Phụng vụSuy niệm ngày thường

CÁC BÀI GIẢNG ĐỨC MARIA LÀ MẸ ĐẤNG CỨU THẾ

SỰ TRAO BAN VĨ ĐẠI: KHI LÒNG MẸ MỞ RA ĐỂ CẢ NHÂN LOẠI ĐÓN ĐẤNG CỨ THẾ

Bước đi trong chiều dài của lịch sử dụng, chúng ta không thể trầm mình vào dòng suy tư về một hành trình đầy khắc khoải, một khoảng không gian và thời gian khổng lồ mà nhân loại đã từng trải qua dưới bóng tối đặc biệt của sự chờ đợi mong mòn. Đóng Nhân loại lúc bấy giờ như kẻ du hành đơn độc giữa sa mạc hoang dã hoang vu, khao khát một khát nước mát, khao khát được trở về với nguồn gốc của tình yêu và ánh sáng thủy tinh mà họ đã đánh kể từ bữa tiệc say sa sa ngã. Và chính trong lúc bóng tối tưởng tượng như đã se khít số phận con người, lúc niềm hy vọng mong manh nhất chuẩn bị lụi tàn thành tro lạnh, thì một luồng sáng đại đại từ trời cao đã dọi tham chiếu xuống một ngôi làng nhỏ bé, nghèo và xa xôi mang tên Nazareth. Giữa cái tĩnh lặng imịch của một đêm lịch sử đầy đủ nhiệm vụ, tiếng “Xin vâng” (Fiat) ngọt ngọt nhưng vô cùng điều khiển của một thiếu nữ đơn giản, Khiêm tốn tình vàng lên như một tiếng sét ái tình thạch làm lay động cả đất trời, phá tan bức tường ngăn cách giữa Thiên Chúa và con người, mở toang cánh cửa tình yêu mà bảo thế hệ thống liên tục đêm ngày khao khát tìm kiếm.

Tiếng “Xin vâng” của Đức Maria không đơn thuần là một sự chấp nhận thụ động trước một định mệnh đã có một bài, mà đó là đỉnh cao của sự tự do, của một đức tin kiên cường như đá đá và một lòng hảo tâm tuyền không một chút tì vết dành cho Thiên Chúa. Bằng cách nói lên lời thưa vâng theo chiến trường cảm giác, Mẹ đã có thể đảm bảo đặt cả cuộc đời, tương lai, danh dự và cả sự sống của mình vào trong bàn tay giải tối của Tối Cao, chấp nhận bước vào một hành trình huyền nhiệm mà có thể hiểu được con người không vượt qua. Ngay trong giây phút lịch sử vĩ đại và thiêng liêng, huyền nhiệm Nhập Thể đã được thực hiện khi Ngôi Lời hoá thành phấn thể, hơi thở cực thánh của Thiên Chúa đã hòa vào từng nhịp đập của con tim bé nhỏ nơi cung lòng thanh khiết của Mẹ. Thiên Chúa cao cả, Đổ tạo dựng nên cả vũ trụ bao la, giờ đây lại chọn giới hạn chính mình trong hình hài một hồng thái yếu ớt, nương tựa hoàn toàn vào dòng máu nóng và tình yêu chăm sóc của một người mẹ trần gian. Thế nhưng, tình yêu nghiên cứu của Thiên Chúa và trái tim vĩ đại của Đức Maria không bao giờ dừng lại hay kín trong mối tương quan mẫu tử tinh và riêng tư ấy, bởi huyền nhập thể chất để dành cho cả thế giới. Sự vĩ đại thực sự làm nên vinh quang của Đức Maria chính là việc Mẹ đã không bảo quản riêng kho tàng vô giá là chính Chúa Giêsu cho bản thân mình, mà luôn sẵn sàng mở rộng xin mình để trao ban Con trẻ cho toàn thể nhân loại đang mong chờ.

Khi thời gian giải quyết mãn tính khai hoa đến, trong cảnh nghèo nàn tối cùng của một đêm lạnh giá tại Bethlehem, nơi hang đá hoang lạnh và tối tăm, Đức Maria đã hạ sinh sống Cứu thế và đặt Người trong bạch cỏ đơn sơ dành cho vật chất. Hành động đặt Hài Nhi vào cỏ cỏ không chỉ là lựa chọn bắt lực của hoàn cảnh không tìm được chỗ trong nhà trọ, mà sâu xa hơn, đó là một cử chỉ phục vụ đầu tiên của trao ban khi Mẹ chấp nhận để mình trở thành thành viên của ăn, thành nguồn sống phát ban cho nhân gian. Mẹ đặt Chúa Giêsu ở đó để những người mục đồng nghèo khổ, những kẻ bị coi là gần gũi nhất trong xã hội, rồi đến những nhà Kiến tinh phương xa đại diện cho các dân tộc ngoại giáo, và rộng hơn là toàn thể nhân loại, có thể tự động đạt đến tầm nhìn, Cú chạm và nhận nguồn trợ giúp độ vô biên mà không có bất kỳ rào cản nào. Mẹ Maria hiểu rất rõ rằng Ôru con mà Mẹ đã mang nặng đẻ đau, Ô con là xương là thịt của Mẹ, không thuộc về riêng Mẹ để phiền phức những tình cảm mẫu tử thông thường hay hữu ích kỷ cá nhân, mà Người là quà tặng tối hậu, là hiện thân của tình yêu nghiên cứu mà Thiên Chúa Cha muốn dâng hiến cho một nhân loại đang tàn phá, rớm vì tội lỗi và đau khổ. Với tâm thế của một người tôi tớ nhím mọn, Mẹ đã cung hiến dâng hiến kho tàng lớn lao nhất đời mình cho nhân thế, chấp nhận làm chiếc bạch thông truyền dòng ân sủng vĩ đại của trời cao xuống cho thế gian chậmi.

Ba năm âm thầm yên tĩnh tại Mái nhà đơn nghèo vùng Nazareth, Đức Maria đã nuôi dưỡng và đồng hành cùng Chúa Giêsu trong tư thế của một người mẹ đồng thời là một đệ tử trung tín nhất. Mẹ không tìm cách giữ Chúa Giêsu lại dành riêng ngôi nhà nhỏ của mình, mà luôn chuẩn bị cho Ngài bước vào sứ mạng lớn lao hơn, sứ mạng cứu độ cao trên trần gian. Khi Chúa Giêsu bước vào ba năm rao giảng công khai đầy sóng gió, đối diện với những lời khen ngợi, những âm mưu chống đối và cả sự săn đuổi của các thế lực tôn giáo chính trị thời bấy giờ, Đức Maria vẫn âm thầm theo dõi theo từng bước chân của Con như một bóng mát chậm rãi và tĩnh lặng. Mẹ không bảo giờ dùng quyền làm mẹ để can thiệp vào sứ mạng của Con, cũng không xuất hiện ở những nơi đông người để đòi hỏi sự tôn kính hay những đặc quyền đặc lợi từ đám đông đang tung hô Con mình. Ngược lại, Mẹ chọn cách đi sâu vào bóng tối hậu trường, âm thầm quan sát, ghi nhớ mọi sự thật và suy nghĩ lại trong lòng tất cả những biến cố xảy ra với một niềm tin thác và phục tùng tuyệt đối vào chương trình của Thiên Chúa. Mẹ chấp nhận chia sẻ Con của mình với đám đông dân chúng, với những người nghèo khổ, những bệnh nhân đau yếu mũi nhọn, những kẻ tội phạm bị xã hội ruồng bỏ và gạt ra bên lề, bởi Mẹ biết rằng giờ của Con Mẹ là giờ dành cho tất cả mọi người.

Sự trao ban vĩ đại ấy không dừng lại ở những năm tháng âm thầm hay những rặngo đường rao giảng mà đã đạt đến đỉnh cao lili và đau đớn nhất trong cuộc thương khó trên đồi Golgotha tiến gió năm nào. Đứng dưới chân thập giá, trong nỗi đau tột cùng xé nát tâm can của một người mẹ phải chứng kiến con duy nhất, con con hoàn mỹ mà mình vĩnh viễn yêu quý và nâng niu, đang là người đời sống hấp, khạc nu, đánh đập dã man và bị treo lơ lửng giữa trời đất như một tên tội phạm. Trong thời điểm giải quyết đen tối nhất của lịch sử đó, Đức Maria đã không gào thét trong tuyệt vọng oán giận, không oán trách Thiên Chúa sao lại nỡ để Con mình phải chịu cực hình đau đến thế, mà Mẹ đứng đó với một can phi thường, Đấu thông cả với chiến đấu đấu của Con. Trên đồi Sọ năm ấy, mỗi suối máu hồng của Chúa Giêsu Kitô ra để nghiên cứu nhân loại cũng là một chuyến đi cứu rỗi, một lần vắng vẻ của Đức Maria dâng hiến cho Thiên Chúa Cha, và một lần nữa trong thinh yên tĩnh đau thương, Mẹ đã lên tiếng “Xin thừa” vĩ đại nhất để tặng Con mình làm giá cho sự sống của nhân thế. Chính lúc Chúa Giêsu từ trên thập giá nhìn xuống và trao phó Mẹ cho người môn đệ yêu dấu, đồng thời trao phó người môn đệ cho Mẹ, một cuộc sinh hạ mới trong thần khí được diễn ra khi Đức Maria chính thức trở thành Mẹ của Giáo hội đã là Mẹ của toàn nhân loại. Mẹ đã chấp nhận mất đi người Con duy nhất về phần xác để đổi lấy việc sinh hạ hàng triệu người về phần linh hồn, biến lòng mẫu tử của Mẹ thành đậu đỗ bình yên cho mọi tâm hồn đang ngập lũi đi tìm sự cứu rỗi giữa dòng đời bão nổi.

Giờ đây, nhìn lại toàn bộ quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận ra rằng cuộc đời của Đức Maria là một bài ca tuyệt mỹ về sự trao ban không ngừng nghỉ, một buổi hiến dâng trọn vẹn không giữ lại bất cứ điều gì cho riêng mình, từ danh dự tuổi thanh xuân, một cuộc sống yên bình cho cuộc sống gia đình cho đến điều quý giá nhất là cuộc sống của con duy nhất. Tình yêu của Mẹ dành cho nhân loại lớn lao đến độ Mẹ sẵn sàng bảo vệ mọi nỗi đau khổ, mọi sự hiểu biết nhiều hơn và cả phong cách bông hoa thu hồn để chúng ta có thể đón nhận được nguồn may mắn tình vĩnh cửu. Chính sự quảng đại bao dung ấy của Mẹ đã trở thành khuôn mẫu và lời mời gọi tha thiết bị cho mỗi chúng ta hôm nay, những người đang được thừa hưởng sản phẩm đức tin và tình yêu từ Mẹ, hãy biết mở rộng lòng mình để tiếp tục hành trình trao đổi giữa thế giới hôm nay. Chúng ta không thể giữ Chúa Giêsu cho riêng mình trong những vỏ bọc tiện ích kỷ của đạo đức cá nhân, mà phải có thể đảm bảo Ngài đến cho những anh chị em xung quanh bằng những hành động yêu thương, chia sẻ, cảm thông và phục vụ không mệt mỏi. Khi chúng ta biết tiếng nói “Xin vâng” với ý muốn của Thiên Chúa trong những biến cố thăng trầm của cuộc sống, biết hy sinh những lợi ích nhỏ nhen của bản thân để cầu hạnh phúc cho tha nhân, và biết đứng bên cạnh những người đau dưới chân những thập giá của thời đại mới, là lúc chúng ta đang cùng với Mẹ Maria tiếp tục viết .

 

MỞ LÒNG ĐÓN MẸ ĐẤNG CỨU THẾ

Kính thưa cộng đồng phục vụ đang hiện diện nơi đây, khi chúng ta cùng nhau quy tụ trong bầu khí thiêng liêng này, tôi xin mời gọi mỗi người hãy để tâm hồn mình thanh thản dịu lại, tạm bỏ những ồn ào, lo toan của cuộc sống bình thường nhật, để cùng ngược dòng thời gian, trở về với những trang sử thăng trầm nhưng cũng đầy ân sủng của nhân loại. Ngược dòng sóng của lịch sử nghiên cứu độ, chúng ta không thoát khỏi bàng hoàng trước bức tranh một nhân loại ngập nước trong u tối và bóng chết thần sau khi nguyên tổ sa ngã, một nhân loại mà suốt hàng ngàn năm Rạch chỉ biết bước đi trong sự khắc khoải, mòn mỏi và cô độc. Đó là nỗi cô đơn sâu thẳm của những con người mất đi quê hương đích thực, những tâm hồn rằn ri vì tội lỗi, ngày qua ngày ngước mắt lên trời cao để cầu khẩn một làn sương mai, một cơn Thiên Sai đến cứu đời mình vũng bụi tối. Tiếng kêu than ấy, tiếng thở dài ấy đã mong thông suốt các thời đại, từ những lời sấm ngôn đầy hy vọng của các ngôn ngữ sứ cho đến những lời cầu nguyện âm thầm của những kẻ nghèo nàn bên lề xã hội, tất cả đều tạo nên một khúc nhạc chờ đợi đầy u và nhung. Con người mồi khát ánh sáng, mỏ khát một cái vuốt tay đầy lòng thương xót của Thiên Chúa để hàn gắn những rạn nứt sâu tâm hồn, để lau sạch những ngọn nước mắt lăn dài trên má của kiếp người sâu hơn, và đưa họ trở về với nguồn gốc ấm áp của tình yêu nguyên thủy.

Và rồi, giữa cái tĩnh lặng bao bọc của một đêm lịch sử tưởng chừng như vô tận và cảm lạnh, tại một góc nhỏ, nghèo nàn và cảm mấy ai biết đến của bản đồ thế giới – ngôi làng Nazareth xứ Galilee – một biến cố vĩ đại âm nhạc đã thầm diễn ra, làm thay đổi toàn bộ nhịp điệu của nhân loại. Thiên Chúa đã không chọn những cung điện nguy nga của hoàng đế La Mã, cũng không chọn quần đảo lộng lẫy ở Jerusalem để bắt đầu quá trình nghiên cứu, Ngài lại chọn một thiếu nữ đơn sơ, Khiêm nhường tên là Maria. Khi sứ thần Gabriel hiện ra cho vay báo tin thịnh vượng đại, cả vương triều thần thiên quốc và toàn thể tạo ra vật chất như đều thở thở chờ câu trả lời từ môi miệng của người thiếu nữ ấy, bởi vì tự động của con người đã được đặt vào khoảnh khắc giải quyết quyết định này. Và khi tiếng “Xin vâng” (Fiat) nhẹ nhàng nhưng đầy uy lực của Mẹ Maria vang lên, nó không chỉ là một hiệp hiệp thụ động trước số phận, mà thực sự là một tiếng sét ái tình tuyệt đẹp, làm chấn động cả trời đất, phá tan bức tường ngăn cách giữa Thiên Chúa và con người. Bằng một đức tin cứng rắn hơn đá tảng và một lòng khách tuyền không một vết săn cố, Mẹ đã hoàn toàn phó thác, đặt cả cuộc đời, danh dự, tương lai và cả mạng sống mình vào bàn tay của Tối Tối Cao. Ngay trong giây phút lịch sử linh thiêng đó, một huyền nhiệm vượt quá sự hiểu biết của trí tuệ loài đã xảy ra: Ngôi Lời đã hóa thành xúc tử thể, hơi thở ấm áp và thiêng liêng của Thiên Chúa hòa quyện vào từng nhịp đập con tim bé nhỏ của nhân loại trong cung lòng Mẹ. Thiên Chúa không còn là một món siêu việt xa xôi ngự trị trên những tầng mây cao ngâm, không còn là một lũ chúng thoải sợ hãi của sét sét núi Sinai, mà đã trở thành một em bé yếu ớt, xương bởi xương ta, thịt bởi thịt ta, cùng chia sẻ tồn người đầy thăng trầm với ta.

Thế nhưng, thưa anh chị em, nhiệm tình tình yêu nghiên cứu độ cực thánh ấy không bao giờ dừng lại hay im lặng trong sự cưu mang âm thầm, ấm áp của riêng cung lòng thanh khiết của Mẹ Maria. Nếu Đức Maria chỉ giữ Chúa Giêsu cho riêng mình, nếu Mẹ ích kỷ ôm kho tàng vô giá để tìm kiếm một sự an toàn cá nhân hay thỏa mãn niềm đam mê của một người mẹ được chọn, thì công trình nghiên cứu đã không thể hoàn thiện và lan tỏa đến tận cùng trái đất. Sự vĩ đại thực sự, đỉnh cao của lòng quảng đại nơi Mẹ Maria chính là ở nơi Mẹ đã luôn mở rộng lòng mình để trao tặng con yêu dấu cho cả thế giới. Chúng ta hãy cùng nhau lắng nghe đêm đông lạnh giá ở Bethlehem, khi đất trời ngập nước trong sương tuyết và lòng người thì băng giá, xua đuổi đôi vợ chồng nghèo không một chỗ nương thân. Trong cảnh nghèo hèn cùng cực của hang đá hoang lạnh, khi hạ sinh Hài Nhi Chúa Giêsu, Đức Maria đã không giấu nhẹm Con mình đi dưới những lớp khăn ấm áp để bảo vệ bọc mắt người đời. Ngược lại, với đôi bàn tay chạy vì lạnh nhưng đầy ắp tình mẫu tử vĩ đại, Mẹ đã có thể đảm bảo Chúa Hài Nhi nằm trong nhung cỏ đơn sơ, hoang tàn. Máng cỏ – vốn là nơi chứa thức ăn cho loài rắn – nay đã trở thành thành công của Vua Vũ trụ, và việc Mẹ đặt Con mình vào đó mang một ý nghĩa thần học sâu sắc vô cùng: Mẹ đang hiến dâng Con mình làm của ăn nuôi dưỡng linh hồn nhân loại, Mẹ đang bày tỏ cho cả thế giới thấy rằng Giải cứu Thế nay đã về họ. Mẹ đặt Con ở đó để những người chăn chiên nghèo khổ, lam lũ, những kẻ bị xã hội coi thường và gạt ra bên lề có thể tự làm đến gần mà không chút sợ hãi; Mẹ đặt Con ở đó để các nhà triết học từ những phương trời xa xôi tìm đến thờ lạ và dâng tiến lễ vật; và Mẹ đặt Con ở đó để mỗi người chúng ta hôm nay, dù có lấm lem bụi trần hay đầy rẫy tội lỗi, vẫn có thể đảm bảo tiến lại gần, Cú vào và đón nhận nguồn ân tình yêu ngọt ngọt. Mẹ Maria hiểu rất rõ rằng Ôm Con mà Mẹ đã mang nặng sinh tồn, Ô Con là hơi thở là sự sống của Mẹ, không thuộc về một Mẹ của mình, mà là món quà tối hậu, là tình yêu cứu độ cực thánh mà Thiên Chúa Cha muốn trao tặng cho một thế giới rách nát, rớm máu thù hận và đau đau.

Hành trình trao ban ấy không dừng lại ở bãi cỏ Bethlehem mà nó đã kéo dài suốt cả cuộc đời của Mẹ Đức, trải qua ba mươi năm âm thầm tại làng làng Nazareth nghèo khó. Trong những năm tháng yên tĩnh đó, Mẹ đã chăm sóc, dạy dỗ Chúa từng bước đi, từng tiếng nói, Mẹ xem Con mình lớn lên trong ân sủng và không quan trọng, và có lẽ mỗi ngày, hãy Mẹ lại càng thắt lưng khi hiểu rằng ngày Con bước vào quá trình nghiên cứu thế giới đang đến gần. Khi Chúa Giêsu bước vào ba năm rao giảng đầy sóng gió, Đức Maria đã tự nguyện lùi về phía sau, trở thành một bóng mát khiêm nhường và tĩnh lặng theo dõi từng bước chân của Con. Mẹ không bao giờ dùng danh nghĩa người mẹ để can thiệp vào sứ mạng của Chúa Giêsu, không đòi hỏi một đặc quyền, ngay cả khi Mẹ đứng ngoài đám đông muốn gặp Người và nghe Người nói: “Ai là mẹ, ai là anh em tôi? Ai thi hành ý muốn của Cha tôi, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ. ” Lời nói của Chúa có vẻ như một sự thật khập khiễng tự nhiên, nhưng Đức Maria, trong sự thật của tin, cười đón nhận, vì Mẹ hiểu rằng giờ đây mối tương quan giữa Mẹ và Chúa Giêsu đã được nâng lên một tầm cao mới: Mẹ không chỉ sinh ra Người về mặt thể xác, mà Mẹ còn là người đệ đệ hoàn hảo nhất, người đầu tiên thi hành ý muốn của Thiên Chúa để cùng mình thực hiện công trình nghiên cứu. Mẹ chấp nhận để Con mình thuộc về đám đông dân chúng, thuộc về những người đau yếu bệnh tật, thuộc về những kẻ tội lỗi bị xã hội ruồng bỏ, và Mẹ sẵn sàng chia sẻ tình yêu của Con cho toàn thể nhân loại mà không giữ lại một chút gì cho riêng mình.

Và thưa cộng đoàn, đỉnh điểm của trao ban đại đại, đau và anh dũng nhất của Đức Maria chính là cuộc tấn công bên chân giá trên đồi Golgotha thổi gió năm nào. Hãy thử tưởng tượng nỗi đau khổ nứt nẻ có thể của một người mẹ khi phải chứng kiến con duy nhất, con mà mình đã nâng niu từng giấc ngủ, nay là người đời sống kiệt sức, khạc nẩy, đánh đập dã man thành một hình hài không còn ra người, rồi bị nhốt và treo lơ lửng giữa trời đất như một kẻ đại đế. Trong bóng tối bao trùm cả mặt đất lúc ba giờ chiều, khi đất trời rung chuyển, những môn đệ khác đã bỏ trốn vì sợ hãi, thì Đức Maria vẫn đứng đó, hiển thị vững chắc dưới chân thu thập giá. Mẹ đứng đó không phải để khóc thảm thiết trong tuyệt vọng kêu than, mà mẹ đứng đó như một tư tế bên bàn thờ hiến tế, âm thanh thú hiến cống máu cuối cùng, hơi thở cuối cùng của Con mình cho Thiên Chúa Cha để làm giá cống hiến cho nhân thế. Đó là một hiến dâng kinh hoàng vượt quá mọi sức chịu đựng của con người, một tiếng “Xin vâng” lần thứ hai được viết bằng máu và nước mắt của lòng mẹ. Chính trong giờ phút cực thánh ấy, khi Chúa Giêsu nhìn xuống và thấy Mẹ cùng môn đệ yêu dấu bên cạnh, Người đã nói: “Thưa Bà, đây là con Bà”, rồi nói với đệ đệ: “Đây là mẹ của con”. Lời trăng trối nó không chỉ là một tình yêu được gửi về mặt thể xác, mà là một thiết lập huyền nhiệm: Đức Maria chính thức trở thành Mẹ của toàn thể nhân loại, Mẹ của Giáo hội. Mẹ đã chấp nhận đổi con độc nhất vô nhị của mình để nhận tất cả chúng ta – những đứa trẻ con tội lỗi, yếu đuối và phản bội – làm con của Mẹ. Từ đây, cuộc đời của Mẹ hoàn toàn thuộc về chúng ta, trái tim của Mẹ luôn mở rộng để ôm trọn mọi đau khổ, ngứa ngáy và niềm hy vọng của từng người lũi đi trong thung lũng nước mắt này.

Nhìn vào mẫu gương trao ban vĩ đại của Mẹ Maria, chúng tôi được mời nhìn lại chính đời sống đức tin của mình hôm nay. Chúng ta đang giữ Chúa cho riêng mình hay đang có thể đảm bảo trao ban Người cho thế giới xung quanh? Đôi khi, chúng ta có xu hướng giữ đạo một cách hữu ích, tìm kiếm Chúa chỉ để cầu xin sự bình an cá nhân, sự thành đạt cho bản thân và gia đình, mà quên đi rằng Chúa Giêsu mà chúng ta đón nhận mỗi ngày trong Bí tích Thánh Thể là một Chúa Giêsu muốn được trao ban, muốn được trao ra cho cả thế giới. Sống huyền nhiệm trao ban như Mẹ Maria đòi hỏi chúng ta phải biết bước ra khỏi vỏ ốc an toàn của bản thân, biết mở rộng lòng mình để lắng nghe và chia sẻ với những mảnh đời bất hạnh, đau khổ, những người đang khao khát tình yêu thương và tăng trọng ngay bên cạnh chúng ta. Chúng tôi được mời nói tiếng “Xin vâng” với Thiên Chúa trong từng biến cố của cuộc đời, dẫu cho đó là những lúc gặp gian nan khó khăn, thử thách đức tin hay những mất mát đau thương, để nhờ đó, ánh sáng của Chúa có thể xuyên qua những vết thương của chúng ta mà chiếu rọi vào thế giới bóng tối này. Ước gì mỗi khi ngước nhìn lên Mẹ Maria, chúng ta không chỉ tìm thấy một Mẹ quyền năng để cầu xin phước lành, mà còn tìm thấy một mẫu cầu tuyệt vời về lòng quảng đại vô biên, để từ đó chúng ta biết sống hiến dâng, biết trao đi danh dự, thời gian, công sức và cả đời mình cho sứ mạng mang Chúa đến cho tha nhân. Xin Mẹ Maria liên tục cầu bầu và nâng cao chúng ta, để mỗi bước chân chúng ta đi trên cuộc đời này đều là bước chân lúa lúa tình yêu, hy vọng và ơn cứu độ của Chúa Giêsu cho toàn thể nhân loại. Amen.

 

MỘT TIẾNG “XIN VÂNG” MỞ CỬA ƠN CỨU ĐỘ

Trong suốt chiều dài đằng sau lịch sử nhân loại, có những khoảnh khắc khắc nghiệt thời gian như kiệt sức, vũ trụ thở thở và vận mệnh của hàng tỷ linh hồn treo lơ trên một sợi chỉ mảnh. Chúng ta đã từng chứng kiến những cơn hưng phấn của các đế chế vĩ đại, những lời tuyên ngôn hùng quốc hùng hồn làm rung chuyển lục địa hay những phát kiến vĩ đại thay đổi bộ mặt của nền văn minh. Thế nhưng, tất cả những sự kiện huy hoàng cuối cùng cũng chỉ là những cơn sóng nhỏ trên mặt đại dương thời gian, bởi chúng tôi chỉ giải quyết những nhu cầu hữu hạn của con người trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Có một biến cố âm thầm thầm hơn thế rất nhiều, không có tiếng kèn an toàn của hoàng gia, không có ánh sáng của quân đội, cũng được ghi chép vào sử sách của những hoàng đế La Mã đương thời, nhưng lại là điểm mấu đại nhất chia đôi dòng lịch sử của cả nhân loại: đó là một đêm thiếu một quê hương tại vùng đất Nazareth di chuyển lên hai tiếng “Xin vâng” trước một thần quốc.

Hai tiếng “Xin vâng” ấy – tiếng Fiat Huyền thoại – không đơn giản là một lời chấp nhận mang tính hình thức hay một hiệp ước cam chịu trước quyền lực tuyệt đối của Tối Tối Cao. Ngược lại, đó là một cuộc cách mạng nội tâm sâu sắc nhất, một hiến dâng toàn bộ và vô điều kiện, một quyết định tự nguyện đặt cả mạng sống, danh dự và tương lai của mình vào bàn tay quan phòng của Thiên Chúa. Chính từ tiếng ồn “Xin vâng” mộc mạc nhưng có thể trường cánh, cánh cửa của ơn nghiên cứu độ thủ công đã được thiết kế kín đáo từ thời hồng hoàng bởi nhét tiền của tổ tông nay được mở toang, đón dòng ánh sáng của Ngôi Lời Nhập Thể chế rửa sạch xuống gian trần, khai mở một kỷ nguyên mới cho toàn thể nhân loại.

Để hiểu được giá trị vô song và sức mạnh vĩnh cửu của tiếng “Xin vâng” nơi Đức Maria, chúng ta buộc phải ngược dòng thời gian trở về buổi bình minh của tạo hóa, nơi bi kịch đầu tiên của gia đình nhân loại bắt đầu xuống. Thiên Chúa sáng tạo nên con người với một tình yêu vô biên và ban cho họ món quà quý giá nhất, nhưng cũng nguy hiểm nhất: tự làm. Tự làm điều kiện tiên quyết để yêu thích thương mại, bởi vì không thể có tình yêu thực sự nếu thiếu đi sự tự nguyện; thế nhưng, tự do cũng mang trong mình mầm mống của sự nổi tiếng khi con người được chọn tự coi mình là trung tâm vũ trụ, từ khước Tạo Sáng Tạo.

“Và người đàn bà nhìn thấy trái cây đó ngon, đẹp mắt và đáng quý để được tinh khôn, bà liền hái trái mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình, và ông cũng ăn.” (Sách Sáng Thế)

Cú ngã của Eva trong vườn địa chỉ tĩnh lặng là câu chuyện về một vật trái cấm, mà là biểu tượng của một tiếng “Không” đầy vũ khí đối với Thiên Chúa. Đó là tiếng “Không” của sự nghi ngờ, khi con người nghe theo lời dụ dỗ của con rắn, hoài nghi lòng nhân lành của Cha và muốn tự mình định ranh giới giữa thiện và ác. Khi Eva hái tay hái trái và trao cho Adam, dòng chém của sự sống đã bị chặn lại; một bức tranh tường vô hình nhưng cố gắng đã được dựng lên giữa trời và đất. Nhân loại từ phút đó bước vào một kỷ nguyên tràn đầy những cơn đau đớn, chia rẽ và đỉnh điểm là cái chết – sự xa rời viễn nguyên mạch sống là chính Thiên Chúa.

hàng ngàn năm sau đó, lịch sử loài người là một chuỗi dài những nỗ lực tuyệt vọng tìm kiếm lại thiên thiên đã mất. Con người xây dựng những tòa tháp Babel chà trời để chạm tới thần linh, dâng những lễ vật nhuốm máu trên bàn thờ ngẫu nhiên, hay cố gắng sử dụng hệ thống sừng học và luật pháp để tự cứu chính mình. Thế nhưng, tất cả chỉ là những tiếng hét vô vọng trong bóng tối đặc; vết thương của tội lỗi quá sâu, và không gian ngăn cách giữa Thánh Khiết với việc tạo ra vật tội quá lớn, không một cánh tay nhân loại nào có thể tự mình bắc cầu băng qua. Thế giới rơi vào tình trạng khát khao một cơn sốt cứu thế, thư giãn chờ đợi một tia sáng cứu độ trong sự yên tĩnh đáng sợ của trời cao thông nhiều thế kỷ.

Và rồi, khi thời gian tới hồi phục mãn nguyện, Thiên Chúa đã quyết định can thiệp vào lịch sử, nhưng không theo cách mà con người tưởng tượng vĩnh viễn. Người ta mong đợi một Đổ Thiên Sai xuất hiện trong bão táp uy quyền, ngự trên những cỗ xe chiến mã oai hùng, hay ít ra cũng phải sinh ra trong nhung lụa của cung điện hoàng gia tại Jerusalem để cho cô gái thống trị của đế quốc La Mã. Thế nhưng, kế hoạch của Thiên Chúa lại hoàn toàn ngược lại với mọi suy tính khí của con người; Ngài chọn một địa danh vô danh tiểu tốt cho người ta phải hoài nghi: “Từ Nazareth, làm sao có cái gì hay được?”

Chính tại làng quê nghèo miền Galilee ấy, thiếu một nữ tên là Maria, đã đính hôn với một người đàn ông tên là Giuse, thuộc dòng dõi vua David. Cuộc sống của Maria trước biến cố Truyền Tin có lẽ rất thơ đềm, giản dị và giấu dật như bao cô gái Do Thái khác thời gian bấy giờ: hằng ngày dệt vải, gánh nước bên suối làng, và hằng đêm cung nguyện cầu nguyện lên Đức Chúa của tổ phụ Abraham, Isaac và Jacob. Nhưng đằng sau vẻ bề ngoài đơn giản ấy là một tâm hồn hoàn toàn trống rỗng bản ngã, một cung điện ngọc thanh khiết được sẵn có, không hề vương miện bụi trần của thực kỷ hay ham muốn thế tục.

Khi sứ thần thần Gabriel bước vào nhà Mẹ, không có sét sét hay những hiện tượng siêu nhiên làm rung động đất trời, chỉ có một lời chào kính nguy: “Mừng vui lên, rút hào đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” Lời trích ấy chứa đựng một huyền nhiệm vĩ đại đến chế tạo Maria phải bối rối và suy nghĩ xem lời trích dẫn đó có ý nghĩa gì. Thiên Chúa cao cả, tốn kém nên bao lâu tinh tú, nay lại cúi mình xuống trước một thụ tạo nhỏ bé, tôn kính nàng bằng mã tước “Đầy ân ân” ( Kecharitomene ). Đây không phải là một tâng bốc xã giao, mà là sự xác nhận rằng Maria là tạo vật duy nhất được chuẩn bị một cách hoàn hảo từ trước đời để đón nhận một sứ mạng vô tiền khoáng hậu: trở thành Mẹ của Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể.

Khi lắng nghe lời sứ thần giải thích về việc Mẹ sẽ thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần và sinh ra sẽ được gọi là Con Tối Tối Cao, Đức Maria đứng trước một lựa chọn mang tính sinh tử. Thiên Chúa không ép Mẹ; Ngài tôn trọng tự do tuyệt đối của con người sẵn sàng sẵn sàng chờ đợi sự thuận lợi của một cô gái trẻ để thực hiện kế hoạch nghiên cứu của Ngài. Đây là khoảnh khắc giải quyết cuối cùng của lịch sử: cả triều thần thiên quốc yên tĩnh, linh hồn của các tổ phụ trong cơn ác mộng ngóng nhìn, và toàn thể nhân loại loại đang rên rỉ dưới ách tội lỗi hướng nhìn về Nazareth, chờ câu trả lời từ đôi môi của Maria.

Để hiểu tại sao tiếng “Xin vâng” điều này lại là một dâng hiến trọn đời chứ không phải một phút bốc đồng tôn giáo, chúng ta cần phân tích ba chiều kích sâu sắc sau đây:

Theo Luật Moses được biên soạn trong sách Đệ Nhị Luật, một thiếu nữ đã đính hôn đã bị phát hiện mang thai với người khác trước khi về nhà chồng sẽ bị coi là tội phạm ngoại tình và phải đối mặt với hình phạt cực kỳ tàn khốc: bị dẫn ra trước cửa nhà cha mình và bị toàn dân ném đá cho đến chết.

Về mặt xã hội: Maria hoàn toàn có ý thức rằng việc gật đầu đồng ý với sứ thần đồng nghĩa với việc chấp nhận một bản án tử hình lơ lửng trên đầu, một giác nhãê chề cho bản thân và gia đình.

Về mặt tình cảm: Mẹ cũng phải đối mặt với nguy cơ tan mối mối tình đẹp đẽ với Giuse – người bạn đời công chính mà Mẹ liên tục yêu quý và kính trọng. Làm sao Mẹ có thể giải thích cho Giuse hiểu một bí ẩn siêu việt vượt quá tầm nhận thức của con người như vậy mà không bị coi là lừa dối điên cuồng?

Vòng lựa chọn thân thể: Thế nhưng, Maria đã không chọn toàn bộ cá nhân. Mẹ không xin sứ thần cho mình một lá bùa hộ mệnh hay một văn bản bảo lãnh trước pháp luật. Mẹ bước vào bóng tối của sự chưa biết, trao đổi toàn bộ danh dự, tính mạng và cả tương lai của mình cho lòng nhân lành của Thiên Chúa.

Khi nói: “Tôi là nữ Tỳ kheo của Chúa, xin Người thực hiện cho tôi như lời sứ thần truyền đạt” , Đức Maria đã tự nguyện đặt mình vào vị trí thế của một người tôi tôt mọn. Trong thế giới cổ đại, một nô lệ không có quyền sở hữu bất cứ thứ gì, kể cả thân xác và ý chí của chính mình; mọi quy tắc hoàn toàn thuộc về nhân chủ.

Bằng cách tự sát là “nữ tỳ của Chúa”, Maria đã thực hiện một cú nhảy vọt của đức tin, dâng hiến toàn bộ quyền sống đời mình cho Thiên Chúa.

Từ nay, thân xác Mẹ không còn thuộc về riêng Mẹ, mà là cung cấp chứa cực thánh; ý chí của Mẹ hòa hòa hoàn toàn với ý chí của Ngài; và mỗi nhịp đập con tim của Mẹ đều hướng về sứ mạng của người Con mà Mẹ sắp cư mang.

Đó là một sự cống hiến trọn vẹn, vĩnh viễn, không có điều thu hồi hay thương lượng lại.

Tiếng “Xin vâng” tại Nazareth không phải là một điểm dừng chân huy hoàng, mà là điểm khởi đầu cho một hành trình đau khổ kéo dài suốt ba năm. Khi Đường lên lời khuyên, có lẽ Mẹ chưa thể hình dung hết mọi chi tiết của những cơn đau tương lai, nhưng với một tâm hồn nhạy cảm nhạy cảm linh linh, Mẹ hiểu rằng con đường đi theo Sau Thiên Sai không bao giờ trải đầy hoa hồng.

Đó là hành trình lặn trong đêm tối để trốn chạy cuộc tàn sát của vua Herod sang Ai Cập;

Đó là ba mươi năm sống nghèo khó, Yên tĩnh tại mộc Nazareth, kiếm từng miếng cơm manh áo bằng mồ hôi nước mắt;

Và đặc biệt, đó là nỗi đau xé lòng khi nhìn thấy những đứa trẻ con yêu dấu được đồng bào mình khước từ, bị vu oan giá họa, bị đánh đòn đập tan thịt tan xương và cuối cùng bị đóng trần trụi giữa hai tên cướp trên cướp Calvê.

Mỗi bước chân của Chúa Giêsu trên đường lên đồi Sọ đều là một vết dao cứa vào lòng Mẹ, và tại đó, tiếng “Xin vâng” của Mẹ đã đạt tới đỉnh cao của thánh hiến khi Mẹ đồng lòng dâng chính Con Mình làm của lễ đền bồi cho nhân loại.

Nhờ tiếng “Xin vâng” hoàn thiện và hoàn cảnh của Đức Maria, bánh xe lịch của nhân loại vốn đang lao nhanh xuống vũ trụ của hủy diệt đã chiến tranh được huấn luyện sang một quỹ đạo hoàn toàn mới. Thánh Irenaeo, một trong những tác phẩm giáo phụ vĩ đại của Giáo hội thời sơ khai, đã có một sự so sánh cực kỳ sâu sắc và đầy chất thơ khi nói về sự lập lập mang tính nghiên cứu độ giữa hai người phụ nữ:

Sự phục hồi của Đức Maria đã chữa lành tận gốc gốc rễ mạnh dũng vốn là căn nguyên của mọi tội lỗi trên thế gian. Khi Ngôi Lời Nhập Thể trong lòng Mẹ, Ngài đã lấy bản tính nhân loại để hóa nó từ bên trong. Thiên tính cực thánh đã hòa quyện với nhân tính yếu đuối, thần linh đã kết hôn với bụi đất trần gian, và cuộc hôn phối vĩ đại chỉ có thể xảy ra nhờ Chiếc cầu nối duy nhất là tiếng “Xin vâng” của Mẹ Đức.

Kể từ giây phút Ngôi Lời làm người, mặt đất cưỡi ngựa chịu lời nguyền của giải tội nhuốc trở thành đất thánh, nơi Thiên Chúa bước đi và chia sẻ mọi vui buồn, đau khổ với con người. Ánh sáng rực rỡ trong đêm tối, niềm tin hy vọng đã gieo vào lòng những kẻ đang ngồi trong bóng tối của cái chết. Không còn một định mệnh bi đát nào có thể trói buộc con người nữa, bởi vì qua Đức Maria, Thiên Chúa đã trao ban cho nhân loại một Người Anh Cả, một Trung Gian Duy Nhất, Bạch sẽ dùng cái chết và phục sinh của Ngài để đập tan mọi xiềng xích của ma quỷ và mở đường cho chúng ta trở về nhà Cha.

Bức tranh huyền nhiệm về tiếng Xin vâng của Đức Maria không phải là một bức tranh cổ kính chỉ để chúng ta ta ngưỡng, tôn kính trong các thánh đường ngọc lăng, rồi sau đó lãng quên khi bước ra ngoài cuộc sống đời thường. Ngược lại, đó là một lời hứa xung đột cuộc sống, một lời mời gọi khẩn cấp gửi đến mỗi chúng ta – những con người đang sống trong thế kỷ XXI đầy biến động, lo âu và khủng khiếp niềm tin.

Thách thức của sự tự thực hiện mục tiêu ở một thế giới vị trí

Trong thời đại ngày nay, con người thường hiểu rỏ tự do là quyền được làm bất cứ điều gì mình thích, là sự buông thả theo những đam mê mê lạc thú bản năng, hay là sự chấp nhận bỏ mọi xả quân đức và trách nhiệm đối với tha nhân. Người ta tôn thờ cái tôi cá nhân một cách thái quá, biến nó thành một vị thần mới và sẵn sàng nói “Không” với Thiên Chúa, nói “Không” với những giá trị vĩnh cửu để chạy theo những ảo ảnh chóng qua của tiền tài, danh vọng và quyền lực.

Bài học từ Mẹ: Chính giữa bối cảnh, tiếng “Xin vâng” của Đức Maria hiện lên như một bên ngoài soi sáng bản chất đích thực của tự làm. Tự làm cao cả nhất không phải là để chiều sáng bản thân, mà là tự động giải phóng mình khỏi tù ngục của sự ích kỷ để cống hiến cho một lý tưởng cao đẹp hơn, để yêu thương và phục vụ không vị lợi.

Hành động cụ thể: Khi chúng ta dãi bắt Mẹ, nói lời “Xin vâng” với Thiên Chúa, chúng ta không hề bị mất đi cá tính hay độc lập của mình; ngược lại, chúng ta được đặt ở vị trí mà Thiên Chúa đã định sẵn cho chúng ta trong kế hoạch yêu thương của Ngài, nơi chúng ta có thể phát huy tối đa những ân sủng và khả năng ẩn náu của bản thân để đón nhận hạnh phúc hạnh phúc cho tha nhân.

Đối diện với những nỗi đau và biến cố không có lời giải đáp

Trong cuộc sống lữ khách thứ trần gian, có những lúc chúng ta phải đối mặt với những tai họa nhập xuống bất ngờ: một căn bệnh nguy hiểm cướp đi người thân yêu, một sự thất bại cay đắng trong sự nghiệp dù đã nỗ lực hết mình, hay những nỗi đau cô đơn kiệt tâm hồn mà không ai khó hiểu. Những lúc đó, phản ứng tự nhiên của chúng ta thường nổi loạn, giận dữ Thiên Chúa và hỏi: “Tại sao lại là tôi? Tại sao Chúa lại để điều này xảy ra?”

Nhìn lên Mẹ dưới chân Thập Giá: Hãy nhìn Mẹ Maria dưới chân thu giá trên đồi Calvê năm xưa. Mẹ cũng không nhận được một lời giải thích khoa học hay thần học nào rõ ràng từ trời cao về lý do tại sao Con Mẹ phải chết đau đớn như vậy. Nhưng Mẹ đã chọn tin tưởng tuyệt đối. Mẹ “Xin chào” trong thinh tĩnh, ôm lấy xác Con với lòng phó thác vô bờ bến.

Thái độ của chúng tôi: Tiếng “Xin vâng” của Mẹ dạy chúng tôi biết đón nhận những đau khổ thử thách chúng tôi không phải bằng cam chịu đựng, ngồi tối, mà bằng một niềm tin hy vọng cường cường rằng Thiên Chúa có thể vẽ những đường đời thẳng trên những dòng kẻ cong của cuộc đời thương ta, và Ngài có thể biến đổi những thứ biến đổi, tang thành chất liệu để kiến tạo nên những điều kỳ diệu cho tình trạng khẩn cấp của chúng ta.

Trở thành suối chuyển ơn cứu độ cho thế giới hôm nay

Mỗi người giết sau khi lãnh nhận bí tích tội lỗi đều được mời trở thành một “Maria khác” trong thế giới hôm nay. Thiên Chúa vẫn đang tiếp tục tìm kiếm những tâm hồn khiêm tốn, sẵn sàng mở rộng cửa lòng để Ngài ngự trị và qua họ, Ngài tiếp tục mang tình yêu, xin thương xót và niềm hy vọng đến cho những người nghèo khó, những kẻ lừa ra bên xã hội, những tâm hồn đang tan rã vì tội lỗi và tuyệt vời.

Khi chúng ta có thể đảm bảo thứ hai cho một kẻ đã bị xúc phạm đến mình, đó là lúc chúng ta đang bước lên tiếng “Xin vâng” với tình yêu thương của Chúa.

Khi chúng ta biết san sẻ miếng cơm manh áo, hay dành thời gian lắng nghe một người đang đau khổ, đó là lúc chúng ta đang để cho Ngôi Lời nhập thể một lần nữa qua những hành động bác ái cụ thể của mình.

Mỗi tiếng ồn “Xin vâng” nhỏ của chúng ta hằng ngày, d mẫu âm thầm và không ai biết đến, đều là phần đưa lui bóng tối của sự ích kỷ, thù hận và mở ra những nhịp cầu yêu thương, cung cấp cứu độ của Chúa đến những ngõ hẻm sâu nhất của cuộc đời này.

Nhìn lại toàn bộ bức tranh hoành tráng của lịch sử nghiên cứu, chúng ta không thể nghiêng mình kính sâu trước nhiệm vụ yêu vĩ đại của Thiên Chúa và cộng tác tuyệt vời của Đức Trinh Nữ Maria. Tiếng “Xin vâng” phát ra từ ngôi nhà nhỏ ở Nazareth năm xưa đã không được đào sâu dưới cát bụi thời gian, nhưng nó vẫn tiếp tục vang vọng khắp không gian và thời gian, ngân vang trong mỗi thánh lễ, trong mỗi kinh Magnificat trầm của Giáo hội, và đặc biệt là trong tâm hồn sâu lắng của mỗi người tín hữu qua mọi thời đại. Đó là khúc ca khai hoàn của đức tin chiến thắng sự thật mong đợi, của sự khiêm hạ chiến thắng thần tốc căng thẳng, và của tình yêu tự hiến chiến thắng thần chết gieo rắc nỗi sợ hãi.

Lạy Mẹ Maria, Trầm đầy ân sủng và là Mẹ của niềm hy vọng, xin Mẹ Thả mắt bão thương nhìn đến phi thuyền cái lững giữa trần gian đầy sóng gió bão này. Xin Mẹ dạy chúng tôi biết lắng nghe tiếng Chúa gọi trong từng biến cố gắng hằng ngày, biết can đảm bỏ những toan tính ích kỷ, những nỗi sợ hãi cạn kiệt để thân cho thánh ý Chúa. Xin cho mỗi hơi thở, mỗi nhịp đập con tim và mỗi quyết định của đời chúng tôi cũng đều là một tiếng ồn “Xin vâng” âm thầm nhưng quyết định, để cuộc đời chúng tôi trở thành thành những tro cốt hạ áp cho Chúa Giêsu ngự trị, và qua chúng tôi con, ánh sáng sáng của Ngài được lan tỏa đến tối cùng trái đất, hệ thống những tâm hồn đang ở mức giá và dẫn dắt người về với bến trời quê hương cửu.

 

ĐỨC MARIA – NGƯỜI MẸ ĐÃ TRAO BAN CHÚA CỨU THẾ CHO NHÂN LOẠI

Trong cuộc đời mỗi người, tiếng gọi “Mẹ” luôn là một tiếng gọi rất đỗi thân thương. Đó thường là tiếng gọi đầu tiên bật lên trên môi một đứa trẻ, cũng có thể là tiếng gọi cuối cùng thầm vang lên trong lòng một con người khi đứng trước những phút giây cô đơn, đau đớn hay sợ hãi nhất. Người ta có thể lớn lên, có thể đi xa, có thể thành công, có thể trở nên mạnh mẽ trước mặt bao người, nhưng sâu thẳm trong tâm hồn, ai cũng vẫn cần một mái nhà để trở về, một vòng tay để nương tựa và một trái tim đủ rộng để yêu thương mình ngay cả khi mình chẳng còn gì đáng để được yêu. Bởi thế, khi gọi Đức Maria là Mẹ, người Kitô hữu không chỉ đọc lên một danh xưng đạo đức, cũng không chỉ nhắc lại một tín điều đã thuộc lòng, nhưng đang chạm đến một mầu nhiệm vô cùng dịu dàng: Thiên Chúa đã muốn Đấng Cứu Thế đến với nhân loại qua trái tim, cung lòng, tiếng thưa vâng và tình mẫu tử của một người phụ nữ. Đức Maria chính là Mẹ Chúa Cứu Thế, bởi Mẹ đã cưu mang, sinh hạ, nuôi dưỡng và đồng hành với Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người, Đấng duy nhất đem lại ơn cứu độ cho nhân loại. Nhưng danh hiệu ấy còn mang một ý nghĩa sâu xa hơn rất nhiều: Mẹ không chỉ sinh ra một người con cho riêng mình, Mẹ đã trao ban Người Con ấy cho cả thế giới; Mẹ không giữ Chúa Giêsu trong vòng tay riêng tư của mình, nhưng đã để Người thuộc về những người nghèo, những kẻ đau khổ, những người tội lỗi, những tâm hồn tan vỡ và tất cả những ai đang khát khao được cứu độ. Cuộc đời Đức Maria vì thế là một cuộc đời trao ban, một cuộc đời chấp nhận để Thiên Chúa đi vào lịch sử nhân loại qua chính thân phận nhỏ bé của mình, rồi từng ngày học cách hiến dâng Người Con yêu dấu cho chương trình lớn lao của Chúa Cha.

Khi lịch sử nhân loại còn chìm trong bóng tối của tội lỗi và thất vọng, khi con người đã nhiều lần quay lưng lại với Thiên Chúa, khi lời hứa cứu độ vẫn được mong chờ qua bao thế hệ, thì tại một làng quê nhỏ bé mang tên Nadarét, Thiên Chúa đã tìm đến một thiếu nữ đơn sơ. Người thiếu nữ ấy không có quyền lực, không có địa vị, không được người đời biết đến, cũng chẳng có gì nổi bật theo những tiêu chuẩn của thế gian. Mẹ chỉ là một cô gái trẻ đang sống âm thầm giữa dân tộc mình, đang đính hôn với một người công chính tên là Giuse, đang mang trong lòng những ước mơ bình dị như bao người phụ nữ khác. Thế nhưng Thiên Chúa lại nhìn thấy nơi Mẹ một tâm hồn trong sạch, một đức tin sâu xa và một sự tự do hoàn toàn sẵn sàng dành cho Người. Sứ thần Gabriel đến chào Mẹ bằng lời chào kỳ diệu: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” Lời chào ấy không chỉ làm Mẹ bối rối, mà còn mở ra một chân trời hoàn toàn mới cho đời Mẹ. Thiên Chúa mời Mẹ bước vào một hành trình mà Mẹ chưa thể hiểu hết, một con đường không có bản đồ rõ ràng, một sứ mạng vừa cao cả vừa đầy hiểm nguy: Mẹ sẽ thụ thai, sinh hạ một người con, đặt tên là Giêsu; Người Con ấy sẽ nên cao cả, sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận. Giây phút ấy, vận mệnh của cả nhân loại như đang chờ đợi câu trả lời của một thiếu nữ. Thiên Chúa quyền năng có thể thực hiện mọi sự, nhưng Người không áp đặt; Người chờ sự tự do cộng tác của con người. Và Đức Maria đã thưa: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Hai tiếng “xin vâng” ấy thật nhẹ nhàng, nhưng đã làm chuyển động cả trời đất; thật đơn sơ, nhưng đã mở cánh cửa cho Ngôi Lời bước vào lịch sử; thật âm thầm, nhưng đã trở thành khởi đầu của một kỷ nguyên mới. Từ giây phút Mẹ thưa vâng, Ngôi Hai Thiên Chúa đã làm người trong cung lòng Mẹ. Đấng mà trời cao không thể chứa nổi đã chọn cư ngụ trong lòng một người nữ; Đấng tạo dựng muôn loài đã chấp nhận mang lấy hình hài một thai nhi; Đấng ban sự sống cho nhân loại đã nhận sự sống nhân loại từ máu thịt của Đức Maria. Mẹ trở thành Mẹ Chúa Cứu Thế không phải vì Mẹ tự tìm kiếm vinh quang cho mình, nhưng vì Mẹ đã hoàn toàn mở lòng cho ý muốn của Thiên Chúa.

Tiếng xin vâng của Đức Maria không phải là một lời nói bộc phát trong phút xúc động rồi sau đó mọi chuyện trở nên dễ dàng. Đó là lời cam kết của cả một đời người. Khi thưa vâng, Mẹ không biết trước tất cả những gì sẽ xảy đến. Mẹ không biết phải giải thích thế nào với thánh Giuse về thai nhi đang lớn lên trong lòng mình. Mẹ không biết người đời sẽ nhìn Mẹ bằng ánh mắt ra sao. Mẹ không biết mình sẽ phải sinh con ở đâu, nuôi con thế nào, hay tương lai của Người Con ấy sẽ dẫn Mẹ đến những đau khổ nào. Mẹ chỉ biết rằng Thiên Chúa đã gọi và Mẹ tin rằng Người trung tín. Chính ở đây, Đức Maria trở thành mẫu gương của một đức tin trưởng thành. Đức tin không phải là hiểu hết rồi mới vâng phục, nhưng là dám bước đi khi chưa nhìn thấy hết con đường; không phải là được bảo đảm rằng mình sẽ không gặp đau khổ, nhưng là tin rằng ngay trong đau khổ, Thiên Chúa vẫn đang thực hiện chương trình yêu thương của Người. Nhiều người trong chúng ta chỉ muốn thưa vâng khi mọi chuyện hợp với ý mình, khi con đường phía trước bằng phẳng, khi lời Chúa không đòi ta phải từ bỏ điều gì. Ta dễ dàng nói yêu Chúa khi cuộc đời bình an, nhưng lại hoang mang khi bệnh tật ập đến, khi gia đình đổ vỡ, khi công việc thất bại, khi lời cầu nguyện dường như không được đáp lời. Đức Maria thì khác. Mẹ đã đặt cả cuộc đời vào bàn tay Thiên Chúa mà không đòi Người phải giải thích từng bước. Mẹ không nắm giữ tương lai, Mẹ chỉ nắm lấy lời hứa. Và vì tin, Mẹ đã trở thành con đường để Chúa Cứu Thế đi vào trần gian.

Sau biến cố Truyền Tin, Đức Maria không thu mình trong niềm vui riêng. Vừa cưu mang Chúa Giêsu trong lòng, Mẹ đã vội vã lên đường đến miền núi thăm người chị họ Êlisabét. Đây là hình ảnh đầu tiên cho thấy Mẹ Chúa Cứu Thế cũng là người mang Chúa Cứu Thế đến cho tha nhân. Mẹ không giữ Chúa cho mình. Mẹ mang Chúa đến một gia đình đang cần được sẻ chia, đến với một người phụ nữ lớn tuổi đang mang thai và có lẽ đang cần sự giúp đỡ. Khi lời chào của Mẹ vang lên, hài nhi Gioan nhảy mừng trong lòng bà Êlisabét, và bà được đầy tràn Thánh Thần. Chúa Giêsu chưa chào đời, chưa giảng một lời, chưa làm một phép lạ, nhưng sự hiện diện của Người trong lòng Đức Maria đã đem niềm vui và ân sủng đến cho một mái nhà. Mẹ đi đến đâu, Chúa đi đến đó; Mẹ bước vào nhà nào, ơn cứu độ chạm đến nhà ấy. Hình ảnh ấy nhắc chúng ta rằng lòng sùng kính Đức Mẹ đích thực không thể dừng lại ở những lời kinh đọc thật nhiều mà không đem Chúa đến cho người khác. Người yêu mến Đức Maria phải học nơi Mẹ cách lên đường, cách nhìn thấy nhu cầu của tha nhân, cách phục vụ không phô trương, cách hiện diện bên cạnh những người đang cô đơn, yếu đuối và mỏi mệt. Một người mang Chúa trong lòng không thể sống ích kỷ; một người thực sự gần Đức Mẹ không thể thờ ơ trước nỗi đau của anh chị em mình. Đức Maria là Mẹ Chúa Cứu Thế, nên nơi nào có Mẹ, nơi ấy phải có sự hiện diện của Đức Kitô, có niềm vui của Tin Mừng, có lòng thương xót và sự phục vụ.

Rồi đến ngày Đức Maria cùng thánh Giuse lên đường về Bêlem. Chuyến đi ấy chắc chắn không dễ dàng đối với một người phụ nữ đang gần ngày sinh nở. Mẹ mang trong lòng Đấng mà các ngôn sứ đã loan báo, nhưng không ai nhường cho Mẹ một chỗ xứng đáng. Cánh cửa các quán trọ lần lượt khép lại. Con Thiên Chúa đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận. Cuối cùng, Mẹ phải sinh Chúa Giêsu trong cảnh nghèo khó, giữa một nơi dành cho súc vật, đặt Người nằm trong máng cỏ. Nếu suy nghĩ theo lối của con người, ta có thể đặt câu hỏi: Tại sao Thiên Chúa lại để Mẹ của Con mình phải chịu như thế? Tại sao Người không chuẩn bị một cung điện, một căn phòng ấm áp, một đoàn người hầu hạ? Nhưng chính trong sự nghèo khó ấy, mầu nhiệm cứu độ lại tỏ lộ vẻ đẹp sâu xa nhất. Chúa Cứu Thế không đến để đứng xa con người, nhưng để chia sẻ tận cùng thân phận của con người. Người chọn sinh ra trong nghèo khó để không một người nghèo nào cảm thấy mình bị Thiên Chúa bỏ quên; Người nằm trong máng cỏ để bất cứ ai cũng có thể đến gần; Người không có một căn phòng riêng để trở thành mái nhà cho những ai không còn chốn nương thân. Đức Maria đã sinh Chúa Cứu Thế trong sự nghèo khó, và chính Mẹ là người đầu tiên chiêm ngắm dung nhan Thiên Chúa nơi một trẻ thơ bé bỏng. Mẹ bồng ẵm Đấng đang nâng đỡ cả vũ trụ, cho Đấng là Bánh Hằng Sống bú dòng sữa của mình, ru ngủ Đấng mà các thiên thần không ngừng tung hô. Những điều lớn lao nhất của Thiên Chúa lại diễn ra trong âm thầm, giữa một đêm tối, nơi một hang đá không ai để ý. Điều ấy an ủi biết bao cho những con người đang sống một cuộc đời bình thường, âm thầm và có vẻ chẳng được ai ghi nhận. Thiên Chúa không chỉ hiện diện trong những biến cố huy hoàng; Người thường đến trong những bổn phận nhỏ bé, những hy sinh không ai biết, những giọt nước mắt rơi trong im lặng và những việc tốt được thực hiện mà không cần tiếng vỗ tay.

Nhưng niềm vui Bêlem chưa kéo dài bao lâu thì bóng tối của bách hại đã phủ xuống. Vua Hêrôđê tìm giết Hài Nhi. Trong đêm, Đức Maria cùng thánh Giuse phải bồng con trốn sang Ai Cập. Mẹ Chúa Cứu Thế trở thành một người mẹ tị nạn. Mẹ ôm Con Thiên Chúa chạy trốn bạo quyền, đi trên những con đường xa lạ, sống nơi đất khách quê người, không biết ngày mai sẽ ra sao. Có lẽ Mẹ đã từng nghe tiếng khóc của những bà mẹ có con bị giết tại Bêlem; có lẽ nỗi đau của họ cũng cứa vào tim Mẹ. Từ rất sớm, cuộc đời Mẹ đã gắn liền với những người mẹ phải ôm con chạy khỏi chiến tranh, những gia đình phải rời bỏ quê hương, những con người không có nhà cửa, giấy tờ hay sự bảo đảm cho tương lai. Khi gọi Đức Maria là Mẹ Chúa Cứu Thế, chúng ta không được biến Mẹ thành một hình ảnh quá xa vời, chỉ ngự giữa hào quang mà không biết đến nỗi nhọc nhằn của phận người. Mẹ đã sống đời sống của một người nghèo, đã nếm trải sự bất an, đã đi qua những đêm dài lo lắng, đã từng không biết lấy gì để bảo vệ con mình trước thế lực của sự dữ. Chính vì thế, những ai đang đau khổ có thể chạy đến với Mẹ mà không sợ Mẹ không hiểu mình. Người mẹ có con bệnh tật, người vợ mất chồng, người cha thất nghiệp, người trẻ lạc hướng, người di dân xa quê, người bị hiểu lầm, người đang phải sống trong một gia đình đầy căng thẳng đều có thể tin rằng Đức Maria hiểu thế nào là một trái tim phải mang nặng lo âu mà vẫn tiếp tục tín thác.

Sau những năm tháng lưu lạc, gia đình Thánh Gia trở về Nadarét. Phần lớn cuộc đời của Chúa Giêsu đã trôi qua trong sự âm thầm của một mái nhà nhỏ. Đức Maria không chỉ sinh Chúa một lần tại Bêlem, nhưng còn ngày ngày chăm sóc để nhân tính của Người lớn lên. Mẹ dạy Chúa Giêsu những lời cầu nguyện đầu tiên theo truyền thống Israel, dạy Người những cử chỉ yêu thương, chăm sóc từng bữa ăn, giấc ngủ, từng chiếc áo và những nhu cầu bình dị của một đứa trẻ. Người Con ấy là Thiên Chúa thật, nhưng cũng là người thật; Người lớn lên trong một gia đình, dưới sự chăm sóc của Mẹ Maria và thánh Giuse. Nadarét cho chúng ta thấy ơn cứu độ không chỉ được thực hiện trên những bục giảng lớn lao, nhưng còn được chuẩn bị bên bếp lửa gia đình, trong lao động, trong sự kiên nhẫn, trong những bổn phận lặp đi lặp lại mỗi ngày. Có những bà mẹ nghĩ rằng đời mình chỉ quanh quẩn với việc nấu ăn, giặt giũ, chăm con, săn sóc người già và chẳng làm được điều gì lớn lao cho Chúa. Nhưng hãy nhìn Đức Maria. Chính trong những việc âm thầm ấy, Mẹ đã phục vụ chương trình cứu độ. Không có việc gì là nhỏ bé khi được làm bằng tình yêu. Một bữa cơm nấu trong hy sinh, một đêm thức bên giường người bệnh, một lời nhẫn nhịn để giữ bình an gia đình, một lời kinh dạy cho con trẻ, một giọt nước mắt âm thầm dâng lên Chúa đều có thể trở thành nơi Thiên Chúa thực hiện những điều lớn lao. Đức Maria, Mẹ Chúa Cứu Thế, đã không sống bằng những phép lạ ngoạn mục, nhưng bằng sự trung thành trong từng ngày rất đỗi bình thường.

Khi Chúa Giêsu lên mười hai tuổi, Đức Maria và thánh Giuse đã trải qua ba ngày đau đớn vì lạc mất Người tại Giêrusalem. Mẹ tìm Con trong lo âu, rồi khi gặp lại trong Đền Thờ, Mẹ nghe một câu trả lời mà lúc ấy Mẹ chưa thể hiểu hết: “Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” Lời ấy như hé mở một sự thật mà Mẹ sẽ phải học suốt đời: Chúa Giêsu là Con của Mẹ, nhưng Người trước hết thuộc về Chúa Cha; Mẹ được trao trách nhiệm chăm sóc Người, nhưng không được giữ Người cho riêng mình. Đây là một bài học khó khăn đối với mọi người mẹ. Người mẹ nào cũng muốn bảo vệ con, muốn con ở bên mình, muốn định hướng tương lai cho con theo điều mình cho là tốt. Nhưng tình yêu đích thực không phải là chiếm hữu. Yêu là giúp người mình yêu khám phá và thực hiện ơn gọi Thiên Chúa dành cho họ, dù con đường ấy có thể khiến mình phải đau. Đức Maria đã phải từng bước buông Chúa Giêsu ra khỏi vòng tay của mình để Người lên đường thực hiện sứ mạng. Mẹ không cản Người vì sợ mất Con. Mẹ không dùng tình mẫu tử để ràng buộc. Mẹ tôn trọng chương trình của Chúa Cha, dù chương trình ấy sẽ dẫn Người Con yêu dấu đến tận thập giá.

Trong tiệc cưới Cana, vai trò của Đức Maria trong sứ mạng của Chúa Cứu Thế lại được tỏ lộ cách thật tinh tế. Khi nhận ra gia đình đôi tân hôn đang thiếu rượu, Mẹ không chờ họ lên tiếng van xin. Trái tim người mẹ luôn nhìn thấy điều người khác cố giấu, luôn cảm được nỗi khó khăn trước khi nó trở thành một sự nhục nhã công khai. Mẹ chỉ nói với Chúa Giêsu một câu rất ngắn: “Họ hết rượu rồi.” Mẹ không ra lệnh, không ép buộc, cũng không trình bày dài dòng. Mẹ đơn giản đặt nỗi thiếu thốn của con người trước mặt Con mình. Rồi Mẹ nói với những người phục vụ: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Đây có thể xem là lời cuối cùng của Đức Maria được ghi lại trong Tin Mừng, và cũng là lời Mẹ muốn nói với mỗi chúng ta hôm nay. Mẹ không giữ người ta lại nơi mình, nhưng luôn chỉ về Chúa Giêsu. Lòng sùng kính Đức Mẹ chân chính không bao giờ làm lu mờ vai trò của Đức Kitô; trái lại, Mẹ luôn dẫn ta đến với Con của Mẹ và dạy ta vâng nghe lời Người. Có người chỉ tìm đến Đức Mẹ để xin ơn, nhưng lại không muốn thay đổi đời sống; đọc nhiều kinh, đi nhiều nơi hành hương, đeo nhiều ảnh tượng, nhưng vẫn sống trong hận thù, gian dối, ích kỷ và bất công. Như thế là chưa nghe được lời Mẹ. Mẹ nói: “Người bảo gì, các con hãy làm theo.” Chúa bảo hãy tha thứ, ta phải học tha thứ; Chúa bảo hãy yêu thương kẻ thù, ta phải tập yêu thương; Chúa bảo hãy phục vụ người bé nhỏ, ta không thể quay lưng; Chúa bảo hãy từ bỏ tội lỗi, ta không thể cứ viện cớ yếu đuối để tiếp tục sống sai. Đức Maria không thay thế Chúa Giêsu, Mẹ giúp ta đến gần Người hơn. Mẹ không giữ lời cầu xin cho riêng mình, Mẹ chuyển nó đến với Con và dạy chúng ta chuẩn bị tâm hồn để đón nhận điều Con muốn thực hiện.

Trong những năm Chúa Giêsu rao giảng, Đức Maria phần lớn vẫn hiện diện trong âm thầm. Mẹ không đòi một vị trí danh dự trong nhóm môn đệ, không dùng danh nghĩa là mẹ của Thầy để tìm đặc quyền, không xuất hiện để thu hút sự chú ý. Có lần người ta báo với Chúa Giêsu rằng Mẹ và anh em Người đang đứng bên ngoài muốn gặp Người. Chúa đáp: “Ai thi hành ý muốn của Cha tôi, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi.” Lời ấy không hạ thấp Đức Maria, nhưng lại là lời ca ngợi sâu xa nhất dành cho Mẹ, bởi không ai thi hành ý Chúa Cha trọn vẹn hơn Mẹ. Mẹ là Mẹ Chúa Giêsu không chỉ vì đã cưu mang Người trong thân xác, mà trước hết vì đã cưu mang Lời Chúa trong đức tin. Mẹ đã nghe và đã thực hành. Chính điều đó làm nên sự cao cả thật sự của Mẹ. Người Kitô hữu cũng được mời gọi trở nên “mẹ” của Chúa theo nghĩa thiêng liêng: đón nhận Lời Chúa, để Lời ấy thành hình trong cuộc đời mình, rồi sinh Chúa ra cho thế giới bằng những việc làm yêu thương. Mỗi khi ta sống tử tế, tha thứ, bảo vệ sự thật, nâng đỡ người yếu đuối, chia cơm cho người đói, an ủi người đau buồn, ta đang làm cho Đức Kitô tiếp tục hiện diện giữa đời. Khi ấy, theo một nghĩa nào đó, ta đang học nơi Đức Maria cách cưu mang và trao ban Chúa Cứu Thế.

