội.

Thiếu tình yêu.

Thiếu chỗ dựa.

Thiếu người hiểu mình.

Thiếu chỗ đứng.

Thiếu một tương lai đủ đẹp.

Thiếu cái mà người khác có.

Và vì sợ thiếu, người trẻ bắt đầu gom.

Gom thành tích.

Gom kết nối.

Gom lựa chọn.

Gom sự chú ý của người khác.

Gom đồ đạc.

Gom trải nghiệm.

Gom cả những mối quan hệ không thật sự lành, chỉ vì “biết đâu sau này cần”.

Cả đời họ thành một cuộc tích trữ vô hình. Không chỉ tích trữ vật chất, mà còn tích trữ cảm giác an toàn. Nhưng cảm giác an toàn được tích bằng cách bám vào quá nhiều thứ không bao giờ trở thành bình an thật. Nó chỉ tạo nên một lớp yên tâm mong manh, bên dưới vẫn là run.

Có lẽ điều đau nhất là người trẻ nhiều khi không nhận ra mình đang sống từ nỗi sợ. Họ nghĩ mình đang có trách nhiệm. Đang biết lo xa. Đang thực tế. Đang khôn ngoan. Và đúng, đôi khi trong đó có phần trách nhiệm thật. Nhưng nếu nhìn sâu hơn, sẽ thấy có khi không ít chọn lựa đang được viết bởi nỗi hoảng hơn là bởi đức tin.

Họ không yêu từ tự do, mà từ sợ cô đơn.

Họ không làm việc từ ơn gọi, mà từ sợ thua người khác.

Họ không giữ gìn vì trân trọng, mà vì hoảng sợ mất.

Họ không tiết kiệm vì khôn ngoan, mà vì bị ám ảnh thiếu thốn.

Họ không cố gắng vì muốn lớn lên, mà vì sợ bị xem thường.

Một đời sống như thế, nhìn ngoài có thể rất chặt chẽ. Nhưng bên trong luôn căng.

Bởi vì nỗi sợ không bao giờ biết đủ.

Hôm nay sợ mất cái này.

Mai lại sợ mất cái khác.

Hôm nay sợ chậm hơn người ta.

Mai sợ không giữ nổi thứ vừa mới có.

Nỗi sợ luôn tìm được một lý do mới để tiếp tục cai trị.

Người trẻ sợ bị bỏ lại cũng vì họ sống quá nhiều bằng so sánh.

Thấy người khác có việc tốt hơn.

Có người yêu trước hơn.

Có tiền hơn.

Có định hướng rõ hơn.

Có gia đình đẹp hơn.

Có vẻ bình an hơn.

Có vẻ tài hơn.

Và lòng họ bắt đầu nóng.

Không phải một cái nóng đẹp của ước muốn lớn lên.

Mà là cái nóng hoảng của người sợ mình đang trễ chuyến tàu cuộc đời.

Từ đó, họ ôm mọi thứ chặt hơn. Không dám rời một hướng dù lòng không yên. Không dám chậm lại để cầu nguyện cho tử tế. Không dám dừng để hỏi mình thật sự được gọi làm gì. Không dám buông một mối quan hệ sai. Không dám từ chối một nhịp sống lệch. Bởi vì họ sợ chỉ cần chậm một chút thôi là người khác đã đi xa quá rồi.

Nhưng sự thật là một người có thể chạy rất nhanh mà vẫn đang đi sai đường. Và một người có thể đi chậm hơn nhưng đang đi đúng hướng thì vẫn còn hy vọng hơn nhiều. Nỗi sợ bị bỏ lại làm người trẻ quên mất điều đó. Họ chỉ nhìn tốc độ, không nhìn hướng. Chỉ nhìn vị trí tương đối với người khác, không nhìn căn tính tương quan với Thiên Chúa. Chỉ nhìn xem mình đứng đâu trên một cuộc đua tưởng tượng, mà quên hỏi xem Chúa có thật sự gọi mình chạy cuộc đua đó không.

Có những người trẻ ôm quá chặt vì sâu trong họ có một ký ức thiếu thốn. Có thể là thiếu tình thương, thiếu an toàn, thiếu sự công nhận, thiếu ổn định, thiếu một gia đình đủ bình an để lớn lên. Nên bây giờ, khi có được điều gì đó, họ rất khó buông lỏng. Họ không chỉ giữ bằng tay. Họ giữ bằng cả nỗi sợ cũ. Sợ điều quý sẽ bị lấy đi như đã từng. Sợ mình lại phải nếm cảm giác hụt, trống, lẻ loi. Và vì thế, họ không còn biết cách nhận một quà tặng như quà tặng nữa. Họ biến nó thành vật phải giữ bằng mọi giá.

Một mối quan hệ đáng lẽ là nơi tự do yêu thương, thì thành nơi kiểm soát và canh chừng.

Một cơ hội nghề nghiệp đáng lẽ là nơi phục vụ và phát triển, thì thành chỗ để khóa căn tính mình vào.

Một thành công đáng lẽ là dịp tạ ơn, thì thành thứ phải bảo vệ như mạng sống.

Một người từng thiếu rất dễ biến điều mình có được hôm nay thành thần tượng. Không phải vì họ xấu. Mà vì họ sợ trở về cái thiếu cũ. Nhưng chính lúc đó, thứ họ đang giữ bắt đầu có quyền quá lớn trên đời họ.

Đây là chỗ cần ánh sáng Tin Mừng.

Bởi vì Tin Mừng không bảo người trẻ phải dửng dưng với mọi sự. Không phải sống như người không yêu gì, không quý gì, không đau khi mất gì. Không. Tin Mừng không giết tình cảm. Tin Mừng thanh luyện cách con người giữ và yêu.

Yêu mà không chiếm.

Quý mà không thần tượng.

Có mà không bị cái đang có định nghĩa mình.

Nhận mà không bấu.

Dấn thân mà không kiểm soát như thể mọi sự đều sống còn.

Đó mới là tự do của người con Chúa.

Nhưng muốn đi tới đó, người trẻ phải chạm vào gốc sâu của nỗi sợ: mình chưa thật sự tin rằng nếu mất một điều nào đó, đời mình vẫn không rơi khỏi tay Chúa.

Đây là điều rất căn bản.

Ai tin rằng mạng sống mình, tương lai mình, căn tính mình nằm trong tay Chúa thì sẽ đau khi mất, nhưng không tuyệt vọng như người nghĩ rằng tất cả ý nghĩa đời mình nằm trong thứ vừa rơi khỏi tay. Còn ai đặt quá nhiều đời mình vào một người, một kế hoạch, một cơ hội, một hình ảnh, thì khi nó lung lay, cả họ cũng lung lay.

Nên vấn đề không chỉ là mất cái gì.

Vấn đề là trước khi mất, mình đã trao cho cái đó bao nhiêu quyền trên linh hồn mình.

Có khi điều Chúa muốn chữa nơi người trẻ không phải chỉ là nỗi buồn vì mất, mà là sự lệ thuộc sâu khiến họ không thể tưởng tượng nổi mình còn sống được nếu thiếu điều đó. Có khi điều Chúa muốn cắt không phải chỉ là cái đang cầm trong tay họ, mà là kiểu bấu khiến tay họ không còn mở ra được với Người nữa.

Phó thác không thể lớn lên trong một bàn tay luôn co cứng.

Phó thác cần lòng tin.

Nhưng lòng tin ấy không phải tự nhiên có. Nó thường được sinh ra qua những lần mất mà không chết, qua những lần hụt mà vẫn được Chúa giữ, qua những lần điều mình tưởng là tận cùng hóa ra chỉ là cánh cửa cho một điều sâu hơn. Người trẻ rất sợ những kinh nghiệm ấy. Nhưng chính chúng nhiều khi dạy họ điều không cách nào học được bằng lý thuyết: Chúa đủ.

Chúa đủ khi người khác không còn ở đó.

Chúa đủ khi kế hoạch đẹp bị dời lại.

Chúa đủ khi mình không có những gì đám đông cho là phải có mới hạnh phúc.

Chúa đủ khi mình đi một con đường ít hào nhoáng hơn nhưng thật hơn.

Chúa đủ khi mọi điểm tựa tự tạo rung lên.

Ai chạm được vào chữ “đủ” ấy sẽ bớt bấu hơn. Không phải vì họ hết yêu đời. Mà vì đời không còn là cứu cánh tuyệt đối nữa.

Người trẻ sợ thua người khác cũng làm họ ôm chặt mọi thứ. Họ không còn sống từ ơn gọi riêng, mà từ cuộc đua tưởng tượng với những người xung quanh. Mà đã là cuộc đua tưởng tượng thì không bao giờ kết thúc. Luôn có ai đó nhanh hơn. Giàu hơn. Được nhớ hơn. Ổn hơn. Được yêu hơn. Và vì thế, người trẻ cứ phải gồng mình giữ mọi thứ như một vận động viên sợ nếu chùng xuống một chút sẽ bị tụt hẳn. Nhưng chính cách sống ấy làm họ không còn nếm được hạnh phúc của điều mình đang có. Người ôm quá chặt không còn biết nhận nữa. Họ chỉ biết giữ.

Giữ một người mà không còn vui khi ở với người đó.

Giữ một công việc mà không còn biết ơn nó.

Giữ một danh tiếng mà không còn nhẹ.

Giữ một kế hoạch mà không còn nghe được tiếng Chúa.

Đó là bi kịch của sự bám chặt: nó giết khả năng biết ơn. Và khi biết ơn chết, bình an cũng chết theo. Bởi vì bình an nở ra rất nhiều từ lòng biết ơn. Ai biết những gì mình có là quà, người đó sẽ mềm hơn. Ai xem mọi thứ là chiến lợi phẩm phải canh giữ, người đó sẽ cứng hơn.

Người trẻ cần học lại điều này: không phải cái gì quý cũng phải ôm đến nghẹt thở. Có những điều chỉ giữ được khi mình không bóp quá mạnh. Một cánh chim giữ quá chặt sẽ chết trong tay. Một người mình yêu kiểm soát quá sẽ mệt và rời xa. Một tương lai bị ép theo ý mình quá sẽ biến thành gánh nặng. Ngay cả đời sống với Chúa, nếu người ta cứ muốn nắm chắc, muốn điều khiển, muốn thấy hết, muốn giữ theo kiểu mình quyết định mọi sự, thì tương quan ấy cũng sẽ mất sự mềm mại của lòng tin.

Đây là chỗ người trẻ phải đi từ bám sang đón nhận.

Đón nhận hiện tại như quà.

Đón nhận người khác như quà, không như tài sản.

Đón nhận cơ hội như quà, không như nền tảng căn tính.

Đón nhận tương lai như điều sẽ được mở dần trong tay Chúa, chứ không như thứ mình phải khóa chặt từ bây giờ.

Đón nhận cả sự thật rằng đời mình không được cứu bằng việc giữ cho khỏi mất, mà bằng việc thuộc về Đấng không bao giờ để mình mất đi trong tình yêu của Người.

Người trẻ nói muốn bình an, nhưng nếu không chịu buông bớt, bình an rất khó đến. Không ai có thể vừa giữ tất cả bằng sức riêng vừa nghỉ yên trong Chúa. Bình an không vào được nơi lòng người đang siết chặt từng ngón tay quanh mọi điều họ sợ rơi. Bình an cần độ mở. Cần lòng tin rằng điều gì thực sự cần cho phần rỗi và ơn gọi của mình, Chúa không nghèo đến mức không biết giữ. Và nếu có điều gì phải đi khỏi, thì trong tay Chúa, sự mất ấy cũng không vô nghĩa.

Nói vậy không làm nỗi đau mất mát nhẹ đi. Mất vẫn đau. Bị bỏ lại vẫn đau. Hụt vẫn đau. Trễ nhịp với người khác theo mắt đời vẫn có thể làm lòng nhói. Nhưng nỗi đau của người có Chúa khác với nỗi đau của người không có Cha. Một bên đau nhưng không vô chủ. Một bên đau mà vẫn có thể khóc trong tay ai đó. Một bên mất nhưng không cảm thấy mình bị đời quăng vào hố không đáy. Đó là khác biệt rất lớn.

Có lẽ điều người trẻ phải tập nhiều không phải là làm sao giữ hết, mà là làm sao để những gì mình đang có không chiếm mất chỗ của Chúa trong lòng. Vì một khi Chúa còn đúng chỗ, người ta mới có thể mất mà không mất mình, mới có thể buông mà không tan, mới có thể chậm hơn người khác một đoạn mà không nghĩ đời mình vô nghĩa.

Người trẻ thân mến, bạn sợ mất là điều rất người. Nhưng xin đừng để nỗi sợ ấy trở thành người viết luật cho cả cuộc đời bạn. Đừng để nó khiến bạn ôm những thứ Chúa muốn bạn đặt xuống. Đừng để nó khiến bạn ở lại trong những mối quan hệ làm bạn cạn. Đừng để nó khiến bạn chạy theo mọi cuộc đua của thế gian mà quên mất cuộc đua thật của linh hồn. Đừng để nó khiến bàn tay bạn co cứng đến mức không còn cầm được tay Chúa nữa.

Có thể điều Chúa đang mời bạn hôm nay không phải là bỏ hết mọi sự, mà là bớt bấu. Bớt coi một điều gì đó như cứu cánh. Bớt thần tượng hóa một người, một kế hoạch, một tương lai, một hình ảnh. Bớt sống như thể nếu mất thứ đó thì đời mình hết. Bởi vì không. Đời bạn không hết khi một điều nào đó hết. Đời bạn chỉ thật sự lạc khi bạn sống như thể không có Chúa đủ lớn để giữ bạn qua mất mát ấy.

Lạy Chúa, con sợ mất. Sợ thiếu. Sợ bị bỏ lại. Sợ thua người khác. Sợ những gì con đang có sẽ tuột khỏi tay con. Và vì sợ, con ôm quá chặt. Con giữ người quá chặt. Giữ kế hoạch quá chặt. Giữ hình ảnh quá chặt. Giữ cả những điều đang làm con mệt chỉ vì con không dám buông. Xin cho con thấy đâu là những chỗ lòng con đang bấu hơn là tin. Xin cứu con khỏi việc lấy nỗi sợ làm kim chỉ nam cho các chọn lựa của mình. Xin dạy con nhận mọi sự như quà, chứ không như thần tượng. Xin cho con biết giữ mà không chiếm, yêu mà không bóp nghẹt, dấn thân mà không mất tự do nội tâm. Xin mở các ngón tay đang co cứng của con, để con có thể trao lại cho Ngài những gì con đã giữ quá lâu bằng hoảng loạn. Và xin cho con nếm được sự bình an của người biết rằng dù có mất nhiều điều, mình vẫn không rơi khỏi tay Cha.

 

 

CHƯƠNG 20

VÌ SAO NHIỀU NGƯỜI TRẺ LUÔN MUỐN ĐƯỢC BẢO ĐẢM, MUỐN CHẮC CHẮN, MUỐN NHÌN THẤY HẾT RỒI MỚI DÁM BƯỚC, TRONG KHI HÀNH TRÌNH VỚI THIÊN CHÚA LẠI LUÔN ĐÒI MỘT MỨC ĐỘ TIN TƯỞNG, CHẤP NHẬN MỜ TỐI, VÀ DÁM ĐI NGAY CẢ KHI CHƯA THẤY HẾT CON ĐƯỜNG

Có một nỗi khát rất lớn nơi người trẻ hôm nay: khát sự chắc chắn.

Chắc chắn rằng mình chọn đúng.

Chắc chắn rằng con đường này sẽ ổn.

Chắc chắn rằng nếu bước thì sẽ không hối hận.

Chắc chắn rằng người này là đúng người.

Chắc chắn rằng công việc kia là đúng nghề.

Chắc chắn rằng lời mời gọi nọ thật sự đến từ Chúa.

Chắc chắn rằng nếu buông cái cũ thì cái mới sẽ tốt hơn.

Chắc chắn rằng nếu dấn thân thì sẽ có hoa trái.

Chắc chắn rằng nếu trao đời mình cho Thiên Chúa, đời mình sẽ không bị hỏng.

Nghe như vậy rất dễ hiểu.

Vì ai mà không muốn chắc?

Ai mà không muốn nhìn thấy đường rõ rồi mới đi?

Ai mà không muốn biết trước kết cục rồi mới dấn thân?

Ai mà không muốn được bảo đảm rằng mình sẽ không đau vô ích, không mất vô ích, không chờ vô ích, không yêu nhầm, không chọn sai?

Nhưng chính chỗ đó lại là nơi rất nhiều người trẻ mắc kẹt.

Họ chờ sự chắc chắn tới mức không còn sống bằng đức tin nữa, mà sống bằng điều kiện.

Khi nào rõ hết rồi con mới đi.

Khi nào hết sợ rồi con mới bước.

Khi nào thấy hết rồi con mới trao.

Khi nào có dấu chắc chắn tuyệt đối rồi con mới vâng.

Và thế là họ cứ ở mãi nơi ngưỡng cửa.

Vì đời sống với Thiên Chúa hiếm khi cho con người thứ bảo đảm kiểu đó.

Không phải vì Chúa thích làm khó.

Không phải vì Chúa thích giữ con người trong mù mờ cho vui.

Nhưng vì tương quan với Thiên Chúa là tương quan của lòng tin, chứ không phải của việc nắm trọn bản đồ từ đầu đến cuối.

Thiên Chúa thường cho đủ ánh sáng cho bước kế tiếp, chứ không phải cho thấy hết con đường. Người dạy con người đi bằng đức tin, không phải bằng kiểm soát. Người mời gọi họ tín thác, chứ không phải sở hữu trước mọi bảo đảm.

Và đây chính là điều làm người trẻ run.

Bởi vì thế hệ này lớn lên trong một thế giới dạy người ta dự báo, chuẩn bị, tính toán, tối ưu, kiểm soát, giảm rủi ro đến mức cao nhất. Càng nhiều dữ liệu, người ta càng tưởng mình có thể loại bỏ mọi mờ tối. Càng có nhiều lựa chọn, người ta càng muốn chắc rằng mình đang cầm lựa chọn tốt nhất. Càng quen với việc có ngay thông tin, người ta càng khó chấp nhận việc phải bước trong phần nào không thấy.

Nhưng hành trình với Chúa không vận hành như một bảng phân tích khô.

Nó không phủ nhận lý trí, nhưng nó vượt quá lý trí.

Nó không xem thường sự suy nghĩ, nhưng nó không chờ đến khi con người hiểu hết rồi mới mời họ bước.

Abraham không thấy hết.

Các môn đệ đầu tiên không thấy hết.

Đức Maria không thấy hết.

Rất nhiều con đường đẹp nhất trong lịch sử cứu độ đều bắt đầu bằng một lời xin vâng trong khi vẫn còn rất nhiều điều mờ.

Người trẻ hôm nay lại muốn một kiểu xin vâng không có mờ tối.

Muốn bước nhưng phải thấy chắc.

Muốn trao nhưng phải giữ quyền quay đầu thật dễ.

