Góc tư vấn

NƯỚC MỸ HAY NƯỚC MĨ? TÍN LÝ HAY TÍN LÍ? HY LỄ HAY HI LỄ? HY TẾ HAY HI TẾ? – Lm. Anmai, CSsR

NƯỚC MỸ HAY NƯỚC MĨ? TÍN LÝ HAY TÍN LÍ? HY LỄ HAY HI LỄ? HY TẾ HAY HI TẾ? 

Có những chuyện trong tiếng Việt nhìn qua tưởng rất nhỏ, nhưng khi đưa lên mạng xã hội lại trở thành cuộc tranh luận lớn. Một trong những chuyện đó là viết i hay y. Có người thấy đề thi ghi “Nước Mĩ” thì lập tức nói: “Đề sai rồi, phải là Nước Mỹ chứ!” Người khác lại bảo: “Sách giáo khoa viết Mĩ thì từ nay ai viết Mỹ là sai.” Rồi từ một chữ Mĩ/Mỹ, người ta kéo sang hàng loạt chữ khác: tín lý hay tín lígiáo lý hay giáo líluân lý hay luân líhy lễ hay hi lễhy tế hay hi tếhy vọng hay hi vọng. Cãi qua cãi lại, cuối cùng nhiều người không còn tìm sự thật nữa, mà chỉ tìm cách thắng nhau.

Vì vậy, trước hết cần nói một điều thật rõ: không nên biến chuyện chính tả thành cuộc chiến hơn thua. Tiếng Việt là tài sản chung của dân tộc. Chữ nghĩa cần được dùng cho sáng, cho đẹp, cho đúng văn cảnh, chứ không phải để người này lấy đó làm cây gậy đánh người kia. Người có học thật sự không phải là người thấy ai viết khác mình thì mắng ngay là “dốt”, mà là người biết hỏi: chữ ấy đang được dùng trong văn cảnh nào, trong hệ thống nào, trong truyền thống văn bản nào, và nhằm phục vụ ai.

Vấn đề i/y trong tiếng Việt không thể giải quyết bằng một câu đơn giản kiểu: “Cứ viết i hết là đúng” hoặc “Cứ viết y hết mới sang.” Nói như vậy là quá vội. Muốn nói cho chính xác, phải phân biệt ít nhất ba phạm vi: phạm vi nhà trường, phạm vi văn viết xã hội phổ thông, và phạm vi văn bản chuyên ngành, đặc biệt ở đây là văn Công giáo, phụng vụ và thần học.

Trước hết, nói về câu “Nước Mỹ” hay “Nước Mĩ.”

Trong hình ảnh đề thi đang được chia sẻ, ta thấy đề ghi “Nước Mĩ.” Nhiều người thấy vậy liền phản ứng: “Sao lại viết Nước Mĩ? Phải là Nước Mỹ chứ!” Phản ứng ấy có thể hiểu được, vì trong thói quen xã hội, rất nhiều người Việt Nam quen viết Nước Mỹ. Báo chí, sách vở, bài bình luận, văn chương, truyền thông xã hội, văn bản Công giáo, bài giảng, bài suy niệm, hầu hết người đọc đều thấy Nước Mỹ quen mắt hơn, trang trọng hơn, tự nhiên hơn. Nhưng nếu nói ngay rằng đề thi viết Nước Mĩ là “sai chính tả” thì lại chưa chặt.

Vì trong phạm vi sách giáo khoa và nhà trường hiện nay, cách viết  có căn cứ theo quy định chính tả dùng cho chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông. Trong hệ thống ấy, nhiều âm tiết có âm i đứng sau phụ âm đầu, không có âm đệm, không có âm cuối, thường được viết bằng i, chẳng hạn như lí luậnkỉ niệmmĩ thuậthi vọng. Vì thế, trong đề thi, sách giáo khoa, tài liệu giáo dục phổ thông, ta có thể gặp . Thấy vậy thì đừng vội kết luận đề sai. Phải nhìn nó trong phạm vi của nó.

Nhưng nói như vậy không có nghĩa là từ nay ngoài đời ai viết Nước Mỹ đều sai. Đây là chỗ nhiều người hiểu lầm. Một quy định chính tả ban hành cho chương trình và sách giáo khoa thì trước hết áp dụng cho chương trình và sách giáo khoa. Đời sống ngôn ngữ rộng hơn nhà trường rất nhiều. Ngoài trường học còn có báo chí, văn học, xuất bản, tôn giáo, phụng vụ, thần học, văn bản pháp lý, tên riêng, thói quen xã hội, và truyền thống sử dụng lâu dài. Không thể lấy một quy ước của sách giáo khoa rồi áp đặt máy móc cho mọi văn bản trong xã hội.