Đỉnh cao của thiên chức làm Mẹ Chúa Cứu Thế không nằm ở hang đá Bêlem, nhưng dưới chân thập giá trên đồi Canvê. Tại Bêlem, Đức Maria trao cho Chúa Giêsu một thân xác; trên Canvê, Mẹ chứng kiến thân xác ấy bị đóng đinh, bị xé nát và trao ban vì phần rỗi nhân loại. Tại Bêlem, Mẹ nghe tiếng thiên thần hát mừng; trên Canvê, Mẹ nghe tiếng đám đông chế nhạo. Tại Bêlem, Mẹ bọc Con trong khăn; trên Canvê, Mẹ nhìn Con bị lột áo. Tại Bêlem, Mẹ đặt Con vào máng cỏ; trên Canvê, Mẹ đón lấy thân xác Con từ thập giá. Không có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau của một người mẹ nhìn con mình chịu khổ mà không thể làm gì để cứu. Đức Maria đứng đó, không gào thét tuyệt vọng, không nguyền rủa những kẻ giết Con, không bỏ chạy vì sợ hãi. Tin Mừng chỉ nói một cách ngắn gọn: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người.” Chữ “đứng” ấy nói lên cả một sức mạnh phi thường. Mẹ đứng, dù trái tim đã bị lưỡi gươm đâm thâu; Mẹ đứng, dù mọi hy vọng theo cách nhìn của con người dường như đã sụp đổ; Mẹ đứng, vì Mẹ vẫn tin rằng Thiên Chúa không thất bại, ngay cả khi Người Con của Mẹ đang hấp hối như một tử tội. Tiếng xin vâng tại Nadarét giờ đây đạt đến mức trọn vẹn dưới chân thập giá. Ngày Truyền Tin, Mẹ thưa vâng để Con Thiên Chúa nhập thể; trên Canvê, Mẹ tiếp tục thưa vâng để Người Con ấy trở thành lễ tế cứu chuộc nhân loại. Mẹ Chúa Cứu Thế cũng là người Mẹ hiệp thông sâu xa nhất với công trình cứu thế của Con mình, không phải bằng quyền năng riêng, nhưng bằng sự đau khổ, lòng tin và tình yêu.

Chính trong giờ phút ấy, Chúa Giêsu đã nói với Mẹ: “Thưa Bà, đây là con của Bà”, rồi nói với người môn đệ: “Đây là Mẹ của anh.” Chúa không chỉ lo lắng để Mẹ có người chăm sóc sau khi Người qua đời. Trong giây phút trọng đại khi hoàn tất công trình cứu độ, Chúa trao Đức Maria làm Mẹ của người môn đệ, và nơi người môn đệ ấy là hình ảnh của toàn thể Hội Thánh. Mẹ của Chúa Cứu Thế trở thành Mẹ của những người được cứu thế. Mẹ đón nhận chúng ta không phải lúc mọi sự đang tươi đẹp, nhưng ngay dưới bóng thập giá, nơi nhân loại đã bộc lộ tất cả sự tàn nhẫn, phản bội và tội lỗi của mình. Ta được trao cho Mẹ vào lúc chính tội lỗi của ta đã đóng đinh Con Mẹ. Thế mà Mẹ vẫn nhận ta làm con. Tình mẫu tử của Đức Maria không dựa trên sự xứng đáng của chúng ta, nhưng phát sinh từ tình yêu và ý muốn của Chúa Giêsu. Bởi thế, người tội lỗi không cần sợ chạy đến với Mẹ. Mẹ không dung túng tội lỗi, nhưng Mẹ không bao giờ khinh chê người tội lỗi. Mẹ biết cái giá Con mình đã trả để cứu từng linh hồn. Mẹ sẽ không dễ dàng bỏ cuộc trước sự yếu đuối của ta. Như một người mẹ kiên nhẫn nâng đứa con vừa té ngã, Mẹ nâng ta dậy, lau nước mắt và dẫn ta trở về với Chúa. Mỗi lần ta phạm tội, Mẹ đau; nhưng mỗi lần ta sám hối, trái tim Mẹ vui mừng vì hy lễ của Con Mẹ không trở nên vô ích nơi ta.

Sau khi Chúa Giêsu sống lại và lên trời, Đức Maria hiện diện giữa các Tông đồ trong Nhà Tiệc Ly, cùng cầu nguyện và chờ đợi Chúa Thánh Thần. Mẹ đã sinh Chúa Giêsu theo xác thể, giờ đây Mẹ hiện diện trong ngày Hội Thánh được khai sinh nhờ quyền năng Thánh Thần. Mẹ không đứng trên các Tông đồ để điều khiển, nhưng ở giữa họ như một người mẹ, nâng đỡ đức tin của họ trong những ngày đầy bất an. Các môn đệ từng bỏ trốn, Phêrô từng chối Thầy, tất cả đều đang mang trong mình mặc cảm yếu đuối. Mẹ có thể trách họ đã bỏ Con Mẹ một mình, nhưng Mẹ không làm thế. Mẹ ở lại, cầu nguyện với họ và chờ đợi cùng họ. Đó chính là cách Mẹ đối xử với Hội Thánh suốt dòng lịch sử. Hội Thánh có những lúc thánh thiện, nhưng cũng có những lúc bị thương tích vì lỗi lầm của con người. Đức Maria không rời bỏ Hội Thánh. Mẹ vẫn ở đó, âm thầm cầu nguyện, kêu gọi con cái trở về với Tin Mừng, nhắc Hội Thánh rằng sức mạnh thật sự không đến từ quyền lực, tiền bạc hay ảnh hưởng xã hội, nhưng từ Chúa Thánh Thần và sự trung thành với Đức Kitô.

Danh hiệu “Mẹ Chúa Cứu Thế” trước hết tuyên xưng một sự thật về Chúa Giêsu. Người Con mà Đức Maria sinh ra không phải chỉ là một ngôn sứ, một bậc thầy luân lý hay một vĩ nhân tôn giáo. Người là Con Thiên Chúa thật, đã mang lấy bản tính nhân loại để cứu chuộc chúng ta. Đức Maria là mẹ của Chúa Giêsu theo nhân tính, nhưng vì Chúa Giêsu chỉ là một Ngôi Vị duy nhất, Ngôi Hai Thiên Chúa, nên Hội Thánh tuyên xưng Mẹ là Mẹ Thiên Chúa. Điều này không có nghĩa Mẹ có trước Thiên Chúa hay sinh ra thần tính của Người. Mẹ là thụ tạo, được Thiên Chúa dựng nên và cứu chuộc cách tuyệt hảo. Nhưng Đấng Mẹ cưu mang và sinh hạ thực sự là Thiên Chúa làm người. Nếu phủ nhận Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, người ta cũng sẽ làm tổn thương sự thật về Đức Kitô: rằng Người vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật trong cùng một Ngôi Vị. Vì thế, mọi vinh dự Hội Thánh dành cho Mẹ rốt cuộc đều quy hướng về Chúa Giêsu. Ta tôn kính Mẹ vì những điều kỳ diệu Thiên Chúa đã làm nơi Mẹ; ta yêu Mẹ vì Mẹ đã trao cho ta Chúa Cứu Thế; ta chạy đến với Mẹ vì Mẹ luôn dẫn ta về với Con.

Đức Maria là Mẹ Chúa Cứu Thế, nhưng Mẹ không cứu độ chúng ta thay cho Chúa Giêsu. Chỉ có Đức Kitô là Đấng Cứu Độ duy nhất, chỉ có máu Người đổ ra trên thập giá mới tẩy sạch tội lỗi nhân loại, chỉ có cái chết và sự phục sinh của Người mới mở cửa sự sống đời đời. Vai trò của Mẹ hoàn toàn tùy thuộc vào Chúa Kitô và phục vụ công trình của Người. Mẹ giống như vầng trăng không có ánh sáng riêng, nhưng phản chiếu ánh sáng mặt trời; Mẹ càng được chiếu sáng, người ta càng nhận ra vẻ rực rỡ của Đức Kitô. Mẹ không nói: “Hãy đến với tôi và dừng lại ở tôi”, nhưng nói: “Hãy làm theo lời Người.” Mẹ không chiếm chỗ của Chúa, nhưng mở đường cho Chúa đi vào đời ta. Đến với Mẹ mà không đến với Chúa Giêsu là chưa hiểu Mẹ. Đọc kinh Mân Côi mà không suy niệm cuộc đời Đức Kitô là chưa hiểu kinh Mân Côi. Hành hương đến các trung tâm kính Đức Mẹ mà không trở về với bí tích Hòa Giải, không tham dự Thánh lễ, không thay đổi đời sống thì chuyến đi ấy vẫn còn thiếu điều cốt lõi. Niềm vui lớn nhất của Mẹ không phải là thấy con cái mình ca tụng Mẹ bằng những lời đẹp đẽ, nhưng là thấy họ yêu mến, vâng phục và nên giống Chúa Giêsu hơn.

Mẹ Chúa Cứu Thế cũng là Mẹ của niềm hy vọng. Cuộc đời Mẹ cho ta thấy không một hoàn cảnh nào có thể ngăn cản kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa. Một hang đá nghèo hèn không thể ngăn Chúa Cứu Thế chào đời. Một vua Hêrôđê tàn bạo không thể giết chết lời hứa. Ba mươi năm âm thầm không làm sứ mạng của Chúa trở nên vô nghĩa. Sự phản bội của Giuđa, sự hèn nhát của các môn đệ, bản án bất công của Philatô và cả cái chết trên thập giá cũng không thể đánh bại tình yêu. Đức Maria đã đi qua tất cả những bóng tối ấy mà vẫn tin. Mẹ không biết rõ Thiên Chúa sẽ làm cách nào, nhưng Mẹ tin Người sẽ trung tín. Có những lúc đời ta cũng như một ngày Thứ Bảy Tuần Thánh kéo dài: Chúa như đang im lặng, mọi hy vọng bị chôn trong mồ, lời cầu nguyện không nhận được câu trả lời, tương lai chỉ là một khoảng tối. Hãy ở bên Mẹ trong những lúc ấy. Mẹ đã sống ngày Thứ Bảy của im lặng mà không đánh mất niềm tin vào ngày Chúa Nhật Phục Sinh. Mẹ dạy ta rằng đức tin không chỉ là ca hát khi thấy phép lạ, mà còn là chờ đợi khi hòn đá vẫn chưa lăn khỏi cửa mồ.

Đức Maria còn là Mẹ của lòng thương xót, vì Mẹ là Mẹ của Đấng đã đến không phải để kết án nhưng để cứu độ. Trái tim Mẹ được uốn nên theo trái tim Chúa Giêsu. Mẹ nhìn con người không chỉ thấy tội lỗi của họ, mà còn thấy những vết thương, những khát vọng và khả năng họ có thể được biến đổi nhờ ân sủng. Trong tiệc cưới Cana, Mẹ thấy một gia đình sắp rơi vào cảnh xấu hổ. Dưới chân thập giá, Mẹ đón nhận những môn đệ yếu đuối làm con. Trong Nhà Tiệc Ly, Mẹ cầu nguyện bên cạnh những người từng bỏ rơi Con mình. Vì thế, chạy đến với Mẹ là học cách nhìn người khác bằng lòng xót thương. Ta không thể vừa đọc kinh kính Mẹ vừa dùng lời nói làm tổn thương người khác. Ta không thể tôn vinh Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ mà lại nuôi lòng thù hận. Ta không thể đặt hoa trước tượng Mẹ nhưng bỏ mặc người mẹ nghèo không có sữa cho con, người già neo đơn không ai thăm hỏi, người bệnh không có tiền chữa trị hay một đứa trẻ đang bị bạo hành. Những bó hoa đẹp nhất dâng lên Mẹ chính là những việc bác ái âm thầm; những ngọn nến sáng nhất trước bàn thờ Mẹ là một trái tim biết tha thứ; những lời kinh đẹp nhất là một cuộc đời biết nói xin vâng với Chúa giữa những khó khăn hằng ngày.

Mẹ Chúa Cứu Thế cũng đặc biệt gần gũi với các gia đình. Chúa Giêsu đã chọn sinh ra và lớn lên trong một gia đình, dù gia đình ấy cũng trải qua nghèo khó, lưu lạc, lo âu và những lúc không hiểu nhau. Gia đình Nadarét không bình an vì không có thử thách, nhưng vì giữa thử thách, mỗi người đều đặt Thiên Chúa ở trung tâm. Đức Maria không phải lúc nào cũng hiểu hết Chúa Giêsu, nhưng Mẹ “ghi nhớ mọi điều ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng”. Đó là một thái độ cần thiết cho các gia đình hôm nay. Nhiều gia đình tan vỡ không hẳn vì gặp quá nhiều khó khăn, mà vì mọi người không còn đủ kiên nhẫn để lắng nghe, không còn đủ khiêm tốn để suy nghĩ, không còn đủ yêu thương để chờ người kia thay đổi. Khi không hiểu con cái, cha mẹ vội kết luận; khi không hiểu nhau, vợ chồng vội trách móc; khi xảy ra xung đột, người ta muốn thắng hơn là muốn giữ nhau. Đức Maria dạy ta biết giữ những điều chưa hiểu trong lòng cầu nguyện, thay vì biến chúng thành lời gây tổn thương. Mẹ dạy người cha, người mẹ biết chăm sóc con cái nhưng không sở hữu chúng; biết giáo dục nhưng không áp đặt; biết hy sinh nhưng không kể công; biết đau nhưng không dùng nỗi đau để thao túng người khác. Mẹ dạy con cái biết vâng phục, biết trân trọng mái nhà, biết nhìn thấy những hy sinh mà cha mẹ không bao giờ nói ra.

Đối với những người đang đau khổ, danh hiệu Mẹ Chúa Cứu Thế là một nguồn an ủi lớn lao. Mẹ đã sinh ra Đấng cứu con người không bằng cách loại bỏ mọi đau khổ ngay tức khắc, nhưng bằng cách bước vào đau khổ, mang lấy nó và biến nó thành con đường dẫn đến sự sống. Vì thế, khi đến với Mẹ, ta không nên chỉ xin Mẹ cất hết thập giá, nhưng còn xin Mẹ giúp mình biết vác thập giá cùng Chúa Giêsu. Có những bệnh tật không được chữa lành như ta mong, có những mất mát không thể lấy lại, có những vết thương phải cần rất nhiều thời gian mới nguôi ngoai. Đức Maria không hứa rằng người yêu mến Mẹ sẽ không khóc. Chính Mẹ đã khóc. Nhưng Mẹ cho ta thấy nước mắt không phải là dấu chấm hết. Khi được kết hợp với thập giá Chúa Kitô, nước mắt có thể trở thành lời cầu nguyện; đau khổ có thể thanh luyện tình yêu; những đổ vỡ có thể mở lòng ta ra với nỗi đau của người khác. Mẹ không đứng xa nhìn ta đau, Mẹ đứng bên cạnh như đã đứng dưới chân thập giá. Có thể Mẹ không giải thích tại sao điều này xảy ra, nhưng sự hiện diện của Mẹ nói với ta rằng ta không cô đơn.

Đối với người tội lỗi, Đức Maria là người Mẹ không mỏi mệt gọi con trở về. Mẹ biết tội lỗi đáng sợ thế nào, vì Mẹ đã chứng kiến tội lỗi đóng đinh Con mình trên thập giá. Mẹ không xem nhẹ tội, cũng không bao che cho sự dữ. Nhưng chính vì biết giá trị của máu Chúa Giêsu, Mẹ không muốn một linh hồn nào tuyệt vọng. Ma quỷ có hai cách để giữ con người xa Chúa: trước khi phạm tội, nó làm cho ta nghĩ tội chẳng nghiêm trọng; sau khi phạm tội, nó lại làm cho ta nghĩ tội mình quá lớn đến mức không thể được tha. Đức Maria giúp ta tránh cả hai thái cực. Mẹ nhắc ta rằng tội lỗi thực sự làm tổn thương trái tim Chúa và phá hủy đời ta, nhưng lòng thương xót của Chúa còn lớn hơn mọi tội lỗi nếu ta thành tâm sám hối. Chạy đến với Mẹ không phải để trốn tránh sự thật về mình, mà để có can đảm đứng dậy, đi xưng tội, sửa chữa sai lầm và bắt đầu lại. Mẹ không muốn những đứa con cứ nằm mãi trong bùn lầy, vừa khóc vừa nói mình không thể thay đổi. Mẹ nắm tay kéo ta dậy và nói: “Hãy đến với Con của Mẹ. Người đang chờ con.”

Đối với những người phục vụ trong Hội Thánh, Đức Maria là mẫu gương của một sự phục vụ không tìm mình. Mẹ được gọi là Đấng đầy ân sủng, là Mẹ của Đấng Mêsia, nhưng Mẹ tự nhận mình chỉ là “nữ tỳ của Chúa”. Mẹ càng được Thiên Chúa nâng cao, Mẹ càng hạ mình. Mẹ không biến ân huệ thành đặc quyền, nhưng thành trách nhiệm phục vụ. Đây là điều rất đáng suy nghĩ cho những ai đang giữ vai trò lãnh đạo, đang làm việc tông đồ, đang có ảnh hưởng trong cộng đoàn. Có khi người ta bắt đầu phục vụ vì yêu Chúa, nhưng dần dần lại tìm kiếm sự công nhận, buồn khi không được nhắc tên, khó chịu khi người khác được khen, muốn ý mình luôn được thực hiện. Đức Maria thì âm thầm lùi lại để Chúa Giêsu được lớn lên. Mẹ không cần đứng giữa sân khấu, vì chỉ cần Chúa được nhận biết là đủ. Người phục vụ theo tinh thần Đức Maria sẽ không hỏi: “Tôi được gì?”, nhưng hỏi: “Chúa muốn gì?”; không tìm cách làm cho người khác lệ thuộc vào mình, nhưng dẫn họ đến sự trưởng thành trong Đức Kitô; không dùng việc đạo đức để xây dựng hình ảnh cá nhân, nhưng sẵn sàng làm những việc nhỏ bé mà không ai thấy.

Mừng kính Đức Maria, Mẹ Chúa Cứu Thế, cũng là dịp để mỗi người tự hỏi: Tôi đã thực sự đón nhận Chúa Cứu Thế vào đời mình chưa? Chúa Giêsu có thể đã đến trong trần gian hơn hai ngàn năm, nhưng nếu lòng ta vẫn đóng kín thì Bêlem vẫn lặp lại cảnh “không có chỗ trong quán trọ”. Ta có thể đặt hang đá rất đẹp, đọc kinh rất nhiều, tổ chức lễ nghi thật long trọng, nhưng lại không có chỗ cho Chúa trong các quyết định, trong công việc, trong cách sử dụng tiền bạc, trong những mối quan hệ và trong những vùng tối của tâm hồn. Đức Maria đã mở cung lòng cho Chúa, còn ta có dám mở những cánh cửa mình đang khóa chặt không? Có thể đó là cánh cửa của một mối hận đã giữ nhiều năm, một thói quen tội lỗi ta không muốn bỏ, một sự gian dối đem lại lợi ích, một lòng kiêu ngạo khiến ta không thể xin lỗi, hay một sự ích kỷ khiến ta chỉ biết nghĩ cho bản thân. Mẹ Chúa Cứu Thế không chỉ mời ta ngắm nhìn Hài Nhi trên tay Mẹ, nhưng mời ta để Người bước vào và cứu lấy những nơi đang chết trong lòng mình.

Đón nhận Chúa Cứu Thế cũng có nghĩa là để Người cứu ta theo cách của Người, chứ không phải theo những gì ta tưởng. Người Do Thái xưa mong một Đấng Mêsia quyền lực đánh bại kẻ thù, nhưng Chúa Giêsu đến trong yếu đuối và cứu độ bằng thập giá. Ta cũng thường muốn Chúa cứu mình bằng cách làm cho mọi vấn đề biến mất, khiến mọi người phải thay đổi theo ý ta, cho ta thành công, sức khỏe và bình an ngay lập tức. Nhưng đôi khi Chúa cứu ta bằng cách thay đổi chính trái tim ta; không cất người khó chịu khỏi đời ta, nhưng dạy ta kiên nhẫn; không loại bỏ ngay đau khổ, nhưng giúp ta trưởng thành trong đau khổ; không cho ta điều mình muốn, vì Người biết điều ấy có thể làm ta xa Người. Đức Maria đã để Chúa thực hiện kế hoạch cứu độ theo cách của Chúa, dù cách ấy nhiều lần làm Mẹ đau đớn. Mẹ dạy ta tín thác rằng đường lối Thiên Chúa tuy khó hiểu nhưng luôn dẫn đến sự sống.

“Đức Mẹ là Mẹ Chúa Cứu Thế” không phải là một ý tưởng chỉ để suy niệm trong những ngày lễ kính Mẹ. Đó phải là một sự thật soi sáng đời sống hằng ngày. Mỗi sáng thức dậy, ta có thể xin Mẹ giúp mình mang Chúa đến cho người khác bằng một lời nói hiền hòa, một việc làm chân thành, một sự nhẫn nại. Mỗi khi đứng trước một quyết định khó khăn, ta có thể cùng Mẹ thưa: “Xin Chúa cứ làm cho con như lời Ngài.” Mỗi khi gia đình thiếu “rượu” của niềm vui, sự cảm thông và lòng chung thủy, ta có thể nhờ Mẹ trình bày sự thiếu thốn ấy với Chúa Giêsu, đồng thời sẵn sàng làm theo lời Người. Mỗi khi đứng trước thập giá, ta có thể xin Mẹ giúp mình đứng vững. Mỗi khi phạm tội, ta có thể nắm tay Mẹ trở về với bí tích Hòa Giải. Mỗi khi cảm thấy cô đơn, ta nhớ lời Chúa: “Đây là Mẹ của con.” Ta không phải là đứa trẻ mồ côi trên hành trình đức tin.

Thế giới hôm nay cần Đức Maria không phải để con người trốn chạy khỏi thực tế, nhưng để học lại cách sống như Mẹ. Một thế giới đầy tiếng ồn cần sự thinh lặng biết lắng nghe của Mẹ. Một xã hội đề cao cái tôi cần tiếng xin vâng khiêm tốn của Mẹ. Những gia đình đang rạn nứt cần sự trung thành của Mẹ. Những người trẻ hoang mang cần lòng can đảm dám trao tương lai cho Thiên Chúa. Những người già cô đơn cần vòng tay mẫu tử của Mẹ. Những người đang sống trong chiến tranh cần Mẹ của Hoàng Tử Bình An. Những người tội lỗi cần Mẹ của lòng thương xót. Hội Thánh đang gặp thử thách cần Mẹ đứng giữa Nhà Tiệc Ly, cầu xin một lễ Hiện Xuống mới. Nhân loại tưởng mình có thể tự cứu bằng khoa học, tiền bạc, quyền lực và kỹ thuật, nhưng càng tiến bộ, con người đôi khi càng thấy trống rỗng. Đức Maria chỉ cho nhân loại thấy Đấng Cứu Thế không phải là một hệ thống, một ý thức hệ hay một thành tựu, nhưng là một Con Người: Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa và Con của Mẹ.

Lạy Đức Maria, Mẹ Chúa Cứu Thế, Mẹ đã thưa vâng để Ngôi Lời nhập thể, xin dạy chúng con biết thưa vâng với Thiên Chúa trong những điều dễ chịu cũng như trong những điều trái ý. Mẹ đã mang Chúa đến nhà bà Êlisabét, xin giúp chúng con đừng giữ đức tin cho riêng mình, nhưng biết mang niềm vui, lòng thương xót và sự phục vụ đến cho tha nhân. Mẹ đã sinh Chúa trong cảnh nghèo hèn, xin dạy chúng con nhận ra Người nơi những người bé nhỏ, nghèo khổ và bị bỏ quên. Mẹ đã bồng Con trốn sang Ai Cập, xin đồng hành với những gia đình đang tha hương, những người phải chạy trốn bạo lực và những ai không còn nơi nương tựa. Mẹ đã sống âm thầm tại Nadarét, xin thánh hóa những bổn phận bình thường của chúng con, để từng việc nhỏ được làm bằng tình yêu đều trở thành của lễ đẹp lòng Chúa. Mẹ đã nhận ra sự thiếu thốn tại Cana, xin nhìn đến những gia đình đang hết rượu yêu thương, hết rượu chung thủy, hết rượu bình an và hết cả hy vọng. Xin nói với Chúa Giêsu về họ, đồng thời dạy họ biết làm theo lời Người.

Lạy Mẹ đứng dưới chân thập giá, xin ở bên những người đang chịu đau đớn trong thân xác và tâm hồn. Xin đỡ nâng những người mẹ đang khóc vì con, những người vợ mất chồng, những người con mất cha mẹ, những người bệnh đang chiến đấu với sự sống từng ngày. Xin giúp họ không tuyệt vọng, nhưng biết kết hợp nước mắt của mình với hy lễ cứu độ của Chúa Giêsu. Lạy Mẹ của những người tội lỗi, xin đừng để chúng con ngủ yên trong tội, cũng đừng để chúng con tuyệt vọng vì tội lỗi của mình. Xin dẫn chúng con đến với lòng thương xót của Con Mẹ, giúp chúng con can đảm thú nhận sai lầm, sửa đổi đời sống và bắt đầu lại. Lạy Mẹ của Hội Thánh, xin cầu cho các mục tử được khiêm tốn, thánh thiện và nhiệt thành; cầu cho những người sống đời thánh hiến trung thành với lời khấn; cầu cho các gia đình biết đặt Chúa ở trung tâm; cầu cho người trẻ biết dùng tự do để chọn điều tốt; cầu cho trẻ em được bảo vệ; cầu cho người già được yêu thương; cầu cho thế giới biết từ bỏ bạo lực và tìm lại con đường hòa bình.

Lạy Đức Maria, Mẹ Chúa Cứu Thế, điều đẹp nhất nơi Mẹ không phải là Mẹ giữ Chúa cho riêng mình, nhưng là Mẹ đã trao Người cho chúng con. Tại Bêlem, Mẹ trao Chúa cho những mục đồng nghèo khó; tại Đền Thờ, Mẹ trao Chúa cho ông Simêon và bà Anna; tại Cana, Mẹ trao Chúa cho một gia đình đang gặp khốn khó; trên Canvê, Mẹ trao Chúa cho cả nhân loại. Mẹ đã không giữ lại gì cho riêng mình. Xin dạy chúng con cũng biết trao Chúa cho đời bằng chính cách sống của chúng con. Xin cho người khác gặp được Chúa qua sự tử tế của chúng con, nghe được tiếng Chúa qua lời nói chân thành của chúng con, cảm nhận được lòng Chúa qua sự tha thứ của chúng con và nhìn thấy ánh sáng Chúa qua một đời sống công chính. Xin đừng để chúng con chỉ mang danh là con của Mẹ nhưng lại sống xa lạ với Con Mẹ. Xin cho chúng con biết yêu điều Chúa yêu, chọn điều Chúa chọn và đi con đường Chúa đã đi.

Cuối cùng, khi hành trình trần thế của chúng con đi đến những bước cuối, khi sức lực cạn dần, khi mọi thứ từng làm chúng con tự hào không còn ý nghĩa, xin Mẹ ở bên chúng con. Như Mẹ đã ôm Chúa Giêsu lúc Người vừa chào đời, xin ôm lấy chúng con trong giờ lâm tử. Như Mẹ đã đứng bên thập giá của Con, xin đứng bên giường hấp hối của chúng con. Khi ma quỷ nhắc lại những tội lỗi để làm chúng con tuyệt vọng, xin Mẹ nhắc chúng con nhớ đến máu cứu độ của Chúa Giêsu. Khi chúng con sợ hãi trước cánh cửa sự chết, xin Mẹ nắm tay và dẫn chúng con đến gặp Đấng mà Mẹ đã cưu mang, sinh hạ và trao ban cho thế giới. Xin cho lời cuối cùng của đời chúng con cũng là một lời xin vâng: xin vâng với tình yêu, xin vâng với lòng thương xót, xin vâng với cuộc trở về nhà Cha.

Đức Maria là Mẹ Chúa Cứu Thế, bởi Mẹ đã sinh cho thế giới Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Mẹ là Mẹ của niềm hy vọng, bởi giữa những đêm tối nhất, Mẹ vẫn tin vào lời Thiên Chúa. Mẹ là Mẹ của lòng thương xót, bởi Mẹ không ngừng dẫn người tội lỗi đến với trái tim bị đâm thâu của Con mình. Mẹ là Mẹ của Hội Thánh, bởi Mẹ tiếp tục cưu mang các môn đệ của Chúa trong lời cầu nguyện. Mẹ cũng là Mẹ của mỗi chúng ta, không phải theo một tình cảm mơ hồ, nhưng theo lời trối thiêng liêng của Chúa Giêsu trên thập giá. Hãy đến với Mẹ, nhưng đừng dừng lại ở Mẹ; hãy để Mẹ nắm tay và dẫn ta đến với Chúa Giêsu. Bởi đó là sứ mạng, là niềm vui và là khát vọng sâu xa nhất của trái tim Mẹ: làm cho Con Mẹ được sinh ra trong tâm hồn mỗi người, được nhận biết trong mọi gia đình và được yêu mến cho đến tận cùng trái đất. Và khi Chúa Giêsu thực sự sống trong ta, ta sẽ hiểu rằng ơn cứu độ không còn là một điều xa xôi, nhưng đã bước vào căn nhà của mình, đã chạm đến những vết thương của mình và đang biến đổi toàn bộ cuộc đời mình.

 

KHÚC CA KHẢI HOÀN CỦA TÌNH YÊU NHẬP THỂ

Mỗi khi Mùa Giáng Sinh trở về, giữa tiếng chuông ngân vang trong đêm thánh, giữa ánh sao lấp lánh trên những hang đá đơn sơ, giữa những bài thánh ca quen thuộc được cất lên từ các mái nhà thờ, lòng người Kitô hữu lại được mời gọi trở về với một mầu nhiệm vừa gần gũi, vừa cao cả, vừa đơn sơ, vừa sâu thẳm đến mức trí khôn con người không bao giờ có thể hiểu cho cạn: đó là mầu nhiệm Thiên Chúa làm người. Đấng dựng nên trời đất, Đấng mà các tầng trời không thể chứa nổi, Đấng mà các thiên thần phải phủ phục tôn thờ, lại tự nguyện trở nên một hài nhi bé nhỏ, yếu đuối, cần được một người mẹ cưu mang, sinh hạ, ấp ủ và chở che. Ngài không đến trong tiếng sấm chớp làm rung chuyển địa cầu, không ngự xuống trong ánh hào quang khiến muôn dân kinh hãi, không xuất hiện giữa cung vàng điện ngọc, nhưng âm thầm đi vào lịch sử nhân loại qua cung lòng của một thiếu nữ nghèo thành Nadarét. Chính nơi cung lòng khiêm hạ ấy, tình yêu đời đời của Thiên Chúa đã mang lấy một trái tim bằng thịt, Lời hằng sống đã mang lấy một tiếng khóc trẻ thơ, Đấng vô hình đã trở nên hữu hình, Đấng vô biên đã chấp nhận được ôm ấp trong vòng tay nhỏ bé của một người mẹ. Nhìn lại toàn bộ bức tranh của mầu nhiệm cứu độ, chúng ta không thể không kinh ngạc trước sự kỳ diệu của tình yêu Thiên Chúa và trước vai trò độc nhất vô nhị của Đức Trinh Nữ Maria. Mẹ không phải là một nhân vật đứng bên lề chương trình cứu độ, cũng không chỉ là một người phụ nữ được tình cờ chọn lựa để hoàn thành một nhiệm vụ nhất thời. Mẹ được Thiên Chúa chuẩn bị, gìn giữ và mời gọi bước vào trung tâm của mầu nhiệm Nhập Thể. Mẹ là người đã trao cho Con Thiên Chúa chính máu thịt của mình, là người đã để nhịp tim mình trở thành nhịp ru đầu tiên cho trái tim nhân loại của Đấng Cứu Thế. Có thể nói rằng Đức Maria chính là chiếc nôi đầu tiên của Ngôi Lời nhập thể, một chiếc nôi không được làm bằng vàng bạc, không được trang trí bằng nhung gấm, nhưng được dệt nên từ đức tin, sự khiêm nhường, lòng thanh khiết và một tiếng “Xin Vâng” trọn vẹn. Đó là chiếc nôi bằng xương thịt, ấm áp và sống động; chiếc nôi thánh thiện nhất, đẹp đẽ nhất và dịu dàng nhất mà lịch sử nhân loại từng có, bởi trong chiếc nôi ấy, Đấng Cứu Độ đã bắt đầu nhịp sống trần gian của Ngài.

Trước khi nằm trong máng cỏ Bêlem, Chúa Giêsu đã nằm trong cung lòng Mẹ Maria suốt những tháng ngày âm thầm. Trước khi đôi mắt người đời được nhìn thấy khuôn mặt Hài Nhi, Mẹ đã cảm nhận từng chuyển động nhỏ bé của Con trong chính thân thể mình. Trước khi nhân loại nghe tiếng khóc đầu đời của Đấng Cứu Thế, Mẹ đã lắng nghe sự hiện diện thinh lặng của Con bằng tất cả trái tim. Không ai gần Chúa Giêsu như Mẹ trong những ngày đầu tiên ấy. Không ai hiểu bằng Mẹ rằng Đấng đang lớn lên trong cung lòng mình không chỉ là con của một người mẹ trần gian, mà còn là Con Đấng Tối Cao, là Đấng thánh, là Đấng sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi. Tuy nhiên, sự hiểu biết ấy không làm Mẹ tự mãn, không khiến Mẹ đòi hỏi đặc quyền, không làm Mẹ tìm kiếm một chỗ đứng cao sang. Trái lại, Mẹ càng lặng thinh, càng khiêm nhường, càng phó thác. Mẹ mang trong mình Đấng mà cả vũ trụ mong chờ, nhưng vẫn âm thầm phục vụ bà Êlisabét. Mẹ đang cưu mang Vua trời đất, nhưng vẫn bước đi trên những con đường bụi bặm như một người phụ nữ nghèo. Mẹ biết mình được Thiên Chúa đoái thương, nhưng lời ngợi ca của Mẹ không hướng về bản thân, mà hoàn toàn quy về Đấng đã làm cho Mẹ những điều cao cả. Cung lòng Mẹ vì thế không chỉ là nơi Thiên Chúa cư ngụ về thể lý, mà còn là đền thờ của đức tin, là không gian của sự vâng phục, là trường học đầu tiên của tình yêu tự hiến. Trong cung lòng ấy, Con Thiên Chúa nhận lấy nhân tính từ Mẹ; còn nơi tâm hồn Mẹ, nhân loại học được cách đón nhận Thiên Chúa bằng sự tín thác hoàn toàn.

Từ chiếc nôi bằng xương thịt trong cung lòng Đức Trinh Nữ, Con Thiên Chúa bước sang chiếc nôi bằng gỗ thô sơ nơi hang đá Bêlem. Đêm ấy, thành phố vẫn đông người, nhưng không ai biết rằng Đấng mà nhân loại chờ mong đang đến. Quán trọ đầy chỗ, cửa nhà đóng kín, người người mải lo toan chuyện riêng, còn Maria và Giuse lặng lẽ tìm một nơi trú ngụ. Thật đau lòng khi nghĩ rằng Đấng dựng nên thế gian lại không có một chỗ trong thế gian để chào đời. Đấng ban cho chim trời có tổ, cáo có hang, lại không tìm được một mái nhà xứng đáng để sinh ra. Sau cùng, một hang súc vật trở thành cung điện, máng cỏ trở thành ngai báu, rơm khô trở thành nệm êm, và vòng tay của Mẹ trở thành mái ấm duy nhất của Hài Nhi trong đêm giá lạnh. Ở đó không có tiếng nhạc của triều đình, không có những đoàn quân danh dự, không có các bậc quyền quý chờ đón. Chỉ có Đức Maria, thánh Giuse, vài người chăn chiên nghèo khó, tiếng súc vật thở trong đêm và ánh sao âm thầm soi chiếu. Nhưng chính trong sự nghèo hèn ấy, vinh quang Thiên Chúa lại bừng lên cách lạ lùng nhất. Thiên Chúa không làm cho con người khiếp sợ bằng quyền năng, nhưng chinh phục trái tim bằng sự bé nhỏ. Ngài không đứng trên cao để bắt con người cúi xuống, nhưng nằm thật thấp để con người có thể đến gần. Ngài không dang tay để phán xét, nhưng mở đôi tay trẻ thơ như muốn ôm lấy cả nhân loại. Máng cỏ Bêlem vì thế không chỉ là một kỷ niệm đẹp của đêm Giáng Sinh, mà là một mặc khải về dung mạo thật của Thiên Chúa. Thiên Chúa của chúng ta là Đấng tự hạ. Ngài yêu đến mức chấp nhận trở nên nghèo. Ngài muốn cứu con người không phải từ bên ngoài, nhưng từ bên trong thân phận con người. Ngài đi vào cái lạnh của chúng ta, cái đói của chúng ta, sự yếu đuối của chúng ta, những giọt nước mắt của chúng ta và cả sự mong manh của kiếp người, để không còn một nỗi đau nào của con người mà Ngài không hiểu, không còn một vực sâu nào mà tình yêu Ngài không thể chạm tới.

Trong khung cảnh Bêlem ấy, Đức Maria hiện diện như người đầu tiên thờ lạy mầu nhiệm mà Mẹ vừa sinh hạ. Mẹ không chỉ bọc Con trong khăn, đặt Con nằm trong máng cỏ, nhưng còn ôm lấy Con bằng cả đức tin của mình. Biết bao điều Mẹ chưa hiểu hết, biết bao câu hỏi có thể đã dâng lên trong lòng Mẹ. Tại sao Con Đấng Tối Cao lại sinh ra trong cảnh nghèo nàn như thế? Tại sao Đấng được thiên thần loan báo là Vua lại không có một mái nhà? Tại sao lời hứa cao cả của Thiên Chúa lại được thực hiện trong một hoàn cảnh khiêm hạ đến đau lòng? Mẹ không được trao cho mọi câu trả lời, nhưng Mẹ biết Đấng đã gọi Mẹ là Đấng trung tín. Vì thế, Mẹ ghi nhớ mọi sự và suy đi nghĩ lại trong lòng. Đó là cách Mẹ sống đức tin: không phải hiểu rồi mới tin, nhưng tin để từng bước hiểu; không phải đòi Thiên Chúa giải thích mọi điều, nhưng để cho Thiên Chúa dẫn mình đi qua những điều chưa thể hiểu. Bên máng cỏ, Mẹ dạy chúng ta rằng đức tin đích thực không làm biến mất bóng tối, nhưng cho ta một bàn tay để nắm lấy giữa bóng tối. Đức tin không bảo đảm rằng cuộc đời sẽ luôn dễ dàng, nhưng giúp ta nhận ra Thiên Chúa vẫn đang hiện diện trong những gì nghèo nàn, nhỏ bé và không như ta mong đợi. Có những lúc chúng ta cũng đứng trước những máng cỏ trống trải của đời mình, trước những dự định không thành, những mất mát, hiểu lầm, bệnh tật, cô đơn và thất bại. Ta hỏi Thiên Chúa tại sao. Ta chờ một dấu chỉ lớn lao, nhưng Ngài lại đến trong sự âm thầm. Ta mong một phép lạ làm thay đổi hoàn cảnh, nhưng Ngài lại trao cho ta sức mạnh để đi qua hoàn cảnh. Ta muốn một cung điện, nhưng Ngài chỉ cho ta một máng cỏ. Chính lúc ấy, Mẹ Maria mời chúng ta hãy ở lại, hãy nhìn thật lâu, hãy tin rằng trong nơi tưởng như nghèo nhất, Thiên Chúa vẫn có thể khởi đầu một công trình cứu độ lớn lao.

Thế nhưng hành trình của tình yêu nhập thể không dừng lại ở Bêlem. Máng cỏ chỉ là khởi đầu của một con đường đi đến tận cùng. Chiếc nôi bằng gỗ nơi hang đá sẽ dẫn đến một chiếc nôi bằng gỗ khác trên đồi Golgotha. Từ những thanh gỗ thô ráp nâng đỡ thân thể bé nhỏ của Hài Nhi, Con Thiên Chúa sẽ bước đến những thanh gỗ Thập giá nâng thân thể đầy thương tích của Đấng Cứu Chuộc. Từ đôi tay Mẹ quấn Con trong khăn, sẽ đến ngày đôi tay ấy đón lấy thân xác Con được tháo xuống khỏi Thập giá và bọc trong khăn liệm. Từ tiếng khóc trẻ thơ trong đêm Bêlem, sẽ đến tiếng kêu đau đớn trên đồi Sọ. Từ máng cỏ nghèo hèn, tình yêu sẽ đi đến bàn thờ hiến tế. Đây chính là đường lối của Thiên Chúa: yêu là trao ban, và trao ban đến tận cùng. Ngài không chỉ đến thăm nhân loại trong một đêm đông rồi trở về trời. Ngài ở lại, lớn lên, sống giữa con người, chia sẻ niềm vui và nỗi buồn của con người, chữa lành người bệnh, tha thứ cho người tội lỗi, nâng đỡ kẻ bị ruồng bỏ, chạm đến người phong cùi, khóc bên mồ người bạn, rồi cuối cùng trao chính mạng sống mình. Thập giá không phải là thất bại của Giáng Sinh, nhưng là sự hoàn tất của Giáng Sinh. Đấng đã tự hạ làm một trẻ thơ cũng chính là Đấng tự hạ cho đến chết. Tình yêu bắt đầu bằng việc Thiên Chúa trao Con mình trong hang đá và đạt tới đỉnh cao khi Người Con ấy trao chính mình trên Thập giá. Vì thế, khi quỳ trước Hài Nhi Giêsu, chúng ta không thể chỉ dừng lại ở một cảm xúc dịu dàng. Đôi tay nhỏ bé kia một ngày sẽ bị đóng đinh. Đôi chân bé nhỏ kia một ngày sẽ bước lên đồi Calvê. Trái tim đang đập bình yên trong vòng tay Mẹ một ngày sẽ bị lưỡi đòng đâm thâu. Nhưng chính nhờ những thương tích ấy, nhân loại được chữa lành; chính nhờ cái chết ấy, sự chết bị đánh bại; chính nhờ Thập giá ấy, cánh cửa sự sống đời đời được mở ra.

Và trên suốt con đường từ Bêlem đến Golgotha, Đức Maria vẫn hiện diện. Mẹ hiện diện trong những tháng ngày ẩn dật tại Nadarét, khi âm thầm chăm sóc Con lớn lên. Mẹ hiện diện tại Cana, khi nhạy bén nhận ra nỗi khó khăn của đôi tân hôn và thưa với Con: “Họ hết rượu rồi.” Mẹ hiện diện giữa đám đông, lắng nghe lời Con và sống lời ấy trước hết. Mẹ hiện diện trên đường Thập giá, khi người đời bỏ chạy, môn đệ sợ hãi, đám đông chế giễu. Mẹ hiện diện dưới chân Thập giá, không thể làm gì để cất đi nỗi đau của Con, nhưng không bao giờ để Con phải đau một mình. Sự hiện diện của Mẹ là sự hiện diện của một tình yêu trung thành đến tận cùng. Mẹ không trung thành với Thiên Chúa chỉ trong ngày Truyền Tin đầy ánh sáng, nhưng cả trong đêm tối của đồi Sọ. Mẹ không chỉ thưa “Xin Vâng” khi thiên thần loan báo một lời hứa vinh quang, nhưng tiếp tục thưa “Xin Vâng” khi lời tiên báo của cụ Simêon ứng nghiệm và một lưỡi gươm xuyên thấu tâm hồn Mẹ. Tiếng “Xin Vâng” của Mẹ không phải là một lời nói thoáng qua trong phút xúc động, mà là một thái độ sống kéo dài suốt đời. Đó là lời xin vâng trong niềm vui và trong nước mắt, trong lúc hiểu và khi không hiểu, trong ngày được chúc tụng và khi bị hiểu lầm, trong khoảnh khắc ôm Con mới sinh và trong giờ ôm xác Con đã chết. Chính sự trung thành ấy làm cho Mẹ trở thành người môn đệ hoàn hảo, người cộng tác trung tín trong chương trình cứu độ và là Mẹ của mọi kẻ tin.

Dưới chân Thập giá, Đức Maria lại trở thành một chiếc nôi. Không còn là chiếc nôi cưu mang thân thể Hài Nhi, nhưng là chiếc nôi đón nhận một nhân loại mới được sinh ra từ cạnh sườn bị đâm thâu của Đức Kitô. Khi Chúa Giêsu nói với Mẹ: “Thưa Bà, đây là con của Bà”, và nói với người môn đệ: “Đây là Mẹ của anh”, Ngài trao cho Mẹ một sứ mạng mới. Từ đây, Mẹ không chỉ là Mẹ của Đức Giêsu theo huyết nhục, mà còn là Mẹ của những người thuộc về Đức Giêsu trong đức tin. Từ đỉnh đồi Golgotha, tình mẫu tử của Mẹ được mở rộng đến toàn thể Hội Thánh. Trong giờ phút đau thương nhất, Mẹ nhận lấy chúng ta làm con. Mẹ nhận lấy một nhân loại yếu đuối, tội lỗi, bội bạc, nhưng đã được Con Mẹ yêu đến chết. Mẹ lại ôm lấy chúng ta bằng chính trái tim từng ôm Chúa Giêsu. Mẹ dẫn chúng ta trở về với Con, dạy chúng ta đứng vững dưới chân Thập giá, dạy chúng ta đừng bỏ cuộc khi đức tin bị thử thách, dạy chúng ta tin rằng sau ngày thứ Sáu đau thương sẽ là bình minh Phục Sinh. Chính nơi tưởng như tình yêu bị đánh bại, khúc ca khải hoàn lại bắt đầu vang lên. Thập giá, vốn là dụng cụ của nhục hình, trở thành ngai tòa của Vua Tình Yêu. Ngôi mộ, vốn là dấu chấm hết của đời người, trở thành cánh cửa mở vào sự sống mới. Nước mắt của Mẹ dưới chân Thập giá không rơi vào tuyệt vọng, nhưng được gìn giữ trong niềm hy vọng âm thầm vào lời hứa của Thiên Chúa. Và khi Chúa sống lại, tất cả những gì Mẹ đã tin trong bóng tối được bừng sáng. Tình yêu nhập thể đã chiến thắng. Sự sống mạnh hơn sự chết. Ánh sáng mạnh hơn bóng tối. Lòng thương xót mạnh hơn tội lỗi. Tiếng “Xin Vâng” của một thiếu nữ Nadarét đã hòa vào lời “Xin Vâng” của Người Con trong vườn Cây Dầu, để mở ra cho nhân loại một trời mới đất mới.

Nhìn từ Bêlem đến Golgotha, từ hang đá đến ngôi mộ trống, chúng ta nhận ra rằng toàn bộ cuộc đời Đức Giêsu là một khúc ca tình yêu. Không phải một thứ tình yêu đẹp trong lời nói nhưng xa lạ với đau khổ, mà là tình yêu đi vào tận cùng thân phận con người. Một tình yêu biết khóc, biết đói, biết mệt, biết bị phản bội, biết bị hiểu lầm, biết mang lấy những vết thương. Một tình yêu không quay lưng trước sự vô ơn, không rút lại lời trao ban khi con người chối từ, không ngừng yêu ngay cả khi bị đóng đinh. Và Đức Maria là người đã đứng rất gần khúc ca ấy. Mẹ nghe nhịp mở đầu trong ngày Truyền Tin, nâng niu giai điệu dịu dàng trong đêm Giáng Sinh, lặng lẽ theo từng cung bậc trong cuộc đời công khai của Con, rồi đứng dưới Thập giá khi bản tình ca đạt đến nốt cao đau đớn nhất. Mẹ không sáng tác nên chương trình cứu độ, nhưng Mẹ đã để đời mình trở thành một nốt nhạc hoàn toàn hòa hợp với ý muốn của Thiên Chúa. Mẹ không thay thế Đấng Cứu Thế, nhưng Mẹ trao Đấng Cứu Thế cho thế gian. Mẹ không giữ Chúa Giêsu cho riêng mình, nhưng để Con thuộc về mọi người. Mẹ không kéo người ta dừng lại ở Mẹ, nhưng luôn dẫn người ta đến với Con và nói: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Vẻ đẹp của Mẹ không nằm ở chỗ chiếm lấy vị trí của Thiên Chúa, mà ở chỗ làm cho Thiên Chúa được nhận biết, được yêu mến và được đón nhận.

Mùa Giáng Sinh lại về, chuông nhà thờ lại ngân vang giữa đêm lạnh. Những hang đá được dựng lên, những cây thông được thắp sáng, những bài thánh ca làm lòng người rộn ràng. Thế nhưng điều quan trọng nhất không phải là chúng ta đã trang trí hang đá đẹp đến đâu, đã chuẩn bị quà tặng nhiều thế nào, đã tham dự bao nhiêu buổi lễ, nhưng là trong lòng chúng ta có thật sự còn một chỗ cho Chúa hay không. Bêlem ngày xưa không thiếu nhà, nhưng thiếu một cánh cửa mở ra cho Đấng Cứu Thế. Con người ngày nay có thể cũng không thiếu tiện nghi, không thiếu kiến thức, không thiếu những phương tiện giải trí, nhưng lại thiếu một khoảng lặng cho Thiên Chúa. Nhà chúng ta có thể sáng đèn, nhưng tâm hồn vẫn tối. Bàn tiệc có thể đầy thức ăn, nhưng trái tim vẫn đói tình yêu. Môi miệng có thể hát những bài ca Giáng Sinh, nhưng trong lòng vẫn chất chứa giận hờn, chia rẽ, ích kỷ và lạnh lùng. Chúa Giêsu không chỉ muốn được đặt trong một máng cỏ bằng tượng gỗ. Ngài muốn được sinh ra trong đời sống thật của chúng ta. Ngài muốn bước vào những gia đình đang có rạn nứt, những tâm hồn đang mang thương tích, những mối tương quan đang đóng băng, những nơi con người không còn muốn nhìn mặt nhau. Ngài muốn biến trái tim cứng cỏi thành trái tim biết thương, biến căn nhà lạnh lẽo thành mái ấm của tha thứ, biến những bàn tay chỉ biết nắm giữ thành bàn tay biết chia sẻ, biến những đôi chân chỉ chạy theo lợi ích riêng thành đôi chân biết đi đến với người nghèo khổ.

Muốn đón Chúa, chúng ta phải học nơi Đức Maria cách chuẩn bị một chiếc nôi trong tâm hồn. Chiếc nôi ấy trước hết được làm bằng đức tin. Đức tin không chỉ là tin rằng Chúa đã sinh ra hơn hai ngàn năm trước, nhưng là tin rằng Chúa vẫn có thể sinh ra trong cuộc đời mình hôm nay. Tin rằng Ngài vẫn hoạt động ngay cả khi ta không thấy. Tin rằng một lời cầu nguyện âm thầm không bao giờ vô ích. Tin rằng một hy sinh nhỏ bé được làm vì yêu thương có thể mang lại hoa trái lớn lao. Tin rằng Thiên Chúa có thể dùng chính sự nghèo nàn, giới hạn và mong manh của ta để thực hiện những điều tốt đẹp. Chiếc nôi ấy còn được làm bằng sự khiêm nhường. Chúa không tìm một tâm hồn tự cho mình hoàn hảo, nhưng tìm một tâm hồn biết mình cần được cứu. Chúa không thể sinh ra trong nơi đầy ắp cái tôi, kiêu ngạo, cố chấp và tự mãn. Muốn có chỗ cho Chúa, ta phải biết lùi lại, biết nhận lỗi, biết xin tha thứ, biết lắng nghe, biết bỏ đi ý muốn kiểm soát mọi sự. Mẹ Maria đã không nói: “Tôi hiểu hết nên tôi xin vâng”, nhưng nói: “Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Mẹ để Thiên Chúa là Thiên Chúa, còn Mẹ nhận lấy vị trí của một nữ tỳ. Đó chính là thái độ cần có của mọi tâm hồn muốn trở thành nơi Chúa ngự.

Chiếc nôi trong lòng ta cũng phải được lót bằng tình yêu thương. Một tâm hồn đầy oán hận không thể trở thành máng cỏ ấm áp cho Hài Nhi. Một gia đình nơi người ta chỉ biết trách móc, hơn thua và làm tổn thương nhau sẽ vẫn lạnh lẽo dù có hàng ngàn ánh đèn trang trí. Giáng Sinh chỉ thật sự xảy ra khi có một người dám chủ động làm hòa, khi có một lời xin lỗi được nói ra, khi có một lỗi lầm được tha thứ, khi một người cô đơn được thăm hỏi, khi một người nghèo được chia sẻ, khi một người bệnh được chăm sóc, khi một đứa trẻ được lắng nghe, khi cha mẹ và con cái biết trở về bên nhau. Chúng ta không thể ôm tượng Hài Nhi mà quay lưng với người anh em đang đau khổ. Không thể hát “Vinh danh Thiên Chúa trên trời” mà tiếp tục gieo chia rẽ dưới đất. Không thể cầu xin bình an mà lại nuôi dưỡng những lời nói cay độc. Không thể đón Chúa vào lòng mà đóng cửa lòng trước tha nhân. Bởi Hài Nhi trong máng cỏ cũng chính là Đấng sau này sẽ nói: “Mỗi lần các con làm điều ấy cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các con đã làm cho chính Ta.” Có khi Chúa đến với chúng ta không trong hình hài một em bé dễ thương, nhưng trong khuôn mặt mệt mỏi của người thân, trong tiếng thở dài của người già, trong sự bất toàn của người sống bên cạnh, trong nhu cầu của người nghèo, trong nỗi đau của một người đang cần được cảm thông. Chúng ta sẽ không thể nhận ra Chúa trong máng cỏ nếu không học nhận ra Ngài trong những con người bé nhỏ quanh mình.

Chiếc nôi tâm hồn còn cần ánh nến của niềm hy vọng. Đêm Bêlem là một đêm tối, nhưng trong đêm tối ấy một vì sao đã xuất hiện. Cuộc đời mỗi người cũng có những đêm dài: đêm của bệnh tật, đêm của mất mát, đêm của những lời cầu xin chưa được đáp lại, đêm của gia đình bất hòa, đêm của thất bại và cô đơn. Có khi chúng ta cảm thấy Thiên Chúa im lặng, con đường phía trước mịt mờ, mọi cố gắng dường như vô nghĩa. Nhưng Giáng Sinh nhắc chúng ta rằng Thiên Chúa thường bắt đầu công trình lớn nhất trong những hoàn cảnh nhỏ bé nhất. Ngài đã bắt đầu cứu thế giới trong một hang đá mà chẳng mấy ai biết đến. Ngài đã thắp lên ánh sáng cứu độ giữa một đêm lạnh. Vì thế, không ai được phép tuyệt vọng về chính mình hay về người khác. Không một quá khứ nào quá đen tối để Chúa không thể tha thứ. Không một vết thương nào quá sâu để Ngài không thể chữa lành. Không một gia đình nào quá đổ vỡ để ân sủng không thể bắt đầu công trình hàn gắn. Không một tâm hồn nào quá nghèo để không thể trở thành nơi Chúa ngự. Điều Chúa cần không phải là chúng ta đã hoàn hảo, mà là chúng ta mở cửa. Điều Ngài chờ không phải là một cung điện, mà là một chỗ nhỏ trong lòng ta được dọn sạch bằng lòng sám hối và thiện chí.

Nhìn lên Đức Maria, chúng ta càng hiểu rằng đón Chúa không phải là giữ Chúa cho riêng mình. Sau khi cưu mang Ngôi Lời, Mẹ lên đường đến với bà Êlisabét. Người có Chúa thật trong lòng sẽ trở thành người biết lên đường. Người đã gặp Chúa không thể sống mãi trong ích kỷ. Người đã nhận ánh sáng phải mang ánh sáng đến cho người khác. Vì vậy, Mùa Giáng Sinh không chỉ là mùa trở về với hang đá, mà còn là mùa ra khỏi chính mình. Ra khỏi sự tiện nghi để đến thăm một người cô đơn. Ra khỏi tự ái để làm hòa với một người thân. Ra khỏi thói quen khép kín để lắng nghe một người đang đau khổ. Ra khỏi sự tiêu xài vô nghĩa để chia sẻ với người thiếu thốn. Ra khỏi những thành kiến để nhìn người khác bằng đôi mắt nhân hậu hơn. Đó là cách chúng ta mang Chúa đến cho đời. Mẹ Maria không giảng những bài dài, nhưng sự hiện diện của Mẹ mang niềm vui đến cho gia đình bà Êlisabét. Chúng ta cũng có thể không làm được những việc lớn lao, nhưng một sự hiện diện chân thành, một lời nói dịu dàng, một cử chỉ quan tâm, một bữa cơm sẻ chia, một lời cầu nguyện cho người khác có thể trở thành những máng cỏ nhỏ bé nơi Chúa tiếp tục được sinh ra.

Khúc ca khải hoàn của tình yêu nhập thể vì thế vẫn chưa kết thúc. Nó không chỉ vang lên trong đêm Bêlem, không chỉ vang lên trên đồi Golgotha hay bên ngôi mộ trống, nhưng còn muốn tiếp tục được cất lên trong cuộc đời mỗi người chúng ta. Mỗi khi chúng ta thưa “Xin Vâng” với một điều tốt lành dù phải hy sinh, khúc ca ấy lại vang lên. Mỗi khi chúng ta tha thứ thay vì trả đũa, yêu thương thay vì căm ghét, phục vụ thay vì tìm phần hơn, khúc ca ấy lại vang lên. Mỗi khi một người mẹ âm thầm hy sinh cho gia đình, một người cha trung thành gánh vác trách nhiệm, một người trẻ biết sống trong sạch giữa nhiều cám dỗ, một người bệnh vẫn tín thác giữa đau đớn, một người nghèo vẫn quảng đại chia sẻ điều ít ỏi mình có, tình yêu nhập thể lại chiến thắng. Chiến thắng của Thiên Chúa không luôn ồn ào. Nhiều khi đó chỉ là một trái tim mềm lại, một bàn tay thôi nắm chặt, một ánh mắt biết cảm thông, một con người quyết định sống tốt hơn sau nhiều năm lạc lối. Nhưng chính những chiến thắng âm thầm ấy làm cho thế giới được đổi mới.

Ước gì trong Mùa Giáng Sinh này, khi cúi đầu trước Hài Nhi nơi máng cỏ nghèo hèn, chúng ta biết hướng lòng về cung lòng thanh sạch của Đức Trinh Nữ Maria với tâm tình biết ơn sâu xa. Cảm tạ Mẹ vì đã mở cửa cuộc đời mình cho Thiên Chúa. Cảm tạ Mẹ vì đã trao cho Ngôi Lời một thân xác để Ngài có thể sống giữa chúng ta, một trái tim để Ngài có thể yêu bằng tình yêu nhân loại, một đôi tay để Ngài có thể chạm vào những người đau khổ, một đôi chân để Ngài có thể đi tìm những kẻ lạc đường, một giọng nói để Ngài loan báo Tin Mừng, và một thân thể để Ngài có thể hiến dâng trên Thập giá. Cảm tạ Mẹ vì đã không giữ Con cho riêng mình, nhưng trao Con cho nhân loại, chấp nhận để Con thuộc về những người nghèo, những người bệnh, những người tội lỗi và cả những kẻ đóng đinh Ngài. Cảm tạ Mẹ vì dưới chân Thập giá, Mẹ đã nhận chúng ta làm con. Cảm tạ Mẹ vì qua bao thế hệ, Mẹ vẫn âm thầm đưa con cái trở về với Chúa Giêsu.

Và ước gì mỗi tâm hồn chúng ta cũng biết trở thành một chiếc nôi ấm áp cho Đấng Cứu Thế. Một chiếc nôi được dựng bằng đức tin, được lót bằng lòng khiêm nhường, được sưởi ấm bằng tình yêu, được thắp sáng bằng niềm hy vọng và được bảo vệ bằng sự trung thành. Xin cho chúng ta biết dọn khỏi lòng mình những rác rưởi của ích kỷ, kiêu căng, ghen ghét và hận thù. Xin cho chúng ta biết mở cửa cho Chúa bước vào những góc tối mà lâu nay ta vẫn che giấu. Xin cho chúng ta đừng sợ để Ngài biến đổi những thói quen cũ, chữa lành những ký ức đau buồn và dẫn ta ra khỏi những con đường sai lạc. Xin cho mỗi gia đình trở thành một Bêlem nhỏ, nơi có sự hiện diện của Chúa, sự dịu dàng của Mẹ Maria, sự âm thầm tận tụy của thánh Giuse, tiếng cười của con trẻ, lòng kính trọng giữa vợ chồng, sự hiếu thảo giữa con cái và tinh thần tha thứ giữa mọi thành viên. Xin cho mỗi cộng đoàn trở thành một mái nhà có chỗ cho người nghèo, người yếu đuối, người bị bỏ quên và người đang kiếm tìm một nơi nương tựa.

Lạy Đức Maria, Chiếc Nôi Thần Linh của Ngôi Hai Thiên Chúa, Mẹ đã trao cho Chúa Giêsu một mái nhà đầu tiên trong chính cung lòng Mẹ. Xin dạy chúng con biết mở rộng tâm hồn để đón Chúa. Xin dạy chúng con biết thưa tiếng “Xin Vâng” không chỉ trong những ngày bình an, nhưng cả khi đường đời đầy thử thách; không chỉ khi ý Chúa hợp với ước muốn của chúng con, nhưng cả khi Ngài dẫn chúng con qua những lối đi khó hiểu. Xin giúp chúng con biết giữ Chúa trong lòng như Mẹ đã gìn giữ, biết suy niệm Lời Chúa như Mẹ đã suy niệm, biết trao Chúa cho tha nhân như Mẹ đã trao ban. Xin đừng để chúng con biến Mùa Giáng Sinh thành những ngày lễ hội bên ngoài mà quên cuộc gặp gỡ sâu xa bên trong. Xin cho tiếng chuông đêm thánh đánh thức tâm hồn chúng con khỏi sự vô cảm. Xin cho ánh sao Bêlem dẫn chúng con ra khỏi bóng tối của tội lỗi. Xin cho máng cỏ nghèo hèn dạy chúng con yêu mến sự đơn sơ. Xin cho đôi tay bé nhỏ của Hài Nhi tháo gỡ những nút thắt của hận thù trong lòng chúng con. Xin cho nụ cười của Con Mẹ mang bình an đến những gia đình đang đau khổ, và xin cho tình yêu từ Thập giá chữa lành mọi vết thương trong cuộc đời chúng con.

Lạy Chúa Giêsu Hài Đồng, Chúa đã không chê cung lòng một người nữ tỳ nghèo hèn, không chê hang đá lạnh lẽo, không chê máng cỏ đơn sơ, thì xin cũng đừng chê trái tim đầy bất toàn của chúng con. Chúng con không có vàng bạc để dâng Chúa, nhưng xin dâng những cố gắng nhỏ bé mỗi ngày. Chúng con không có nhũ hương, nhưng xin dâng lời cầu nguyện chân thành. Chúng con không có mộc dược, nhưng xin dâng những đau khổ được đón nhận trong đức tin. Xin Chúa đến và ở lại. Xin Chúa sinh ra trong từng ý nghĩ, lời nói và việc làm của chúng con. Xin Chúa làm cho trái tim chúng con trở nên hiền lành hơn, đôi mắt chúng con nhân hậu hơn, lời nói chúng con dịu dàng hơn, bàn tay chúng con quảng đại hơn. Xin cho chúng con biết sống để người khác có thể cảm nhận rằng Chúa vẫn đang ở giữa trần gian.

Lạy Mẹ Maria, Chiếc Nôi Diệu Huyền của Đấng Cứu Thế, xin ôm lấy chúng con trong vòng tay từ mẫu của Mẹ. Xin dẫn chúng con đến gần máng cỏ, nhưng cũng xin dẫn chúng con theo Con Mẹ đến chân Thập giá. Xin giúp chúng con hiểu rằng yêu Chúa không chỉ là cảm động trước Hài Nhi bé nhỏ, mà còn là dám vác thập giá mỗi ngày, dám chết đi cho ích kỷ, dám trung thành trong bổn phận và dám trao ban chính mình. Xin dạy chúng con hát khúc ca Magnificat giữa những ngày vui và cả những ngày buồn, bởi Thiên Chúa vẫn trung tín, lòng thương xót Ngài tồn tại đến muôn đời. Xin cho đời chúng con, dù âm thầm và bé nhỏ, cũng trở thành một khúc ca khải hoàn của tình yêu nhập thể, để qua chúng con, Chúa Giêsu tiếp tục được sinh ra, được đón nhận, được yêu mến và được trao ban cho thế giới hôm nay.

“Kính lạy Đức Maria, Chiếc Nôi Thần Linh của Ngôi Hai Thiên Chúa, xin dạy chúng con biết thưa tiếng ‘Xin Vâng’ mỗi ngày, để tâm hồn chúng con xứng đáng trở thành nơi cư ngụ của Con Chí Ái Mẹ. Xin giúp chúng con biết làm cho cuộc đời mình trở thành một máng cỏ ấm áp bằng đức tin, một ngọn nến sáng bằng niềm hy vọng và một bài ca không ngừng vang lên bằng tình yêu. Amen.”

 

ĐỨC MARIA – CÁNH CỬA QUA ĐÓ ĐẤNG CỨ THẾ BƯỚC VÀO TRẦN GIAN

Khi ngâm ngâm nhiệm Nhập Thể, tâm trí con người không khỏi kinh ngạc trước một Thiên Chúa toàn năng nhưng lại chọn tự giới hạn chính mình trong hình hài một trẻ thơ bé nhỏ. Sáng thế ký khắc họa Thiên Chúa phán xét một ánh sáng liền kề, xây dựng càn không vũ trụ từ hư vô, và rõ ràng, Người hoàn toàn có quyền cứu nhân loại bằng cả ngày và phương pháp khác của oai anh hùng. Người có thể chế ngự giá mây trời mà xuống trong vinh quang rực rỡ, hay dùng một mệnh lệnh thiên đình để xóa sạch tội trần gian trong phép tắc, tạo vạn vật phải cầu kính tượng. Thế nhưng, Thiên Chúa đã không chọn con đường của một vị bạo chúa uy quyền hay một niềm vui thần linh xa cách bên ngoài nỗi đau của việc tạo ra vật chất. Người đã chọn một con đường kỳ diệu và khiêm tốn hơn vô cùng: bước vào lịch nhân sử loại qua một người mẹ, sinh ra trong một gia đình nghèo nàn tại Nazareth và chia sẻ hoàn thiện hoàn thiện nhân sinh đầy thăng trầm. Chọn đơn giản không phải là sự bất lực của quyền năng, mà là sự tự vô tối thượng của tình yêu, nơi Thiên Chúa muốn chạm đến con người bằng xương bằng thịt, muốn hiểu tiếng khóc của một đứa trẻ, cảm nhận hơi ấm của dòng sữa mẹ và cảm giác hơi thở hơi thở, từng chút mồ hôi của cuộc đời bụi này. Bằng cách chọn Đức Maria làm bánh cửa duy nhất để cứu rỗi Thế bước vào trần gian, Thiên Chúa đã biến lịch sử nghiên cứu thành một câu chuyện gia đình gần gũi, nơi khoảng cách giữa Trời và Đất được xóa sạch bằng một tiếng “Xin vâng” đầy cảm xúc của một người trinh nữ.

“Ngôi Lời đã trở thành người phàm và ngụ giữa chúng ta.” Sự hiện hữu của Ngôi Hai Thiên Chúa trong lòng Đức Trinh Nữ Maria là lời khẳng định chắc chắn nhất rằng Thiên Chúa không yêu Chế chúng ta từ xa, mà Người cứu chúng ta từ chính bên trong lòng thế giới.

Đức Trinh Nữ Maria không phải là một công cụ vô tri trong kế hoạch của Thiên Chúa mà là một cộng tác viên tự làm, đầy ý thức và giác quan. Thiên Chúa tôn vinh tự do của con người đến hiện vật chờ đợi sự đồng thuận của một cô gái trẻ vùng Galilee trước khi thực hiện giao ước mới. Khi sứ thần thánh Gabriel truyền tin, khoảnh khắc giải quyết cả vũ trụ như thở thở chờ đợi câu trả lời từ Maria, bởi “cánh cửa” ấy chỉ có thể mở ra từ bên trong bằng chính tình yêu và đức tin tự nguyện của mẹ. Tiếng “Fiat” (Xin Vâng) của Mẹ Maria không phải là một sự cam chịu động trước số phận, mà là một quyết định thân thiện có thể trường, chấp nhận phản đối với gạch dư luận, với luật pháp khắc phục thời gian bây giờ và cả một tương lai mờ đầy sóng gió. Qua cánh cửa mở toang từ tâm hồn cho đến thể xác của Mẹ, Ngôi Lời đã mặc định xác phàm, dòng máu chảy trong huyết quản lý của Giờ Cứu Thế chính là dòng máu được nuôi dưỡng từ lòng Mẹ, và nhịp đập trái tim của Con Thiên Chúa Thời ban đầu hòa hòa cùng một nhịp với lòng của Maria. Mẹ trở thành hòm bia giao ước mới, nơi chứa tiền kiếm tạo hóa, biến lòng mẹ thành cung thánh lẫy nhất, nơi mà ngay cả các tầng trời cũng không thể chứa nổi nhưng lại tự nguyện thu bé lại trong lòng một người nữ tì khiêm hạ hạ.