Muốn theo Chúa nhưng vẫn phải đảm bảo rằng tương lai của mình sẽ hợp với trí tưởng tượng đẹp nhất về hạnh phúc.

Chính vì thế, họ thường chần chừ không phải vì không có lòng, mà vì đòi quá nhiều bảo đảm trước khi dấn thân.

Có một nỗi sợ rất thật ẩn sau nhu cầu phải chắc chắn: sợ đau vì chọn sai.

Người trẻ đã thấy quá nhiều đổ vỡ.

Thấy người yêu nhau rồi tan.

Thấy người giỏi mà vẫn lạc.

Thấy người thành công mà vẫn trống.

Thấy người đi tu rồi khủng hoảng.

Thấy người lập gia đình rồi mỏi mệt.

Thấy người lựa chọn rất mạnh mẽ rồi có ngày phải học lại từ đầu.

Tất cả những điều ấy làm họ ngại.

Họ nghĩ: nếu đời nhiều bất định như thế, tốt nhất là đừng chọn vội. Đừng tin vội. Đừng dấn thân vội. Đừng trao nhiều quá. Đừng mở lòng hết. Đừng bước sâu quá. Giữ mình ở mức lưng chừng có khi an toàn hơn.

Nhưng thật ra, lưng chừng chưa bao giờ là nơi an toàn thật.

Nó chỉ là nơi tạm đỡ đau theo kiểu hoãn lại.

Hoãn lại nỗi đau có thể xảy ra vì chọn sai.

Nhưng đồng thời cũng hoãn luôn niềm vui chỉ có thể có khi chọn thật.

Hoãn luôn sự trưởng thành chỉ đến khi dấn thân thật.

Hoãn luôn hoa trái chỉ nở khi một hạt giống chịu rơi xuống đất.

Hoãn luôn cuộc đời thật của mình.

Nói cách khác, người trẻ trốn khỏi rủi ro của đức tin, nhưng đồng thời cũng trốn luôn vẻ đẹp của đức tin.

Bởi vì tin thật luôn có một yếu tố bước vào chỗ chưa nắm hết.

Không mù quáng.

Không liều lĩnh theo kiểu thiếu khôn ngoan.

Nhưng cũng không có chuyện phải chắc trăm phần trăm rồi mới vâng.

Một người cứ đợi hết mờ mới đi sẽ thường không đi đâu xa.

Và đây là chỗ rất nhiều người trẻ đang bị cột.

Họ không dám bắt đầu vì chưa thấy hết.

Không dám dấn vào một ơn gọi vì còn vài phần chưa rõ.

Không dám nghiêm túc với một người vì chưa chắc đó là người mình sẽ đi tới cùng.

Không dám chuyển hướng vì sợ hướng mới không đẹp bằng cái cũ trong tưởng tượng.

Không dám buông một mối liên hệ sai vì chưa biết sau đó mình sẽ sống thế nào với khoảng trống.

Không dám trao thời gian cho cầu nguyện sâu vì sợ nếu nghe Chúa rõ hơn, mình sẽ phải thay đổi những điều mình chưa sẵn sàng mất.

Nhu cầu phải được bảo đảm nhiều khi không chỉ là nhu cầu hiểu rõ. Nó còn là nhu cầu giữ quyền kiểm soát.

Nếu tôi nhìn thấy hết, tôi kiểm soát được.

Nếu tôi biết hết, tôi bớt phải tin.

Nếu tôi nắm được mọi khả năng, tôi đỡ phải phó thác.

Nhưng phó thác là điều rất khó với người trẻ, không chỉ vì họ thiếu đức tin, mà vì họ sợ trở thành người dễ bị tổn thương. Họ nghĩ tin là đặt mình vào thế yếu. Nghĩ phó thác là buông vũ khí. Nghĩ để Chúa dẫn là mất thế chủ động. Trong khi thật ra, điều ngược lại mới đúng. Người không biết tin mới là người phải gồng suốt đời để tự chống đỡ. Người biết phó thác mới thật sự được giải phóng khỏi gánh phải tự cứu mình.

Có lẽ phải nói rất rõ một điều: đức tin không giết sự khôn ngoan. Đức tin chỉ đòi con người đừng thần tượng hóa sự chắc chắn.

Bạn vẫn phải suy nghĩ.

Vẫn phải hỏi.

Vẫn phải tìm lời khuyên.

Vẫn phải xét các dấu chỉ.

Vẫn phải cân nhắc.

Nhưng sau tất cả, sẽ có một điểm mà lý trí không thể đi thêm nữa. Lúc đó, không phải vô lý, mà là siêu vượt. Không phải mù quáng, mà là tín thác. Không phải thiếu trưởng thành, mà là trưởng thành đủ để biết rằng mình không thể sống cả đời như người chỉ bước khi đã có mọi bảo đảm trong tay.

Người trẻ thường nhầm giữa ánh sáng đủ và ánh sáng tuyệt đối.

Chúa thường ban ánh sáng đủ.

Đủ để biết bước này không trái Tin Mừng.

Đủ để thấy hướng này sinh hoa trái lành hơn.

Đủ để nhận ra lòng mình bình an hơn khi đi theo đường này.

Đủ để thấy đây là nơi mình được gọi lớn lên.

Nhưng không phải lúc nào Người cũng ban ánh sáng tuyệt đối, nơi mọi câu hỏi đều im, mọi nỗi sợ đều tan, mọi viễn cảnh đều đẹp rõ như ban ngày.

Nếu người trẻ cứ đòi kiểu ánh sáng thứ hai, họ sẽ mỏi mòn.

Bởi vì phần lớn những điều lớn trong đời không bao giờ tới với thứ bảo đảm ấy.

Người lập gia đình không thấy trước hết mọi thử thách.

Người đi tu không thấy trước hết mọi đêm tối.

Người chuyển hướng nghề nghiệp không thấy trước hết mọi khúc quanh.

Người dấn thân cho một sứ mạng không thấy trước hết mọi hy sinh.

Nếu phải thấy hết rồi mới bước, thì không ai bắt đầu.

Điều giữ con người không phải là họ biết hết.

Mà là họ biết Đấng đồng hành với mình là ai.

Đây là điểm mấu chốt của đức tin.

Không phải tôi thấy hết con đường.

Mà là tôi biết Ai đang cầm tay tôi.

Không phải tôi có đầy đủ bảo đảm từ tương lai.

Mà là tôi có đủ lòng tin vào Thiên Chúa trong hiện tại.

Người trẻ rất dễ quên điểm này, nên họ biến đức tin thành bài toán quản trị rủi ro. Họ chỉ muốn bước nếu mức đau có thể chấp nhận được, mức bất định có thể đoán được, mức mất mát có thể bù được. Nhưng Thiên Chúa không bước vào đời người như một nhà đầu tư để cam kết lợi nhuận an toàn. Người bước vào như Đấng Cứu Độ, Đấng dẫn con người đi vào sự sống thật, mà con đường ấy luôn có thập giá, luôn có mờ tối, luôn có những đoạn phải đi trong tín thác.

Không ít người trẻ nói rằng mình đang chờ Chúa cho dấu chỉ. Nhưng thật ra, Chúa đã cho đủ rồi, chỉ là họ vẫn muốn thêm dấu nữa, rồi thêm dấu nữa, rồi thêm xác nhận nữa. Không phải vì Chúa còn mù mờ, mà vì lòng họ chưa sẵn sàng đi. Có khi họ đang dùng ngôn ngữ thiêng liêng để trì hoãn việc phải quyết định. “Con chưa thấy rõ ý Chúa” đôi khi không có nghĩa là Chúa chưa nói, mà là con chưa muốn nghe điều Chúa đang nói vì nó kéo theo một bước đi quá thật.

Bởi vì nghe thật sẽ phải vâng.

Biết thật sẽ phải chọn.

Thấy thật sẽ phải buông bớt cái cũ.

Nên con người thích giữ mọi thứ ở mức chưa đủ rõ để mình còn có thể trì hoãn.

Đó là một điều rất người.

Nhưng cũng rất cần được thanh luyện.

Người trẻ còn muốn được bảo đảm vì họ sợ mình không đủ.

Nếu tôi bước mà rồi không mang nổi thì sao?

Nếu tôi trao đời cho Chúa mà rồi tôi gãy thì sao?

Nếu tôi nhận ơn gọi này mà rồi tôi không trung thành nổi thì sao?

Nếu tôi nói “xin vâng” mà sau này lòng tôi đổi thì sao?

Những câu hỏi đó đau lắm.

Nhưng nhiều khi chúng được đặt sai nền.

Người trẻ thường nhìn vào sức mình rồi kết luận về tương lai. Họ thấy mình mỏng nên sợ những đòi hỏi lớn. Nhưng Chúa không gọi con người dựa trên cái họ đang đủ theo sức riêng. Người gọi và ban ơn trong chính lời gọi ấy. Không phải ơn được phát trước trọn gói như bảo hiểm, mà là ơn đi cùng hành trình. Bạn không cần đủ cho cả chặng đời ngay hôm nay. Bạn chỉ cần đủ cho tiếng vâng hôm nay, rồi ơn cho ngày mai sẽ đến cùng ngày mai.

Nhưng điều này rất khó với người quen tính hết.

Họ muốn mang ơn của hai mươi năm sau vào bàn cân hôm nay. Muốn biết mình có chịu nổi tất cả không. Muốn chắc rằng mình sẽ bền đến cuối trước khi nói bắt đầu. Nhưng không ai sống như thế được. Người ta không cưới bằng sức của hai mươi năm sau. Không khấn dòng bằng sức của tuổi già. Không nhận sứ mạng bằng sức của những mùa khô chưa tới. Người ta bước với ơn của ngày hôm nay, rồi lại nhận ơn mới cho ngày mai.

Đức tin là như vậy.

Bánh hằng ngày, không phải bánh cho cả đời được đưa một lúc.

Manna từng ngày, không phải kho dự trữ để con người thôi tín thác.

Người trẻ sợ mờ tối còn vì họ không quen với việc điều gì quý lại cần thời gian tỏ ra. Họ muốn sự rõ kiểu tức thì, nhưng Chúa thường để nhiều điều chín dần. Có những xác tín lớn không đến như sét đánh. Nó đến như bình minh. Sáng dần. Chậm dần. Thấm dần. Nếu người trẻ cứ đợi một cảm giác rất mạnh, một dấu chỉ không thể chối cãi, một sự an tâm tuyệt đối, thì có thể họ sẽ bỏ lỡ kiểu ánh sáng mà Chúa thường dùng: nhỏ nhưng bền, không áp đảo nhưng đủ định hướng, không hào nhoáng nhưng rất thật.

Một người trưởng thành trong đức tin là người biết sống với một mức độ mờ vừa đủ mà không hoảng loạn. Họ không thần tượng hóa việc phải chắc hết. Họ chấp nhận rằng mình không phải Chúa. Không nắm hết tương lai không phải là thất bại. Đó là thân phận của thụ tạo. Vấn đề là mình có biết trao phần mờ ấy cho Đấng nhìn thấy hay không.

Đây là điều rất quan trọng.

Không phải càng biết nhiều thì càng bình an.

Nhiều người biết rất nhiều mà vẫn loạn.

Bình an sâu không đến từ việc nắm được hết.

Nó đến từ việc tin rằng phần mình không nắm được vẫn ở trong tay một Đấng trung tín.

Từ chỗ đó, con người mới có thể bước.

Không phải vì hết sợ.

Mà vì tin hơn sợ.

Không phải vì đã thấy hết.

Mà vì đã thấy đủ để vâng.

Không phải vì tương lai đã rõ trọn.

Mà vì Đấng dẫn mình đã đủ đáng tin.

Người trẻ thân mến, có thể bạn đang đứng trước một ngã rẽ. Có thể bạn đang chờ một sự chắc chắn mà mãi chưa đến. Có thể bạn đang cầu xin Chúa làm rõ hơn nữa. Điều đó không xấu. Nhưng xin cũng hãy hỏi xem: Chúa đã cho đủ ánh sáng để tôi bước một bước chưa? Hay tôi đang đòi thứ ánh sáng mà Người không hứa ban theo kiểu tôi muốn? Tôi đang thật sự tìm ý Chúa, hay đang tìm một sự bảo đảm tuyệt đối để khỏi phải tin? Tôi đang xin thêm sáng, hay đang trì hoãn vì sợ đau khi phải vâng?

Có những lúc, điều Chúa chờ nơi người trẻ không phải là thêm một vòng phân tích nữa.

Mà là một bước rất nhỏ nhưng thật.

Một lời thưa rất nghèo nhưng dứt khoát.

Một quyết định đi tiếp trong lượng sáng đã nhận.

Bởi vì chính khi bước, nhiều điều mới sáng hơn.

Chính khi vâng, nhiều điều mới mở hơn.

Chính khi bỏ chiếc đòi hỏi phải chắc hết, lòng người mới nhẹ enough để thấy bàn tay Chúa đang giữ mình.

Lạy Chúa, con rất thích sự chắc chắn. Con thích nhìn thấy hết rồi mới bước. Con thích được bảo đảm rằng con sẽ không đau, không hối hận, không mất, không chọn nhầm. Con thích giữ quyền kiểm soát tương lai để đỡ sợ. Nhưng hôm nay con nhận ra con không thể bước với Ngài nếu cứ đòi mọi điều phải sáng trọn theo ý con. Xin cho con phân biệt được giữa ánh sáng đủ và thứ bảo đảm tuyệt đối mà con đang thần tượng hóa. Xin cứu con khỏi việc trì hoãn dưới danh nghĩa thận trọng. Xin cho con biết rằng con không cần nắm hết tương lai mới có thể thuộc về Ngài. Xin cho con đủ tin để bước trong phần mờ mà Ngài chưa mở, vì con biết chính Ngài đang ở trong phần mờ đó. Và xin cho con đừng chờ hết run mới vâng, nhưng biết vâng ngay trong lúc còn run, vì con tin tay Ngài vững hơn tim con.

 

 

CHƯƠNG 21

VÌ SAO NHIỀU NGƯỜI TRẺ CỨ NGHĨ RẰNG ĐỜI MÌNH CÒN DÀI, CÒN NHIỀU THỜI GIAN ĐỂ QUAY LẠI, ĐỂ SỬA, ĐỂ SỐNG NGHIÊM TÚC, NÊN CỨ TRÌ HOÃN VIỆC HOÁN CẢI VÀ DÂNG TUỔI TRẺ CHO CHÚA, TRONG KHI CHÍNH SỰ TRÌ HOÃN ẤY ĐANG LÀM TRÁI TIM HỌ CHAI DẦN TỪNG NGÀY

Có một ảo tưởng rất dịu, rất mềm, rất dễ chịu, nhưng cũng rất nguy nơi tuổi trẻ: ảo tưởng rằng mình còn nhiều thời gian.

Còn trẻ mà.

Còn dài mà.

Còn cả một quãng phía trước.

Bây giờ cứ sống đã.

Bây giờ cứ thử đã.

Bây giờ cứ vui đã.

Bây giờ cứ để đó đã.

Sau này sẽ nghiêm túc hơn.

Sau này sẽ sống sâu hơn.

Sau này sẽ bỏ thói quen này.

Sau này sẽ quay về hẳn với Chúa.

Sau này sẽ cầu nguyện đàng hoàng hơn.

Sau này sẽ nghĩ đến ơn gọi rõ ràng hơn.

Sau này sẽ sửa mình.

Sau này sẽ sống đúng hơn.

Chữ sau này nghe hiền lắm.

Không làm ai giật mình.

Không ồn ào như một lời từ chối thẳng.

Không xấu như một cuộc nổi loạn công khai.

Nó chỉ lùi lại một chút thôi.

Nhưng chính cái “lùi lại một chút thôi” ấy đã nuốt rất nhiều tuổi trẻ.

Bởi vì ma quỷ không luôn cần con người nói “không” với Chúa. Nhiều khi nó chỉ cần họ nói “để sau”.

Không cần bạn bỏ Chúa hẳn.

Chỉ cần bạn hoãn việc quay về.

Không cần bạn ghét việc sống thánh.

Chỉ cần bạn nghĩ rằng sống thánh là chuyện có thể tính sau.

Không cần bạn chống lại ơn gọi.

Chỉ cần bạn cứ chần chừ mãi với ơn gọi.

Không cần bạn khinh thường linh hồn mình.

Chỉ cần bạn nghĩ rằng linh hồn có thể chờ.

Và thế là từng ngày, từng tuần, từng tháng, một đời người bị bào mòn không phải bằng những cú ngã quá lớn, mà bằng những lần trì hoãn rất hiền.

Người trẻ nghĩ mình còn thời gian.

Nhưng cái nguy không phải chỉ là đời người có thể ngắn hơn mình tưởng.

Cái nguy sâu hơn là: trái tim không phải lúc nào cũng mềm như hôm nay.

Một lời mời gọi hôm nay còn làm mình rung, mai có thể bớt rung.

Một điều sai hôm nay còn làm lương tâm cấn, mai có thể bớt cấn.

Một tiếng Chúa hôm nay còn nghe rõ, mai có thể bị tiếng ồn phủ lên thêm một lớp nữa.

Một lần trì hoãn không chỉ làm chậm việc tốt. Nó huấn luyện trái tim theo một hướng mới: biết điều phải làm mà không làm cũng chẳng sao.

Và đó mới là điều đáng sợ.

Người trẻ thường chỉ sợ tội lớn.

Ít ai sợ trái tim mình chai dần.

Nhưng sự chai dần còn nguy hơn rất nhiều.

Vì một người ngã đau đôi khi còn biết mình cần cứu.

Còn một người chai đi thì vẫn sống, vẫn làm, vẫn cười, vẫn hoạt động, nhưng không còn đau đủ để quay lại nữa.

Đây là bi kịch rất âm thầm.

Không phải đánh mất Chúa trong một biến cố dữ dội.

Mà là để mình quen dần với khoảng cách.

Quen dần với việc cầu nguyện qua loa.

Quen dần với việc sống thấp hơn ánh sáng mình đã nhận.

Quen dần với việc để điều đúng ở đó, biết là đúng, nhưng không vội.

Quen dần với sự nửa vời.

Quen dần với một đời sống đức tin thiếu lửa.

Quen dần với tình trạng “tạm vậy đã”.

Và khi đã quen, người ta không còn thấy mình đang trôi nữa.

Họ gọi đó là trưởng thành.

Là thực tế.

Là ai cũng thế thôi.

Là đừng cực đoan quá.

Là sống vừa vừa được rồi.

Nhưng không phải lúc nào “vừa vừa” cũng là khôn ngoan. Có khi nó chỉ là cái tên dễ nghe của sự nguội lạnh.

Người trẻ hay nghĩ rằng tuổi trẻ là giai đoạn để thử, để sai, để vui, để va, để sống thoải mái đã, rồi sau này mới nghiêm túc với những chuyện sâu hơn. Một phần nào đó, tuổi trẻ đúng là giai đoạn tìm kiếm, học hỏi, lớn lên qua va chạm. Nhưng điều đó không có nghĩa là tuổi trẻ là vùng đất được phép sống hời hợt với linh hồn. Trái lại, chính tuổi trẻ là lúc nền móng đang được đặt.