Nói cho người bình dân dễ hiểu: trong nhà trường, “Mĩ” có thể chấp nhận; trong văn viết phổ thông, “Mỹ” vẫn là cách viết rất quen thuộc, rất trang trọng và rất nên dùng. Nếu học sinh làm bài theo đề thi, đề ghi Nước Mĩ, thì học sinh có thể viết theo đề để an toàn. Nhưng nếu một người viết bài xã hội, bài bình luận, bài giảng, bài đăng Facebook, bài truyền thông Công giáo, thì viết Nước Mỹ là hoàn toàn hợp lý, tự nhiên và đẹp.

Vậy kết luận đầu tiên là: không nên nói “Nước Mĩ” sai tuyệt đối, cũng không nên nói “Nước Mỹ” sai. Cách nói đúng hơn là: “Nước Mĩ” là cách có thể gặp trong sách giáo khoa và đề thi; “Nước Mỹ” là cách viết truyền thống, phổ biến, trang trọng trong văn viết xã hội và văn Công giáo.

Nói cách khác: nếu trích nguyên văn đề thi, đề ghi Nước Mĩ, ta giữ nguyên Nước Mĩ để tôn trọng văn bản gốc. Nhưng nếu tự mình viết một bài bình luận, một bài giảng, một bài truyền thông, một đoạn văn đăng mạng, thì nên viết Nước Mỹ. Vì người đọc bình dân quen với Nước Mỹ hơn. Chữ Mỹ cũng có sắc thái trang trọng hơn trong mắt nhiều người. Người viết không chỉ viết cho đúng quy tắc hẹp, mà còn viết cho người đọc thấy thuận mắt, dễ hiểu và không bị phân tâm.

Từ chuyện Mỹ/Mĩ, ta bước sang chuyện tín lý/tín lí.

Trong văn Công giáo, nên viết tín lý. Đây là điều cần nói dứt khoát. Vì tín lý không chỉ là một từ thông thường. Đây là thuật ngữ thần học, thuật ngữ giáo huấn, thuật ngữ thuộc truyền thống văn bản Công giáo Việt Nam. Người Công giáo đã quá quen với những cụm từ như tín lý Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tộitín lý Đức Mẹ Hồn Xác Lên TrờiHiến chế tín lý về Hội ThánhHiến chế tín lý về Mạc Khải Thiên Chúathần học tín lýnền tảng tín lýnội dung tín lýchân lý đức tin.

Nếu viết tín lí, người ta vẫn có thể hiểu. Nhưng hiểu được chưa chắc đã là cách nên dùng. Trong văn Công giáo, chữ  đã trở thành một nếp văn trang trọng: giáo lýtín lýluân lýđạo lýthần học luân lýthần học tín lý. Nếu đổi hết thành giáo lítín líluân líđạo lí, thì về âm đọc không khác mấy, nhưng về cảm giác văn bản lại khác rất nhiều. Nó làm mất đi một phần trang nghiêm, cổ kính, ổn định và quen thuộc của văn Công giáo.

Có người sẽ hỏi: “Nhưng sách giáo khoa viết lí luậnvật líđịa lí, vậy tại sao không viết tín lí?” Câu trả lời là: vì ta phải phân biệt văn cảnh. Vật líđịa lílí luận trong sách giáo khoa thuộc phạm vi nhà trường. Còn tín lýgiáo lýluân lý trong Công giáo thuộc phạm vi thần học, giáo lý, mục vụ, phụng vụ, văn bản tôn giáo. Mỗi môi trường có truyền thống dùng chữ của nó.

Không phải chữ nào có âm i giống nhau cũng nên viết giống nhau trong mọi nơi. Chữ viết không chỉ ghi âm. Chữ viết còn mang theo lịch sử, văn hóa, thói quen đọc, cảm giác trang trọng, và truyền thống của một cộng đoàn. Người Công giáo đọc tín lý thấy quen, thấy đúng, thấy nghiêm túc. Đọc tín lí có thể vẫn hiểu, nhưng nhiều người sẽ thấy lạ, thấy giống văn sách giáo khoa hơn là văn thần học. Vì vậy, trong văn Công giáo, nên viết tín lý, không nên viết tín lí.

Điều này cũng áp dụng cho giáo lý. Ta nói học giáo lýdạy giáo lýsách giáo lýlớp giáo lý hôn nhângiáo lý dự tònggiáo lý viên, chứ không nên đổi thành giáo lí trong tài liệu Công giáo. Người Công giáo Việt Nam đã dùng giáo lý quá lâu, quá ổn định. Chữ ấy đã đi vào đời sống đức tin. Nó không phải là một chữ ngẫu nhiên để thích đổi thì đổi.