Thiên Chúa muốn cứu độ con người không phải bằng cách nâng con người lên khỏi mặt đất một cách ma thuật, mà bằng cách cùng họ bước đi trên những lối mòn cát bụi của cuộc đời. Khi chọn sinh ra trong một gia đình có Mẹ Maria và phụ Giuse, Đức Chúa Giêsu đã thánh hóa cấu trúc gia đình của các nhân loại, biến những điều điều bình nhất trở nên thiêng liêng. Giai đoạn là nguồn mạch không có chấp nhận học những tiếng bập bẹ đầu đời từ môi miệng Mẹ Maria, học cách cầm côn, cầm đục từ đôi bàn tay chai dưỡng của thánh Giuse, và lớn lên trong bầu khí ấm áp của một nhà nghèo khó nhưng đầy ắp tình yêu thương. Người đã sống thân phận con người một cách chân thật nhất: Người biết khát khao ăn chay ở hoang địa, biết mệt mỏi rã rời sau những dặm đường rao giảng, biết đau rát tối cùng khi những chiếc Thẩm lộc thịt da, và thậm chí còn đã thương người bạn Lazarô bằng những cơn khát nước mắt nhân loại sâu sắc nhất. Tất cả những trải nghiệm đó không phải là một vở kịch được xây dựng sẵn, mà là sự tồn tại thực sự của Thiên Chúa để tồn tại nỗi đau khổ, để không một ai trong chúng ta có thể viết rằng Thiên Chúa không hiểu nỗi đau khổ của mình. Qua sự chăm sóc, nuôi nấn của Đức Maria, Giảm cứu Thế đã mang một trái tim con người biết rung động trước nỗi đau của đồng loại, và chính từ “cánh cửa” tình mẫu tử ấy, tình yêu tình yêu của Thiên Chúa đã rửa vào thế gian một cách dễ dàng và tự nhiên nhất.

Chiêm ngưỡng Đức Maria trong vai trò là cánh cửa đón Cứu Thế vào đời, mỗi người được mời gọi nhìn lại chính tâm hồn mình để thấy rằng chúng ta cũng có sứ mạng trở thành những “cánh cửa” nhỏ bé đưa Chúa đến tha nhân. Thế giới hôm nay vẫn khao khát tình thương, sự tử tế và niềm hy vọng, nhưng Chúa chỉ có thể đến với họ khi chúng ta chiều mở lòng ra, thư giãn nói lời “xin vâng” trước những câu hỏi của Tin Mừng như Mẹ đã từng làm năm xưa. Mẹ Maria không cần cứu thế cho riêng mình; Mẹ đón nhận Người để rồi hiến dâng Người cho thế giới, từ hang đá Belem lạnh cho đến đỉnh đồi Canvê loang mủ đào. Cuộc đời của Mẹ là một hành trình liên lỉ mở ra: mở ra với ý định của Thiên Chúa, mở ra nhu cầu của chị họ Elizabeth, và mở ra nỗi lo toan của đôi tân hôn tại tiệc cưới Cana. Học cùng Mẹ, chúng tôi hiểu rằng cuộc sống gia đình với những hoàn toàn bình thường, những lo toan cơm áo bình tiền không phải là rào cản ngăn cản chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa, mà chính là “thánh địa” nơi Người muốn hiện diện và chia sẻ với chúng ta từng phút giây. Khi chúng ta biết yêu thương bằng một tình yêu hy sinh, biết đón nhận nhau bằng lòng chiến đấu và xây dựng mái ấm bằng thủy thủy, chúng ta đang tiếp tục mở rộng cánh cửa của thế giới này để tình yêu của Tận thế một lần nữa được hạ sinh và cư trú giữa lòng nhân thế.

 

THIÊN CHÚA ĐÃ BẮT ĐẦU CÔNG TRÌNH CỨU ĐỘ TRONG SỰ ÂM THẦM CỦA MỘT MÁI NHÀ

Khi nghĩ đến một công trình vĩ đại làm thay đổi lịch sử nhân loại, người ta thường hình dung đến những biến cố lớn lao, những cuộc tập hợp đông người, những tiếng reo hò vang dội, những đội quân hùng mạnh, những cung điện nguy nga, những bản tuyên ngôn được công bố giữa quảng trường hay những tiếng kèn chiến thắng vang lên để báo hiệu một thời đại mới. Con người vẫn thường nghĩ rằng điều gì càng quan trọng thì càng phải được khởi đầu trong huy hoàng, càng có giá trị thì càng phải được nhiều người biết đến, càng có sức ảnh hưởng thì càng phải được phô bày trước mắt thiên hạ. Thế nhưng, khi bắt đầu công trình cứu độ lớn lao nhất trong lịch sử, Thiên Chúa lại không chọn con đường ấy. Ngài không khởi đầu bằng tiếng kèn chiến thắng, không chọn cung điện của vua chúa, không tìm đến những trung tâm quyền lực, không tập hợp các bậc thông thái, không triệu tập những người đang nắm giữ ảnh hưởng trong xã hội, cũng không khiến cả thế giới lập tức phải chú ý. Thiên Chúa bắt đầu công trình cứu độ trong sự âm thầm của một mái nhà nhỏ ở Nadarét, bằng cuộc đối thoại rất riêng tư giữa một thiên thần và một thiếu nữ vô danh trước mắt người đời. Không có đám đông chứng kiến, không có sử gia ghi chép tại chỗ, không có ai đứng bên ngoài căn nhà ấy để biết rằng lịch sử nhân loại đang bước sang một khúc quanh hoàn toàn mới. Chỉ có Thiên Chúa, thiên thần Gáprien và một người thiếu nữ tên là Maria. Nhưng chính trong khoảnh khắc thinh lặng ấy, trời đã cúi xuống với đất, vĩnh cửu đã bước vào thời gian, Đấng vô hình chuẩn bị mặc lấy thân phận hữu hình, và niềm hy vọng mà nhân loại chờ đợi từ bao đời đã bắt đầu thành hình trong cung lòng của một người nữ bé nhỏ.

Nadarét không phải là một thành phố nổi tiếng. Đó chỉ là một làng quê nhỏ bé, bình thường, gần như không có gì đáng để người ta nhắc đến. Sau này, khi nghe nói về Đức Giêsu, ông Nathanaen còn thốt lên: “Từ Nadarét, làm sao có cái gì hay được?” Câu hỏi ấy phản ánh chính cái nhìn quen thuộc của con người: chúng ta thường cho rằng điều lớn lao phải xuất phát từ nơi lớn lao, người quan trọng phải đến từ một dòng dõi danh giá, và việc có sức thay đổi thế giới phải khởi đi từ một trung tâm được nhiều người công nhận. Nhưng Thiên Chúa lại chọn Nadarét. Ngài chọn một ngôi làng mà người ta chẳng kỳ vọng gì, chọn một mái nhà chẳng ai biết đến, chọn một thiếu nữ chẳng có chức tước, địa vị hay quyền lực. Qua lựa chọn ấy, Thiên Chúa âm thầm phá vỡ mọi tiêu chuẩn của con người. Ngài cho thấy rằng điều làm nên giá trị của một nơi không phải là danh tiếng của nơi ấy, điều làm nên sự cao quý của một con người không phải là địa vị người ấy đang có, và điều làm cho một biến cố trở nên vĩ đại không phải là có bao nhiêu người chứng kiến, nhưng là Thiên Chúa có hiện diện và hành động trong đó hay không. Nơi con người nhìn thấy một căn nhà nhỏ, Thiên Chúa nhìn thấy khởi điểm của ơn cứu độ. Nơi con người nhìn thấy một thiếu nữ bình thường, Thiên Chúa nhìn thấy một tâm hồn hoàn toàn rộng mở. Nơi con người thấy sự âm thầm, Thiên Chúa đang đặt nền móng cho một biến cố làm rung chuyển cả trời đất.

Có một điều rất đẹp trong cách Thiên Chúa đến với Đức Maria: Ngài đến qua một cuộc đối thoại. Thiên Chúa quyền năng, Đấng đã tạo dựng trời đất chỉ bằng một lời, Đấng có thể thực hiện mọi điều theo ý muốn của mình, lại không áp đặt chương trình cứu độ lên cuộc đời Đức Maria. Ngài sai thiên thần đến, chào Mẹ, trình bày kế hoạch của Ngài, giải đáp những băn khoăn của Mẹ và chờ đợi lời đáp trả. Thiên Chúa không xem con người như một công cụ vô tri để Ngài tùy ý sử dụng. Ngài tôn trọng tự do của Đức Maria. Ngài muốn công trình cứu độ được bắt đầu bằng sự cộng tác tự nguyện của con người. Điều ấy cho chúng ta thấy một nét rất sâu xa trong tình yêu của Thiên Chúa: Thiên Chúa có thể làm mọi sự, nhưng Ngài muốn con người cùng làm với Ngài; Thiên Chúa có thể cứu độ con người mà không cần hỏi ý kiến ai, nhưng Ngài lại muốn có một lời “xin vâng”; Thiên Chúa có thể bước vào thế giới bằng quyền năng khiến mọi người phải khuất phục, nhưng Ngài muốn bước vào bằng cánh cửa của sự tự do, lòng tin và tình yêu. Ngài gõ cửa, chứ không phá cửa. Ngài mời gọi, chứ không cưỡng ép. Ngài đợi chờ, chứ không vội vàng. Và công trình cứu độ của toàn thể nhân loại, trong một khoảnh khắc nào đó, đã được đặt trước sự tự do của một thiếu nữ trẻ.

Lời chào của thiên thần: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà”, không chỉ là lời chào dành riêng cho Đức Maria, nhưng còn là tiếng mở đầu cho niềm vui cứu độ. Từ sau biến cố sa ngã, nhân loại sống trong một nỗi buồn sâu thẳm. Đó không chỉ là nỗi buồn của nước mắt, đau khổ hay mất mát, nhưng còn là nỗi buồn của một tạo vật đã xa lìa Đấng Tạo Hóa, của một người con đã rời khỏi nhà Cha, của một trái tim được dựng nên cho ánh sáng nhưng lại lạc bước trong bóng tối. Qua lời chào của thiên thần, Thiên Chúa như muốn nói rằng thời gian của nỗi buồn đang dần khép lại, lời hứa cứu độ đang được thực hiện, bình minh đang ló rạng sau đêm dài của tội lỗi. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là lời loan báo niềm vui lớn lao ấy lại không được vang lên giữa quảng trường, nhưng trong một căn nhà; không được công bố cho hoàng đế, nhưng cho một thiếu nữ; không được truyền đi bằng những phương tiện ồn ào, nhưng bằng một cuộc gặp gỡ thấm đẫm sự thinh lặng. Thiên Chúa thường làm những điều lớn lao như thế: Ngài gieo hạt giống của niềm vui trong những nơi mà chẳng mấy ai để ý, Ngài thắp lên ánh sáng trong những góc nhỏ mà thế gian xem thường, Ngài bắt đầu mùa xuân từ một mầm cây rất bé, Ngài bắt đầu cả một lịch sử mới từ một lời thưa nhỏ nhẹ: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.”

Đức Maria đã bối rối trước lời chào ấy. Mẹ không hiểu hết điều đang xảy ra. Mẹ không phải là một người thiếu suy nghĩ, nghe gì cũng chấp nhận một cách dễ dãi. Mẹ băn khoăn, suy xét, đặt câu hỏi: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng?” Câu hỏi của Mẹ không phát xuất từ sự cứng lòng, nhưng từ một đức tin đang tìm kiếm ánh sáng. Đức tin chân thật không có nghĩa là không bao giờ đặt câu hỏi; đức tin chân thật là dám đặt câu hỏi nhưng vẫn ở lại trong tương quan với Thiên Chúa, vẫn lắng nghe và vẫn sẵn sàng vâng phục khi nhận ra ý Ngài. Có những người đặt câu hỏi để tìm lý do từ chối; Đức Maria đặt câu hỏi để hiểu mình phải cộng tác thế nào. Có những người chỉ chấp nhận khi mọi sự đã rõ ràng; Đức Maria chấp nhận ngay cả khi trước mắt còn rất nhiều điều chưa thể hiểu hết. Thiên thần chỉ nói rằng: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà.” Mẹ không được cho biết đầy đủ những gì sẽ xảy đến sau lời xin vâng. Mẹ không được báo trước rằng mình sẽ phải đối diện với sự hiểu lầm của người đời, rằng thánh Giuse sẽ đau khổ và băn khoăn, rằng Mẹ sẽ sinh con trong cảnh nghèo khó, phải chạy trốn sang Ai Cập, sẽ nghe lời tiên báo rằng một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn, và cuối cùng sẽ đứng dưới chân thập giá nhìn Con mình chịu chết. Thiên Chúa không mở ra trước mắt Mẹ toàn bộ con đường. Ngài chỉ ban đủ ánh sáng cho một bước đi, rồi mời Mẹ tin tưởng bước tiếp.

Lời “xin vâng” của Đức Maria vì thế không phải là một câu nói nhẹ nhàng, thi vị và không có giá phải trả. Đó là một sự trao hiến cả cuộc đời. Khi thưa “xin vâng”, Mẹ đã đặt tương lai, danh dự, kế hoạch riêng, sự an toàn và cả mạng sống của mình trong tay Thiên Chúa. Mẹ chưa hiểu hết, nhưng Mẹ biết mình đang tin vào ai. Chính đó là cốt lõi của đức tin. Đức tin không phải là hiểu hết đường đi rồi mới bước, nhưng là nắm lấy tay Thiên Chúa và bước ngay cả khi con đường còn khuất trong sương mù. Đức tin không phải là có sẵn tất cả câu trả lời, nhưng là xác tín rằng Đấng mời gọi mình sẽ không bỏ rơi mình. Đức Maria không nói: “Xin Chúa giải thích thêm cho con mọi chi tiết”, cũng không nói: “Xin cho con thời gian để cân nhắc xem việc này có phù hợp với dự định của con hay không.” Mẹ chỉ nói: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa.” Trong lời ấy có sự khiêm nhường, có tự do, có phó thác, có lòng can đảm và có một tình yêu hoàn toàn không giữ lại gì cho mình. Chính nhờ lời xin vâng của Mẹ, Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta.

Thiên Chúa đã bắt đầu công trình cứu độ trong một mái nhà bởi vì Ngài muốn cứu con người từ chính những điều gần gũi nhất. Ngài không chỉ muốn cứu con người trong đền thờ, nhưng còn muốn bước vào căn nhà của họ; không chỉ hiện diện trong những giờ phút cầu nguyện long trọng, nhưng cả trong những bữa cơm, những công việc nhỏ, những lo toan âm thầm, những giọt nước mắt không ai biết, những hy sinh không được ghi nhận. Con Thiên Chúa đã không từ trời xuống trong hình hài của một vị vua trưởng thành, nhưng chọn đi vào lịch sử như một hài nhi, cần được cưu mang, sinh hạ, chăm sóc và bảo vệ trong một gia đình. Điều đó có nghĩa là từ biến cố Truyền Tin, mái nhà trở thành một nơi thánh. Gia đình trở thành mảnh đất đầu tiên để ơn cứu độ được đón nhận, nuôi dưỡng và lớn lên. Căn nhà Nadarét không có ngai vàng, nhưng có sự hiện diện của Thiên Chúa; không có của cải dư đầy, nhưng có lòng tin; không có quyền lực, nhưng có tình yêu; không có tiếng tăm, nhưng có những con người biết đặt ý Chúa cao hơn ý riêng. Và chính trong mái nhà ấy, Đức Giêsu đã sống phần lớn cuộc đời trần thế của mình.

Chúng ta thường bị cuốn hút bởi những điều lớn lao bên ngoài mà quên rằng Thiên Chúa rất yêu thích khởi đầu từ bên trong. Chúng ta mong thay đổi xã hội, nhưng lại chưa muốn thay đổi bầu khí gia đình. Chúng ta muốn làm những việc lớn cho Giáo hội, nhưng đôi khi lại thiếu kiên nhẫn với người sống ngay bên cạnh mình. Chúng ta muốn nói về tình yêu, lòng thương xót và tha thứ cho nhiều người, nhưng trong chính căn nhà của mình lại còn những khoảng cách, những lời nói làm tổn thương, những im lặng nặng nề, những vết thương kéo dài chưa được chữa lành. Biến cố Truyền Tin nhắc chúng ta rằng công trình cứu độ phải bắt đầu từ một mái nhà, và trước hết là từ chính mái nhà tâm hồn mỗi người. Thiên Chúa muốn đi vào nơi sâu kín nhất trong con người chúng ta, nơi không ai khác nhìn thấy, nơi có những nỗi sợ, những yếu đuối, những giằng co, những ước muốn thầm kín và cả những góc tối ta vẫn cố che giấu. Ngài không chỉ muốn chúng ta làm một vài công việc tốt bên ngoài; Ngài muốn được cưu mang trong lòng chúng ta, để lời nói, suy nghĩ, quyết định và cách sống của chúng ta dần mang lấy khuôn mặt của Đức Kitô.

Có thể chúng ta nghĩ cuộc đời mình quá bình thường để Thiên Chúa sử dụng. Chúng ta không có tài năng nổi bật, không có địa vị, không có sức ảnh hưởng, không làm được những việc lớn lao. Nhưng Nadarét nói với chúng ta rằng sự bình thường không phải là trở ngại đối với Thiên Chúa. Một căn nhà nhỏ không ngăn được Ngài bắt đầu công trình cứu độ. Một thiếu nữ vô danh không ngăn được Ngài thực hiện điều kỳ diệu. Một đời sống đơn sơ không ngăn được ân sủng nảy mầm. Điều Thiên Chúa cần không phải là một con người hoàn hảo theo tiêu chuẩn thế gian, nhưng là một tâm hồn mở ra. Ngài không đòi chúng ta phải có mọi khả năng, nhưng mời chúng ta trao cho Ngài điều mình đang có. Đức Maria không có quyền lực để thay đổi thế giới, nhưng Mẹ có một lời xin vâng. Và lời xin vâng ấy đã trở thành cánh cửa để Đấng Cứu Thế đi vào trần gian. Năm chiếc bánh và hai con cá trong tay một em nhỏ chẳng đáng là bao, nhưng khi được trao cho Đức Giêsu, chúng đủ nuôi cả đám đông. Hai đồng tiền nhỏ của bà góa nghèo chẳng đáng gì trong mắt người đời, nhưng lại trở nên lớn lao trước mặt Thiên Chúa. Một ly nước lã trao cho người bé nhỏ tưởng như không đáng kể, nhưng Đức Giêsu bảo rằng sẽ không mất phần thưởng. Thiên Chúa không coi thường những điều nhỏ bé được thực hiện với tình yêu lớn.

Điều này đem lại cho chúng ta một niềm an ủi sâu xa. Có những người mẹ mỗi ngày âm thầm chăm sóc gia đình, chẳng ai khen ngợi; có những người cha vất vả lao động, chịu nhiều áp lực nhưng ít khi nói ra; có những người con lặng lẽ hy sinh để chăm sóc cha mẹ già yếu; có những linh mục kiên trì phục vụ nơi một giáo xứ nhỏ, không có những công trình gây tiếng vang; có những tu sĩ sống đời cầu nguyện trong âm thầm, không được nhiều người biết đến; có những người bệnh ngày đêm dâng đau đớn của mình cho Chúa; có những người đang cố sống tử tế giữa một môi trường nhiều gian dối; có những người mỗi ngày phải chiến đấu với những cám dỗ, những yếu đuối và những tổn thương rất riêng. Tất cả những điều ấy có thể không xuất hiện trên báo chí, không nhận được lời tán thưởng, không ai ghi nhận, nhưng lại có thể là nơi Thiên Chúa đang âm thầm thực hiện công trình cứu độ. Cũng như không ai ở Nadarét hôm ấy biết rằng điều gì đang diễn ra trong căn nhà của Đức Maria, chúng ta cũng không thể biết hết giá trị đời đời của một lời cầu nguyện âm thầm, một lần nhẫn nhịn, một sự tha thứ, một hy sinh kín đáo, một việc thiện được làm mà không cần ai biết.

Thế giới hôm nay rất ồn ào. Người ta dễ tin rằng phải nói lớn mới được lắng nghe, phải xuất hiện nhiều mới có giá trị, phải được nhiều người biết đến mới chứng tỏ mình đang sống một cuộc đời có ý nghĩa. Nhiều người chạy theo sự chú ý, tìm kiếm những lời khen, đo giá trị bản thân bằng lượt thích, lời tán thưởng hay sự công nhận của người khác. Ngay cả trong đời sống đức tin, đôi khi người ta cũng muốn làm những việc dễ được nhìn thấy, dễ được khen ngợi, dễ tạo tiếng vang, trong khi lại ít quan tâm đến việc âm thầm sửa đổi bản thân, trung thành với bổn phận và sống bác ái trong những điều không ai thấy. Căn nhà Nadarét trở thành một lời chất vấn mạnh mẽ đối với chúng ta. Thiên Chúa cứu thế giới không bằng sự ồn ào, nhưng bằng sự thinh lặng của một lời xin vâng. Ngài không bắt đầu bằng việc chiếm lĩnh các quảng trường, nhưng bằng việc chiếm lấy một tâm hồn. Ngài không thay đổi thế giới từ bên ngoài trước, nhưng đi vào bên trong nhân loại, trở thành một con người, chia sẻ thân phận của chúng ta và đổi mới con người từ tận căn.

Sự âm thầm của Nadarét không phải là sự im lặng thụ động, cũng không phải là trốn tránh trách nhiệm. Đó là sự thinh lặng đầy sức sống, nơi con người lắng nghe, phân định và để cho Lời Chúa lớn lên. Hạt giống khi được gieo xuống lòng đất cũng âm thầm. Không ai nghe tiếng nó nảy mầm, nhưng bên dưới lớp đất tối, một sự sống đang chuyển động. Men được vùi trong bột cũng âm thầm, nhưng dần dần làm cả khối bột dậy men. Ánh sáng buổi bình minh cũng không xuất hiện bằng một tiếng nổ, nhưng từng chút một xua tan bóng tối. Nước chảy qua đá không ồn ào, nhưng qua năm tháng có thể làm đá đổi hình. Thiên Chúa thường hành động như thế trong cuộc đời mỗi người. Ngài không luôn tạo ra những biến cố ngoạn mục, nhưng kiên nhẫn biến đổi tâm hồn qua từng ngày, qua những lần chúng ta cầu nguyện, qua một câu Lời Chúa chạm đến lòng mình, qua một biến cố đau buồn, qua một người ta gặp, qua một lần thất bại khiến ta khiêm tốn hơn, qua một lần được tha thứ khiến ta biết thương người khác hơn. Nhiều khi chúng ta tưởng Thiên Chúa im lặng, nhưng thật ra Ngài đang làm việc rất sâu.

Đức Maria là người của thinh lặng. Tin Mừng không ghi lại nhiều lời của Mẹ. Nhưng Mẹ biết lắng nghe, ghi nhớ và suy đi nghĩ lại trong lòng. Mẹ không cần nói nhiều, bởi đời sống của Mẹ đã trở thành một lời đáp trả. Trong một thời đại người ta thích nói, thích tranh luận, thích chứng minh mình đúng, đời sống của Đức Maria mời gọi chúng ta học lại nghệ thuật thinh lặng. Không phải thứ im lặng vì lạnh lùng, giận dữ hay khép kín, nhưng là sự thinh lặng để nghe được tiếng Chúa, để hiểu được người khác, để nhận ra điều gì đang diễn ra trong lòng mình. Nhiều gia đình đổ vỡ không phải vì thiếu lời nói, nhưng vì thiếu sự lắng nghe. Nhiều cộng đoàn mất bình an không phải vì không có ai lên tiếng, nhưng vì ai cũng muốn tiếng nói của mình phải thắng. Nhiều người không nhận ra ý Chúa không phải vì Chúa không nói, nhưng vì trong lòng họ quá nhiều tiếng ồn: tiếng của tham vọng, tự ái, sợ hãi, thành kiến, hơn thua và những tính toán riêng. Chỉ khi biết đi vào thinh lặng, con người mới có thể nghe được lời chào của ân sủng và nhận ra lời mời gọi của Thiên Chúa.

Căn nhà Nadarét cũng cho chúng ta thấy ơn cứu độ không xa rời đời sống thường ngày. Thiên thần đến khi Đức Maria đang sống một ngày rất bình thường. Có thể Mẹ đang cầu nguyện, đang làm việc, đang dọn dẹp hay đang thực hiện một bổn phận quen thuộc nào đó. Tin Mừng không nói rõ, và chính điều đó càng làm nổi bật rằng Thiên Chúa có thể đến giữa những điều hết sức đời thường. Chúng ta thường đợi Thiên Chúa trong những lúc đặc biệt, nhưng Ngài lại đến trong một ngày bình thường. Chúng ta nghĩ phải vào một nơi thật thánh mới gặp được Ngài, nhưng Ngài có thể gõ cửa giữa căn bếp, nơi làm việc, phòng bệnh, con đường ta đi hằng ngày hay trong một cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ. Điều cần thiết không phải là hoàn cảnh đặc biệt, nhưng là một tâm hồn tỉnh thức. Đức Maria đã nhận ra sứ thần vì Mẹ sống trong tương quan sâu xa với Thiên Chúa. Một tâm hồn thường xuyên hướng về Chúa sẽ nhận ra dấu chân Ngài ngay cả giữa những điều rất nhỏ. Một tâm hồn chỉ chạy theo thế gian có thể đứng trước phép lạ mà vẫn không nhận ra.

Thiên Chúa chọn bắt đầu công trình cứu độ trong một mái nhà còn vì Ngài muốn nhắc chúng ta rằng sự thánh thiện không chỉ dành cho những nơi công cộng, những giờ phụng vụ hay những khoảnh khắc long trọng. Sự thánh thiện phải đi vào cách chúng ta sống với người thân. Có những người rất đạo đức bên ngoài nhưng lại khó tính, nóng nảy và vô cảm trong gia đình. Có người nói lời rất hay với người xa lạ nhưng lại dễ làm tổn thương người bên cạnh. Có người sẵn sàng phục vụ những công việc lớn nhưng lại né tránh những bổn phận nhỏ trong nhà. Có người cầu nguyện rất nhiều nhưng không chịu tha thứ. Nếu Thiên Chúa đã chọn một mái nhà để bắt đầu cứu độ thế giới, thì mỗi mái nhà Kitô hữu cũng phải trở thành nơi ơn cứu độ được tiếp tục. Đó phải là nơi người ta học nói lời yêu thương thay cho những lời cay nghiệt, học xin lỗi thay cho cố chấp, học tha thứ thay cho giữ mãi lỗi lầm, học phục vụ thay cho đòi hỏi, học cầu nguyện cùng nhau thay cho mỗi người sống trong thế giới riêng của mình.

Có thể mái nhà của chúng ta không hoàn hảo. Có thể trong đó có những đổ vỡ, những khác biệt, những vết thương lâu năm và những điều không dễ giải quyết. Gia đình Nadarét cũng không được miễn trừ khỏi khó khăn. Ngay từ đầu đã có nguy cơ hiểu lầm giữa Đức Maria và thánh Giuse. Sau đó là hành trình về Bêlem, cảnh không tìm được chỗ trong quán trọ, sinh con nơi máng cỏ, phải chạy trốn trong đêm, sống kiếp tha hương trên đất Ai Cập, rồi những năm tháng lao động nghèo khó. Sự hiện diện của Thiên Chúa không có nghĩa là đời sống không còn thử thách. Nhưng nơi nào có lòng tin, có sự vâng phục và có tình yêu, nơi ấy khó khăn không thể phá hủy công trình của Thiên Chúa. Gia đình thánh không thánh vì không có vấn đề, nhưng vì giữa mọi vấn đề, các ngài vẫn để Thiên Chúa hướng dẫn. Một gia đình Kitô hữu cũng không phải là gia đình không bao giờ xung đột, nhưng là gia đình biết quay về với Chúa để học lại cách yêu thương nhau. Không phải là gia đình không có nước mắt, nhưng là gia đình biết biến nước mắt thành lời cầu nguyện. Không phải là gia đình không có yếu đuối, nhưng là gia đình không để yếu đuối trở thành lý do từ bỏ nhau.

Lời xin vâng của Đức Maria còn nhắc chúng ta rằng công trình cứu độ luôn cần sự cộng tác. Thiên Chúa không cứu thế giới bằng những con người chỉ đứng nhìn. Ngài mời gọi mỗi người trao cho Ngài một lời xin vâng cụ thể. Xin vâng không chỉ là đọc một lời kinh đẹp, nhưng là chấp nhận để ý Chúa bước vào kế hoạch của mình và đôi khi làm xáo trộn những gì mình đã sắp đặt. Xin vâng có thể là đón nhận một trách nhiệm ta không mong muốn, chăm sóc một người bệnh, tha thứ cho một người đã làm tổn thương mình, trung thành với ơn gọi giữa những lúc mệt mỏi, tiếp tục làm điều tốt dù không được công nhận, từ bỏ một thói quen xấu, nói sự thật khi im lặng sẽ có lợi cho bản thân, hay dám bắt đầu lại sau một lần vấp ngã. Mỗi lời xin vâng chân thành đều mở một cánh cửa cho Thiên Chúa đi vào thế giới.

Tuy nhiên, chúng ta thường muốn nói xin vâng với những điều lớn mà lại từ chối những điều nhỏ. Chúng ta sẵn sàng mơ về một sứ mạng vĩ đại nhưng lại khó chịu trước những bổn phận tầm thường. Chúng ta muốn hiến dâng cả đời cho Chúa, nhưng lại không muốn nhường nhịn một câu. Chúng ta muốn yêu thương nhân loại, nhưng không chịu được một người cụ thể. Chúng ta muốn nên thánh, nhưng không muốn từ bỏ tính nóng nảy, sự ích kỷ, lòng ghen tị hay thói quen nói xấu. Đức Maria không thưa xin vâng trong một thế giới tưởng tượng. Mẹ thưa xin vâng ngay trong căn nhà, trong hoàn cảnh cụ thể, với tất cả những rủi ro có thể xảy đến. Ơn cứu độ cũng không được thực hiện bằng những ý tưởng đẹp nhưng bằng sự trung thành trong đời sống thật.

Thiên Chúa đã khởi sự công trình cứu độ trong sự âm thầm, vì tình yêu chân thật thường không ồn ào. Người ta có thể nói rất nhiều về tình yêu, nhưng tình yêu thật được chứng minh qua những điều âm thầm: một người mẹ thức khuya bên con bệnh, một người cha giấu đi nỗi mệt nhọc để gia đình được an tâm, một người vợ kiên nhẫn đồng hành với chồng trong khó khăn, một người chồng biết lắng nghe và tôn trọng vợ, một người con dành thời gian chăm sóc cha mẹ già, một người bạn ở lại khi mọi người đã bỏ đi, một linh mục vẫn ngồi tòa giải tội khi đã mệt, một tu sĩ cầu nguyện cho những người mình không biết tên, một người nghèo vẫn chia sẻ chút ít mình có cho người còn nghèo hơn. Những điều ấy không vang lên như tiếng kèn chiến thắng, nhưng lại làm cho thế giới bớt lạnh lẽo. Chúng là những căn nhà Nadarét nhỏ bé, nơi Thiên Chúa tiếp tục được cưu mang và trao ban.

Có lẽ một trong những cám dỗ lớn của chúng ta là muốn nhìn thấy kết quả ngay lập tức. Chúng ta cầu nguyện nhưng muốn Chúa trả lời ngay. Chúng ta làm điều tốt nhưng muốn người khác thay đổi ngay. Chúng ta giáo dục con cái nhưng muốn lập tức thấy hoa trái. Chúng ta gieo hạt giống đức tin nhưng nản lòng khi chưa thấy gì xảy ra. Trong khi đó, tại Nadarét, công trình cứu độ bắt đầu bằng một thai nhi vô cùng bé nhỏ. Sau lời xin vâng của Đức Maria, thế giới bên ngoài vẫn như cũ. Đế quốc Rôma vẫn cai trị, người nghèo vẫn khổ, bất công vẫn tồn tại, chiến tranh và áp bức vẫn tiếp diễn. Không ai nhìn vào Đức Maria mà biết rằng Đấng Cứu Thế đang hiện diện trong cung lòng Mẹ. Nhưng dù thế giới chưa thấy gì thay đổi, điều quyết định nhất đã xảy ra: Thiên Chúa đã trở thành người. Điều đó dạy chúng ta kiên nhẫn với những khởi đầu nhỏ. Có những điều Thiên Chúa đang thực hiện trong lòng ta mà chính ta cũng chưa nhận ra hết. Có những lời cầu nguyện tưởng như chưa được đáp lại nhưng đang âm thầm chuẩn bị một con đường. Có những hy sinh chưa thấy kết quả nhưng đã được gieo vào cõi đời đời. Có những thay đổi bắt đầu rất nhỏ, nhưng nếu kiên trì, một ngày kia sẽ làm mới cả cuộc đời.

Thế giới vẫn thường bị cuốn hút bởi những người nổi tiếng, nhưng Thiên Chúa lại để ý đến những tâm hồn trung tín. Thế giới hỏi: “Bạn đã làm được điều gì lớn?” Thiên Chúa hỏi: “Bạn đã yêu thương thế nào?” Thế giới hỏi: “Có bao nhiêu người biết đến bạn?” Thiên Chúa hỏi: “Bạn có nhận ra Ta trong người bé nhỏ không?” Thế giới hỏi: “Bạn đã thành công đến đâu?” Thiên Chúa hỏi: “Bạn có trung thành không?” Đức Maria không để lại những công trình vật chất lớn lao, không viết sách, không điều hành một tổ chức, không đứng trước những đám đông để diễn thuyết. Nhưng Mẹ đã trao cho Thiên Chúa trọn vẹn con người mình. Và đó là điều lớn lao nhất một thụ tạo có thể làm.

Nhìn vào căn nhà Nadarét, chúng ta cũng hiểu rằng Thiên Chúa không khinh chê sự yếu đuối của con người. Ngài bước vào thế giới bằng cách trở nên nhỏ bé, mong manh và lệ thuộc. Đấng dựng nên vũ trụ lại chấp nhận được cưu mang trong lòng một người mẹ. Đấng ban sự sống cho muôn loài lại để sự sống nhân loại của mình được nuôi dưỡng bởi máu thịt Đức Maria. Đấng quyền năng lại tự đặt mình trong sự chăm sóc của một gia đình nghèo. Đây là sự khiêm hạ không thể hiểu thấu của Thiên Chúa. Ngài không cứu chúng ta từ xa, nhưng bước vào tận cùng thân phận con người. Ngài không đứng trên cao để ra lệnh, nhưng cúi xuống để ở cùng. Ngài không sợ sự mong manh của chúng ta. Ngài đi vào đó, mang lấy nó, thánh hóa nó và biến nó thành con đường cứu độ.

Vì thế, chúng ta đừng thất vọng trước sự yếu đuối của mình. Có thể tâm hồn chúng ta chưa phải là một cung điện xứng đáng cho Thiên Chúa, nhưng căn nhà Nadarét cũng rất đơn sơ. Điều Chúa cần không phải là sự hoàn hảo sẵn có, nhưng là cánh cửa được mở ra. Có thể chúng ta còn nhiều vết thương, nhiều giới hạn, nhiều bất toàn, nhưng nếu dám nói: “Lạy Chúa, xin hãy đến”, Ngài sẽ bước vào. Ngài không chờ chúng ta sửa xong mọi sự mới yêu thương. Chính tình yêu Ngài sẽ giúp chúng ta đổi mới. Ngài không chờ chúng ta mạnh mẽ mới trao sứ mạng. Chính trong sự yếu đuối, quyền năng Ngài được biểu lộ. Ngài không chờ chúng ta hiểu hết mới mời gọi. Ngài chỉ cần một lòng tin đủ để bước đi.

Mỗi lần đọc lại biến cố Truyền Tin, chúng ta nên tự hỏi: Mái nhà tâm hồn tôi hôm nay đang thế nào? Có quá ồn ào để nghe tiếng Chúa không? Có quá chật vì chất đầy những tính toán riêng không? Có những cánh cửa nào tôi vẫn đóng trước lời mời gọi của Ngài? Có căn phòng nào trong lòng tôi không muốn Chúa bước vào? Có một điều gì tôi biết là ý Chúa nhưng vẫn trì hoãn lời xin vâng? Có một người nào tôi cần tha thứ? Có một trách nhiệm nào tôi cần đón nhận? Có một thói quen nào tôi cần từ bỏ? Có một việc tốt nào tôi cần bắt đầu, dù rất nhỏ?

Thiên Chúa vẫn đang tìm những căn nhà Nadarét giữa thế giới hôm nay. Đó có thể là căn nhà thật của mỗi gia đình, nhưng cũng là tâm hồn của mỗi người. Ngài vẫn sai những sứ giả đến qua Lời Chúa, qua một biến cố, qua một con người, qua tiếng lương tâm, qua những nhu cầu của người nghèo, qua nỗi đau của người bên cạnh. Ngài vẫn nói: “Đừng sợ.” Ngài vẫn mời gọi chúng ta cưu mang Đức Kitô và sinh Ngài cho thế giới bằng đời sống yêu thương. Một Kitô hữu không chỉ là người tin rằng Đức Giêsu đã sinh ra tại Bêlem, nhưng là người để Đức Giêsu tiếp tục được sinh ra trong cách mình sống. Khi ta tha thứ, Đức Kitô được sinh ra. Khi ta phục vụ, Đức Kitô được sinh ra. Khi ta bênh vực người yếu thế, Đức Kitô được sinh ra. Khi ta đem hy vọng đến cho người tuyệt vọng, ánh sáng Bêlem lại bừng lên. Khi ta nói một lời nâng đỡ thay vì kết án, khi ta cúi xuống với người đau khổ, khi ta chia sẻ với người thiếu thốn, khi ta chọn sự thật thay cho gian dối, Đức Kitô lại bước vào thế giới qua chính cuộc đời ta.

Công trình cứu độ khởi đầu trong một mái nhà, và có lẽ cũng phải được tiếp tục từ những mái nhà. Thế giới sẽ khó có bình an nếu các gia đình không có bình an. Xã hội sẽ khó có lòng thương xót nếu trẻ em lớn lên trong những căn nhà thiếu sự dịu dàng. Giáo hội sẽ khó trở thành dấu chỉ hiệp thông nếu trong các cộng đoàn người ta còn chia rẽ, nói xấu và đề phòng nhau. Không ai có thể xây dựng một thế giới yêu thương bằng một trái tim đầy cay nghiệt. Không ai có thể loan báo Tin Mừng bình an nếu trong mái nhà mình luôn tạo ra bất an. Không ai có thể nói về Thiên Chúa là Cha nếu không biết đối xử với người khác như anh chị em. Vì thế, sứ mạng thay đổi thế giới bắt đầu rất gần: từ cách ta nói với người bên cạnh, từ thái độ trong bữa cơm gia đình, từ việc ta biết lắng nghe, biết xin lỗi, biết cầu nguyện và biết đặt Chúa vào trung tâm.

Ngày hôm ấy tại Nadarét, sau khi Đức Maria thưa lời xin vâng, thiên thần từ biệt ra đi. Căn nhà lại trở về với vẻ yên tĩnh bên ngoài. Nhưng từ giây phút ấy, không còn gì như trước nữa. Đức Maria mang trong mình Con Thiên Chúa. Mỗi bước chân của Mẹ giờ đây là bước chân của người đang cưu mang Đấng Cứu Thế. Mỗi nhịp tim của Mẹ vang bên cạnh nhịp tim của Ngôi Lời nhập thể. Mẹ không chạy đi loan báo cho cả làng biết mình đã nhận được đặc ân nào, không tìm cách chứng minh cho người khác thấy mình quan trọng. Mẹ lập tức lên đường đến với bà Êlisabét để phục vụ. Đó là dấu hiệu rõ ràng của người đã thật sự đón nhận Thiên Chúa: họ không khép mình trong niềm vui riêng, nhưng lên đường mang Chúa đến cho người khác. Ân sủng thật không làm người ta tự mãn; ân sủng làm người ta trở thành người phục vụ.

Ước gì mỗi người chúng ta cũng biết mở lòng trước cách hành động âm thầm của Thiên Chúa. Đừng chỉ tìm Ngài trong những phép lạ phi thường, nhưng hãy nhận ra Ngài trong những điều bình dị. Đừng coi thường những bổn phận nhỏ, vì có thể đó là nơi Ngài đang chờ một lời xin vâng. Đừng nản lòng khi điều tốt mình làm chưa được ai nhìn thấy, vì Thiên Chúa nhìn thấy. Đừng nghĩ cuộc đời mình vô nghĩa chỉ vì không tạo được tiếng vang. Căn nhà Nadarét chẳng có tiếng vang nào trong ngày Truyền Tin, nhưng từ đó cả nhân loại được đổi thay. Một đời sống âm thầm nhưng thuộc trọn về Chúa có thể sinh ra hoa trái mà ta không bao giờ đo lường hết.

Lạy Đức Maria, Mẹ của lời xin vâng, xin dạy chúng con biết lắng nghe giữa một thế giới quá nhiều tiếng ồn, biết tin tưởng khi chưa hiểu hết, biết phó thác khi con đường phía trước còn mờ tối, biết trao cho Chúa sự tự do của mình để Ngài thực hiện những điều tốt đẹp. Xin biến tâm hồn chúng con thành một căn nhà Nadarét, đơn sơ nhưng rộng mở, nghèo khó nhưng đầy lòng tin, nhỏ bé nhưng có chỗ cho Thiên Chúa ngự vào. Xin cho các gia đình chúng con trở thành những mái ấm nơi Đức Kitô được đón nhận, nơi người ta biết yêu thương, tha thứ, phục vụ và nâng đỡ nhau. Xin cho chúng con đừng chạy theo sự ồn ào của thế gian, nhưng biết quý trọng những điều âm thầm, bởi chính trong thinh lặng, hạt giống Nước Trời lớn lên.

Và lạy Chúa, khi Chúa đến gõ cửa đời chúng con bằng một lời mời gọi, một trách nhiệm, một hy sinh hay một con người cần được yêu thương, xin đừng để chúng con khép cửa vì sợ hãi. Xin cho chúng con đủ khiêm nhường để thưa như Đức Maria: “Này con là tôi tớ Chúa, xin Chúa cứ làm cho con như lời Ngài muốn.” Bởi chúng con tin rằng mỗi lời xin vâng nhỏ bé được nói với tình yêu đều có thể trở thành khởi điểm của một công trình lớn lao; mỗi mái nhà biết đón Chúa đều có thể trở thành một Nadarét mới; và mỗi tâm hồn để Thiên Chúa ngự vào đều có thể trở thành nơi ơn cứu độ tiếp tục được sinh ra cho thế giới hôm nay.

 

MAGNIFICAT – TIẾNG HÁT CỦA NGƯỜI NGHÈO ĐƯỢC THIÊN CHÚA ĐOÁI THƯƠNG

“Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi.” Lời ca ấy đã vang lên từ căn nhà nhỏ của bà Êlisabét, nhưng sức ngân của nó đã vượt khỏi những bức tường đơn sơ của một gia đình miền sơn cước Giuđê để đi vào lịch sử cứu độ, đi vào lời cầu nguyện của Hội Thánh và đi vào trái tim của biết bao thế hệ tín hữu. Bài ca Magnificat không phải là một bài thơ được sáng tác trong những giờ phút thanh nhàn, cũng không phải là lời tán tụng của một người đang sống trong vinh quang, giàu sang và được mọi người tung hô. Đó là tiếng hát của một thiếu nữ nghèo quê Nadarét, một người vô danh giữa một dân tộc nhỏ bé, một người không có địa vị trong xã hội, không có quyền lực trong tay, không có gì để bảo đảm cho tương lai ngoài một niềm tin trọn vẹn nơi Thiên Chúa. Chính vì thế, Magnificat là tiếng hát của người nghèo, nhưng không phải là tiếng than thân trách phận; là tiếng hát của người bé nhỏ, nhưng không mang mặc cảm tự ti; là lời của một tâm hồn khiêm nhường, nhưng lại chất chứa một sức mạnh có thể làm rung chuyển mọi ngai vàng của kiêu căng và bất công. Nơi bài ca này, Đức Maria không nói nhiều về mình, không kể công, không nhấn mạnh đến sự cao trọng của bản thân, nhưng tất cả tâm hồn Mẹ hướng về Thiên Chúa, Đấng đã đoái nhìn đến phận hèn của người nữ tỳ, Đấng đã làm cho Mẹ biết bao điều cao cả, Đấng thánh thiện, quyền năng và giàu lòng thương xót. Mẹ nhận mình chỉ là một nữ tỳ bé nhỏ, nhưng chính nơi sự bé nhỏ ấy, Mẹ đã để cho Thiên Chúa thực hiện những điều lớn lao. Vì vậy, Magnificat trước hết là lời chứng rằng Thiên Chúa không bỏ quên người nghèo, không làm ngơ trước người khiêm hạ, không chỉ nhìn đến những ai có danh tiếng, địa vị hay sức mạnh, nhưng Ngài cúi xuống trên những con người mà thế gian thường không để ý tới. Thiên Chúa nhìn thấy điều mà người đời không nhìn thấy. Ngài nghe được tiếng thở dài không ai nghe, thấu hiểu nỗi đau không ai biết và ghi nhớ những giọt nước mắt âm thầm rơi xuống trong đêm tối. Trước mặt thế gian, Đức Maria chỉ là một cô gái nghèo. Trước mặt Thiên Chúa, Mẹ là người đã hoàn toàn thuộc về Ngài, là tâm hồn rộng mở để đón nhận chương trình cứu độ và là người nữ được chọn để cưu mang Con Thiên Chúa.

Khi cất lên lời “Chúa đã đoái thương nhìn tới phận hèn tớ nữ”, Đức Maria không hề phủ nhận sự thấp bé của mình. Mẹ cũng không cố tạo cho mình một vẻ khiêm nhường giả tạo. Mẹ biết rõ mình là ai, biết mình đến từ một làng quê chẳng có gì nổi bật, biết mình không thuộc hàng quyền quý, không được học hành như những kinh sư, không có tiếng nói trong những hội đường lớn và không có ảnh hưởng giữa những người lãnh đạo. Thế nhưng, Mẹ cũng biết rõ Thiên Chúa là ai. Chính vì biết Thiên Chúa là Đấng quyền năng, Mẹ không sợ sự nhỏ bé của mình. Chính vì tin Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót, Mẹ không thất vọng về phận hèn của mình. Chính vì xác tín rằng Thiên Chúa có thể làm nên những điều kỳ diệu từ những gì yếu đuối nhất, Mẹ đã để cho Ngài sử dụng cả cuộc đời mình. Đây là điều rất khác với lối sống của con người hôm nay. Chúng ta thường chỉ cảm thấy mình có giá trị khi được người khác nhìn nhận, khi có địa vị, tiền bạc, thành công hay lời khen. Chúng ta dễ buồn vì mình không nổi bật, dễ mặc cảm vì thua kém người khác, dễ chán nản khi những cố gắng của mình không được ghi nhận. Có người sống cả đời chỉ để tìm một ánh nhìn từ thiên hạ, nhưng lại quên rằng ánh nhìn quan trọng nhất là ánh nhìn của Thiên Chúa. Đức Maria dạy ta rằng không phải người đời nhìn ta thế nào mới quyết định giá trị của ta, nhưng là Thiên Chúa đã nhìn ta bằng tình yêu ra sao. Khi Thiên Chúa đoái nhìn, người bé nhỏ trở nên lớn lao. Khi Thiên Chúa chạm đến, cuộc đời âm thầm có thể trở thành khí cụ cứu độ. Khi Thiên Chúa bước vào, những điều tưởng như vô nghĩa lại được đặt vào một chương trình vượt quá mọi suy tính của con người. Mẹ không trở nên cao trọng vì tự mình nâng mình lên, nhưng vì đã để Thiên Chúa nâng mình lên. Mẹ không tìm cách làm cho tên tuổi mình được biết đến, nhưng chính Thiên Chúa khiến muôn thế hệ khen Mẹ có phúc. Mẹ không chạy theo vinh quang, nhưng vinh quang đích thực lại đến với Mẹ vì Mẹ sống hoàn toàn cho Chúa. Đó là nghịch lý của Tin Mừng: ai tìm mình sẽ đánh mất mình, ai quên mình vì Chúa sẽ tìm lại chính mình; ai cố nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, ai hạ mình xuống sẽ được nâng cao.

Bài ca Magnificat còn là lời công bố mạnh mẽ về cách Thiên Chúa hành động trong lịch sử: “Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng; Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.” Đây không phải là một lời kích động hận thù giữa người nghèo và người giàu, cũng không phải là lời kêu gọi lật đổ bằng bạo lực. Đức Maria không lên án quyền lực tự bản chất, cũng không khẳng định rằng mọi người nghèo đều tốt và mọi người giàu đều xấu. Điều Mẹ nói đến là sự đảo ngược những trật tự sai lạc do lòng kiêu căng tạo nên. Khi con người sử dụng quyền lực để áp bức, dùng tiền bạc để chà đạp người yếu thế, dùng tri thức để khinh thường người ít học, dùng vị trí để phục vụ bản thân thay vì phục vụ tha nhân, thì Thiên Chúa không thể mãi im lặng. Ngài có thể kiên nhẫn, nhưng sự kiên nhẫn của Ngài không có nghĩa là Ngài đồng lõa với bất công. Ngài có thể cho con người thời gian để sám hối, nhưng sự chậm trễ của Ngài không có nghĩa là Ngài quên những tiếng kêu của người bị áp bức. Magnificat nhắc cho mọi thế lực trần gian rằng không có ngai vàng nào đứng vững mãi nếu ngai ấy được xây trên nước mắt người nghèo. Không có quyền lực nào tồn tại bền lâu nếu quyền lực ấy chối bỏ công lý. Không có sự kiêu căng nào có thể thách thức Thiên Chúa mãi mãi. Những người tưởng mình mạnh có thể bị hạ xuống, còn những người bị coi thường có thể được nâng lên. Những kẻ từng đứng ở vị trí cao có thể trở nên trống rỗng, còn những người đã sống trong thiếu thốn lại được no đầy. Thiên Chúa không nhìn con người theo thang giá trị của xã hội. Thế gian nhìn vào áo quần, chức tước, tài sản và ảnh hưởng; Thiên Chúa nhìn vào tâm hồn. Thế gian cúi đầu trước người quyền thế; Thiên Chúa cúi xuống bên người đau khổ. Thế gian dành chỗ danh dự cho người giàu; Thiên Chúa dọn bàn tiệc cho người nghèo. Thế gian có thể đóng cửa trước người bé nhỏ; Thiên Chúa mở cửa Nước Trời cho những ai có tâm hồn nghèo khó. Bởi vậy, tiếng hát của Đức Maria là tiếng hát mang niềm hy vọng cho những người thấp cổ bé miệng, những người bị lãng quên, những người làm việc âm thầm mà chẳng ai cảm ơn, những người sống lương thiện mà vẫn gặp thiệt thòi, những người bị đánh giá thấp chỉ vì họ nghèo, ít học hoặc không có ai nâng đỡ. Magnificat nói với họ rằng Thiên Chúa thấy tất cả. Ngài không bỏ quên một nghĩa cử âm thầm, không để mất một giọt nước mắt, không coi thường một hy sinh nhỏ bé và không để người trung tín phải thất vọng mãi mãi.

“Chúa cho kẻ đói nghèo được no đầy, người giàu có lại đuổi về tay trắng.” Câu hát này không chỉ nói đến cái đói của cơm bánh, mà còn chạm đến bao cơn đói sâu hơn trong lòng con người. Có những người thiếu cơm ăn, áo mặc, thiếu một mái nhà, thiếu thuốc men và một cuộc sống xứng đáng. Nhưng cũng có những người đầy tiền bạc mà lại đói tình thương, nhiều tiện nghi mà vẫn đói bình an, có cả thế giới trong tay mà tâm hồn vẫn trống rỗng. Người thực sự đói là người biết mình cần Thiên Chúa. Người thực sự nghèo là người nhận ra mình không thể tự cứu mình. Người thực sự khiêm nhường là người dám mở đôi tay trống để đón nhận ân sủng. Trái lại, người giàu bị đuổi về tay trắng không nhất thiết là người có nhiều tài sản, nhưng là người tự mãn, người cho rằng mình không cần ai, kể cả Thiên Chúa. Họ đầy của cải nhưng không còn chỗ cho lòng thương xót; đầy hiểu biết nhưng không còn chỗ cho mầu nhiệm; đầy quyền lực nhưng không còn chỗ cho sự phục vụ; đầy cái tôi nên không còn chỗ cho Thiên Chúa. Một người có thể nghèo vật chất mà rất giàu lòng bác ái. Một người có thể giàu tiền bạc mà vẫn có tâm hồn nghèo khó nếu biết mọi sự mình có là hồng ân và dùng những gì mình có để phục vụ. Điều Magnificat cảnh báo không phải là sở hữu, nhưng là sự chiếm hữu; không phải là giàu có, nhưng là để của cải làm cho lòng mình khép lại; không phải là có quyền lực, nhưng là biến quyền lực thành công cụ thống trị. Thiên Chúa cho người đói được no đầy vì người đói còn biết mở miệng kêu xin. Ngài đuổi người giàu về tay trắng vì người ấy tưởng tay mình đã đầy rồi, không còn cần nhận gì từ Ngài nữa. Có lẽ điều đáng sợ nhất trong đời sống thiêng liêng không phải là nghèo, nhưng là tưởng mình giàu; không phải là yếu đuối, nhưng là nghĩ mình mạnh; không phải là tội lỗi, nhưng là tin rằng mình không cần hoán cải. Người tội lỗi biết khóc còn gần Nước Trời hơn người đạo đức chỉ biết tự hào. Người bé nhỏ biết cầu xin còn dễ gặp Chúa hơn người thông thái chỉ tin vào lý lẽ của mình. Người nghèo biết chia sẻ đôi khi giàu hơn người có dư mà không biết cho đi.

Bài ca Magnificat cũng là bài ca của lòng thương xót: “Chúa độ trì Ítraen, tôi tớ của Người, như đã hứa cùng cha ông chúng ta, vì Người nhớ lại lòng thương xót dành cho tổ phụ Ápraham và cho con cháu đến muôn đời.” Đức Maria nhìn biến cố đang xảy ra nơi cuộc đời mình không như một việc riêng tư, nhưng như sự tiếp nối của cả một lịch sử dài Thiên Chúa trung thành với dân Người. Hài Nhi Mẹ đang cưu mang chính là lời hứa đã được loan báo từ ngàn xưa, là dấu chỉ Thiên Chúa không quên giao ước, là bằng chứng lòng thương xót của Ngài không hề cạn. Con người có thể quên Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa không quên con người. Dân Chúa nhiều lần bất trung, phản loạn, chạy theo ngẫu tượng và đánh mất niềm tin, nhưng Thiên Chúa vẫn tìm đường đưa họ trở về. Ngài sửa dạy nhưng không tiêu diệt, xét xử nhưng vẫn mở lối tha thứ, để con người phải trải qua hậu quả của tội lỗi nhưng không bỏ họ trong tuyệt vọng. Khi Đức Maria hát rằng Thiên Chúa nhớ lại lòng thương xót, Mẹ không có ý nói rằng có lúc Thiên Chúa đã quên rồi mới chợt nhớ ra. Theo ngôn ngữ Kinh Thánh, Thiên Chúa nhớ nghĩa là Ngài hành động, Ngài thực hiện điều đã hứa, Ngài can thiệp để cứu độ. Thiên Chúa nhớ ông Nôê nên làm cho nước rút. Thiên Chúa nhớ dân đang nô lệ nên gọi Môsê giải thoát họ. Thiên Chúa nhớ giao ước nên sai Con Một đến trần gian. Trong Đức Giêsu, lòng thương xót không còn là một ý tưởng, nhưng có khuôn mặt, có đôi tay, có tiếng nói, có một trái tim biết rung động trước nỗi đau con người. Thiên Chúa đã nhớ đến nhân loại bằng cách trao ban chính Con của Ngài. Còn Đức Maria là người đã mở lòng mình để lòng thương xót ấy đi vào thế gian. Mẹ không giữ Chúa Giêsu cho riêng mình. Ngay sau biến cố Truyền Tin, Mẹ vội vã lên đường đến với bà Êlisabét. Người đã nhận được lòng thương xót trở thành người mang lòng thương xót. Người đã được Thiên Chúa đoái thương không thể tiếp tục sống khép kín. Magnificat vì thế không chỉ là lời ca trên môi, nhưng là một lối sống. Mẹ hát lòng thương xót vì Mẹ đang sống lòng thương xót. Mẹ ngợi khen Thiên Chúa bằng lời ca, nhưng cũng ngợi khen Ngài bằng những bước chân vội vã đi phục vụ người chị họ lớn tuổi.

Chúng ta vẫn đọc Magnificat trong kinh chiều mỗi ngày, nhưng điều quan trọng không phải chỉ là đọc đúng từng lời, mà là để tinh thần của bài ca ấy thấm vào đời sống. Ta có thể hát “Chúa nâng cao người khiêm nhường” nhưng trong lòng lại thích được nâng cao hơn người khác. Ta có thể đọc “Chúa hạ bệ kẻ quyền thế” nhưng chính mình lại dùng một chút quyền nhỏ bé để làm người khác đau. Ta có thể nói “Chúa cho người đói nghèo được no đầy” nhưng lại thờ ơ trước người thiếu thốn ngay bên cạnh. Ta có thể ca tụng lòng thương xót của Chúa nhưng lại khắt khe, cay nghiệt và không cho người khác cơ hội sửa đổi. Khi đó, Magnificat chỉ còn là âm thanh trên môi mà chưa trở thành lời cầu trong đời. Sống Magnificat là tập nhìn người nghèo bằng ánh mắt của Thiên Chúa, không thương hại họ từ trên cao, nhưng nhận ra nơi họ có một phẩm giá không ai được phép xúc phạm. Sống Magnificat là biết dùng quyền lực như cơ hội phục vụ, dùng tiền bạc như phương tiện chia sẻ, dùng kiến thức để nâng người khác lên, dùng ảnh hưởng để bảo vệ những người yếu thế. Sống Magnificat là không chen lấn để tìm chỗ cao, không lấy thành công của người khác làm lý do để ghen tị, không tự hào khi hơn người và không tuyệt vọng khi mình thua kém. Sống Magnificat là biết nói lời tạ ơn ngay cả khi đời còn nhiều điều chưa trọn vẹn, bởi vì ta tin Thiên Chúa vẫn đang âm thầm thực hiện chương trình của Ngài. Đức Maria hát Magnificat khi tương lai trước mặt Mẹ không hề rõ ràng. Mẹ chưa biết phải giải thích thế nào với thánh Giuse, chưa biết người đời sẽ nhìn mình ra sao, chưa biết những đau khổ nào đang chờ đợi. Thế nhưng Mẹ vẫn hát. Mẹ không hát vì mọi khó khăn đã được giải quyết, nhưng vì tin rằng Thiên Chúa đang hiện diện. Đó mới là đức tin thật: không phải chỉ ca tụng Chúa khi mọi sự thuận lợi, nhưng vẫn có thể ngợi khen Ngài giữa những điều chưa hiểu; không phải chỉ tạ ơn khi nhận được điều mình xin, nhưng vẫn tín thác khi lời cầu nguyện dường như chưa được đáp lại.

Tiếng hát của Đức Maria cũng là lời mời gọi Hội Thánh luôn đứng về phía những người bé nhỏ. Một Hội Thánh hát Magnificat không thể là một Hội Thánh chỉ tìm kiếm danh vọng, đặc quyền hay sự kính trọng của thế gian. Một Hội Thánh thuộc về Mẹ phải là Hội Thánh biết cúi xuống rửa chân, biết mở cửa đón người nghèo, biết lắng nghe tiếng nói của người bị tổn thương và biết dùng sự thật để bảo vệ những ai không có khả năng tự bảo vệ mình. Nếu Hội Thánh chỉ gần người quyền thế mà xa người nghèo, chỉ chăm chút vẻ bên ngoài mà quên những vết thương của con người, thì Hội Thánh ấy chưa sống trọn tinh thần Magnificat. Đức Maria không ca tụng một Thiên Chúa đứng về phía kẻ mạnh, nhưng ca tụng một Thiên Chúa nâng người thấp bé, lấp đầy người đói khát và nhớ đến lòng thương xót. Người môn đệ của Đức Kitô cũng phải đi theo con đường ấy. Không phải bằng những khẩu hiệu lớn, nhưng bằng những việc nhỏ rất thật: một bữa ăn được chia sẻ, một người bệnh được thăm viếng, một người cô đơn được lắng nghe, một đứa trẻ nghèo được đến trường, một người lầm lỗi được trao cơ hội bắt đầu lại. Mỗi khi một người bé nhỏ được nâng dậy, Magnificat lại được hát lên. Mỗi khi một người đói được no, một người đau khổ được an ủi, một người bị loại trừ được đón nhận, lời ca của Đức Maria lại vang lên giữa thế giới. Có những người không bao giờ bước vào nhà thờ, không thuộc một kinh nguyện nào, nhưng họ có thể gặp được Thiên Chúa qua cách người Kitô hữu đối xử với họ. Chính đời sống bác ái là phần tiếp nối của bài ca Magnificat.

Thế giới hôm nay vẫn có những ngai vàng của kiêu căng, những quyền lực chà đạp người yếu thế, những khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, những người sống dư thừa bên cạnh những người không có đủ cơm ăn. Có những tiếng nói rất lớn được lắng nghe, còn tiếng khóc của người nghèo lại chìm trong im lặng. Có những người chỉ vì không có tiền mà bị coi thường, chỉ vì không có học vị mà bị gạt sang bên, chỉ vì yếu đuối mà bị biến thành nạn nhân. Trong bối cảnh ấy, Magnificat vẫn là một bài ca mang tính ngôn sứ. Nó nhắc rằng lịch sử không nằm hoàn toàn trong tay những kẻ quyền thế. Thiên Chúa vẫn là Chúa của lịch sử. Những đế quốc từng tưởng mình bất diệt rồi cũng qua đi. Những ngai vàng từng làm cả thế giới sợ hãi rồi cũng sụp đổ. Chỉ có lòng thương xót của Thiên Chúa tồn tại từ đời nọ đến đời kia. Điều nâng đỡ người nghèo không phải là sự bảo đảm rằng họ sẽ lập tức thoát khỏi mọi đau khổ, nhưng là niềm tin rằng đau khổ của họ không vô nghĩa, tiếng kêu của họ không rơi vào khoảng không và Thiên Chúa sẽ có lời cuối cùng. Người nghèo có thể bị lấy mất nhiều thứ, nhưng không ai có thể lấy mất phẩm giá mà Thiên Chúa đã ban. Người khiêm nhường có thể bị đẩy xuống hàng cuối, nhưng trong Nước Thiên Chúa, họ lại được mời lên hàng đầu. Người sống công chính có thể chịu thiệt thòi, nhưng họ không bị quên lãng. Magnificat là tiếng hát giúp người nghèo ngẩng đầu lên, không phải vì kiêu ngạo, nhưng vì biết rằng mình được Thiên Chúa yêu thương.

Mỗi người chúng ta đều có thể tìm thấy mình trong bài ca ấy. Có lúc ta là người nghèo cần được Chúa nâng dậy. Có lúc ta lại là người giàu cần được cảnh tỉnh. Có lúc ta là người bị tổn thương cần lòng thương xót. Có lúc ta lại là người đang nắm quyền quyết định số phận của một người khác. Vì thế, Magnificat không chỉ an ủi, mà còn xét hỏi. Khi ta ở vị trí thấp, bài ca giúp ta hy vọng. Khi ta ở vị trí cao, bài ca nhắc ta khiêm nhường. Khi ta thiếu thốn, bài ca dạy ta tín thác. Khi ta dư đầy, bài ca hỏi ta đã biết chia sẻ hay chưa. Khi ta bị coi thường, bài ca nói Thiên Chúa đang nhìn đến ta. Khi ta được tôn trọng, bài ca nhắc rằng mọi sự là hồng ân. Đức Maria không chỉ dạy ta hát, Mẹ dạy ta sống sao cho cả cuộc đời trở thành một bài Magnificat. Một đời sống không quy mọi sự về mình, nhưng quy về Thiên Chúa. Một đời sống không tìm vinh quang cá nhân, nhưng làm cho lòng thương xót của Chúa được nhận biết. Một đời sống không khép kín trong những bận tâm riêng, nhưng biết vội vã lên đường đến với người cần mình.

Lạy Mẹ Maria, người nữ nghèo của Nadarét, Mẹ đã không có gì ngoài một trái tim hoàn toàn mở ra cho Thiên Chúa, nhưng chính vì thế Mẹ đã trở nên người giàu có nhất, bởi Mẹ cưu mang trong lòng mình chính Đấng Cứu Thế. Xin dạy chúng con biết nhận ra sự nghèo khó của mình để không còn tự mãn; biết sống khiêm nhường để Thiên Chúa có thể thực hiện những điều lớn lao; biết tin rằng ánh mắt Chúa luôn hướng đến những ai bé nhỏ và bị lãng quên. Xin cho chúng con không chỉ đọc Magnificat bằng môi miệng, nhưng biết hát bài ca ấy bằng cách sống công bằng, bác ái và thương xót. Xin cho những người nghèo giữa chúng con được nhìn nhận, những người đau khổ được nâng đỡ, những người bị khinh chê được tôn trọng và những ai đang nắm quyền biết dùng quyền lực để phục vụ. Xin cho tâm hồn chúng con luôn biết hớn hở vui mừng trong Thiên Chúa, ngay cả khi cuộc đời còn nhiều thử thách, bởi chúng con tin rằng Ngài không bao giờ quên lời đã hứa, không bao giờ bỏ rơi người khiêm hạ và lòng thương xót của Ngài vẫn trải dài từ đời nọ đến đời kia. Ước gì giữa một thế giới còn quá nhiều tiếng ồn của kiêu căng, ích kỷ và tranh giành, đời sống chúng con trở thành tiếng Magnificat âm thầm nhưng bền bỉ, để mọi người nhận ra rằng Thiên Chúa vẫn đang nâng cao người bé nhỏ, vẫn đang lấp đầy những tâm hồn đói khát và vẫn nhớ mãi lòng thương xót của Ngài dành cho con người đến muôn đời.

 

ĐỨC MARIA LÀ MẸ THIÊN CHÚA – TƯỚC HIỆU NÓI VỀ MẸ, NHƯNG TRƯỚC HẾT TUYÊN XƯNG ĐỨC GIÊSU KITÔ

Kính thưa cộng đoàn,

Khi Hội Thánh long trọng tuyên xưng Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, có lẽ nhiều người trong chúng ta cảm thấy đây là một tước hiệu thật cao cả, thật huy hoàng và dường như chỉ nhằm tôn vinh Đức Mẹ. Quả thật, không có thụ tạo nào được Thiên Chúa ban cho một phẩm giá cao trọng như Đức Maria. Không có người phụ nữ nào trong lịch sử nhân loại được gọi bằng một danh xưng vừa dịu dàng, vừa nhiệm mầu, vừa vượt quá mọi trí hiểu của con người như danh xưng Mẹ Thiên Chúa. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc ca ngợi Đức Maria, chúng ta vẫn chưa hiểu hết chiều sâu của tước hiệu này. Bởi vì tước hiệu Mẹ Thiên Chúa, trước khi nói về vinh dự của Đức Maria, lại là một lời tuyên xưng đức tin vô cùng mạnh mẽ về căn tính của Đức Giêsu Kitô. Hội Thánh gọi Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa không phải để đặt Mẹ ngang hàng với Thiên Chúa, càng không phải để nói rằng Mẹ có trước Thiên Chúa hay sinh ra bản tính Thiên Chúa. Hội Thánh gọi Mẹ là Mẹ Thiên Chúa bởi vì Người Con mà Mẹ đã cưu mang, sinh hạ, bồng ẵm, nuôi dưỡng và trao ban cho nhân loại chính là Đức Giêsu Kitô, Ngôi Hai Thiên Chúa làm người. Người là Thiên Chúa thật và cũng là người thật. Người không phải là một con người bình thường được Thiên Chúa nhận làm con sau này; cũng không phải là một con người được Thiên Chúa ngự vào như ngự trong một ngôi đền; càng không phải là hai nhân vật đứng cạnh nhau, một bên là Thiên Chúa và một bên là con người. Đức Giêsu chỉ là một Ngôi vị duy nhất, Ngôi vị của Con Thiên Chúa, nhưng Người có hai bản tính trọn vẹn: bản tính Thiên Chúa và bản tính nhân loại. Chính Ngôi Lời vĩnh cửu ấy đã thật sự mang lấy xác phàm trong lòng Đức Trinh Nữ Maria. Vì thế, người con được sinh ra bởi Đức Maria không phải chỉ là “một phần con người” của Đức Giêsu, nhưng là chính Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống. Bởi vậy, gọi Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa chính là bảo vệ chân lý rằng Đức Giêsu Kitô thật sự là Thiên Chúa đã làm người.