Không ai tự nhiên ba mươi, bốn mươi tuổi trở nên sâu nếu tuổi hai mươi đã quen sống tản mát.

Không ai tự nhiên có đời sống cầu nguyện bền nếu tuổi trẻ đã huấn luyện lòng mình quen với việc trì hoãn Chúa.

Không ai tự nhiên trung tín với một ơn gọi lớn nếu trong những năm đẹp nhất của mình, họ cứ để mọi điều tốt đứng ngoài cửa mà không chịu mở.

Tuổi trẻ không chỉ là giai đoạn để sống.

Tuổi trẻ là giai đoạn để định hình cách mình sẽ sống.

Một người không lãng phí tuổi trẻ chỉ vì họ không phạm tội nặng. Người đó còn phải biết dùng tuổi trẻ để tập cho lòng mình biết nghe, biết vâng, biết chọn, biết bỏ, biết ở lại, biết lớn lên trong Chúa.

Còn nếu tuổi trẻ trôi qua trong trì hoãn, thì về sau, điều mất không chỉ là thời gian đã đi. Điều mất là sức bật nội tâm.

Là độ mềm của lương tâm.

Là khả năng rung trước tiếng Chúa.

Là thói quen quay về nhanh.

Là sức chiến đấu.

Là sự trong trẻo của những lời xin vâng đầu đời.

Có những người trẻ tưởng mình đang giữ quyền tự do cho tương lai bằng cách chưa cam kết gì với Chúa hôm nay. Nhưng thật ra, chính họ đang làm nghèo tương lai của mình. Vì tương lai không được xây bằng những ý định đẹp treo lơ lửng. Nó được xây bằng những vâng phục nhỏ hôm nay.

Hôm nay không cầu nguyện tử tế.

Mai cũng khó hơn.

Hôm nay không bỏ điều sai.

Mai nó bén rễ sâu hơn.

Hôm nay không dám nói thật với Chúa.

Mai khoảng cách lớn thêm.

Hôm nay không quay về.

Mai lòng chai thêm một lớp.

Người trẻ ít khi thấy được sự tích tụ ấy. Vì nó không ồn. Nó lặng. Giống như nước nhỏ trên đá. Một giọt không làm gì. Nhưng đủ lâu, đá sẽ bị khoét.

Sự trì hoãn cũng vậy.

Một lần “để mai” không tạo ra bi kịch.

Nhưng một đời sống quen “để mai” sẽ.

Nhiều người trẻ nghĩ điều nguy hiểm nhất là mình sa ngã nặng. Thật ra, nguy hiểm không kém là khi mình không còn thấy cần gấp phải hoán cải nữa. Không còn thấy việc sống xa Chúa là điều đáng lo cấp bách. Không còn thấy việc để linh hồn mình đói là chuyện nghiêm trọng. Không còn thấy sự nửa vời là đau. Khi đó, trái tim đã bắt đầu quen với bóng tối ở một mức nào đó rồi.

Có những người trẻ rất thương Chúa, nhưng vẫn để Chúa đợi quá lâu.

Và điều làm Chúa đau không phải chỉ là việc họ yếu. Mà là việc họ cứ hẹn Người mãi.

Hẹn khi nào bớt vui chơi.

Hẹn khi nào hết bận.

Hẹn khi nào trưởng thành hơn.

Hẹn khi nào ổn định hơn.

Hẹn khi nào bớt vướng điều này điều kia.

Nhưng Thiên Chúa không muốn phần còn lại sau khi con người đã dùng hết tuổi trẻ cho những thứ khác. Người muốn tuổi trẻ ngay từ bây giờ. Không phải vì Người ích kỷ. Mà vì Người biết tuổi trẻ dâng muộn đi thì vẫn quý, nhưng tuổi trẻ dâng sớm có một vẻ đẹp khác hẳn. Nó trong hơn. Nó mạnh hơn. Nó rộng hơn. Nó có sức làm cả đời đi về một hướng khác.

Người trẻ thường sợ dâng tuổi trẻ cho Chúa vì nghĩ rằng như thế là mất đi nhiều điều. Mất vui. Mất trải nghiệm. Mất tự do. Mất cơ hội sống “cho đã”. Nhưng thật ra, điều họ gọi là “sống cho đã” nhiều khi chỉ là tiêu cho hết độ mềm của linh hồn vào những thứ không giữ được họ lại khi đêm xuống.

Không gì tiếc bằng một tuổi trẻ đầy năng lượng mà không có hướng.

Không gì buồn bằng một trái tim đang còn nóng mà lại nóng cho những thứ mai này chính nó cũng xấu hổ.

Không gì xót bằng một con người tới lúc muốn quay lại thì nhận ra sức bật ban đầu không còn như trước nữa.

Không phải vì Chúa không gọi nữa.

Mà vì họ đã quá lâu sống như thể tiếng gọi đó có thể chờ vô thời hạn.

Một sự thật khác cũng cần phải nói: người trẻ không chỉ trì hoãn hoán cải vì họ nghĩ mình còn thời gian. Họ còn trì hoãn vì họ muốn giữ cảm giác mình còn quyền chọn. Một khi đã quay về thật, đã sống nghiêm túc thật, đã trao tuổi trẻ thật, thì sẽ phải bỏ vài thứ. Phải đổi vài nhịp. Phải nói không với vài dễ dãi. Phải cắt vài dây. Phải sống khác đi. Và chính điều đó làm họ chần chừ. Họ không muốn hoàn toàn ở bên ngoài Chúa. Nhưng họ cũng chưa muốn hoàn toàn ở bên trong.

Và thế là họ ở giữa.

Một chân trong.

Một chân ngoài.

Một ít sốt sắng.

Một ít giữ lại.

Một ít ánh sáng.

Một ít bóng tối.

Một ít xin vâng.

Một ít mặc cả.

Càng sống như thế, họ càng mệt.

Vì trái tim bị chia không thể có bình an.

Nó chỉ có thể có những cơn hưng phấn ngắn, rồi lại rơi.

Nó chỉ có thể xúc động rồi nguội.

Nó chỉ có thể hứa rồi trễ.

Nó chỉ có thể sống như một cánh cửa hé, không đóng hẳn mà cũng không mở hẳn.

Mà sống như thế lâu thì trái tim khô đi là điều gần như chắc chắn.

Người trẻ cần hiểu rằng hoán cải không phải chỉ dành cho lúc mình “quá tệ”. Hoán cải là nhịp thở bình thường của một đời sống còn muốn thuộc về Chúa. Càng trẻ càng phải học hoán cải sớm. Không phải để mình sống trong sợ hãi. Mà để mình không tập sống chung với điều sai. Không tập giải thích cho sự nửa vời. Không tập trì hoãn việc quay về như một chuyện bình thường.

Bởi vì điều gì ta tập từ trẻ sẽ theo ta rất lâu.

Nếu tập quay về nhanh, về sau sẽ dễ quay.

Nếu tập nói thật với Chúa sớm, về sau sẽ đỡ sống giả.

Nếu tập cắt điều sai từ khi nó còn nhỏ, về sau sẽ đỡ bị nó trói sâu.

Nếu tập đặt Chúa trước những lựa chọn lớn, về sau đường đi sẽ sáng hơn.

Nếu tập coi linh hồn mình là chuyện gấp, về sau sẽ không dễ bán nó cho những thứ rẻ.

Còn nếu tập trì hoãn, tập dời, tập hứa suông, tập lấy chữ “sau này” làm cái gối mềm cho lương tâm, thì chính nếp ấy sẽ đi cùng mình. Nó trở thành một kiểu người. Một kiểu người luôn biết nhưng không làm. Luôn xúc động nhưng không đổi. Luôn muốn sống đẹp nhưng không chịu bắt đầu. Và đó là điều rất đáng sợ.

Có những người trẻ cứ nghĩ rằng một ngày nào đó mình sẽ tự nhiên có lòng hơn. Nhưng lòng không tự nhiên mạnh lên nếu hôm nay cứ bị bỏ đói. Có những người cứ nghĩ rồi sẽ có một lúc đủ đau để mình quay về hẳn. Có thể. Nhưng tại sao phải đợi tới lúc đau hơn? Tại sao phải để mình đi xa thêm chỉ để rồi quay lại từ xa hơn? Tại sao không quay về từ lúc còn nghe tiếng Chúa nhẹ nhàng, thay vì đợi tới lúc phải bị cuộc đời làm đau mới giật mình?

Chúa thường gọi trước khi đánh mạnh.

Người dịu dàng gõ cửa trước khi để cơn bão dạy điều mình đã từ chối học trong yên tĩnh.

Người trẻ khôn không đợi bị gãy mới học phó thác.

Không đợi bị bỏ mới học rằng chỉ Chúa là đủ.

Không đợi mất sạch mới nhận ra điều gì là nền.

Không đợi tới lúc lòng chai mới buồn vì mình đã không quay lại sớm hơn.

Tuổi trẻ rất đẹp khi biết quay về nhanh.

Không phải vì người trẻ hoàn hảo.

Mà vì họ còn giữ cho lòng mình mềm.

Còn biết đau vì xa Chúa.

Còn biết xấu hổ khi sống thấp hơn ơn gọi.

Còn biết quý tiếng gọi của ân sủng hơn những hứa hẹn ngắn hạn của thế gian.

Đó là một vẻ đẹp lớn.

Không ồn.

Không màu mè.

Nhưng rất sáng trước mặt Thiên Chúa.

Có lẽ điều người trẻ cần nhất không phải là thêm một lý do để trì hoãn. Họ đã có quá nhiều rồi. Điều họ cần là một cú chạm của sự thật: mình không chắc còn giữ được độ mềm của trái tim này mãi đâu. Mình không chắc sẽ luôn còn đau khi phạm tội mãi đâu. Mình không chắc tiếng Chúa hôm nay sẽ cứ rõ như thế nếu mình tiếp tục dập nó xuống. Và vì thế, điều phải làm không phải là chờ. Điều phải làm là đáp.

Không cần đáp bằng một điều rất lớn ngay.

Nhưng thật.

Một lần xưng tội không trì hoãn nữa.

Một quyết định cắt một điều đang làm mình lún.

Một giờ cầu nguyện không dời nữa.

Một lời nói thật với Chúa: con không muốn để đời con trôi thêm theo kiểu này nữa.

Một bước trở về.

Một bước nhỏ thôi.

Nhưng thật.

Vì chỉ cần một bước thật, cả hướng đi đã bắt đầu đổi.

Lạy Chúa, con vẫn hay nghĩ rằng con còn nhiều thời gian. Con vẫn tưởng rằng con có thể để dành việc quay về cho một ngày khác, việc sống nghiêm túc cho một giai đoạn khác, việc dâng tuổi trẻ cho Ngài cho một lúc thuận hơn. Nhưng hôm nay xin cho con thấy rằng chính những lần trì hoãn ấy đang làm trái tim con chai dần. Xin cứu con khỏi chữ “sau này” mà con vẫn dùng để ru lương tâm mình ngủ. Xin cho con đừng đợi đến lúc đau hơn mới quay về. Xin cho con đừng đợi đến lúc mất lửa hơn mới đi tìm Ngài. Xin giữ cho lòng con còn mềm trước tiếng gọi của Ngài. Và nếu hôm nay con còn nghe được, còn đau được, còn muốn trở lại được, xin cho con đừng bỏ lỡ ân sủng ấy. Xin cho con biết trao tuổi trẻ con cho Ngài không phải phần còn sót lại, mà bằng chính phần đẹp nhất còn có thể dâng hôm nay.

 

 

CHƯƠNG 22

VÌ SAO NHIỀU NGƯỜI TRẺ LUÔN CHỜ MỘT BIẾN CỐ LỚN, MỘT CẢM XÚC MẠNH, MỘT CUỘC ĐỔI ĐỜI THẬT RÕ RÀNG RỒI MỚI BẮT ĐẦU THAY ĐỔI, TRONG KHI CHÚA THƯỜNG CỨU ĐỜI NGƯỜI BẰNG NHỮNG BƯỚC RẤT NHỎ, RẤT ÂM THẦM, NHƯNG RẤT THẬT MỖI NGÀY

Có một điều rất dễ thấy nơi nhiều người trẻ: họ thích những khởi đầu lớn.

Một ngày thật đặc biệt.

Một cuộc tĩnh tâm thật mạnh.

Một bài giảng làm mình bật khóc.

Một giờ chầu chạm tận tim.

Một biến cố lớn làm mình bừng tỉnh.

Một cú sốc đủ đau để mình đổi hẳn.

Một khoảnh khắc như sét đánh, khiến mình biết rõ từ nay phải sống khác.

Người trẻ thích những giây phút như thế, và điều đó cũng rất tự nhiên. Vì con người dễ bị lay động bởi những gì mạnh, rõ, sắc, dữ dội. Một cuộc trở lại có nhiều nước mắt thường dễ được nhớ hơn một quyết định âm thầm. Một biến cố lớn thường khiến người ta cảm thấy đời mình đang thật sự bước sang trang. Một cơn xúc động mạnh làm cho người trẻ thấy mình đang sống, đang được chạm, đang được kéo ra khỏi vùng cũ.

Nhưng cũng chính ở đây có một cám dỗ rất tinh vi: họ bắt đầu nghĩ rằng chỉ những gì lớn, rõ, dữ dội như thế mới thật sự có khả năng đổi đời mình.

Và từ đó, họ chờ.

Chờ một dịp đặc biệt.

Chờ một thời điểm đúng.

Chờ một cảm xúc mạnh.

Chờ một biến cố thật lớn.

Chờ đến khi đau đủ.

Chờ đến khi chạm đáy.

Chờ đến khi có động lực bùng lên.

Chờ đến khi lòng mình bốc cháy.

Chờ đến khi thấy mình “sẵn sàng”.

Nhưng nhiều khi, trong lúc chờ như vậy, cả đời họ cứ âm thầm đi qua.

Bởi vì Chúa rất thường không cứu đời người theo kiểu ồn ào như con người mong.

Người có thể dùng biến cố lớn, đúng. Người có thể dùng nước mắt, dùng cú ngã, dùng một bài giảng chạm tim, dùng một khoảnh khắc bừng sáng. Điều đó vẫn xảy ra. Nhưng rất nhiều lần, Chúa cứu con người bằng những việc nhỏ đến mức người ta coi thường.

Một lời cầu nguyện rất ngắn nhưng thật.

Một lần xưng tội sau nhiều tháng trì hoãn.

Một quyết định tắt điện thoại sớm hơn.

Một buổi sáng dậy sớm hơn mười lăm phút để gặp Chúa.

Một lần nói không với điều mình biết là đang kéo mình lệch.

Một lần xin lỗi.

Một lần ngồi lại với Lời Chúa dù chẳng thấy gì.

Một quyết định thôi nhắn cho người không nên nhắn nữa.

Một buổi chiều không chạy trốn nỗi buồn bằng tiếng ồn, mà đem nó đến trước mặt Chúa.

Một việc nhỏ được làm tới nơi.

Một thói quen nhỏ được sửa lại.

Những điều đó không có tiếng nhạc nền.

Không làm ai trầm trồ.

Không cho cảm giác “cuộc đời đổi hẳn” ngay.

Nhưng chính chúng lại là nơi Chúa âm thầm bẻ lái cả một đời người.

Người trẻ hôm nay thường khinh những điều nhỏ.

Không nói ra, nhưng trong lòng họ coi thường.

Họ muốn một cuộc lột xác.

Muốn một quyết tâm thật mạnh.

Muốn một chương mới thật rõ.

Muốn một bước ngoặt thật đẹp.

Trong khi Thiên Chúa nhiều lần chỉ chờ họ trung tín với một điều nhỏ ngay hôm nay.

Chính chỗ này là nơi rất nhiều người trẻ lỡ mất ân sủng. Không phải vì ân sủng không đến. Mà vì nó đến trong hình dạng quá bình thường nên họ không nhận ra. Họ cứ chờ một cơn bão thiêng liêng, trong khi Chúa lại đến như giọt nước nhỏ trên viên đá. Họ cứ muốn một tiếng gọi vang trời, trong khi Chúa lại thì thầm trong lương tâm: hôm nay con hãy sống thật ở chỗ này thôi. Họ cứ nghĩ phải đổi cả đời một lúc, trong khi Chúa chỉ xin một bước rất nhỏ nhưng không trì hoãn.

Tại sao người trẻ lại dễ chờ cái lớn như vậy?

Có lẽ vì cái lớn cho cảm giác mạnh hơn. Nó làm mình thấy mình đang thật sự sống. Nó làm mình tin rằng rồi đây sẽ khác. Nó giống như một câu chuyện đẹp để kể lại: ngày đó em đã được chạm mạnh lắm, từ đó em đổi đời. Ai cũng thích những câu chuyện như thế. Nhưng đời sống thiêng liêng thật lại hiếm khi đi theo một đường thẳng đẹp như phim. Phần lớn nó là một cuộc đổi mới rất lặng, rất bền, rất ít kịch tính, nhưng sâu.

Vấn đề là người trẻ lại thường nghiện cảm giác mạnh hơn là trung tín bền.

Họ thích được đánh động hơn là được rèn.

Thích bùng cháy hơn là giữ lửa.

Thích bắt đầu rất đẹp hơn là tiếp tục rất thật.

Thích giây phút rực rỡ hơn là những ngày bình thường có kỷ luật.

Nên khi cơn xúc động qua đi, họ thấy hụt. Rồi họ nghĩ mình cần một cú chạm mới. Một bài giảng mới. Một trại hè mới. Một khóa tĩnh tâm mới. Một người nào đó nói câu thật đúng tim mình lần nữa. Nhưng thật ra điều họ cần nhiều khi không phải thêm một cú chạm lớn. Điều họ cần là sống tới nơi cú chạm mình đã có.

Bao nhiêu lần người trẻ đã được đánh động?

Bao nhiêu lần đã khóc?

Bao nhiêu lần đã quyết tâm?

Bao nhiêu lần đã hứa với Chúa?

Bao nhiêu lần đã nghĩ: từ nay mình phải khác?

Vấn đề không hẳn là thiếu ánh sáng. Vấn đề là ánh sáng ấy không được biến thành nhịp sống.

Một cảm xúc mạnh không đủ cứu đời người nếu ngày hôm sau họ vẫn sống như cũ.

Một bài giảng hay không đủ cứu đời người nếu nó không chạm vào lịch sống, vào thói quen, vào cách dùng thời gian, vào quyết định cụ thể.

Một giờ chầu rất sốt sắng không đủ cứu đời người nếu sau giờ chầu, họ vẫn tiếp tục nuôi điều đang giết linh hồn mình.

Một khóa tĩnh tâm sâu không đủ đổi người nếu sau tĩnh tâm, họ lại quăng mình vào đúng guồng cũ không thay một nếp nhỏ nào.

Người trẻ nhiều khi đau vì họ có quá nhiều trải nghiệm thiêng liêng đẹp nhưng quá ít hoa trái bền. Điều đó làm họ bắt đầu nghi ngờ chính mình. Nghi ngờ cả ơn Chúa. Nghi ngờ cả sự thay đổi. Nhưng thật ra, có khi vấn đề chỉ là họ đang mong phép màu ở nơi mà Chúa muốn sự cộng tác.