Cũng vậy, ta nói luân lý Kitô giáothần học luân lýđạo lý Tin Mừngchân lý cứu độmầu nhiệm chân lý, chứ trong văn Công giáo trang trọng không nên viết luân líđạo líchân lí nếu muốn giữ phong cách truyền thống. Có thể trong một số văn bản giáo dục phổ thông, người ta dùng ; nhưng trong văn đạo,  vẫn là lựa chọn đẹp và phù hợp hơn.

Bây giờ đến chữ hy lễ/hi lễ. Đây là điểm rất quan trọng đối với người Công giáo.

Trong văn Công giáo, nên viết hy lễ, không viết hi lễ. Đây không chỉ là chuyện thói quen cá nhân. Đây là chữ đã nằm trong ngôn ngữ phụng vụ. Trong Thánh lễ, linh mục mời cộng đoàn cầu nguyện để hy lễ của ngài và của cộng đoàn được Thiên Chúa chấp nhận. Cộng đoàn đáp xin Chúa nhận hy lễ bởi tay linh mục. Người Công giáo Việt Nam nghe chữ hy lễ từ nhỏ đến lớn, trong nhà thờ, trong sách lễ, trong bài giảng, trong giáo lý, trong thần học Thánh Thể.

Vì thế, chữ hy lễ có một vị trí rất đặc biệt. Nó không chỉ là chữ viết trên giấy. Nó là chữ đi vào lời cầu nguyện của Hội Thánh. Nó gắn với bàn thờ, với Thánh lễ, với của lễ, với Đức Kitô, với thập giá, với ơn cứu độ. Khi người Công giáo nghe hy lễ, họ không chỉ nghe một âm thanh; họ nghe cả một truyền thống đức tin.

Nếu viết hi lễ, người đọc Công giáo sẽ thấy rất lạ. Có thể người viết muốn giản lược theo i, nhưng trong văn Công giáo, đó là một sự thay đổi không cần thiết và không nên làm. Vì thuật ngữ phụng vụ đã ổn định thì phải tôn trọng. Không nên vì một xu hướng chính tả nào đó mà làm biến dạng thuật ngữ phụng vụ đã ăn sâu vào đời sống đức tin của cộng đoàn.

Cần nói cho rõ: hy lễ không phải là từ bình thường như một vật dụng ngoài chợ. Đây là thuật ngữ tôn giáo. Mà thuật ngữ tôn giáo cần sự ổn định. Khi một chữ đã được Hội Thánh dùng trong phụng vụ, đã được giáo dân cầu nguyện, đã được linh mục đọc trên bàn thờ, đã được sách lễ ghi nhận, thì người viết Công giáo nên giữ nguyên cách viết ấy. Đổi thành hi lễ không làm cho chữ nghĩa “hiện đại” hơn, mà chỉ làm cho người đọc phân tâm hơn.

Một bài viết đạo đức mà dùng chữ lạ quá thì người đọc chưa kịp suy niệm đã dừng lại thắc mắc: “Ủa, sao viết hi lễ?” Vậy là chữ nghĩa không còn phục vụ nội dung nữa, mà trở thành vật cản. Trong truyền thông Công giáo, điều quan trọng là giúp người đọc gặp Chúa, hiểu đức tin, yêu mến Hội Thánh, chứ không phải khiến họ mắc kẹt trong một chữ gây cấn mắt.

Cho nên, với chữ này, kết luận rất rõ: viết “hy lễ”, không viết “hi lễ.”

Tiếp theo là hy tế/hi tế.

Cũng như hy lễ, trong văn Công giáo nên viết hy tế, không viết hi tế. Ta thường gặp những cụm như hy tế Thánh Thểhy tế thập giáhy tế cứu độhy tế tạ ơnĐức Kitô là tư tế, bàn thờ và hy tế. Đây là những cụm từ có chiều sâu thần học. Chữ hy tế nói đến hành vi tự hiến, dâng hiến, sát tế, của lễ được dâng lên Thiên Chúa. Trong Kitô giáo, chữ ấy đạt tới đỉnh cao nơi Đức Giêsu Kitô, Đấng tự hiến trên thập giá vì ơn cứu độ nhân loại.

Nếu viết hi tế, người đọc có thể đoán nghĩa, nhưng không quen. Trong văn Công giáo, hy tế là cách viết trang trọng, ổn định, gắn với thần học và phụng vụ. Vì vậy, trong bài giảng, bài giáo lý, bài suy niệm, văn bản mục vụ, sách đạo, poster Công giáo, nên dùng hy tế.

Có người có thể hỏi: “Tại sao hy lễhy tế lại giữ y, còn sách giáo khoa có thể dùng hi vọng?” Câu trả lời nằm ở truyền thống thuật ngữ. Không phải chữ nào có âm giống nhau cũng đổi theo một công thức. Hy lễ và hy tế là thuật ngữ Công giáo đã ổn định. Nó không nên bị đổi sang hi lễhi tế chỉ vì muốn thống nhất hình thức. Trong ngôn ngữ, sự ổn định của thuật ngữ nhiều khi quan trọng hơn sự giản lược máy móc.