Tin Mừng thánh Gioan mở đầu bằng lời tuyên xưng hết sức long trọng: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa.” Rồi thánh sử nói tiếp: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta.” Ngôi Lời không phải mới bắt đầu hiện hữu khi được thụ thai trong lòng Đức Maria. Người đã có từ đời đời. Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh Sáng bởi Ánh Sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật. Thế nhưng, trong một thời điểm của lịch sử, Ngôi Lời vĩnh cửu ấy đã chọn bước vào thế giới của con người, không phải bằng tiếng sấm chớp vang trời, không phải bằng sức mạnh khiến muôn dân run sợ, nhưng bằng con đường nhỏ bé và âm thầm nhất: trở thành một thai nhi trong lòng một người mẹ. Đấng mà trời cao không thể chứa nổi lại tự nguyện ở trong cung lòng Đức Maria. Đấng dựng nên muôn tinh tú lại để cho một người phụ nữ cưu mang. Đấng nuôi sống muôn loài lại nhận dòng sữa của một người mẹ. Đấng là Lời quyền năng đã phán một lời thì vũ trụ được tạo thành, lại học nói những tiếng đầu đời trong mái nhà Nadarét. Đấng cầm giữ vận mạng lịch sử lại để cho bàn tay của Đức Maria bồng ẵm, chăm sóc và dẫn dắt những bước chân bé nhỏ. Đó là mầu nhiệm Nhập Thể. Và chính trong mầu nhiệm Nhập Thể ấy, chúng ta hiểu vì sao Đức Maria được gọi là Mẹ Thiên Chúa.

Khi nói Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, Hội Thánh không có ý nói Mẹ là nguồn gốc của thần tính nơi Đức Giêsu. Đức Maria không sinh ra Thiên Chúa xét theo bản tính Thiên Chúa, bởi Con Thiên Chúa được Chúa Cha sinh ra từ trước muôn đời. Nhưng trong thời gian, Đức Maria đã thật sự sinh hạ chính Ngôi Con Thiên Chúa trong bản tính nhân loại mà Người đã đón nhận từ Mẹ. Một người mẹ không chỉ là mẹ của thân xác con mình, nhưng là mẹ của chính người con ấy. Khi một người phụ nữ sinh một đứa trẻ, chúng ta không nói bà chỉ là mẹ của thân xác đứa trẻ, còn linh hồn đứa trẻ thì không liên quan đến bà. Chúng ta gọi bà là mẹ của toàn thể con người ấy. Cũng vậy, Đức Maria không phải là mẹ của thần tính nơi Đức Giêsu, nhưng Mẹ là Mẹ của chính Ngôi vị Đức Giêsu Kitô; mà Ngôi vị ấy là Ngôi Con Thiên Chúa. Vì thế, Mẹ thật sự là Mẹ Thiên Chúa. Tước hiệu ấy không làm cho Mẹ trở thành nữ thần, không đặt Mẹ vào trong Ba Ngôi Thiên Chúa, nhưng tuyên xưng rằng Người Con Mẹ sinh ra là Thiên Chúa thật. Nếu Đức Maria chỉ là mẹ của một con người mang tên Giêsu, còn Con Thiên Chúa là một nhân vật khác, thì mầu nhiệm Nhập Thể đã bị phá vỡ, ơn cứu độ của chúng ta cũng không còn nền tảng. Nhưng nếu Người nằm trong máng cỏ Bêlem thật sự là Thiên Chúa làm người, thì người phụ nữ đã sinh hạ Người phải được gọi là Mẹ Thiên Chúa.

Trong biến cố Truyền Tin, sứ thần Gabriel đã nói với Đức Maria: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà; vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.” Sứ thần không nói rằng Mẹ sẽ sinh ra một con người bình thường, rồi sau đó người ấy mới trở thành Con Thiên Chúa. Ngay từ giây phút được thụ thai trong lòng Mẹ, Đấng ấy đã là Con Thiên Chúa. Chính Ngôi Con đời đời của Chúa Cha đã nhận lấy nhân tính trong cung lòng Đức Maria. Mầu nhiệm không nằm ở chỗ một con người vươn lên để trở thành Thiên Chúa, nhưng ở chỗ Thiên Chúa hạ mình để trở thành con người. Không phải một phàm nhân tự mặc lấy vinh quang Thiên Chúa, nhưng là Con Thiên Chúa tự khoác lấy sự yếu đuối của kiếp người. Người không chỉ mang dáng vẻ bề ngoài của con người, nhưng thật sự có một thân xác, một linh hồn, một trái tim, một ý chí và những cảm xúc của con người. Người thật sự sinh ra, thật sự lớn lên, thật sự đói khát, mệt mỏi, vui buồn, đau đớn và chết. Nhưng trong tất cả những điều ấy, Người vẫn là Con Thiên Chúa hằng sống. Vì thế, khi Đức Maria sinh Đức Giêsu tại Bêlem, Mẹ đã sinh một con người thật; nhưng con người ấy chính là Thiên Chúa thật. Đây là điểm trung tâm của đức tin Kitô giáo.

Chúng ta cần nhấn mạnh điều này, bởi vì đôi khi lòng đạo đức bình dân có thể khiến người ta nói rất nhiều về Đức Maria nhưng lại quên mất Đức Kitô. Người ta có thể tổ chức những cuộc rước long trọng, dâng nhiều hoa đẹp, đọc nhiều kinh, hát nhiều bài ca về Mẹ, nhưng đời sống lại không có chỗ cho Lời Chúa, không có lòng yêu mến Thánh Thể, không có sự hoán cải và không có tinh thần sống theo Tin Mừng. Một lòng sùng kính Đức Maria mà không dẫn đến Đức Kitô sẽ không còn là lòng sùng kính đích thực. Chính Đức Maria không bao giờ giữ chúng ta lại cho riêng Mẹ. Mẹ luôn đưa chúng ta đến với Con của Mẹ. Ở tiệc cưới Cana, lời quan trọng nhất Mẹ nói không phải là lời ca tụng chính mình, nhưng là lời căn dặn các gia nhân: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Cả cuộc đời Đức Maria dường như chỉ là một cử chỉ chỉ về Đức Giêsu và nói với nhân loại rằng: Đây là Con của tôi, nhưng cũng là Chúa của tôi; đây là con trẻ tôi đã sinh ra, nhưng cũng là Đấng đã dựng nên tôi; đây là người tôi đã bồng ẵm trong đôi tay, nhưng cũng là Đấng đang nâng đỡ toàn thể vũ trụ; đây là Đấng đã sống dưới mái nhà của tôi, nhưng cũng là Chúa Tể của trời đất; hãy lắng nghe Người, hãy tin vào Người, hãy bước theo Người và hãy làm tất cả những gì Người truyền dạy.

Bởi đó, càng yêu mến Đức Maria, chúng ta càng phải yêu mến Đức Giêsu. Càng tôn kính Mẹ, chúng ta càng phải gắn bó với Con của Mẹ. Mỗi kinh Kính Mừng được đọc lên phải giúp chúng ta nhận ra rõ hơn rằng “Giêsu, Con lòng Bà gồm phúc lạ” chính là trung tâm của lời kinh. Danh thánh Giêsu nằm ở giữa kinh Kính Mừng như viên ngọc nằm ở trung tâm triều thiên của Mẹ. Những lời ca tụng Đức Maria không khép lại nơi Mẹ, nhưng mở ra về phía Đức Kitô. Mẹ được chúc phúc vì hoa trái lòng Mẹ là Đấng Cứu Thế. Mẹ đầy ân sủng vì Thiên Chúa đã chọn Mẹ để Ngôi Lời mang lấy xác phàm. Mẹ cao trọng không phải vì Mẹ tự làm nên vinh quang cho mình, nhưng vì Mẹ hoàn toàn thuộc về Đức Kitô và để Đức Kitô được hình thành trong Mẹ. Mọi vẻ đẹp của Đức Maria đều phản chiếu vẻ đẹp của Con Mẹ; mọi ân sủng nơi Mẹ đều phát xuất từ công nghiệp cứu chuộc của Đức Kitô; mọi tước hiệu của Mẹ đều có ý nghĩa trong tương quan với mầu nhiệm của Con Thiên Chúa.

Trong lịch sử Hội Thánh, tước hiệu Mẹ Thiên Chúa trở thành một điểm phân định quan trọng về đức tin. Đã có thời người ta muốn tách Đức Giêsu thành hai chủ thể: một người là con của Đức Maria và một Đấng khác là Con Thiên Chúa. Theo lối suy nghĩ ấy, Đức Maria chỉ nên được gọi là “Mẹ của Đức Kitô” theo nghĩa Mẹ của con người Giêsu, chứ không được gọi là Mẹ Thiên Chúa. Nhưng Hội Thánh nhận ra rằng cách nói đó làm tổn thương chính mầu nhiệm của Đức Kitô. Nếu trong Đức Giêsu có hai ngôi vị tách biệt, thì ai đã chịu chết trên thập giá? Chỉ là một con người hay chính Con Thiên Chúa làm người? Ai đã đổ máu để cứu chuộc chúng ta? Chỉ là một phàm nhân hay Đấng là Chúa của sự sống? Ai đã nằm trong máng cỏ? Ai đã đi trên mặt biển? Ai đã tha tội? Ai đã khóc trước mồ Ladarô? Ai đã chịu đóng đinh? Ai đã sống lại? Câu trả lời của đức tin là: chỉ có một Đức Giêsu Kitô duy nhất, Con Thiên Chúa làm người. Chính Đấng là Thiên Chúa đã sinh ra trong thân phận con người; chính Đấng là Thiên Chúa đã đói, đã khát, đã mệt mỏi trong nhân tính; chính Đấng là Thiên Chúa đã chịu đau khổ và chịu chết trong thân xác nhân loại; và cũng chính Đấng ấy đã sống lại vinh quang. Thần tính của Người không đau khổ và không chết, nhưng Ngôi vị chịu đau khổ và chịu chết trong bản tính nhân loại chính là Ngôi Con Thiên Chúa. Do đó, máu đổ ra trên thập giá thật sự là máu của Con Thiên Chúa làm người, và cái chết của Người có giá trị cứu độ cho toàn thể nhân loại.

Đây chính là lý do tước hiệu Mẹ Thiên Chúa không phải là một chuyện phụ thuộc hay một cuộc tranh luận chỉ dành cho các nhà thần học. Tước hiệu ấy liên quan trực tiếp đến ơn cứu độ của mỗi người chúng ta. Nếu Đức Giêsu chỉ là một con người tốt lành, một ngôn sứ vĩ đại, một bậc thầy đạo đức hay một vị tử đạo anh hùng, thì Người không thể cứu chúng ta khỏi quyền lực của tội lỗi và sự chết. Một con người dù thánh thiện đến đâu cũng không thể tự mình nối lại khoảng cách vô tận giữa nhân loại tội lỗi và Thiên Chúa chí thánh. Nhưng Đức Giêsu vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật. Là người thật, Người có thể đại diện cho nhân loại, mang lấy đau khổ của chúng ta, vâng phục thay cho sự bất tuân của chúng ta và chịu chết trong thân xác của chúng ta. Là Thiên Chúa thật, tình yêu, sự vâng phục và hy lễ của Người mang một giá trị vô hạn, đủ sức cứu chuộc muôn người thuộc mọi thời đại. Nơi Đức Kitô, Thiên Chúa thật sự đến với con người, và con người thật sự được đưa về với Thiên Chúa. Chính vì thế, chỉ có Người là Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người. Tước hiệu Mẹ Thiên Chúa bảo đảm rằng Đấng sinh bởi Đức Maria và hiến mình trên thập giá chính là Đấng có thể cứu độ chúng ta.

Có thể nói, nơi cung lòng Đức Maria đã diễn ra cuộc gặp gỡ kỳ diệu giữa trời và đất. Không phải một cuộc gặp gỡ chóng qua, nhưng là một sự kết hợp không bao giờ phân lìa. Ngôi Con Thiên Chúa đã mang lấy nhân tính và sẽ không bao giờ cởi bỏ nhân tính ấy. Sau khi sống lại và lên trời, Đức Giêsu không thôi làm người. Trên ngai vinh quang, Người vẫn là Thiên Chúa làm người, vẫn mang những dấu đinh cứu độ trong thân thể phục sinh. Điều đó có nghĩa là nhân tính của chúng ta đã được đưa vào trong chính sự sống của Thiên Chúa. Thân phận con người không còn là một thực tại xa lạ đối với Thiên Chúa. Thiên Chúa biết thế nào là khóc bằng đôi mắt con người, biết thế nào là đau bằng một thân xác con người, biết thế nào là bị phản bội, bị hiểu lầm, bị bỏ rơi và bị giết chết. Người biết không phải chỉ bằng sự hiểu biết của Đấng toàn tri, nhưng bằng kinh nghiệm thật sự trong nhân tính mà Người nhận từ Đức Maria. Vì vậy, khi chúng ta đau khổ, chúng ta không cầu nguyện với một Thiên Chúa lạnh lùng và xa cách. Chúng ta cầu nguyện với Đức Giêsu, Đấng đã mang lấy thân phận của chúng ta, đã đi qua bóng tối của chúng ta và đã biến chính đau khổ cùng sự chết thành con đường dẫn đến sự sống.

Đức Maria đã trao cho Con Thiên Chúa tất cả những gì một người mẹ trao cho con mình. Từ Mẹ, Đức Giêsu nhận một thân xác thật sự thuộc về dòng giống nhân loại. Dòng máu chảy trong thân thể Đức Giêsu là dòng máu Người nhận từ Đức Maria. Gương mặt nhân loại của Đức Giêsu mang những nét mà hẳn người ta có thể nhận ra sự giống Mẹ. Đôi tay đã chạm đến người phong cùi, đôi mắt đã nhìn người tội lỗi bằng lòng thương xót, trái tim đã rung động trước đám đông bơ vơ, thân xác đã bị đóng đinh trên thập giá, tất cả đều thuộc về nhân tính mà Ngôi Lời nhận lấy trong lòng Đức Maria. Chúng ta không thể nghĩ đến Đức Giêsu làm người mà hoàn toàn tách Người khỏi Đức Maria, bởi chính qua lời “xin vâng” của Mẹ, Người đã bước vào lịch sử nhân loại. Thế nhưng, càng chiêm ngắm sự gần gũi giữa Đức Maria và Đức Giêsu, chúng ta càng phải nhận ra Mẹ không bao giờ che khuất Người. Mẹ giống như ô cửa sổ trong suốt để ánh sáng Đức Kitô đi qua; giống như bình minh báo hiệu Mặt Trời công chính đang đến; giống như chiếc đèn đặt bên Đấng là Ánh Sáng thật. Người Kitô hữu không dừng lại ở bình minh mà quên Mặt Trời, không ôm lấy chiếc đèn mà bỏ quên Ánh Sáng, không ca tụng người mẹ mà quên Người Con là trung tâm của lịch sử cứu độ.

Tước hiệu Mẹ Thiên Chúa cũng giúp chúng ta hiểu đúng về đức khiêm nhường của Đức Maria. Có người nghĩ rằng càng gọi Mẹ bằng những tước hiệu cao trọng thì càng làm Mẹ xa cách con người. Nhưng điều kỳ diệu là người được gọi là Mẹ Thiên Chúa lại chính là người nữ tỳ khiêm hạ của làng Nadarét. Khi sứ thần báo tin Mẹ sẽ cưu mang Con Đấng Tối Cao, Đức Maria không tự phụ, không xem mình là người đặc biệt để được người khác tôn kính. Mẹ chỉ thưa: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Vinh quang của Mẹ nằm trong sự vâng phục. Sự cao cả của Mẹ nằm trong việc để Thiên Chúa hoàn toàn thực hiện ý định của Người. Mẹ không tìm cách trở thành trung tâm; Mẹ để Đức Kitô trở thành trung tâm. Mẹ không tìm cách làm cho tên mình được lưu danh; Mẹ để danh Thiên Chúa được cả sáng. Khi bà Êlisabét gọi Mẹ là “Mẹ của Chúa tôi”, Đức Maria không giữ lời chúc tụng ấy cho mình, nhưng lập tức cất lên bài Magnificat: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa.” Mẹ biết mọi thế hệ sẽ khen Mẹ diễm phúc, nhưng Mẹ cũng biết lý do duy nhất là vì “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả.” Mẹ không chiếm hữu ân sủng nhưng quy tất cả về Thiên Chúa.

Bài học ấy đặc biệt cần thiết cho đời sống đức tin của chúng ta. Có khi chúng ta phục vụ trong giáo xứ, trong hội đoàn, trong cộng đoàn hay trong gia đình, nhưng âm thầm mong người khác nhìn thấy mình, ca ngợi mình và ghi nhận công lao của mình. Có khi chúng ta nói rằng mình làm vì Chúa, nhưng lại buồn bực khi không được nhắc tên, không được ngồi chỗ danh dự hoặc không được người khác biết ơn. Đức Maria dạy chúng ta rằng người thật sự thuộc về Thiên Chúa sẽ không tìm cách đặt mình vào trung tâm. Mẹ đã mang chính Thiên Chúa trong lòng mà vẫn sống âm thầm. Mẹ biết Người Con mình đang cưu mang là Vua vũ trụ, nhưng Mẹ không đòi hỏi một cung điện. Mẹ sinh Đấng Cứu Thế trong hang đá nghèo hèn mà không một lời trách móc. Mẹ nghe lời tiên báo một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn mà vẫn tiếp tục tin tưởng. Mẹ theo Con trên con đường rao giảng mà không tranh giành một vị trí bên cạnh Người. Mẹ đứng dưới chân thập giá, khi mọi vinh quang trần thế dường như đã sụp đổ, mà không rút lại tiếng xin vâng. Mẹ là Mẹ Thiên Chúa không phải vì Mẹ tự nâng mình lên, nhưng vì Mẹ để Thiên Chúa hạ mình xuống trong lòng Mẹ và để chương trình cứu độ được hoàn thành qua cuộc đời Mẹ.

Tuyên xưng Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa cũng giúp chúng ta nhìn lại cách mình đón nhận Đức Giêsu. Nhiều người sẵn sàng chấp nhận Đức Giêsu như một người thầy dạy khôn ngoan, một nhà cải cách xã hội, một mẫu gương yêu thương, nhưng lại ngần ngại tuyên xưng Người là Chúa và là Thiên Chúa. Người ta thích một Đức Giêsu chỉ nói những lời an ủi, nhưng không muốn một Đức Giêsu có quyền đòi hỏi mình hoán cải. Người ta muốn nghe Người nói về tình yêu, nhưng không muốn nghe Người nói: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.” Người ta muốn nhận phúc lành từ Người, nhưng không muốn trao quyền làm chủ cuộc đời cho Người. Thế nhưng, đức tin Kitô giáo không cho phép chúng ta giản lược Đức Giêsu thành một nhân vật đạo đức trong lịch sử. Người là Chúa. Người là Thiên Chúa thật. Người có quyền trên lương tâm, trên chọn lựa, trên thời gian, trên tài năng, trên của cải và trên toàn bộ cuộc đời chúng ta. Gọi Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa đồng nghĩa với việc chúng ta phải quỳ xuống trước Đức Giêsu và thưa như thánh Tôma: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con.”

Nếu Đức Giêsu là Thiên Chúa thật, thì lời Người nói không chỉ là một trong nhiều ý kiến để chúng ta cân nhắc. Lời Người là chân lý và là sự sống. Nếu Đức Giêsu là Thiên Chúa thật, thì Thánh Thể không phải chỉ là một biểu tượng nhắc nhớ một người đã chết trong quá khứ, nhưng là sự hiện diện thật của Đấng Phục Sinh. Nếu Đức Giêsu là Thiên Chúa thật, thì việc tham dự thánh lễ không thể chỉ là một thói quen xã hội hay một sinh hoạt đạo đức tùy thích, nhưng là cuộc gặp gỡ với chính Chúa Tể của đời mình. Nếu Đức Giêsu là Thiên Chúa thật, thì mỗi lần chúng ta cố tình phạm tội, chúng ta không chỉ vi phạm một quy tắc đạo đức, nhưng đang từ chối tình yêu của Đấng đã tạo dựng và cứu chuộc chúng ta. Nếu Đức Giêsu là Thiên Chúa thật, thì mỗi người nghèo, người bệnh, người bị bỏ rơi mà Người tự đồng hóa với họ không thể bị chúng ta xem thường. Nếu Đức Giêsu là Thiên Chúa thật, thì lời mời gọi tha thứ, yêu thương kẻ thù, sống khiêm nhường, trung tín trong hôn nhân, công bằng trong công việc và trong sạch trong tâm hồn không phải là những đề nghị đẹp nhưng không bắt buộc; đó là con đường của sự sống.

Đồng thời, nếu Đức Giêsu là người thật, thì Người không cứu chúng ta từ xa. Người bước vào hoàn cảnh cụ thể của kiếp người. Người có một gia đình, một quê hương, một ngôn ngữ và một lịch sử. Người lao động bằng đôi tay, sống giữa những người hàng xóm, biết thế nào là thiếu thốn, biết nỗi đau mất người thân và cảm nghiệm sự mong manh của thân phận con người. Người không xấu hổ gọi chúng ta là anh em. Nhờ nhân tính thật của Người, mọi thực tại tốt đẹp của con người đều có thể trở thành nơi gặp gỡ Thiên Chúa. Lao động có thể trở thành lời cầu nguyện. Gia đình có thể trở thành mái ấm thánh thiện. Nước mắt có thể trở thành của lễ. Bệnh tật có thể được kết hợp với thập giá. Niềm vui có thể trở thành lời tạ ơn. Tình bạn, tình yêu, trách nhiệm và sự hy sinh hằng ngày đều có thể được thánh hóa. Đức Giêsu không cứu chúng ta bằng cách kéo chúng ta ra khỏi thân phận làm người, nhưng bằng cách chữa lành, đổi mới và đưa chính nhân tính của chúng ta vào sự hiệp thông với Thiên Chúa.

Đây cũng là nguồn an ủi lớn lao cho những ai đang cảm thấy cuộc đời mình quá yếu đuối, quá nghèo nàn hoặc quá tầm thường. Thiên Chúa đã không khinh thường thân xác con người. Người đã không ghê sợ sự nhỏ bé của một thai nhi, sự lệ thuộc của một trẻ thơ, sự đơn điệu của đời sống gia đình hay sự vất vả của lao động. Người đã mang lấy tất cả những điều ấy. Vì thế, chúng ta không cần tìm Thiên Chúa chỉ trong những biến cố phi thường. Người có thể đến với chúng ta trong căn bếp nhỏ, trong phòng bệnh, trong giờ làm việc, trong tiếng khóc của một đứa trẻ, trong việc chăm sóc một người già và trong những bổn phận tưởng như không ai nhìn thấy. Đức Maria trở thành Mẹ Thiên Chúa không phải giữa những tiếng tung hô của đám đông, nhưng trong một căn nhà nhỏ tại Nadarét, bằng một lời xin vâng được thốt ra trong âm thầm. Mầu nhiệm lớn nhất của lịch sử đã bắt đầu trong sự khiêm tốn. Điều đó nhắc chúng ta đừng coi thường những tiếng xin vâng nhỏ bé mỗi ngày. Một người mẹ kiên nhẫn với con, một người cha âm thầm hy sinh cho gia đình, một người con chăm sóc cha mẹ bệnh tật, một người tu sĩ trung thành với giờ kinh, một linh mục tận tụy với đoàn chiên, một người trẻ từ chối cám dỗ để sống trong sạch: những tiếng xin vâng ấy có thể trở thành nơi Đức Kitô tiếp tục được sinh ra cho thế giới.

Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, nhưng Mẹ cũng là người môn đệ đầu tiên của Đức Kitô. Mẹ không chỉ cưu mang Người trong thân xác, mà trước hết đã cưu mang Người bằng đức tin. Trước khi Ngôi Lời thành hình trong lòng Mẹ, Lời đã được đón nhận trong tâm hồn Mẹ. Thánh Augustinô từng nhấn mạnh rằng Đức Maria có phúc vì đã tin vào Đức Kitô hơn là chỉ vì đã sinh Đức Kitô theo xác thể. Điều ấy không làm giảm giá trị của thiên chức làm Mẹ, nhưng cho thấy chiều sâu thật sự của thiên chức ấy. Mẹ là Mẹ Thiên Chúa bởi Mẹ đã mở trọn con người mình cho ý muốn Thiên Chúa. Lời xin vâng của Mẹ không chỉ diễn ra một lần trong ngày Truyền Tin, nhưng được lặp lại suốt cuộc đời: xin vâng khi không tìm được chỗ trọ ở Bêlem; xin vâng khi phải bồng Con chạy sang Ai Cập; xin vâng trong những năm tháng âm thầm tại Nadarét; xin vâng khi không hiểu hết lời Con nói trong Đền Thờ; xin vâng khi Con rời mái nhà để thi hành sứ vụ; xin vâng khi người ta chống đối, vu khống và tìm giết Con; xin vâng khi đứng dưới chân thập giá; xin vâng trong ngày thứ Bảy thinh lặng, khi tảng đá đã khép lại ngôi mộ. Mẹ là Mẹ Thiên Chúa bởi vì Mẹ không ngừng để Thiên Chúa là Thiên Chúa trong cuộc đời mình.

Chúng ta cũng được mời gọi cưu mang Đức Kitô bằng đức tin và sinh Người ra cho thế giới bằng đời sống. Dĩ nhiên, không ai trong chúng ta có thiên chức độc nhất vô nhị như Đức Maria. Nhưng theo nghĩa thiêng liêng, mỗi Kitô hữu đều được mời gọi để Đức Kitô lớn lên trong mình. Mỗi khi chúng ta đón nhận Lời Chúa với tâm hồn vâng phục, Đức Kitô được hình thành trong chúng ta. Mỗi khi chúng ta để cho Thánh Thể biến đổi trái tim mình, Đức Kitô sống trong chúng ta. Mỗi khi chúng ta tha thứ cho người làm mình đau khổ, Đức Kitô được sinh ra giữa một thế giới đầy hận thù. Mỗi khi chúng ta bảo vệ người yếu thế, chăm sóc người nghèo, nói lời sự thật, giữ lòng trong sạch và sống trung tín, Đức Kitô lại trở nên hữu hình giữa nhân loại. Thế giới hôm nay không chỉ cần nghe chúng ta nói về Đức Giêsu; thế giới cần gặp thấy dung mạo Người trong cung cách sống của chúng ta. Người Kitô hữu phải trở thành một “máng cỏ” sống động, một nơi đủ nghèo để Đức Kitô có thể ngự vào, đủ sạch để Người có thể ở lại và đủ mở rộng để người khác có thể gặp Người.

Tước hiệu Mẹ Thiên Chúa còn nhắc chúng ta về phẩm giá của thân xác và sự sống con người. Nếu Con Thiên Chúa đã từng là một thai nhi trong lòng Đức Maria, thì sự sống trong lòng mẹ không bao giờ là một vật vô nghĩa hay một khối tế bào có thể tùy tiện loại bỏ. Chính Thiên Chúa đã chọn bắt đầu cuộc sống nhân loại của Người từ giây phút được thụ thai. Người không bỏ qua bất cứ giai đoạn nào của kiếp người. Người đã sống sự mong manh của thai nhi, sự lệ thuộc của trẻ nhỏ và sự trưởng thành từng ngày của một con người. Vì thế, khi bảo vệ sự sống của một thai nhi, chúng ta không chỉ bảo vệ một nguyên tắc luân lý, nhưng còn tôn trọng chính con đường mà Con Thiên Chúa đã chọn để đến với chúng ta. Khi chăm sóc một người bệnh, một người khuyết tật, một người già yếu hay một người không còn khả năng đóng góp cho xã hội, chúng ta đang tuyên xưng rằng phẩm giá con người không nằm ở sức khỏe, khả năng, tiền bạc hay sự hữu dụng, nhưng được đặt nền trên việc con người được Thiên Chúa yêu thương và được Con Thiên Chúa mang lấy chính thân phận ấy.

Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa cũng mời gọi chúng ta chiêm ngắm tình yêu tự hạ của Thiên Chúa. Thiên Chúa không cứu con người bằng cách đứng từ trời cao ban xuống một mệnh lệnh. Người cứu chúng ta bằng cách đến ở giữa chúng ta. Người không chỉ gửi một sứ điệp, nhưng trao ban chính Con Một. Người không chỉ nói rằng Người yêu nhân loại, nhưng để Con của Người mang lấy thịt và máu của nhân loại. Từ giây phút Nhập Thể, chúng ta hiểu rằng Thiên Chúa không sợ sự gần gũi. Người bước vào một gia đình, chấp nhận có một người mẹ, để cho mình được yêu thương bằng tình yêu nhân loại. Một Thiên Chúa chấp nhận gọi một người phụ nữ là Mẹ là một Thiên Chúa đã hạ mình đến tận cùng. Nhưng chính trong sự tự hạ ấy, quyền năng của Người được tỏ lộ. Quyền năng của Thiên Chúa không phải là quyền năng nghiền nát kẻ yếu, nhưng là quyền năng có thể trở nên yếu đuối vì yêu. Không phải quyền năng đứng trên người khác, nhưng là quyền năng cúi xuống rửa chân. Không phải quyền năng tránh né đau khổ, nhưng là quyền năng mang lấy đau khổ để cứu người mình yêu.

Và đó cũng phải là con đường của Hội Thánh. Hội Thánh chỉ thật sự trung thành với Đức Kitô khi biết mang lấy những đau khổ của con người, biết trở nên gần gũi với người nghèo, người bị bỏ rơi, người tội lỗi và những người đang mất hy vọng. Hội Thánh không thể chỉ rao giảng một Thiên Chúa từ xa, bởi Thiên Chúa mà Hội Thánh tuyên xưng là Thiên Chúa đã làm người. Mọi hình thức sống đạo khiến chúng ta xa lánh con người, khép kín trong sự an toàn và lạnh lùng trước nỗi đau của tha nhân đều trái ngược với mầu nhiệm Nhập Thể. Đức Maria đã không giữ Con Thiên Chúa trong cung lòng cho riêng mình. Sau biến cố Truyền Tin, Mẹ vội vã lên đường đến phục vụ bà Êlisabét. Khi mang Đức Kitô trong mình, Mẹ trở thành người lên đường. Đây là dấu chỉ để chúng ta xét mình: nếu chúng ta thật sự mang Chúa trong lòng, chúng ta có lên đường phục vụ không? Nếu chúng ta thật sự rước Chúa trong Thánh Thể, chúng ta có trở nên dịu dàng hơn với người thân, quảng đại hơn với người nghèo, kiên nhẫn hơn với người yếu đuối và sẵn sàng hòa giải với người làm tổn thương mình không? Nếu sau nhiều năm giữ đạo mà lòng chúng ta vẫn cứng cỏi, ích kỷ, thích xét đoán và không biết cảm thương, có lẽ chúng ta mới chỉ mang danh Kitô hữu mà chưa để Đức Kitô thực sự lớn lên trong mình.

Khi đứng dưới chân thập giá, Đức Maria nhìn thấy Người Con mà Mẹ đã sinh ra đang chịu chết. Đây là giờ phút tước hiệu Mẹ Thiên Chúa được thử thách trong bóng tối sâu thẳm nhất. Thiên thần đã từng nói Người sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao và triều đại Người sẽ vô cùng vô tận. Nhưng giờ đây, Người bị treo giữa hai tên tử tội, thân thể đầy thương tích, bị đám đông chế nhạo và dường như hoàn toàn thất bại. Đức Maria không nhìn thấy vinh quang, nhưng Mẹ vẫn tin. Mẹ không hiểu hết, nhưng không bỏ đi. Mẹ không thể cứu Con khỏi thập giá, nhưng Mẹ hiện diện. Chính sự hiện diện ấy cho thấy đức tin của Mẹ không được xây trên những dấu lạ bên ngoài, nhưng trên sự trung tín của Thiên Chúa. Là Mẹ Thiên Chúa không có nghĩa Mẹ được miễn khỏi đau khổ; trái lại, Mẹ được dẫn vào tận chiều sâu của mầu nhiệm thập giá. Người càng gần Đức Kitô càng không thể tránh khỏi việc cùng Người mang lấy nỗi đau của thế giới.

Điều này an ủi chúng ta khi gặp thử thách. Có lúc chúng ta cầu nguyện mà không thấy Chúa trả lời; phục vụ mà không được nhìn nhận; yêu thương mà bị phản bội; sống tốt mà vẫn chịu thiệt thòi. Có những lúc lời hứa của Thiên Chúa dường như trái ngược với những gì đang xảy ra. Khi ấy, Đức Maria dưới chân thập giá dạy chúng ta giữ lòng trung tín. Mẹ không cần hiểu hết mới tiếp tục tin. Mẹ không đòi Thiên Chúa phải giải thích rồi mới xin vâng. Mẹ tin rằng ngay cả khi mọi sự dường như kết thúc trong nấm mồ, Thiên Chúa vẫn có lời cuối cùng. Và quả thật, Người Con Mẹ sinh ra đã sống lại. Đấng bị đóng đinh chính là Chúa của sự sống. Kẻ bị người đời loại bỏ chính là viên đá góc tường. Bóng tối không thắng được Ánh Sáng. Cái chết không thể giam giữ Đấng là Thiên Chúa thật và người thật.

Kính thưa cộng đoàn, mừng kính Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, chúng ta đừng chỉ dừng lại ở một tước hiệu đẹp dành cho Mẹ. Hãy để tước hiệu ấy dẫn chúng ta đến một lời tuyên xưng mạnh mẽ hơn về Đức Giêsu Kitô. Người Con nằm trong vòng tay Mẹ là Chúa của trời đất. Hài Nhi trong máng cỏ là Ngôi Lời đã dựng nên vũ trụ. Người thợ mộc Nadarét là Con Một của Chúa Cha. Người bị đóng đinh trên đồi Canvê là Đấng Cứu Độ trần gian. Đấng phục sinh từ cõi chết là Thiên Chúa thật và người thật, là niềm hy vọng duy nhất của nhân loại. Vì vậy, chúng ta không chỉ ngắm nhìn Người, nhưng phải thờ lạy Người; không chỉ ngưỡng mộ lời Người dạy, nhưng phải sống theo lời ấy; không chỉ xin Người ban ơn, nhưng phải trao trọn cuộc đời cho Người.

Xin Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, dạy chúng ta biết gìn giữ Đức Kitô ở trung tâm đời mình. Xin Mẹ giúp chúng ta đừng biến lòng đạo đức thành việc tìm kiếm cảm xúc, nhưng thành một cuộc gặp gỡ thật sự với Đức Giêsu. Xin Mẹ dạy chúng ta biết lắng nghe Lời Chúa, yêu mến Thánh Thể, trung thành với Hội Thánh, quảng đại với người nghèo và can đảm sống Tin Mừng. Xin Mẹ cho chúng ta có một tâm hồn đủ khiêm nhường để thưa tiếng xin vâng, đủ trong sạch để Đức Kitô ngự vào, đủ rộng mở để trao Người cho tha nhân và đủ trung tín để đứng bên thập giá khi hành trình đức tin trở nên tối tăm.

Và trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời, xin cho chúng ta cùng với Đức Maria luôn xác tín rằng: Đức Giêsu Kitô không chỉ là một người đã từng sống trong lịch sử, nhưng là Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Người là Thiên Chúa thật để có thể cứu độ chúng ta; Người là người thật để có thể ở gần và mang lấy thân phận của chúng ta. Người sinh bởi Đức Maria để chúng ta được tái sinh làm con Thiên Chúa. Người mang lấy xác phàm để xác phàm của chúng ta được dự phần vinh quang. Người bước vào sự chết để mở đường cho chúng ta đến sự sống đời đời. Bởi thế, khi Hội Thánh gọi Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, Hội Thánh không chỉ đặt một triều thiên trên đầu Mẹ, nhưng còn quỳ xuống trước Người Con của Mẹ và tuyên xưng bằng cả đức tin, niềm hy vọng và tình yêu rằng:

Lạy Đức Giêsu Kitô, Con Đức Trinh Nữ Maria, Chúa là Thiên Chúa thật và là người thật. Chúa đã đến ở giữa chúng con, đã mang lấy thân phận chúng con, đã chết và sống lại để cứu độ chúng con. Xin Chúa trở thành trung tâm, cùng đích và ý nghĩa của toàn thể cuộc đời chúng con. Amen.

 

ĐỨC MARIA – BÌNH MINH BÁO HIỆU MẶT TRỜI CỨU ĐỘ

Có những buổi sáng, khi mặt trời còn chưa xuất hiện nơi đường chân trời, người ta đã nhận ra ngày mới đang đến. Bóng tối vẫn còn phủ trên cánh đồng, những mái nhà vẫn nằm im trong sương lạnh, con đường trước mặt vẫn chưa hiện rõ, nhưng ở phía đông đã bắt đầu có một vệt sáng dịu dàng. Vệt sáng ấy không làm người ta chói mắt, không ồn ào đánh thức vạn vật, cũng không lập tức xua tan hết bóng đêm, nhưng nó đem lại một niềm hy vọng rất thật: đêm sắp qua rồi, ngày đang đến, mặt trời không còn xa nữa. Trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, Đức Maria chính là bình minh như thế. Mẹ không phải là Mặt Trời cứu độ, không phải là nguồn sáng tự mình có thể cứu thoát nhân loại, nhưng Mẹ là ánh bình minh trong trẻo báo trước rằng Đức Kitô, Mặt Trời công chính, đang đến chiếu soi những ai ngồi trong bóng tối và trong bóng tử thần. Nơi Mẹ, nhân loại lần đầu tiên nhìn thấy ánh sáng của một ngày mới; nơi tiếng “xin vâng” của Mẹ, đêm dài tội lỗi bắt đầu rạn nứt; nơi cung lòng Mẹ, Mặt Trời cứu độ âm thầm mọc lên để rồi từ đó chiếu sáng toàn thể thế giới. Vì thế, khi chiêm ngắm Đức Maria, người Kitô hữu không dừng lại nơi Mẹ như đích đến cuối cùng, nhưng được Mẹ dẫn tới Đức Giêsu. Mẹ không giữ ánh mắt của con người cho riêng mình; Mẹ luôn hướng mọi ánh mắt về Con của Mẹ. Mẹ không tìm cách đứng vào vị trí của Đức Kitô; trái lại, tất cả vẻ đẹp, sự thánh thiện và vinh quang của Mẹ đều là lời giới thiệu về Người Con mà Mẹ đã cưu mang, sinh hạ, yêu thương và trao ban cho nhân loại.

Trước khi Đức Maria xuất hiện trong lịch sử cứu độ, nhân loại đã trải qua một đêm dài của đợi chờ. Đó là đêm của tội nguyên tổ, khi con người vì bất phục tùng mà đánh mất sự thân tình với Thiên Chúa. Đó là đêm của bao thế hệ bước đi giữa chiến tranh, hận thù, bất công, đau khổ và cái chết. Đó là đêm của dân Israel nhiều lần sa ngã, nhiều lần chạy theo ngẫu tượng, nhiều lần quay lưng lại với giao ước, nhưng cũng nhiều lần khóc than và ngước mắt chờ mong Đấng Cứu Độ. Từ lời hứa ban đầu về người phụ nữ và dòng dõi của bà sẽ đạp đầu con rắn, cho đến lời các ngôn sứ loan báo về một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một người con được gọi là Emmanuel, tất cả lịch sử Cựu Ước giống như một đêm tối đang hướng về bình minh. Các tổ phụ đã mong chờ, các ngôn sứ đã loan báo, những người nghèo của Đức Chúa đã cầu xin, cả đất trời như nín thở đợi một giờ phút mà không ai biết khi nào sẽ đến. Và rồi, giữa một làng quê nhỏ bé mang tên Nadarét, trong một mái nhà nghèo chẳng mấy ai chú ý, Thiên Chúa đã tìm thấy một tâm hồn hoàn toàn rộng mở cho Ngài. Không phải trong cung điện của vua chúa, không phải giữa những trung tâm quyền lực, không phải nơi những người được thế gian tôn vinh, nhưng nơi một thiếu nữ âm thầm, khiêm nhường và trong sạch, bình minh của ơn cứu độ đã bắt đầu ló rạng.

Đức Maria là bình minh, trước hết vì Mẹ được Thiên Chúa chuẩn bị cách đặc biệt để đón nhận Mặt Trời công chính. Bình minh đẹp không phải vì tự nó là mặt trời, nhưng vì nó đón nhận và phản chiếu ánh sáng mặt trời đang đến. Cũng vậy, mọi vẻ đẹp nơi Đức Maria đều bắt nguồn từ ân sủng Thiên Chúa. Mẹ là Đấng đầy ân sủng không phải do công lao riêng, nhưng vì Thiên Chúa đã yêu thương, tuyển chọn và gìn giữ Mẹ cho một sứ mạng độc nhất vô nhị. Ngay từ giây phút đầu tiên của cuộc đời, Mẹ được gìn giữ khỏi vết nhơ nguyên tội nhờ công nghiệp cứu chuộc của Đức Kitô. Điều đó không tách Mẹ ra khỏi ơn cứu độ, nhưng cho thấy Mẹ là người đầu tiên được cứu độ cách tuyệt hảo bởi chính Con của Mẹ. Như ánh bình minh được chiếu sáng trước khi mặt trời xuất hiện trọn vẹn, Đức Maria được ánh sáng cứu độ của Đức Kitô bao phủ ngay từ đầu, để Mẹ có thể trở thành cung điện tinh tuyền cho Vua trời ngự đến, trở thành hòm bia sống động mang Lời Thiên Chúa, trở thành mảnh đất tốt nơi hạt giống cứu độ được gieo vào và sinh hoa trái cho toàn thể nhân loại.

Tuy nhiên, vẻ đẹp của bình minh nơi Đức Maria không chỉ nằm ở những đặc ân Mẹ đã lãnh nhận, mà còn ở cách Mẹ tự do cộng tác với ân sủng. Thiên Chúa có thể chuẩn bị Mẹ, có thể ban cho Mẹ vô vàn ân huệ, nhưng Ngài không cưỡng ép Mẹ phải thưa tiếng “xin vâng”. Trước lời truyền tin của sứ thần Gabriel, Đức Maria đã thực sự đứng trước một chọn lựa lớn lao. Lời mời gọi của Thiên Chúa vượt quá mọi dự tính bình thường của Mẹ. Mẹ chưa hiểu hết con đường phía trước sẽ dẫn về đâu; Mẹ chưa biết sẽ phải giải thích thế nào với thánh Giuse, sẽ phải đối diện ra sao với dư luận, sẽ phải trả giá thế nào cho tiếng xin vâng của mình. Nhưng sau khi hỏi để hiểu điều Thiên Chúa muốn, Mẹ đã phó thác trọn vẹn: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Chính trong giây phút ấy, bình minh bừng sáng. Một thiếu nữ bé nhỏ đã mở cửa cho Thiên Chúa bước vào lịch sử nhân loại theo cách chưa từng có. Lời vĩnh cửu đã trở nên xác phàm. Đấng mà trời cao không thể chứa đựng đã chọn ở trong cung lòng một người mẹ. Đấng tạo dựng mặt trời, mặt trăng và muôn tinh tú đã bắt đầu sự sống làm người trong sự âm thầm của một thân xác nữ giới. Mặt Trời cứu độ đã mọc lên trong lòng bình minh Maria.

Tiếng “xin vâng” của Mẹ không phải là một lời nói thoáng qua, nhưng là khởi đầu của một đời sống hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Có những người thưa “vâng” trong phút xúc động, nhưng sau đó lại rút lui khi gặp khó khăn. Có những người sẵn sàng đi theo Chúa khi con đường đầy hoa, nhưng lại trách móc khi phải bước qua gai nhọn. Còn Đức Maria đã sống tiếng “xin vâng” từ Nadarét đến Bêlem, từ Bêlem sang Ai Cập, từ mái nhà Nazareth đến những nẻo đường rao giảng của Đức Giêsu, từ tiệc cưới Cana đến đồi Canvê, từ chân thập giá đến nhà Tiệc Ly. Tiếng xin vâng ngày truyền tin tiếp tục vang lên trong đêm Bêlem khi không tìm được chỗ trọ; vang lên khi Mẹ phải đặt Hài Nhi trong máng cỏ nghèo hèn; vang lên khi phải ôm Con trốn sang Ai Cập giữa đêm khuya; vang lên trong những năm tháng sống ẩn dật, làm việc và chờ đợi; vang lên khi Con rời mái nhà để lên đường thi hành sứ vụ; vang lên khi dân chúng hiểu lầm, chống đối và kết án Người; vang lên cách đau đớn nhất khi Mẹ đứng dưới chân thập giá nhìn Con mình hấp hối. Bình minh Maria không chỉ dịu dàng trong ngày vui truyền tin, mà còn trung thành trong những giờ phút tưởng như ánh sáng đã bị bóng tối nuốt chửng. Chính sự trung thành ấy làm cho Mẹ trở thành bình minh không bao giờ tắt, bình minh của niềm tin ngay giữa đêm đen thử thách.

Mẹ không phải là Mặt Trời, nhưng Mẹ đã mang Mặt Trời trong cung lòng. Đây là mầu nhiệm làm nên sự cao cả không thể diễn tả hết của Đức Maria. Mẹ không ban ơn cứu độ bằng quyền năng riêng, nhưng Mẹ đã sinh Đấng Cứu Độ cho trần gian. Mẹ không tự mình phá tan xiềng xích tội lỗi, nhưng Mẹ đã trao cho nhân loại Đấng có quyền tha tội. Mẹ không phải là đường, là sự thật và là sự sống, nhưng Mẹ đã cưu mang Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Mẹ không phải là bánh từ trời xuống, nhưng Mẹ đã trao cho thế giới thân xác mà một ngày kia Đức Giêsu sẽ hiến ban làm bánh trường sinh. Mẹ không phải là nguồn nước hằng sống, nhưng từ cung lòng Mẹ, Đấng ban nước hằng sống đã bước vào thế gian. Tất cả nơi Mẹ đều quy hướng về Đức Kitô. Tất cả danh dự Hội Thánh dành cho Mẹ đều nhằm tuyên xưng những kỳ công Thiên Chúa đã thực hiện nơi Mẹ và qua Mẹ. Yêu mến Mẹ đúng nghĩa không làm lu mờ Đức Giêsu, nhưng giúp người tín hữu yêu mến Đức Giêsu sâu xa hơn. Chạy đến với Mẹ không phải là tránh né Đức Kitô, nhưng là nhờ Mẹ dẫn đến với Người. Nắm tay Mẹ không phải là dừng lại bên đường, nhưng là để Mẹ đưa ta tới gần Mặt Trời cứu độ mà chính Mẹ đã cưu mang.

Bình minh luôn có một vẻ đẹp khiêm nhường. Nó không chiếm lấy bầu trời cho riêng mình. Khi mặt trời mọc lên, bình minh dần lui vào phía sau. Đức Maria cũng vậy. Trong Tin Mừng, Mẹ xuất hiện nhiều nhưng nói rất ít. Mẹ không tìm cách làm cho mình trở thành trung tâm. Khi các mục đồng đến Bêlem, Mẹ lặng lẽ ghi nhớ mọi điều và suy đi nghĩ lại trong lòng. Khi tìm thấy Đức Giêsu trong Đền Thờ, Mẹ chưa hiểu hết lời Con nói, nhưng vẫn giữ những điều ấy trong lòng. Tại tiệc cưới Cana, sau khi nhận ra nỗi khó khăn của đôi tân hôn, Mẹ chỉ nói với những người phục vụ: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Đó có thể xem là lời trăn trối thiêng liêng của Mẹ cho mọi thế hệ. Mẹ không nói: “Hãy nhìn vào tôi”, nhưng nói: “Hãy nghe Người.” Mẹ không bảo người ta làm theo ý riêng của Mẹ, nhưng hướng mọi người tới ý muốn của Đức Giêsu. Sau đó, Mẹ gần như lui vào thinh lặng để Đức Kitô thực hiện dấu lạ đầu tiên, bày tỏ vinh quang và làm cho các môn đệ tin vào Người. Đó là phong cách của bình minh: báo trước mặt trời rồi vui mừng để mặt trời chiếu sáng.

Sự khiêm nhường của Đức Maria không phải là sự tự ti, yếu đuối hay phủ nhận những ơn Chúa ban. Trong bài ca Magnificat, Mẹ ý thức rất rõ rằng từ nay hết mọi đời sẽ khen Mẹ diễm phúc. Nhưng Mẹ lập tức nói lý do: “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả.” Mẹ không giữ vinh quang cho mình; Mẹ trả lại tất cả cho Thiên Chúa. Mẹ nhận mình là nữ tỳ hèn mọn được Chúa đoái thương. Mẹ biết mình có phúc, nhưng cái phúc ấy không khiến Mẹ kiêu căng; trái lại, càng được nâng cao, Mẹ càng cúi mình xuống trong tâm tình biết ơn. Đây chính là vẻ đẹp của một tâm hồn được ánh sáng Thiên Chúa chiếu soi. Người càng ở gần ánh sáng thật càng thấy rõ mình chỉ là thụ tạo. Người càng được Chúa ban nhiều ân huệ càng cảm nhận sâu xa rằng tất cả đều là hồng ân. Đức Maria cao cả nhất giữa loài người, nhưng cũng là người khiêm nhường nhất. Mẹ được đặt làm Nữ Vương trời đất, nhưng mãi mãi vẫn là nữ tỳ của Chúa. Mẹ đứng cao hơn mọi thụ tạo, nhưng không hề chiếm đoạt vị trí của Đấng Tạo Hóa. Nơi Mẹ, chúng ta thấy sự cao trọng và khiêm nhường không đối nghịch, nhưng hòa quyện thành vẻ đẹp tinh tuyền.

Đức Maria là bình minh báo hiệu Mặt Trời cứu độ còn vì sự hiện diện của Mẹ luôn mang lại niềm vui và hy vọng. Sau biến cố truyền tin, Mẹ vội vã lên đường đến miền núi thăm bà Êlisabét. Mẹ không khép mình trong niềm vui riêng, không ở lại để tận hưởng đặc ân vừa lãnh nhận, nhưng lập tức mang Đức Giêsu đến cho một gia đình đang cần sự hiện diện và phục vụ. Mẹ vừa bước vào nhà, hài nhi Gioan đã nhảy mừng trong lòng mẹ, bà Êlisabét được đầy tràn Thánh Thần, và căn nhà nhỏ trở nên nơi tràn ngập niềm vui cứu độ. Mẹ chưa giảng một bài nào, chưa làm một phép lạ nào, nhưng vì Mẹ mang Đức Kitô trong mình, sự hiện diện của Mẹ đã làm cho người khác được vui mừng. Đó cũng là sứ mạng của Hội Thánh và của mỗi Kitô hữu. Chúng ta không phải là ánh sáng từ chính mình, nhưng được gọi mang ánh sáng Đức Kitô đến cho thế giới. Người Kitô hữu đích thực đi tới đâu không gieo thêm bóng tối, không làm nặng nề tâm hồn người khác, không đem theo sự cay nghiệt và xét đoán, nhưng mang theo bình an, niềm vui, lòng thương xót và hy vọng của Chúa. Đức Maria dạy chúng ta rằng cách truyền giáo đẹp nhất không phải lúc nào cũng bắt đầu bằng lời nói, nhưng bằng việc mang Đức Giêsu trong lòng và đem Người đến cho anh chị em.

Cuộc đời Mẹ là một cuộc hành trình mang ánh sáng đi vào những vùng tối của phận người. Mẹ mang Đức Giêsu đến với bà Êlisabét trong tuổi già và sự mong manh. Mẹ sinh Đức Giêsu giữa cảnh nghèo khó của Bêlem. Mẹ mang Con trốn sang Ai Cập trong thân phận người tị nạn. Mẹ đem Người về sống giữa những lao động nghèo tại Nadarét. Mẹ có mặt tại Cana khi niềm vui của một gia đình đứng trước nguy cơ tan vỡ vì thiếu rượu. Mẹ đứng dưới chân thập giá trong giờ phút tăm tối nhất của lịch sử cứu độ. Ở đâu có Mẹ, ở đó Đức Giêsu được hiện diện. Ở đâu Mẹ đến, ở đó ánh sáng của Con Mẹ bắt đầu chạm tới nỗi đau con người. Chính vì thế, lòng sùng kính Đức Maria không thể chỉ là những lời kinh đẹp mà không dẫn tới lòng bác ái. Người thật lòng yêu mến Mẹ phải học cách như Mẹ, biết vội vã lên đường, biết nhận ra nhu cầu của người khác, biết âm thầm phục vụ, biết mang Chúa vào những gia đình đang đổ vỡ, những tâm hồn đang cô đơn, những người nghèo đang bị lãng quên, những bệnh nhân đang tuyệt vọng, những người tội lỗi đang sợ hãi không dám trở về.

Bình minh cũng là ranh giới giữa đêm và ngày. Nơi Đức Maria, chúng ta nhìn thấy sự chuyển tiếp từ lời hứa đến hoàn tất, từ mong đợi đến gặp gỡ, từ Cựu Ước sang Tân Ước. Mẹ là người con ưu tuyển của Israel, mang trong mình niềm tin của Abraham, lời cầu nguyện của các tổ phụ, niềm hy vọng của các ngôn sứ và sự nghèo khó của những người bé mọn luôn đặt trọn niềm cậy trông nơi Thiên Chúa. Nhưng đồng thời, Mẹ cũng là người môn đệ đầu tiên của Đức Kitô, là hình ảnh khởi đầu của Hội Thánh, là người đầu tiên đón nhận Tin Mừng bằng cả thân xác lẫn tâm hồn. Nơi Mẹ, dân Israel trao cho nhân loại Đấng Mêsia đã được hứa ban. Nơi Mẹ, Hội Thánh bắt đầu học cách lắng nghe Lời, cưu mang Lời, sinh Lời vào thế giới và trung thành với Lời cho đến tận thập giá. Vì thế, Mẹ vừa là người con của bình minh, vừa là người mẹ của ngày mới. Mẹ đứng ở ngưỡng cửa của thời đại cứu độ, mở ra một chân trời mới cho nhân loại.

Nhưng bình minh nơi Đức Maria không chỉ đẹp trong những ngày bình an. Có những buổi bình minh bị mây đen che phủ, ánh sáng chỉ le lói giữa bầu trời xám lạnh. Đời Mẹ cũng đã trải qua những giờ phút như thế. Lời ông Simêon báo trước rằng một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn Mẹ. Ngay khi Hài Nhi vừa chào đời, Mẹ đã nghe những lời tiên báo về sự chống đối, về đau khổ và chia rẽ. Mẹ đã phải chạy trốn bạo quyền Hêrôđê, sống nơi đất khách, lo lắng cho sự an toàn của Con. Mẹ đã từng ba ngày tìm kiếm Đức Giêsu trong đau khổ. Mẹ đã chứng kiến người đồng hương nghi ngờ và chối bỏ Con mình. Mẹ đã thấy các môn đệ bỏ trốn, đám đông thay đổi, những kẻ từng tung hô nay gào thét đòi đóng đinh Người. Mẹ đã bước theo Con trên đường thập giá mà không thể làm gì để ngăn những đòn roi, những lời nhục mạ và những chiếc đinh tàn bạo. Nếu có ai hiểu bóng tối của đau khổ, đó chính là Đức Maria. Nhưng cũng chính vì thế, Mẹ trở thành bình minh của những ai đang sống trong đêm tối.

Dưới chân thập giá, dường như Mặt Trời cứu độ đã lặn mất. Bầu trời tối lại, đất rung chuyển, Đấng được loan báo là Con Thiên Chúa lại chết trần trụi như một tử tội. Những lời sứ thần năm xưa về ngai vàng Đavít và vương quyền muôn đời xem ra hoàn toàn trái ngược với cảnh tượng trước mắt. Nhưng Đức Maria vẫn đứng đó. Tin Mừng không nói Mẹ hiểu hết, cũng không nói Mẹ không đau đớn; Tin Mừng chỉ nói Mẹ đứng gần thập giá Đức Giêsu. Mẹ đứng, nghĩa là Mẹ không gục ngã trong tuyệt vọng; Mẹ không chạy trốn khỏi mầu nhiệm đau thương; Mẹ không rút lại tiếng xin vâng. Khi mọi sự dường như sụp đổ, Mẹ vẫn tin vào Thiên Chúa, dù chưa nhìn thấy ánh sáng phục sinh. Đây là niềm tin của bình minh: tin mặt trời sẽ mọc ngay cả khi đêm còn rất tối. Mẹ không cần nhìn thấy ngôi mộ mở mới tin rằng Thiên Chúa trung tín. Mẹ đã cưu mang Lời trong lòng suốt cả cuộc đời, và giờ đây Mẹ tiếp tục tin rằng lời Chúa không thể thất bại.

Vì thế, Đức Maria trở thành Mẹ của niềm hy vọng. Hy vọng Kitô giáo không phải là lạc quan dễ dãi, không phải nhắm mắt trước thực tế đau khổ, cũng không phải tự trấn an rằng rồi mọi chuyện sẽ tự nhiên tốt đẹp. Hy vọng Kitô giáo là bám chặt vào Thiên Chúa khi không còn gì để bám; là tin vào tình yêu khi chung quanh đầy hận thù; là tin vào sự sống khi đang đứng trước cái chết; là tin vào bình minh khi đêm tối vẫn bao phủ. Đức Maria đã sống niềm hy vọng như thế. Mẹ không được miễn trừ khỏi nước mắt, nhưng nước mắt không dập tắt đức tin. Mẹ không được tránh khỏi lưỡi gươm đau khổ, nhưng đau khổ không khiến Mẹ oán trách Thiên Chúa. Mẹ không biết trước mọi chặng đường, nhưng vẫn bước đi từng ngày trong phó thác. Bởi vậy, bất cứ ai đang đi qua đêm tối của bệnh tật, nghèo khó, thất bại, mất mát, phản bội, cô đơn hay khủng hoảng đức tin đều có thể nhìn lên Mẹ và tìm thấy một người mẹ hiểu mình. Mẹ không hứa rằng bóng tối sẽ biến mất ngay lập tức, nhưng Mẹ đứng bên ta và nhắc rằng Mặt Trời cứu độ vẫn đang đến, Thiên Chúa chưa bao giờ bỏ rơi con cái Ngài.

Ngày nay, thế giới vẫn còn nhiều bóng tối. Đó là bóng tối của chiến tranh làm bao gia đình ly tán, bóng tối của bạo lực khiến người vô tội phải đổ máu, bóng tối của sự ích kỷ khiến người già bị bỏ quên, trẻ em bị tổn thương, người nghèo bị coi thường. Đó là bóng tối của một nền văn hóa chỉ đề cao tiền bạc, quyền lực, sắc đẹp và thành công, khiến nhiều người cảm thấy mình vô giá trị khi yếu đuối hoặc thất bại. Đó là bóng tối của sự giả dối, vu khống, nói xấu, chia rẽ ngay trong gia đình, cộng đoàn và xã hội. Đó còn là bóng tối âm thầm trong tâm hồn mỗi người: sự nguội lạnh, kiêu ngạo, ganh tị, nghiện ngập, tuyệt vọng, mặc cảm, những tội lỗi giấu kín và những vết thương chưa được chữa lành. Giữa một thế giới như thế, hình ảnh Đức Maria là bình minh vẫn mang sức an ủi và thức tỉnh sâu xa. Mẹ nhắc chúng ta rằng bóng tối không phải là tiếng nói cuối cùng. Tội lỗi không thể thắng ân sủng. Hận thù không thể mạnh hơn tình yêu. Cái chết không thể đóng kín con đường sự sống. Mặt Trời công chính đã mọc lên, và ánh sáng của Người vẫn đang chiếu soi nhân loại.

Tuy nhiên, nhìn ngắm bình minh không có nghĩa là ngồi yên thụ động. Đức Maria không chỉ an ủi chúng ta; Mẹ còn mời gọi chúng ta trở thành những tia sáng báo trước Đức Kitô cho người khác. Mỗi Kitô hữu, nhờ bí tích Rửa tội, được mời gọi phản chiếu ánh sáng của Chúa. Chúng ta không phải là Đấng Cứu Thế, nhưng có thể chuẩn bị đường cho Đấng Cứu Thế bước vào cuộc đời một người. Chúng ta không thể giải quyết mọi nỗi đau của thế giới, nhưng có thể làm vơi đi nỗi đau của người đang ở bên cạnh. Chúng ta không có ánh sáng riêng, nhưng nếu sống gắn bó với Đức Kitô, cuộc đời ta có thể trở nên một bình minh nhỏ cho gia đình và cộng đoàn. Một lời nói dịu dàng có thể là bình minh cho người đang bị tổn thương. Một hành động tha thứ có thể là bình minh trong một gia đình đầy oán giận. Một lần đến thăm có thể là bình minh cho người bệnh cô đơn. Một bữa cơm chia sẻ có thể là bình minh cho người nghèo. Một lời cầu nguyện chân thành có thể là bình minh cho người đang mất niềm tin. Một sự trung thực âm thầm có thể là bình minh giữa môi trường đầy gian dối.

Học với Đức Maria, chúng ta hiểu rằng ánh sáng thật không cần phô trương. Bình minh không gây tiếng động, nhưng cả bầu trời thay đổi vì nó. Đức Maria không thực hiện những công việc khiến thế gian kinh ngạc, nhưng sự trung thành âm thầm của Mẹ đã mở đường cho ơn cứu độ. Mẹ nấu ăn, dọn dẹp, chăm sóc gia đình, đồng hành với thánh Giuse, nuôi dưỡng Đức Giêsu, lắng nghe và ghi nhớ. Những công việc rất bình thường ấy, khi được thực hiện trong tình yêu và kết hợp với Thiên Chúa, đã trở thành một phần của lịch sử cứu độ. Điều này đem lại niềm an ủi lớn lao cho những người đang sống một cuộc đời âm thầm. Không phải ai cũng được biết đến. Không phải ai cũng làm những việc lớn lao trước mắt người đời. Có những người mẹ suốt đời hy sinh cho con mà chẳng ai biết; có những người cha âm thầm lao động để nuôi gia đình; có những tu sĩ lặng lẽ phục vụ trong những nơi nghèo khó; có những linh mục ngày ngày dâng lễ, giải tội, thăm bệnh mà không có tiếng vỗ tay; có những người trẻ sống ngay thẳng giữa bao cám dỗ; có những bệnh nhân dâng đau khổ trong thinh lặng. Nếu tất cả những điều ấy được làm với tình yêu, chúng đều có thể trở thành ánh bình minh báo trước sự hiện diện của Đức Kitô.

Đức Maria cũng dạy ta biết phân biệt giữa ánh sáng và nguồn sáng. Con người dễ tìm vinh quang cho mình, dễ muốn người khác biết đến những việc tốt mình làm, dễ xem mình là trung tâm, là người không thể thiếu. Nhưng bình minh không bao giờ tự nhận mình là mặt trời. Mẹ Maria càng được tôn kính càng dẫn người ta về với Chúa. Đây là bài học cần thiết cho mọi người phục vụ trong Hội Thánh. Một người giảng hay, hát hay, tổ chức giỏi, làm nhiều việc bác ái hay có ảnh hưởng trong cộng đoàn vẫn chỉ là người phản chiếu ánh sáng. Khi người phục vụ bắt đầu thu hút mọi người về mình thay vì về với Đức Kitô, ánh sáng ấy trở nên méo mó. Khi người ta dùng việc đạo đức để tìm danh tiếng, dùng trách nhiệm để khẳng định quyền lực, dùng sự phục vụ để đòi người khác biết ơn, họ đã quên rằng chỉ Đức Kitô mới là Mặt Trời. Đức Maria mời gọi ta vui lòng lùi lại để Chúa được lớn lên, vui khi người khác gặp được Chúa dù chẳng nhớ đến mình, sẵn sàng gieo hạt mà người khác gặt, sẵn sàng làm việc trong bóng tối để ánh sáng của Chúa được chiếu tỏa.

“Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại” là lời của thánh Gioan Tẩy Giả, nhưng cũng diễn tả trọn vẹn thái độ của Đức Maria. Suốt cuộc đời, Mẹ để Đức Giêsu lớn lên. Mẹ đã trao cho Người thân xác, dòng máu và tình mẫu tử. Mẹ nuôi dưỡng Người lớn lên trong mái nhà Nadarét. Khi giờ sứ vụ đến, Mẹ để Người rời khỏi mái ấm. Khi Người bắt đầu quy tụ môn đệ, Mẹ không đòi giữ Con cho riêng mình. Khi Đức Giêsu mở rộng tình mẫu tử của Mẹ bằng lời: “Ai thi hành ý muốn của Cha tôi, người ấy là anh chị em và là mẹ tôi”, Mẹ không bị xúc phạm, bởi hơn ai hết, Mẹ chính là người đã thi hành ý muốn của Chúa Cha cách trọn vẹn. Khi đứng dưới chân thập giá và nghe Đức Giêsu trao người môn đệ cho Mẹ, Mẹ đón nhận một sứ mạng mới: trở thành Mẹ của những người đã được Con Mẹ cứu chuộc. Mẹ không giữ Đức Giêsu cho riêng mình; Mẹ trao Người cho thế giới, rồi đón nhận thế giới làm con.

Nếu Đức Kitô là Mặt Trời công chính, thì điều làm cho Mẹ đau lòng nhất chính là thấy con người khước từ ánh sáng của Người. Ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta chuộng bóng tối hơn ánh sáng vì các việc họ làm đều xấu xa. Lời ấy vẫn đúng trong mọi thời đại. Có những người muốn Đức Maria bảo vệ mình, nhưng không muốn sống theo Tin Mừng của Con Mẹ. Có người siêng năng đọc kinh kính Mẹ nhưng vẫn nuôi hận thù, nói xấu, gian dối và bất công. Có người đeo ảnh Mẹ, hành hương, dâng hoa, nhưng lại khép lòng trước người nghèo và không chịu tha thứ. Lòng sùng kính như thế chưa chạm tới trái tim của Mẹ. Bởi lời mời gọi căn bản của Mẹ vẫn là: “Người bảo gì, các con cứ việc làm theo.” Yêu mến Mẹ là học vâng nghe Đức Giêsu. Tôn kính Mẹ là để Mẹ dẫn ta vào đời sống hoán cải. Lần chuỗi Mân Côi là cùng Mẹ chiêm ngắm cuộc đời Đức Kitô và để các mầu nhiệm ấy biến đổi đời mình. Đến bên Mẹ không phải để trốn tránh trách nhiệm sống Tin Mừng, nhưng để được Mẹ dạy cách sống Tin Mừng cách trung thành hơn.

Mỗi lần đọc kinh Kính Mừng, chúng ta như đứng trước ánh bình minh của mầu nhiệm Nhập Thể. “Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà.” Đức Chúa ở cùng Mẹ, đó là lý do Mẹ tràn đầy ánh sáng. “Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ, và Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ.” Cái phúc của Mẹ không tách khỏi Đức Giêsu; tất cả đều quy về hoa trái cung lòng Mẹ. Và khi cầu xin: “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử”, ta xin Mẹ hiện diện trong hai thời điểm quan trọng: lúc hiện tại với những chiến đấu hôm nay, và giờ lâm tử khi bóng tối cuối cùng phủ xuống cuộc đời. Ta xin Mẹ, bình minh của ơn cứu độ, đứng bên giường chết của ta và báo rằng Mặt Trời vĩnh cửu đang đến; đêm trần gian sắp qua, ngày không bao giờ tàn đang mở ra.