Thiên Chúa hoàn toàn có thể đổi đời người ta ngay trong một khoảnh khắc. Nhưng phần lớn, Người muốn con người học đi với ân sủng. Người không chỉ muốn cho họ một cảm giác mới. Người muốn rèn một con tim mới. Mà trái tim mới không được dựng bằng vài cơn xúc động. Nó được hình thành qua những chọn lựa nhỏ, lặp lại, không oai, không được vỗ tay, nhưng rất thật.

Có những người trẻ cứ chờ mình “có cảm hứng” rồi mới bắt đầu cầu nguyện đều.

Chờ mình “sẵn sàng” rồi mới bỏ điều sai.

Chờ mình “có tâm trạng” rồi mới sống nghiêm túc.

Chờ “đúng thời điểm” rồi mới sửa nếp sống.

Nhưng thời điểm tốt nhất nhiều khi không đến như một món quà. Nó được sinh ra từ quyết định. Không phải mình có cảm hứng rồi mới bắt đầu. Nhiều khi phải bắt đầu trước, rồi cảm hứng mới dần trở lại. Không phải mình sẵn sàng rồi mới nói xin vâng. Nhiều khi phải nói xin vâng trước, rồi lòng mình mới học cách lớn dần trong tiếng vâng đó.

Người trẻ sợ cái nhỏ vì cái nhỏ không cho cảm giác anh hùng. Nó không làm mình thấy mình đang đổi đời ngay. Nó đòi sự khiêm nhường. Đòi chấp nhận rằng mình không cần một cú nhảy đẹp bằng việc chịu khó đi từng bước. Và điều này làm đụng tới cái tôi. Cái tôi thích những bức ảnh lớn về bản thân. Thích nghĩ rằng mình sẽ thay đổi bằng một quyết định thật hùng tráng. Nhưng Nước Trời lại hay mọc lên như hạt cải. Men trong bột. Mầm trong đất. Giọt nước trong đá. Toàn những hình ảnh nhỏ, lặng, chậm, nhưng có sức biến đổi khủng khiếp nếu được ở lại.

Có một nỗi kiêu ngạo rất kín nơi nhiều người trẻ: họ chê điều nhỏ vì tưởng rằng đời mình cần điều gì đó đặc biệt hơn mới đáng. Trong khi chính sự xem thường điều nhỏ làm họ mãi đứng ngoài cửa của đổi mới thật. Không ai đổi đời bằng những tuyên ngôn mình thích về bản thân. Người ta đổi đời bằng những việc họ chấp nhận làm lặp đi lặp lại khi chẳng ai nhìn thấy.

Một người không tự nhiên trở thành người cầu nguyện sâu. Họ trở thành như thế bằng vô số lần ngồi xuống, dù không cảm thấy gì.

Một người không tự nhiên trở thành người trong sạch. Họ được tạo nên bằng vô số lần cắt điều không nên nuôi.

Một người không tự nhiên trở thành người trưởng thành. Họ lớn lên bằng vô số lần làm điều đúng khi điều đó rất không hấp dẫn.

Một người không tự nhiên trở thành người thuộc về Chúa. Họ được gom lại bằng vô số lần quay về nhanh, thú thật nhanh, sửa nhanh, bắt đầu lại nhanh.

Tất cả đều nhỏ.

Nhưng chính điều nhỏ ấy mới bền.

Người trẻ còn chờ biến cố lớn vì họ sợ cái đều đặn. Cái đều đặn không làm tim họ rung như biến cố. Nó thiếu màu. Thiếu drama. Thiếu cảm giác “hôm nay đời mình sang trang”. Nhưng cái đều đặn lại là nơi định mệnh được viết. Một kinh tối được đọc mỗi ngày. Một lần xét mình mỗi tối. Một giờ Thánh lễ được giữ trung tín. Một buổi sáng bắt đầu với dấu thánh giá có ý thức. Một quyết định không bước vào chỗ nguy nữa. Một lần làm tới nơi việc phải làm. Những điều đó không kịch tính, nhưng nó đổi cấu trúc của con người.

Người trẻ thích những đỉnh núi. Nhưng phần lớn sự biến đổi diễn ra trong những đồng bằng. Trong ngày thường. Trong các buổi sáng không ai nhớ. Trong các buổi tối không gì đặc biệt. Trong những lúc mình muốn bỏ mà không bỏ. Trong những lần mình muốn trễ mà vẫn đứng dậy. Trong những lúc mình muốn chiều mình mà lại từ chối.

Đó là nơi đức tin đi từ cảm xúc sang xương sống.

Một lý do nữa khiến người trẻ chờ điều lớn là vì điều lớn cho phép họ tiếp tục tránh điều phải làm nhỏ mà rõ. Họ nói: khi nào có một biến cố nào đó mạnh, mình sẽ đổi hẳn. Nhưng ngay hôm nay, điều họ cần làm đã rõ rồi: đi xưng tội, cắt một mối dây không lành, ngủ sớm hơn, dành thời gian đầu ngày cho Chúa, ngừng mở cửa cho những điều làm mình suy yếu, nói thật với một người đồng hành, sửa một thói quen đang phá đời mình. Nhưng vì những việc ấy không mang dáng vẻ “cuộc đời đổi trang”, họ để đó. Họ thích một tương lai sẽ đổi hơn là một hiện tại phải sửa.

Và như vậy, họ không chỉ chờ biến cố lớn.

Họ đang dùng ý tưởng về biến cố lớn để trốn sự vâng phục nhỏ hôm nay.

Điều này rất đáng sợ.

Bởi vì vâng phục nhỏ hôm nay mới là con đường đi tới mọi thay đổi lớn lành mạnh. Ai không trung tín trong bước nhỏ sẽ rất khó giữ được bước lớn nếu nó có xảy ra. Một người không giữ được mười lăm phút cho Chúa mỗi ngày thì khó lòng giữ được những lời hứa lớn với Chúa trong những lúc đêm tối. Một người không dám sửa một điều nhỏ trong nếp sống thì khó lòng đứng vững trước những đòi hỏi lớn của ơn gọi.

Người trẻ hay nghĩ rằng một ngày nào đó, mình sẽ khác hẳn. Nhưng con người ít khi khác hẳn. Họ thường khác dần. Và chính cái “dần” ấy làm họ thiếu kiên nhẫn. Họ muốn đổi rõ, đổi mạnh, đổi thấy được, đổi ngay. Trong khi Chúa nhiều lần làm việc dưới bề mặt trước. Người không chỉ quan tâm đến việc bạn có cảm thấy đổi hay không. Người quan tâm đến việc bạn có đang thành người mới thật hay không. Mà người mới thật không thể được dựng bằng sự nóng vội. Người ấy phải lớn lên như cây. Như men. Như em bé trong dạ mẹ. Như bình minh. Tất cả đều chậm.

Người trẻ sợ chậm vì chậm làm họ cảm giác như mình không tiến. Nhưng không phải cái gì chậm cũng là trì trệ. Có những cái chậm là dấu chỉ của trưởng thành thật. Một cái cây mọc trong một đêm thường không phải cây thật. Một đời sống thiêng liêng chỉ toàn những cơn bốc mạnh mà không có sự bền đều cũng rất dễ mỏng. Chúa không cần bạn đổi ồn ào. Người cần bạn đổi thật.

Và đổi thật thì phải chấp nhận những ngày chẳng có gì “đặc biệt”. Chỉ có một lòng trung tín khiêm tốn.

Một kinh sáng.

Một đoạn Tin Mừng.

Một giờ làm việc tử tế.

Một lần từ chối cám dỗ.

Một việc yêu thương không ai biết.

Một lời xin lỗi.

Một quyết định không trốn cầu nguyện hôm nay.

Một buổi tối không chạy vào tiếng ồn nữa.

Nghe nhỏ quá.

Nhưng đời người thật ra được dệt từ những điều như vậy.

Có một điểm rất đẹp ở đây: Chúa không khinh điều nhỏ. Chỉ con người hay khinh. Chúa thấy trong một cử chỉ rất bé có thể ẩn cả một cuộc quay về. Người thấy trong một lời thú thật rất nghèo có thể ẩn một bước ngoặt của ân sủng. Người thấy trong một quyết định tưởng không đáng kể có thể ẩn việc một linh hồn bắt đầu bước khỏi đường cũ. Người không đợi con người làm điều lạ thường mới yêu họ. Người vui vì một bước thật.

Người trẻ cần chữa thói quen luôn muốn “cảm thấy mạnh” rồi mới bắt đầu. Không. Hãy bắt đầu yếu. Hãy bắt đầu nhỏ. Hãy bắt đầu trong run. Hãy bắt đầu trong khô. Hãy bắt đầu trong trạng thái rất bình thường. Đó mới là chỗ thật. Đó mới là chỗ ân sủng có thể bén vào đời sống chứ không chỉ bén vào cảm xúc.

Có thể bạn sẽ không có một câu chuyện rất kịch tính để kể về hành trình trở lại. Có thể đời bạn sẽ không đổi trong một đêm. Có thể không có một ngày nào đặc biệt lắm. Nhưng nếu hôm nay bạn thật hơn hôm qua một chút, sạch hơn một chút, gần Chúa hơn một chút, bớt trốn hơn một chút, bớt trì hoãn hơn một chút, thì trời biết. Và chính những “một chút” ấy, đủ lâu, sẽ làm nên một cuộc đổi đời rất thật.

Một ngọn đèn không sáng vì một giọt dầu. Nhưng từng giọt dầu nhỏ giữ cho nó cháy qua đêm.

Một bức tường không đứng vì một viên gạch. Nhưng từng viên gạch đặt đúng chỗ làm nó đứng suốt bao năm.

Một cuộc đời thánh không thành vì một bài giảng xúc động. Mà vì từng lời xin vâng nhỏ được giữ giữa ngày thường.

Người trẻ thân mến, đừng chờ sét đánh mới quay về. Đừng chờ bão đến mới học bám vào Chúa. Đừng chờ đau dữ mới sửa nếp sống. Đừng chờ một ngày quá đẹp mới bắt đầu lại. Có thể chính hôm nay, trong sự bình thường nhất, là ngày Chúa đang đi qua. Không phải bằng tiếng động lớn. Mà bằng một lời mời rất nhỏ: con sửa điều này đi. Con bỏ điều kia đi. Con ngồi với Ta mười lăm phút đi. Con nói thật đi. Con ngưng trì hoãn đi. Con bắt đầu lại từ chỗ nhỏ này đi.

Nếu bạn vâng lời mời nhỏ ấy, đừng coi thường nó. Có thể bạn đang tham dự vào một trong những cuộc đổi đời thật nhất của linh hồn mình.

Lạy Chúa, con vẫn hay chờ những điều lớn. Con thích những khoảnh khắc mạnh, những cảm xúc sâu, những biến cố rõ ràng. Con vẫn tưởng rằng đời con phải được đổi bằng một điều gì thật đặc biệt. Và vì thế, con coi nhẹ những bước nhỏ Ngài vẫn mời con mỗi ngày. Xin tha cho con vì đã chê sự âm thầm của ân sủng. Xin dạy con hiểu rằng Ngài không chỉ đi qua trong bão lớn, mà rất nhiều lần đi qua trong gió nhẹ. Xin cho con biết quý một lời cầu nguyện nhỏ nhưng thật, một quyết định nhỏ nhưng dứt khoát, một thói quen nhỏ nhưng lành. Xin cứu con khỏi việc nghiện xúc động mà thiếu trung tín. Xin cho con đừng chỉ muốn bắt đầu đẹp, mà biết tiếp tục thật. Và xin cho từng việc bé nhỏ hôm nay của con, khi được đặt trong tay Ngài, trở thành những viên gạch âm thầm xây nên một cuộc đời thuộc trọn về Ngài.

 

 

CHƯƠNG 23

VÌ SAO NHIỀU NGƯỜI TRẺ MUỐN THAY ĐỔI ĐỜI MÌNH, NHƯNG LẠI KHÔNG CHỊU THAY ĐỔI NẾP SỐNG, MÔI TRƯỜNG, CÁC MỐI QUAN HỆ VÀ NHỮNG ĐIỀU RẤT CỤ THỂ ĐANG NUÔI CON NGƯỜI CŨ CỦA MÌNH MỖI NGÀY

Có rất nhiều người trẻ thật sự muốn đổi.

Họ không giả.

Họ không hẳn nói cho hay.

Họ thật lòng thấy mệt với chính kiểu sống cũ của mình.

Mệt vì trì trệ.

Mệt vì tội lỗi lặp đi lặp lại.

Mệt vì nội tâm rối.

Mệt vì cứ hứa rồi lại ngã.

Mệt vì thấy tuổi trẻ mình đang trôi mà không sáng.

Mệt vì cứ sống dưới mức ơn gọi Chúa muốn cho mình.

Họ muốn đổi.

Muốn gần Chúa hơn.

Muốn kỷ luật hơn.

Muốn sạch hơn.

Muốn sống sâu hơn.

Muốn bỏ những gì đang kéo mình xuống.

Muốn thành một con người khác.

Điều đó là thật.

Nhưng rồi sau một thời gian, họ vẫn thấy mình quay lại đúng chỗ cũ.

Vẫn những thói quen ấy.

Vẫn những giờ giấc ấy.

Vẫn những kiểu người ấy.

Vẫn những nội dung ấy.

Vẫn những bầu khí ấy.

Vẫn những đường đi cũ.

Vẫn những cửa ngõ cũ mở toang.

Vẫn cùng một môi trường nuôi dưỡng phiên bản cũ của mình mỗi ngày.

Và rồi họ đau. Họ tự hỏi: tại sao mình không đổi nổi? Có phải mình không đủ quyết tâm? Có phải mình không thật lòng? Có phải ơn Chúa chưa chạm tới? Có phải mình bất lực?

Không hẳn.

Nhiều khi vấn đề không nằm ở chỗ họ không muốn đổi.

Vấn đề là họ muốn một con người mới nhưng vẫn giữ nguyên hệ sinh thái nuôi con người cũ.

Đó là một nghịch lý rất phổ biến.

Muốn cây cho trái khác, nhưng không đổi đất.

Muốn đời khác, nhưng không đổi nhịp.

Muốn lòng trong, nhưng không đổi cửa mắt.

Muốn gần Chúa, nhưng không đổi cấu trúc ngày sống.

Muốn mạnh lên, nhưng vẫn ở hoài trong những nơi làm mình yếu.

Muốn bớt lệ thuộc, nhưng vẫn giữ những mối dây đang siết mình.

Muốn bình an, nhưng không chịu rời khỏi bầu khí đang làm lòng mình động loạn.

Không ai đổi đời chỉ bằng ý muốn treo trong đầu. Đời người đổi khi những điều rất cụ thể chung quanh nó bắt đầu đổi theo. Không phải vì môi trường quyết định tất cả. Không phải vì con người không có tự do. Nhưng vì tự do con người rất thường bị ảnh hưởng sâu bởi nhịp sống, bởi bầu khí, bởi những gì lặp lại, bởi những người mình ở gần, bởi điều mình tiếp xúc hằng ngày.

Nếu một người cứ ngày nào cũng sống trong cùng một nhịp cũ, chạm vào cùng những kích thích cũ, mở cùng những cánh cửa cũ, nuôi cùng những cơn đói cũ, thì không lạ khi con người cũ cứ mạnh hơn những quyết tâm đẹp.

Nhiều người trẻ muốn thay đổi rất chân thành, nhưng họ lại quá trừu tượng với việc thay đổi. Họ nghĩ theo kiểu này: từ mai mình sẽ sống tốt hơn. Từ mai mình sẽ cầu nguyện hơn. Từ mai mình sẽ nghiêm túc hơn. Từ mai mình sẽ bỏ điều đó. Từ mai mình sẽ sống khác.

Nhưng “sống khác” theo nghĩa nào?

Dậy giờ nào khác?

Tắt điện thoại lúc nào?

Không gặp ai nữa?

Rời khỏi môi trường nào?

Ngưng nội dung nào?

Sắp lại góc học, góc ngủ, nhịp sinh hoạt thế nào?

Giữ giờ chầu nào?

Xưng tội khi nào?

Đặt ranh giới với ai?

Ngưng thói quen gì?

Nếu không đi xuống những câu hỏi cụ thể như vậy, thay đổi sẽ chỉ còn là một khát vọng mơ hồ. Mà điều mơ hồ rất khó thắng được cái rất cụ thể của đời sống cũ.

Con người cũ không sống bằng ý tưởng. Nó sống bằng nhịp. Bằng phản xạ. Bằng thói quen. Bằng môi trường. Bằng những lần lặp. Cho nên muốn con người mới có cơ hội lớn lên, người trẻ phải đủ can đảm chạm tới tận nền sinh hoạt của mình.

Điều này nghe không thiêng liêng lắm.

Nhưng rất thiêng.

Bởi vì ân sủng không chỉ chạm tới cảm xúc. Ân sủng muốn đi vào cả thời khóa biểu, cả giấc ngủ, cả các mối quan hệ, cả điện thoại, cả thân xác, cả các khoảng trống trong ngày, cả những nơi mình lui tới, cả kiểu nhắn tin mình vẫn giữ, cả những thứ mình xem lúc không ai biết.

Chúa không chỉ muốn đổi ý định của người trẻ. Người muốn đổi cấu trúc đang giữ họ trong con người cũ.

Đây là điều rất quan trọng.

Có những người trẻ cứ xin Chúa cho mình bớt cám dỗ, nhưng vẫn để phòng mình, giờ giấc mình, thói quen mạng mình, các cuộc trò chuyện mình, những lối tiếp cận của mình y như cũ. Họ muốn lòng trong sạch hơn, nhưng không đổi đường dẫn vào những gì làm lòng mình đục. Họ muốn bớt nguội lạnh, nhưng không hề thay đổi nhịp sống đang giết chết nội tâm. Họ muốn bớt rối, nhưng vẫn chìm trong một môi trường luôn làm họ phân tán. Họ muốn bớt bị kéo bởi người kia, nhưng vẫn giữ mọi cánh cửa liên lạc mở sẵn.

Như thế thì rất khó.

Không phải vì Chúa không mạnh.

Mà vì con người đang xin ơn đổi đời trong khi vẫn ngày ngày tưới nước cho con người cũ.

Một ví dụ rất thật: có những người trẻ muốn cầu nguyện sâu hơn, nhưng sáng mở mắt ra là điện thoại, tối trước khi ngủ cũng là điện thoại, trong ngày thì từng khoảng trống đều bị lấp bằng màn hình, đầu óc luôn bị chia mảnh bởi thông báo, sự chú ý luôn bị rút khỏi hiện tại. Rồi họ tự hỏi sao mình không còn nội tâm. Không lạ. Nội tâm cần khoảng lặng để thở. Nếu không thay đổi môi trường chú ý của mình, rất khó mong một đời sống cầu nguyện khác hẳn.