Và thật ra, chính đời sống tiếng Việt cũng không hoàn toàn máy móc. Ta vẫn có rất nhiều trường hợp giữ y vì tên riêng, vì truyền thống, vì thẩm mỹ, vì thói quen, vì từ Hán Việt, vì cảm giác văn bản. Chữ nghĩa sống trong cộng đồng, chứ không sống trong một cái máy. Vì vậy, khi chọn chữ, ta phải chọn sao cho đúng văn cảnh và đúng truyền thống.

Đến đây, có thể có người nói: “Nhưng nếu đã có quy định chính tả, tại sao còn nói truyền thống?” Xin thưa: chính tả có quy định, nhưng quy định nào cũng có phạm vi. Một văn bản của ngành giáo dục phục vụ chương trình, sách giáo khoa thì không tự động biến thành luật bắt mọi nhà thờ, mọi tòa soạn, mọi nhà xuất bản, mọi tác giả, mọi cộng đoàn tôn giáo phải thay toàn bộ truyền thống chữ nghĩa của mình. Nói cách khác, phải tôn trọng quy định, nhưng cũng phải hiểu đúng phạm vi của quy định.

Một điểm nữa rất quan trọng: khi trích dẫn, phải giữ nguyên bản gốc. Nếu đề thi ghi Nước Mĩ, khi ta chụp hình, bình luận, phân tích, ta có thể viết: “Đề ghi Nước Mĩ.” Không nên tự ý sửa thành Nước Mỹ trong phần trích dẫn rồi bảo đó là nguyên văn. Trích dẫn thì phải trung thành. Nhưng khi ta viết ý kiến riêng, ta hoàn toàn có thể viết Nước Mỹ. Như vậy vừa tôn trọng bản gốc, vừa giữ văn phong của mình.

Ví dụ, ta có thể viết: “Trong đề thi, tác giả dùng cách viết Nước Mĩ, là cách có thể gặp trong hệ thống sách giáo khoa. Còn trong bài viết phổ thông và văn Công giáo, tôi vẫn chọn viết Nước Mỹ vì đây là cách viết truyền thống, quen thuộc và trang trọng hơn.” Cách nói này rất chặt, rất khó bị bắt bẻ, vì nó không phủ định ai một cách cực đoan. Nó chỉ phân biệt phạm vi.

Cũng vậy, với tín lý/tín lí, ta có thể nói: “Trong một số văn bản theo lối chính tả nhà trường, người ta có thể viết . Nhưng trong văn Công giáo, tôi chọn tín lý, vì đây là thuật ngữ thần học đã ổn định trong truyền thống Công giáo Việt Nam.” Cách nói này không mắng ai, không phủ nhận ai, nhưng vẫn bảo vệ được cách viết đúng văn Công giáo.

Với hy lễ/hi lễ, ta có thể nói mạnh hơn: “Trong văn Công giáo, hy lễ là cách viết nên giữ, vì đây là thuật ngữ phụng vụ đã đi vào bản văn Thánh lễ và đời sống cầu nguyện của Hội Thánh. Viết hi lễ là không nên, vì gây lạ và không hợp truyền thống phụng vụ.” Cách nói này vừa rõ vừa có cơ sở.

Với hy tế/hi tế, ta cũng nói: “Trong văn thần học và phụng vụ Công giáo, nên viết hy tế, vì đây là thuật ngữ đã ổn định. Không nên viết hi tế trong tài liệu Công giáo trang trọng.” Như vậy là đủ chặt.

Bây giờ thử giải thích bằng hình ảnh thật bình dân. Chữ nghĩa giống như y phục. Một bộ đồ mặc đi lao động có thể rất đúng khi làm việc ngoài ruộng. Một bộ áo dài rất đúng khi đi lễ, đi cưới, đi dự sự kiện trang trọng. Một bộ đồ thể thao rất đúng khi ra sân bóng. Không thể lấy bộ đồ đá banh rồi bảo ai đi lễ cũng phải mặc như vậy. Cũng không thể lấy áo dài rồi bắt người làm ruộng mặc giữa trưa nắng. Cái đúng của y phục là đúng theo hoàn cảnh. Chữ nghĩa cũng vậy.  có chỗ của Mỹ có chỗ của Mỹ có chỗ của  có chỗ của . Nhưng trong văn Công giáo, với các thuật ngữ đã ổn định, ta nên giữ tín lý, giáo lý, luân lý, hy lễ, hy tế.