Cuộc đời con người có nhiều buổi hoàng hôn. Đó là khi sức khỏe suy giảm, tuổi trẻ qua đi, những khả năng từng có không còn nữa, người thân lần lượt ra đi, những điều quen thuộc dần biến mất. Nhiều người sợ tuổi già vì nghĩ đó chỉ là bóng tối đang xuống. Nhưng với người có đức tin, hoàng hôn trần thế có thể đồng thời là bình minh của sự sống đời đời. Đức Maria, Đấng đã được đưa cả hồn lẫn xác về trời, là dấu chỉ chắc chắn rằng thân phận con người không kết thúc trong mồ. Mẹ đã đi trước chúng ta vào vinh quang phục sinh. Nơi Mẹ, Hội Thánh nhìn thấy tương lai của chính mình. Mẹ giống như vệt sáng đầu tiên nơi chân trời vĩnh cửu, báo trước ngày toàn thể những ai thuộc về Đức Kitô sẽ được sống lại và chiếu sáng trong vương quốc của Chúa Cha. Mầu nhiệm Đức Maria hồn xác lên trời không làm ta xa rời thực tại, nhưng giúp ta nhìn cuộc đời này bằng một niềm hy vọng lớn hơn. Thân xác đau yếu này sẽ được biến đổi. Nước mắt sẽ được lau khô. Những hy sinh âm thầm sẽ không bị quên lãng. Mọi điều được sống trong tình yêu sẽ được Thiên Chúa đưa vào ánh sáng vĩnh cửu.

Mẹ là bình minh của Hội Thánh. Trong nhà Tiệc Ly, sau khi Đức Giêsu lên trời, Mẹ hiện diện giữa các Tông đồ đang cầu nguyện và chờ đợi Chúa Thánh Thần. Các môn đệ lúc ấy còn mang nhiều sợ hãi, hoang mang và yếu đuối. Người Thầy đã về trời, sứ mạng trước mắt quá lớn, thế giới chung quanh đầy chống đối. Nhưng có Mẹ ở đó. Mẹ, người đã từng đón nhận Thánh Thần trong ngày truyền tin, giờ đây cùng Hội Thánh cầu xin Thánh Thần ngự xuống. Mẹ, người từng cưu mang Đức Kitô trong thân xác, giờ đây giúp Hội Thánh học cách cưu mang Đức Kitô trong lịch sử. Sự hiện diện của Mẹ không thay thế Chúa Thánh Thần, nhưng giúp cộng đoàn kiên trì chờ đợi. Mẹ không lãnh đạo bằng quyền lực, nhưng bằng sự hiện diện hiền mẫu. Từ đó, Hội Thánh bước ra khỏi căn phòng đóng kín để loan báo Tin Mừng đến tận cùng trái đất. Bình minh đã mở đường cho ngày mới của sứ mạng.

Hôm nay, mỗi cộng đoàn Kitô hữu cũng cần mang nét bình minh của Đức Maria. Một giáo xứ không chỉ cần nhiều hoạt động, nhưng cần có sự hiện diện của Đức Kitô. Một hội đoàn không chỉ cần tổ chức giỏi, nhưng cần biết cầu nguyện, lắng nghe và phục vụ. Một gia đình Công giáo không chỉ cần treo ảnh tượng, nhưng cần để ánh sáng Tin Mừng chiếu vào cách vợ chồng đối xử với nhau, cách cha mẹ giáo dục con cái, cách con cháu chăm sóc người già, cách mọi người biết xin lỗi và tha thứ. Một cộng đoàn mang nét Maria là cộng đoàn không tìm vinh quang cho mình, không cạnh tranh hơn thua, không biến việc đạo thành nơi phô bày quyền lực, nhưng âm thầm mang Đức Giêsu đến cho người khác. Ở đó, người nghèo được tôn trọng, người yếu đuối được nâng đỡ, người lầm lỗi có cơ hội trở về, người cô đơn tìm được một mái nhà, và mọi thành viên đều được hướng về Đức Kitô là trung tâm duy nhất.

Trong đời sống cá nhân, chúng ta cũng cần tự hỏi: tôi đang phản chiếu ánh sáng nào? Có khi ta mang danh Kitô hữu nhưng lời nói và thái độ lại làm người khác thấy tối tăm hơn. Một lời cay nghiệt có thể dập tắt tia hy vọng trong lòng người. Một sự xét đoán vội vàng có thể khiến người lầm lỗi không dám trở về. Một thái độ kiêu căng có thể che khuất dung nhan hiền lành của Đức Kitô. Một đời sống hai mặt có thể làm người khác nghi ngờ Tin Mừng. Nếu Đức Maria là bình minh báo hiệu Chúa đến, thì mỗi chúng ta cũng được mời gọi sống sao để người khác nhìn vào mà nhận ra rằng Thiên Chúa đang gần. Không phải bằng cách tự cho mình đạo đức hơn, nhưng bằng lòng nhân hậu, sự khiêm nhường, trung tín và bình an. Người mang Chúa trong lòng không cần quảng cáo về sự thánh thiện của mình; ánh sáng sẽ tự biểu lộ qua cách họ sống.

Có lẽ nhiều lúc ta cảm thấy mình quá nhỏ bé để có thể đem ánh sáng đến cho thế giới. Nhưng bình minh bắt đầu bằng một vệt sáng rất mỏng. Tiếng “xin vâng” của một thiếu nữ ở Nadarét tưởng như chẳng thay đổi điều gì trong đế quốc Rôma rộng lớn, nhưng chính tiếng xin vâng ấy đã mở cửa cho Đấng Cứu Thế bước vào trần gian. Đừng coi thường những điều tốt nhỏ bé. Một kinh Kính Mừng đọc với lòng tin có thể mở đầu một cuộc hoán cải. Một quyết định không nói xấu có thể ngăn một mối tương quan khỏi đổ vỡ. Một hành động nhường nhịn có thể đem bình an trở lại gia đình. Một chút thời gian dành cho người cô đơn có thể cứu họ khỏi tuyệt vọng. Một hy sinh được dâng lên trong âm thầm có thể sinh hoa trái mà ta không bao giờ biết hết. Thiên Chúa thường bắt đầu những công trình lớn lao từ những điều rất nhỏ, như Ngài đã bắt đầu công trình cứu độ trong cung lòng một người nữ khiêm nhường.

Lạy Đức Maria, bình minh báo hiệu Mặt Trời cứu độ, xin dạy chúng con biết đón nhận ánh sáng của Đức Kitô. Xin đừng để chúng con chỉ ngắm nhìn vẻ đẹp của Mẹ mà quên bước theo Con Mẹ. Xin giúp chúng con hiểu rằng mọi đặc ân và vinh quang của Mẹ đều là lời ca tụng quyền năng và lòng thương xót Thiên Chúa. Xin dạy chúng con sống khiêm nhường như Mẹ, biết lui lại để Chúa được lớn lên; biết lắng nghe như Mẹ, biết ghi nhớ và suy niệm Lời Chúa trong lòng; biết xin vâng như Mẹ, không chỉ trong những ngày thuận lợi mà cả giữa đau khổ và thử thách; biết lên đường như Mẹ để đem Đức Giêsu đến cho những người đang cần ánh sáng.

Lạy Mẹ Maria, có những lúc lòng chúng con chìm trong bóng tối, không nhìn thấy đường đi và cũng không hiểu điều Chúa đang thực hiện. Xin Mẹ ở bên chúng con như Mẹ đã đứng bên thập giá. Xin dạy chúng con biết tin ngay cả khi không còn dấu hiệu để hy vọng, biết chờ đợi bình minh ngay giữa đêm đen, biết rằng Thiên Chúa vẫn trung tín dù mọi sự bên ngoài dường như sụp đổ. Khi gia đình chúng con bất hòa, xin Mẹ đem Đức Giêsu đến. Khi tâm hồn chúng con nguội lạnh, xin Mẹ chỉ cho chúng con Mặt Trời tình yêu. Khi chúng con sa ngã, xin Mẹ nắm tay dẫn về với lòng thương xót. Khi chúng con phải đối diện với bệnh tật, tuổi già và cái chết, xin Mẹ nhắc rằng phía bên kia bóng tối là ánh sáng không bao giờ tàn.

Đức Maria không phải là Mặt Trời, nhưng không ai gần Mặt Trời cứu độ như Mẹ. Mẹ không phải là nguồn ơn cứu độ, nhưng Mẹ đã trao Đấng Cứu Độ cho chúng ta. Mẹ không phải là đích đến, nhưng Mẹ là con đường hiền mẫu dẫn chúng ta đến với Đức Giêsu. Mẹ không giữ ánh sáng cho riêng mình, nhưng phản chiếu ánh sáng ấy cách tinh tuyền đến nỗi khi nhìn vào Mẹ, người ta nhận ra vẻ đẹp của Thiên Chúa. Ước gì giữa những đêm tối của cuộc đời, chúng ta luôn biết ngước nhìn lên Đức Maria như nhìn về phương đông đang dần rạng sáng. Và khi thấy ánh bình minh nơi Mẹ, chúng ta hãy vững lòng tin rằng Mặt Trời công chính đã đến, đang đến và sẽ đến. Người sẽ chiếu soi mọi bóng tối, chữa lành mọi vết thương, phá tan quyền lực của tội lỗi và sự chết, dẫn đưa những ai tin vào Người bước vào ngày mới không bao giờ tàn. Cùng với Mẹ, chúng ta hãy mở rộng tâm hồn đón lấy ánh sáng ấy, sống trong ánh sáng ấy và trở thành những tia sáng nhỏ bé cho thế giới, để qua cuộc đời chúng ta, nhiều người cũng nhận ra rằng đêm sắp qua rồi, ngày cứu độ đã gần, và Đức Kitô, Mặt Trời công chính, đang mọc lên giữa lòng nhân loại.

 

“NÀY TÔI LÀ NỮ TỲ CỦA CHÚA” – CHÂN DUNG NGƯỜI MẸ HOÀN TOÀN THUỘC VỀ THIÊN CHÚA

Trong toàn bộ lịch sử cứu độ, có những lời được thốt ra rất ngắn, rất âm thầm, dường như chỉ vang lên trong một căn nhà nhỏ bé, nhưng lại mang sức mạnh làm chuyển hướng cả lịch sử nhân loại. Có những tiếng nói không được cất lên giữa quảng trường đông người, không được công bố trước ngai vàng của vua chúa, không được ghi dấu bằng tiếng kèn chiến thắng, nhưng lại làm cho trời cao cúi xuống, đất thấp mở ra và Thiên Chúa bước vào giữa lòng nhân thế. Một trong những lời như thế chính là lời thưa của Đức Maria trong ngày Truyền Tin: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Chỉ một câu ngắn ngủi, nhưng phía sau câu nói ấy là cả một tâm hồn hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa; chỉ một lời “xin vâng”, nhưng trong lời ấy chứa đựng cả sự khiêm nhường sâu thẳm, lòng vâng phục không giữ lại điều gì và một niềm phó thác mạnh hơn mọi nỗi sợ hãi. Đức Maria đã không làm những việc ồn ào trước mắt thế gian, nhưng Mẹ đã làm điều lớn lao nhất mà một thụ tạo có thể làm: trao trọn con người mình cho Thiên Chúa, để Thiên Chúa tự do thực hiện ý định của Người. Trong giây phút ấy, Mẹ không còn sống cho riêng mình, không còn thuộc về những dự tính riêng, không còn nắm giữ tương lai trong tay mình, nhưng hoàn toàn đặt cuộc đời vào bàn tay của Đấng đã gọi Mẹ. Vì thế, khi chiêm ngắm Đức Maria trong biến cố Truyền Tin, chúng ta không chỉ nhìn thấy một thiếu nữ được tuyển chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế, mà còn nhìn thấy chân dung tuyệt đẹp của một con người đã để Thiên Chúa trở thành tất cả, một con người dám để ý muốn của Chúa lớn hơn ý riêng, dám để chương trình của Chúa bước vào và làm đảo lộn mọi dự tính bình thường của đời mình.

Thánh Luca kể rằng sứ thần Gabriel được Thiên Chúa sai đến một thành miền Galilê gọi là Nadarét, gặp một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc nhà Đavít, và trinh nữ ấy tên là Maria. Khung cảnh mở đầu thật bình thường đến mức người ta có thể dễ dàng bỏ qua. Nadarét không phải là một trung tâm tôn giáo nổi tiếng, không phải là một thành phố quyền lực, càng không phải nơi những người đương thời mong đợi một biến cố có thể thay đổi vận mệnh thế giới. Maria cũng không xuất hiện như một nữ hoàng với vương miện, không có đoàn tùy tùng, không sống trong cung điện nguy nga. Mẹ chỉ là một thiếu nữ đơn sơ giữa một miền quê nghèo, đang sống những ngày bình thường như bao người con gái khác, với những ước mơ rất đỗi bình dị về hôn nhân, gia đình và tương lai. Thế nhưng chính nơi nhỏ bé ấy, chính trong cuộc đời âm thầm ấy, Thiên Chúa đã bắt đầu một điều vĩ đại. Điều đó cho thấy đường lối của Thiên Chúa khác xa đường lối của con người. Con người thường tìm kiếm những gì lớn lao, nổi bật, quyền thế và có sức gây chú ý; còn Thiên Chúa lại yêu thích những tâm hồn bé nhỏ, khiêm nhường và sẵn sàng. Thiên Chúa không chọn Maria vì Mẹ có quyền lực trước thế gian, nhưng vì Mẹ có một tâm hồn rộng mở trước Người. Thiên Chúa không nhìn vào vẻ huy hoàng bên ngoài, nhưng nhìn vào sự trong sạch, khiêm tốn và lòng tín thác sâu xa bên trong. Nơi Đức Maria, Thiên Chúa tìm thấy một khoảng trời không bị che phủ bởi cái tôi, một mảnh đất không bị làm cằn cỗi bởi kiêu ngạo, một cánh cửa không bị khóa chặt bởi những tính toán ích kỷ. Vì thế, lời chào của sứ thần vang lên: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” Maria được gọi là Đấng đầy ân sủng, không phải vì Mẹ tự mình trở nên cao cả, nhưng vì Mẹ đã để Thiên Chúa đổ đầy cuộc đời Mẹ. Sự cao cả của Đức Maria không nằm ở việc Mẹ tự nâng mình lên, nhưng ở việc Mẹ để Thiên Chúa nâng Mẹ lên; không nằm ở chỗ Mẹ chiếm giữ một vị trí, nhưng ở chỗ Mẹ hoàn toàn trống rỗng để Thiên Chúa ngự vào.

Nghe lời chào ấy, Đức Maria bối rối và tự hỏi lời chào đó có ý nghĩa gì. Sự bối rối của Mẹ cho thấy Mẹ không phải là một con người nhẹ dạ, cũng không phải một người đón nhận mọi điều cách mù quáng. Mẹ lắng nghe, suy nghĩ, phân định và tìm hiểu ý nghĩa của lời Thiên Chúa. Đức tin đích thực không loại bỏ lý trí, không biến con người thành một dụng cụ thụ động, nhưng soi sáng lý trí để con người nhận ra tiếng Chúa giữa muôn tiếng nói. Maria bối rối không phải vì Mẹ nghi ngờ tình yêu của Thiên Chúa, nhưng vì Mẹ khiêm nhường trước một ân huệ quá lớn. Người kiêu ngạo thường cảm thấy mình xứng đáng với mọi lời khen, mọi vị trí và mọi đặc ân; người khiêm nhường lại kinh ngạc khi nhận ra Thiên Chúa đoái nhìn đến mình. Mẹ không vội nghĩ rằng mình đặc biệt, không tự hào vì được thiên thần đến chào, không lập tức nhìn mình cao hơn người khác. Trái lại, Mẹ thinh lặng, suy niệm và tự hỏi. Chính thái độ ấy cho thấy chiều sâu của đời sống nội tâm nơi Đức Maria. Mẹ không sống trên bề mặt của những biến cố; Mẹ đi vào chiều sâu, đem mọi sự vào trong lòng và đặt dưới ánh sáng của Thiên Chúa. Sau này, trước những điều xảy ra tại Bêlem, trước lời các mục đồng kể lại, trước biến cố tìm thấy Chúa Giêsu trong Đền Thờ, Tin Mừng vẫn nói rằng Mẹ ghi nhớ và suy đi nghĩ lại trong lòng. Cả cuộc đời Đức Maria là một đời sống lắng nghe. Mẹ không để những biến cố trôi qua vô nghĩa, nhưng tìm kiếm tiếng Chúa trong từng biến cố. Mẹ không phản ứng vội vàng theo cảm xúc nhất thời, nhưng để Lời Chúa lắng xuống, bén rễ và dần dần soi sáng con đường phải đi.

Sứ thần nói với Mẹ: “Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa.” “Xin đừng sợ” là lời Thiên Chúa thường nói với những người được Người kêu gọi. Bởi mỗi khi Thiên Chúa bước vào đời một con người, Người thường mở ra một con đường lớn hơn khả năng của họ, một sứ mạng vượt quá những tính toán tự nhiên, một tương lai mà họ không thể kiểm soát. Maria có lý do để sợ. Mẹ đang đứng trước một chương trình vượt quá trí hiểu của con người: Mẹ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu; Người sẽ nên cao cả, sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao, sẽ nhận ngai vàng vua Đavít và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận. Những lời ấy quá lớn đối với một thiếu nữ Nadarét. Đó không chỉ là một lời hứa đem lại vinh dự, nhưng còn là một tiếng gọi đưa Mẹ vào một cuộc phiêu lưu của đức tin, nơi Mẹ sẽ phải bước đi mà không nhìn thấy trước toàn bộ con đường. Mẹ sẽ phải đối diện với nguy cơ bị hiểu lầm, bị kết án, bị khước từ. Mẹ sẽ phải giải thích thế nào với thánh Giuse? Mẹ sẽ phải đối diện thế nào với những quy định nghiêm khắc của xã hội? Tương lai của Mẹ, danh dự của Mẹ và thậm chí mạng sống của Mẹ đều có thể bị đe dọa. Lời mời gọi của Thiên Chúa không phải là một vinh dự dễ dàng, nhưng là một thập giá ẩn giấu dưới ánh sáng của ân sủng. Tuy nhiên, sứ thần không nói rằng Mẹ sẽ không gặp khó khăn; sứ thần chỉ bảo: “Xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa.” Nền tảng giúp Maria vượt qua nỗi sợ không phải là vì Mẹ biết rõ mọi chuyện sẽ xảy ra thế nào, nhưng vì Mẹ biết Thiên Chúa đang ở cùng Mẹ. Đức tin không phải là biết trước mọi khúc quanh của con đường; đức tin là dám bước đi vì tin Đấng đang dẫn đường. Phó thác không có nghĩa là không còn cảm thấy sợ hãi; phó thác là giữa sợ hãi vẫn chọn tin tưởng. Can đảm của Đức Maria không phải là sự liều lĩnh của người không thấy nguy hiểm, nhưng là sự can đảm của người nhìn thấy những điều không chắc chắn mà vẫn đặt mình trong tay Thiên Chúa.

Maria hỏi sứ thần: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng?” Câu hỏi ấy không phải là một lời từ chối, nhưng là tiếng nói của một tâm hồn muốn hiểu để cộng tác. Mẹ không hỏi: “Tại sao lại là tôi?” Mẹ cũng không hỏi: “Tôi sẽ được lợi gì?” Mẹ không đòi một dấu bảo đảm rằng cuộc sống của mình sẽ được an toàn, rằng người khác sẽ hiểu và rằng mọi sự sẽ diễn ra suôn sẻ. Mẹ chỉ hỏi việc ấy sẽ xảy ra cách nào. Đó là câu hỏi của người đã sẵn sàng vâng phục nhưng muốn biết mình phải bước vào chương trình của Chúa ra sao. Có một sự khác biệt rất lớn giữa câu hỏi của lòng tin và câu hỏi của sự chống đối. Người chống đối đặt câu hỏi để trì hoãn, để tìm lý do từ chối hoặc để bắt Thiên Chúa phải chứng minh. Người tin đặt câu hỏi để lắng nghe sâu hơn và cộng tác trung thành hơn. Đức Maria không đòi kiểm soát chương trình của Thiên Chúa; Mẹ chỉ mở lòng để đón nhận ánh sáng cần thiết cho bước đi kế tiếp. Sứ thần trả lời rằng Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Mẹ và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên Mẹ. Điều xảy ra nơi Đức Maria hoàn toàn là công trình của Thiên Chúa. Mẹ được mời gọi cộng tác, nhưng sáng kiến, quyền năng và sự hoàn tất đều thuộc về Thiên Chúa. Chính ở đây, sự khiêm nhường của Mẹ được bày tỏ cách trọn vẹn. Mẹ hiểu rằng mình không phải là nguồn của ơn cứu độ, không phải là người làm nên điều kỳ diệu bằng sức riêng, nhưng là người đón nhận và để Thiên Chúa hành động. Mẹ không chiếm lấy công trình của Chúa để làm vinh quang cho mình; Mẹ trở thành chiếc bình trong sạch để mang kho tàng của Thiên Chúa, trở thành cung điện sống động để Ngôi Lời cư ngụ, trở thành mảnh đất tốt để hạt giống cứu độ nảy mầm.

Rồi giây phút quyết định đã đến. Cả trời đất như chờ đợi câu trả lời của một thiếu nữ. Thiên Chúa là Đấng toàn năng, nhưng Người không áp đặt. Người có thể dựng nên vũ trụ từ hư vô, nhưng khi muốn bước vào lịch sử loài người trong thân phận một con người, Người đã chờ đợi sự tự do của Đức Maria. Đây là điều thật kỳ diệu: Thiên Chúa tôn trọng tự do của con người đến mức Người ngỏ lời, mời gọi và chờ đợi. Người không phá cửa tâm hồn, không cưỡng ép, không biến Maria thành một công cụ vô thức. Thiên Chúa muốn lời đáp trả tự do của tình yêu. Và Maria đã thưa: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Lời “xin vâng” ấy là đỉnh cao của đức tin. Mẹ không nói: “Tôi đã hiểu hết, nên tôi đồng ý.” Mẹ cũng không nói: “Tôi biết chắc mọi chuyện sẽ ổn, nên tôi chấp nhận.” Mẹ thưa xin vâng khi phía trước vẫn còn bao điều chưa rõ. Mẹ trao mình cho Thiên Chúa không phải vì Mẹ nắm được tương lai, nhưng vì Mẹ tin Đấng nắm giữ tương lai. Mẹ không phó thác cho một định mệnh vô danh, nhưng phó thác cho một Thiên Chúa mà Mẹ biết là trung tín, giàu lòng thương xót và không bao giờ bỏ rơi những ai thuộc về Người.

“Này tôi là nữ tỳ của Chúa.” Đức Maria đã tự giới thiệu mình không phải là nữ hoàng, không phải là người được tuyển chọn đặc biệt, không phải là người có quyền trên kẻ khác, nhưng là nữ tỳ. Trong thế giới của chúng ta, người ta thường muốn được gọi bằng những danh xưng cao quý, muốn được người khác nhìn nhận, muốn có vị trí, uy tín và ảnh hưởng. Người ta cảm thấy mình quan trọng khi có người phục vụ mình, khi tiếng nói của mình được lắng nghe, khi ý muốn của mình được thực hiện. Đức Maria lại chọn đứng ở vị trí của người tôi tớ. Nhưng sự khiêm nhường của Mẹ không phải là tự khinh mình, không phải là phủ nhận phẩm giá hay tài năng của bản thân. Khiêm nhường đích thực là nhận biết mình là ai trước mặt Thiên Chúa. Mẹ biết mình là thụ tạo được yêu thương, là người đã lãnh nhận tất cả từ Thiên Chúa, là người không thể tự mình làm được điều gì nếu không có ân sủng. Mẹ không nói: “Tôi chẳng là gì nên Thiên Chúa không thể dùng tôi.” Đó không phải khiêm nhường mà là thiếu lòng tin. Mẹ cũng không nói: “Tôi đủ tài năng để hoàn thành sứ mạng này.” Đó sẽ là tự phụ. Mẹ nói: “Tôi là nữ tỳ của Chúa.” Nghĩa là: con thuộc về Chúa, con sẵn sàng để Chúa sử dụng đời con, con không dựa vào sức riêng nhưng dựa vào quyền năng của Chúa, con không tìm vinh quang cho mình nhưng chỉ mong ý Chúa được thành sự. Sự khiêm nhường nơi Đức Maria vừa sâu thẳm vừa mạnh mẽ. Chính vì không bám vào cái tôi, Mẹ có thể mở ra trước những điều lớn lao. Chính vì không tìm bảo vệ chương trình riêng, Mẹ có thể đón nhận chương trình của Thiên Chúa. Chính vì không muốn làm chủ, Mẹ trở thành người cộng tác tuyệt vời nhất trong công trình cứu độ.

“Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Lời thưa ấy diễn tả sự vâng phục trọn vẹn. Vâng phục trong đời sống Đức Maria không phải là một thái độ yếu đuối, cam chịu hay thiếu ý chí. Trái lại, lời xin vâng của Mẹ đòi hỏi một sức mạnh phi thường. Nói “vâng” với Thiên Chúa nhiều khi cũng có nghĩa là phải nói “không” với sự an toàn quen thuộc, với những tính toán riêng, với nỗi sợ dư luận và với nhu cầu kiểm soát mọi sự. Đức Maria đã phải từ bỏ quyền tự quyết định tương lai theo cách mình mong muốn, để cho Thiên Chúa dẫn Mẹ vào một con đường chưa từng được dự liệu. Sự vâng phục ấy không dừng lại trong ngày Truyền Tin, nhưng kéo dài suốt đời Mẹ. Lời “xin vâng” tại Nadarét sẽ được lặp lại trong hành trình vội vã lên miền núi thăm bà Êlisabét; trong những ngày phải cùng thánh Giuse về Bêlem mà không tìm được chỗ trọ; trong đêm sinh Con nơi máng cỏ nghèo hèn; trong cuộc chạy trốn sang Ai Cập giữa đêm tối; trong ba ngày đau đớn tìm Con; trong những năm âm thầm tại Nadarét; trong tiệc cưới Cana; trên những nẻo đường Chúa Giêsu rao giảng; và nhất là dưới chân thập giá. Lời xin vâng đầu tiên không miễn cho Mẹ khỏi đau khổ, nhưng chuẩn bị Mẹ đi xuyên qua đau khổ trong lòng trung tín. Tại Nadarét, Mẹ đón nhận Con Thiên Chúa trong lòng; tại Canvê, Mẹ phải trao Người Con ấy lại cho Chúa Cha. Tại Nadarét, sứ thần nói Con của Mẹ sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao; tại Canvê, Mẹ nhìn thấy Người bị treo giữa hai tên gian phi như một kẻ bị nguyền rủa. Tại Nadarét, Mẹ nghe nói triều đại Người sẽ vô cùng vô tận; tại Canvê, Mẹ chứng kiến Người chết trong sự nhục nhã và dường như thất bại hoàn toàn. Thế nhưng Mẹ vẫn đứng đó. Tin Mừng không nói Mẹ hiểu hết, nhưng nói Mẹ đứng dưới chân thập giá. Đó là hình ảnh cao cả của lòng vâng phục: không bỏ đi khi không còn hiểu, không quay lưng khi lời hứa dường như mâu thuẫn với thực tế, không rút lại lời xin vâng khi con đường trở nên đau đớn.

Đức Maria hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, nhưng sự thuộc về ấy không làm Mẹ xa cách con người. Trái lại, càng thuộc về Chúa, Mẹ càng trở nên gần gũi và hữu ích cho tha nhân. Ngay sau biến cố Truyền Tin, Mẹ vội vã lên đường thăm bà Êlisabét. Mẹ vừa cưu mang Con Thiên Chúa nhưng không khép mình trong niềm vui riêng. Mẹ mang Chúa đến cho người khác, mang sự phục vụ đến cho người đang cần, mang niềm vui đến cho một mái nhà. Đó là dấu chỉ để nhận ra một người thực sự thuộc về Thiên Chúa: họ không sống ích kỷ hơn, nhưng quảng đại hơn; không xa cách hơn, nhưng gần gũi hơn; không tự đặt mình trên người khác, nhưng cúi xuống phục vụ. Có những người nhân danh đời sống đạo để tìm sự tôn trọng, tìm vị trí và quyền hành; nhưng Đức Maria cho thấy càng đầy ân sủng, người ta càng trở nên nữ tỳ. Mẹ không sử dụng đặc ân làm Mẹ Thiên Chúa để được phục vụ, nhưng biến đặc ân ấy thành sứ mạng phục vụ. Mẹ đi đường dài, bước vào nhà bà Êlisabét, ở lại giúp đỡ suốt ba tháng. Tình yêu dành cho Thiên Chúa nơi Mẹ đã trở thành đôi chân vội vã, đôi tay chăm sóc, sự hiện diện dịu dàng và lời chúc bình an cho người khác.

Chân dung Đức Maria trong biến cố Truyền Tin cũng là tấm gương soi chiếu đời sống đức tin của mỗi chúng ta. Nhiều người trong chúng ta vẫn đọc kinh, tham dự thánh lễ, cầu nguyện và xin Chúa chúc lành, nhưng sâu xa bên trong lại muốn Chúa thực hiện ý mình hơn là mình thực hiện ý Chúa. Chúng ta muốn Chúa đi vào chương trình đã được mình sắp xếp, muốn Người xác nhận những quyết định mình đã chọn, muốn Người bảo vệ những điều mình đang nắm giữ. Khi mọi sự diễn ra thuận lợi, ta dễ nói rằng mình tin Chúa; nhưng khi Chúa dẫn sang một hướng khác, khi bệnh tật xuất hiện, khi công việc thất bại, khi tương quan đổ vỡ, khi những hy vọng không thành, lòng tin của ta bắt đầu lung lay. Chúng ta hỏi: “Tại sao Chúa lại để điều này xảy ra?” Câu hỏi ấy rất con người và không phải lúc nào cũng sai, nhưng điều quan trọng là sau câu hỏi đó, ta có còn đủ lòng tin để nói: “Xin ý Chúa được nên trọn” hay không. Đức Maria không dạy chúng ta giả vờ rằng đau khổ không đau, rằng sợ hãi không tồn tại hay rằng mọi biến cố đều dễ hiểu. Mẹ dạy chúng ta đem cả nỗi bối rối, sợ hãi và giới hạn của mình đến trước mặt Chúa, rồi đặt một lời xin vâng vào giữa những điều chưa hiểu.

Có thể nói lời xin vâng dễ dàng trong một giây phút xúc động, nhưng sống lời xin vâng mỗi ngày lại rất khó. Xin vâng với Thiên Chúa không chỉ là chấp nhận những sứ mạng lớn lao, nhưng trước hết là trung thành trong những bổn phận nhỏ bé. Đó là lời xin vâng của người mẹ thức đêm chăm con, dù mệt mỏi và không được ai biết đến; là lời xin vâng của người cha âm thầm làm việc, gánh vác gia đình và giữ lòng trung tín giữa nhiều cám dỗ; là lời xin vâng của người linh mục tiếp tục phục vụ dù có lúc cô đơn, bị hiểu lầm hoặc kiệt sức; là lời xin vâng của người tu sĩ trung thành với lời khấn giữa những khô khan; là lời xin vâng của người bệnh đón nhận giới hạn thân xác trong lòng tin; là lời xin vâng của người trẻ chọn sống ngay thẳng giữa một xã hội dễ dãi; là lời xin vâng của người bị tổn thương nhưng vẫn cố gắng tha thứ; là lời xin vâng của người nghèo vẫn không đánh mất lòng lương thiện; là lời xin vâng của người âm thầm làm điều tốt dù không được ghi nhận. Những lời xin vâng ấy không làm rung chuyển thế giới theo cách người đời nhìn thấy, nhưng âm thầm mở đường cho Thiên Chúa bước vào thế giới.

Sự phó thác của Đức Maria cũng là một lời chất vấn đối với căn bệnh muốn kiểm soát mọi sự nơi con người hôm nay. Chúng ta muốn kiểm soát tương lai, kiểm soát người khác, kiểm soát kết quả của mọi việc và thậm chí muốn kiểm soát cả Thiên Chúa. Ta cầu nguyện nhưng thường đã chuẩn bị sẵn câu trả lời mà Chúa phải ban. Ta xin Chúa soi sáng nhưng chỉ chấp nhận ánh sáng nếu ánh sáng ấy phù hợp với điều ta mong muốn. Ta nói mình phó thác nhưng vẫn giữ lại một phần đời sống mà không muốn Chúa chạm tới: tiền bạc, danh vọng, một mối tương quan không đúng, một tham vọng, một sự oán hận, một dự định riêng. Đức Maria không phó thác một phần, nhưng trao trọn. Mẹ không nói: “Con xin vâng, miễn là Chúa bảo đảm danh dự cho con.” Mẹ không nói: “Con xin vâng, nhưng xin đừng để Giuse hiểu lầm.” Mẹ không nói: “Con xin vâng, nhưng xin cho con thấy trước con đường.” Mẹ chỉ nói: “Xin Chúa cứ làm cho tôi.” Đó là một lời trao quyền hoàn toàn cho Thiên Chúa. Nhưng chỉ người nào thực sự tin rằng Thiên Chúa là Cha và yêu mình mới có thể trao quyền như thế. Nếu ta nghĩ Thiên Chúa là một ông chủ khắc nghiệt, ta sẽ sợ hãi khi trao đời mình cho Người. Nếu ta tin Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, ta sẽ hiểu rằng ý Người, dù có lúc khó khăn, vẫn là con đường dẫn đến sự sống.

Thuộc về Thiên Chúa không có nghĩa là mất tự do; trái lại, nơi Đức Maria, chúng ta thấy tự do đạt đến vẻ đẹp trọn vẹn nhất. Con người thường nghĩ tự do là muốn làm gì thì làm, không để ai can thiệp, không phải vâng phục bất cứ ai. Nhưng thứ tự do ấy rất dễ biến thành nô lệ cho bản năng, đam mê, dư luận và cái tôi. Đức Maria tự do vì Mẹ không bị thống trị bởi nỗi sợ, không bị trói buộc bởi danh dự, không làm nô lệ cho những dự tính riêng. Mẹ tự do để yêu, tự do để trao ban, tự do để nói vâng với điều thiện hảo nhất. Lời xin vâng của Mẹ không hủy bỏ tự do, nhưng là hành vi tự do cao cả nhất, bởi Mẹ tự nguyện dâng chính mình cho Thiên Chúa. Cũng như một nhạc cụ chỉ phát ra âm thanh tuyệt đẹp khi được đặt trong tay người nghệ sĩ, cuộc đời con người chỉ tìm thấy ý nghĩa sâu xa khi để Thiên Chúa sử dụng theo ý định yêu thương của Người. Mẹ Maria đã trở thành bản nhạc tuyệt vời trong tay Thiên Chúa vì Mẹ không cưỡng lại bàn tay Người, không cố chơi bản nhạc riêng của mình, nhưng để Thánh Thần làm vang lên nơi Mẹ bài ca cứu độ.

Nhìn vào Đức Maria, chúng ta cũng hiểu rằng sự thánh thiện không nhất thiết bắt đầu từ những việc phi thường, nhưng bắt đầu từ thái độ sẵn sàng thuộc về Chúa. Mẹ không đi tìm một sứ mạng lớn; Mẹ chỉ trung tín trong đời sống nhỏ bé, và chính trong sự nhỏ bé ấy, Thiên Chúa tìm gặp Mẹ. Có khi chúng ta nghĩ mình chỉ có thể nên thánh nếu làm được những việc đáng kể, được nhiều người biết đến hoặc có ảnh hưởng lớn lao. Nhưng Thiên Chúa không hỏi chúng ta đã nổi tiếng đến đâu; Người hỏi tâm hồn chúng ta có sẵn sàng hay không. Một căn nhà nhỏ ở Nadarét đã trở thành nơi Thiên Chúa nhập thể vì trong căn nhà ấy có một tâm hồn biết nói xin vâng. Một gia đình bình thường cũng có thể trở thành nơi Chúa hiện diện nếu vợ chồng biết tha thứ, con cái biết yêu thương, mọi người biết cầu nguyện và phục vụ nhau. Một công việc âm thầm cũng có thể trở thành lễ vật thánh thiện nếu được thực hiện với lòng trung tín. Một đời sống không được ai chú ý vẫn có thể trở nên cao cả trước mặt Chúa nếu từng ngày được sống trong tình yêu.

Tuy nhiên, lời xin vâng của Đức Maria không phải là một lời chấp nhận thụ động trước bất công hay sự dữ. Có người hiểu sai sự vâng phục Kitô giáo như việc nhẫn nhịn mọi áp bức, im lặng trước sai trái và để người khác chà đạp phẩm giá. Đức Maria khiêm nhường nhưng không hèn nhát; dịu dàng nhưng không yếu đuối. Bài ca Magnificat của Mẹ cho thấy một tâm hồn mạnh mẽ, nhận ra Thiên Chúa là Đấng hạ bệ những ai quyền thế, nâng cao mọi kẻ khiêm nhường, cho người đói nghèo được no đầy và để người giàu có trở về tay trắng. Vâng phục Thiên Chúa đôi khi đòi ta phải can đảm không vâng theo những gì trái với sự thật và lương tâm. Thuộc về Chúa nghĩa là không để mình thuộc về tiền bạc, quyền lực, tham vọng hay dư luận. Vì thế, lời xin vâng của Đức Maria là lời xin vâng với tình yêu, sự thật và công lý của Thiên Chúa; đồng thời cũng là lời từ chối mọi thế lực muốn chiếm đoạt con người khỏi bàn tay Người.

Có lẽ điều làm chúng ta cảm động nhất nơi Đức Maria là Mẹ đã không rút lại lời xin vâng. Trong cuộc đời, có những lúc ta khởi đầu rất nhiệt thành nhưng nhanh chóng mệt mỏi. Ta hứa với Chúa khi lòng đầy cảm xúc, rồi quên lời hứa khi gặp gian nan. Ta dễ trung thành khi được an ủi, được nhìn nhận, được người khác nâng đỡ; nhưng khi chỉ còn bóng tối, thinh lặng và thập giá, ta muốn rút lui. Đức Maria thì khác. Mẹ đã đi đến cùng. Mẹ không xin vâng trong một ngày, nhưng xin vâng suốt đời. Từ Nadarét đến Bêlem, từ Bêlem sang Ai Cập, từ Ai Cập trở về quê nhà, từ Nadarét đến Cana, từ Cana lên Giêrusalem và từ chân thập giá đến phòng Tiệc Ly, lời xin vâng của Mẹ vẫn nguyên vẹn. Mẹ có thể không biết ngày mai sẽ ra sao, nhưng mỗi ngày Mẹ lại trao ngày ấy cho Thiên Chúa. Đây chính là bí quyết của lòng trung tín: không nhất thiết phải có sức mạnh để gánh cả cuộc đời trong một lần, nhưng xin đủ ân sủng để nói vâng cho hôm nay. Ngày mai sẽ có ân sủng của ngày mai. Đức Maria không sống bằng sự bảo đảm của hoàn cảnh, nhưng bằng sự trung tín của Thiên Chúa.

Mỗi lần đọc lời “Này tôi là nữ tỳ của Chúa”, chúng ta được mời gọi tự hỏi: Tôi đang thuộc về ai? Tôi nói mình thuộc về Chúa, nhưng điều gì thực sự điều khiển cuộc đời tôi? Có phải là tiền bạc, danh dự, lời khen, sự thành công, nỗi sợ thất bại, sự ganh tị hay những tổn thương trong quá khứ? Tôi có để Chúa bước vào những khu vực sâu kín nhất của lòng mình không, hay chỉ dành cho Người một góc nhỏ trong đời sống? Tôi có sẵn sàng để Lời Chúa sửa đổi cách suy nghĩ, những lựa chọn và các mối tương quan của mình không? Có những lúc chúng ta muốn Chúa ở cùng, nhưng lại không muốn Người làm chủ. Ta muốn Chúa an ủi, nhưng không muốn Người sửa dạy; muốn Chúa ban ơn, nhưng không muốn Người sai đi; muốn Chúa tha thứ, nhưng không muốn tha thứ cho người khác. Đức Maria dạy chúng ta rằng đức tin trưởng thành không chỉ là đón nhận những gì Chúa ban, nhưng còn là để Chúa sử dụng đời mình cho kế hoạch của Người.

“Này tôi là nữ tỳ của Chúa” cũng là lời mời gọi chúng ta học lại sự thinh lặng. Thế giới hôm nay đầy tiếng nói, nhưng lại thiếu những tâm hồn biết lắng nghe. Người ta nói nhiều về mình, bảo vệ quan điểm của mình, tranh giành phần đúng về mình, nhưng ít khi dừng lại để hỏi: “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?” Không thể có lời xin vâng thật nếu không có sự lắng nghe. Đức Maria có thể nói xin vâng vì trước đó Mẹ đã lắng nghe. Mẹ không vội lấp đầy khoảng thinh lặng bằng tiếng nói của mình. Mẹ để Lời Chúa đi vào, chất vấn và biến đổi. Trong đời sống thiêng liêng, ta thường xin Chúa nói, nhưng lại không tạo khoảng trống để nghe. Ta đọc kinh rất nhiều nhưng đôi khi chỉ là mình nói với Chúa; ta ít ở lại trong thinh lặng để Chúa nói với mình. Muốn trở nên người thuộc về Thiên Chúa, ta phải tập thinh lặng trước Lời Người, tập đặt những quyết định dưới ánh sáng Tin Mừng, tập lắng nghe tiếng Chúa qua lương tâm, qua những biến cố và qua những người bé nhỏ chung quanh.

Lạy Đức Maria, người nữ tỳ khiêm hạ của Thiên Chúa, Mẹ đã không giữ lại điều gì cho riêng mình, nhưng trao trọn thân xác, tâm hồn, tương lai và cả những điều chưa hiểu vào bàn tay Chúa. Xin dạy chúng con biết sống khiêm nhường, không tìm cách nâng mình lên, không lấy những ơn Chúa ban làm lý do để tự hào, nhưng luôn nhận biết tất cả là hồng ân. Xin dạy chúng con biết vâng phục, không chỉ bằng môi miệng, nhưng bằng những lựa chọn cụ thể, bằng lòng trung tín trong bổn phận và bằng sự can đảm từ bỏ ý riêng khi ý riêng không phù hợp với Tin Mừng. Xin dạy chúng con biết phó thác, nhất là trong những ngày tương lai mờ mịt, khi lời cầu nguyện dường như chưa được đáp lại, khi đường Chúa dẫn đi khác với con đường chúng con mong muốn. Xin giúp chúng con tin rằng Thiên Chúa không bao giờ lầm lẫn khi gọi một người, không bao giờ bỏ rơi người đã trao mình cho Người và không bao giờ để một lời xin vâng chân thành trở thành vô ích.

Ước gì giữa một thế giới đang đề cao cái tôi, tìm kiếm quyền lực và sợ hãi sự hy sinh, cuộc đời mỗi chúng ta trở thành tiếng vọng của lời Đức Maria: “Này con là tôi tớ Chúa.” Ước gì chúng ta không chỉ đọc lời ấy trong kinh nguyện, nhưng sống lời ấy trong gia đình, nơi làm việc, trong cộng đoàn và giữa những thử thách hằng ngày. Ước gì mỗi buổi sáng, khi một ngày mới mở ra với bao điều không biết trước, chúng ta có thể thưa: “Lạy Chúa, ngày hôm nay thuộc về Chúa, thân xác con, thời gian con, khả năng con và mọi việc con làm đều thuộc về Chúa. Xin Chúa cứ thực hiện nơi con điều đẹp ý Chúa.” Và mỗi buổi tối, dù ngày ấy thành công hay thất bại, vui hay buồn, chúng ta vẫn có thể bình an nói: “Lạy Chúa, con đã cố gắng sống lời xin vâng của mình; phần còn lại, con xin phó thác cho Chúa.”

Lời xin vâng của Đức Maria đã mở cửa cho Ngôi Lời nhập thể. Lời xin vâng của chúng ta hôm nay cũng có thể mở cửa cho Chúa bước vào một gia đình đang rạn nứt, một tâm hồn đang tuyệt vọng, một cộng đoàn đang chia rẽ, một người nghèo đang cần được nâng đỡ, một người tội lỗi đang chờ được tha thứ. Chúng ta không thể làm những điều lớn lao bằng sức riêng, nhưng có thể trao cho Chúa một tâm hồn sẵn sàng. Chúa không đòi ta phải hiểu hết rồi mới vâng lời; Người chỉ xin ta tin đủ để bước đi. Chúa không cần ta hoàn hảo rồi mới sử dụng; Người chỉ cần ta khiêm nhường để Người uốn nắn. Chúa không tìm những con người không hề yếu đuối; Người tìm những con người trong yếu đuối vẫn dám nói xin vâng.

Đức Maria thật sự là chân dung của người Mẹ hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Mẹ thuộc về Chúa đến mức mọi nhịp đập của trái tim Mẹ đều hướng về Người, mọi bước chân Mẹ đều phục vụ chương trình của Người, mọi đau khổ Mẹ đều được hiến dâng trong tình yêu. Nhưng chính vì thuộc trọn về Thiên Chúa, Mẹ lại được trao cho toàn thể nhân loại làm Mẹ. Đó là nghịch lý tuyệt đẹp của tình yêu: người nào hiến dâng mình cho Thiên Chúa sẽ không mất chính mình, nhưng tìm lại chính mình trong một sự phong phú lớn lao hơn; người nào trao đời mình cho Chúa sẽ không trở nên nghèo nàn, nhưng trở thành quà tặng cho biết bao người. Xin Mẹ Maria giúp chúng ta đừng sợ thuộc về Chúa, đừng sợ để Chúa làm chủ đời mình, đừng sợ nói lời xin vâng. Bởi ở cuối mọi lời xin vâng được nói trong đức tin luôn có một mầu nhiệm sự sống đang được sinh ra; ở cuối mọi sự từ bỏ vì tình yêu luôn có một niềm vui sâu xa; và ở cuối mọi con đường phó thác luôn có bàn tay trung tín của Thiên Chúa đang chờ đợi.

“Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Đó không chỉ là lời của Đức Maria năm xưa, nhưng phải trở thành lời cầu nguyện của Hội Thánh và của từng người chúng ta hôm nay. Xin cho lời ấy đi từ môi miệng xuống trái tim, từ trái tim bước vào cuộc sống, để từng ngày chúng ta trở nên những con người khiêm nhường hơn, vâng phục hơn và phó thác hơn. Và khi cuộc đời khép lại, ước gì chúng ta có thể thanh thản trao linh hồn mình cho Chúa như Đức Maria đã trao cả cuộc đời Mẹ, với một niềm tin đơn sơ mà mạnh mẽ: Con là của Chúa, xin Chúa cứ thực hiện nơi con điều Chúa muốn. Amen.

MẸ CHÚA CỨU THẾ – NGƯỜI ĐƯỢC ĐỨC KITÔ CỨU CHUỘC CÁCH TUYỆT HẢO NHẤT

Khi gọi Đức Maria là Mẹ Chúa Cứu Thế, chúng ta tuyên xưng một phẩm giá cao cả đến nỗi không một thụ tạo nào khác có thể sánh bằng. Mẹ đã cưu mang trong cung lòng mình Con Thiên Chúa làm người; Mẹ đã trao cho Ngôi Lời một thân xác, một dòng máu, một trái tim nhân loại; Mẹ đã sinh hạ Đấng mà muôn dân trông đợi, Đấng đến để giải thoát nhân loại khỏi tội lỗi và sự chết. Thế nhưng, chính ở nơi tước hiệu cao trọng ấy, đức tin của Hội Thánh lại giúp chúng ta nhận ra một chân lý vừa sâu xa vừa đẹp đẽ: Đức Maria là Mẹ của Đấng Cứu Thế, nhưng Mẹ không đứng bên ngoài công trình cứu thế; Mẹ sinh ra Đấng Cứu Chuộc, nhưng chính Mẹ cũng cần được cứu chuộc; Mẹ được tôn vinh trên mọi thụ tạo, nhưng Mẹ vẫn là một thụ tạo hoàn toàn lệ thuộc vào ân sủng của Thiên Chúa. Mẹ không phải là nguồn mạch của ơn cứu độ. Mẹ không tự mình đạt tới sự thánh thiện. Mẹ không được miễn khỏi nhu cầu cần đến Đức Kitô. Trái lại, tất cả vẻ đẹp, sự tinh tuyền và vinh quang nơi Mẹ đều phát xuất từ Đức Kitô, đều được ban nhờ Đức Kitô và đều quy hướng về Đức Kitô. Nếu Mẹ là đóa hoa tinh tuyền nhất của nhân loại, thì Đức Kitô chính là nguồn nhựa sống làm cho đóa hoa ấy nở rộ. Nếu Mẹ là bình minh không vương bóng tối, thì chính ánh sáng của Mặt Trời Công Chính là Đức Kitô đã chiếu soi và gìn giữ Mẹ ngay từ giây phút đầu tiên của cuộc đời.

Để hiểu điều này, chúng ta cần tránh hai thái cực. Một đàng, có người vì quá yêu mến Đức Mẹ nên vô tình nói về Mẹ như thể Mẹ không cần được cứu độ, như thể Mẹ đứng ngang hàng với Đức Kitô, hoặc như thể Mẹ có một sự thánh thiện tự thân không tùy thuộc vào Thiên Chúa. Cách nghĩ ấy không làm Mẹ cao trọng hơn, nhưng lại làm lu mờ chính vẻ đẹp thật sự của Mẹ. Đàng khác, có người vì sợ tôn kính Đức Mẹ quá mức nên hạ thấp vai trò của Mẹ, xem Mẹ chỉ như một người phụ nữ bình thường, không nhận ra công trình kỳ diệu mà ân sủng Thiên Chúa đã thực hiện nơi Mẹ. Đức tin Công giáo không đi theo hai lối cực đoan ấy. Hội Thánh vừa tuyên xưng Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, là Đấng đầy ân sủng, là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội, là người có phúc hơn mọi người nữ; đồng thời Hội Thánh cũng tuyên xưng rằng tất cả những đặc ân ấy không tách Mẹ khỏi Đức Kitô, nhưng làm cho Mẹ gắn bó với Đức Kitô một cách sâu xa hơn bất cứ ai. Mẹ càng cao trọng bao nhiêu thì càng cho thấy quyền năng cứu độ của Đức Kitô lớn lao bấy nhiêu. Mẹ càng tinh tuyền bao nhiêu thì càng làm rạng ngời ân sủng nhưng không của Thiên Chúa bấy nhiêu. Nơi Mẹ, chúng ta không chỉ chiêm ngắm một con người thánh thiện, nhưng còn chiêm ngắm kiệt tác của ơn cứu chuộc.

Mọi người chúng ta đều là con cháu Ađam và Evà, được sinh ra trong một nhân loại đã bị tổn thương bởi tội nguyên tổ. Tội nguyên tổ không phải là một lỗi cá nhân mà mỗi trẻ thơ tự mình phạm, nhưng là tình trạng thiếu vắng sự sống ân sủng ban đầu, là vết thương sâu xa trong bản tính con người, khiến trí khôn dễ lầm lạc, ý chí dễ yếu đuối, con tim dễ nghiêng chiều về ích kỷ và cuộc đời phải đối diện với đau khổ, sự chết. Bởi đó, mọi người đều cần Đức Kitô cứu chuộc. Không ai có thể tự kéo mình ra khỏi vực sâu của tội lỗi. Không ai có thể tự trả món nợ mà nhân loại đã mắc với Thiên Chúa. Không ai có thể tự mở lại cánh cửa sự sống đời đời. Chỉ Con Thiên Chúa làm người, nhờ cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Người, mới có thể phá tan quyền lực của tội lỗi và sự chết, giao hòa nhân loại với Chúa Cha, ban lại cho con người phẩm giá làm con Thiên Chúa.

Đức Maria cũng thuộc về nhân loại ấy. Mẹ không phải là một nữ thần từ trời bước xuống. Mẹ là một người nữ thật, sinh ra trong một gia đình thật, thuộc về một dân tộc thật, mang trong mình lịch sử, khát vọng và niềm hy vọng của dân Israel. Mẹ cũng là con cháu Ađam. Vì thế, xét theo bản tính nhân loại, Mẹ cũng cần đến ơn cứu chuộc của Đức Kitô. Tuy nhiên, cách Mẹ được cứu chuộc hoàn toàn độc đáo. Chúng ta được cứu chuộc bằng cách được giải thoát khỏi một tình trạng tội lỗi mà chúng ta đã mắc phải; còn Đức Maria được cứu chuộc bằng cách được Thiên Chúa gìn giữ để không rơi vào tình trạng ấy ngay từ đầu. Chúng ta giống như người đã rơi xuống hố sâu và được bàn tay Đức Kitô kéo lên; còn Mẹ giống như người được chính bàn tay ấy giữ lại trước khi rơi xuống. Cả hai đều nhờ một Đấng Cứu Độ duy nhất. Người được kéo lên không thể tự hào rằng mình tự cứu mình; người được giữ khỏi sa xuống lại càng phải nhìn nhận rằng mình hoàn toàn nhờ ơn người đã gìn giữ. Vì thế, Đức Maria không phải là người không cần được cứu chuộc, nhưng là người được cứu chuộc một cách trọn vẹn, tận căn và tuyệt hảo nhất.

Đây chính là ý nghĩa sâu xa của tín điều Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội. Hội Thánh tuyên xưng rằng, ngay từ giây phút đầu tiên được thụ thai trong lòng thân mẫu, Đức Maria đã được Thiên Chúa toàn năng gìn giữ khỏi mọi vết nhơ của tội nguyên tổ, nhờ công nghiệp của Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ nhân loại. Điều này không có nghĩa là Mẹ không cần đến thập giá của Đức Kitô. Trái lại, thập giá của Đức Kitô chính là nền tảng cho đặc ân ấy. Công nghiệp cứu chuộc của Đức Kitô vượt trên giới hạn thời gian. Dù Đức Giêsu chịu chết trên đồi Canvê sau ngày Đức Maria được sinh ra nhiều năm, nhưng hiệu quả của hy tế cứu độ ấy không bị đóng khung trong một khoảnh khắc lịch sử. Đối với Thiên Chúa, công trình cứu độ của Đức Kitô có sức chạm đến mọi thời đại, cứu những người sống trước biến cố thập giá, cứu những người sống sau biến cố ấy và gìn giữ Đức Maria ngay từ giây phút đầu tiên của cuộc hiện hữu.

Có thể nói rằng bóng thập giá đã bao phủ cuộc đời Đức Maria ngay từ khởi đầu, không phải như bóng tối của thất bại, nhưng như bóng mát của ân sủng. Máu cứu chuộc của Đức Kitô đã không chỉ rửa sạch những người tội lỗi sau khi họ sa ngã, mà còn bảo vệ Mẹ khỏi vết thương của tội nguyên tổ. Vì vậy, khi chúng ta chiêm ngắm Đức Maria hoàn toàn tinh tuyền, chúng ta không chiêm ngắm một ngoại lệ tách khỏi Đức Kitô, nhưng chiêm ngắm hoa trái đầu mùa của chính công trình Đức Kitô. Nơi Mẹ, quyền năng cứu chuộc của Chúa không chỉ chữa lành mà còn phòng ngừa; không chỉ nâng dậy mà còn gìn giữ; không chỉ xóa sạch vết nhơ mà còn làm cho vết nhơ không bao giờ có thể chạm tới. Đó là lý do tại sao Hội Thánh gọi Mẹ là người được cứu chuộc cách cao cả nhất.

Sứ thần Gabriel đã chào Mẹ: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” Lời chào này không chỉ là một lời chúc lịch sự. Sứ thần không gọi tên Maria trước tiên, nhưng gọi Mẹ bằng một danh xưng diễn tả căn tính sâu xa của Mẹ: Đấng đầy ân sủng. Mẹ là người đã được Thiên Chúa yêu thương, tuyển chọn và bao phủ bằng ân sủng. Nhưng “đầy ân sủng” không có nghĩa là Mẹ tự đổ đầy chính mình bằng công nghiệp riêng. Một chiếc bình không thể tự tạo ra dòng nước trong nó; nó chỉ có thể mở ra để đón nhận. Cũng vậy, Mẹ đầy ân sủng vì Thiên Chúa đã đổ đầy Mẹ. Mẹ tinh tuyền vì Thiên Chúa đã gìn giữ Mẹ. Mẹ thánh thiện vì Thiên Chúa đã thánh hóa Mẹ. Mẹ cao trọng vì Thiên Chúa đã đoái nhìn đến phận nữ tỳ hèn mọn của Mẹ.

Chính Đức Maria đã hiểu điều đó rõ hơn bất cứ ai. Trong bài ca Magnificat, Mẹ không ca tụng mình. Mẹ không nói: “Linh hồn tôi ngợi khen những công nghiệp của tôi.” Mẹ cũng không nói: “Muôn thế hệ sẽ khen tôi có phúc vì tôi tài giỏi, xứng đáng và thánh thiện hơn mọi người.” Mẹ cất tiếng: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi.” Đây là lời tuyên xưng hết sức quan trọng: Đức Maria gọi Thiên Chúa là Đấng cứu độ tôi. Mẹ biết mình cần được cứu. Mẹ biết tất cả những gì mình có đều đến từ Thiên Chúa. Mẹ nhận ra rằng Đấng Toàn Năng đã làm cho Mẹ biết bao điều cao cả, chứ không phải Mẹ tự làm nên sự cao cả của mình. Chính vì Mẹ hoàn toàn ý thức mình được cứu độ, nên Mẹ không giữ vinh quang cho bản thân, nhưng dâng tất cả vinh quang về cho Thiên Chúa.

Câu nói “Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi” nơi môi miệng Đức Maria là chiếc chìa khóa giúp chúng ta hiểu đúng lòng sùng kính Đức Mẹ. Tôn kính Mẹ không phải là đặt Mẹ thay thế Đức Kitô, nhưng là cùng với Mẹ ngợi khen Đức Kitô. Yêu mến Mẹ không phải là dừng lại nơi Mẹ, nhưng là để Mẹ dẫn chúng ta đến với Con của Mẹ. Chiêm ngắm sự thánh thiện của Mẹ không phải để ca tụng một vẻ đẹp độc lập với Thiên Chúa, nhưng để sửng sốt trước những gì ân sủng Thiên Chúa có thể làm nơi một con người biết hoàn toàn mở lòng ra cho Ngài. Mẹ giống như một tấm kính trong suốt: càng trong thì càng không giữ ánh sáng lại cho mình, nhưng để ánh sáng đi qua và chiếu tỏa. Mẹ giống như mặt trăng: Mẹ không có ánh sáng tự thân, nhưng phản chiếu ánh sáng của Mặt Trời là Đức Kitô. Mẹ giống như một bài thánh ca tuyệt đẹp: vẻ đẹp của bài ca không nằm ở việc nó tự hát về chính mình, nhưng ở chỗ nó làm cho người nghe hướng lòng về Thiên Chúa.

Có người đặt câu hỏi: nếu Đức Maria được gìn giữ khỏi tội nguyên tổ, liệu Mẹ còn thực sự tự do không? Nếu Mẹ đầy ân sủng, liệu lời “xin vâng” của Mẹ có còn giá trị không? Câu trả lời là: ân sủng không hủy diệt tự do, nhưng chữa lành và làm cho tự do đạt tới sự viên mãn. Tội lỗi không làm con người tự do hơn; tội lỗi làm con người trở thành nô lệ. Một người nghiện ngập không tự do vì có thể tiếp tục làm điều phá hủy mình. Một người bị lòng tham, dục vọng, kiêu ngạo chi phối không tự do vì họ không còn đủ sức chọn điều thiện. Tự do đích thực không phải là khả năng chọn cả điều tốt lẫn điều xấu như nhau, nhưng là khả năng nhận biết và chọn điều thiện bằng cả con người mình. Thiên Chúa là Đấng tự do tuyệt đối, nhưng Thiên Chúa không thể làm điều xấu, bởi điều xấu trái với bản tính hoàn thiện của Ngài. Đức Maria, nhờ được gìn giữ khỏi tội nguyên tổ, không mất tự do; trái lại, Mẹ có một tự do trong sáng, không bị những xiềng xích của ích kỷ và tội lỗi bóp méo.

Bởi đó, lời “Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” của Mẹ không phải là một phản ứng máy móc. Đó là lời đáp trả hoàn toàn tự do của một con người được ân sủng thanh luyện. Mẹ có thể bối rối. Mẹ có thể đặt câu hỏi. Mẹ có thể cảm nhận sức nặng của lời mời gọi. Mẹ biết lời xin vâng ấy có thể khiến mình bị hiểu lầm, bị khước từ, thậm chí bị kết án theo luật lệ đương thời. Mẹ không nhìn thấy trước mọi chi tiết của hành trình. Nhưng Mẹ tin. Mẹ phó thác. Mẹ trao đời mình cho Thiên Chúa. Ân sủng đã chuẩn bị Mẹ, nhưng ân sủng không sống thay Mẹ. Thiên Chúa đã gìn giữ Mẹ khỏi tội, nhưng Thiên Chúa không cưỡng ép Mẹ. Trong từng biến cố, Mẹ vẫn phải đáp lại bằng đức tin, bằng vâng phục, bằng tình yêu. Đặc ân Vô Nhiễm không làm cho cuộc đời Mẹ trở nên dễ dàng; nó làm cho Mẹ có khả năng sống mọi thử thách trong sự trung tín trọn vẹn.

Mẹ được gìn giữ khỏi tội nguyên tổ không có nghĩa là Mẹ được gìn giữ khỏi đau khổ. Trái lại, trái tim không bị tội lỗi làm chai cứng lại có thể cảm nhận đau khổ sâu xa hơn. Mẹ sinh Con trong cảnh nghèo khó nơi hang đá Bêlem. Mẹ bồng Con chạy trốn sang Ai Cập giữa đêm tối. Mẹ lo âu đi tìm Con suốt ba ngày. Mẹ chứng kiến những lời chống đối nhắm vào Con mình. Mẹ nghe người ta vu khống, kết án và đòi đóng đinh Đức Giêsu. Mẹ đứng dưới chân thập giá khi thân xác Con bị xé nát, khi đôi tay từng ôm lấy cổ Mẹ bị đóng vào gỗ, khi đôi môi từng gọi Mẹ bằng tiếng “Mẹ” khát khô trong hấp hối. Mẹ không phạm tội, nhưng Mẹ sống giữa một thế giới đầy tội lỗi. Mẹ không phản bội Thiên Chúa, nhưng Mẹ phải gánh chịu hậu quả do sự phản bội của con người gây ra. Mẹ không cần được giải thoát khỏi tội riêng, nhưng Mẹ vẫn cần sức mạnh cứu độ của Đức Kitô để đi trọn con đường đức tin.

Dưới chân thập giá, Mẹ đứng đó như người đã được cứu chuộc đang hiệp thông sâu xa nhất với Đấng Cứu Chuộc. Mẹ không đứng ngang hàng với Đức Kitô để cùng thực hiện hai hy tế song song. Chỉ một mình Đức Kitô là Đấng Trung Gian duy nhất, là Chiên Thiên Chúa xóa tội trần gian, là vị Thượng Tế và lễ vật hoàn hảo. Nhưng Mẹ đứng bên thập giá trong tư cách người môn đệ đầu tiên, người mẹ đau khổ, người nữ tỳ hoàn toàn vâng phục. Mẹ kết hợp tiếng xin vâng của ngày Truyền Tin với tiếng xin vâng âm thầm trên đồi Canvê. Ngày trước, Mẹ đã trao thân xác mình để Con Thiên Chúa bước vào thế gian; giờ đây, Mẹ trao lại chính Người cho Chúa Cha vì ơn cứu độ nhân loại. Mẹ không cứu Đức Kitô khỏi thập giá, vì Mẹ hiểu rằng chính qua thập giá, Người đang cứu Mẹ và cứu toàn thể nhân loại.

Thật cảm động khi nghĩ rằng Đấng chịu đóng đinh trước mắt Mẹ vừa là Con của Mẹ, vừa là Đấng Cứu Độ của Mẹ. Dòng máu đang chảy xuống từ thân thể Đức Giêsu là dòng máu Mẹ đã trao cho Người khi cưu mang, nhưng chính dòng máu ấy lại là giá cứu chuộc Mẹ. Trái tim Đức Giêsu được hình thành dưới trái tim Mẹ, nhưng chính trái tim bị đâm thâu ấy là nguồn mạch ân sủng đã gìn giữ trái tim Mẹ tinh tuyền. Người Con đã nhận sự sống nhân loại từ Mẹ lại là Đấng ban sự sống thần linh cho Mẹ. Mẹ đã cho Người một mái nhà trong cung lòng mình, nhưng chính Người đã chuẩn bị cho Mẹ một chỗ trong nhà Chúa Cha. Mẹ đã quấn Người trong khăn và đặt nằm trong máng cỏ; chính Người lại khoác cho Mẹ chiếc áo ân sủng và đội triều thiên vinh quang cho Mẹ.

Mầu nhiệm ấy cho thấy mọi đặc ân của Đức Maria đều mang chiều kích Kitô học: tất cả đều quy về Đức Kitô. Mẹ là Mẹ Thiên Chúa vì Đức Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật. Mẹ đồng trinh trọn đời vì toàn thể con người Mẹ được thánh hiến cho mầu nhiệm Nhập Thể. Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội vì Thiên Chúa muốn chuẩn bị một cung lòng tinh tuyền cho Con Ngài và vì công nghiệp của Đức Kitô đã được áp dụng cho Mẹ cách tiên liệu. Mẹ được đưa cả hồn lẫn xác về trời vì chiến thắng phục sinh của Đức Kitô đã đạt tới hoa trái viên mãn nơi Mẹ. Không một đặc ân nào của Mẹ làm lu mờ Đức Kitô; mỗi đặc ân đều giống như một viên ngọc phản chiếu ánh sáng của Người. Không một vinh quang nào của Mẹ cạnh tranh với vinh quang Thiên Chúa; trái lại, mọi vinh quang nơi Mẹ đều chứng minh Thiên Chúa quyền năng, trung tín và giàu lòng thương xót biết bao.

Đức Maria được cứu chuộc cách tuyệt hảo cũng có nghĩa là Mẹ là hình ảnh báo trước về điều Hội Thánh và mỗi người chúng ta được mời gọi trở thành. Nơi Mẹ, chúng ta thấy ơn cứu độ không chỉ là chuyện được tha một số lỗi lầm, nhưng là được biến đổi toàn diện, được đưa vào sự hiệp thông với Thiên Chúa, được làm cho nên thánh thiện, tự do và đầy tràn tình yêu. Ơn cứu độ không chỉ nhằm giúp con người tránh hình phạt, nhưng nhằm phục hồi vẻ đẹp nguyên thủy mà Thiên Chúa đã muốn trao ban từ thuở tạo dựng. Đức Maria là dấu chỉ cho thấy ân sủng của Đức Kitô mạnh hơn tội lỗi, sự sống mạnh hơn sự chết, tình yêu mạnh hơn mọi vết thương. Những gì đã được thực hiện cách độc đáo nơi Mẹ là lời hứa về những gì Thiên Chúa muốn thực hiện nơi Hội Thánh: làm cho Hội Thánh trở nên thánh thiện, không tì ố, được trang điểm như hiền thê cho ngày gặp Đức Kitô.

Tuy nhiên, khi chiêm ngắm Mẹ được gìn giữ khỏi tội nguyên tổ, chúng ta không nên cảm thấy Mẹ xa cách với những con người yếu đuối. Có người nghĩ rằng vì Mẹ vô nhiễm, Mẹ không thể hiểu được những kẻ tội lỗi. Nhưng người không phạm tội lại có thể hiểu sự kinh khủng của tội lỗi sâu xa hơn người đã quen sống trong tội. Một người có đôi mắt trong sáng sẽ nhận ra bóng tối rõ hơn người đã ở lâu trong bóng tối. Một trái tim hoàn toàn yêu mến Thiên Chúa sẽ đau đớn sâu sắc hơn khi thấy Thiên Chúa bị xúc phạm. Mẹ không biết tội lỗi bằng kinh nghiệm phạm tội, nhưng Mẹ biết hậu quả của tội lỗi khi lưỡi gươm đâm thâu tâm hồn Mẹ dưới chân thập giá. Mẹ không từng phản bội Chúa, nhưng Mẹ chứng kiến sự phản bội của Giuđa. Mẹ không từng chối bỏ Chúa, nhưng Mẹ thấy sự yếu đuối của Phêrô. Mẹ không từng kết án người vô tội, nhưng Mẹ nghe tiếng đám đông gào thét: “Đóng đinh nó vào thập giá!” Mẹ hiểu nỗi đau mà tội lỗi gây ra hơn chúng ta tưởng.