Hay có những người muốn sống trong sạch, nhưng vẫn giữ một kiểu trò chuyện mập mờ, một kiểu tiếp xúc không ranh giới, một nhịp sống thức khuya, một cửa ngõ nội dung luôn hé mở, một sự dễ dãi với những gì mắt mình nhìn, trí mình nuôi. Họ muốn sạch hơn, nhưng không chịu làm cho môi trường quanh mình bớt đục đi. Điều đó giống như muốn phòng hết mùi mà vẫn không chịu mở cửa và dọn rác.

Cũng có những người trẻ muốn bình an hơn, nhưng vẫn ở quá gần với những người luôn kéo họ vào so sánh, vào hơn thua, vào lối nói tiêu cực, vào những giá trị lệch. Họ vẫn ngày ngày sống trong bầu khí ấy, rồi tự hỏi sao lòng mình cứ nặng. Không phải cứ rời một nhóm người là ích kỷ. Có những khoảng cách lành mạnh rất cần thiết để linh hồn còn chỗ thở.

Người trẻ thường ngại đổi môi trường vì họ sợ bị coi là làm quá, là khó, là thay đổi thất thường, là không còn như trước. Nhưng nếu môi trường đang giết phần đẹp nhất trong mình, thì ở lì trong đó không phải là trung thành, mà là dại. Có những người phải bớt gặp một số người. Bớt lui tới một số chỗ. Bớt giữ một số hình thức kết nối. Bớt để bản thân ở trong những bầu khí kéo mình xuống. Không phải vì ghét ai. Mà vì yêu linh hồn mình đủ để không tiếp tục nuôi điều đang làm nó tối.

Có những người trẻ muốn sống mới, nhưng lại quá tiếc những thứ cũ. Tiếc những cuộc trò chuyện cũ. Tiếc những chỗ quen cũ. Tiếc nhịp sống cũ. Tiếc cảm giác thoải mái của phiên bản cũ. Họ muốn khác, nhưng không muốn mất cảm giác quen thuộc. Vấn đề là con người cũ luôn cho một cảm giác quen. Dù nó làm mình đau, mình vẫn thấy quen. Dù nó làm mình xấu đi, mình vẫn thấy đỡ lạ hơn việc bước sang điều mới. Vì cái mới bao giờ cũng đòi vụng, đòi khó, đòi lạ, đòi phải chịu những ngày chưa quen.

Và nhiều người bỏ cuộc ngay ở đó.

Không phải vì hướng mới sai.

Mà vì họ không chịu nổi cảm giác mất sự quen thuộc của con người cũ.

Chính vì vậy, thay đổi thật luôn có một giai đoạn rất mong manh. Giai đoạn một người đã không còn muốn sống như cũ, nhưng cũng chưa quen sống như mới. Đây là giai đoạn nhiều người trẻ bỏ cuộc nhất. Vì lúc đó, họ không còn thấy thú với lối cũ như trước, nhưng lối mới cũng chưa sinh hoa trái rõ. Họ ở giữa. Lưng chừng. Cô đơn. Khô. Vụng. Mệt. Và nếu không hiểu đây là giai đoạn bình thường của đổi mới, họ sẽ rất dễ quay lại điều cũ chỉ vì ở đó đỡ chông chênh hơn.

Người trẻ cần biết: đổi đời không chỉ là bỏ điều xấu. Nó còn là học một kiểu sống mới. Một nếp mới. Một bầu khí mới. Một cách dùng thời gian mới. Một cách nghỉ ngơi mới. Một cách xử lý cô đơn mới. Một cách cầu nguyện mới. Một cách yêu mới. Một cách nói chuyện với chính mình mới. Nếu không học những điều ấy, khoảng trống do điều cũ để lại sẽ kéo mình quay về rất nhanh.

Chẳng hạn, nếu một người bỏ thói quen chạy vào màn hình mỗi khi buồn, mà không học cách ngồi với Chúa, đi bộ, viết ra, gọi cho một người lành, hoặc làm việc gì nuôi nội tâm mình, thì nỗi buồn ấy sẽ sớm kéo họ quay lại màn hình. Nếu một người cắt một mối quan hệ mập mờ nhưng không học cách sống với khoảng trống, không để Chúa đi vào cơn cô đơn ấy, thì rồi họ sẽ rất dễ tìm một mối khác y như vậy. Nếu một người muốn nghiêm túc hơn với ơn gọi mà không đổi cách dùng ngày sống, thì ơn gọi ấy sẽ cứ mãi là một ý đẹp chứ không thành hình.

Có một điều rất thật: môi trường luôn đang huấn luyện con người. Câu hỏi không phải là có bị môi trường ảnh hưởng hay không. Câu hỏi là mình đang để môi trường nào huấn luyện mình. Phòng mình huấn luyện mình. Điện thoại mình huấn luyện mình. Những người mình trò chuyện nhiều nhất huấn luyện mình. Thứ mình nghe lúc mệt huấn luyện mình. Kiểu giải trí mình chọn huấn luyện mình. Lịch sống mình giữ huấn luyện mình. Những gì lặp đi lặp lại chung quanh mình đang ngày ngày đào những đường rãnh trong linh hồn.

Nên nếu người trẻ muốn đổi mà không chịu đổi môi trường, nhiều khi họ đang đánh nhau tay không với cả một guồng quay mạnh hơn mình. Điều đó không có nghĩa là vô vọng. Nhưng nó rất bất lợi. Khôn ngoan không phải là cứ đưa mình vào nơi yếu rồi chờ mình mạnh đủ để thắng. Khôn ngoan là biết dựng hàng rào, biết dọn đất, biết tạo điều kiện cho điều tốt có cơ hội sống.

Rất nhiều người trẻ coi những thay đổi cụ thể là nhỏ nhặt.

Đổi giờ ngủ.

Đổi góc làm việc.

Để điện thoại xa hơn.

Bớt mở mạng.

Chọn lại người mình hay tâm sự.

Giữ giờ cầu nguyện cố định.

Không nhắn vào khung giờ nguy hiểm.

Rời khỏi một nhóm chat độc hại.

Bớt gặp một người khiến lòng mình loạn.

Đi lễ sớm hơn để có thời gian ở lại.

Những việc đó nghe không hùng tráng.

Nhưng chúng là những cử chỉ rất thật của người đã thôi muốn chỉ “ước ao” đổi đời, mà thật sự muốn đổi đời.

Một người không chịu chạm vào điều cụ thể thì thường chỉ yêu ý tưởng về việc mình tốt lên, chứ chưa yêu đủ việc phải trả giá để tốt lên.

Nghe đau, nhưng thật.

Rất nhiều người trẻ thích phiên bản tương lai đẹp của mình.

Phiên bản biết cầu nguyện hơn, kỷ luật hơn, bình an hơn, thánh thiện hơn, trưởng thành hơn.

Nhưng họ chưa yêu đủ những hy sinh nhỏ, những cắt bỏ nhỏ, những đổi nhịp nhỏ, những ranh giới nhỏ phải có để phiên bản ấy được sinh ra.

Họ yêu thành quả, nhưng chưa yêu tiến trình.

Mà Chúa thường làm việc trong tiến trình.

Người không học yêu tiến trình sẽ rất khó bền trên đường thánh hóa.

Cũng phải nói thêm rằng đổi môi trường không có nghĩa là chỉ đổi bên ngoài. Có người đổi chỗ, đổi nhóm, đổi việc, đổi lịch, nhưng mang nguyên nội tâm cũ theo. Điều đó không đủ. Nhưng ngược lại, chỉ đổi nội tâm mà không đụng tới thực tế bên ngoài cũng rất khó. Sự đổi mới cần cả hai: ánh sáng bên trong và những thay đổi bên ngoài nâng đỡ ánh sáng ấy.

Bên trong, phải có sự thật, lòng sám hối, ơn Chúa, quyết định quay về.

Bên ngoài, phải có nhịp sống mới, các ranh giới mới, những chọn lựa mới, những cắt đứt cần thiết, những mối tương quan lành mạnh hơn, một môi trường bớt độc hơn.

Khi hai điều đó gặp nhau, sự thay đổi mới có đất.

Người trẻ nhiều khi quá lãng mạn với chuyện đổi đời. Họ nghĩ một lời cầu nguyện sốt sắng sẽ đủ. Một khóa tĩnh tâm sâu sẽ đủ. Một quyết tâm mạnh sẽ đủ. Không. Tất cả những điều đó rất quý, nhưng nếu sau đó chiếc giường, chiếc điện thoại, nhóm bạn, lịch sống, những cửa ngõ nội dung, những thói quen cũ, những cuộc trò chuyện cũ vẫn ở y nguyên vị trí cũ và quyền lực cũ, thì rất khó đòi hoa trái khác.

Một cái cây không thể cứ ở trong đất mặn rồi mong trái ngọt. Ít nhất, phải bắt đầu thay đất.

Người trẻ thân mến, nếu bạn thật lòng muốn đổi, xin đừng chỉ hỏi: lòng con có muốn đủ mạnh chưa? Hãy hỏi thêm: môi trường sống của con đang nuôi con người nào? Nếp sống hiện tại của con đang giúp phiên bản nào lớn lên? Người con hay gặp nhất kéo con về đâu? Những gì con xem khi mệt làm con sáng hơn hay tối hơn? Căn phòng, lịch sống, các khoảng trống, các giờ yếu, các cuộc trò chuyện, các thói quen nhỏ của con đang phục vụ ơn gọi mới hay đang tiếp tục bảo vệ con người cũ?

Có thể hôm nay Chúa không đòi bạn làm điều rất lớn. Có thể Người chỉ mời bạn đổi một góc rất cụ thể.

Dời điện thoại ra khỏi giường.

Ngủ sớm hơn.

Giữ giờ cầu nguyện cố định.

Ngưng một mối nhắn tin không nên tiếp tục.

Bớt một nhóm chat đang làm lòng bạn đục.

Thay một giờ lướt bằng một giờ thật hơn.

Chọn một người lành để đồng hành.

Để nhà mình, bàn học mình, ngày sống mình bớt hỗn độn hơn.

Những điều đó nhỏ lắm.

Nhưng chúng là cách bạn nói với Chúa: con không chỉ muốn khác trong đầu, con muốn tạo chỗ cho con người mới được lớn lên thật.

Lạy Chúa, con vẫn nói rằng con muốn thay đổi. Và nhiều lúc con thật lòng muốn. Nhưng xin cho con thấy rằng có khi con chỉ muốn một đời mới mà vẫn giữ nguyên những điều nuôi con người cũ. Con muốn sạch hơn nhưng không đổi cửa ngõ. Muốn bình an hơn nhưng không đổi bầu khí. Muốn gần Ngài hơn nhưng không đổi nhịp sống. Muốn mạnh hơn nhưng không chịu rời khỏi những chỗ làm con yếu. Xin cứu con khỏi sự mơ hồ ấy. Xin cho con can đảm chạm vào điều cụ thể. Chạm vào lịch sống, vào điện thoại, vào những mối quan hệ, vào những cửa ngõ, vào các thói quen, vào môi trường của con. Xin cho con đừng chỉ mơ về việc trở thành người mới, nhưng biết cộng tác với ân sủng bằng những thay đổi rất thực mỗi ngày. Và xin tạo quanh con một mảnh đất lành hơn, để điều Ngài đang gieo trong con không tiếp tục chết ngạt giữa những điều cũ con cứ giữ lại.

 

 

CHƯƠNG 24

VÌ SAO NHIỀU NGƯỜI TRẺ CỨ NGHĨ CHỈ CẦN “CÓ LÒNG” LÀ ĐỦ, TRONG KHI MỘT CUỘC ĐỜI ĐẸP CÒN ĐÒI SỰ RÈN LUYỆN, KỶ LUẬT, TẬP LUYỆN NHÂN ĐỨC VÀ NHỮNG CHỌN LỰA LẶP ĐI LẶP LẠI RẤT CỤ THỂ ĐỂ ƠN CHÚA CÓ CHỖ THÀNH HÌNH

Có một điều rất phổ biến nơi người trẻ: họ quý lòng tốt, quý thiện chí, quý những xúc động đẹp, quý sự chân thành. Điều đó rất đúng. Không có lòng, không có gì bắt đầu được. Một người không có lòng thì khó mà bước vào bất cứ điều gì thật. Không có lòng với Chúa, không thể có đời sống thiêng liêng. Không có lòng với ơn gọi, không thể có dấn thân. Không có lòng với người mình yêu, không thể có trung tín. Không có lòng với sự thật, không thể có hoán cải.

Nhưng vấn đề là nhiều người trẻ dừng ở đó.

Họ nghĩ có lòng là đủ.

Con có lòng mà.

Con muốn tốt mà.

Con đâu cố ý xấu.

Con đâu phải người vô tâm.

Con đâu phải không yêu Chúa.

Con đâu phải không muốn sống đàng hoàng.

Tất cả đều đúng.

Nhưng muốn chưa đủ để thành.

Có lòng chưa đủ để đứng vững.

Thiện chí chưa đủ để đi tới cùng.

Xúc động chưa đủ để dựng nên một đời sống.

Bởi vì một cuộc đời đẹp không chỉ được dựng bằng những điều mình cảm thấy, mà còn bằng những gì mình tập cho bản thân trở thành mỗi ngày.

Một hạt giống rất tốt nếu không có đất, có nước, có ánh sáng, có người chăm, thì cũng không thành cây.

Một trái tim rất đẹp nếu không biết rèn, không biết giữ, không biết tập, không biết nói không, không biết trung tín với những điều nhỏ, thì cũng rất dễ tàn giữa đường.

Đây là điều người trẻ thường không thích nghe.

Vì rèn luyện nghe khô.

Kỷ luật nghe nặng.

Tập nhân đức nghe cũ.

Lặp đi lặp lại nghe chán.

Trong khi người trẻ thích những gì sống động, tự nhiên, bùng nổ, mạnh mẽ, có cảm hứng.

Nhưng đời sống thật lại không lớn lên chủ yếu nhờ cảm hứng.

Nó lớn lên nhờ tập.

Tập cầu nguyện.

Tập giữ lời.

Tập đúng giờ.

Tập nói thật.

Tập im đúng lúc.

Tập từ chối điều sai.

Tập chịu đựng sự khó chịu mà không chạy.

Tập yêu khi không còn thấy dễ.

Tập làm việc tới nơi.

Tập quay về nhanh sau sa ngã.

Tập để Chúa đi vào những điều rất bình thường.

Chính những cái tập ấy làm nên xương sống.

Mà không có xương sống thì lòng tốt dễ gãy lắm.

Có những người trẻ rất tốt, nhưng không bền.

Rất chân thành, nhưng không giữ được.

Rất sốt sắng, nhưng mau nguội.

Rất yêu, nhưng dễ bỏ cuộc.

Rất thích điều hay, nhưng không sống được điều hay lâu.

Tại sao?

Không phải vì họ giả.

Mà vì lòng của họ chưa được rèn thành nếp.

Họ có động lực, nhưng thiếu cấu trúc.

Có thiện chí, nhưng thiếu nội lực.

Có rung động, nhưng thiếu khả năng lặp lại điều đúng trong những ngày không còn rung động.

Có một khác biệt rất lớn giữa người có lòngngười đã được rèn.

Người có lòng dễ bắt đầu.

Người đã được rèn mới đi xa.

Người có lòng dễ xúc động trước điều tốt.

Người đã được rèn mới giữ được điều tốt khi nó không còn hấp dẫn.

Người có lòng rất dễ hứa.

Người đã được rèn mới sống được lời hứa.

Người có lòng rất dễ nói “con muốn”.

Người đã được rèn mới biến “con muốn” thành “con đang sống”.

Nhiều người trẻ đau vì họ cứ lặp lại một vòng tròn: muốn tốt, hứa tốt, rồi không giữ nổi, rồi thất vọng về mình, rồi lại hứa lại. Họ tưởng vấn đề là mình thiếu lòng hơn. Nhưng nhiều khi không phải. Vấn đề là họ không đi vào trường học của nhân đức. Không chịu để những điều nhỏ, đều, khó, ít hấp dẫn rèn mình thành người có khả năng làm điều đúng một cách bền bỉ.

Nhân đức không phải là một món trang sức đạo đức.

Nhân đức là sức mạnh bên trong đã được tập cho nghiêng về điều tốt.

Một người công bằng là vì họ đã tập công bằng.

Một người trong sạch là vì họ đã tập giữ mắt, giữ trí, giữ lòng.

Một người kiên nhẫn là vì họ đã nhiều lần chọn không phản ứng theo xung động đầu tiên.

Một người trung tín là vì họ đã tập ở lại trong điều đúng qua nhiều mùa không dễ.

Một người khiêm nhường là vì họ đã để sự thật đụng vào cái tôi của mình nhiều lần.

Không ai tự nhiên có nhân đức.

Người ta được nắn nên bởi hàng ngàn lần chọn đúng.

Và đó chính là chỗ người trẻ thường bỏ qua.

Họ muốn trái mà không muốn mùa tập luyện.

Muốn đẹp mà không muốn bị uốn.

Muốn mạnh mà không muốn đi qua sự lặp lại.

Muốn nên người mà không muốn chịu khó sửa từng nếp nhỏ.

Trong khi Thiên Chúa rất tôn trọng tiến trình ấy.

Người có thể làm phép lạ.

Người có thể đổi đời con người rất mạnh.

Nhưng rất nhiều lần, Người chọn cộng tác với con người qua con đường chậm hơn: rèn luyện họ.

Không chỉ ban cảm hứng, mà dạy họ giữ giờ.

Không chỉ an ủi, mà dạy họ ở lại.

Không chỉ tha thứ, mà dạy họ đứng dậy.

Không chỉ gọi, mà còn dạy họ đi từng bước như người môn đệ.

Người trẻ hay lẫn lộn giữa có tình cảm tốtcó nhân đức thật.

Ví dụ, họ nghĩ mình yêu Chúa nên chắc mình sẽ tự nhiên cầu nguyện sâu hơn. Không. Yêu Chúa cần đi qua tập cầu nguyện. Tập dừng lại. Tập dành thời gian. Tập trung tín ngay cả khi khô.

Họ nghĩ mình thương người này thật nên chắc sẽ tự nhiên trung tín. Không. Trung tín cần đi qua tập hy sinh, tập giữ ranh giới, tập nói thật, tập chịu trách nhiệm với cảm xúc.

Họ nghĩ mình ghét sự dối trá nên chắc sẽ sống chân thật. Không. Chân thật cần đi qua tập không bào chữa, tập nhận lỗi, tập không tô màu cho bản thân.

Không có tập luyện, lòng tốt chỉ ở mức tiềm năng.

Mà đời người không được đo bằng tiềm năng mình có thể có. Nó được đo bằng con người mình thật sự trở thành.

Có những người trẻ cả đời mang một hình ảnh rất đẹp về mình trong đầu: mình sống sâu lắm, mình tử tế lắm, mình có lý tưởng lắm, mình yêu Chúa mà. Nhưng thực tế ngày sống lại không chứng minh được điều đó. Không phải vì họ đạo đức giả. Mà vì họ yêu hình ảnh đẹp về bản thân hơn là chấp nhận tiến trình rất thực để thành con người ấy.