Một ví dụ khác: cùng là nước, nhưng nước dùng để uống, nước dùng để rửa tay, nước dùng trong phụng vụ, nước thánh, nước rửa tội, mỗi thứ có ý nghĩa khác nhau. Không phải cứ cùng là nước thì dùng sao cũng được. Chữ nghĩa cũng vậy. Cùng một âm đọc, nhưng khi đi vào văn cảnh phụng vụ, thần học, giáo lý, nó có chiều sâu khác. Vì thế, không nên xử lý chữ nghĩa tôn giáo bằng thái độ quá giản lược.

Ở đây cũng cần nhắc một điều: người bình dân thường có trực giác ngôn ngữ rất tốt. Họ có thể không biết văn bản quy định nào, số quyết định nào, điều khoản nào, nhưng họ biết chữ nào đọc lên thấy quen, thấy trang trọng, thấy hợp đạo. Một giáo dân đọc hy lễ thì thấy bình thường. Đọc hi lễ thì thấy lạ. Một giáo lý viên đọc tín lý thì thấy chuẩn. Đọc tín lí thì thấy như bị kéo sang văn sách giáo khoa. Một người viết bài xã hội đọc Nước Mỹ thì thấy tự nhiên. Đọc Nước Mĩ thì thấy khô hơn. Trực giác ấy không phải vô giá trị. Nó phản ánh thói quen sử dụng thật của cộng đồng.

Tuy nhiên, cũng không nên vì quen Mỹ mà chê bai người viết  trong sách giáo khoa. Người viết  có thể đang theo quy định của môi trường giáo dục. Họ không nhất thiết sai. Điều đáng phê bình không phải là chữ  trong đề thi, mà là thái độ thiếu phân biệt phạm vi. Nếu ai lấy chữ  trong sách giáo khoa rồi bảo cả xã hội phải bỏ chữ Mỹ, thì đó là quá tay. Ngược lại, nếu ai thấy chữ  trong đề thi rồi bảo người ra đề dốt chính tả, thì cũng là quá vội.

Người cẩn trọng phải đứng giữa hai cực đoan ấy. Cẩn trọng là nói: “Trong sách giáo khoa,  có căn cứ. Trong văn phổ thông và văn Công giáo, Mỹ là lựa chọn nên dùng.” Chỉ cần nói như vậy là đủ đẹp, đủ đúng, đủ công bằng.

Một xã hội trưởng thành không phải là xã hội ai cũng viết giống nhau từng chữ trong mọi hoàn cảnh, mà là xã hội biết tôn trọng chuẩn mực của từng loại văn bản. Văn bản giáo dục cần thống nhất để dạy học. Văn bản báo chí cần dễ đọc, phổ biến. Văn bản pháp luật cần chính xác, ổn định. Văn bản phụng vụ cần trang nghiêm, trung thành truyền thống. Văn bản thần học cần chuẩn thuật ngữ. Văn bản mục vụ cần sáng nghĩa và gần gũi. Mỗi loại văn bản có nhu cầu riêng. Vì thế, khi bàn chính tả, phải bàn cùng với mục đích của văn bản.

Riêng văn Công giáo, chữ nghĩa càng cần được cân nhắc kỹ. Vì văn Công giáo không chỉ truyền thông tin, mà còn truyền đức tin. Một chữ dùng trong bài giảng, trong giáo lý, trong phụng vụ, trong suy niệm, có thể nâng tâm hồn người đọc lên, nhưng cũng có thể làm họ vấp nếu chữ ấy quá lạ, quá cấn, quá xa truyền thống. Vì vậy, người viết Công giáo nên ưu tiên những chữ đã ổn định, đã được cộng đoàn đón nhận, đã đi vào lời cầu nguyện. Đó là lý do nên viết giáo lýtín lýluân lýhy lễhy tếhy vọng.

Cũng cần phân biệt giữa “đúng chính tả” và “đẹp văn phong.” Có những cách viết không hẳn sai, nhưng không đẹp trong một văn cảnh nhất định. Ví dụ tín lí có thể không làm người ta hiểu sai, nhưng trong văn Công giáo thì không đẹp bằng tín lýHi lễ có thể có người hiểu, nhưng trong phụng vụ thì không đẹp, không quen, không nên dùng. Nước Mĩ có thể có căn cứ trong sách giáo khoa, nhưng trong bài bình luận xã hội thì Nước Mỹ vẫn tự nhiên hơn. Vì vậy, người viết hay không chỉ hỏi “có sai không”, mà còn hỏi “có hợp không, có đẹp không, có đúng truyền thống không, có phục vụ người đọc không.”

Đây là điều nhiều cuộc tranh luận trên mạng hay bỏ quên. Người ta thường chỉ muốn thắng bằng một câu ngắn: “Sai rồi!” hoặc “Đúng rồi!” Nhưng chữ nghĩa không phải lúc nào cũng đơn giản như công tắc bật tắt. Có những trường hợp cần phân loại. Có những trường hợp phải nói: đúng trong phạm vi này, không nên dùng trong phạm vi kia. Chính sự phân biệt ấy mới là chính xác.