Chính vì Mẹ biết mình hoàn toàn được cứu nhờ ân sủng, nên Mẹ không nhìn người tội lỗi bằng thái độ khinh miệt. Người tự cho rằng mình tốt lành nhờ sức riêng thường dễ kết án kẻ khác. Nhưng người biết mình được cứu nhờ lòng thương xót sẽ biết thương xót. Mẹ không đứng trên cao để trách móc chúng ta; Mẹ đứng bên chúng ta để dẫn chúng ta đến nguồn ơn tha thứ. Tại tiệc cưới Cana, Mẹ nhận ra nỗi thiếu thốn của đôi tân hôn trước khi họ kịp lên tiếng. Mẹ không làm phép lạ, nhưng Mẹ đưa nhu cầu của họ đến với Đức Giêsu. Mẹ không giữ người ta lại bên mình, nhưng nói: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Đó vẫn là sứ mạng của Mẹ đối với chúng ta hôm nay: không thay thế Đức Kitô, nhưng đưa chúng ta đến với Người; không ban ơn cứu độ từ chính mình, nhưng chuyển cầu để chúng ta mở lòng đón nhận ơn cứu độ từ Con Mẹ.

Người tín hữu Công giáo yêu mến Đức Maria không phải vì nghĩ Mẹ là một con đường khác bên cạnh Đức Kitô. Chúng ta yêu mến Mẹ vì Mẹ là con đường được Đức Kitô chọn để đến với chúng ta và là người mẹ luôn giúp chúng ta trở về với Đức Kitô. Mọi lời kinh kính Đức Mẹ đích thực đều phải kết thúc nơi Chúa Giêsu. Khi lần chuỗi Mân Côi, chúng ta không chỉ lặp lại tên Maria, nhưng cùng với Mẹ chiêm ngắm các mầu nhiệm cuộc đời Đức Kitô: Người nhập thể, rao giảng, chịu chết và sống lại. Khi hát ca tụng Mẹ, chúng ta thực ra đang ca tụng ân sủng của Thiên Chúa đã thực hiện những điều kỳ diệu nơi Mẹ. Khi chạy đến xin Mẹ chuyển cầu, chúng ta đang thú nhận rằng mình nghèo khó và cần được dẫn đến với Đấng Cứu Độ.

Hình ảnh Đức Maria được cứu chuộc cách tuyệt hảo cũng đánh động thái độ sống đức tin của chúng ta. Trước hết, Mẹ dạy chúng ta biết khiêm nhường. Thánh thiện không phải là tự cho mình hơn người. Càng gần Chúa, con người càng nhận ra mọi sự là hồng ân. Đức Maria là người thánh thiện nhất, nhưng Mẹ tự gọi mình là nữ tỳ. Mẹ được muôn thế hệ khen là diễm phúc, nhưng Mẹ quy mọi điều cao cả về cho Đấng Toàn Năng. Mẹ được gìn giữ khỏi tội nguyên tổ, nhưng Mẹ không tự mãn. Mẹ không lấy đặc ân làm chiếc ngai để ngồi trên người khác; Mẹ biến đặc ân thành khả năng phục vụ. Ngay sau biến cố Truyền Tin, Mẹ không ở lại Nadarét để suy nghĩ về địa vị cao trọng của mình. Mẹ vội vã lên đường đến miền núi giúp đỡ bà Êlisabét. Người thực sự được ân sủng chạm đến không đóng kín trong sự tự hào, nhưng lên đường phục vụ.

Chúng ta đôi khi chỉ nhận một chút thành công đã muốn người khác biết; làm được một việc tốt đã mong được khen; có chút hiểu biết đã muốn dạy người; đảm nhận một trách nhiệm nhỏ đã muốn người khác phục tùng. Đức Maria mang trong lòng chính Con Thiên Chúa mà vẫn lặng lẽ bước đi trên những con đường bụi bặm để chăm sóc một người chị họ đang mang thai. Mẹ không cần bảo vệ danh tiếng bằng những lời tự đề cao. Mẹ để Thiên Chúa thực hiện kế hoạch của Ngài. Nơi Mẹ, chúng ta học rằng ân sủng lớn không làm con người trở nên kiêu căng; ân sủng thật làm người ta trở nên nhỏ bé, hiền lành và sẵn sàng phục vụ.

Mẹ cũng dạy chúng ta biết ơn về ơn cứu độ. Nhiều người sống như thể Đức Kitô nợ họ ơn cứu độ, như thể việc được tha thứ, được lãnh nhận các bí tích, được làm con Thiên Chúa là chuyện hiển nhiên. Chúng ta dễ xem thường ân sủng vì đã nghe nói đến quá nhiều. Nhưng Đức Maria không bao giờ coi ân sủng là điều đương nhiên. Mẹ ngỡ ngàng trước lời chào của sứ thần. Mẹ cất lời Magnificat vì nhận ra Thiên Chúa đã đoái thương đến phận hèn mọn. Mẹ ghi nhớ mọi biến cố và suy đi nghĩ lại trong lòng. Mẹ sống cả cuộc đời như một lời tạ ơn. Ai biết mình được cứu khỏi một nguy hiểm lớn sẽ không thể sống hời hợt với người đã cứu mình. Ai hiểu giá máu của Đức Kitô sẽ không thể xem tội lỗi như trò đùa. Ai ý thức mình đã được Thiên Chúa yêu thương dù bất xứng sẽ không thể khép lòng trước nỗi đau của anh chị em.

Mẹ được cứu chuộc bằng sự gìn giữ; chúng ta thường được cứu chuộc bằng sự tha thứ và chữa lành. Nhưng cả Mẹ và chúng ta đều phải thưa lời xin vâng mỗi ngày. Ân sủng đã được ban, nhưng cần được cộng tác. Bí tích Rửa Tội đã giải thoát chúng ta khỏi tội nguyên tổ, nhưng khuynh hướng nghiêng chiều về tội vẫn còn. Chúng ta vẫn phải chiến đấu với kiêu ngạo, ích kỷ, ghen ghét, tham lam, nóng giận và đam mê lệch lạc. Đức Maria không chỉ là một đặc ân để chúng ta chiêm ngắm, nhưng là mẫu gương để chúng ta bước theo. Mẹ cho thấy ân sủng có thể làm gì nơi một người không khép cửa lòng mình. Mỗi lời xin vâng của chúng ta, dù nhỏ bé, đều mở thêm một khoảng không gian cho Thiên Chúa hành động. Mỗi lần chúng ta từ chối tội lỗi, tha thứ cho người xúc phạm, phục vụ người nghèo, trung thành trong bổn phận, đón nhận thánh ý giữa đau khổ, chúng ta đang để ơn cứu độ của Đức Kitô sinh hoa trái trong mình.

Tín điều Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội không phải là một lý thuyết xa xôi không liên quan đến đời sống. Đó là lời khẳng định đầy hy vọng rằng Thiên Chúa không bất lực trước tội lỗi. Có những lúc chúng ta nhìn vào bản thân và thất vọng vì những yếu đuối lặp đi lặp lại. Có những lúc chúng ta nhìn vào gia đình, xã hội hay Hội Thánh và chỉ thấy quá nhiều vết thương. Có những lúc sự dữ dường như lan rộng đến mức không gì có thể ngăn lại. Nhưng nơi Đức Maria, Thiên Chúa cho chúng ta thấy Ngài có thể thực hiện một khởi đầu mới. Giữa một nhân loại mang vết thương của Ađam, Ngài chuẩn bị một người nữ hoàn toàn thuộc về ân sủng. Giữa bóng tối dày đặc, Ngài thắp lên một ngọn đèn không bị tội lỗi dập tắt. Giữa một dòng lịch sử chất đầy phản bội, Ngài làm nảy sinh một lời xin vâng trọn vẹn.

Mẹ Vô Nhiễm là lời báo trước rằng tội lỗi không có tiếng nói cuối cùng. Sự dữ có thể gây thương tích, nhưng ân sủng có thể chữa lành. Con người có thể khước từ Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa không từ bỏ con người. Ađam và Evà đã dùng tự do để nói “không”; Đức Maria dùng tự do được ân sủng nâng đỡ để nói “xin vâng”. Nút thắt của bất tuân được tháo gỡ bằng sự vâng phục. Cánh cửa đã đóng lại bởi kiêu ngạo được mở ra bởi khiêm nhường. Tuy nhiên, chính Đức Kitô mới là Đấng hoàn tất tất cả. Lời xin vâng của Mẹ chuẩn bị con đường, nhưng Đức Kitô là Con Đường. Mẹ trao cho Người thân xác, nhưng chính Người trao ban sự sống đời đời. Mẹ hiện diện và cộng tác, nhưng Đức Kitô là Đấng cứu độ duy nhất.

Chúng ta phải luôn giữ sự quân bình đẹp đẽ ấy: không có Đức Maria nào tách khỏi Đức Kitô, và cũng không có sự hiểu biết trọn vẹn về mầu nhiệm Nhập Thể mà lại coi thường Đức Maria. Thiên Chúa đã muốn Con của Ngài đến với thế gian qua lời xin vâng của Mẹ. Ngài không cần Mẹ theo nghĩa tuyệt đối, bởi Thiên Chúa không thiếu thốn điều gì, nhưng Ngài đã tự do muốn cần đến sự cộng tác của một thụ tạo. Điều đó không làm giảm quyền năng Thiên Chúa, nhưng cho thấy tình yêu Ngài cao cả: Thiên Chúa không cứu con người như sửa chữa một cỗ máy vô tri; Ngài mời gọi con người tự do cộng tác. Đức Maria là mẫu gương cao nhất của sự cộng tác ấy. Nhưng ngay cả khả năng cộng tác của Mẹ cũng là hoa trái của ân sủng cứu độ.

Khi nhìn vào Mẹ, đừng chỉ nói: “Mẹ thật may mắn vì được gìn giữ khỏi tội nguyên tổ.” Hãy nói: “Ân sủng của Đức Kitô thật quyền năng biết bao khi có thể thực hiện một công trình kỳ diệu như thế nơi Mẹ.” Đừng chỉ nói: “Mẹ thật cao trọng vì đã sinh Chúa Giêsu.” Hãy nói: “Thiên Chúa thật khiêm nhường biết bao khi muốn đón nhận thân xác từ một người nữ.” Đừng chỉ nói: “Mẹ thật thánh thiện.” Hãy nói: “Thiên Chúa thật trung tín biết bao khi Ngài có thể gìn giữ và thánh hóa một con người hoàn toàn.” Mọi ánh mắt hướng về Mẹ cuối cùng phải trở thành lời ngợi khen Thiên Chúa.

Đặc ân của Mẹ cũng nhắc chúng ta đừng bao giờ tự hào về những gì mình đã lãnh nhận. Có người được sinh ra trong gia đình đạo đức, được giáo dục đức tin từ nhỏ, ít trải qua những sa ngã nghiêm trọng. Có người đã từng rời xa Chúa, phạm nhiều lỗi lầm rồi được ơn hoán cải. Người thứ nhất giống như được Chúa gìn giữ khỏi nhiều nguy hiểm; người thứ hai giống như được Chúa kéo ra khỏi hố sâu. Cả hai đều không có lý do để khinh nhau. Người được gìn giữ phải biết mình được gìn giữ nhờ ân sủng, không phải vì tự nhiên tốt hơn. Người được tha thứ phải biết lòng thương xót Chúa lớn hơn mọi tội lỗi. Đức Maria là mẫu gương cho người được gìn giữ: càng nhận nhiều ân sủng, Mẹ càng khiêm nhường, biết ơn và phục vụ. Thánh Phêrô, thánh Phaolô, thánh Augustinô và biết bao tội nhân hoán cải lại là mẫu gương cho người được kéo lên sau sa ngã. Tất cả gặp nhau dưới chân thập giá và cùng tuyên xưng: chỉ nhờ Đức Kitô mà chúng ta được cứu.

Chúng ta cũng cần học nơi Mẹ cách giữ gìn ân sủng. Mẹ được Vô Nhiễm Nguyên Tội là đặc ân duy nhất, nhưng mỗi người chúng ta sau khi được thanh tẩy trong bí tích Rửa Tội và được tha thứ trong bí tích Hòa Giải cũng được mời gọi giữ tâm hồn trong sạch. Chúng ta không thể sống như thể tội lỗi chẳng có gì nghiêm trọng rồi nghĩ rằng chỉ cần xin lỗi Chúa vào phút cuối là đủ. Lòng thương xót không phải là giấy phép để tiếp tục phạm tội. Người thật sự tin vào ơn cứu độ sẽ quý trọng ân sủng và tránh xa những gì làm tổn thương tình thân với Chúa. Hãy nhìn Mẹ: Mẹ giữ mọi sự trong lòng, sống dưới ánh mắt Chúa, trung thành trong những bổn phận âm thầm. Sự thánh thiện của Mẹ không chỉ xuất hiện trong những khoảnh khắc phi thường như Truyền Tin hay dưới chân thập giá, nhưng được dệt bằng hàng ngàn việc nhỏ tại Nadarét: cầu nguyện, làm việc, chăm sóc gia đình, lắng nghe, chờ đợi, phục vụ.

Đôi khi chúng ta muốn sống thánh thiện bằng những việc lớn lao, nhưng lại bỏ quên lời nói thiếu bác ái, sự nóng giận trong gia đình, thói quen xét đoán, sự gian dối nhỏ, việc cầu nguyện hời hợt và trách nhiệm bị bỏ bê. Mẹ cho thấy ân sủng phải thấm vào đời sống thường ngày. Mẹ không chỉ là người của những thị kiến và phép lạ; Mẹ là người nữ của căn bếp, mái nhà, con đường, sự chờ đợi và những năm tháng âm thầm. Mẹ được đầy ân sủng, nên trong từng việc nhỏ, Mẹ để Thiên Chúa làm chủ. Nếu muốn sống dưới tác động của ơn cứu độ, chúng ta cũng phải để Đức Kitô đi vào những góc nhỏ nhất của đời mình: cách sử dụng tiền bạc, cách nói về người vắng mặt, cách đối xử với người yếu thế, cách phản ứng khi bị hiểu lầm, cách dùng mạng xã hội, cách sống khi không ai nhìn thấy.

Mẹ Chúa Cứu Thế nhưng chính Mẹ cũng được Đức Kitô cứu chuộc: chân lý ấy giúp lòng sùng kính của chúng ta trở nên trưởng thành. Chúng ta không chạy đến với Mẹ vì nghĩ rằng Mẹ hiền còn Chúa Giêsu nghiêm khắc, như thể Mẹ phải thuyết phục Con mình thôi trừng phạt chúng ta. Trái tim thương xót của Mẹ chính là hoa trái của trái tim Đức Kitô. Mẹ yêu chúng ta vì đã được tình yêu của Người đổ đầy. Mẹ chuyển cầu cho chúng ta vì Mẹ hoàn toàn hiệp thông với ý muốn cứu độ của Thiên Chúa. Mẹ không chống lại công lý của Con Mẹ, nhưng giúp chúng ta mở lòng đón nhận lòng thương xót mà Người đang ban. Khi chúng ta nắm lấy tay Mẹ, Mẹ không giữ tay chúng ta cho riêng mình; Mẹ đặt bàn tay chúng ta vào bàn tay bị đóng đinh của Đức Giêsu.

Trong những lúc phạm tội, đừng sợ chạy đến với Mẹ, nhưng cũng đừng dừng lại ở cảm xúc an ủi. Hãy nghe Mẹ nói: “Người bảo gì, các con cứ làm theo.” Nếu Đức Giêsu bảo chúng ta trở về, hãy trở về. Nếu Người mời gọi xưng thú tội lỗi, hãy can đảm đến với bí tích Hòa Giải. Nếu Người đòi chúng ta tha thứ, hãy xin ơn để tha thứ. Nếu Người mời gọi từ bỏ một mối quan hệ bất chính, một thói quen xấu, một cách kiếm sống gian dối hay một lòng thù hận kéo dài, đừng dùng lòng sùng kính Đức Mẹ để che đậy sự bất tuân. Người con thật của Mẹ là người biết lắng nghe Đức Kitô. Không thể vừa lần chuỗi Mân Côi mỗi ngày vừa cố tình sống trái Tin Mừng mà không muốn hoán cải. Kinh Mân Côi đích thực phải dẫn chúng ta đến việc để cuộc đời Đức Kitô uốn nắn cuộc đời mình.

Chân lý này cũng mang lại niềm an ủi lớn lao. Nếu Đức Maria, người cao trọng nhất trong các thụ tạo, vẫn hoàn toàn nhờ vào ơn cứu chuộc của Đức Kitô, thì chúng ta không cần xấu hổ khi thú nhận mình cần được cứu. Thế gian thường dạy con người phải tự mạnh mẽ, tự xây dựng hình ảnh, che giấu yếu đuối và chứng minh rằng mình không cần ai. Nhưng đức tin dạy chúng ta rằng vẻ đẹp lớn nhất của con người không nằm ở sự độc lập khỏi Thiên Chúa, mà ở việc để Thiên Chúa yêu thương và cứu độ. Đức Maria không trở nên nhỏ bé khi nhận mình là nữ tỳ; chính nhờ đặt mình trong tay Thiên Chúa, Mẹ được nâng lên cao hơn mọi thụ tạo. Mẹ không mất phẩm giá khi nói “Thiên Chúa là Đấng cứu độ tôi”; chính lời tuyên xưng ấy làm cho Mẹ trở nên thật sự cao trọng.

Có lẽ điều khó nhất đối với nhiều người không phải là tin Thiên Chúa tồn tại, nhưng là chấp nhận rằng mình cần được Ngài cứu. Chúng ta thích được Chúa hỗ trợ hơn là được Chúa cứu; thích xin Ngài thêm sức cho kế hoạch của mình hơn là để Ngài thay đổi đời mình; thích nhận một vài ơn lành hơn là trao toàn bộ con người cho Ngài. Đức Maria cho thấy đón nhận ơn cứu độ không phải là một hành động thụ động. Đó là để Thiên Chúa bước vào, đảo lộn những tính toán riêng và dẫn chúng ta đến nơi mình không ngờ. Lời xin vâng đã đưa Mẹ từ Nadarét đến Bêlem, từ Bêlem sang Ai Cập, từ Ai Cập về lại Nadarét, từ Nadarét lên Canvê và từ Canvê vào niềm vui Phục Sinh. Được cứu không có nghĩa là tránh khỏi mọi gian nan; được cứu là để Thiên Chúa dẫn mình đi xuyên qua gian nan đến sự sống.

Mẹ là người đầu tiên được hưởng hoa trái cứu độ của Con mình cách trọn vẹn. Nhưng Mẹ cũng là người đi trọn con đường đức tin. Có lúc Mẹ không hiểu hết lời của Con. Có lúc Mẹ phải cất giữ mọi sự trong lòng. Có lúc Thiên Chúa im lặng. Có lúc trước mắt Mẹ chỉ là một ngôi mộ đã đóng kín. Tuy nhiên, Mẹ không rút lại lời xin vâng. Sự thánh thiện của Mẹ không phải là không bao giờ phải bước đi trong bóng tối, nhưng là vẫn tin khi chưa thấy ánh sáng. Đó chính là vẻ đẹp của người được cứu chuộc: không phải người không bao giờ đau, nhưng là người không để nỗi đau tách mình khỏi Thiên Chúa; không phải người hiểu hết mọi sự, nhưng là người tin Đấng đang dẫn mình; không phải người nắm chắc tương lai, nhưng là người đặt tương lai trong tay Chúa.

Khi mừng kính Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, chúng ta không chỉ mừng một đặc ân của Mẹ, nhưng mừng chiến thắng của Đức Kitô nơi Mẹ. Chúng ta mừng vì có một con người đã hoàn toàn để cho ân sủng chiến thắng. Chúng ta mừng vì lời hứa cứu độ của Thiên Chúa không phải là một ước mơ mơ hồ, nhưng đã bắt đầu trở thành hiện thực nơi Đức Maria. Chúng ta mừng vì nơi Mẹ, nhân loại đã có thể thưa với Thiên Chúa một lời xin vâng không bị tội lỗi chia cắt. Chúng ta mừng vì cung lòng tinh tuyền của Mẹ đã trở thành Hòm Bia Giao Ước mới, nơi Con Thiên Chúa cư ngụ giữa loài người.

Nhưng lễ mừng ấy cũng đặt trước chúng ta một câu hỏi: ân sủng của Đức Kitô đang làm gì trong cuộc đời tôi? Tôi có để Người cứu mình không? Tôi có thực sự tin rằng mình cần được cứu khỏi lòng kiêu ngạo, thói ích kỷ, sự ghen ghét, đam mê hỗn loạn và những ràng buộc âm thầm không? Hay tôi chỉ muốn được Chúa giải quyết những khó khăn bên ngoài mà không muốn Ngài chạm vào những vùng tối bên trong? Tôi có sẵn sàng thưa xin vâng như Mẹ, hay chỉ vâng phục khi ý Chúa trùng hợp với ý tôi? Tôi có biết tạ ơn về những lần Chúa đã gìn giữ mình khỏi sa ngã, hay chỉ nhận ra ơn Chúa khi được kéo ra khỏi hậu quả của tội?

Nhiều lúc, chúng ta không biết mình đã được Chúa gìn giữ khỏi bao nhiêu tai họa phần hồn. Có những con đường xấu chúng ta đã không bước vào. Có những cám dỗ tưởng như rất hấp dẫn nhưng nhờ một hoàn cảnh nào đó chúng ta đã tránh được. Có những mối quan hệ, cơ hội hay dự định không thành khiến chúng ta từng thất vọng, nhưng sau này mới nhận ra đó là sự bảo vệ của Chúa. Chúng ta thường chỉ tạ ơn vì những điều Chúa ban, ít khi tạ ơn vì những điều Chúa không cho xảy ra. Nhìn lên Đức Maria được cứu chuộc bằng sự gìn giữ, chúng ta học biết tạ ơn cả những ân huệ vô hình: những vực thẳm ta đã không rơi xuống, những tội lỗi ta đã không phạm, những con đường sai lạc ta đã không bước vào nhờ bàn tay âm thầm của Thiên Chúa.

Đồng thời, chúng ta đừng tuyệt vọng nếu đã sa ngã. Đức Maria được gìn giữ khỏi rơi xuống; chúng ta có thể đã rơi xuống nhiều lần. Nhưng cùng một Đức Kitô đã gìn giữ Mẹ cũng đang cúi xuống để nâng chúng ta lên. Không tội lỗi nào mạnh hơn máu của Người khi người tội lỗi thật lòng thống hối. Không quá khứ nào có thể đóng kín tương lai khi chúng ta để cho lòng thương xót viết lại đời mình. Mẹ không nhìn những đứa con sa ngã bằng sự ghê tởm. Mẹ đưa chúng ta đến chân thập giá, nơi dòng máu cứu chuộc vẫn tuôn chảy. Mẹ nhắc rằng Con Mẹ không đến cho người tự cho mình công chính, nhưng đến tìm và cứu những gì đã mất.

Vì thế, tước hiệu “Mẹ Chúa Cứu Thế” không làm Mẹ xa khỏi hàng ngũ những người được cứu. Trái lại, Mẹ đứng ở vị trí đầu tiên trong đoàn người ấy. Mẹ đi trước chúng ta, không phải bằng quyền năng riêng, nhưng nhờ ân sủng Đức Kitô. Mẹ là người đầu tiên được mặc áo cứu độ cách trọn vẹn, là người đầu tiên hưởng chiến thắng của Con mình cả hồn lẫn xác, là hình ảnh của Hội Thánh trong ngày viên mãn. Nhìn Mẹ, chúng ta thấy tương lai mà Thiên Chúa chuẩn bị cho những ai thuộc về Đức Kitô. Đó là một tương lai không còn tội lỗi, không còn nước mắt, không còn sự chết; một tương lai trong đó toàn thể con người được biến đổi và sống trong sự hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa.

Đức Maria không đứng ngoài ơn cứu độ. Mẹ ở chính giữa dòng sông cứu độ, nhưng ở nơi đầu nguồn tinh tuyền nhất mà ân sủng Đức Kitô đã chạm đến. Mẹ không phải là Đấng Cứu Độ, nhưng là người được Đấng Cứu Độ yêu thương và cứu chuộc cách tuyệt hảo. Mẹ không phải là nguồn ánh sáng, nhưng là tấm gương phản chiếu ánh sáng không vẩn đục. Mẹ không phải là tác giả của ân sủng, nhưng là người đã đón nhận ân sủng với một tâm hồn rộng mở nhất. Mẹ không tự nâng mình lên, nhưng Thiên Chúa đã nâng Mẹ lên vì Mẹ đã hạ mình xuống. Mẹ không chiếm lấy vinh quang của Con, nhưng đứng trong vinh quang của Con và không ngừng chỉ cho nhân loại thấy Người.

Xin Mẹ Chúa Cứu Thế dạy chúng ta biết nhận mình là những người cần được cứu. Xin Mẹ chữa chúng ta khỏi lòng kiêu ngạo khiến ta tưởng mình có thể nên tốt bằng sức riêng. Xin Mẹ giúp chúng ta đừng lạm dụng lòng thương xót, nhưng biết quý trọng ân sủng và tránh xa tội lỗi. Xin Mẹ dạy chúng ta biết thưa lời xin vâng trong những điều nhỏ bé mỗi ngày, trung thành khi không được ai nhìn thấy, phó thác khi không hiểu được đường Chúa dẫn. Xin Mẹ đưa chúng ta đến gần thập giá Đức Kitô, để chúng ta nhận ra giá của ơn cứu chuộc và không bao giờ xem nhẹ tình yêu đã đổ máu vì mình.

Lạy Đức Maria, Mẹ là Mẹ của Đấng Cứu Thế, nhưng Mẹ cũng là người đã được Con Mẹ cứu chuộc cách tuyệt hảo. Mẹ hoàn toàn tinh tuyền không phải vì Mẹ không cần đến Chúa, nhưng vì Chúa đã chiếm hữu Mẹ trọn vẹn. Mẹ đầy ân sủng không phải vì Mẹ tự làm đầy mình, nhưng vì Mẹ đã để Thiên Chúa đổ đầy. Mẹ được muôn thế hệ khen là diễm phúc không phải vì Mẹ tìm kiếm vinh quang, nhưng vì Mẹ đã tin rằng lời Chúa phán sẽ được thực hiện.

Xin Mẹ dạy chúng con sống như những người đã được cứu chuộc: không tự mãn nhưng biết tạ ơn, không khinh người nhưng biết thương xót, không giữ ơn Chúa cho riêng mình nhưng biết lên đường phục vụ. Xin Mẹ giúp chúng con để cho ân sủng Đức Kitô đi vào mọi ngõ ngách của cuộc đời, thanh luyện điều ô uế, chữa lành điều tổn thương, nâng dậy điều đã ngã quỵ và làm sống lại điều tưởng như đã chết.

Và khi hành trình trần thế khép lại, xin Mẹ đứng bên chúng con như Mẹ đã đứng bên thập giá. Xin Mẹ nhắc chúng con rằng Đấng đang phán xét chúng con cũng chính là Đấng đã chịu chết để cứu chúng con. Xin Mẹ dẫn chúng con đến gặp Đức Giêsu, người Con Mẹ đã sinh hạ cho trần gian, Đấng Mẹ đã yêu mến suốt đời và cũng là Đấng đã cứu chuộc Mẹ bằng chính máu mình. Để rồi cùng với Mẹ, cùng các thiên thần và toàn thể các thánh, chúng con được đời đời cất lên lời ca ngợi: Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi.

 

ĐỨC MARIA VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI – CÔNG TRÌNH TUYỆT ĐẸP CỦA ÂN SỦNG CỨU ĐỘ

Mỗi khi Hội Thánh long trọng mừng kính Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, chúng ta không chỉ đứng trước một đặc ân cao quý được Thiên Chúa ban riêng cho Đức Mẹ, nhưng còn được mời gọi chiêm ngắm cả một công trình cứu độ kỳ diệu mà Thiên Chúa đã thực hiện trong lịch sử nhân loại. Nơi Đức Maria, ân sủng của Thiên Chúa không còn là một ý tưởng xa xôi, không còn là một lời hứa mơ hồ, nhưng đã trở thành một thực tại sống động, cụ thể và đẹp đẽ. Mẹ chính là công trình tuyệt mỹ mà bàn tay Thiên Chúa đã chuẩn bị để Con Một của Người bước vào trần gian. Tuy nhiên, khi nói đến đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội, chúng ta cần hiểu cho đúng: đặc ân ấy không làm cho Đức Maria đứng bên ngoài công trình cứu chuộc của Đức Kitô, càng không đặt Mẹ ngang hàng với Đấng Cứu Thế. Trái lại, đặc ân ấy cho thấy quyền năng cứu độ của Đức Giêsu Kitô đã hoạt động nơi Mẹ một cách sâu xa, trọn vẹn và nhiệm mầu ngay từ giây phút đầu tiên Mẹ hiện hữu. Mẹ cũng được cứu độ, nhưng được cứu độ bằng một cách thức đặc biệt: không phải được kéo ra khỏi vực sâu sau khi đã rơi xuống, nhưng được gìn giữ để không rơi vào vực sâu ấy ngay từ đầu. Nếu chúng ta được Đức Kitô cứu khỏi tội lỗi đã phạm và chữa lành những thương tích tội lỗi gây nên, thì Đức Maria được Đức Kitô cứu chuộc bằng cách gìn giữ Mẹ khỏi vết nhơ nguyên tội ngay từ lúc được thụ thai trong lòng thân mẫu. Như thế, Đức Maria không đứng ngoài ơn cứu độ, nhưng là người đầu tiên được hưởng hoa trái cứu độ của Đức Kitô một cách hoàn hảo nhất. Mẹ không làm lu mờ vinh quang của Chúa Giêsu, nhưng chính sự tinh tuyền của Mẹ lại làm sáng lên quyền năng cứu độ vô biên của Người. Mẹ càng thánh thiện bao nhiêu, chúng ta càng nhận ra ân sủng của Thiên Chúa mạnh mẽ bấy nhiêu. Mẹ càng được gìn giữ khỏi tội lỗi bao nhiêu, chúng ta càng thấy rõ chiến thắng của Đức Kitô trên tội lỗi trọn vẹn bấy nhiêu.

Để hiểu vẻ đẹp của tín điều này, chúng ta cần trở về với khởi đầu của lịch sử nhân loại. Sách Sáng Thế kể rằng Thiên Chúa đã dựng nên con người theo hình ảnh của Người, cho con người được sống trong tình thân mật với Người, được hưởng một thế giới hài hòa giữa con người với Thiên Chúa, giữa con người với nhau, giữa con người với thiên nhiên và ngay trong chính nội tâm mình. Con người được dựng nên không phải để sống trong sợ hãi, đau khổ và chết chóc, nhưng để sống trong tình yêu, tự do và hạnh phúc. Thế nhưng tội lỗi đã bước vào thế gian qua sự bất tuân của nguyên tổ. Khi con người muốn tự mình quyết định điều thiện điều ác, muốn sống không cần Thiên Chúa, muốn đặt mình vào vị trí của Đấng Tạo Hóa, thì sự hài hòa ban đầu bị phá vỡ. Từ đó, sợ hãi xuất hiện, con người trốn tránh Thiên Chúa, đổ lỗi cho nhau, nghi ngờ nhau và trở nên xa lạ với chính mình. Tội nguyên tổ không chỉ là một hành vi sai trái trong quá khứ, nhưng là một vết thương sâu xa truyền lại cho toàn thể nhân loại. Mỗi người sinh ra đều bước vào một thế giới đã bị thương tổn, mang trong mình một khuynh hướng nghiêng chiều về ích kỷ, kiêu ngạo, bất phục tùng và xa cách Thiên Chúa. Ta muốn làm điều tốt nhưng lại dễ bị điều xấu lôi kéo; ta khao khát yêu thương nhưng lại thường làm tổn thương người khác; ta muốn sống chân thành nhưng lại dễ che giấu, giả hình; ta muốn thuộc về Chúa nhưng lòng vẫn bị chia năm sẻ bảy bởi những đam mê và tham vọng trần thế. Đó là tình trạng chung của nhân loại sau sa ngã.

Tuy nhiên, Thiên Chúa không bỏ rơi con người trong bóng tối. Ngay khi con người phạm tội, Người đã mở ra một lời hứa cứu độ. Giữa những lời xét xử dành cho con rắn, Thiên Chúa tuyên bố sẽ đặt mối thù giữa con rắn và người phụ nữ, giữa dòng giống nó và dòng giống người phụ nữ; dòng giống ấy sẽ đạp nát đầu con rắn. Lời hứa ấy như một tia sáng đầu tiên lóe lên giữa đêm tối của tội lỗi. Từ giây phút con người thất bại, Thiên Chúa đã bắt đầu chuẩn bị một chiến thắng. Từ nơi tưởng như mọi sự đã khép lại, lòng thương xót lại mở ra một con đường mới. Người phụ nữ được nói đến trong lời hứa ấy đã được truyền thống Hội Thánh nhận ra hình ảnh báo trước về Đức Maria, người phụ nữ mới, người sẽ hoàn toàn đứng về phía Thiên Chúa, hoàn toàn đối nghịch với con rắn và quyền lực tội lỗi. Nếu Evà xưa đã lắng nghe lời con rắn và nghi ngờ lời Thiên Chúa, thì Đức Maria sẽ lắng nghe lời Thiên Chúa và khước từ mọi lời mời gọi của sự dữ. Nếu sự bất tuân của người phụ nữ đầu tiên góp phần đưa nhân loại vào tình trạng sa ngã, thì sự vâng phục của người phụ nữ mới sẽ mở đường cho Đấng Cứu Thế bước vào trần gian. Chính trong kế hoạch yêu thương ấy, Thiên Chúa đã chuẩn bị Đức Maria từ trước muôn đời, không phải như một dụng cụ vô tri, nhưng như một người con tự do, một người nữ biết lắng nghe, biết yêu mến và biết đáp lại.

Đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội trước hết nói với chúng ta về sáng kiến tuyệt đối của Thiên Chúa. Đức Maria không tự làm cho mình trở nên vô nhiễm. Mẹ không đạt tới sự tinh tuyền ấy bằng công trạng riêng, bằng nỗ lực cá nhân hay bằng một đời sống khổ chế phi thường trước khi được sinh ra. Tất cả hoàn toàn là ân sủng. Trước khi Mẹ có thể làm bất cứ điều gì cho Thiên Chúa, Thiên Chúa đã làm tất cả cho Mẹ. Trước khi Mẹ có thể yêu mến Người, Người đã yêu Mẹ. Trước khi Mẹ có thể thưa lời xin vâng, ân sủng đã bao phủ và chuẩn bị Mẹ. Trước khi Mẹ trở thành Mẹ của Ngôi Lời nhập thể, Mẹ đã được Thiên Chúa chọn gọi, thánh hóa và gìn giữ. Vì thế, tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội trước hết là một bài ca ngợi khen ân sủng. Mẹ là bằng chứng sống động cho thấy khi ân sủng Thiên Chúa hoạt động trọn vẹn trong một con người, con người ấy có thể trở nên đẹp đẽ biết bao. Mẹ là một thụ tạo hoàn toàn được ân sủng chạm đến, thấm nhập và biến đổi. Không có một góc khuất nào trong tâm hồn Mẹ khép lại trước Thiên Chúa, không có một vùng nào trong đời Mẹ chống lại tình yêu của Người, không có một thỏa hiệp nào giữa Mẹ với tội lỗi. Toàn thể con người Mẹ là một cánh cửa mở ra cho Thiên Chúa, một thửa đất tốt để Lời Người gieo xuống, một cung điện thanh sạch để Ngôi Lời cư ngụ, một tiếng xin vâng kéo dài suốt cuộc đời.

Khi sứ thần Gabriel đến với Đức Maria tại Nadarét, lời chào đầu tiên không phải là gọi tên Mẹ, nhưng là: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” Lời chào ấy hé mở căn tính sâu xa của Đức Maria. Mẹ là “Đấng đầy ân sủng”, nghĩa là người đã được Thiên Chúa yêu thương, tuyển chọn và đổ đầy sự sống thần linh. Ân sủng nơi Mẹ không phải là một lớp áo khoác bên ngoài, càng không phải một danh hiệu chỉ để tôn vinh, nhưng là tình trạng sống sâu xa của Mẹ. Mẹ thuộc trọn về Thiên Chúa. Mẹ sống trong tương quan hoàn toàn với Thiên Chúa. Mẹ được tình yêu của Người bao phủ từ giây phút đầu tiên và suốt mọi ngày đời Mẹ. Chính vì đầy ân sủng nên Mẹ có thể đón nhận lời truyền tin bằng một tâm hồn tự do. Chính vì đầy ân sủng nên Mẹ có thể đặt thánh ý Thiên Chúa lên trên mọi dự tính riêng. Chính vì đầy ân sủng nên Mẹ có thể tin vào điều vượt quá hiểu biết của mình. Chính vì đầy ân sủng nên Mẹ có thể thưa: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.”

Chúng ta thường nghĩ rằng Đức Maria thưa lời xin vâng một cách dễ dàng vì Mẹ đã được gìn giữ khỏi tội nguyên tổ. Nhưng vô nhiễm không có nghĩa là Mẹ không phải chiến đấu, không phải đau khổ, không phải bước đi trong đêm tối của đức tin. Đặc ân không biến Mẹ thành một con người không có cảm xúc, không biết sợ hãi hay không phải đối diện với thử thách. Tin Mừng cho thấy Mẹ đã bối rối trước lời chào của sứ thần, đã hỏi làm sao điều ấy có thể xảy ra, đã phải đối diện với nguy cơ bị hiểu lầm, bị loại bỏ, thậm chí bị kết án theo luật lệ đương thời. Sau lời xin vâng, Mẹ không được trao cho một cuộc đời êm đềm. Mẹ phải lên đường về Bêlem khi ngày sinh đã gần, phải sinh Con trong cảnh nghèo khó, phải nghe lời tiên báo rằng một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn, phải ôm Con chạy trốn sang Ai Cập giữa đêm tối, phải sống những năm tháng âm thầm tại Nadarét, phải chứng kiến Con bị chống đối, bị vu khống, bị bắt bớ và cuối cùng bị đóng đinh trên thập giá. Mẹ vô nhiễm không có nghĩa là Mẹ được miễn trừ đau khổ, nhưng là giữa mọi đau khổ, lòng Mẹ không lìa xa Thiên Chúa. Mẹ không để đau khổ biến thành cay đắng, không để thử thách biến thành nổi loạn, không để bóng tối biến thành thất vọng. Mẹ đau nhưng vẫn tin; Mẹ không hiểu hết nhưng vẫn phó thác; Mẹ bị đâm thâu nhưng vẫn yêu thương; Mẹ đứng dưới chân thập giá nhưng không quay lưng bỏ đi.

Đó chính là vẻ đẹp sâu xa của Đức Maria Vô Nhiễm. Sự tinh tuyền của Mẹ không phải là vẻ đẹp mong manh của một người chưa từng đi qua giông bão, nhưng là vẻ đẹp bền vững của một tâm hồn đã đi xuyên qua giông bão mà vẫn trung thành. Sự thánh thiện của Mẹ không phải là một khoảng cách lạnh lùng với kiếp người, nhưng là khả năng ở giữa những đổ vỡ của nhân loại mà không để sự dữ chiếm lấy trái tim mình. Mẹ hiểu nước mắt vì Mẹ đã khóc. Mẹ hiểu mất mát vì Mẹ đã chứng kiến Con mình bị giết chết. Mẹ hiểu lưu đày vì Mẹ từng phải bồng Con trốn chạy. Mẹ hiểu cảnh nghèo vì Mẹ đã sinh Con trong máng cỏ. Mẹ hiểu sự hiểu lầm vì có những điều Mẹ chỉ có thể ghi nhớ và suy đi nghĩ lại trong lòng. Mẹ hiểu sự cô đơn của đức tin vì đã có lúc Mẹ phải bước đi mà không nhìn thấy rõ con đường phía trước. Chính vì thế, khi chúng ta chạy đến với Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, chúng ta không đến với một người xa lạ không biết gì về thân phận con người, nhưng đến với một người Mẹ đã sống trọn vẹn thân phận ấy trong ân sủng.

Điều quan trọng nhất cần được nhấn mạnh là đặc ân của Đức Maria hoàn toàn quy hướng về Đức Kitô. Mẹ được gìn giữ khỏi tội nguyên tổ “nhờ công nghiệp của Đức Giêsu Kitô”. Nói cách khác, thập giá của Chúa Giêsu không chỉ có hiệu lực đối với những người sống sau biến cố đồi Canvê, nhưng quyền năng cứu độ của Người vượt trên mọi giới hạn thời gian. Công nghiệp cứu chuộc của Đức Kitô đã được Thiên Chúa áp dụng trước cho Đức Maria ngay từ giây phút đầu tiên Mẹ hiện hữu. Có thể dùng một hình ảnh đơn sơ để hiểu điều này: một người đang đi trên đường, không nhìn thấy phía trước có một hố sâu. Nếu người ấy rơi xuống và được ai đó kéo lên, người ấy đã được cứu. Nhưng nếu có người kịp thời giữ người ấy lại trước khi rơi xuống, người ấy cũng được cứu, thậm chí được cứu theo một cách thức trọn vẹn hơn. Nhân loại chúng ta giống như người đã rơi xuống vực sâu của tội lỗi và được Đức Kitô kéo lên bằng cuộc tử nạn và phục sinh của Người. Còn Đức Maria được Đức Kitô gìn giữ để không rơi vào vực ấy ngay từ đầu. Cả hai đều cần Đấng Cứu Thế. Cả hai đều được cứu nhờ cùng một ân sủng. Nhưng nơi Đức Maria, hiệu quả của ơn cứu độ được thể hiện theo cách tuyệt hảo nhất.

Bởi đó, khi ca tụng Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, Hội Thánh không lấy vinh quang của Đức Kitô để trao cho Mẹ, nhưng ca tụng chính chiến thắng của Đức Kitô nơi Mẹ. Nếu một nghệ phẩm tuyệt đẹp khiến người ta ca ngợi tài năng của nghệ nhân, thì vẻ đẹp thánh thiện của Đức Maria càng khiến chúng ta tôn vinh Thiên Chúa là Đấng đã thực hiện công trình ấy. Một bông hoa tinh khiết không tự tạo ra vẻ đẹp cho mình; vẻ đẹp của nó làm chứng cho sự phong phú của mảnh đất, ánh sáng và bàn tay Đấng Tạo Hóa. Đức Maria cũng vậy. Mẹ không giữ vinh quang cho mình. Mọi sự nơi Mẹ đều trở thành lời Magnificat: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi.” Mẹ nhận mình là nữ tỳ hèn mọn, nhưng đồng thời nhận ra những điều cao cả Thiên Chúa đã làm cho Mẹ. Mẹ không phủ nhận ân huệ, cũng không chiếm hữu ân huệ. Mẹ đón nhận tất cả trong lòng biết ơn và trao tất cả trở lại cho Thiên Chúa bằng lời ngợi khen. Đó là sự khiêm nhường đích thực: không phải chối bỏ những điều tốt đẹp Thiên Chúa đã ban, nhưng nhận biết rằng tất cả đều là ân sủng.

Nhiều khi chúng ta hiểu sự khiêm nhường như việc phải coi thường chính mình, phải nói rằng mình chẳng có giá trị gì, chẳng làm được gì, chẳng đáng được yêu thương. Nhưng Đức Maria dạy chúng ta một sự khiêm nhường khác. Mẹ biết mình được Thiên Chúa đoái thương. Mẹ biết từ nay muôn thế hệ sẽ khen mình diễm phúc. Mẹ biết Đấng Toàn Năng đã làm cho mình biết bao điều cao cả. Nhưng Mẹ không vì thế mà tự tôn, bởi Mẹ biết nguồn gốc của mọi điều ấy là Thiên Chúa. Người kiêu ngạo nhìn những ân huệ mình có rồi nói: “Tất cả là do tôi.” Người mặc cảm nhìn những ân huệ mình có rồi phủ nhận: “Tôi chẳng có gì.” Người khiêm nhường như Đức Maria nhìn mọi ân huệ và thưa: “Tất cả là hồng ân.” Chính thái độ ấy làm cho Mẹ trở thành người nữ hoàn toàn tự do. Mẹ không cần tìm kiếm ánh mắt ngưỡng mộ của người đời, không cần chứng minh mình quan trọng, không cần giành lấy vị trí hay quyền lực, bởi Mẹ biết mình đã được Thiên Chúa yêu thương. Một người thực sự biết mình được Chúa yêu sẽ không còn phải sống để xin thế gian công nhận mình. Một người biết giá trị của mình trong mắt Chúa sẽ không cần hạ thấp người khác để nâng mình lên. Một người biết mọi sự là ân sủng sẽ không khinh thường người yếu kém, cũng không ghen tị với người nổi bật hơn mình.

Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội còn cho chúng ta thấy mục đích ban đầu của Thiên Chúa khi dựng nên con người. Nhìn vào Mẹ, chúng ta nhận ra con người không được dựng nên để làm nô lệ cho tội lỗi, không được sinh ra để sống mãi trong sợ hãi, hận thù và ích kỷ. Mẹ là hình ảnh của nhân loại được ân sủng phục hồi, là dấu chỉ báo trước điều Hội Thánh và mỗi người chúng ta được mời gọi trở thành. Thiên Chúa không cứu chúng ta chỉ để tha một vài lỗi lầm, nhưng để làm cho chúng ta nên thánh, trở nên những người con tự do, sống trong tình yêu và hiệp thông với Người. Đức Maria là bình minh của một thế giới mới, là hoa trái đầu mùa của công trình cứu chuộc, là hình ảnh Hội Thánh không tì ố, không vết nhăn, được Đức Kitô yêu thương và hiến mình để thánh hóa. Nơi Mẹ, chúng ta thấy trước vận mệnh của mình. Ơn gọi sau cùng của chúng ta không phải là tội lỗi, nhưng là sự thánh thiện; không phải là hư mất, nhưng là vinh quang; không phải là xa cách Thiên Chúa, nhưng là được sống đời đời trong tình yêu của Người.

Tuy nhiên, khi nhìn lên vẻ đẹp của Đức Maria, có người có thể cảm thấy nản lòng: Mẹ quá tinh tuyền, còn tôi quá nhiều tội lỗi; Mẹ đầy ân sủng, còn tôi đầy yếu đuối; Mẹ luôn xin vâng, còn tôi đã bao lần từ chối Thiên Chúa. Nhưng Hội Thánh không đặt Đức Maria trước mắt chúng ta để làm chúng ta mặc cảm. Mẹ không phải là một chuẩn mực lạnh lùng khiến chúng ta thấy mình thất bại, nhưng là một dấu chỉ hy vọng cho thấy ân sủng có thể làm được những điều kỳ diệu trong cuộc đời một con người. Chúng ta không vô nhiễm như Mẹ, nhưng chúng ta cũng được ân sủng chạm đến qua bí tích Rửa Tội. Chúng ta có thể sa ngã, nhưng được mời gọi đứng dậy nhờ bí tích Hòa Giải. Chúng ta mang nhiều vết thương, nhưng được nuôi dưỡng bằng Mình và Máu Đức Kitô. Chúng ta yếu đuối, nhưng Chúa Thánh Thần vẫn hoạt động trong lòng chúng ta. Mẹ không đứng xa để phán xét, nhưng đến gần để nâng đỡ và dẫn chúng ta về với Chúa Giêsu. Mẹ biết mọi vẻ đẹp nơi mình đều đến từ ân sủng, nên Mẹ cũng biết ân sủng ấy có thể chữa lành những gì đang hư hỏng trong chúng ta.

Lễ Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội vì thế là ngày lễ của niềm hy vọng. Niềm hy vọng không đặt trên sức riêng của chúng ta, nhưng đặt trên quyền năng của Thiên Chúa. Nhìn lại đời mình, có lẽ chúng ta thấy quá nhiều điều chưa đẹp: những thói quen xấu đã kéo dài nhiều năm, những cơn nóng giận tưởng như không thể chế ngự, lòng ghen tị cứ âm thầm lớn lên, sự ích kỷ khiến ta làm tổn thương người thân, những vết thương quá khứ khiến ta khép kín, những sa ngã làm ta xấu hổ, những lần phản bội lời hứa với Chúa khiến ta không còn dám tin mình có thể thay đổi. Nhưng nơi Đức Maria, Thiên Chúa nhắc chúng ta rằng ân sủng của Người mạnh hơn tội lỗi. Điều con người không thể, Thiên Chúa có thể. Nơi nào chúng ta chỉ nhìn thấy đổ vỡ, Thiên Chúa vẫn nhìn thấy một công trình có thể được tái tạo. Nơi nào chúng ta chỉ thấy bóng tối, Thiên Chúa đã chuẩn bị một bình minh. Nơi nào chúng ta nghĩ tất cả đã kết thúc, lòng thương xót của Người vẫn có thể mở ra một khởi đầu mới.

Tội lỗi thường làm cho con người trở nên xấu xí không phải ở khuôn mặt bên ngoài, nhưng trong cách nhìn, cách nghĩ, cách nói và cách đối xử. Một trái tim bị ích kỷ thống trị sẽ chỉ nhìn thấy lợi ích của mình. Một tâm hồn bị kiêu ngạo chiếm hữu sẽ không thể chịu được khi người khác hơn mình. Một con người bị hận thù điều khiển sẽ biến mọi lời nói thành vũ khí. Một người sống trong gian dối sẽ luôn phải che đậy và sợ hãi. Tội lỗi hứa ban tự do nhưng cuối cùng lại trói buộc; hứa ban hạnh phúc nhưng để lại trống rỗng; hứa ban quyền lực nhưng khiến con người trở thành nô lệ. Trái lại, nơi Đức Maria, chúng ta thấy vẻ đẹp của một con người hoàn toàn tự do khỏi sự thống trị của tội lỗi. Mẹ tự do để yêu, tự do để cho đi, tự do để phục vụ, tự do để thưa xin vâng, tự do để đứng bên người đau khổ, tự do để không giữ gì cho riêng mình. Mẹ không bị cái tôi chi phối nên có thể vội vã lên đường thăm bà Êlisabét. Mẹ không tìm vinh quang cho bản thân nên có thể âm thầm sống tại Nadarét. Mẹ không bám víu vào Con theo tính chiếm hữu nên có thể để Người ra đi thi hành sứ vụ. Mẹ không để sợ hãi thắng thế nên có thể đứng dưới chân thập giá khi nhiều người đã bỏ chạy. Vô nhiễm vì thế không chỉ là không có tội, nhưng là sự tự do trọn vẹn để sống cho Thiên Chúa và cho tha nhân.

Điều này đặt ra cho mỗi người chúng ta một câu hỏi rất thật: tôi đang để điều gì thống trị lòng mình? Tôi có thực sự tự do không, hay đang bị nô lệ bởi tiền bạc, danh tiếng, quyền lực, lời khen, lòng tự ái, những ham muốn và định kiến? Tôi có thể vui khi người khác thành công không, hay trong lòng lập tức nảy sinh ghen tị? Tôi có thể nhận lỗi không, hay luôn tìm lý do đổ lỗi cho người khác? Tôi có thể tha thứ không, hay vẫn âm thầm nuôi dưỡng những cuộc đối thoại đầy hận dữ trong lòng? Tôi có thể để Chúa thay đổi kế hoạch của mình không, hay chỉ muốn Người chúc lành cho những gì tôi đã quyết định? Đức Maria đã hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa nên Mẹ hoàn toàn tự do. Còn chúng ta nhiều khi nói rằng mình thuộc về Chúa, nhưng thực tế lại để quá nhiều thứ khác làm chủ tâm hồn.

Chiêm ngắm Đức Maria Vô Nhiễm cũng là dịp để chúng ta học lại ý nghĩa của sự trong sạch. Thế giới hôm nay thường xem sự trong sạch như một giới hạn, một điều lỗi thời hay một gánh nặng. Nhưng nơi Đức Maria, sự trong sạch không phải là nghèo nàn tình cảm, không phải là khước từ tình yêu, mà là khả năng yêu bằng một trái tim không chiếm hữu. Người có trái tim trong sạch không nhìn người khác như phương tiện để thỏa mãn nhu cầu của mình, không lợi dụng thân xác, tình cảm hay lòng tin của người khác. Người trong sạch biết tôn trọng phẩm giá của tha nhân, biết yêu mà không thao túng, biết gần gũi mà không chiếm đoạt, biết cho đi mà không đòi hỏi đáp trả. Đức Maria có một trái tim hoàn toàn trong sạch nên tình yêu của Mẹ cũng hoàn toàn rộng mở. Mẹ thuộc trọn về Thiên Chúa nhưng không vì thế mà xa cách con người; trái lại, càng thuộc về Chúa, Mẹ càng gần gũi với những ai cần được yêu thương. Mẹ vội vã đến phục vụ bà Êlisabét, quan tâm đến sự bối rối của đôi tân hôn tại Cana, hiện diện giữa các môn đệ đang sợ hãi và cầu nguyện cùng Hội Thánh sơ khai. Tình yêu dành cho Thiên Chúa không làm Mẹ khép kín, nhưng khiến trái tim Mẹ mở rộng đến mọi người.

Mẹ Vô Nhiễm còn dạy chúng ta sự nhạy bén trước tội lỗi. Chúng ta thường nghĩ tội lỗi chỉ là những hành vi lớn lao, nghiêm trọng và công khai. Nhưng nhiều khi tội lỗi bắt đầu từ những điều rất nhỏ mà ta dung dưỡng trong lòng: một chút tự mãn, một lời nói thiếu bác ái, một lần bóp méo sự thật, một ánh mắt khinh thường, một sự im lặng trước bất công, một chút ghen ghét, một thói quen xét đoán, một niềm vui kín đáo trước thất bại của người khác. Nếu không tỉnh thức, những điều nhỏ ấy dần trở thành nếp sống. Lương tâm bị chai lì, điều sai được xem như bình thường, và cuối cùng con người không còn nhận ra khoảng cách giữa mình với Thiên Chúa. Đức Maria không thỏa hiệp với sự dữ, không phải vì Mẹ sợ hãi một Thiên Chúa nghiêm khắc, nhưng vì Mẹ yêu Thiên Chúa quá sâu xa. Khi yêu ai thật lòng, ta không muốn làm điều gì khiến người ấy đau buồn. Sự thánh thiện không hệ tại ở việc lúc nào cũng lo sợ bị phạt, nhưng ở một tình yêu không muốn phản bội.

Có lẽ một trong những bi kịch lớn nhất của đời sống thiêng liêng là chúng ta quen với tội lỗi. Ta quen với sự nóng nảy đến mức cho rằng đó là tính cách. Ta quen với việc nói xấu đến mức gọi đó là chia sẻ. Ta quen với tham vọng đến mức cho rằng đó là ý chí tiến thân. Ta quen với vô cảm đến mức gọi đó là khôn ngoan. Ta quen với việc không cầu nguyện đến mức cho rằng mình quá bận. Ta quen với sự nguội lạnh đến mức không còn nhận thấy lòng mình xa Chúa. Mẹ Vô Nhiễm nhắc chúng ta rằng đừng bao giờ xem điều làm tổn thương tình yêu là chuyện bình thường. Ánh sáng nơi Mẹ không lên án chúng ta, nhưng giúp chúng ta thấy những bụi bẩn đang bám vào tâm hồn để can đảm xin Chúa thanh tẩy.

Nhưng sự thanh tẩy ấy không thể chỉ đến từ quyết tâm cá nhân. Nhiều người đã từng hứa sẽ thay đổi, từng quyết không tái phạm, từng cố gắng làm lại từ đầu, nhưng rồi vẫn ngã xuống đúng nơi cũ. Điều đó không có nghĩa là chúng ta vô vọng, nhưng cho thấy ta không thể tự cứu mình. Đức Maria Vô Nhiễm dẫn ta đến với Đức Kitô, bởi chỉ nơi Người chúng ta mới có ơn tha thứ và sức mạnh đổi mới. Chúng ta không nên dừng lại ở việc ngưỡng mộ vẻ đẹp của Mẹ, nhưng phải để Mẹ dẫn đến nguồn mạch vẻ đẹp ấy là Chúa Giêsu. Mẹ luôn nói với chúng ta như đã nói với những người giúp việc tại Cana: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Đó là con đường của Mẹ. Mẹ không giữ ai lại cho riêng mình, không xây dựng một vinh quang tách biệt khỏi Con, nhưng luôn đưa mọi người đến với Con và mời gọi họ vâng nghe Người.

Đức Maria được gìn giữ khỏi tội lỗi để trở thành Mẹ của Đấng Cứu Thế. Từ đó, ta nhận ra rằng mọi ân huệ đều đi kèm với một sứ mạng. Thiên Chúa không ban ơn để con người tự mãn hay khép kín trong đặc quyền của mình. Mẹ được ban đầy ân sủng để trao ban Đức Kitô cho thế giới. Mẹ được gìn giữ tinh tuyền để cung lòng Mẹ trở thành nơi Ngôi Lời nhập thể. Mẹ được chọn không phải để sống cho riêng mình, nhưng để phục vụ kế hoạch cứu độ. Cũng vậy, mỗi ân huệ Chúa ban cho chúng ta đều chứa đựng một lời mời gọi. Người ban cho ta khả năng không chỉ để ta tìm thành công, nhưng để phục vụ. Người ban cho ta của cải không chỉ để hưởng thụ, nhưng để sẻ chia. Người ban cho ta đức tin không chỉ để ta được an ủi, nhưng để ta làm chứng. Người chữa lành ta không chỉ để ta được bình an, nhưng để ta biết cảm thông với người đang đau khổ. Người tha thứ cho ta không chỉ để ta nhẹ nhõm, nhưng để ta cũng biết tha thứ.

Trong đời sống gia đình, hình ảnh Đức Maria Vô Nhiễm mời gọi mỗi người xây dựng một mái ấm có chỗ cho Thiên Chúa. Gia đình ngày nay có thể đầy đủ tiện nghi nhưng lại thiếu sự hiện diện của Chúa; có nhiều phương tiện liên lạc nhưng các thành viên ít trò chuyện với nhau; có nhiều hình ảnh đẹp đăng trên mạng nhưng bên trong lại chất chứa lạnh nhạt và tổn thương. Đức Maria đã biến căn nhà nhỏ ở Nadarét thành một mái ấm thánh thiện không phải bằng sự giàu sang, nhưng bằng đức tin, sự dịu dàng, hy sinh và trung thành. Mẹ không cần những điều lớn lao để làm nên một gia đình đẹp. Mẹ thánh hóa những việc bình thường: nấu ăn, chăm sóc, lắng nghe, chờ đợi, giữ gìn bình an, âm thầm chịu đựng và luôn đặt Chúa ở trung tâm. Gia đình sẽ trở nên đẹp không chỉ vì có một ngôi nhà khang trang, nhưng vì trong nhà ấy người ta biết xin lỗi, biết tha thứ, biết cầu nguyện, biết tôn trọng nhau và cùng nhau tìm kiếm thánh ý Chúa.

Đối với những người sống đời thánh hiến, Đức Maria Vô Nhiễm là hình ảnh tuyệt hảo của một con người thuộc trọn về Thiên Chúa. Sự thuộc về ấy không chỉ được diễn tả bằng lời khấn, tu phục hay sứ vụ, nhưng bằng một trái tim không chia sẻ cho những thần tượng khác. Có thể một người đã hiến dâng bên ngoài nhưng lòng vẫn bị chiếm hữu bởi nhu cầu được công nhận, bởi sự so sánh, ganh đua, tìm kiếm ảnh hưởng hay bám víu vào ý riêng. Đức Maria nhắc rằng đời dâng hiến chỉ thực sự đẹp khi Thiên Chúa là gia nghiệp, là niềm vui và là lý do sau cùng của mọi chọn lựa. Mẹ không tìm chỗ đứng cho mình; Mẹ để Chúa dùng đời Mẹ theo cách Người muốn. Khi cần lên đường, Mẹ lên đường. Khi cần âm thầm, Mẹ âm thầm. Khi cần đứng dưới chân thập giá, Mẹ đứng đó. Mẹ không đòi hiểu hết mới vâng phục, không đợi thuận lợi mới trung thành, không chờ được ghi nhận mới phục vụ.

Đối với các linh mục và những người làm công tác mục vụ, Đức Maria Vô Nhiễm nhắc rằng muốn mang Chúa đến cho người khác, trước hết phải để Chúa thanh luyện tâm hồn mình. Không thể loan báo Tin Mừng bằng một trái tim đầy cay đắng; không thể nói về lòng thương xót trong khi cư xử khắc nghiệt; không thể giảng về sự khiêm nhường mà lại khao khát địa vị; không thể dẫn người khác đến sự thật trong khi bản thân thỏa hiệp với giả dối. Mẹ cưu mang Đức Kitô vì Mẹ đã mở trọn lòng cho Lời Chúa. Người môn đệ cũng chỉ có thể sinh Đức Kitô cho thế giới khi biết để Lời Chúa đi vào những vùng sâu kín nhất của đời mình. Sứ vụ không thể thay thế cho sự thánh thiện. Hoạt động nhiều không đồng nghĩa với thuộc về Chúa nhiều. Thành công bên ngoài không bảo đảm một tâm hồn trong sạch. Đức Maria không để lại cho chúng ta những công trình đồ sộ, nhưng Mẹ trao cho thế giới chính Đức Giêsu. Đó mới là sứ vụ cao cả nhất.

Trong đời sống xã hội, Mẹ Vô Nhiễm mời gọi chúng ta trở thành những con người không bị cuốn theo sự ô nhiễm của gian dối, ích kỷ và vô cảm. Sống trong một môi trường mà điều sai được nhiều người làm không có nghĩa điều sai trở thành đúng. Khi tham nhũng, lừa lọc, nói dối hay bất công được xem như chuyện bình thường, người Kitô hữu được gọi sống khác đi. Sự trong sạch của tâm hồn phải trở thành sự liêm chính trong công việc, sự trung thực trong lời nói, sự công bằng trong cách cư xử và lòng can đảm bảo vệ người yếu thế. Không phải ai sống ngay thẳng cũng luôn được lợi trước mắt, nhưng một xã hội chỉ có thể được chữa lành khi có những con người dám giữ lương tâm trong sạch. Đức Maria không đứng giữa quảng trường để hô vang những khẩu hiệu, nhưng lời xin vâng của Mẹ đã làm thay đổi lịch sử. Một đời sống âm thầm trung tín cũng có sức biến đổi thế giới hơn chúng ta tưởng.

Mẹ Vô Nhiễm còn là nơi nương tựa của những người đang chiến đấu với cám dỗ và tội lỗi. Chúng ta có thể chạy đến với Mẹ không phải để tránh né trách nhiệm hay tìm một sự an ủi dễ dãi, nhưng để xin Mẹ giúp ta can đảm trở về với Chúa. Người mẹ thật sự không bao che cho điều xấu của con, nhưng cũng không bỏ con khi nó sa ngã. Mẹ Maria không nói tội lỗi không đáng kể; Mẹ biết tội lỗi đã khiến Con Mẹ phải chết trên thập giá. Nhưng Mẹ cũng biết lòng thương xót của Chúa lớn hơn mọi tội lỗi. Vì thế, Mẹ không đẩy tội nhân vào tuyệt vọng, nhưng dẫn họ đến dưới chân thập giá, nơi máu và nước tuôn trào để rửa sạch và tái sinh nhân loại. Có những người vì mặc cảm đã xa bí tích Hòa Giải quá lâu. Họ nghĩ tội mình quá lớn, quá nhiều, quá đáng xấu hổ. Nhưng chính lễ Vô Nhiễm nói với ta rằng Thiên Chúa yêu thích làm cho con người nên tinh sạch. Người không chán ghét tội nhân, nhưng muốn giải thoát họ khỏi điều đang làm họ mất tự do và phẩm giá.

Có thể chúng ta không thể lấy lại sự nguyên tuyền như chưa từng phạm tội, nhưng nhờ lòng thương xót, ta có thể có một trái tim được đổi mới. Thánh Phêrô không thể xóa khỏi lịch sử việc mình đã ba lần chối Chúa, nhưng nhờ ánh mắt yêu thương và sự tha thứ của Thầy, ông trở thành người chăn dắt đoàn chiên. Thánh Phaolô không thể phủ nhận quá khứ từng bắt bớ Hội Thánh, nhưng ân sủng biến ông thành vị tông đồ của muôn dân. Thánh Augustinô không thể làm như mình chưa từng sống những năm tháng lầm lạc, nhưng lòng thương xót đã biến đời ngài thành một lời ca ngợi ân sủng. Thiên Chúa không luôn xóa bỏ quá khứ, nhưng Người có thể biến chính quá khứ ấy thành nơi làm chứng cho quyền năng cứu độ. Đức Maria Vô Nhiễm là tuyệt tác của ân sủng gìn giữ; các thánh tội nhân hoán cải là tuyệt tác của ân sủng chữa lành. Cả hai đều nói với chúng ta rằng không có cuộc đời nào nằm ngoài khả năng biến đổi của Thiên Chúa.

Chiêm ngắm Mẹ, chúng ta cũng học được nghệ thuật gìn giữ tâm hồn. Tin Mừng nhiều lần nói rằng Mẹ “ghi nhớ tất cả những điều ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng”. Tâm hồn Mẹ trong sạch không phải là một khoảng trống, nhưng là nơi Lời Chúa được gìn giữ. Con người sẽ trở thành điều mình thường xuyên đón nhận và suy nghĩ. Nếu mỗi ngày ta để lòng mình đầy những lời cay nghiệt, hình ảnh ô uế, tin tức giật gân, sự so sánh, tranh cãi và ganh ghét, tâm hồn khó có thể bình an. Nếu ta chỉ nghe tiếng ồn của thế gian mà không có khoảng lặng cho Thiên Chúa, ta sẽ dần đánh mất khả năng phân định. Đức Maria dạy ta giữ lại Lời Chúa, suy niệm, chờ đợi và để Lời từ từ soi sáng những biến cố chưa hiểu. Mẹ không vội giải thích tất cả, không phản ứng theo cảm xúc tức thời, không biến bối rối thành trách móc. Mẹ mang những điều chưa hiểu vào cầu nguyện. Đó là một bài học rất cần cho thời đại hôm nay, khi người ta vội nói trước khi hiểu, vội phán xét trước khi lắng nghe và vội công bố trước khi kiểm chứng.

Sự vô nhiễm của Đức Maria cũng gắn liền với sự đơn sơ. Tội lỗi làm con người trở nên phức tạp vì phải che giấu, tính toán và bảo vệ cái tôi. Người sống gian dối phải nhớ mình đã nói gì với người này, đã che điều gì với người kia. Người tham vọng phải liên tục quan sát ai đang đe dọa vị trí của mình. Người ghen tị không thể bình an trước niềm vui của người khác. Trái lại, Đức Maria đơn sơ vì lòng Mẹ chỉ hướng về một điều: làm đẹp lòng Thiên Chúa. Sự đơn sơ không phải là ngây thơ hay thiếu hiểu biết, nhưng là một trái tim không hai lòng. Mẹ không nói xin vâng bằng môi miệng rồi âm thầm giữ lại một phần đời cho mình. Mẹ không chọn Chúa khi thuận lợi rồi rút lui khi gặp thập giá. Từ Nadarét đến Bêlem, từ Ai Cập trở về quê nhà, từ Cana đến Canvê, tiếng xin vâng vẫn là một. Chính sự nhất quán ấy làm nên vẻ đẹp của Mẹ.

Còn đời sống chúng ta nhiều khi bị chia cắt. Trong nhà thờ, ta là một người; về nhà, ta lại là người khác. Trước mặt người có quyền, ta nói một kiểu; với người yếu thế, ta cư xử một kiểu khác. Ta cầu nguyện bằng những lời rất đẹp nhưng lại giữ trong lòng sự căm ghét. Ta kính Đức Mẹ nhưng không muốn sống khiêm nhường như Mẹ. Ta đọc kinh Mân Côi nhưng lời nói hằng ngày lại làm người khác đau đớn. Lễ Vô Nhiễm không chỉ mời gọi ta dâng hoa, thắp nến hay đọc thêm một kinh, nhưng mời gọi ta để ân sủng thống nhất lại đời mình, để điều ta tin, điều ta nói và điều ta sống không còn mâu thuẫn.

Đức Maria là công trình tuyệt đẹp của ân sủng cứu độ, nhưng Thiên Chúa cũng muốn tiếp tục công trình ấy trong mỗi chúng ta. Người không làm chúng ta thành bản sao của Đức Maria, bởi mỗi người có một ơn gọi và con đường riêng. Nhưng Người muốn nơi từng người đều xuất hiện những nét đẹp của Mẹ: một tâm hồn biết lắng nghe, một đức tin dám phó thác, một lòng khiêm nhường biết quy mọi vinh quang về Chúa, một sự trong sạch biết tôn trọng người khác, một tình yêu biết phục vụ, một lòng trung thành không bỏ chạy trước thập giá. Công trình ấy không hoàn thành trong một ngày. Thiên Chúa kiên nhẫn đục đẽo, thanh luyện, sửa chữa và tái tạo chúng ta qua từng biến cố. Có những lúc sự thanh luyện làm ta đau đớn, vì Chúa phải lấy khỏi ta những bám víu lâu năm. Có những lúc Người để ta đối diện với sự thật về mình, thấy rõ những yếu đuối ta từng che giấu. Nhưng bàn tay Thiên Chúa không bao giờ làm tổn thương để hủy diệt; Người cắt tỉa để cây sinh nhiều hoa trái hơn.