Đây là một cám dỗ rất kín: yêu phiên bản lý tưởng của mình, nhưng không yêu việc bị rèn nên người đó.

Muốn thành người cầu nguyện, nhưng không muốn bị kéo ra khỏi sự dễ dãi.

Muốn thành người trưởng thành, nhưng không muốn bị chạm tới tính thất thường.

Muốn thành người biết yêu, nhưng không muốn bị sửa sự ích kỷ.

Muốn thành người tự do, nhưng không muốn đánh nhau với những lệ thuộc rất cụ thể.

Muốn thành người có chiều sâu, nhưng không muốn chịu cô đơn của những giờ ở một mình với Chúa.

Nói cách khác, nhiều người trẻ thích hoa trái, nhưng không thích mùa gieo.

Thích vẻ đẹp của nhân đức, nhưng không thích sự đơn điệu của việc tập nhân đức.

Thích người thánh, nhưng không thích trường học của sự thánh.

Trong khi trường học ấy lại rất bình thường.

Một người được rèn không nhất thiết là người làm những chuyện lớn. Họ thường là người giữ được những điều nhỏ lâu hơn người khác.

Giữ giờ hơn một chút.

Giữ lời hơn một chút.

Giữ lòng hơn một chút.

Giữ mắt hơn một chút.

Giữ miệng hơn một chút.

Giữ lịch sống hơn một chút.

Giữ thinh lặng hơn một chút.

Giữ tương quan với Chúa hơn một chút.

Cái “hơn một chút” lặp đủ lâu sẽ làm nên khác biệt rất lớn.

Người trẻ thường thất vọng về chính mình vì họ đòi hoa trái quá sớm. Hôm nay quyết tâm, mai muốn thấy mình khác hẳn. Hôm nay cầu nguyện lại, mai muốn lòng cháy ngay. Hôm nay bắt đầu kỷ luật, vài hôm sau đã thấy chán vì chưa có cảm giác mình “lột xác”. Nhưng nhân đức không mọc như nấm. Nó mọc như cây. Cần thời gian. Cần mùa. Cần kiên trì. Cần những ngày không có gì đặc biệt. Và chính điều này làm nhiều người trẻ nản.

Họ không thiếu thiện chí.

Họ thiếu sức chịu đựng sự bình thường của tiến trình.

Họ muốn sống đẹp, nhưng lại không chấp nhận việc vẻ đẹp ấy phải đi qua những bài tập lặp lại.

Một vận động viên không có bài tập nền thì không thể thi đấu bền.

Một nhạc công không luyện ngón mỗi ngày thì không thể chơi tự do thật.

Một người môn đệ cũng vậy. Không thể sống tự do thiêng liêng nếu không có những bài tập nền của linh hồn.

Những bài tập đó có thể là:

giữ giờ cầu nguyện,

xét mình cuối ngày,

đọc Lời Chúa đều,

giữ thinh lặng một khoảng,

canh giữ điều mình xem,

đứng dậy đúng giờ,

hoàn tất bổn phận,

không trì hoãn điều biết là phải làm,

nói thật nhanh hơn bào chữa,

xin lỗi nhanh hơn tự ái,

quay về nhanh hơn nán lại trong ngã.

Tất cả nghe rất đời thường.

Nhưng chính đó là trường học nơi ơn Chúa dần thành hình trong con người cụ thể.

Có một sai lầm lớn nữa là người trẻ hay nghĩ kỷ luật giết tự nhiên. Họ sợ nếu sống quá có nếp, mình sẽ khô. Nếu cầu nguyện có giờ, mình sẽ máy móc. Nếu rèn nhân đức, mình sẽ cứng. Nhưng không phải vậy. Kỷ luật không giết sự sống. Kỷ luật bảo vệ sự sống khỏi bị rơi vào hỗn độn.

Người không có giờ cầu nguyện thường không phải là người tự do hơn, mà là người dễ bị mọi thứ khác chiếm giờ hơn.

Người không có nếp thường không phải là người sống tự nhiên hơn, mà là người bị hoàn cảnh kéo đi nhiều hơn.

Người không tự rèn thường không phải là người “thật với mình” hơn, mà là người bị phần chưa được thanh luyện trong mình làm chủ hơn.

Kỷ luật đúng không làm con người cứng đi.

Nó làm họ đủ vững để điều đẹp có chỗ sống lâu.

Một người có thể rất hiền, nhưng nếu không rèn, sự hiền ấy dễ thành yếu.

Một người có thể rất nhiệt thành, nhưng nếu không rèn, sự nhiệt thành ấy dễ thành chóng tàn.

Một người có thể rất quảng đại, nhưng nếu không rèn, sự quảng đại ấy dễ thành cảm hứng nhất thời.

Nhân đức là nơi lòng tốt được cắm rễ.

Không có rễ, cái đẹp chỉ là một mùa ngắn.

Người trẻ cũng thường hiểu sai ơn Chúa ở điểm này. Họ nghĩ nếu Chúa muốn mình tốt hơn thì Chúa sẽ làm mình tốt hơn thôi. Nếu Chúa muốn mình bền hơn thì Chúa sẽ ban cho mình bền hơn thôi. Điều đó đúng một phần: không có ơn Chúa, con người không thể tự cứu mình. Nhưng ơn Chúa không thay chỗ cho việc con người tập sống cộng tác. Ân sủng không phá hủy bản tính, nhưng nâng bản tính lên. Mà bản tính ấy phải được rèn.

Nói cách khác, Chúa không chỉ cứu bạn khỏi tội.

Người còn muốn dạy bạn sống như một con người mới.

Mà học sống thì cần tập.

Có khi người trẻ cầu xin: Lạy Chúa, xin cho con bớt nóng.

Chúa nghe.

Rồi Chúa cho họ những tình huống phải tập kiên nhẫn.

Họ cầu: xin cho con trung tín hơn.

Chúa nghe.

Rồi Chúa cho họ những ngày khô phải ở lại.

Họ cầu: xin cho con khiêm nhường hơn.

Chúa nghe.

Rồi Chúa cho họ những lần bị góp ý, bị hiểu lầm, bị không được khen.

Nếu họ chỉ muốn kết quả mà không chấp nhận bài tập, họ sẽ thấy như Chúa không trả lời. Nhưng thật ra, Người đang trả lời theo cách sâu hơn: Người đang rèn.

Người trẻ rất cần đổi cách nhìn về những ngày bình thường. Không phải ngày nào cũng có bài giảng hay. Không phải ngày nào cũng có cảm xúc sốt sắng. Không phải ngày nào cũng có biến cố đặc biệt. Nhưng ngày nào cũng có cơ hội tập.

Tập yêu.

Tập nhịn.

Tập làm tới nơi.

Tập sống thật.

Tập quay về.

Tập giữ tâm trí.

Tập trung tín.

Tập bớt chiều mình.

Tập đặt Chúa trước một chút.

Ai coi thường những bài tập đó sẽ khó trở thành người mình mơ.

Có một nỗi buồn nơi nhiều người trẻ là họ cứ muốn một ngày nào đó mình sẽ “tự nhiên tốt hơn”. Nhưng con người ít khi tự nhiên tốt hơn. Họ thường được tốt lên nhờ trung tín với những gì đang âm thầm rèn họ.

Bạn không tự nhiên thành người biết cầu nguyện. Bạn thành người biết cầu nguyện khi bạn cầu nguyện.

Bạn không tự nhiên thành người có chiều sâu. Bạn có chiều sâu khi bạn chấp nhận sống sâu trong những điều nhỏ.

Bạn không tự nhiên thành người trưởng thành. Bạn trưởng thành khi bạn tập chịu trách nhiệm thay vì trì hoãn.

Bạn không tự nhiên thành người thánh. Bạn lớn lên trong sự thánh thiện khi bạn để ơn Chúa đi qua thân phận thật của mình, ngày này qua ngày khác.

Người trẻ thân mến, nếu bạn chỉ dựa vào lòng mà không đi vào rèn luyện, sẽ có lúc bạn đau vì thấy lòng mình tốt mà đời mình vẫn yếu. Nhưng đừng tuyệt vọng. Điều đó không có nghĩa là lòng bạn giả. Nó chỉ có thể có nghĩa là lòng bạn cần được đưa vào trường học của nhân đức.

Chúa không coi thường thiện chí của bạn.

Người muốn cho thiện chí ấy một hình hài.

Một nếp sống.

Một xương sống.

Một sức bền.

Một khả năng trung tín.

Một trái tim không chỉ rung trước điều thiện, mà còn đủ mạnh để ở lại với điều thiện lâu dài.

Đừng sợ bị rèn.

Đừng sợ lặp lại.

Đừng sợ những ngày không có gì nổi bật.

Đừng sợ phải tập đi tập lại những điều rất căn bản.

Chính những điều đó mới làm nên người thật.

Một người biết cầu nguyện thật.

Biết yêu thật.

Biết hy sinh thật.

Biết đứng dậy thật.

Biết trung tín thật.

Lạy Chúa, con vẫn nghĩ rằng chỉ cần con có lòng là đủ. Con vẫn tự an ủi mình rằng con đâu có xấu, con đâu có vô tâm, con đâu có không muốn sống tốt. Nhưng hôm nay xin cho con hiểu rằng thiện chí đẹp thôi chưa đủ để dựng một cuộc đời đẹp. Xin cứu con khỏi việc yêu phiên bản tốt hơn của mình mà không chịu đi vào tiến trình rèn luyện để trở thành người đó. Xin dạy con quý kỷ luật, quý những bài tập nhỏ, quý nhân đức, quý những lần lặp lại không ai thấy. Xin cho con đừng chỉ xúc động trước điều thiện, mà biết tập sống điều thiện. Xin cho con đủ khiêm nhường để chấp nhận bị rèn, bị sửa, bị uốn. Và xin cho ơn Ngài không chỉ đi qua cảm xúc của con, mà đi vào tận nếp sống của con, để từng ngày rất bình thường cũng trở thành nơi Ngài âm thầm làm nên một con người mới.

 

 

CHƯƠNG 25

VÌ SAO NHIỀU NGƯỜI TRẺ RẤT KHÓ Ở LẠI LÂU VỚI MỘT ĐIỀU GÌ ĐÓ TỐT, RẤT NHANH CHÁN, RẤT NHANH ĐỔI HƯỚNG, RẤT NHANH BỎ DỞ, VÀ ĐIỀU ĐÓ ĐANG LÀM HỌ YẾU DẦN TRONG CẢ TÌNH YÊU, CÔNG VIỆC, ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG VÀ ƠN GỌI

Có một căn bệnh rất âm thầm của tuổi trẻ hôm nay: khó ở lại.

Không phải người trẻ không biết điều gì là tốt.

Nhiều khi họ biết rất rõ.

Biết một giờ cầu nguyện là tốt.

Biết một mối tương quan lành mạnh là tốt.

Biết một công việc nghiêm túc là tốt.

Biết một tiến trình học tập bền bỉ là tốt.

Biết một đời sống có kỷ luật là tốt.

Biết một con đường ơn gọi cần được đi sâu là tốt.

Nhưng biết là một chuyện.

Ở lại đủ lâu với điều tốt ấy lại là chuyện khác.

Rất nhiều người trẻ bắt đầu khá nhanh.

Có lửa.

Có thiện chí.

Có quyết tâm.

Có cảm hứng.

Có cả những giây phút rất đẹp.

Nhưng chỉ một thời gian sau là bắt đầu lơi.

Bắt đầu chán.

Bắt đầu thấy nặng.

Bắt đầu muốn đổi.

Bắt đầu thấy cái khác hấp dẫn hơn.

Bắt đầu nghĩ chắc đường này không hợp mình đâu.

Bắt đầu muốn nhảy sang cái mới.

Và rồi lại bắt đầu lại ở một chỗ khác.

Cứ như vậy, họ sống như người luôn ở đoạn đầu của mọi sự.

Đầu của một mối quan hệ.

Đầu của một thói quen tốt.

Đầu của một kế hoạch học tập.

Đầu của một đời sống cầu nguyện nghiêm túc.

Đầu của một hành trình chữa lành.

Đầu của một quá trình phân định.

Đầu nào cũng có vẻ sáng.

Nhưng rất ít cái đi tới mùa chín.

Rất ít cái đi qua mùa khô.

Rất ít cái đủ lâu để bén rễ.

Và vì thế, đời họ nhìn thì có nhiều chuyển động, nhưng chiều sâu lại không tăng bao nhiêu.

Đây là điều rất đáng buồn.

Không phải vì người trẻ thiếu khả năng.

Mà vì họ đang để một thói quen nguy hiểm định hình đời mình: thói quen rời đi quá sớm.

Rời đi khi điều tốt bắt đầu hết ngọt.

Rời đi khi cảm hứng không còn nâng mình.

Rời đi khi phải lặp lại.

Rời đi khi phải chịu phần đơn điệu.

Rời đi khi cái mới không còn mới nữa.

Rời đi khi chính mình phải bắt đầu đối diện với giới hạn thật của mình trong tiến trình đó.

Có lẽ người trẻ không chỉ chán điều họ đang làm.

Nhiều khi họ chán cảm giác không còn được mình lý tưởng như lúc ban đầu.

Lúc đầu cầu nguyện rất đẹp.

Sau đó cầu nguyện bắt đầu khô.

Và lúc đó, thay vì học ở lại, họ đổi kiểu, đổi chỗ, đổi giờ, rồi cuối cùng đổi luôn thói quen cầu nguyện.

Lúc đầu yêu một người rất đẹp.

Sau đó mối quan hệ bước vào giai đoạn cần trách nhiệm, cần lắng nghe, cần sửa mình, cần chịu nhau hơn.

Và lúc đó, họ không còn thấy “đúng người” nữa, trong khi có khi điều đang mất không phải tình yêu, mà là lớp mật ngọt đầu tiên.

Lúc đầu học một ngành, làm một việc, tham gia một sứ mạng, ai cũng hăng.

Nhưng rồi khi phần lặp lại, phần âm thầm, phần ít được ghi nhận, phần phải đào sâu chuyên môn, phần phải ở lại giữa thất vọng bắt đầu xuất hiện, họ lại nghĩ chắc mình không hợp.

Người trẻ hôm nay rất dễ nhầm giữa hết hứnghết giá trị.

Chỉ vì mình không còn thấy thích như trước, mình tưởng điều ấy không còn đáng.

Chỉ vì không còn rung động mạnh, mình tưởng hướng này sai.

Chỉ vì bắt đầu có khô, có chán, có mệt, mình tưởng đây không phải đường của mình.

Nhưng không phải.

Có những điều đang rất đúng, chỉ là chúng đã đi vào giai đoạn trưởng thành hơn.

Giai đoạn không còn được nâng bằng cảm giác mới mẻ nữa.

Giai đoạn đòi sự trung tín.

Giai đoạn buộc con người phải yêu bằng ý chí, bằng nhân đức, bằng chọn lựa, chứ không chỉ bằng rung động.

Và chính ở đoạn đó, rất nhiều người trẻ rời đi.

Tại sao?

Bởi vì họ lớn lên trong một thế giới luôn tôn thờ cái mới.

Nội dung mới.

Tin mới.

Xu hướng mới.

Người mới.

Trải nghiệm mới.

Mọi thứ đều liên tục đổi để giữ mình bị kích thích.

Người ta không còn quen ở lâu với điều gì.

Không quen chờ một điều lớn dần.

Không quen đi qua sự lặp lại.

Không quen để một điều gì đủ thời gian trở nên sâu.

Mà mọi thứ đẹp thật đều cần thời gian.

Một cây không mọc bằng cú hứng.

Một tình yêu không chín bằng vài tháng rung động.

Một đời sống thiêng liêng không sâu bằng vài giờ sốt sắng.

Một ơn gọi không rõ bằng vài khoảnh khắc được chạm.

Tất cả đều cần ở lại.

Cần rất nhiều ở lại.

Ở lại khi còn thích.

Ở lại khi bớt thích.

Ở lại khi mệt.

Ở lại khi không ai thấy.

Ở lại khi phải lặp.

Ở lại khi chính mình muốn trốn.

Người trẻ không thích đoạn này.

Vì đoạn này không đẹp bằng khởi đầu.

Khởi đầu thì ai cũng thích.

Nó có ánh sáng.

Có hứa hẹn.

Có hình dung đẹp về bản thân.

Có cảm giác mình đang đổi đời.

Còn ở lại thì khác.

Ở lại buộc con người nhìn thấy mình thật sự là ai khi không còn được cảm hứng nâng.

Mình có bền không?

Mình có trung tín không?

Mình có đang làm vì yêu điều tốt, hay chỉ vì mình thích cảm giác được bắt đầu điều tốt?

Câu hỏi này rất đau.

Và nhiều người trẻ lộ ra một điều: họ không hẳn yêu điều tốt sâu bằng họ yêu hình ảnh đẹp của chính mình khi đang bắt đầu điều tốt.

Họ thích cảm giác mình là người cầu nguyện.

Là người nghiêm túc.

Là người đang thay đổi.

Là người đang chữa lành.

Là người đang lớn lên.

Nhưng khi phải sống những điều nhỏ, đều, lặp, âm thầm làm nên chính con người ấy, họ lại không thích nữa.

Nói cách khác, họ yêu khung cảnh của sự trưởng thành hơn là cái giá của sự trưởng thành.

Đây là điều làm họ yếu dần.

Bởi vì một người cứ luôn rời đi trước mùa chín sẽ mãi là người chỉ biết bắt đầu, chứ không biết thành hình.

Họ có rất nhiều mảnh kinh nghiệm.

Nhưng ít căn tính.

Rất nhiều cú hứng.

Nhưng ít xương sống.

Rất nhiều câu chuyện “em cũng từng…”.

Nhưng ít hoa trái thực.

Điều này xảy ra trong tình yêu.

Một người không biết ở lại sẽ luôn tưởng mình đang đi tìm “đúng người”, trong khi thật ra nhiều khi họ đang nghiện cảm giác bắt đầu. Họ thích giai đoạn được nhớ, được mong, được rung động. Nhưng khi tình yêu đi vào trách nhiệm, vào việc lắng nghe khác biệt, chịu đựng những góc cạnh của nhau, học tha thứ, học bền, họ lại nghĩ chắc hết yêu rồi. Không. Có khi không phải hết yêu. Mà là hết phần dễ.

Nếu ai cũng rời đi khi tình yêu hết phần dễ, thì không có tình yêu nào đủ tuổi trưởng thành.

Điều này cũng xảy ra trong công việc.

Có người đổi hướng liên tục không phải vì họ thật sự được gọi sang rất nhiều điều khác nhau, mà vì họ không ở đâu đủ lâu để qua được đoạn khô đầu tiên. Họ cứ tưởng mình chưa tìm thấy chỗ đúng, trong khi có khi điều họ chưa học được là ở lại đủ lâu để chỗ đúng bắt đầu đòi chiều sâu. Một công việc nào cũng có đoạn hào hứng đầu tiên và đoạn âm thầm sau đó. Ai chỉ sống được với đoạn đầu thì sẽ luôn là khách lạ của mọi hành trình.