Vậy, nếu phải trả lời thật ngắn cho người hỏi, ta có thể nói:

Một: “Nước Mĩ” trong sách giáo khoa và đề thi không nên vội kết luận là sai, vì đó là cách viết có căn cứ trong hệ thống chính tả nhà trường.

Hai: “Nước Mỹ” vẫn là cách viết truyền thống, phổ biến, trang trọng, nên dùng trong văn viết xã hội, báo chí, truyền thông, bài giảng và văn Công giáo.

Ba: Trong văn Công giáo, nên viết “tín lý”, không nên viết “tín lí”, vì “tín lý” là thuật ngữ thần học đã ổn định.

Bốn: Trong phụng vụ và thần học Công giáo, phải giữ “hy lễ”, không nên đổi thành “hi lễ”, vì “hy lễ” là từ đã đi vào bản văn Thánh lễ và đời sống cầu nguyện của Hội Thánh.

Năm: Trong văn Công giáo, nên viết “hy tế”, không nên viết “hi tế”, vì “hy tế” là thuật ngữ trang trọng, gắn với thần học về Đức Kitô tự hiến.

Nhưng nếu muốn nói sâu hơn, ta có thể nói thế này: tiếng Việt có phần quy ước, có phần truyền thống, có phần cộng đồng sử dụng. Một chữ muốn đứng vững không chỉ cần “có quy định”, mà còn cần “có đời sống.” Chữ Mỹ có đời sống rất mạnh trong xã hội Việt Nam. Chữ tín lý có đời sống rất mạnh trong Công giáo. Chữ hy lễ có đời sống rất mạnh trong phụng vụ. Chữ hy tế có đời sống rất mạnh trong thần học. Những chữ ấy đã được dùng, được đọc, được cầu nguyện, được giảng dạy, được in ấn, được truyền lại. Vì vậy, không nên dễ dàng gạt bỏ chúng chỉ vì muốn giản lược i/y.

Đặc biệt, trong đạo, chữ nghĩa cần có lòng kính trọng. Ta không thờ chữ, nhưng ta dùng chữ để nói về mầu nhiệm. Ta không thần thánh hóa chính tả, nhưng ta cũng không cẩu thả với những từ đã đi vào đời sống phụng vụ. Nói về Thánh lễ mà viết chữ gây lạ, nói về tín lý mà viết chữ làm mất sự trang trọng, nói về hy tế mà làm người đọc cấn mắt, thì không phải là phục vụ đức tin tốt hơn.

Có người sẽ nói: “Chữ nào cũng được, miễn hiểu là được.” Nghe thì có vẻ thoáng, nhưng không hoàn toàn đúng. Nếu chỉ cần hiểu, thì ta có thể viết rất tùy tiện. Nhưng một cộng đồng văn hóa không thể sống bằng sự tùy tiện. Một cộng đoàn đức tin càng không nên tùy tiện trong các thuật ngữ thiêng liêng. Chữ nghĩa có kỷ luật của nó. Không phải kỷ luật để trói buộc, mà để giữ cho lời nói được sáng, được đẹp, được truyền lại cách ổn định.

Cũng có người nói: “Viết y nhìn cổ quá, viết i mới hiện đại.” Câu này cũng không thuyết phục. Hiện đại không có nghĩa là cắt bỏ truyền thống. Hiện đại càng không có nghĩa là làm cho mọi chữ trở nên phẳng như nhau. Một ngôn ngữ đẹp là ngôn ngữ biết vừa đổi mới vừa giữ gìn. Cái gì cần thống nhất trong nhà trường thì thống nhất. Cái gì đã ổn định trong phụng vụ và thần học thì nên giữ. Cái gì thuộc tên riêng, thuộc truyền thống, thuộc văn phong trang trọng thì không nên đổi máy móc.

Ngược lại, cũng có người nói: “Viết i là mất gốc, viết Mĩ là sai hết.” Nói vậy cũng quá nặng. Vì trong nhà trường, cách viết kỉ có lịch sử và căn cứ quy định. Ta có thể không quen, nhưng không nên mắng người dùng là sai hoặc dốt. Khi tranh luận, công bằng là rất quan trọng. Mình bảo vệ cách viết truyền thống không có nghĩa là mình phủ nhận mọi quy ước khác. Mình chọn Mỹ trong bài viết của mình không có nghĩa là mình phải kết án  trong sách giáo khoa.