Điều cần thiết là ta biết cộng tác với ân sủng như Đức Maria. Thiên Chúa không cứu chúng ta mà không có sự tự do của chúng ta. Người gõ cửa nhưng không phá cửa. Người soi sáng nhưng không ép buộc. Người mời gọi nhưng chờ đợi lời đáp. Đức Maria đã để ân sủng sinh hoa trái bằng lời xin vâng. Mỗi ngày, chúng ta cũng được mời gọi thưa những lời xin vâng nhỏ bé: xin vâng khi phải kiên nhẫn với một người khó tính; xin vâng khi cần nói sự thật dù phải chịu thiệt; xin vâng khi phải tha thứ cho người đã làm mình đau; xin vâng khi Chúa mời gọi từ bỏ một thói quen xấu; xin vâng khi phải phục vụ trong âm thầm; xin vâng khi bệnh tật, tuổi già hay thất bại làm đảo lộn mọi dự tính. Những lời xin vâng nhỏ bé ấy, nếu được lặp lại trong yêu mến, sẽ dần biến cả cuộc đời thành một lời đáp lớn lao.

Lạy Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, khi nhìn lên Mẹ, chúng con nhận ra vẻ đẹp mà Thiên Chúa đã muốn dành cho nhân loại ngay từ thuở ban đầu. Nơi Mẹ, chúng con thấy tội lỗi không phải là tiếng nói cuối cùng; sự dữ không phải là quyền lực tuyệt đối; bóng tối không thể dập tắt ánh sáng; và ân sủng của Thiên Chúa có thể thực hiện những điều vượt quá mọi ước mong của con người. Xin Mẹ giúp chúng con đừng bao giờ thất vọng về chính mình và cũng đừng tuyệt vọng về người khác. Xin dạy chúng con biết tin rằng bàn tay Thiên Chúa vẫn đang âm thầm làm việc ngay cả khi chúng con chưa thấy kết quả. Xin giúp chúng con biết mở lòng để Chúa thanh tẩy những gì chưa trong sáng, chữa lành những gì bị thương tổn, uốn nắn những gì lệch lạc và làm sống lại những gì đã chết trong tâm hồn.

Xin Mẹ giúp chúng con biết quý trọng ân sủng hơn mọi thành công trần thế. Giữa một thế giới say mê vẻ đẹp bên ngoài, xin cho chúng con khao khát vẻ đẹp của một lương tâm ngay thẳng, một trái tim nhân hậu và một đời sống chân thành. Giữa một xã hội đề cao quyền lực và tiếng tăm, xin dạy chúng con yêu thích con đường khiêm nhường, âm thầm và phục vụ. Giữa những cám dỗ khiến chúng con muốn sống theo ý mình, xin cho chúng con biết thưa như Mẹ: “Này con là tôi tớ Chúa, xin Chúa cứ làm cho con theo thánh ý Người.” Giữa những thử thách khiến chúng con muốn buông xuôi, xin cho chúng con biết đứng vững như Mẹ dưới chân thập giá, tin rằng sau chiều thứ Sáu đau thương sẽ là bình minh phục sinh.

Lạy Mẹ Vô Nhiễm, Mẹ không giữ Đức Giêsu cho riêng mình, nhưng đã trao Người cho nhân loại. Xin làm cho đời chúng con cũng trở thành một máng chuyển ân sủng, để qua lời nói và việc làm của chúng con, người khác có thể gặp được Chúa. Xin cho gia đình chúng con trở thành những Nadarét nhỏ bé, nơi Chúa được yêu mến, Lời Chúa được lắng nghe và mọi người biết đối xử với nhau bằng lòng thương xót. Xin cho các cộng đoàn chúng con biết vượt qua ganh tị và chia rẽ để trở thành dấu chỉ hiệp nhất. Xin cho những người làm việc trong Hội Thánh biết tìm vinh quang của Chúa hơn là vinh quang bản thân. Xin cho những ai đang sống trong tội lỗi tìm lại được con đường trở về. Xin cho những người đau khổ nhận ra họ không bị bỏ rơi. Xin cho những tâm hồn đang mất hy vọng biết rằng ân sủng vẫn có thể mở ra một khởi đầu mới.

Mừng kính Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, chúng ta không chỉ ca ngợi một người nữ đã được gìn giữ khỏi tội lỗi, nhưng ca ngợi Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót, Đấng đã chuẩn bị một cung lòng tinh sạch cho Con của Người và đã cho chúng ta thấy trước chiến thắng trọn vẹn của ơn cứu độ. Mẹ là công trình tuyệt đẹp của ân sủng, nhưng vẻ đẹp ấy không giữ ánh mắt chúng ta dừng lại nơi Mẹ. Như vầng trăng nhận ánh sáng từ mặt trời, Mẹ phản chiếu ánh sáng của Đức Kitô. Như bình minh báo hiệu ngày mới, Mẹ báo trước Mặt Trời cứu độ đang đến. Như đóa hoa đầu mùa, Mẹ hứa hẹn một mùa xuân ân sủng cho toàn thể nhân loại. Càng nhìn Mẹ, ta càng phải yêu mến Chúa Giêsu. Càng ca tụng sự tinh tuyền của Mẹ, ta càng phải cảm tạ quyền năng cứu chuộc của Người. Càng nhận ra những điều cao cả Chúa đã làm nơi Mẹ, ta càng có quyền hy vọng rằng Người cũng có thể thực hiện những điều tốt đẹp trong cuộc đời chúng ta.

Vì thế, ngày lễ hôm nay không chỉ là ngày của Đức Maria, nhưng còn là ngày của tất cả những ai đang mong chờ được đổi mới; ngày của người tội lỗi muốn trở về; ngày của người thất vọng muốn tìm lại niềm tin; ngày của người đang chiến đấu để sống trong sạch giữa một thế giới đầy cám dỗ; ngày của những ai tin rằng ân sủng mạnh hơn yếu đuối và lòng thương xót mạnh hơn mọi quá khứ. Hãy nhìn lên Mẹ và đừng sợ. Hãy chạy đến với Chúa Giêsu và đừng trì hoãn. Hãy để ân sủng bắt đầu lại công trình của Người nơi chúng ta. Có thể đời ta chưa đẹp, nhưng bàn tay Thiên Chúa chưa ngừng làm việc. Có thể lòng ta còn nhiều vết nhơ, nhưng dòng máu cứu độ của Đức Kitô vẫn không ngừng tuôn chảy. Có thể ta đã ngã xuống nhiều lần, nhưng Mẹ vẫn đứng đó, dịu dàng chỉ cho ta con đường trở về với Con của Mẹ.

Lạy Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, chúng con cảm tạ Cha vì nơi Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, Cha đã cho chúng con chiêm ngắm quyền năng tuyệt vời của ân sủng cứu độ. Cha đã gìn giữ Mẹ khỏi mọi vết nhơ nguyên tội nhờ công nghiệp của Đức Giêsu Kitô, để Mẹ trở thành người Mẹ xứng đáng của Con Cha và là dấu chỉ hy vọng cho toàn thể Hội Thánh. Xin đừng để chúng con chỉ ngưỡng mộ vẻ đẹp của Mẹ mà không để ân sủng biến đổi đời mình. Xin ban cho chúng con một tâm hồn biết lắng nghe như Mẹ, một đức tin biết phó thác như Mẹ, một lòng khiêm nhường biết quy mọi vinh quang về Cha như Mẹ, và một tình yêu biết trao ban Đức Kitô cho người khác như Mẹ. Xin cho mỗi ngày đời chúng con trở thành một lời xin vâng, để giữa một thế giới còn đầy bóng tối, chúng con cũng có thể trở thành những tia sáng nhỏ bé của ân sủng, những chứng nhân của lòng thương xót và những con người báo trước một trời mới đất mới, nơi tội lỗi bị đánh bại, nước mắt được lau khô và tình yêu của Cha sẽ ngự trị đến muôn đời. Amen.

 

MẸ CỦA ĐẤNG CỨU THẾ VÀ MẸ CỦA NHỮNG NGƯỜI KHÔNG CÒN HY VỌNG

Có những lúc trong đời, con người không còn biết phải bám víu vào đâu. Mọi cánh cửa dường như đã đóng lại, mọi con đường tưởng như đã đi đến tận cùng, mọi lời an ủi nghe qua đều trở nên nhạt nhẽo và bất lực. Có những nỗi đau không thể kể thành lời, bởi càng kể lại càng thấy lòng mình rướm máu. Có những giọt nước mắt không thể khóc trước mặt người khác, nên phải âm thầm nuốt ngược vào trong. Có những con người vẫn cười, vẫn nói, vẫn bước đi giữa cuộc đời, nhưng bên trong họ đã mỏi mệt đến mức không còn muốn hy vọng thêm một lần nào nữa. Họ đã cầu nguyện rất nhiều mà bệnh tật vẫn chưa qua; họ đã cố gắng hết sức mà gia đình vẫn đổ vỡ; họ đã sống tử tế nhưng vẫn bị phản bội; họ đã nhẫn nhịn nhưng vẫn bị hiểu lầm; họ đã tha thứ nhưng vết thương vẫn còn đau nhức; họ đã chờ đợi nhưng người thân vẫn không trở về; họ đã tìm kiếm Thiên Chúa nhưng dường như chỉ gặp một bầu trời thinh lặng. Trong những giờ phút ấy, Đức Maria hiện ra không phải như một người mẹ đứng xa để nói những lời đạo đức dễ dàng, nhưng như một người Mẹ đã từng đi qua chính những con đường tăm tối của phận người. Mẹ là Mẹ của Đấng Cứu Thế, nhưng cũng chính vì thế, Mẹ trở thành Mẹ của tất cả những ai đang cần được cứu, Mẹ của những con người yếu đuối, đổ vỡ, thất bại, tội lỗi và nhất là Mẹ của những ai tưởng rằng đời mình đã không còn một tia hy vọng nào nữa.

Đức Maria là Mẹ của Đấng Cứu Thế bởi Mẹ đã cưu mang và sinh hạ Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người, Đấng đến để giải thoát nhân loại khỏi tội lỗi và sự chết. Khi sứ thần Gabriel đến với Mẹ tại căn nhà nhỏ bé ở Nadarét, lịch sử nhân loại đã đứng trước một bước ngoặt vô cùng lớn lao. Thiên Chúa không cứu thế giới bằng tiếng sấm vang trời, không bắt đầu công trình cứu độ trong cung điện của vua chúa, cũng không chọn một người phụ nữ quyền lực, giàu sang hay nổi tiếng. Người đến với một thiếu nữ đơn sơ, nghèo khó, sống âm thầm tại một miền quê hầu như chẳng ai biết đến. Và trước lời mời gọi vượt quá mọi hiểu biết của mình, Đức Maria đã thưa: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Lời “xin vâng” ấy không phải là tiếng nói của một người đã nhìn thấy rõ mọi sự phía trước, nhưng là tiếng nói của một tâm hồn dám đặt trọn đời mình trong tay Thiên Chúa. Mẹ chưa biết thánh Giuse sẽ phản ứng thế nào. Mẹ chưa biết người đời sẽ nhìn mình ra sao. Mẹ chưa biết Con Trẻ sẽ được sinh ra trong hoàn cảnh nào. Mẹ càng chưa thể hình dung rằng một ngày kia, chính Con mình sẽ bị kết án, bị đánh đòn, bị đóng đinh và chết tức tưởi trên thập giá. Mẹ không được trao cho một bản đồ rõ ràng của tương lai. Mẹ chỉ được trao cho một lời hứa: “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.” Và Mẹ đã tin. Chính từ lòng tin ấy, niềm hy vọng của nhân loại bắt đầu nảy mầm.

Mẹ trở thành Mẹ của Đấng Cứu Thế không chỉ bằng việc trao cho Đức Giêsu một thân xác nhân loại, nhưng còn bằng cả hành trình đồng hành với Người trong đức tin, trong yêu thương và trong đau khổ. Mẹ đã cưu mang Con Thiên Chúa trong lòng trước khi cưu mang Người trong cung lòng. Mẹ đã giữ lấy lời Thiên Chúa giữa những điều Mẹ chưa thể hiểu. Mẹ đã âm thầm nuôi dưỡng Đấng là Bánh ban sự sống. Mẹ đã dạy Đấng dựng nên tiếng nói nhân loại biết cất tiếng gọi “Mẹ”. Mẹ đã bồng ẵm Đấng nâng đỡ cả vũ trụ trên cánh tay mình. Mẹ đã ru ngủ Đấng mà các thiên thần không ngừng tung hô. Mẹ đã chăm sóc, bảo vệ và yêu thương Đức Giêsu bằng một tình yêu rất người, rất thật, rất gần gũi, nhưng cũng hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Thế nhưng, chức làm Mẹ ấy không hề miễn trừ Mẹ khỏi đau khổ. Trái lại, càng gắn bó với Con bao nhiêu, trái tim Mẹ càng phải đi sâu vào mầu nhiệm thập giá bấy nhiêu. Ngay từ khi Đức Giêsu còn thơ bé, cụ già Simêon đã báo trước: “Một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà.” Mẹ không được hứa rằng đời mình sẽ bình yên theo cách thế gian mong đợi. Mẹ chỉ được mời gọi tin rằng, xuyên qua mọi biến cố, Thiên Chúa vẫn trung tín và chương trình của Người cuối cùng sẽ dẫn đến sự sống.

Chính vì đã từng bước đi trong đêm tối mà Đức Maria hiểu những người đang mất phương hướng. Chính vì đã từng phải sống với những câu hỏi chưa có lời giải mà Mẹ hiểu những tâm hồn mỏi mệt vì chờ đợi. Chính vì đã từng nhìn Con mình bị chống đối, vu khống và loại trừ mà Mẹ hiểu nỗi đau của những người bị hiểu lầm. Chính vì đã từng phải vội vã ôm Con trốn sang Ai Cập giữa đêm khuya mà Mẹ hiểu nỗi sợ của những người phải rời bỏ quê hương, nhà cửa, sự an toàn và những gì thân thuộc. Chính vì đã từng lạc mất Con suốt ba ngày mà Mẹ hiểu nỗi hoảng loạn của những bậc cha mẹ có con cái bỏ nhà ra đi, sa vào nghiện ngập, lạc xa đức tin hoặc sống trong những chọn lựa sai lầm. Chính vì đã từng thấy người ta nói Con mình mất trí, bị quỷ ám và đáng chết mà Mẹ hiểu nỗi đau của những ai phải chứng kiến người thân bị xúc phạm, bị chà đạp và bị kết án bất công. Chính vì đã từng đứng dưới chân thập giá, nhìn thân thể Con mình tan nát mà không thể làm gì để cứu Con khỏi đau đớn, Mẹ hiểu nỗi bất lực của những người đang đứng bên giường bệnh, chỉ biết nắm lấy bàn tay người thân và khóc. Chính vì đã từng ôm xác Con lạnh giá trong lòng mà Mẹ hiểu tiếng khóc của những người mẹ mất con, những người vợ mất chồng, những người con mất cha mẹ, những gia đình tiễn người thân ra đi mà không kịp nói lời từ biệt. Không có nỗi đau nào của con người hoàn toàn xa lạ với trái tim Đức Maria.

Khi gọi Đức Maria là Mẹ của những người không còn hy vọng, chúng ta không có ý nói rằng Mẹ thay thế Đức Kitô hay tự mình ban ơn cứu độ. Chỉ có Đức Giêsu Kitô mới là Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Chính Người đã chết và sống lại để chiến thắng tội lỗi, sự dữ và tử thần. Nhưng Đức Maria là người Mẹ dẫn chúng ta đến với Đấng Cứu Thế. Mẹ không giữ chúng ta lại cho riêng mình, nhưng luôn nói như tại tiệc cưới Cana: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Đó là lời duy nhất của Mẹ được ghi lại trong Tin Mừng hướng trực tiếp đến con người, và cũng là lời tóm gọn toàn bộ sứ mạng từ mẫu của Mẹ. Mẹ đưa chúng ta đến với Đức Giêsu. Mẹ dạy chúng ta tin vào Người ngay cả khi chúng ta chưa thấy phép lạ. Mẹ dạy chúng ta làm điều Người truyền dạy ngay cả khi những gì Người yêu cầu dường như không hợp lý theo suy nghĩ của chúng ta. Tại Cana, rượu đã hết, niềm vui của một gia đình sắp biến thành nỗi xấu hổ. Đức Maria nhìn thấy điều người khác chưa kịp nhận ra. Mẹ không làm ầm ĩ, không trách móc, không lên án, nhưng âm thầm mang sự thiếu thốn ấy đến với Đức Giêsu. Mẹ chỉ nói: “Họ hết rượu rồi.” Một lời rất ngắn, nhưng chứa cả trái tim nhạy cảm của người mẹ. Mẹ biết điều con người đang thiếu. Mẹ hiểu điều họ không thể tự giải quyết. Mẹ chuyển cầu mà không cần ai phải van xin Mẹ trước. Và phép lạ đã xảy ra.

Có lẽ hôm nay, Mẹ cũng đang đứng bên cuộc đời chúng ta và thưa với Chúa Giêsu: “Họ hết rượu rồi.” Họ đã hết niềm vui trong đời sống gia đình. Họ đã hết kiên nhẫn với nhau. Họ đã hết sức để tiếp tục chiến đấu với bệnh tật. Họ đã hết lòng tin sau quá nhiều lần bị phản bội. Họ đã hết nghị lực để đứng dậy sau thất bại. Họ đã hết bình an vì những lo lắng triền miên. Họ đã hết nước mắt để khóc. Họ đã hết lời để cầu nguyện. Họ đã hết hy vọng để chờ đợi một ngày mai tốt đẹp hơn. Mẹ thấy tất cả. Mẹ không khinh chê sự yếu đuối của chúng ta. Mẹ không bảo rằng chúng ta phải mạnh mẽ lên ngay lập tức. Mẹ không bắt chúng ta phải giả vờ bình an khi trong lòng đang dậy sóng. Mẹ chỉ lặng lẽ đứng bên, thu nhặt từng tiếng thở dài, từng giọt nước mắt, từng lời cầu nguyện đứt quãng và mang tất cả đến trước mặt Con Mẹ. Mẹ tin rằng Đấng đã biến nước thành rượu cũng có thể biến những khô cằn trong lòng ta thành nguồn sống mới. Mẹ tin rằng khi con người đi đến giới hạn cuối cùng của khả năng mình thì đó chưa phải là kết thúc, bởi quyền năng Thiên Chúa không bị giới hạn bởi sự bất lực của con người.

Những người không còn hy vọng thường không cần nghe thêm những lời khuyên. Họ đã nghe quá nhiều rồi. Họ không cần người khác nói rằng mọi chuyện sẽ ổn khi chẳng ai biết bao giờ mới ổn. Họ không cần bị trách rằng đức tin của họ yếu, cầu nguyện của họ ít hay vì họ chưa sống tốt nên mới gặp đau khổ. Điều họ cần trước hết là một người ở lại. Đức Maria là người Mẹ biết ở lại. Mẹ đã ở lại bên máng cỏ nghèo hèn. Mẹ đã ở lại trong những năm tháng âm thầm tại Nadarét. Mẹ đã ở lại khi người ta tung hô Đức Giêsu và cũng ở lại khi đám đông quay lưng chống đối Người. Mẹ đã ở lại trên đường thập giá. Mẹ đã ở lại dưới chân đồi Canvê, nơi hầu hết các môn đệ vì sợ hãi đã bỏ trốn. Mẹ đã ở lại khi trời đất tối tăm, khi Con Mẹ kêu lên: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Mẹ không hiểu hết mầu nhiệm đang diễn ra, nhưng Mẹ không bỏ đi. Sự hiện diện của Mẹ không cất khỏi Đức Giêsu những chiếc đinh, không làm cho thập giá nhẹ hơn, không ngăn được cái chết, nhưng chắc chắn đã đem lại cho Người một niềm an ủi sâu xa: trong giờ phút bị thế gian chối bỏ, vẫn có một người Mẹ đứng đó và yêu Người đến cùng.

Đó cũng là điều Đức Maria làm cho những người tuyệt vọng hôm nay. Mẹ không luôn cất ngay cây thập giá khỏi vai chúng ta, nhưng Mẹ cùng đi. Mẹ không luôn làm cho bệnh tật biến mất, nhưng Mẹ giúp ta nhận ra Chúa vẫn ở bên giữa bệnh tật. Mẹ không luôn đưa người đã ra đi trở lại, nhưng Mẹ ôm lấy người đang khóc và nhắc rằng cái chết không phải là tiếng nói cuối cùng. Mẹ không luôn thay đổi hoàn cảnh, nhưng Mẹ giúp trái tim chúng ta được thay đổi để có thể đi qua hoàn cảnh ấy mà không bị nghiền nát. Có những phép lạ xảy ra bên ngoài khiến cuộc đời lập tức đổi khác; nhưng cũng có những phép lạ diễn ra rất âm thầm trong lòng người: một người đang muốn buông xuôi bỗng tìm lại can đảm để sống thêm một ngày; một người đã đóng cửa lòng vì bị phản bội bỗng có thể tha thứ; một người chìm trong mặc cảm tội lỗi bỗng tin rằng mình vẫn được Thiên Chúa yêu thương; một người đang mang bệnh nặng bỗng có thể bình an phó thác; một gia đình tưởng không thể hàn gắn bỗng chịu ngồi lại với nhau; một người mẹ đã cầu nguyện nhiều năm cho đứa con hư hỏng vẫn tiếp tục thắp một ngọn đèn trước tượng Đức Mẹ và chờ đợi. Những điều ấy cũng là phép lạ. Đó là phép lạ của niềm hy vọng được hồi sinh.

Dưới chân thập giá, Đức Giêsu đã nói với Mẹ: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Rồi Người nói với người môn đệ: “Đây là Mẹ của anh.” Đây không chỉ là một sự sắp xếp mang tính gia đình để có người chăm sóc Đức Maria sau khi Đức Giêsu qua đời. Trong giờ phút long trọng nhất của công trình cứu độ, khi máu và nước sắp tuôn ra từ cạnh sườn Người, Đức Giêsu đã trao Mẹ mình cho nhân loại và trao nhân loại cho Mẹ. Từ giây phút ấy, người môn đệ yêu dấu đại diện cho mọi môn đệ, cho mỗi người chúng ta. Mẹ của Đức Giêsu trở thành Mẹ chúng ta. Và thật xúc động khi nhận ra rằng Mẹ nhận chúng ta làm con ngay dưới chân thập giá, không phải trong một buổi tiệc vui, không phải trong giờ phút vinh quang, nhưng giữa máu, nước mắt và sự đổ vỡ. Điều ấy có nghĩa rằng Mẹ được ban cho chúng ta đặc biệt trong những giờ phút đen tối nhất. Khi ta không còn gì để tự hào, khi ta chỉ còn lại những mảnh vụn của đời mình, khi ta thấy mình bất xứng, tội lỗi và thất bại, chính lúc ấy Chúa nói: “Đây là Mẹ của con.” Ta không cần phải hoàn hảo mới được Mẹ yêu. Ta không cần phải mạnh mẽ mới được Mẹ đón nhận. Ta chỉ cần để cho Mẹ đưa ta trở về với Đức Giêsu.

Mẹ là Mẹ của những người không còn hy vọng bởi Mẹ đã tin khi mọi dấu chỉ của hy vọng dường như đã bị chôn trong mồ. Tối thứ Sáu Canvê, Đức Giêsu đã chết. Tảng đá lớn đã lấp kín cửa mộ. Các môn đệ tan tác. Những lời hứa về Nước Thiên Chúa xem ra đã thất bại. Tất cả những gì Đức Giêsu đã làm dường như kết thúc trong một ngôi mộ lạnh lẽo. Nhưng giữa sự im lặng của ngày Thứ Bảy Tuần Thánh, Hội Thánh tin rằng ngọn lửa đức tin vẫn cháy trong trái tim Đức Maria. Mẹ không biết Chúa sẽ thực hiện lời hứa bằng cách nào, nhưng Mẹ biết Thiên Chúa không thể thất tín. Mẹ đã từng thấy những điều không thể xảy ra trong đời mình: một trinh nữ cưu mang Con Thiên Chúa, người chị họ cao niên sinh con, nước hóa thành rượu, người mù được thấy, kẻ chết được sống lại. Vì thế, ngay cả khi đứng trước ngôi mộ của Con, Mẹ vẫn tin rằng quyền năng của Thiên Chúa lớn hơn cái chết. Niềm hy vọng Kitô giáo không phải là sự lạc quan dễ dãi cho rằng đời sẽ không có đau khổ. Niềm hy vọng Kitô giáo là xác tín rằng đau khổ không thể tiêu diệt tình yêu, tội lỗi không thể đánh bại lòng thương xót và cái chết không thể giữ được Đấng là nguồn sự sống. Đức Maria là người phụ nữ của niềm hy vọng ấy.

Có người nghĩ mình không còn hy vọng vì đã phạm quá nhiều tội. Họ cảm thấy quá khứ của mình quá đen tối, những sai lầm quá nặng nề, những vết nhơ không thể tẩy sạch. Họ sợ đến gần Thiên Chúa vì nghĩ rằng Người sẽ kết án. Nhưng Đức Maria không bao giờ dẫn người tội lỗi trốn khỏi Thiên Chúa; Mẹ dẫn họ đến với lòng thương xót của Người. Người mẹ thật sự không bao che cho lỗi lầm của con, nhưng cũng không bỏ con trong lỗi lầm. Mẹ không nói rằng tội lỗi không quan trọng, nhưng Mẹ nói rằng tình yêu của Thiên Chúa còn lớn hơn tội lỗi. Mẹ đưa người tội lỗi đến với Đức Giêsu, Đấng đã ăn uống với những người thu thuế, đã để cho người phụ nữ tội lỗi lấy nước mắt rửa chân, đã tha thứ cho người phụ nữ ngoại tình, đã nhìn Phêrô bằng ánh mắt yêu thương sau khi ông chối Thầy và đã hứa thiên đàng cho người trộm lành trong những phút cuối đời. Không ai đã đi quá xa đến mức Thiên Chúa không thể tìm thấy. Không cuộc đời nào đã tan nát đến mức Người không thể tái tạo. Không trái tim nào đã chai đá đến mức ân sủng không thể chạm vào. Khi một người không còn tin vào chính mình, Đức Maria vẫn tin vào điều Thiên Chúa có thể thực hiện nơi người ấy.

Có người không còn hy vọng vì gia đình đang đổ vỡ. Vợ chồng không còn nói chuyện với nhau, con cái xa cách cha mẹ, anh chị em chia rẽ vì tiền bạc, tài sản hay những vết thương cũ. Trong một mái nhà, người ta sống gần nhau nhưng tâm hồn lại xa nhau hàng ngàn dặm. Đức Maria hiểu nỗi đau gia đình, bởi đời sống của Thánh Gia cũng không tránh khỏi thử thách. Mẹ đã sinh Con trong cảnh nghèo, phải đưa Con chạy trốn sự truy sát, đã sống đời lao động vất vả và có lúc không hiểu được những lời Con nói. Nhưng trong mọi biến cố, Mẹ giữ mọi sự và suy đi nghĩ lại trong lòng. Mẹ không để những điều chưa hiểu trở thành lý do để ngừng yêu thương. Mẹ không để khó khăn biến mái nhà Nadarét thành nơi của trách móc. Mẹ giữ gia đình bằng sự dịu dàng, thinh lặng, cầu nguyện và tin tưởng. Hôm nay, Mẹ cũng bước vào những mái nhà đang nguội lạnh. Mẹ nhắc người chồng biết hạ lòng xin lỗi. Mẹ dạy người vợ biết nói một lời dịu dàng. Mẹ giúp cha mẹ kiên nhẫn hơn với con cái. Mẹ giúp người con biết quay về. Mẹ không hứa rằng mọi đổ vỡ sẽ được chữa lành trong một sớm một chiều, nhưng Mẹ dạy chúng ta đừng đóng cánh cửa cuối cùng. Chừng nào người ta còn cầu nguyện, còn chịu lắng nghe, còn dám tha thứ và còn đặt Đức Giêsu vào giữa gia đình, chừng ấy hy vọng vẫn chưa chết.

Có người không còn hy vọng vì bệnh tật kéo dài. Những ngày tháng trong bệnh viện, những lần hóa trị, những cơn đau lúc nửa đêm, những kết quả xét nghiệm đáng sợ, những khoản tiền chữa bệnh mỗi ngày một lớn, tất cả có thể làm một con người kiệt sức. Có những bệnh nhân không sợ chết bằng sợ trở thành gánh nặng cho người thân. Có những người chăm bệnh mệt mỏi đến mức muốn gục ngã nhưng vẫn phải tỏ ra mạnh mẽ. Mẹ Maria đứng bên họ như đã từng đứng bên thập giá. Mẹ không nói rằng đau đớn là điều dễ chịu, cũng không lãng mạn hóa nước mắt. Mẹ chỉ đặt bàn tay từ mẫu lên vai họ và cùng họ nhìn lên Đức Giêsu chịu đóng đinh. Nơi thân thể tan nát của Người, mọi đau đớn của nhân loại đã được đón nhận và biến đổi. Chúa không đứng ngoài nỗi đau để giảng giải về nỗi đau. Người đã bước vào đó. Người đã mang thương tích. Người đã nếm sự cô đơn, khát cháy, nhục nhã và cái chết. Vì thế, người bệnh không đau một mình. Người chăm bệnh không mệt mỏi một mình. Mỗi tiếng rên, mỗi giọt nước mắt và mỗi đêm thức trắng đều có thể trở thành lời cầu nguyện khi được kết hợp với thập giá Đức Kitô. Và Đức Maria là người Mẹ giúp ta đặt tất cả những đau đớn ấy vào trong trái tim Con Mẹ.

Có người không còn hy vọng vì đã cầu nguyện quá lâu mà chưa được nhậm lời. Đây có lẽ là một trong những thử thách đau đớn nhất của đức tin. Ta đã xin một điều tốt lành, đã cầu nguyện với tất cả lòng thành, đã làm tuần cửu nhật, đã lần chuỗi, đã tham dự thánh lễ, đã xin người khác cầu nguyện, nhưng mọi sự vẫn không thay đổi. Khi ấy, người ta dễ nghĩ rằng Thiên Chúa không nghe, không thương hoặc không hiện hữu. Đức Maria dạy ta một cách cầu nguyện khác. Mẹ không cầu nguyện để ép Thiên Chúa làm theo ý mình. Mẹ mở lòng để ý Thiên Chúa được thực hiện, dù ý ấy có lúc đưa Mẹ qua những con đường rất đau. Lời “xin vâng” của Mẹ không chỉ được thưa một lần tại Nadarét; Mẹ phải lặp lại lời ấy suốt đời. Mẹ đã xin vâng khi sinh Con trong hang đá, xin vâng khi phải trốn sang Ai Cập, xin vâng khi không hiểu lời Con trong Đền Thờ, xin vâng khi Đức Giêsu rời mái nhà đi rao giảng, xin vâng khi Người bị chống đối và xin vâng ngay cả dưới chân thập giá. Cầu nguyện không phải lúc nào cũng làm cho biến cố thay đổi theo điều ta mong muốn, nhưng luôn có thể làm cho trái tim ta đủ rộng để đón nhận và đi qua biến cố với Thiên Chúa. Mẹ không dạy ta ngừng xin, nhưng dạy ta xin trong tín thác: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con tin. Con không thấy đường, nhưng con biết Ngài đang dẫn con. Con không còn sức, xin Ngài mang con đi.”

Mẹ là Mẹ của những người không còn hy vọng vì Mẹ không bao giờ tuyệt vọng về một người con. Người đời có thể nhìn vào một con người và kết luận rằng họ không thể thay đổi. Xã hội có thể dán nhãn một người là hư hỏng, thất bại, nghiện ngập, vô dụng hay không thể cứu chữa. Ngay cả người thân đôi khi cũng mệt mỏi đến mức buông tay. Nhưng trái tim người mẹ vẫn chờ. Hình ảnh người mẹ đứng ở cửa, ngóng đứa con đi xa trở về, là hình ảnh rất gần với trái tim Đức Maria. Mẹ kiên nhẫn cầu thay cho những người con lạc lối. Mẹ đi vào những nơi tối tăm mà họ đang ẩn náu. Mẹ không sợ bùn đất của đời họ làm bẩn áo mình. Mẹ chỉ mong đưa họ về nhà. Biết bao người đã tìm lại đức tin nhờ một chuỗi Mân Côi của người mẹ. Biết bao người đã trở về trong những giây phút cuối đời nhờ lời cầu nguyện âm thầm của gia đình. Biết bao cuộc đời tưởng đã mất lại được chạm đến bởi lòng thương xót trong một cách thức chỉ Thiên Chúa biết. Vì thế, người mẹ đang đau khổ vì con đừng ngừng cầu nguyện. Người cha đang thất vọng về con đừng đóng cửa lòng. Người vợ đang cầu cho chồng, người chồng đang cầu cho vợ, gia đình đang cầu cho một người thân lạc xa Chúa, xin đừng nghĩ rằng những lời cầu nguyện ấy vô ích. Không giọt nước mắt nào rơi xuống trước mặt Thiên Chúa mà bị lãng quên.

Lần chuỗi Mân Côi không phải là trốn chạy khỏi thực tế, nhưng là cùng Mẹ nhìn lại cuộc đời Đức Giêsu để học cách nhận ra Thiên Chúa đang hiện diện trong thực tế ấy. Trong các mầu nhiệm vui, ta thấy niềm vui không vắng bóng nghèo khó và thử thách. Trong các mầu nhiệm sáng, ta thấy Đức Giêsu bước vào bóng tối của nhân loại để thắp lên ánh sáng Nước Trời. Trong các mầu nhiệm thương, ta thấy tình yêu bị nghiền nát nhưng không bị tiêu diệt. Trong các mầu nhiệm mừng, ta thấy đau khổ và cái chết không phải là hồi kết. Mỗi kinh Kính Mừng là một bước chân nhỏ của người lữ hành đang đi qua đêm tối. Có lúc ta lần chuỗi mà lòng khô khan, trí trí chia, môi miệng chỉ đọc theo thói quen. Nhưng ngay cả khi không còn lời nào khác, ta vẫn có thể nắm lấy chuỗi Mân Côi như đứa trẻ nắm tay mẹ trong đêm. Đứa trẻ không cần hiểu hết con đường; nó chỉ cần biết bàn tay đang nắm lấy mình là bàn tay của mẹ. Có thể hoàn cảnh chưa đổi, nhưng khi ta cùng Mẹ cầu nguyện, ta không còn phải đi một mình.

Mẹ của Đấng Cứu Thế cũng là Mẹ của Hội Thánh, một Hội Thánh có khi mang trên mình những vết thương, những yếu đuối và cả những gương xấu khiến nhiều người thất vọng. Có những người đã rời xa cộng đoàn vì bị tổn thương. Có những tâm hồn từng rất sốt sắng nhưng rồi nguội lạnh vì chứng kiến sự bất toàn của con người trong Hội Thánh. Đức Maria không bao giờ phủ nhận những vết thương ấy, nhưng Mẹ ở giữa cộng đoàn các môn đệ đang sợ hãi để cùng họ cầu nguyện chờ đợi Chúa Thánh Thần. Sau khi Đức Giêsu về trời, các môn đệ chưa biết tương lai sẽ ra sao. Họ ít người, yếu đuối, sợ hãi và mang theo nhiều thất bại. Nhưng Mẹ hiện diện ở đó. Mẹ không chiếm vị trí trung tâm, không tự xưng là người lãnh đạo, nhưng sự hiện diện cầu nguyện của Mẹ đã nâng đỡ Hội Thánh non trẻ. Hôm nay, Mẹ vẫn ở giữa Hội Thánh, không để chúng ta dừng lại ở lỗi lầm của con người mà quên rằng Đức Kitô vẫn là đầu của Hội Thánh, Chúa Thánh Thần vẫn đang hoạt động và lòng thương xót vẫn không ngừng tuôn chảy qua các bí tích.

Khi cuộc đời trở nên quá nặng nề, ta hãy đến với Mẹ không phải để trốn khỏi trách nhiệm, nhưng để tìm lại sức mạnh mà tiếp tục sống. Hãy nói với Mẹ thật lòng như một đứa con nói với mẹ mình: “Mẹ ơi, con mệt lắm. Con không hiểu vì sao chuyện này xảy ra. Con sợ ngày mai. Con không còn muốn cố gắng. Con đã cầu nguyện nhưng dường như Chúa im lặng. Con đang giận, đang buồn, đang thất vọng và có lúc con muốn bỏ cuộc.” Ta không cần dùng những lời hoa mỹ. Người mẹ hiểu tiếng nấc trước khi hiểu câu nói. Đức Maria hiểu cả những lời ta không thể nói ra. Rồi hãy để Mẹ đưa ta đến bên thập giá, nơi Mẹ sẽ không giải thích mọi điều, nhưng sẽ chỉ cho ta thấy Đức Giêsu. Nhìn lên Người, ta nhận ra Thiên Chúa không bỏ rơi ta. Có thể Người đang im lặng, nhưng không vắng mặt. Có thể Người không làm theo điều ta mong muốn, nhưng vẫn đang thực hiện một công trình sâu xa hơn điều ta thấy. Có thể ta đang sống ngày Thứ Sáu đau thương hoặc ngày Thứ Bảy im lặng, nhưng Chúa Nhật Phục Sinh vẫn đang đến.

Hy vọng không phải là cảm giác lúc nào cũng vui tươi. Có những ngày hy vọng chỉ đơn giản là không buông tay. Hy vọng là thức dậy vào buổi sáng dù đêm qua đã khóc rất nhiều. Hy vọng là tiếp tục cầu nguyện dù lòng không còn cảm xúc. Hy vọng là vẫn làm một việc tốt dù không được ghi nhận. Hy vọng là vẫn tha thứ dù vết thương cần thời gian để lành. Hy vọng là tiếp tục yêu thương một người đang lạc lối mà không đồng lõa với điều sai trái của họ. Hy vọng là tin rằng cuộc đời mình vẫn có ý nghĩa ngay cả khi không đạt được những điều từng mơ ước. Hy vọng là đặt bàn tay run rẩy của mình vào tay Đức Maria và để Mẹ dẫn đến với Đức Giêsu. Người không hứa rằng chúng ta sẽ không gặp bão, nhưng Người hứa sẽ ở trong thuyền. Người không hứa rằng chúng ta sẽ không đi qua thung lũng tối, nhưng Người hứa sẽ cùng đi. Người không hứa rằng ta sẽ không khóc, nhưng Người hứa một ngày sẽ lau sạch mọi giọt lệ.

Đức Maria không phải là Mẹ của những con người chưa từng gục ngã, nhưng là Mẹ của những người đang học đứng lên. Mẹ không phải là Mẹ của những người chưa từng hoang mang, nhưng là Mẹ của những người vẫn chọn tin giữa hoang mang. Mẹ không phải là Mẹ của những người có mọi câu trả lời, nhưng là Mẹ của những người dám tiếp tục bước đi dù chưa hiểu hết con đường. Mẹ không khinh những đứa con yếu đuối. Mẹ không thất vọng khi ta lại phạm cùng một lỗi lầm. Mẹ đau vì tội lỗi của ta, nhưng nỗi đau ấy không làm Mẹ xa ta; nó khiến Mẹ càng muốn kéo ta về gần trái tim Chúa hơn. Bởi Mẹ biết ơn cứu độ không phải là phần thưởng cho người hoàn hảo, nhưng là quà tặng cho người biết mình cần được cứu.

Có thể hôm nay, người đang đọc những dòng này đang đứng trước một ngôi mộ nào đó trong đời mình. Đó có thể là ngôi mộ của một mối tương quan đã chết, một ước mơ đã tan vỡ, một công việc đã mất, một người thân đã ra đi, một danh dự bị chà đạp, một tuổi trẻ đã trôi qua, một đức tin đã nguội lạnh hay một tương lai tưởng không còn lối mở. Xin đừng vội cho rằng mọi sự đã kết thúc. Tảng đá trước mộ có thể rất lớn, nhưng không lớn hơn quyền năng Thiên Chúa. Đêm tối có thể rất dài, nhưng không thể ngăn bình minh đến. Nỗi đau có thể lấy đi nhiều thứ, nhưng đừng để nó lấy mất niềm tin rằng Thiên Chúa vẫn đang viết tiếp câu chuyện đời ta. Đức Maria đã đứng trước ngôi mộ của Con và đã chờ đợi. Mẹ cũng đang đứng bên ngôi mộ của những hy vọng đã chết trong lòng chúng ta. Mẹ không bảo ta phủ nhận sự thật đau đớn, nhưng Mẹ mời ta đừng tuyệt vọng. Bởi nơi Đức Kitô, ngay cả ngôi mộ cũng có thể trở thành nơi bắt đầu của một sự sống mới.

Lạy Đức Maria, Mẹ của Đấng Cứu Thế và Mẹ của những người không còn hy vọng, xin hãy đến với những tâm hồn đang mỏi mệt. Xin ngồi bên những người đang khóc một mình trong đêm. Xin ôm lấy những người vừa mất người thân. Xin nâng đỡ những bệnh nhân đang chiến đấu từng ngày với đau đớn. Xin an ủi những bậc cha mẹ đang đau khổ vì con cái. Xin tìm kiếm những người đã lạc xa Thiên Chúa. Xin đứng bên những gia đình đang chia rẽ. Xin che chở những người bị bỏ rơi, phản bội, hiểu lầm và loại trừ. Xin giữ lấy những người đang đứng bên bờ vực tuyệt vọng, để họ không làm tổn thương chính mình và không buông bỏ món quà sự sống. Xin nói với họ rằng họ vẫn đáng được yêu, vẫn có một chỗ trong trái tim Thiên Chúa và câu chuyện của họ vẫn chưa kết thúc.

Lạy Mẹ, khi chúng con không còn biết cầu nguyện thế nào, xin Mẹ cầu nguyện cùng chúng con. Khi đức tin chúng con lung lay, xin cho chúng con được tựa vào đức tin của Mẹ. Khi chúng con không thấy Chúa đâu, xin Mẹ dẫn chúng con đến với Chúa Giêsu. Khi chúng con chỉ nhìn thấy bóng tối, xin nhắc chúng con rằng Mẹ đã từng đi qua đêm tối mà không đánh mất niềm tin. Khi chúng con muốn bỏ cuộc, xin nắm lấy tay chúng con. Khi chúng con vấp ngã, xin đừng để chúng con nằm lại. Khi trái tim chúng con đã nguội lạnh, xin đặt chúng con gần trái tim Mẹ, để từ trái tim Mẹ, chúng con lại tìm được đường đến với trái tim Con Mẹ.

Lạy Mẹ của Đấng Cứu Thế, xin dạy chúng con tin rằng không có hoàn cảnh nào nằm ngoài quyền năng cứu độ của Thiên Chúa. Không có tội nhân nào nằm ngoài lòng thương xót. Không có vết thương nào quá sâu để ân sủng không thể chạm tới. Không có gia đình nào quá đổ vỡ để tình yêu không thể bắt đầu lại. Không có đêm tối nào kéo dài mãi mãi. Không có ngôi mộ nào có thể giam giữ Đấng Phục Sinh. Xin cho chúng con biết sống từng ngày trong niềm hy vọng khiêm tốn, không phải vì chúng con mạnh mẽ, nhưng vì Thiên Chúa trung tín; không phải vì chúng con thấy rõ tương lai, nhưng vì chúng con biết ai đang nắm giữ tương lai; không phải vì cuộc đời không còn thập giá, nhưng vì dưới chân mọi thập giá, chúng con có một người Mẹ đang đứng đó.

Và lạy Mẹ, xin cho chúng con cũng biết trở thành một chút hy vọng cho những người chung quanh. Xin đừng để chúng con đi ngang qua nỗi đau của người khác bằng sự thờ ơ. Xin cho chúng con biết ở lại với người đang đau khổ, biết lắng nghe mà không vội xét đoán, biết đưa tay nâng người đã ngã, biết nói một lời tử tế với người đang tuyệt vọng, biết chia sẻ cơm áo với người nghèo, biết cầu nguyện cho người đã mất niềm tin và biết mở một cánh cửa cho người đang không còn nơi trở về. Bởi có khi người khác không cần chúng con giải quyết mọi vấn đề; họ chỉ cần biết rằng họ không đơn độc. Xin cho sự hiện diện của chúng con trở thành dấu chỉ nhỏ bé về sự hiện diện của Mẹ, và qua Mẹ, về tình yêu không bao giờ bỏ cuộc của Thiên Chúa.

Mẹ của Đấng Cứu Thế cũng là Mẹ của chúng con. Mẹ của Chúa Giêsu chịu đóng đinh cũng là Mẹ của những trái tim tan vỡ. Mẹ của buổi sáng Phục Sinh cũng là Mẹ của những người đang sống trong đêm tối. Vì thế, dù cuộc đời có đẩy chúng con đến đâu, dù mọi người có quay lưng, dù chính chúng con có thất vọng về mình, xin cho chúng con vẫn nhớ rằng còn có một người Mẹ đang chờ, còn có một trái tim không khước từ, còn có một bàn tay luôn hướng về chúng con và còn có một con đường trở về với Đức Giêsu.

Khi mọi hy vọng của trần gian đã tắt, xin cho chúng con vẫn giữ lại một lời rất nhỏ trong lòng: “Lạy Mẹ, xin ở lại với con.” Chỉ cần Mẹ ở lại, chúng con sẽ không hoàn toàn cô độc. Chỉ cần Mẹ nắm tay, chúng con vẫn có thể bước thêm một bước. Chỉ cần Mẹ dẫn đến với Chúa Giêsu, chúng con tin rằng từ những tro tàn của đời mình, Người vẫn có thể làm bừng lên một ngọn lửa mới. Bởi Đấng Mẹ cưu mang là Đấng Cứu Thế, Đấng đã đến không phải cho những người tự cho mình mạnh mẽ, nhưng cho những người biết mình cần được cứu; không phải cho những người không bao giờ gục ngã, nhưng cho những người đang khao khát được nâng dậy; không phải chỉ cho những người đang tràn đầy hy vọng, nhưng nhất là cho những người tưởng rằng mình chẳng còn gì để hy vọng nữa.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ của Đấng Cứu Thế và Mẹ của những người không còn hy vọng, xin cầu cho chúng con, bây giờ và trong giờ lâm tử. Amen.

 

ĐỨC MARIA – CON ĐƯỜNG ÊM ĐỀM DẪN TA ĐẾN VỚI ĐỨC KITÔ

Giữa muôn vàn con đường của cuộc đời, có những con đường rộng rãi nhưng lại đưa con người đến chỗ trống rỗng; có những con đường rực rỡ ánh đèn nhưng càng đi, lòng người càng tối; có những con đường đầy tiếng vỗ tay, danh vọng và thành công, nhưng khi đêm xuống, con người vẫn thấy mình cô độc, mỏi mệt và không biết đâu là ý nghĩa thật của đời mình. Thế nhưng, trong hành trình đức tin, Thiên Chúa đã ban cho chúng ta một con đường rất khác: không ồn ào, không phô trương, không làm người ta choáng ngợp, nhưng dịu dàng, gần gũi và bình an. Đó là con đường mang tên Đức Maria. Mẹ không phải là cùng đích của cuộc đời Kitô hữu, bởi cùng đích duy nhất của chúng ta là Đức Giêsu Kitô. Mẹ không thay thế Đức Kitô, không che khuất Đức Kitô, cũng không giữ chúng ta lại cho riêng mình. Trái lại, tất cả cuộc đời Mẹ chỉ có một hướng đi, một mục đích, một niềm vui: dẫn con người đến với Con của Mẹ. Mẹ như con đường nhỏ giữa cánh đồng, không tự mình là quê hương, nhưng đưa người lữ khách trở về nhà. Mẹ như ánh trăng hiền hòa trong đêm tối, không có ánh sáng riêng, nhưng phản chiếu ánh sáng của mặt trời. Mẹ như ngôi sao xuất hiện trước bình minh, không phải là mặt trời cứu độ, nhưng báo cho nhân loại biết rằng Mặt Trời Công Chính là Đức Kitô đang đến. Bởi thế, ai thật lòng yêu mến Đức Maria sẽ không bao giờ dừng lại nơi Mẹ, nhưng sẽ được Mẹ cầm tay, nâng đỡ và đưa đến gần Đức Giêsu hơn.

Khi nhìn vào Tin Mừng, chúng ta thấy Đức Maria luôn hiện diện một cách hết sức âm thầm. Mẹ không nói nhiều, không tìm cách làm nổi bật mình, không đòi người khác phải nhìn nhận vai trò của mình. Những lời Mẹ nói được Tin Mừng ghi lại rất ít, nhưng mỗi lời đều mở ra một con đường dẫn đến Thiên Chúa. Trong biến cố Truyền Tin, Mẹ thưa: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Đó không chỉ là một lời chấp thuận riêng tư, nhưng là cánh cửa để Ngôi Lời bước vào lịch sử nhân loại. Mẹ không nói: “Xin hãy làm theo ý tôi”, nhưng nói: “Xin hãy làm cho tôi theo lời Chúa.” Ngay từ giây phút đầu tiên ấy, Đức Maria đã cho chúng ta thấy con đường ngắn nhất để đến với Đức Kitô chính là con đường vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Con người thường muốn Thiên Chúa đi theo con đường của mình, chúc lành cho dự tính của mình, giải quyết mọi sự theo mong muốn của mình. Còn Mẹ Maria thì ngược lại: Mẹ để Thiên Chúa dẫn đi, dù con đường phía trước còn mịt mờ, dù Mẹ chưa hiểu hết, dù tiếng “xin vâng” ấy có thể khiến Mẹ phải đối diện với bao hiểu lầm, đau khổ và thử thách. Chính trong sự phó thác ấy, Mẹ đã đón nhận Đức Kitô vào lòng mình. Và cũng bằng con đường ấy, Mẹ dạy chúng ta rằng muốn gặp Chúa, đừng chỉ tìm Chúa trong những cảm xúc sốt sắng nhất thời, nhưng hãy tìm Chúa trong sự vâng phục mỗi ngày, trong việc chu toàn bổn phận, trong những hy sinh không ai biết, trong những lúc phải nói “xin vâng” khi lòng mình còn đau, còn sợ, còn chưa hiểu.

Sau khi đón nhận Ngôi Lời, Đức Maria không khép mình trong niềm vui riêng tư. Mẹ “vội vã lên đường” đến thăm bà Êlisabét. Người thực sự có Chúa trong lòng không thể sống ích kỷ, không thể chỉ giữ ân sủng cho riêng mình, nhưng sẽ lên đường mang Chúa đến cho người khác. Mẹ đến nhà bà Êlisabét không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ; không phải để kể về đặc ân của mình, nhưng để chia sẻ niềm vui và nâng đỡ người chị họ trong những tháng ngày cần giúp đỡ. Mẹ mang Đức Giêsu trong cung lòng, và sự hiện diện của Chúa qua Mẹ đã làm cho Gioan Tẩy Giả nhảy mừng trong lòng mẹ, làm cho bà Êlisabét được đầy Thánh Thần, làm cho một căn nhà bình thường trở thành nơi vang lên lời chúc tụng. Điều ấy cho thấy Mẹ là con đường đưa Đức Kitô đến với con người, nhưng đồng thời Mẹ cũng là con đường đưa con người đến với Đức Kitô. Mẹ không đến để người khác ca ngợi mình; Mẹ đến để người khác nhận ra Thiên Chúa đang viếng thăm họ. Cuộc đời Mẹ giống như một tấm kính trong suốt: người ta nhìn qua Mẹ để thấy ánh sáng của Chúa. Mẹ càng khiêm nhường, Đức Kitô càng được tỏ hiện; Mẹ càng nhỏ bé, quyền năng Thiên Chúa càng được nhận biết; Mẹ càng lui vào bóng tối, ánh sáng cứu độ càng chiếu soi.

Bài ca Magnificat của Mẹ cũng là một con đường dẫn chúng ta đến với Đức Kitô. Mẹ không hát về những thành công của mình, không tự hào về địa vị của mình, không kể công vì đã được chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Mẹ chỉ nói: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi.” Mẹ quy hướng tất cả về Thiên Chúa. Mẹ biết rằng những gì tốt đẹp nơi mình đều là ân sủng. Mẹ nhận mình là phận nữ tỳ hèn mọn được Chúa đoái thương. Chính vì thế, càng gần Mẹ, con người càng học được cách ra khỏi cái tôi của mình để hướng về Thiên Chúa. Đời sống của chúng ta nhiều khi nặng nề không phải vì thiếu thốn vật chất, nhưng vì cái tôi quá lớn. Chúng ta đau khổ vì không được người khác công nhận, buồn phiền vì không được khen ngợi, thất vọng vì công việc của mình không được biết đến, giận dữ vì ý kiến của mình không được chấp nhận. Trong khi đó, Đức Maria sống nhẹ nhàng bởi Mẹ không đặt mình ở trung tâm. Trung tâm đời Mẹ là Thiên Chúa. Niềm vui của Mẹ không đến từ việc người đời nhìn nhận Mẹ, nhưng từ việc Thiên Chúa được tôn vinh. Bởi thế, Mẹ trở thành con đường êm đềm cho những tâm hồn mỏi mệt vì phải chứng minh giá trị của mình. Mẹ dạy ta rằng ta không cần phải trở nên vĩ đại trong mắt thế gian, chỉ cần trở nên nhỏ bé trong tay Thiên Chúa; không cần phải được mọi người biết đến, chỉ cần được Chúa biết; không cần phải tìm cách nâng mình lên, bởi chính Chúa sẽ nâng cao những ai biết hạ mình xuống.

Con đường của Đức Maria dẫn đến Đức Kitô không phải là con đường không có đau khổ. Trái lại, đó là con đường đi xuyên qua rất nhiều nước mắt. Mẹ sinh Con trong một hang đá nghèo hèn, đặt Hài Nhi trong máng cỏ vì không tìm được chỗ trong quán trọ. Mẹ phải ôm Con chạy trốn sang Ai Cập giữa đêm khuya để thoát khỏi lưỡi gươm của Hêrôđê. Mẹ sống những năm tháng âm thầm tại Nadarét, chăm sóc gia đình bằng những công việc nhỏ bé, bình thường và vất vả. Mẹ lạc mất Con trong Đền Thờ và phải đau đớn tìm kiếm suốt ba ngày. Mẹ chứng kiến Con mình bị chống đối, hiểu lầm, khinh chê và cuối cùng bị kết án như một tội nhân. Mẹ đứng dưới chân thập giá, nhìn Con chết trong đau đớn mà không thể làm gì để cứu Con khỏi bàn tay những kẻ hành hình. Nếu nói Mẹ là con đường êm đềm, không có nghĩa là con đường ấy không có gai, nhưng bởi giữa những gai nhọn của cuộc đời, Mẹ luôn giữ được sự dịu dàng của lòng tin. Sự êm đềm của Mẹ không phải là cuộc sống dễ dàng, mà là sự bình an sâu xa của một tâm hồn hoàn toàn thuộc về Chúa. Mẹ không được miễn trừ khỏi thử thách, nhưng Mẹ không để thử thách cướp mất niềm tin. Mẹ không được bảo vệ khỏi nước mắt, nhưng Mẹ không để nước mắt làm cho lòng mình cay đắng. Mẹ không tránh được thập giá, nhưng Mẹ đứng vững bên thập giá vì biết rằng tình yêu của Thiên Chúa lớn hơn sự chết.

Chính vì đã đi qua những con đường đau khổ ấy, Mẹ hiểu những ai đang đau khổ. Mẹ hiểu người mẹ mất con, hiểu người vợ lo lắng cho gia đình, hiểu người nghèo không tìm được chỗ nương thân, hiểu người bị hiểu lầm, hiểu người phải ra đi trong đêm tối mà chưa biết ngày mai sẽ thế nào. Mẹ hiểu những ai cầu nguyện mãi mà chưa thấy Chúa trả lời, những ai đứng dưới chân thập giá của đời mình mà chỉ biết im lặng, những ai cảm thấy Thiên Chúa dường như vắng mặt. Mẹ không đưa chúng ta đến với Đức Kitô bằng những lời lý thuyết xa vời, nhưng bằng kinh nghiệm của một người Mẹ đã từng đau, từng khóc, từng chờ đợi và từng tin giữa bóng tối. Khi chúng ta đến với Mẹ trong giờ gian nan, Mẹ không cất hết thập giá khỏi vai chúng ta, nhưng Mẹ giúp chúng ta gặp Đức Kitô đang vác thập giá bên cạnh mình. Mẹ không hứa rằng đời ta sẽ không còn giông bão, nhưng Mẹ chỉ cho ta thấy Chúa Giêsu đang ở trong thuyền. Mẹ không làm cho đêm tối biến mất ngay lập tức, nhưng Mẹ dạy ta giữ một ngọn đèn đức tin cho đến khi bình minh xuất hiện.

Tại tiệc cưới Cana, Đức Maria cho chúng ta thấy rõ nhất vai trò của Mẹ trên hành trình dẫn người ta đến với Đức Kitô. Khi nhận ra gia đình đôi tân hôn hết rượu, Mẹ không làm phép lạ, cũng không tự mình giải quyết khó khăn. Mẹ chỉ nói với Đức Giêsu: “Họ hết rượu rồi.” Lời cầu của Mẹ rất ngắn, không đòi hỏi, không áp đặt, nhưng đầy sự tinh tế và tin tưởng. Mẹ nhìn thấy nỗi thiếu thốn mà người khác chưa kịp nói ra. Mẹ nhận ra sự bối rối được che giấu sau những tiếng cười của ngày cưới. Mẹ hiểu rằng nếu sự việc bị phát hiện, niềm vui của một gia đình có thể trở thành sự xấu hổ. Mẹ đem nỗi khó khăn ấy đến với Chúa. Đó cũng là điều Mẹ vẫn làm cho chúng ta: Mẹ nhìn thấy những bình rượu đã cạn trong cuộc đời ta, nhìn thấy tình yêu gia đình đang nguội lạnh, nhìn thấy lòng nhiệt thành phục vụ đã khô cạn, nhìn thấy đức tin đang mỏi mệt, nhìn thấy nụ cười bên ngoài nhưng cũng thấy những giọt nước mắt bên trong. Mẹ không giữ những đau khổ ấy cho mình, nhưng đem tất cả đến với Đức Giêsu. Và rồi Mẹ nói với gia nhân: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Đây là lời cuối cùng của Đức Maria được ghi trong Tin Mừng, và cũng có thể xem là di chúc thiêng liêng của Mẹ dành cho mọi thế hệ. Mẹ không nói: “Hãy làm theo lời tôi”, nhưng nói: “Hãy làm theo lời Người.” Tất cả lòng sùng kính Đức Maria chân thật đều phải dẫn đến điểm này: lắng nghe Đức Kitô và làm theo lời Người.

Chúng ta có thể đọc rất nhiều kinh kính Đức Mẹ, lần rất nhiều chuỗi Mân Côi, tham dự nhiều cuộc hành hương, mang ảnh tượng và huy chương của Mẹ, nhưng nếu đời sống chúng ta không thay đổi, nếu chúng ta vẫn cố chấp trong tội lỗi, vẫn không tha thứ, vẫn làm tổn thương người khác, vẫn sống gian dối, vẫn bỏ bê bổn phận, thì chúng ta chưa thực sự nghe lời Mẹ. Mẹ không muốn chúng ta chỉ dừng lại ở những lời ca tụng dành cho Mẹ, nhưng Mẹ muốn chúng ta làm theo lời Đức Giêsu. Mẹ muốn chúng ta cầu nguyện như Chúa dạy, yêu thương như Chúa yêu, tha thứ như Chúa tha, phục vụ như Chúa phục vụ, vác thập giá như Chúa đã vác. Mẹ muốn ta trở nên môn đệ của Con Mẹ chứ không chỉ là người có lòng đạo đức bên ngoài. Tràng chuỗi Mân Côi không phải là sợi dây giữ chúng ta đứng yên bên tượng Mẹ, nhưng là con đường giúp ta bước theo Đức Kitô qua các mầu nhiệm vui, sáng, thương và mừng. Trong từng kinh Kính Mừng, Mẹ không kéo ánh mắt chúng ta về mình, nhưng đưa chúng ta đi vào cuộc đời Đức Giêsu: từ lúc Người nhập thể trong cung lòng Mẹ, sinh ra tại Bêlem, rao giảng Nước Trời, chịu khổ hình, chết, sống lại và lên trời. Cầu nguyện với Mẹ là học cách nhìn Đức Kitô bằng đôi mắt của Mẹ, yêu Đức Kitô bằng trái tim của Mẹ và đi theo Đức Kitô bằng sự trung thành của Mẹ.

Có người lo sợ rằng yêu mến Đức Maria nhiều sẽ làm giảm bớt lòng yêu mến Đức Kitô. Nhưng một người mẹ chân chính không bao giờ giữ con cái lại cho riêng mình, nhất là khi chính sứ mạng của Mẹ là trao Đức Kitô cho thế giới. Tại Bêlem, Mẹ bồng Hài Nhi Giêsu và giới thiệu Người cho các mục đồng. Khi các nhà đạo sĩ đến, họ thấy Hài Nhi cùng với Mẹ Người, rồi họ phủ phục thờ lạy Hài Nhi. Mẹ hiện diện, nhưng sự thờ lạy thuộc về Đức Giêsu. Mẹ nâng Con lên để nhân loại nhìn thấy Người. Mẹ mở lòng mình để Thiên Chúa đến gần con người. Vì thế, ai đến với Mẹ bằng một tấm lòng ngay lành sẽ không xa Chúa, nhưng gần Chúa hơn. Ai thật lòng yêu Mẹ sẽ được Mẹ thanh luyện lòng yêu mến để không còn tìm Chúa vì ích lợi, không còn cầu nguyện chỉ để xin ơn, nhưng biết yêu Chúa vì chính Chúa đáng được yêu. Mẹ là người đã yêu Đức Kitô hơn bất cứ thụ tạo nào, nên Mẹ cũng là người thầy tuyệt vời nhất dạy chúng ta cách yêu Người.

Con đường của Mẹ là con đường êm đềm bởi đó là con đường của sự khiêm nhường. Sự kiêu ngạo làm cho mọi con đường trở nên nặng nề. Người kiêu ngạo luôn phải bảo vệ hình ảnh của mình, luôn sợ bị xem thường, luôn so sánh mình với người khác, luôn muốn mình đúng, muốn mình hơn, muốn mình được phục vụ. Còn người khiêm nhường có thể sống bình an vì không cần tranh giành vị trí. Đức Maria được Thiên Chúa ban cho những đặc ân cao cả, nhưng Mẹ không dùng đặc ân để đặt mình cao hơn người khác. Mẹ vẫn sống như một người phụ nữ bình thường tại Nadarét, vẫn chăm sóc gia đình, vẫn đi lấy nước, nấu ăn, giặt giũ, lao động và phục vụ. Mẹ không biến ân sủng thành đặc quyền, nhưng biến ân sủng thành trách nhiệm. Mẹ không coi mình là chủ nhân của ơn Chúa, nhưng là nữ tỳ của Chúa. Đi với Mẹ, chúng ta học được rằng càng được Chúa ban nhiều, càng phải phục vụ nhiều; càng có địa vị, càng phải cúi xuống; càng hiểu biết, càng phải biết lắng nghe; càng được kính trọng, càng phải sống khiêm tốn.

Con đường của Mẹ còn là con đường êm đềm của sự thinh lặng. Tin Mừng nhiều lần nói rằng Mẹ “ghi nhớ mọi sự và suy đi nghĩ lại trong lòng.” Mẹ không vội nói về tất cả những điều Mẹ chứng kiến. Mẹ không phản ứng theo cảm xúc nhất thời. Mẹ giữ sự việc trong lòng, cầu nguyện, suy niệm và chờ đợi ánh sáng của Thiên Chúa. Cuộc sống hôm nay quá nhiều tiếng ồn. Người ta vội nói, vội phán xét, vội kết luận, vội chia sẻ những điều chưa được kiểm chứng. Chỉ một lời nói thiếu suy nghĩ có thể phá vỡ một tình bạn; một câu chuyện bị thêm bớt có thể làm tổn thương danh dự của một người; một phút nóng giận có thể để lại vết thương nhiều năm không lành. Đức Maria dạy chúng ta trở về với sự thinh lặng nội tâm. Không phải thinh lặng vì sợ hãi hay trốn tránh, nhưng thinh lặng để nghe tiếng Chúa, để phân định điều gì nên nói, lúc nào nên nói, nói thế nào để đem lại sự sống. Mẹ không nói nhiều, nhưng sự hiện diện của Mẹ mang lại bình an. Đó là điều thế giới hôm nay rất cần: những con người không làm ồn ào thêm, không làm vết thương sâu thêm, nhưng biết hiện diện, biết lắng nghe và biết đem Chúa đến bằng một tình yêu âm thầm.

Con đường của Đức Maria cũng là con đường của sự trung thành. Có những người rất dễ nói “xin vâng” trong phút cảm động, nhưng lại khó trung thành khi cảm xúc qua đi. Có người bắt đầu đời sống đức tin với lòng nhiệt thành lớn lao, nhưng khi gặp thử thách thì chán nản. Có người theo Chúa khi mọi sự thuận lợi, nhưng khi lời cầu nguyện không được đáp theo ý mình thì trách móc và rời xa Chúa. Đức Maria đã nói “xin vâng” tại Nadarét, nhưng Mẹ phải sống lời “xin vâng” ấy suốt cả cuộc đời. Mẹ xin vâng trong hang đá Bêlem, xin vâng trên đường trốn sang Ai Cập, xin vâng trong căn nhà nghèo Nadarét, xin vâng khi không hiểu lời Con nói trong Đền Thờ, xin vâng khi Con rời nhà đi rao giảng, xin vâng khi nghe người ta chống đối Con mình, xin vâng trên đường lên Núi Sọ, xin vâng dưới chân thập giá và xin vâng cả khi ôm xác Con trong lòng. Lời xin vâng ban đầu chỉ kéo dài vài giây, nhưng sự trung thành với lời ấy kéo dài cả một đời. Mẹ dạy ta rằng tình yêu thật không được đo bằng những lời hứa đẹp, nhưng bằng sự trung tín trong những ngày bình thường và những giờ thử thách.

Dưới chân thập giá, Đức Maria trở thành Mẹ của các môn đệ. Đức Giêsu nói với Mẹ: “Thưa Bà, đây là con của Bà”, rồi nói với người môn đệ: “Đây là Mẹ của anh.” Từ giờ phút ấy, Mẹ không chỉ là Mẹ của Đức Giêsu theo huyết nhục, nhưng còn là Mẹ của những ai thuộc về Đức Giêsu. Chúa trao chúng ta cho Mẹ ngay trong giờ đau đớn nhất của Người. Đó không phải là một cử chỉ tình cảm đơn thuần, nhưng là một ân huệ thiêng liêng. Người môn đệ đón Mẹ về nhà mình. Mỗi người chúng ta cũng được mời gọi đón Mẹ vào “nhà mình”, nghĩa là đón Mẹ vào đời sống, gia đình, những niềm vui và cả những vết thương của mình. Đón Mẹ không phải chỉ là đặt một tượng Đức Mẹ trong nhà, nhưng là để tinh thần của Mẹ đi vào cách ta sống. Một gia đình đón Mẹ là gia đình biết cầu nguyện, biết nhường nhịn, biết giữ lời nói, biết tha thứ và biết đặt Đức Kitô ở trung tâm. Một cộng đoàn đón Mẹ là cộng đoàn không tranh giành quyền lực, không chia phe, không nói xấu, nhưng biết phục vụ và nâng đỡ nhau. Một tâm hồn đón Mẹ là tâm hồn biết nói xin vâng với Chúa, biết suy niệm Lời Chúa và biết mang Chúa đến cho người khác.