Điều này càng xảy ra rõ trong đời sống thiêng liêng.

Có những người trẻ thay đổi đủ kiểu cầu nguyện, đủ kiểu sách thiêng liêng, đủ kiểu nhịp sống đạo, đủ kiểu nơi chốn, đủ kiểu linh đạo, chỉ vì họ không chịu nổi sự khô. Họ luôn tưởng ở đâu đó có một kiểu sống thiêng liêng sẽ giữ được cảm giác sốt sắng mãi. Không. Không có. Ở đâu cũng sẽ tới đoạn mà Chúa đòi bạn yêu Người hơn cảm giác bạn có khi ở với Người. Và đó là lúc sự thật lộ ra.

Người trẻ rất cần hiểu điều này: chán không phải lúc nào cũng là dấu chỉ phải rời đi. Nhiều khi chán là cánh cửa dẫn vào chiều sâu.

Khi một việc tốt bắt đầu nhàm, đó có thể là lúc bạn ngừng sống nhờ mới lạ và bắt đầu phải sống nhờ trung tín.

Khi cầu nguyện bắt đầu khô, đó có thể là lúc Chúa dạy bạn ở lại vì Người, chứ không vì phần ngọt.

Khi một công việc bắt đầu đơn điệu, đó có thể là lúc bạn được mời gọi đi từ hứng thú sang nghề nghiệp thật.

Khi một tương quan không còn hồi hộp như trước, đó có thể là lúc tình yêu được mời gọi trưởng thành.

Chính ở ngưỡng chuyển này, rất nhiều người bỏ cuộc.

Bởi vì họ tưởng chiều sâu cũng phải làm mình thấy phấn khích như bề mặt.

Nhưng chiều sâu nhiều khi rất lặng.

Rất chậm.

Rất ít màu.

Nó lớn lên như rễ mọc xuống lòng đất.

Không ai vỗ tay cho bộ rễ.

Nhưng không có rễ, cây sẽ đổ.

Người trẻ cũng khó ở lại vì họ sợ mình chọn sai.

Nên cứ thấy chán một chút là nghĩ chắc sai rồi.

Thấy khô một chút là nghĩ chắc không hợp.

Thấy khó một chút là nghĩ chắc không phải của mình.

Họ quên mất rằng bất cứ điều gì có giá trị đều sẽ có lúc khó. Không phải vì nó sai. Mà vì họ đang phải lớn lên để xứng với điều tốt đó.

Một người học đàn, ngón tay sẽ đau.

Một người tập thể thao, cơ bắp sẽ mỏi.

Một người cầu nguyện, lòng sẽ có lúc khô.

Một người yêu, tim sẽ có lúc phải vượt qua thất vọng.

Một người làm việc nghiêm túc, sẽ có những tháng chẳng thấy thành quả rõ.

Không thể lấy sự khó như bằng chứng chắc chắn rằng con đường đó sai.

Nhiều khi chính sự khó ấy là bài kiểm tra cho thấy mình có yêu điều này đủ thật hay không.

Có một nỗi sợ khác nữa: người trẻ sợ ở lại lâu với một điều gì đó vì ở lâu sẽ lộ mình ra. Ban đầu, ai cũng có thể mang phiên bản đẹp nhất của mình đến. Nhưng ở lâu, cái thật bắt đầu lộ. Sự thiếu kiên nhẫn lộ. Sự ích kỷ lộ. Sự nông lộ. Những vết thương lộ. Những giới hạn lộ. Và nếu một người chưa hòa giải với việc mình là người chưa hoàn thiện, họ sẽ rất dễ rời đi trước khi bị nhìn thấy quá rõ.

Rời công việc.

Rời nhóm.

Rời cộng đoàn.

Rời một mối tương quan.

Rời tiến trình chữa lành.

Rời nhịp cầu nguyện.

Không phải luôn vì điều đó xấu. Mà nhiều khi vì họ không muốn ở lại đủ lâu để bản thân phải lớn lên thật.

Ở lại luôn có sức lột mặt nạ.

Và người chưa quen sống thật thì rất sợ điều đó.

Nhưng không có ở lại, không có biến đổi sâu.

Một con người cứ rời đi trước khi bị chạm vào cái tôi thì sẽ chỉ đổi bối cảnh, chứ không đổi mình.

Họ mang cùng một cái tôi ấy qua nơi khác.

Rồi lại lặp lại.

Lại bắt đầu đẹp.

Rồi lại bỏ dở.

Rồi lại bắt đầu lại.

Cứ thế.

Cho tới khi họ đau đủ để nhận ra: vấn đề không chỉ là nơi mình ở. Vấn đề còn là mình chưa biết ở lại.

Cũng cần nói rằng ở lại không có nghĩa là bám mù quáng.

Không phải cứ khó là phải ở.

Không phải cứ đau là phải giữ.

Có những nơi phải rời.

Có những mối quan hệ phải cắt.

Có những môi trường phải đi ra.

Có những hướng phải sửa.

Nhưng điều quan trọng là phải phân biệt: mình rời đi vì điều đó thật sự không lành, hay mình rời đi vì nó không còn cho mình cảm giác dễ chịu như trước? Mình đổi hướng vì Chúa đang mở hướng khác, hay chỉ vì mình không chịu nổi sự lặp lại? Mình bỏ vì điều đó sai, hay vì nó bắt đầu đòi phần sâu hơn của lòng trung tín?

Người trẻ rất cần khôn ngoan ở chỗ này.

Nếu không, họ sẽ gọi sự thiếu bền là phân định.

Gọi sự mau chán là tự do.

Gọi việc không chịu đi tới nơi là linh hoạt.

Gọi việc rời đi trước mùa chín là biết lắng nghe bản thân.

Nhưng sâu bên dưới, có khi chỉ là một cái tôi chưa được rèn để ở lại trong điều tốt qua mùa khô.

Đời sống lớn không thuộc về người bắt đầu mạnh.

Nó thuộc về người biết ở lại.

Ở lại trong Chúa.

Ở lại trong điều đúng.

Ở lại trong tiến trình chữa lành.

Ở lại trong việc tập nhân đức.

Ở lại trong công việc mình được gọi làm, ít nhất đủ lâu để biết nó thật sự là gì.

Ở lại trong tình yêu lành mạnh, đủ lâu để tình yêu đi qua lớp rung động ban đầu và chạm tới trung tín.

Ở lại trong lời hứa.

Ở lại trong những việc nhỏ lặp đi lặp lại.

Chính ở lại mới làm con người dày lên.

Ai cũng thích ngọn lửa bùng.

Nhưng chỉ những người biết giữ bếp mới có lửa qua đêm.

Người trẻ thân mến, nếu bạn thấy mình luôn bắt đầu rất đẹp nhưng rất khó đi tới cùng, xin đừng chỉ buồn. Hãy nhìn kỹ. Có thể Chúa đang cho bạn thấy một bài học rất lớn của cả đời mình: học ở lại. Không ở lại cách mù quáng. Nhưng ở lại đủ lâu với điều tốt để nó kịp bén rễ. Ở lại đủ lâu với một nhịp cầu nguyện để Chúa đi từ cảm xúc xuống cấu trúc nội tâm. Ở lại đủ lâu với một trách nhiệm để mình thôi nghiện mới lạ mà bắt đầu yêu điều âm thầm. Ở lại đủ lâu với tiến trình chữa lành để mình không chỉ thích nói về chữa lành mà thật sự chịu lớn lên.

Có lẽ điều bạn cần không phải là một khởi đầu mới nữa.

Có khi điều bạn cần là ngừng bỏ dở điều đúng chỉ vì nó đã đi vào giai đoạn không còn hào hứng.

Có khi điều bạn cần là can đảm đi qua chỗ chán.

Đi qua chỗ khô.

Đi qua chỗ lặp.

Đi qua chỗ mình không còn thấy mình đặc biệt.

Vì chính phía bên kia của những chỗ đó, chiều sâu bắt đầu.

Lạy Chúa, con rất dễ thích bắt đầu mà không giỏi ở lại. Con thích cảm giác mới, cảm giác được chạm, cảm giác mọi sự đang đẹp. Nhưng khi điều tốt bắt đầu đòi sự bền, sự lặp lại, sự trung tín trong khô khan, con lại dễ mệt, dễ chán, dễ muốn đổi hướng. Xin cho con đừng lầm sự khó với sự sai, đừng lầm hết hứng với hết giá trị. Xin dạy con ở lại đủ lâu với điều tốt để nó kịp bén rễ trong con. Xin cứu con khỏi thói quen rời đi trước mùa chín. Xin cho con biết phân định khi nào phải buông, nhưng cũng biết trung tín khi con chỉ đang bị thử trong sự đơn điệu của trưởng thành. Và xin cho con hiểu rằng đời sống đẹp không thuộc về người liên tục bắt đầu lại, mà thuộc về người biết ở lại với điều thật cho đến khi nó thành hình trong linh hồn mình.

 

 

CHƯƠNG 26

VÌ SAO NHIỀU NGƯỜI TRẺ RẤT THÍCH CẢM GIÁC ĐƯỢC HIỂU, ĐƯỢC AN ỦI, ĐƯỢC CHỮA LÀNH, NHƯNG LẠI ÍT KHI CHỊU ĐỂ SỰ THẬT CHỈNH SỬA MÌNH, NÊN CUỐI CÙNG CHỈ ĐƯỢC VUỐT VE CẢM XÚC MÀ KHÔNG THẬT SỰ LỚN LÊN TRONG TỰ DO VÀ TRƯỞNG THÀNH

Có một nhu cầu rất thật nơi người trẻ: được hiểu.

Được ai đó nghe mà không cắt ngang.

Được ai đó nhìn thấy nỗi mệt của mình.

Được ai đó không vội kết án.

Được ai đó nói rằng: mình hiểu bạn đau thế nào.

Nhu cầu ấy không xấu.

Thậm chí rất cần.

Vì con người không lớn lên trong cô độc lạnh lùng. Một trái tim bị thương cần được lắng nghe. Một người đã mang quá nhiều áp lực cần được ai đó đón nhận bằng sự dịu dàng. Một người trẻ đã sống quá lâu trong phán xét, so sánh, ép buộc, hiểu lầm, rất cần được nếm một không gian nơi mình được hiểu, được ôm lấy, được phép nói thật mà không sợ bị nghiền nát.

Nhưng chính ở đây lại có một nguy cơ rất kín: người trẻ bắt đầu nghiện cảm giác được thấu hiểu, được an ủi, được vuốt dịu, mà không còn muốn đi xa hơn đến chỗ bị sự thật đụng chạm và chỉnh sửa.

Nói cách khác, họ thích được xoa dịu.

Nhưng không thích bị gọi tên.

Thích được an ủi.

Nhưng không thích bị mời gọi hoán cải.

Thích nghe rằng mình đã đau nhiều.

Nhưng không thích nghe rằng giờ đây mình cũng phải chịu trách nhiệm với cách mình đang sống từ vết đau ấy.

Thích được công nhận là mình tổn thương.

Nhưng không thích phải cắt bỏ điều đang tiếp tục nuôi kiểu sống bị thương đó.

Đây là một trong những lối kẹt rất phổ biến của thời nay.

Người trẻ nói nhiều về chữa lành.

Nghe nhiều về chữa lành.

Tìm rất nhiều nội dung về chữa lành.

Thích những nơi cho mình cảm giác được hiểu.

Nhưng không phải ai cũng thật sự đi vào con đường chữa lành thật.

Vì chữa lành thật không chỉ là được ôm.

Nó còn là được chỉnh.

Không chỉ là được nói rằng bạn có quyền đau.

Mà còn là được mời gọi bước ra khỏi lối sống đang để nỗi đau cai trị.

Không chỉ là được an ủi.

Mà còn là được đưa vào sự thật.

Mà sự thật thì nhiều khi không dịu theo cách mình thích.

Nó dịu ở tận cùng, nhưng lúc đầu có thể đau.

Có thể làm mình thấy bị lật mặt nạ.

Có thể làm mình không còn kể cùng một câu chuyện thương thân mãi được nữa.

Có thể làm mình phải thú nhận rằng: đúng, mình đã bị thương; nhưng bây giờ mình cũng đang dùng vết thương ấy để biện minh cho nhiều thứ chưa đổi.

Nhiều người trẻ rất thích nghe câu: “bạn như vậy là vì bạn đã trải qua quá nhiều.”

Và câu đó có thể rất đúng.

Nhưng sau câu đó phải là một câu khác, nếu không, đời họ sẽ kẹt mãi:

“Và bây giờ, bạn định để quá khứ tiếp tục viết hiện tại của bạn bao lâu nữa?”

Chính câu thứ hai này mới dẫn tới tự do.

Nhưng đây lại là câu nhiều người không thích nghe.

Bởi vì nó không chỉ an ủi.

Nó trao lại trách nhiệm.

Nó nói rằng: đúng, bạn bị tổn thương; nhưng bạn không thể ở mãi trong danh tính nạn nhân.

Đúng, bạn thiếu thốn; nhưng bạn không thể bắt mọi người chung quanh hôm nay phải trả món nợ của ngày xưa.

Đúng, bạn đã đau; nhưng bạn không thể lấy cơn đau ấy làm giấy phép để không thay đổi.

Đúng, bạn cần được nghe; nhưng bạn cũng cần học nghe sự thật.

Nhiều người trẻ không ghét sự thật hoàn toàn.

Họ chỉ ghét sự thật khi nó đi ngược lại câu chuyện dịu dàng mà họ đang kể về chính mình.

Họ thích sự thật nào khiến họ thấy mình được thương hơn.

Nhưng ít thích sự thật nào đòi họ phải chết đi cho cái tôi bị thương đang thích được nuông.

Ở đây phải phân biệt rất rõ giữa lòng thương xót thật và sự nuông chiều cảm xúc.

Lòng thương xót thật nói: con đau, Ta biết; con yếu, Ta biết; con bị thương, Ta biết; con không cần giả mạnh.

Nhưng lòng thương xót thật cũng nói: hãy đứng dậy; đừng ở lại đó; đừng gọi xiềng xích là ngôi nhà; đừng biến vết thương thành ngai vàng; đừng lấy nỗi đau làm căn cước cuối cùng của con.

Còn sự nuông chiều cảm xúc thì khác.

Nó chỉ nói: tội cho bạn quá, chắc tại người ta, chắc tại quá khứ, chắc tại bạn đã thiếu nhiều nên giờ bạn như vậy cũng bình thường thôi.

Và rồi nó để người ta nằm yên ở đó.

Nằm trong nỗi buồn.

Nằm trong phản ứng cũ.

Nằm trong thói quen cũ.

Nằm trong sự tự thương hại.

Nằm trong tình trạng luôn cần được hiểu mà không bao giờ thật sự chịu lớn lên.

Đó không phải là chữa lành.

Đó là xoa dịu mà không giải phóng.

Rất nhiều người trẻ hôm nay bị mắc ở chỗ này.

Họ rất giỏi nói về cảm xúc.

Rất giỏi nhận diện tổn thương.

Rất giỏi kể câu chuyện nội tâm của mình.

Rất giỏi nói vì sao mình phản ứng như thế.

Nhưng sau tất cả, đời sống vẫn không khác nhiều.

Vẫn những lặp lại đó.

Vẫn kiểu yêu lệch đó.

Vẫn nỗi sợ đó.

Vẫn sự lệ thuộc đó.

Vẫn cám dỗ đó.

Vẫn sự trì hoãn đó.

Vẫn lối sống không có kỷ luật đó.

Tại sao?

Bởi vì họ được giúp gọi tên, nhưng chưa chịu đi vào quá trình sửa cấu trúc.

Được vuốt dịu, nhưng chưa chịu bị rèn.

Được đón nhận, nhưng chưa chịu bị cắt tỉa.

Mà nếu không có cắt tỉa, cây sẽ không ra trái lành.

Người trẻ rất thích những nơi mình được phép là mình.

Điều đó đúng và quý.

Nhưng nếu “là mình” nghĩa là cứ để nguyên mình trong tình trạng hiện tại, không để Chúa và sự thật uốn nắn, thì cái “mình” ấy sẽ mãi bị giam trong phiên bản cũ.

Một người được yêu thật không phải là người được nói rằng cứ như hiện tại là xong rồi.

Một người được yêu thật là người được đón nhận đủ để dám thay đổi.

Tình yêu thật không chỉ ôm.

Nó còn dựng dậy.

Nó không chỉ làm dịu nỗi đau.

Nó còn chữa nguyên nhân làm nỗi đau cứ tái đi tái lại.

Nó không chỉ nói: tội cho con.

Nó còn nói: con có thể sống khác.

Rất nhiều người trẻ thích nơi nào làm họ thấy dễ chịu.

Nhưng ít người thật sự muốn nơi nào làm họ trưởng thành.

Bởi vì trưởng thành luôn đụng đến một cái giá.

Phải bỏ cách đổ lỗi quen thuộc.

Phải thôi coi cảm xúc là vua.

Phải ngừng giải thích mãi cho sự nửa vời của mình.

Phải chấp nhận những giới hạn của bản thân nhưng không dùng chúng làm lý do bất di bất dịch.

Phải chịu khó đi qua những ngày khô mà vẫn tập nhân đức.

Phải đối diện với việc mình không chỉ là người bị thương, mà đôi khi cũng là người đang làm hỏng những điều đẹp vì chưa chịu lớn lên.

Đây là chỗ rất nhạy.

Vì không ai thích bị nói rằng mình cũng cần thay đổi.

Nhất là sau khi đã đau nhiều.

Sau khi đã mệt nhiều.

Sau khi đã sống dưới áp lực quá lâu.

Con người rất muốn được nghỉ trong một nơi không ai đòi gì thêm nữa.

Nhưng nếu đời sống chỉ dừng ở chỗ “đừng đòi gì ở con nữa”, thì người ta sẽ không bao giờ lớn thành.

Nghỉ là cần.

Nhưng nghỉ để hồi phục mà bước tiếp.

Không phải nghỉ để nằm luôn.

An ủi là cần.

Nhưng an ủi để có lực hoán cải.

Không phải an ủi để hợp thức hóa việc không đổi.

Có những người trẻ đến với Chúa cũng theo cách đó.

Họ thích Chúa như Đấng an ủi.

Đấng ôm họ.

Đấng hiểu họ.

Đấng lau nước mắt họ.

Điều đó rất đúng và rất đẹp.

Nhưng họ không thích Chúa như Đấng nói: “đừng phạm tội nữa.”

Không thích Chúa như Đấng đòi từ bỏ.

Không thích Chúa như Đấng cắt những mối dây đang kéo họ xuống.

Không thích Chúa như Đấng dẫn họ vào con đường hẹp.

Không thích Chúa như Đấng động tới vùng mình đang giữ.

Họ muốn một Chúa chỉ dịu dàng, không chỉnh sửa.

Chỉ thương, không gọi lên cao.

Chỉ hiểu, không đòi nên người mới.

Nhưng đó không phải là Đức Kitô thật.

Đức Kitô thật ôm người phụ nữ ngoại tình rồi nói: “Ta không kết án chị, nhưng hãy đi và đừng phạm tội nữa.”