Vì thế, thái độ tốt nhất là: biết, hiểu, phân biệt, rồi chọn cách viết phù hợp. Biết rằng sách giáo khoa có thể dùng . Hiểu rằng văn xã hội vẫn quen dùng Mỹ. Phân biệt rằng văn Công giáo có truyền thống tín lý, hy lễ, hy tế. Rồi chọn cách viết phù hợp với bài mình đang viết. Đó là thái độ của người trưởng thành trong chữ nghĩa.

Nếu tôi viết cho học sinh trong bối cảnh thi cử, tôi sẽ khuyên: đề dùng cách nào, em nên theo cách ấy cho an toàn. Nếu đề ghi Nước Mĩ, em viết Nước Mĩ trong bài làm cũng được. Đừng để mất điểm vì chuyện không đáng.

Nếu tôi viết cho người làm truyền thông, tôi sẽ khuyên: trong bài xã hội, bài bình luận, bài đăng công khai, nên dùng Nước Mỹ, vì đây là cách người đọc quen hơn.

Nếu tôi viết cho giáo lý viên, linh mục, tu sĩ, người làm mục vụ, tôi sẽ khuyên: cứ giữ giáo lý, tín lý, luân lý, hy lễ, hy tế, hy vọng. Đó là cách viết trang trọng, quen thuộc, hợp truyền thống Công giáo Việt Nam.

Nếu tôi viết cho người tranh luận trên mạng, tôi sẽ khuyên: đừng dùng chữ nghĩa để hạ nhục nhau. Hãy giải thích. Hãy phân biệt. Hãy nói đúng phạm vi. Vì nhiều khi người ta không sai do ngu dốt, mà chỉ đang dùng theo một hệ thống khác.

Một điều nữa cũng nên nói: ngôn ngữ không chỉ có quy định từ trên xuống, mà còn có sự chấp nhận từ cộng đồng. Nếu cộng đồng Công giáo qua nhiều thế hệ đã quen dùng hy lễhy tếtín lý, thì đó là một dữ kiện quan trọng. Không thể xem nhẹ dữ kiện ấy. Chính đời sống sử dụng lâu dài làm cho một thuật ngữ có sức nặng. Những thuật ngữ ấy không nên bị đổi chỉ vì một lối giản hóa.

Và nếu hỏi tôi: “Vậy cuối cùng nên viết thế nào để vừa đúng vừa đẹp vừa không bị bắt bẻ?” Tôi xin trả lời:

Viết bài ngoài nhà trường: Nước Mỹ.

Viết bài Công giáo: tín lýgiáo lýluân lýhy lễhy tếhy vọng.

Trích đề thi hoặc sách giáo khoa: đề ghi sao thì trích đúng như vậy, ví dụ Nước Mĩ.

Làm bài trong môi trường học đường: nên theo cách viết của sách giáo khoa và đề thi để an toàn.

Còn khi tranh luận: đừng nói “Mĩ sai hoàn toàn”, vì câu ấy dễ bị bắt bẻ. Cũng đừng nói “Mỹ sai vì sách giáo khoa viết Mĩ”, vì câu ấy cũng không đúng với đời sống ngôn ngữ rộng rãi. Cách nói chuẩn là: “Mĩ” có căn cứ trong phạm vi sách giáo khoa; “Mỹ” là cách viết truyền thống, phổ biến và nên dùng trong văn viết xã hội, nhất là văn Công giáo.

Với tín lý, nói: Trong văn Công giáo, nên viết tín lý.

Với hy lễ, nói: Trong phụng vụ Công giáo, nên viết hy lễ.

Với hy tế, nói: Trong thần học Công giáo, nên viết hy tế.

Nói như vậy là đủ rõ, đủ mềm, đủ chặt.

Tôi biết có người sẽ vẫn bắt bẻ: “Tại sao không thống nhất hết cho gọn?” Nhưng tiếng Việt không phải là một cái bảng tính. Tiếng Việt là một dòng sông văn hóa. Trong dòng sông ấy có lớp phù sa của lịch sử, có thói quen của cộng đồng, có quy chuẩn của nhà trường, có phong cách của báo chí, có sự trang nghiêm của phụng vụ, có chiều sâu của thần học. Muốn tôn trọng tiếng Việt, ta không chỉ tôn trọng một quy định, mà còn phải tôn trọng cả đời sống phong phú của tiếng Việt.

Một ngôn ngữ càng giàu thì càng có nhiều sắc thái. Nếu ta làm phẳng hết mọi sắc thái, tiếng Việt sẽ nghèo đi. Nếu ta cực đoan đến mức không chấp nhận quy ước nhà trường, ta cũng không công bằng. Vì vậy, con đường đúng không phải là cực đoan, mà là phân biệt. Phân biệt không phải để chia rẽ, mà để dùng chữ cho đúng chỗ.

Với người Công giáo, điều này còn đáng suy nghĩ hơn. Chúng ta tin rằng Lời có sức mạnh. Chúa dùng lời để mạc khải. Hội Thánh dùng lời để giảng dạy. Phụng vụ dùng lời để cầu nguyện. Giáo lý dùng lời để truyền đức tin. Vì vậy, chữ nghĩa trong đạo không nên cẩu thả. Một chữ như hy lễ không chỉ là một chữ; nó dẫn người ta tới bàn thờ. Một chữ như hy tế không chỉ là một thuật ngữ; nó dẫn người ta tới thập giá. Một chữ như tín lý không chỉ là khái niệm; nó dẫn người ta tới chân lý đức tin. Những chữ như vậy đáng được giữ bằng sự trân trọng.

Cho nên, nếu ai hỏi tôi tại sao tôi viết Nước Mỹtín lýhy lễhy tế, tôi xin trả lời thế này:

Tôi viết Nước Mỹ vì đó là cách viết truyền thống, phổ biến, trang trọng trong văn viết xã hội và rất quen thuộc với người đọc Việt Nam.

Tôi viết tín lý vì đó là cách dùng ổn định trong văn Công giáo, thần học và giáo huấn đức tin.

Tôi viết hy lễ vì đó là từ phụng vụ đã đi vào lời cầu nguyện của Thánh lễ.

Tôi viết hy tế vì đó là thuật ngữ thần học trang trọng, gắn với mầu nhiệm Đức Kitô tự hiến.

Tôi không phủ nhận rằng trong sách giáo khoa có thể gặp kỉhi vọng. Tôi chỉ nói rằng khi viết văn Công giáo và văn phổ thông trang trọng, tôi chọn cách viết phù hợp với truyền thống và người đọc của mình.

Đó không phải là bảo thủ. Đó là biết gìn giữ.

Đó không phải là chống sách giáo khoa. Đó là hiểu đúng phạm vi của sách giáo khoa.

Đó không phải là bắt bẻ chữ nghĩa. Đó là tôn trọng chữ nghĩa.

Đó không phải là cãi nhau vì một chữ i hay y. Đó là học cách dùng tiếng Việt cho có văn hóa.

Vì vậy, thay vì cãi nhau rằng  đúng hay Mỹ đúng, ta nên hỏi: đang viết ở đâu? Viết cho ai? Viết trong văn cảnh nào? Viết để làm gì? Nếu trả lời được những câu ấy, ta sẽ biết chọn chữ.

Trong lớp học, theo sách giáo khoa.

Trong trích dẫn, giữ nguyên bản gốc.

Trong văn xã hội, chọn cách phổ biến, trang trọng.

Trong văn Công giáo, giữ thuật ngữ đã ổn định.

Nếu nhớ được bốn điều ấy, ta sẽ bớt rất nhiều tranh cãi vô ích.

Kết luận cuối cùng, nói cho thật dễ nhớ:

Đi học gặp “Nước Mĩ” thì đừng vội chê sai.

Viết bài xã hội, bài giảng, bài truyền thông thì nên dùng “Nước Mỹ.”

Viết Công giáo thì nên dùng “tín lý”, “giáo lý”, “luân lý.”

Viết phụng vụ và thần học thì nên giữ “hy lễ”, “hy tế.”

Không nên viết “hi lễ”, “hi tế” trong văn Công giáo.

Không nên lấy quy ước sách giáo khoa để bắt văn Công giáo phải đổi hết thuật ngữ truyền thống.

Cũng không nên lấy thói quen cá nhân để kết án sách giáo khoa là sai.

Chữ nghĩa cần sự khiêm tốn. Ai viết khác mình chưa chắc đã sai. Nhưng ai viết mà biết phân biệt văn cảnh, biết tôn trọng truyền thống, biết nghĩ đến người đọc, biết giữ sự trang trọng của điều thánh thiêng, người ấy đang dùng chữ một cách có trách nhiệm.

Với tôi, cách viết nên dùng trong văn phổ thông và văn Công giáo vẫn là:

Nước Mỹ.

Tín lý.

Hy lễ.

Hy tế.

Bốn cách viết ấy vừa quen, vừa đẹp, vừa trang trọng, vừa hợp truyền thống Công giáo Việt Nam. Còn khi gặp Nước Mĩ trong đề thi hay sách giáo khoa, ta hiểu rằng đó là cách viết trong phạm vi nhà trường, không cần ồn ào kết án. Người hiểu chuyện sẽ không cực đoan. Người hiểu chuyện sẽ biết đặt chữ vào đúng chỗ của nó.

Vì sau cùng, chữ nghĩa không phải để hơn thua. Chữ nghĩa là để phục vụ sự thật, phục vụ con người, phục vụ đức tin, và giúp chúng ta nói với nhau bằng sự sáng suốt, tử tế và khiêm nhường hơn.

Lm. Anmai, CSsR

Bài viết liên quan

Back to top button
error: Content is protected !!