Chính hai vế ấy đi cùng nhau mới là cứu độ.

Nếu chỉ có “Ta không kết án chị”, người phụ nữ sẽ vẫn ở trong vòng lặp cũ.

Nếu chỉ có “đừng phạm tội nữa” mà không có lòng thương, chị sẽ tuyệt vọng.

Cứu độ thật là vừa ôm vừa kéo lên.

Vừa dịu vừa sắc.

Vừa chữa lành vừa thanh luyện.

Vừa tha thứ vừa đòi hoán cải.

Người trẻ rất cần học yêu kiểu tình yêu như thế.

Yêu bản thân như thế.

Yêu tha nhân như thế.

Để mình được đồng hành như thế.

Và để mình cũng đón nhận Chúa như thế.

Có một hình thức rất tinh vi của sự không trưởng thành: luôn đi tìm nơi mình được hiểu, nhưng tránh những nơi mình bị sửa. Luôn chọn người chỉ làm mình thấy dễ chịu, tránh người đủ yêu để nói thật. Luôn thích kiểu đồng hành làm mình nhẹ, nhưng không chấp nhận kiểu đồng hành dám hỏi: vậy bao giờ bạn sẽ thay đổi điều đó? Bao giờ bạn ngừng vòng lặp này? Bao giờ bạn thôi đổ cho quá khứ? Bao giờ bạn sẽ cắt mối dây ấy? Bao giờ bạn ngừng nuôi chính điều đang làm bạn khổ?

Những câu hỏi như thế khó nghe.

Nhưng nhiều khi chúng là tình yêu thật.

Người trẻ không lớn lên nhờ được nghe mãi rằng mình đáng thương.

Họ lớn lên khi lòng thương xót gặp được sự thật.

Khi một ai đó vừa đủ dịu để không làm họ gãy, vừa đủ thật để không để họ ngủ quên.

Có khi người trẻ thích chữa lành như một cảm giác hơn là như một hành trình.

Họ thích ngôn ngữ chữa lành.

Thích bầu khí chữa lành.

Thích những câu nói giúp họ thấy mình được vỗ về.

Nhưng hành trình chữa lành thật lại rất khác.

Nó đòi nhìn lại đời mình.

Đòi thay đổi cách mình phản ứng.

Đòi tập những nếp mới.

Đòi cắt những mối liên hệ cũ.

Đòi tha thứ.

Đòi xin lỗi.

Đòi kỷ luật.

Đòi kiên trì.

Đòi không tiếp tục sống theo những mô thức bị thương.

Đòi đưa nỗi đau của mình vào trong ánh sáng Tin Mừng, chứ không dựng lều sống mãi quanh nó.

Chữa lành thật không làm người ta yếu mềm hơn với chính mình mãi mãi.

Nó làm họ nhân từ hơn nhưng cũng mạnh hơn.

Biết ôm lấy sự thật về mình.

Biết nhìn nhận vết thương mà không thần tượng hóa nó.

Biết chấp nhận mình cần thời gian nhưng không dùng thời gian làm lý do để không bước.

Biết mình cần được thương nhưng cũng biết mình cần được sửa.

Có những người trẻ nói: em cần được hiểu trước đã.

Đúng.

Nhưng rồi sau đó thì sao?

Nếu sau khi được hiểu, họ không để điều đó dẫn mình tới quyết định mới, nếp sống mới, ánh nhìn mới, thì tất cả chỉ dừng ở việc mình thấy đỡ đau một chút. Và đỡ đau một chút không đồng nghĩa với được giải phóng.

Có những vết thương chỉ dịu khi được nói ra.

Nhưng có những xiềng xích chỉ gãy khi con người bắt đầu hành động khác.

Một người sợ bị bỏ rơi không chỉ cần được ai đó nói rằng họ đáng được yêu.

Họ còn cần học cách không bấu.

Một người mặc cảm không chỉ cần nghe rằng mình có giá trị.

Họ còn cần tập sống như người có giá trị.

Một người trì hoãn không chỉ cần được nghe rằng mình áp lực quá.

Họ còn cần đứng dậy làm điều phải làm.

Một người dễ chiều mình không chỉ cần được thông cảm.

Họ còn cần học nói không với bản năng.

Một người nguội lạnh không chỉ cần được an ủi.

Họ còn cần quay lại với bí tích, với cầu nguyện, với kỷ luật.

Sự thật này rất quan trọng: điều chữa mình không phải lúc nào cũng là điều làm mình dễ chịu nhất.

Có những lời dễ nghe nhưng không cứu.

Có những sự thật khó nghe nhưng giải phóng.

Có những nơi khiến mình thấy rất được vuốt ve nhưng không làm mình trưởng thành hơn.

Có những cuộc gặp khiến mình hơi đau vì bị chạm tới vùng cần đổi, nhưng chính chúng mới bắt đầu làm mình lớn.

Người trẻ thân mến, nếu bạn chỉ tìm nơi làm mình thấy nhẹ, có thể bạn sẽ bỏ lỡ nơi làm mình tự do. Nếu bạn chỉ chọn người luôn hiểu bạn mà không bao giờ nói thật với bạn, có thể bạn sẽ được an ủi nhiều nhưng lớn lên rất ít. Nếu bạn chỉ muốn Chúa là nơi xoa dịu cảm xúc mà không là Đấng chỉnh lại đời sống, bạn sẽ giữ được một kiểu đạo ấm lòng, nhưng khó đi xa trong sự thánh thiện.

Bạn cần được hiểu.

Đúng.

Bạn cần được ôm.

Đúng.

Bạn cần được an ủi.

Rất đúng.

Nhưng bạn cũng cần được dẫn vào sự thật.

Cần bị gọi tên điều chưa ổn.

Cần để Chúa đụng vào chỗ bạn vẫn né.

Cần tập những điều không hấp dẫn nhưng làm nên tự do.

Cần học rằng được yêu thật không có nghĩa là không còn gì phải đổi.

Mà là cuối cùng có đủ an toàn để dám đổi.

Có lẽ đây là điều người trẻ phải cầu xin nhiều: xin cho con không chỉ thích được chữa lành theo cảm giác, mà dám đi vào chữa lành theo sự thật. Xin cho con không chỉ tìm nơi nói lời dễ nghe, mà biết quý nơi giúp con nên người. Xin cho con không lấy nỗi đau làm nơi ở, nhưng để nó trở thành cánh cửa đưa con vào ánh sáng. Xin cho con đừng nghiện cảm giác được hiểu mà quên mất lời mời phải hoán cải.

Lạy Chúa, con rất thích được hiểu, được an ủi, được ôm lấy khi con mệt, khi con đau, khi con thấy mình lạc. Và con biết Ngài thương con thật như vậy. Nhưng xin đừng để con dừng lại ở chỗ chỉ muốn được vuốt dịu mà không chịu để Ngài chỉnh sửa đời con. Xin đừng để con lấy vết thương làm lý do cho việc không lớn lên. Xin đừng để con chọn mãi những lời dễ nghe mà tránh sự thật có thể cứu con. Xin cho con gặp được lòng thương xót thật, thứ lòng thương không kết án con nhưng cũng không để con ở yên trong điều làm con mất tự do. Xin chữa con, nhưng cũng xin rèn con. Xin dịu dàng với con, nhưng cũng xin mạnh tay cắt đi những gì cần cắt. Và xin cho con đủ khiêm nhường để để mình được yêu theo cách cứu độ, chứ không chỉ theo cách làm con dễ chịu.

LỜI KẾT

BẠN TRẺ ĐANG SỐNG VÌ AI, VÀ CUỐI CÙNG, BẠN CÓ DÁM THẬT SỰ TRAO ĐỜI MÌNH CHO THIÊN CHÚA KHÔNG?

Sau tất cả những gì đã đi qua, có lẽ câu hỏi đầu tiên vẫn là câu hỏi cuối cùng.

Bạn đang sống vì ai?

Nghe tưởng như đơn giản.

Nhưng càng đi sâu, mới càng thấy đây là câu hỏi quyết định cả cuộc đời.

Bạn có thể học nhiều.

Làm nhiều.

Yêu nhiều.

Trải qua nhiều.

Va chạm nhiều.

Suy nghĩ nhiều.

Mơ nhiều.

Kế hoạch nhiều.

Nhưng nếu không trả lời được câu hỏi này bằng chính cách sống của mình, thì mọi thứ vẫn có thể rất đầy ở ngoài mà rất trống ở trong.

Bạn đang sống vì ai?

Vì cái tôi?

Vì ánh mắt người khác?

Vì nỗi sợ bị thua, bị thiếu, bị bỏ lại?

Vì nhu cầu được công nhận?

Vì cơn khát được yêu bằng mọi giá?

Vì những so sánh âm thầm?

Vì một hình ảnh đẹp về tương lai mà chưa chắc có Chúa ở trung tâm?

Vì những vết thương cũ đang âm thầm lái hiện tại?

Vì những cám dỗ ngắn hạn đang bẻ hướng cả một đời dài?

Hay thật sự, bạn đang dần học để sống vì Chúa?

Không phải chỉ nói vì Chúa.

Không phải chỉ xúc động vì Chúa.

Không phải chỉ giữ vài hình thức đạo đức có Chúa.

Mà là thật sự để Chúa đi vào trung tâm.

Đi vào cách bạn dùng thời gian.

Đi vào cách bạn yêu.

Đi vào cách bạn quyết định.

Đi vào cách bạn nhìn giá trị bản thân.

Đi vào cách bạn đối diện cám dỗ.

Đi vào cách bạn giữ hay buông.

Đi vào cách bạn chậm hay nhanh.

Đi vào những nỗi sợ sâu nhất của bạn.

Đi vào chính tương lai mà bạn vẫn muốn tự cầm lái.

Tất cả những chương đã đi qua, nói cho cùng, không phải để làm người trẻ buồn về mình. Không phải để dồn lên vai họ một thứ áp lực đạo đức mới. Cũng không phải để bắt họ sống trong tự kết án. Mà là để kéo họ trở về sự thật. Sự thật về những nỗi lạc âm thầm. Sự thật về những vết thương chưa gọi tên. Sự thật về những trì hoãn, những lệ thuộc, những nửa vời, những bận rộn dùng để trốn, những khô khan giấu trong vỏ đạo đức, những cơn khát được yêu, được công nhận, được giữ lại. Và sâu hơn nữa, là sự thật về một điều rất lớn: giữa tất cả những hỗn độn ấy, Thiên Chúa vẫn không ngừng gọi.

Người gọi trong tiếng lương tâm còn đau.

Gọi trong nỗi bất an thánh khiến bạn không thể yên hoàn toàn với lối sống cũ.

Gọi trong những lúc cười mà lòng vẫn thấy thiếu.

Gọi trong những lần bạn thấy mình cứ lặp lại cùng một vòng mà mệt.

Gọi trong nỗi xấu hổ sau sa ngã.

Gọi trong một giờ chầu tưởng như khô mà bạn vẫn không bỏ đi.

Gọi trong ánh mắt của người nghèo, người đau, người thánh thiện nào đó làm bạn thấy đời mình cần phải sống khác.

Gọi trong những câu hỏi mà bạn càng trốn càng thấy nó cứ quay về.

Vấn đề lớn nhất không phải là Chúa có gọi hay không.

Người vẫn gọi.

Vấn đề là người trẻ có còn dám để mình bị gọi hay không.

Có còn dám dừng lại đủ lâu để nghe hay không.

Có còn dám tin rằng tiếng gọi ấy không nhằm lấy mất cuộc đời mình, mà nhằm cứu nó hay không.

Có còn dám bước những bước nhỏ nhưng thật không.

Có còn dám bỏ giấc mơ làm chủ tuyệt đối cuộc đời mình để trở thành người con biết phó thác không.

Có còn dám nói với Chúa một lời rất đơn sơ nhưng quyết định: con không muốn sống như người chỉ tồn tại nữa.

Người trẻ hôm nay có rất nhiều lý do để mệt.

Quá nhiều tiếng nói.

Quá nhiều lựa chọn.

Quá nhiều đòi hỏi.

Quá nhiều hình mẫu.

Quá nhiều kích thích.

Quá nhiều nỗi sợ.

Nhưng sâu hơn hết, điều làm người trẻ mệt nhất không phải chỉ là cuộc đời nặng. Mà là vì họ đang cố mang một cuộc đời nặng mà không đặt nó trọn trong tay Chúa. Họ vẫn giữ phần quan trọng nhất cho mình. Và vì thế, họ cứ vừa cầu nguyện vừa gồng, vừa xin ơn vừa giữ quyền kiểm soát, vừa muốn bình an vừa không chịu buông. Không thể như vậy mãi mà không kiệt.

Đã đến lúc người trẻ phải hiểu: đời mình không được cứu bằng việc mình giữ được hết mọi thứ. Đời mình được cứu khi mình thuộc về đúng Đấng.

Không phải khi mình không bao giờ ngã.

Mà khi mình biết quay về nhanh.

Không phải khi mình hết sợ.

Mà khi giữa sợ hãi vẫn dám vâng.

Không phải khi mình hết mọi câu hỏi.

Mà khi trong đêm tối vẫn biết mình đang ở trong tay ai.

Không phải khi mình lập được bản kế hoạch hoàn hảo.

Mà khi mình để kế hoạch của mình được đặt trong bàn tay lớn hơn nó.

Không phải khi mình đã trở thành một người rất hay.

Mà khi mình thôi giả vờ là mình ổn và dám đến với Chúa bằng phần thật nhất.

Bạn trẻ thân mến, có thể bạn không cần thêm một lời hay nữa. Có thể điều bạn cần là một quyết định.

Không phải quyết định cho cả đời ngay lập tức.

Nhưng một quyết định thật cho hôm nay.

Hôm nay, tôi không trốn nữa.

Hôm nay, tôi không để chữ “sau này” ru linh hồn mình ngủ nữa.

Hôm nay, tôi sẽ bắt đầu bằng một việc rất cụ thể.

Một giờ cầu nguyện.

Một lần xưng tội.

Một điều phải cắt.

Một người cần phải rời xa.

Một lời thật phải nói với Chúa.

Một nếp sống phải sửa.

Một chiếc điện thoại phải đặt xuống đúng lúc.

Một vết thương phải đem ra ánh sáng.

Một sự trì hoãn phải chấm dứt.

Một bước rất nhỏ thôi.

Nhưng thật.

Vì thật ra, cả hành trình lớn này không bắt đầu từ một bản kế hoạch vĩ đại. Nó bắt đầu từ một tiếng “xin vâng” nhỏ mà không bị trì hoãn.

Không ai trong chúng ta đổi đời bằng một nhảy vọt liên tục.

Chúng ta được cứu từng bước.

Được thánh hóa từng ngày.

Được uốn từng chỗ.

Được gọi tên từng vết thương.

Được cắt đi từng điều lệch.

Được dạy tin từng chút một.

Được học yêu từng lớp một.

Được dạy buông từng ngón tay một.

Được dạy sống như người con thay vì người mồ côi.

Và đó là một hành trình rất đẹp.

Đẹp không phải vì nó luôn dễ.

Mà vì ở giữa nó, Chúa ở đó.

Ở đó lúc bạn còn run.

Ở đó lúc bạn còn bẩn.

Ở đó lúc bạn chưa rõ hết.

Ở đó lúc bạn ngã lại.

Ở đó lúc bạn khô khan.

Ở đó lúc bạn thấy mình không ra gì.

Ở đó lúc bạn phải bỏ những gì mình tưởng không bỏ nổi.

Ở đó lúc bạn bắt đầu lại lần thứ một trăm.

Ở đó lúc chẳng ai hiểu bạn, nhưng Chúa hiểu.

Ở đó lúc mọi thứ chung quanh mờ, nhưng bàn tay Người thì không mờ.

Nếu bạn hỏi sau tất cả, người trẻ cần gì nhất, có lẽ câu trả lời không phải là thêm thông tin, thêm động lực, thêm kỹ năng, thêm kế hoạch. Người trẻ cần một cuộc trở về căn tính.

Trở về để biết mình là ai.

Là người con.

Là người được yêu.

Là người được gọi.

Là người có một cuộc đời không phải để tiêu hao trong so sánh, sợ hãi, trì hoãn và nửa vời.

Là người có tuổi trẻ không phải để đốt vào những thứ chóng qua, mà để dâng lên như một câu trả lời đẹp cho tình yêu Thiên Chúa.

Và nếu bạn còn hỏi: cuối cùng, con phải làm gì?

Thì có lẽ, chỉ cần bắt đầu bằng lời này thôi:

Lạy Chúa, con đã sống tản mát đủ rồi.

Con đã hoãn đủ rồi.

Con đã chạy đủ rồi.

Con đã sợ đủ rồi.

Con đã mỏi vì cố giữ đời mình theo cách riêng con đủ rồi.

Con không muốn chỉ nói về Ngài nữa.

Con muốn thuộc về Ngài.

Con không muốn chỉ xúc động nhất thời nữa.

Con muốn trung tín.

Con không muốn chỉ chờ đổi đời bằng một biến cố lớn.

Con muốn để Ngài đổi con từ những điều nhỏ nhất.

Con không muốn chỉ để Ngài chúc lành cho ý con.

Con muốn học sống trong ý Ngài.

Con không muốn tiếp tục sống như người có đạo bên ngoài mà bên trong xa dần.

Con muốn gặp Ngài thật.

Con không muốn tuổi trẻ con chỉ là một chuỗi ngày đã qua.

Con muốn nó trở thành một của lễ.

Con xin trao lại cho Ngài chính đời con.

Không phải khi con hoàn hảo.

Không phải khi con hết sợ.

Không phải khi con hiểu hết.

Mà là bây giờ.

Trong sự nghèo này.

Trong sự run này.

Trong sự chưa trọn này.

Trong tất cả những gì con đang là.

Xin nhận lấy.

Xin dẫn đi.

Xin làm Chủ.

Xin cứu.

Xin dạy con sống.

Và nếu một người trẻ dám nói lời đó bằng cả phần thật nhất của mình, thì có thể, ngay giây phút ấy, một cuốn sách chưa kết thúc, nhưng một cuộc đời đã bắt đầu mở sang hướng mới rồi.

Không phải hướng dễ hơn.

Nhưng hướng thật hơn.

Không phải hướng không có nước mắt.

Nhưng hướng có ý nghĩa.

Không phải hướng không còn chiến đấu.

Nhưng hướng không còn chiến đấu một mình.

Không phải hướng làm họ thành người hoàn hảo ngay.

Nhưng hướng làm họ từng ngày thành người thuộc về Thiên Chúa hơn.

Đó là điều đẹp nhất mà một tuổi trẻ có thể trở thành.

Không phải một tuổi trẻ nổi bật nhất.

Không phải một tuổi trẻ được ngưỡng mộ nhất.

Mà là một tuổi trẻ được trao.

Một tuổi trẻ biết mình sống vì ai.

Và cuối cùng, đủ can đảm để thưa với Chúa:

Con đây. Xin hãy dùng con.

 

Bài viết liên quan

Back to top button
error: Content is protected !!