Có những lúc chúng ta cảm thấy mình không xứng đáng đến gần Đức Kitô. Tội lỗi làm ta xấu hổ, quá khứ làm ta mặc cảm, những lần vấp ngã khiến ta nghĩ rằng Chúa đã chán ghét mình. Khi ấy, hãy đến với Mẹ. Không phải để trốn tránh Đức Kitô, nhưng để Mẹ đưa ta trở về với Người. Một đứa trẻ lấm lem có thể sợ người cha nghiêm nghị, nhưng nó thường chạy đến với mẹ, để mẹ lau mặt, sửa lại áo quần rồi dắt nó đến trước cha. Đức Maria cũng vậy. Mẹ không bảo tội nhân cứ ở mãi trong tội. Mẹ không che đậy sự dữ hay coi nhẹ việc hoán cải. Mẹ nâng người tội lỗi đứng dậy, khuyến khích họ đừng tuyệt vọng và dẫn họ đến với lòng thương xót của Đức Kitô. Mẹ biết Con Mẹ đã đổ máu vì những người tội lỗi. Mẹ biết không có vết thương nào Chúa không thể chữa lành, không có quá khứ nào Chúa không thể đổi mới, không có người con nào đi quá xa đến mức không thể trở về. Bởi thế, con đường của Mẹ là con đường hy vọng cho những ai đã thất bại, là lối về cho những ai lạc hướng, là bàn tay dịu dàng cho những ai không còn đủ sức tự đứng lên.

Đức Maria không làm cho con đường theo Chúa mất đi tính quyết liệt. Trái lại, Mẹ giúp chúng ta can đảm sống những đòi hỏi của Tin Mừng bằng tình yêu. Có những sự thật rất khó chấp nhận, những thập giá rất khó mang, những lời Chúa rất khó thực hành. Tha thứ cho người làm tổn thương mình không dễ; trung thành trong hôn nhân giữa lúc khủng hoảng không dễ; sống khiết tịnh giữa một xã hội buông thả không dễ; trung thực khi người khác gian dối không dễ; phục vụ mà không được biết ơn không dễ; đón nhận bệnh tật, tuổi già và mất mát càng không dễ. Nhưng khi đi với Mẹ, chúng ta không còn cảm thấy mình cô độc. Mẹ đã đi con đường ấy trước chúng ta. Mẹ không đứng ở cuối đường để gọi chúng ta từ xa, nhưng đi bên cạnh, như người mẹ bước chậm lại để đứa con yếu sức có thể theo kịp. Mẹ không kéo ta ra khỏi thập giá, nhưng dạy ta ôm lấy thập giá cùng với Đức Kitô. Mẹ không làm Tin Mừng trở nên dễ dãi, nhưng làm cho trái tim chúng ta trở nên mềm mại để có thể đón nhận Tin Mừng.

Mẹ Maria là con đường êm đềm dẫn đến Đức Kitô bởi Mẹ luôn tạo chỗ cho Chúa. Trong lòng Mẹ có chỗ cho Lời nhập thể. Trong căn nhà Nadarét có chỗ cho Chúa lớn lên. Trong trái tim Mẹ có chỗ cho chương trình của Thiên Chúa, dù chương trình ấy nhiều lần vượt quá sự hiểu biết của con người. Còn lòng chúng ta nhiều khi không có chỗ cho Chúa vì đã đầy những bận tâm, tham vọng, giận hờn, thành kiến và ham muốn. Chúng ta vẫn đọc kinh, nhưng tâm trí bị chiếm bởi quá nhiều điều. Chúng ta vẫn tham dự thánh lễ, nhưng lòng lại đóng kín trước người bên cạnh. Chúng ta muốn Chúa đến, nhưng chỉ muốn Chúa đứng ở một góc nhỏ, không được đụng đến những lựa chọn, kế hoạch và thói quen của mình. Đức Maria dạy chúng ta mở cửa toàn bộ cuộc đời cho Chúa. Mẹ không trao cho Chúa một phần thời gian hay một góc trái tim; Mẹ trao cả thân xác, tâm hồn và tương lai. Vì thế, Chúa đã làm nơi Mẹ những điều kỳ diệu.

Mỗi lần lần chuỗi Mân Côi, chúng ta như đang nắm lấy tay Mẹ để đi từng bước trong cuộc đời Đức Kitô. Hạt chuỗi nhỏ bé nhưng chứa đựng cả Tin Mừng. Kinh Kính Mừng được lặp đi lặp lại không phải để làm tâm trí mệt mỏi, nhưng giống như nhịp bước đều đặn của người hành hương, như hơi thở của tâm hồn, như lời một đứa con gọi “Mẹ ơi” giữa những bất an. Khi suy ngắm các mầu nhiệm, chúng ta không chỉ nhớ lại những biến cố đã xảy ra trong quá khứ, nhưng để những biến cố ấy đi vào đời sống hiện tại. Trong mầu nhiệm Truyền Tin, ta học xin vâng. Trong mầu nhiệm Thăm Viếng, ta học lên đường phục vụ. Trong mầu nhiệm Giáng Sinh, ta học sống nghèo khó. Trong mầu nhiệm dâng Chúa vào Đền Thờ, ta học trao lại cho Chúa những gì thuộc về Chúa. Trong mầu nhiệm tìm thấy Chúa, ta học kiên trì tìm kiếm Người. Trong các mầu nhiệm Thương, ta học đứng bên thập giá. Trong các mầu nhiệm Mừng, ta học hy vọng rằng đau khổ và sự chết không phải là tiếng nói cuối cùng. Như thế, Mẹ không chỉ dạy ta những tư tưởng đẹp, nhưng dẫn ta bước vào chính hành trình của Con Mẹ.

Điều đẹp nhất nơi Đức Maria chính là Mẹ không bao giờ giữ vinh quang lại cho mình. Mẹ là thụ tạo được chúc phúc hơn mọi người nữ, nhưng Mẹ luôn hướng về Thiên Chúa. Mẹ được đội triều thiên trên trời, nhưng triều thiên ấy là chiến thắng của ân sủng Đức Kitô nơi một con người đã hoàn toàn mở lòng. Tôn kính Mẹ không phải là đặt Mẹ ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng là ngợi khen Thiên Chúa vì những điều cao cả Người đã thực hiện nơi Mẹ. Cũng như khi nhìn một kiệt tác, ta ca ngợi tài năng của người nghệ sĩ, khi nhìn Đức Maria, ta nhận ra vẻ đẹp của ân sủng Thiên Chúa. Mẹ càng rực rỡ, quyền năng cứu độ của Đức Kitô càng được tỏ bày. Mẹ được gìn giữ và thánh hóa bởi chính công nghiệp của Con Mẹ. Mọi đặc ân nơi Mẹ đều bắt nguồn từ Đức Kitô, quy hướng về Đức Kitô và phục vụ sứ mạng của Đức Kitô.

Bởi thế, đừng sợ bước đi với Mẹ. Khi đường đời quá gập ghềnh, hãy đặt tay mình trong tay Mẹ. Khi đức tin nguội lạnh, hãy xin Mẹ dạy ta tìm lại Đức Giêsu. Khi gia đình hết rượu yêu thương, hãy mời Mẹ bước vào và nghe Mẹ nhắc: “Người bảo gì, các con cứ làm theo.” Khi đứng trước những quyết định khó khăn, hãy học lời xin vâng của Mẹ. Khi gặp những điều chưa hiểu, hãy học Mẹ ghi nhớ và suy niệm trong lòng. Khi bị tổn thương, hãy đứng với Mẹ dưới chân thập giá. Khi cảm thấy không còn hy vọng, hãy nhớ rằng Mẹ đã đi qua ngày Thứ Sáu đau thương để bước vào bình minh Phục Sinh. Khi ta thành công, hãy cùng Mẹ hát Magnificat và trả mọi vinh quang về cho Thiên Chúa. Khi ta thất bại, hãy để Mẹ nâng ta lên và đưa ta trở về với lòng thương xót của Con Mẹ.

Đức Maria không phải là con đường dễ dãi, nhưng là con đường êm đềm. Êm đềm không phải vì không có thập giá, mà vì trên con đường ấy có một người Mẹ cùng đi. Êm đềm không phải vì không có đêm tối, mà vì Mẹ luôn giữ cho ta ngọn đèn đức tin. Êm đềm không phải vì mọi ước muốn đều được thực hiện, mà vì Mẹ dạy ta phó thác vào ý Chúa. Êm đềm không phải vì ta không còn yếu đuối, mà vì Mẹ giúp ta nhận ra sức mạnh của Đức Kitô được biểu lộ trong sự yếu đuối của mình. Con đường của Mẹ không đưa ta tránh khỏi cuộc đời, nhưng giúp ta đi qua cuộc đời mà không đánh mất Chúa. Mẹ không đưa ta ra khỏi nhân loại, nhưng giúp ta sống giữa nhân loại với trái tim của một người môn đệ.

Lạy Đức Maria, Mẹ của Đức Kitô và Mẹ của chúng con, giữa cuộc đời đầy những con đường khiến chúng con lạc hướng, xin Mẹ trở nên con đường êm đềm dẫn chúng con về với Chúa. Khi chúng con chạy theo những ánh sáng giả tạo, xin Mẹ chỉ cho chúng con Đức Giêsu là Ánh Sáng thật. Khi chúng con tìm bình an nơi tiền bạc, địa vị và lời khen của người đời, xin Mẹ đưa chúng con đến với Đức Giêsu là nguồn bình an không bao giờ cạn. Khi lòng chúng con khép lại vì ích kỷ, xin Mẹ dạy chúng con biết lên đường phục vụ. Khi chúng con sợ hãi trước thánh ý Thiên Chúa, xin Mẹ đặt vào môi miệng chúng con lời xin vâng. Khi chúng con không hiểu những gì đang xảy ra, xin Mẹ dạy chúng con biết thinh lặng, cầu nguyện và chờ đợi. Khi gia đình chúng con hết rượu yêu thương, xin Mẹ chuyển cầu cùng Chúa và nhắc chúng con làm theo lời Người. Khi chúng con đứng dưới chân thập giá, xin Mẹ ở lại bên chúng con, để chúng con không buông tay khỏi Chúa trong giờ thử thách.

Xin Mẹ đừng để chúng con yêu mến Mẹ chỉ bằng những lời kinh trên môi, nhưng biết noi gương Mẹ bằng một đời sống khiêm nhường, trong sạch, phục vụ và trung thành. Xin Mẹ dạy chúng con biết mang Đức Kitô trong tâm hồn, để nơi nào chúng con hiện diện, nơi đó có niềm vui; nơi nào chúng con đi qua, nơi đó có sự bình an; người nào chúng con gặp gỡ, người ấy cảm nhận được lòng thương xót của Thiên Chúa. Xin Mẹ dẫn chúng con đến với Đức Giêsu trong Bí tích Thánh Thể, trong Lời Chúa, trong người nghèo, trong người đau khổ và trong những bổn phận nhỏ bé mỗi ngày. Xin cho chúng con đừng bao giờ dừng lại nơi Mẹ, nhưng nhờ Mẹ, với Mẹ và theo gương Mẹ, chúng con ngày càng gắn bó mật thiết hơn với Đức Kitô.

Và đến cuối hành trình dương thế, khi đôi chân chúng con đã mỏi, đôi mắt đã mờ và mọi tiếng ồn của trần gian dần lắng xuống, xin Mẹ cũng đứng bên giường chúng con như Mẹ đã đứng dưới chân thập giá. Xin Mẹ cầm lấy tay chúng con trong giờ cuối cùng, xua tan mọi sợ hãi và dẫn chúng con qua ngưỡng cửa sự chết để gặp Đức Giêsu, Con yêu dấu của Mẹ. Khi ấy, chúng con sẽ hiểu trọn vẹn rằng mọi lời kinh dâng lên Mẹ, mọi bước chân đi cùng Mẹ, mọi giọt nước mắt trao cho Mẹ đều không giữ chúng con lại nơi Mẹ, nhưng âm thầm đưa chúng con đến gần Đức Kitô hơn. Bởi Mẹ không bao giờ là điểm dừng cuối cùng; Mẹ là con đường. Mẹ không phải là nguồn ơn cứu độ; Mẹ dẫn chúng con đến với Đấng Cứu Độ. Mẹ không phải là mặt trời; Mẹ là bình minh báo hiệu Mặt Trời đang đến. Và hạnh phúc lớn nhất của Mẹ cũng chính là nhìn thấy từng người con của mình tìm được đường trở về, quỳ dưới chân Đức Giêsu và thưa lên bằng tất cả tình yêu: “Lạy Chúa, Chúa là đường, là sự thật và là sự sống của con.”

 

TỪ MÁNG CỎ ĐẾN THẬP GIÁ – HÀNH TRÌNH TRAO BAN CỦA NGƯỜI MẸ

Có những hành trình được đo bằng chiều dài của con đường, có những hành trình được đánh dấu bằng những biến cố lớn lao, nhưng cũng có những hành trình chỉ có thể hiểu được bằng chiều sâu của tình yêu và mức độ của sự trao ban. Hành trình của Đức Maria là một hành trình như thế. Đó không chỉ là cuộc lên đường từ Nadarét đến Bêlem, từ Bêlem sang Ai Cập, từ Ai Cập trở về quê nhà, từ mái ấm đơn sơ đến những nẻo đường rao giảng của Đức Giêsu, rồi cuối cùng từ Giêrusalem lên đồi Canvê. Hành trình ấy sâu xa hơn mọi khoảng cách địa lý, bởi đó là hành trình của một người mẹ từng ngày học cách trao Con mình cho Thiên Chúa và trao Con mình cho nhân loại. Từ máng cỏ lạnh lẽo ở Bêlem đến cây Thập Giá nhuốm máu trên đồi Sọ, Đức Maria đã sống trọn vẹn mầu nhiệm của một tình yêu không giữ lại cho riêng mình. Mẹ đón nhận Đức Giêsu vào cung lòng, sinh Người ra cho trần thế, nuôi dưỡng Người bằng sữa của mình, gìn giữ Người bằng đôi tay của mình, rồi một ngày kia lại phải mở chính đôi tay ấy ra để trao Người về cho Chúa Cha và cho sự cứu độ của muôn người. Nếu Bêlem là nơi Mẹ trao ban Con Thiên Chúa cho nhân loại trong hình hài một Hài Nhi bé nhỏ, thì Canvê là nơi Mẹ trao ban Người một lần nữa trong hình hài của một thân xác bị đóng đinh, bị tổn thương, bị từ chối và bị giết chết. Giữa hai điểm ấy là cả một đời sống âm thầm của người mẹ, một đời sống được dệt nên bằng yêu thương, vâng phục, hy sinh, chờ đợi, lo âu, đau đớn và lòng trung tín không hề đổi thay.

Ngày truyền tin, khi thưa với sứ thần: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”, Đức Maria đã bắt đầu bước vào hành trình trao ban. Lời “xin vâng” ấy không chỉ là sự chấp nhận một đặc ân, cũng không đơn giản là niềm vui được làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Đó còn là sự đồng ý để từ nay cuộc đời Mẹ không còn thuộc về riêng Mẹ nữa. Từ giây phút đó, thân xác Mẹ trở thành nơi Ngôi Lời cư ngụ, thời gian của Mẹ thuộc về chương trình của Thiên Chúa, tương lai của Mẹ được đặt vào một mầu nhiệm mà Mẹ chưa thể hiểu hết. Mẹ không biết rồi đây lời xin vâng ấy sẽ dẫn mình đến đâu. Mẹ chưa nhìn thấy máng cỏ, chưa nhìn thấy cuộc chạy trốn giữa đêm tối, chưa nghe lời tiên báo của cụ già Simêon về lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn, chưa chứng kiến những chống đối, hiểu lầm và thù ghét mà Con mình sẽ phải chịu, càng chưa nhìn thấy cây Thập Giá đang đợi ở cuối đường. Nhưng Mẹ đã trao mình trước khi hiểu hết mọi sự. Đó là nét đẹp đầu tiên của tình yêu nơi Đức Maria: Mẹ không đợi cho đến khi mọi điều rõ ràng mới tin, không đợi cho đến khi con đường an toàn mới bước đi, không đòi Thiên Chúa phải giải thích tất cả rồi mới vâng phục. Mẹ trao chính mình trong đức tin. Và cũng bởi Mẹ đã trao chính mình cho Thiên Chúa, nên Mẹ có thể trao Con mình cho nhân loại.

Bêlem là một khởi đầu quá đỗi nghèo nàn đối với Con Thiên Chúa, và cũng là một thử thách đau lòng đối với người mẹ trẻ. Chắc hẳn Đức Maria từng mong muốn một nơi ấm áp hơn cho con mình chào đời, một chiếc nôi tử tế hơn, một mái nhà an toàn hơn, một sự đón tiếp xứng đáng hơn. Nhưng thay vì căn phòng, Mẹ nhận được một hang đá; thay vì chiếc nôi, Mẹ nhận được máng cỏ; thay vì những người thân quen, Mẹ chỉ có Giuse, vài mục đồng nghèo và đàn vật quanh hang đá lạnh. Trong đêm Bêlem ấy, Đức Maria đã phải học rằng Con của Mẹ đến không phải để được thế gian phục vụ, nhưng để phục vụ; không phải để tìm kiếm một chỗ danh dự, nhưng để bước vào nơi thấp nhất của thân phận con người; không phải để được bao bọc bởi quyền lực, nhưng để phó mình trong sự mong manh. Mẹ quấn Con trong tã và đặt nằm trong máng cỏ. Cử chỉ ấy thật dịu dàng, nhưng cũng chất chứa một lời tiên báo. Đôi tay hôm nay đặt Hài Nhi vào máng cỏ cũng chính là đôi tay sau này sẽ đón lấy thân xác Con từ trên Thập Giá. Tấm khăn hôm nay bọc lấy thân thể bé nhỏ ở Bêlem cũng gợi về tấm khăn liệm ngày mai sẽ bọc lấy thân xác đã chết ở Giêrusalem. Gỗ của máng cỏ như âm thầm hướng về gỗ của Thập Giá. Hang đá nơi Người sinh ra như báo trước ngôi mộ đá nơi Người sẽ được mai táng. Ngay từ khởi đầu, con đường của Đấng Cứu Thế đã mang dấu ấn của sự tự hạ và trao ban, còn Đức Maria, người Mẹ đứng bên máng cỏ, đã được mời gọi bước cùng Con trên con đường ấy.

Mẹ trao Con cho những mục đồng nghèo khó, cho các nhà đạo sĩ từ phương xa, cho những con người chẳng có gì ngoài niềm tin và sự khao khát. Mẹ không giữ Hài Nhi trong vòng tay mình như một kho tàng riêng tư. Mẹ để những người nghèo đến chiêm ngắm, để người xa lạ phủ phục tôn thờ, để những tâm hồn thiện chí tìm thấy nơi Con Mẹ niềm hy vọng. Ở Bêlem, Đức Maria bắt đầu hiểu rằng người Con này thuộc về tất cả mọi người. Người là máu thịt của Mẹ, nhưng sứ mạng của Người vượt xa căn nhà Mẹ. Người gọi Mẹ là mẹ, nhưng một ngày kia sẽ dang tay ôm lấy cả nhân loại. Mỗi lần Mẹ trao Con cho một người khác đến gần, Mẹ đang học cách buông ra khỏi sự sở hữu tự nhiên của một người mẹ. Tình mẫu tử nơi Mẹ không phải là nắm giữ, nhưng là chuẩn bị cho Con bước đi. Mẹ yêu Con không phải để Con mãi ở bên mình, nhưng để Con hoàn tất ý muốn của Chúa Cha.

Rồi biến cố dâng Con trong Đền Thờ đã mở ra trước mắt Mẹ một chân trời đau đớn hơn. Khi Đức Maria và thánh Giuse đem Hài Nhi Giêsu lên Giêrusalem để tiến dâng cho Thiên Chúa, Mẹ đang thực hiện một nghi thức quen thuộc của dân Israel, nhưng đối với Mẹ, việc dâng Con mang một ý nghĩa sâu xa khác thường. Mẹ không chỉ dâng một lễ vật tượng trưng; Mẹ đang dâng chính Đấng sẽ trở thành lễ vật cứu độ. Cụ già Simêon bồng Hài Nhi trên tay và tuyên bố Người là ánh sáng soi đường cho dân ngoại, là vinh quang của Israel, nhưng đồng thời cũng là dấu hiệu bị người đời chống báng. Rồi ông quay sang Mẹ và nói: “Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà.” Từ giây phút ấy, niềm vui làm mẹ của Đức Maria đã mang theo bóng dáng của Thập Giá. Mẹ được báo trước rằng Con mình sẽ không được mọi người đón nhận; rằng sứ mạng của Người sẽ đi qua xung đột, loại trừ và đau khổ; rằng chính tâm hồn Mẹ cũng sẽ bị đâm thâu bởi những gì xảy đến với Con. Nhưng Mẹ không rút lại lễ dâng. Mẹ không xin Thiên Chúa đổi một con đường khác nhẹ nhàng hơn. Mẹ tiếp tục trao Con. Trong Đền Thờ, Mẹ dâng Người bằng đôi tay; trên đồi Canvê, Mẹ sẽ dâng Người bằng một trái tim tan nát.

Cuộc chạy trốn sang Ai Cập cho thấy hành trình trao ban của Mẹ không phải là một thái độ thụ động, nhưng là sự dấn thân bảo vệ sự sống mà Thiên Chúa đã trao phó. Giữa đêm, Mẹ cùng thánh Giuse bồng Hài Nhi rời bỏ quê hương để trốn khỏi bàn tay sát hại của Hêrôđê. Mẹ trở thành người tị nạn, người mẹ tha hương, người phụ nữ không biết ngày mai sẽ ngủ ở đâu, lấy gì nuôi con, khi nào mới được trở về. Mẹ ôm Con thật chặt trong hành trình nguy hiểm ấy, nhưng Mẹ hiểu rằng sự sống của Con không thuộc về riêng gia đình nhỏ bé này. Mẹ phải gìn giữ Người cho đến ngày Người tự nguyện trao sự sống ấy cho đời. Có những lúc tình yêu phải biết buông, nhưng cũng có những lúc tình yêu phải biết chiến đấu để bảo vệ. Đức Maria đã làm cả hai. Mẹ bảo vệ Con khỏi bạo lực của Hêrôđê, nhưng sau này Mẹ không ngăn Con bước vào Giêrusalem, dù biết những kẻ thù ghét đang chờ đợi. Bởi Mẹ hiểu rằng có một giờ chưa đến và có một giờ phải đến. Khi giờ của Thiên Chúa chưa đến, Mẹ gìn giữ Con; khi giờ ấy đến, Mẹ để Con tự do tiến về cuộc hiến tế.

Những năm tháng ở Nadarét là quãng đời dài nhất nhưng lại âm thầm nhất. Tin Mừng không kể cho chúng ta nhiều chi tiết, nhưng chính sự im lặng ấy lại nói lên rất nhiều. Đức Maria nuôi Con lớn lên trong một mái nhà nghèo, dạy Con những lời kinh đầu tiên, chăm sóc từng bữa ăn, từng giấc ngủ, từng bước chân. Mẹ nhìn thấy Con lớn lên từng ngày, từ một Hài Nhi hoàn toàn phụ thuộc vào vòng tay Mẹ trở thành một thiếu niên, rồi một người trưởng thành. Có lẽ Mẹ đã nhiều lần ngắm nhìn đôi tay của Con khi Người phụ giúp thánh Giuse trong xưởng mộc. Đôi tay ấy từng nắm ngón tay Mẹ khi mới tập đi; đôi tay ấy từng đón lấy bát cơm Mẹ trao; đôi tay ấy từng cầm những dụng cụ lao động trong căn nhà nhỏ. Nhưng đôi tay ấy rồi sẽ chữa lành người bệnh, nâng dậy người sa ngã, chạm đến người phong hủi, bẻ bánh cho đám đông, rửa chân cho các môn đệ và cuối cùng bị đóng đinh vào gỗ. Mẹ không biết rõ mọi chi tiết sẽ xảy đến, nhưng Mẹ mang trong lòng lời tiên báo của Simêon. Mỗi ngày Con lớn lên cũng là mỗi ngày Con tiến gần hơn đến sứ mạng. Mỗi niềm vui của người mẹ đồng thời chứa đựng một sự chuẩn bị cho chia lìa.

Biến cố Đức Giêsu mười hai tuổi ở lại Đền Thờ đã giúp Mẹ hiểu rõ hơn rằng Con mình thuộc về Chúa Cha. Sau ba ngày tìm kiếm trong đau khổ, khi gặp lại Con, Mẹ nói: “Con ơi, sao Con lại làm cho cha mẹ như thế? Con thấy không, cha Con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm Con!” Đức Giêsu đáp: “Sao cha mẹ lại tìm Con? Cha mẹ không biết là Con có bổn phận ở nhà của Cha Con sao?” Tin Mừng nói rằng Đức Maria không hiểu lời ấy, nhưng Mẹ ghi nhớ tất cả trong lòng. Đây là một trong những khoảnh khắc khó khăn của tình mẫu tử: Mẹ phải học rằng dù Mẹ sinh ra Đức Giêsu, nhưng căn tính sâu xa nhất của Người là Người Con của Chúa Cha. Mẹ có trách nhiệm chăm sóc Người, nhưng không thể quyết định sứ mạng thay Người. Mẹ có thể yêu thương, đồng hành và giữ gìn, nhưng không thể chiếm hữu. Đức Maria đã để lời Con đi vào lòng mình, âm thầm suy niệm và chờ đợi. Từ ngày ấy, có lẽ Mẹ đã hiểu rằng sẽ đến lúc Con phải rời căn nhà Nadarét để lo việc của Cha trên trời, còn Mẹ phải đứng lại phía sau, tiếp tục yêu thương mà không níu kéo.

Khi Đức Giêsu bắt đầu đời sống công khai, một giai đoạn mới trong hành trình trao ban của Đức Maria được mở ra. Mẹ không còn là người duy nhất chăm sóc và gần gũi với Con. Chung quanh Đức Giêsu giờ đây là các môn đệ, những đám đông, người bệnh, người tội lỗi, những kẻ tìm kiếm, những người tò mò và cả những người chống đối. Người Con từng thuộc về mái nhà Nadarét nay bước ra trên các nẻo đường Galilê. Người dành thời gian cho tất cả mọi người, chữa lành họ, giảng dạy họ, ăn uống với họ và để họ chạm đến mình. Đức Maria phải học cách đứng trong âm thầm. Mẹ không tìm kiếm đặc quyền vì là Mẹ của Người. Mẹ không đòi được ưu tiên, không can thiệp vào sứ mạng, không biến mối tương quan huyết thống thành một quyền lực. Khi có người nói với Đức Giêsu rằng Mẹ và anh em Người đang ở ngoài tìm Người, Đức Giêsu đáp: “Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi?” Rồi Người chỉ những ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa mà nói: “Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi.” Những lời ấy có thể bị hiểu như một sự xa cách, nhưng thật ra lại là lời ca ngợi sâu xa nhất dành cho Đức Maria, bởi không ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa trọn vẹn như Mẹ. Mẹ không chỉ là Mẹ vì đã cưu mang Người trong thân xác, nhưng còn vì đã cưu mang Lời Chúa trong đức tin và vâng phục. Đức Maria không bị gạt ra khỏi gia đình mới của Đức Giêsu; trái lại, Mẹ là người đầu tiên thuộc về gia đình ấy.

Tại tiệc cưới Cana, Đức Maria một lần nữa trao Con mình cho nhu cầu của con người. Khi nhận ra tiệc cưới hết rượu, Mẹ không làm phép lạ, không giải quyết vấn đề bằng quyền năng riêng, nhưng hướng tất cả về Đức Giêsu. Mẹ nói với Người: “Họ hết rượu rồi.” Đó không chỉ là lời thông báo, mà là lời chuyển cầu của một trái tim tinh tế, nhận ra nỗi khó khăn trước khi người khác lên tiếng. Dù Đức Giêsu nói rằng giờ của Người chưa đến, Mẹ vẫn tin tưởng nói với những người phục vụ: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Mẹ không giữ Con cho mình, nhưng dẫn người khác đến với Con. Mẹ không đặt mình ở trung tâm, nhưng giúp mọi người nhận ra Đức Kitô. Tại Cana, “giờ” của Đức Giêsu được nhắc đến lần đầu, và giờ ấy sẽ đạt tới sự viên mãn trên Thập Giá. Điều đó có nghĩa là mỗi dấu lạ, mỗi lời giảng, mỗi bước chân trong đời công khai đều đang đưa Người đến hy lễ cuối cùng. Đức Maria, người đã thúc đẩy dấu lạ đầu tiên bằng lòng tin tưởng và lời chuyển cầu, cũng sẽ hiện diện khi giờ cuối cùng đến. Từ tiệc cưới Cana đến đồi Canvê, Mẹ vẫn chỉ làm một điều: đưa con người đến với Đức Giêsu và mời gọi họ vâng nghe lời Người.

Nhưng càng bước gần Thập Giá, hành trình của Mẹ càng trở nên đau đớn. Đức Maria chắc hẳn đã nghe những lời người ta nói về Con mình: kẻ thì ca tụng, người thì nghi ngờ, người khác lại vu khống. Mẹ biết những cuộc tranh luận giữa Đức Giêsu với các kinh sư và người Pharisêu ngày càng gay gắt. Mẹ thấy sự chống đối đang tăng lên. Mẹ nghe những lời đe dọa, những âm mưu và sự thù ghét. Là một người mẹ, chắc chắn Mẹ đau khi thấy Con bị hiểu lầm. Có những nỗi đau đến từ sự nghèo khó, bệnh tật hoặc chia lìa, nhưng cũng có một nỗi đau rất sâu là thấy người mình yêu bị bóp méo, bị vu oan và bị đối xử bất công. Đức Maria biết Con mình là ai. Mẹ biết sự hiền lành, lòng thương xót, sự trong sạch và tình yêu của Người. Thế nhưng Mẹ phải chứng kiến người ta gọi Người là kẻ phạm thượng, kẻ phá luật, người bị quỷ ám, kẻ lừa dối dân chúng. Mẹ không thể đi từng nơi để thanh minh cho Con. Mẹ chỉ có thể tin tưởng và tiếp tục đồng hành.

Đêm Đức Giêsu bị bắt chắc hẳn là một đêm khủng khiếp đối với Mẹ. Tin dữ đến dồn dập: Con bị phản bội bởi một người môn đệ; bị bắt như một tên tội phạm; bị các môn đệ bỏ chạy; bị đưa từ nơi này sang nơi khác để xét xử; bị nhạo báng, đánh đập, đội mão gai và kết án tử hình. Mẹ không thể thay Con chịu những đòn roi. Mẹ không thể ngăn bàn tay những người đang hành hạ Người. Mẹ không thể dùng tình mẫu tử để thuyết phục Philatô. Mẹ chỉ có thể đi theo. Có những lúc yêu thương là hành động, là bảo vệ, là can thiệp, nhưng cũng có những lúc yêu thương là bất lực đứng bên cạnh mà không bỏ đi. Đức Maria đã sống thứ tình yêu đau đớn ấy. Mẹ không cứu Con khỏi Thập Giá, bởi Mẹ hiểu rằng chính qua Thập Giá, Con đang cứu thế gian. Mẹ không ngăn cản hy lễ, nhưng dâng chính nỗi đau của mình cùng với hy lễ của Con.

Trên đường lên Canvê, có thể ánh mắt Mẹ đã gặp ánh mắt Đức Giêsu. Không cần lời nói, giữa hai người đã có cả một đại dương yêu thương và đau khổ. Mẹ nhìn thấy gương mặt Con đầy máu và bụi, thân thể kiệt sức dưới cây Thập Giá, những vết roi xé nát làn da, những lời sỉ nhục bủa vây. Đây có còn là Hài Nhi Mẹ từng bế trong đêm Bêlem không? Đây có còn là cậu bé từng chạy chơi trong sân nhà Nadarét không? Đây có còn là người thợ mộc từng ngồi bên Mẹ trong những bữa cơm thanh đạm không? Vẫn là Người Con ấy, nhưng giờ đây khuôn mặt Người biến dạng vì đau khổ. Trái tim người mẹ chắc hẳn muốn ôm lấy Con, muốn lau máu, muốn đỡ lấy cây gỗ nặng nề, muốn nói với những kẻ tàn nhẫn rằng họ đang giết một người vô tội. Nhưng Mẹ chỉ có thể bước theo. Và từng bước chân ấy là từng bước của một cuộc hiến dâng.

Khi Đức Giêsu bị đóng đinh, Đức Maria đứng dưới chân Thập Giá. Tin Mừng không nói Mẹ gào khóc, không nói Mẹ ngất đi, không mô tả những cử chỉ tuyệt vọng. Tin Mừng chỉ nói: Mẹ đứng đó. Một từ rất ngắn, nhưng chứa đựng cả sự kiên cường của tình yêu. Mẹ đứng đó không phải vì không đau, nhưng vì đau đến tận cùng mà vẫn không bỏ đi. Mẹ đứng đó không phải vì hiểu hết, nhưng vì tin tưởng ngay cả khi mọi sự dường như sụp đổ. Mẹ đứng đó giữa những tiếng chế nhạo, giữa sự thất bại bề ngoài, giữa bóng tối phủ xuống và giữa cảnh người Con vô tội đang hấp hối. Mẹ không thể làm gì để giảm đau cho Con, nhưng sự hiện diện của Mẹ nói với Đức Giêsu rằng Người không cô độc. Các môn đệ phần lớn đã trốn chạy, đám đông từng tung hô nay im tiếng hoặc đổi thành lời kết án, nhưng Mẹ vẫn ở đó. Tình yêu của Mẹ không phụ thuộc vào thành công của Con, không thay đổi theo thái độ của đám đông, không rút lui khi sứ mạng của Người mang dáng vẻ thất bại. Mẹ yêu Người khi thiên thần loan báo Người sẽ làm vua, và Mẹ vẫn yêu Người khi Người bị đóng đinh như một tên tội phạm. Mẹ yêu Người trong ánh sáng Bêlem và Mẹ vẫn yêu Người trong bóng tối Canvê.

Dưới chân Thập Giá, Đức Maria thực hiện sự trao ban lớn lao nhất. Ở Bêlem, Mẹ trao Con cho nhân loại bằng cách đặt Người trong máng cỏ để mọi người có thể đến gần. Trên Canvê, Mẹ trao Con cho nhân loại bằng cách chấp nhận để Người chết cho họ. Những kẻ đang đóng đinh Đức Giêsu cũng là những người Người đến để cứu. Những bàn tay đâm thủng tay chân Người cũng thuộc về nhân loại mà Mẹ đã trao Con mình cho. Người mẹ nào có thể chịu nổi điều ấy? Người mẹ nào có thể nhìn những kẻ giết Con mình mà không oán hận? Nhưng Đức Maria không buông lời nguyền rủa. Mẹ đứng bên Con trong lời tha thứ: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Có lẽ chính lúc ấy Mẹ hiểu đến tận cùng rằng Con của Mẹ thực sự không thuộc về riêng Mẹ. Người thuộc về cả những kẻ yêu mến lẫn những người từ chối Người, thuộc về người công chính lẫn kẻ tội lỗi, thuộc về những môn đệ trung thành lẫn kẻ phản bội, thuộc về Mẹ và thuộc về tất cả chúng ta. Trao ban Con cho những người biết ơn đã khó, trao ban Con cho những kẻ làm tổn thương Người còn khó hơn vô cùng. Nhưng Mẹ đã làm điều đó trong hiệp thông với tình yêu cứu độ của Đức Kitô.

Chính từ trên Thập Giá, Đức Giêsu lại trao ban Mẹ. Người nói với Mẹ: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Rồi Người nói với người môn đệ: “Đây là Mẹ của anh.” Tại Bêlem, Đức Maria sinh Đức Giêsu cho thế gian; tại Canvê, trong đau khổ, Mẹ được trao một tình mẫu tử mới. Mẹ không chỉ còn là Mẹ của Đức Giêsu theo huyết nhục, nhưng trở thành Mẹ của các môn đệ, Mẹ của Hội Thánh, Mẹ của những người được cứu chuộc bằng máu Con mình. Đây là một mầu nhiệm thật lớn lao: ngay khi sắp mất đi Người Con duy nhất, Mẹ lại đón nhận vô số người con khác. Và những người con ấy không phải là những người hoàn hảo. Đó là các môn đệ yếu đuối, có thể chạy trốn, có thể sợ hãi, có thể sa ngã. Đó là nhân loại tội lỗi, đầy phản bội, vô ơn và khép kín. Đức Giêsu trao tất cả họ cho Mẹ. Như thế, hành trình trao ban của Đức Maria không kết thúc khi Con chết. Mẹ tiếp tục trao tình mẫu tử của mình cho những người mà Con đã cứu.

Khi Đức Giêsu trút hơi thở cuối cùng, một lưỡi gươm thật sự đâm thâu tâm hồn Mẹ. Người Con mà Mẹ đã cưu mang nay chết trước mắt Mẹ. Mọi hy vọng theo cách nhìn của con người dường như đã chấm dứt. Những lời hứa về ngai vàng Đavít, về Nước không bao giờ cùng, về Đấng Cứu Độ giờ đây như bị chôn vùi trong sự im lặng của cái chết. Nhưng Đức Maria vẫn tin. Đức tin của Mẹ lúc này không còn được nâng đỡ bởi phép lạ, lời tung hô hay dấu chỉ chiến thắng. Mẹ chỉ có một thân xác đã chết của Con và một lời hứa của Thiên Chúa. Chính trong giờ phút ấy, đức tin của Mẹ trở nên tinh tuyền nhất. Mẹ tin không phải vì thấy, nhưng vì đã hoàn toàn phó thác. Mẹ không hiểu cách nào Thiên Chúa sẽ thực hiện lời hứa, nhưng Mẹ biết Thiên Chúa trung tín.

Khi thân xác Đức Giêsu được hạ xuống khỏi Thập Giá và đặt vào lòng Mẹ, cảnh tượng ấy làm ta nhớ đến đêm Bêlem. Ngày ấy, Mẹ ôm một Hài Nhi đang ngủ; hôm nay Mẹ ôm một thân xác không còn hơi thở. Ngày ấy, Mẹ nhìn khuôn mặt Con trong ánh sáng của đêm thánh; hôm nay khuôn mặt ấy đầy thương tích. Ngày ấy, Mẹ quấn Con trong tã; hôm nay người ta chuẩn bị quấn Người trong khăn liệm. Ngày ấy, Mẹ nghe thiên thần ca hát; hôm nay Mẹ chỉ nghe tiếng khóc và sự im lặng. Nhưng trong cả hai khoảnh khắc, Con vẫn hoàn toàn phó mình trong tay Mẹ. Máng cỏ và Thập Giá gặp nhau trong vòng tay của người Mẹ. Ở Bêlem, Mẹ đón nhận sự sống; tại Canvê, Mẹ đón nhận cái chết. Nhưng chính từ cái chết ấy, một sự sống mới sẽ bừng lên.

Đức Maria trao Con vào ngôi mộ, nhưng Mẹ không trao Người cho tuyệt vọng. Mẹ bước vào ngày thứ Bảy thinh lặng với một niềm tin mà không ai có thể diễn tả hết. Các môn đệ hoang mang, sợ hãi và tan tác. Đối với họ, mọi sự như đã chấm dứt. Nhưng Đức Maria, người đã tin lời Thiên Chúa từ ngày truyền tin, vẫn giữ lời ấy trong lòng. Mẹ đã từng không hiểu nhưng vẫn tin; đã từng đau khổ nhưng vẫn vâng phục; đã từng mất dấu Con trong ba ngày và rồi tìm thấy Người trong Đền Thờ. Giờ đây, một lần nữa Mẹ chờ đợi trong ba ngày. Mẹ không biết bình minh Phục Sinh sẽ đến theo cách nào, nhưng Mẹ biết rằng Thiên Chúa không thể thất tín. Hành trình trao ban của Mẹ vì thế không kết thúc trong mộ đá, nhưng mở ra trong ánh sáng Phục Sinh. Người Con Mẹ trao đi không mất khỏi Mẹ; Người trở lại trong vinh quang và trở thành nguồn sống cho toàn thể nhân loại.

Từ máng cỏ đến Thập Giá, Đức Maria dạy chúng ta rằng tình yêu đích thực luôn mang hình dáng của sự trao ban. Yêu không phải là giữ người khác trong vòng kiểm soát của mình, không phải là bắt họ sống theo ý mình, không phải là biến tình cảm thành quyền sở hữu. Yêu là đón nhận, chăm sóc, bảo vệ, đồng hành, nhưng cũng là biết buông ra khi người mình yêu được mời gọi bước theo thánh ý Thiên Chúa. Đức Maria không yêu Con ít hơn khi để Người rời Nadarét; trái lại, chính vì yêu Con trong Thiên Chúa nên Mẹ tôn trọng sứ mạng của Người. Mẹ không yêu Con ít hơn khi không ngăn Người lên Giêrusalem; trái lại, Mẹ yêu đến mức chấp nhận cùng Người trả giá cho sự cứu độ của nhân loại. Mẹ không yêu Con ít hơn khi trao Người vào mộ; trái lại, Mẹ yêu với một đức tin mạnh hơn cả cái chết.

Hành trình của Đức Maria cũng phản chiếu hành trình của biết bao người mẹ trong cuộc đời. Người mẹ cưu mang con trong đau đớn, sinh con trong hy sinh, nuôi con bằng những đêm thức trắng, những giọt mồ hôi, những nỗi lo không ai nhìn thấy. Nhưng rồi một ngày, người mẹ cũng phải học cách trao con cho cuộc đời, cho ơn gọi, cho gia đình riêng, cho trách nhiệm và cho những con đường mà người mẹ không thể đi thay. Có người mẹ trao con bước vào đời sống hôn nhân; có người mẹ trao con cho đời sống thánh hiến; có người mẹ tiễn con đi xa học tập, làm việc hoặc phục vụ; có người mẹ đau đớn chứng kiến con bệnh tật, thất bại hay lạc đường; có người mẹ phải trao con lại cho Thiên Chúa trong nước mắt của một cuộc chia lìa quá sớm. Mọi người mẹ đều có một Bêlem của niềm vui và có thể cũng có một Canvê của đau khổ. Đức Maria đứng bên họ, bởi Mẹ đã đi qua tất cả những cung bậc ấy. Mẹ hiểu niềm hạnh phúc khi bế con trong tay, hiểu nỗi lo khi con gặp nguy hiểm, hiểu sự đau đớn khi bị hiểu lầm, hiểu cảm giác bất lực khi không thể chịu đau thay con, và hiểu cả sự tan nát khi phải tiễn con vào cõi chết.

Tuy nhiên, hành trình trao ban không chỉ dành cho các bà mẹ. Mỗi Kitô hữu đều được mời gọi sống như Đức Maria: đón nhận Đức Kitô vào đời mình và trao Người cho thế giới. Chúng ta có thể đã đón Chúa qua bí tích Rửa Tội, qua Thánh Thể, qua Lời Chúa, nhưng câu hỏi là: chúng ta có giữ Chúa cho riêng mình hay để Người được sinh ra trong cuộc đời người khác? Một đức tin chỉ giữ trong lòng mà không trở thành tình yêu, phục vụ và chứng tá thì giống như một máng cỏ đóng kín. Đức Maria đón Chúa để trao Chúa. Mẹ không trở thành nơi dừng lại cuối cùng, nhưng là con đường đưa Đức Kitô đến với nhân loại. Người Kitô hữu cũng vậy: chúng ta không được Chúa chạm đến chỉ để bản thân được bình an, nhưng để trở thành dụng cụ bình an; không được tha thứ chỉ để cảm thấy nhẹ nhõm, nhưng để biết tha thứ; không được yêu thương chỉ để thụ hưởng, nhưng để trở thành người trao ban tình yêu.

Nhìn lên Đức Maria dưới chân Thập Giá, chúng ta cũng được mời gọi xét lại cách mình yêu. Có khi chúng ta nói yêu nhưng thật ra là muốn kiểm soát. Ta yêu con cái nhưng muốn chúng phải hoàn thành những giấc mơ của ta. Ta yêu người thân nhưng muốn họ phải hành động theo sự mong đợi của mình. Ta yêu cộng đoàn nhưng chỉ khi ý kiến của ta được chấp nhận. Ta yêu Thiên Chúa nhưng chỉ khi Người ban điều ta xin. Tình yêu của Đức Maria hoàn toàn khác. Mẹ yêu mà không áp đặt, hiện diện mà không chiếm chỗ, phục vụ mà không tìm công trạng, đau khổ mà không oán trách, trao ban mà không đòi được trả lại. Mẹ không đứng dưới chân Thập Giá để hỏi Đức Giêsu: “Con đã để mẹ phải chịu như thế này sao?” Mẹ đứng đó như một lời xin vâng được kéo dài đến tận cùng.

Từ máng cỏ đến Thập Giá, Đức Maria không nói nhiều. Cuộc đời Mẹ được diễn tả chủ yếu bằng sự hiện diện. Mẹ hiện diện tại Bêlem khi Con chào đời. Mẹ hiện diện trong cuộc trốn chạy sang Ai Cập. Mẹ hiện diện trong mái nhà Nadarét. Mẹ hiện diện tại Cana. Mẹ hiện diện trên đường sứ vụ. Mẹ hiện diện dưới chân Thập Giá. Mẹ hiện diện giữa cộng đoàn môn đệ chờ đợi Chúa Thánh Thần. Sự hiện diện của Mẹ không ồn ào, nhưng trung tín. Trong một thế giới thích thể hiện, Đức Maria dạy rằng có những sự hiện diện âm thầm lại cứu chữa lòng người sâu xa hơn mọi lời nói. Đôi khi người đau khổ không cần chúng ta giải thích, không cần những lời khuyên dài dòng, mà chỉ cần một người đứng bên cạnh, không bỏ đi. Đức Maria đã đứng bên Đức Giêsu như thế. Và hôm nay Mẹ cũng đứng bên những người đang vác thập giá của họ.

Có thể trong cuộc đời chúng ta cũng có những lúc phải đi từ máng cỏ đến Thập Giá: từ niềm vui khởi đầu đến đau đớn cuối đường, từ hy vọng đến thử thách, từ việc ôm giữ đến việc buông trao. Có những ước mơ từng được sinh ra rất đẹp nhưng rồi phải trải qua gian nan. Có những mối tương quan từng tràn đầy hạnh phúc nhưng sau đó bị thử thách bởi bệnh tật, hiểu lầm hoặc chia lìa. Có những ơn gọi bắt đầu bằng nhiệt huyết nhưng phải đi qua những ngày khô khan và mệt mỏi. Khi ấy, Đức Maria nhắc chúng ta rằng tình yêu không chỉ trung thành với máng cỏ, nơi mọi sự còn đẹp đẽ và dễ thương, mà còn phải trung thành với Thập Giá, nơi tình yêu bị thử luyện và thanh tẩy. Ai chỉ yêu khi được an ủi thì chưa yêu đến cùng. Ai chỉ tin khi thấy phép lạ thì đức tin vẫn còn mong manh. Ai chỉ bước theo Chúa trong ngày lễ hội mà bỏ đi trong ngày Canvê thì chưa thực sự hiểu con đường của Đức Kitô.

Từ máng cỏ đến Thập Giá là con đường của Đức Giêsu, nhưng cũng là con đường của Đức Maria. Con trao mình cho nhân loại, Mẹ trao Con cho nhân loại. Con thưa với Chúa Cha: “Xin đừng theo ý Con, nhưng xin theo ý Cha”, còn cả cuộc đời Mẹ là tiếng vọng của lời: “Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời Người.” Con vâng phục cho đến chết, Mẹ trung thành cho đến dưới chân Thập Giá. Con mở cạnh sườn để tuôn trào máu và nước, Mẹ mở rộng trái tim để đón nhận mọi người làm con. Hy lễ của Đức Kitô là nguồn ơn cứu độ duy nhất, nhưng Đức Maria đã hiệp thông với hy lễ ấy bằng tất cả tình yêu của một người mẹ và đức tin của một nữ tỳ.

Vì thế, khi ngắm nhìn Đức Maria, chúng ta không dừng lại ở Mẹ, nhưng được Mẹ dẫn đến Đức Kitô. Mẹ không muốn chúng ta chỉ cảm động trước nỗi đau của Mẹ, nhưng muốn chúng ta nhận ra tình yêu cứu độ của Con Mẹ. Mẹ không giữ ánh mắt chúng ta ở máng cỏ, nhưng dẫn ánh mắt ấy đến Thập Giá và từ Thập Giá đến ngôi mộ trống. Mẹ muốn chúng ta hiểu rằng Hài Nhi nằm trong máng cỏ chính là Đấng sẽ hiến mạng trên Thập Giá; rằng tình yêu Thiên Chúa không chỉ là sự dịu dàng của một đêm Giáng Sinh, nhưng còn là sự tự hiến đến giọt máu cuối cùng; rằng làm môn đệ Đức Kitô không chỉ là quỳ trước Hài Nhi, nhưng còn là đứng dưới chân Thập Giá.

Xin Đức Maria dạy chúng ta biết yêu như Mẹ: yêu không giữ lại, yêu không tính toán, yêu không trốn chạy khi đau khổ xuất hiện. Xin Mẹ dạy các bậc cha mẹ biết trao con cái cho Thiên Chúa, biết hướng dẫn mà không áp đặt, biết đồng hành mà không sở hữu, biết cầu nguyện thay vì kiểm soát. Xin Mẹ dạy những người sống đời thánh hiến biết trao trọn cuộc đời cho Chúa không chỉ trong ngày tuyên khấn đầy hoa và tiếng hát, nhưng cả trong những ngày âm thầm, cô đơn và thử thách. Xin Mẹ dạy mỗi người chúng ta biết trao thời giờ, khả năng, của cải, sức khỏe và cả những đau khổ của mình để phục vụ anh chị em.

Và khi cuộc đời dẫn chúng ta đến một Canvê nào đó, xin cho chúng ta nhớ rằng Đức Maria đang đứng bên cạnh. Mẹ đã từng đứng trong bóng tối mà vẫn tin vào bình minh. Mẹ đã từng ôm thân xác đã chết của Con mà vẫn không đánh mất niềm hy vọng vào lời Thiên Chúa. Mẹ đã từng trao đi điều quý giá nhất và rồi nhận lại trong vinh quang Phục Sinh. Nhờ lời chuyển cầu của Mẹ, xin cho chúng ta cũng biết sống hành trình trao ban của chính mình, để từ những máng cỏ nghèo hèn và những thập giá đau thương của đời ta, tình yêu Đức Kitô vẫn được sinh ra, được trao tặng và được lan rộng đến mọi người.

Từ máng cỏ đến Thập Giá, Đức Maria đã đi trọn con đường của một người mẹ. Mẹ đã sinh Con ra trong nghèo khó, nuôi Con lớn lên trong âm thầm, theo Con trong trung tín, đứng bên Con trong đau khổ, trao Con trong đức tin và đón nhận nhân loại trong tình mẫu tử. Cuộc đời Mẹ là một lời nhắc dịu dàng nhưng mạnh mẽ rằng: điều ta yêu thương nhất không phải để ta giữ mãi cho mình, nhưng để qua sự trao ban của ta, điều ấy trở thành phúc lành cho nhiều người. Mẹ đã trao Đức Giêsu cho thế giới, và nhờ sự trao ban ấy, thế giới nhận được Đấng Cứu Độ. Xin cho chúng ta, khi bước theo Mẹ, cũng biết trao chính mình cho Thiên Chúa và cho anh chị em, để đời ta, dù nhỏ bé và âm thầm, cũng trở thành một hành trình của tình yêu hiến dâng, từ máng cỏ của khởi đầu đến Thập Giá của hoàn tất, và từ Thập Giá đến ánh sáng không bao giờ tắt của ngày Phục Sinh.

 

MẸ ĐƯA CHÚA ĐẾN, VÀ NIỀM VUI BẮT ĐẦU

Có những niềm vui đến từ một món quà bất ngờ, có những niềm vui nảy sinh từ một cuộc gặp gỡ, có những niềm vui bừng lên khi một ước mơ được thực hiện, nhưng tất cả những niềm vui ấy rồi cũng có thể nhạt phai theo năm tháng. Có món quà hôm nay khiến ta hạnh phúc, ngày mai lại trở nên cũ kỹ; có cuộc gặp gỡ hôm nay làm lòng ta rộn ràng, nhưng rồi cũng đến lúc phải chia xa; có thành công hôm nay đưa ta lên cao, nhưng ngày mai có thể trở thành một ký ức xa xôi. Chỉ có một niềm vui không bị thời gian lấy mất, không bị nghịch cảnh dập tắt, không bị tuổi tác làm phai nhòa, đó là niềm vui phát xuất từ sự hiện diện của Thiên Chúa. Khi Thiên Chúa bước vào một cuộc đời, cuộc đời ấy có thể vẫn còn nước mắt, vẫn còn thập giá, vẫn còn những ngày mệt mỏi và những đêm dài thao thức, nhưng tận đáy lòng đã bắt đầu có một nguồn sáng không tắt, một niềm hy vọng không chết, một sức mạnh âm thầm nâng người ta đứng dậy. Và trong chương trình cứu độ nhiệm mầu ấy, Đức Maria chính là người đã mang Chúa đến cho nhân loại. Mẹ không mang đến một lý thuyết mới, không mang đến một thứ triết lý cao siêu, không mang đến giàu sang hay quyền lực, Mẹ mang đến một Con Người, và Con Người ấy chính là Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ trần gian. Vì thế, nơi nào Mẹ đến mà có Chúa trong lòng, nơi ấy niềm vui bắt đầu; gia đình nào đón Mẹ để Mẹ dẫn đến Chúa, gia đình ấy bắt đầu được chữa lành; tâm hồn nào mở cửa cho Mẹ, để Mẹ đưa Đức Kitô bước vào, tâm hồn ấy bắt đầu tìm lại bình an.

Tin Mừng kể rằng sau biến cố Truyền Tin, khi vừa cưu mang Ngôi Lời trong cung lòng, Đức Maria đã vội vã lên đường đến miền núi thăm người chị họ là bà Êlisabét. Mẹ không giữ Chúa cho riêng mình. Mẹ không khép cửa ở lại Nadarét để chỉ một mình tận hưởng niềm hạnh phúc được làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Tình yêu đích thực không bao giờ khép kín. Ai thật sự có Chúa trong lòng thì tự nhiên sẽ muốn đem Chúa đến cho người khác. Ai thật sự được chạm đến bởi ân sủng thì không thể sống thờ ơ trước nhu cầu của anh chị em. Mẹ Maria lên đường không phải để khoe một đặc ân, nhưng để phục vụ; không phải để tìm sự chú ý, nhưng để trao ban; không phải để được tôn vinh, nhưng để giúp đỡ một người phụ nữ lớn tuổi đang mang thai và cần một bàn tay gần gũi. Bước chân của Mẹ trên đường núi Giuđê là bước chân của một người nữ cưu mang Thiên Chúa và cưu mang cả nỗi bận tâm dành cho con người. Mẹ đi giữa nắng gió, vượt qua đường xa, chấp nhận mệt nhọc, bởi trong lòng Mẹ có Chúa và trong trái tim Mẹ có người khác. Chính vì thế, Mẹ trở thành mẫu gương tuyệt đẹp cho đời sống Kitô hữu: người có Chúa không phải là người chỉ biết ngồi lại với những cảm xúc đạo đức của riêng mình, nhưng là người biết đứng dậy, biết lên đường, biết mang sự hiện diện của Chúa vào những căn nhà đang thiếu tiếng cười, những tâm hồn đang thiếu hy vọng, những con người đang cần được yêu thương.

Khi Đức Maria bước vào nhà ông Dacaria và cất lời chào bà Êlisabét, một điều kỳ diệu đã xảy ra: hài nhi trong lòng bà Êlisabét nhảy mừng, bà được đầy tràn Thánh Thần và lớn tiếng ca ngợi Mẹ. Chỉ một lời chào thôi, nhưng lời chào ấy không còn là một âm thanh bình thường, bởi lời chào ấy phát xuất từ một con người đang mang Chúa trong lòng. Mẹ đến, nhưng thật ra Chúa đang đến qua Mẹ. Mẹ cất tiếng, nhưng ân sủng của Chúa đang chạm đến cả người mẹ lẫn người con trong căn nhà ấy. Gioan Tẩy Giả còn nằm trong lòng mẹ đã nhảy lên vui sướng, bởi Đấng mà ông sẽ dọn đường nay đang ở rất gần. Êlisabét vui mừng, bởi người Mẹ của Chúa đã đến thăm bà. Một mái nhà trước đó có lẽ vẫn còn mang những nỗi lo của tuổi già, của thai kỳ, của một người chồng đang bị câm, bỗng trở nên chan chứa tiếng reo vui. Niềm vui ấy không phát sinh từ một bữa tiệc lớn, không đến từ tiền bạc hay danh vọng, nhưng chỉ đơn giản vì Chúa đã hiện diện. Mẹ đưa Chúa đến, và niềm vui bắt đầu.

Điều đó cho chúng ta hiểu rằng niềm vui Kitô giáo không phải là một trạng thái lúc nào cũng cười, cũng thuận lợi, cũng không gặp đau khổ. Niềm vui Kitô giáo là biết rằng Thiên Chúa đang ở cùng mình. Bà Êlisabét vẫn là một người phụ nữ lớn tuổi đang mang thai, vẫn phải đối diện với những khó khăn của cuộc sinh nở; ông Dacaria vẫn chưa nói lại được; Đức Maria vẫn đang đứng trước một tương lai đầy bất định, phải giải thích với thánh Giuse, phải đối diện với những ánh mắt nghi ngờ, rồi sau này phải sinh Con trong cảnh nghèo hèn, phải bồng Con chạy trốn sang Ai Cập, và cuối cùng phải đứng dưới chân thập giá. Thế nhưng giữa những điều chưa được giải quyết ấy, niềm vui vẫn bừng lên, bởi Thiên Chúa đã đến. Đây là một bài học rất cần thiết cho chúng ta. Nhiều khi ta nghĩ rằng chỉ khi mọi khó khăn chấm dứt, ta mới có thể vui; chỉ khi hết bệnh, hết nợ, gia đình yên ổn, con cái thành công, công việc thuận lợi, ta mới có thể bình an. Nhưng Tin Mừng dạy một con đường khác: không phải chờ cuộc đời hết bão tố rồi ta mới vui, nhưng hãy để Chúa bước vào giữa bão tố, và niềm vui sẽ bắt đầu ngay trong chính hoàn cảnh chưa trọn vẹn ấy. Niềm vui không nhất thiết là mọi sự đã thay đổi, nhưng là ta không còn phải đối diện với mọi sự một mình.

Đức Maria là người mang Chúa đến vì trước hết Mẹ đã để Chúa bước vào cuộc đời mình. Không ai có thể trao điều mình không có. Mẹ có thể đem Chúa đến cho bà Êlisabét vì Mẹ đã thưa lời xin vâng với Thiên Chúa. Mẹ đã mở lòng cho Ngôi Lời nhập thể. Mẹ đã chấp nhận để kế hoạch của Thiên Chúa làm đảo lộn những dự tính riêng. Mẹ không hiểu hết con đường phía trước, nhưng Mẹ tin. Mẹ không nắm chắc mọi chi tiết, nhưng Mẹ phó thác. Mẹ không yêu cầu Thiên Chúa phải cho mình một tương lai dễ dàng, nhưng chỉ thưa: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Chính lời xin vâng ấy đã mở cửa cho niềm vui cứu độ đi vào thế giới. Trước khi Mẹ đưa Chúa đến nhà bà Êlisabét, Mẹ đã để Chúa đến trong lòng mình. Trước khi Mẹ trở thành người trao ban, Mẹ đã trở thành người đón nhận. Đây cũng là quy luật của đời sống thiêng liêng: muốn mang bình an đến cho người khác, trước hết ta phải ở lại trong bình an của Chúa; muốn trao hy vọng, ta phải để Chúa chữa lành sự thất vọng trong mình; muốn nói những lời nâng đỡ, ta phải để Lời Chúa thanh luyện môi miệng và trái tim; muốn trở thành người đem niềm vui đến cho gia đình, ta phải sống kết hiệp với nguồn vui đích thực là Đức Kitô.

Có nhiều người bước vào một căn nhà nhưng mang theo sự nặng nề. Có người đến đâu là lời phàn nàn đi theo đến đó. Có người gặp ai cũng chỉ kể chuyện tiêu cực, nói về lỗi lầm của người khác, gieo nghi ngờ, khơi lại vết thương, làm cho bầu khí vốn đã mệt mỏi càng thêm u ám. Nhưng cũng có những người rất bình thường, không giàu có, không nói những lời lớn lao, vậy mà chỉ cần họ xuất hiện, người khác cảm thấy nhẹ lòng. Ánh mắt của họ có sự hiền lành, giọng nói của họ có sự cảm thông, cách hiện diện của họ khiến người đang khổ cảm thấy mình không bị bỏ rơi. Đó là những người đang mang Chúa trong lòng. Họ không cần giảng nhiều, bởi chính sự hiện diện của họ đã là một bài giảng. Họ không cần làm những việc phi thường, bởi một lời hỏi thăm đúng lúc, một sự lắng nghe không phán xét, một bàn tay giúp đỡ âm thầm cũng đủ làm cho niềm vui bắt đầu trở lại trong một tâm hồn. Đức Maria đã không đến nhà bà Êlisabét với những bài diễn văn dài. Mẹ chỉ đến, chào hỏi và ở lại phục vụ. Nhưng vì Mẹ mang Chúa, nên sự hiện diện của Mẹ trở thành một cuộc thăm viếng của ân sủng.

Mỗi Kitô hữu cũng được mời gọi trở thành một người mang Chúa đến. Từ ngày lãnh nhận bí tích Rửa Tội, ta đã thuộc về Đức Kitô. Qua mỗi lần rước lễ, Chúa thật sự ngự vào lòng ta. Sau mỗi Thánh lễ, ta không chỉ ra về với một tâm tình đạo đức, nhưng được sai đi để đem Chúa vào đời. Thật đáng buồn nếu ta rước Chúa vào lòng nhưng khi trở về nhà lại mang theo sự nóng nảy, lạnh lùng và ích kỷ; nếu ta đọc kinh rất nhiều nhưng lời nói lại làm người khác tổn thương; nếu ta sốt sắng trước bàn thờ nhưng lại thờ ơ trước nỗi đau của người thân; nếu ta tôn kính Đức Mẹ nhưng không học nơi Mẹ cách lên đường phục vụ. Mẹ Maria nhắc ta rằng người mang Chúa thật sự là người làm cho người khác được nâng lên, chứ không phải bị đè xuống; được chữa lành, chứ không phải bị tổn thương thêm; được hy vọng, chứ không phải thất vọng; được gần Chúa hơn, chứ không phải xa Chúa vì gương xấu của ta.

Trong đời sống gia đình, biết bao lần niềm vui bị đánh mất không phải vì thiếu tiền, nhưng vì thiếu sự hiện diện của Chúa. Có những ngôi nhà rất đầy đủ tiện nghi, nhưng các thành viên lại xa lạ với nhau. Mỗi người có một căn phòng, một màn hình, một thế giới riêng, nhưng không có thời gian ngồi bên nhau. Có những gia đình không thiếu những bữa ăn ngon, nhưng thiếu lời nói dịu dàng; không thiếu vật chất, nhưng thiếu sự tha thứ; không thiếu những bức ảnh đẹp đăng trên mạng, nhưng trong lòng lại có những khoảng cách âm thầm. Có những người chồng mang áp lực về nhà rồi trút lên vợ con; có những người vợ giữ quá nhiều tủi thân đến mức lời nói trở thành gai nhọn; có những người con ngày càng lớn nhưng không còn muốn tâm sự với cha mẹ; có những người già sống giữa con cháu mà vẫn cô đơn. Những lúc ấy, gia đình cần có Mẹ bước vào, không phải như một pho tượng trang trí, nhưng như người chỉ cho mọi người biết mở cửa cho Chúa. Khi một gia đình biết cùng nhau cầu nguyện, biết đặt Lời Chúa ở trung tâm, biết xin lỗi và tha thứ, biết ngồi lại với nhau trong yêu thương, Chúa bắt đầu hiện diện cách rõ ràng hơn, và niềm vui cũng bắt đầu hồi sinh.

Mẹ đưa Chúa đến không có nghĩa là mọi xung đột tự nhiên biến mất ngay lập tức, nhưng là mọi người bắt đầu nhìn nhau bằng ánh mắt của Chúa. Khi có Chúa, người chồng không còn xem vợ như người phải phục vụ mình, nhưng như quà tặng Thiên Chúa trao ban. Khi có Chúa, người vợ không chỉ nhìn thấy những thiếu sót của chồng, nhưng còn nhận ra những gánh nặng mà chồng đang âm thầm mang. Khi có Chúa, cha mẹ không coi con cái như một dự án phải thành công theo ý mình, nhưng như những con người độc đáo cần được yêu thương và hướng dẫn. Khi có Chúa, con cái biết trân trọng những hy sinh âm thầm của cha mẹ. Khi có Chúa, người ta không còn tranh phần thắng trong mỗi cuộc cãi vã, nhưng biết nhường nhau để giữ lấy tình thân. Niềm vui gia đình không đến từ việc không bao giờ bất đồng, nhưng từ việc giữa những bất đồng, mọi người vẫn chọn yêu thương, vẫn chọn ở lại, vẫn chọn bắt đầu lại.

Đức Maria cũng đưa Chúa đến cho những người không còn niềm vui. Có những người đang sống nhưng trong lòng như đã chết. Họ vẫn đi làm, vẫn trò chuyện, vẫn xuất hiện giữa đám đông, nhưng bên trong là một vùng hoang vắng. Có người mang nỗi đau bị phản bội; có người đang chịu bệnh tật; có người mất người thân; có người thất bại trong công việc; có người đã cầu nguyện rất nhiều nhưng chưa thấy lời đáp; có người tự trách mình vì những sai lầm quá khứ; có người cảm thấy mình vô dụng, bị bỏ quên, không còn giá trị. Với những tâm hồn ấy, Đức Maria không đến để trách móc họ vì thiếu đức tin. Mẹ đến như Mẹ đã đến với bà Êlisabét: lặng lẽ, gần gũi, mang theo Chúa. Mẹ không hứa một con đường không đau khổ, bởi chính Mẹ đã đi qua lưỡi gươm đâm thấu tâm hồn. Nhưng Mẹ cho ta biết rằng trong mọi đau khổ, Đức Kitô vẫn có thể được sinh ra; giữa đêm tối, ánh sáng vẫn có thể bắt đầu; trên chính nơi tưởng như là tận cùng, một cánh cửa mới vẫn có thể mở ra.

Hãy nhìn hang đá Bêlem. Khi Mẹ đưa Chúa đến trần gian, niềm vui bắt đầu không phải trong cung điện, nhưng trong một chuồng súc vật nghèo nàn. Không có phòng trọ, không có chỗ ấm áp, không có những điều kiện mà một người mẹ sắp sinh đáng được hưởng. Nhưng chính nơi nghèo khó ấy, thiên thần đã hát, mục đồng đã vui mừng, bầu trời và mặt đất gặp nhau. Điều đó cho thấy niềm vui của Thiên Chúa không lệ thuộc vào hoàn cảnh hoàn hảo. Chúa có thể được sinh ra giữa sự thiếu thốn. Chúa có thể đem niềm vui vào căn nhà nhỏ, vào một gia đình đang chật vật, vào một cuộc đời tưởng như không có gì đáng tự hào. Nhiều khi ta trì hoãn niềm vui vì nghĩ rằng mình phải có thêm điều này, đạt được điều kia, giải quyết xong mọi rắc rối, rồi mới có thể sống bình an. Nhưng hang đá Bêlem nói với ta rằng ngay trong nghèo khó, Chúa vẫn có thể đến; ngay khi mọi sự chưa như ý, niềm vui vẫn có thể bắt đầu, miễn là có Chúa.

Hãy nhìn tiệc cưới Cana. Một lần nữa, Mẹ lại xuất hiện trong một hoàn cảnh niềm vui đang có nguy cơ bị dập tắt. Tiệc cưới hết rượu, một sự thiếu hụt có thể khiến đôi tân hôn xấu hổ và ngày vui trở thành một ký ức buồn. Mẹ nhìn thấy điều mà có lẽ nhiều người khác không thấy. Mẹ nhạy cảm trước nhu cầu âm thầm của con người. Mẹ không làm phép lạ, nhưng Mẹ đưa vấn đề đến với Chúa Giêsu. Mẹ nói với Người: “Họ hết rượu rồi.” Và sau đó, Mẹ nói với các gia nhân: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Đây chính là vai trò của Mẹ trong đời sống Hội Thánh và trong đời sống mỗi người. Mẹ không thay thế Chúa. Mẹ không giữ chúng ta lại nơi mình. Mẹ nhận ra những thiếu thốn của chúng ta, đưa chúng ta đến với Đức Kitô, rồi dạy chúng ta vâng nghe lời Người. Ở đâu người ta làm theo lời Chúa, nước lã bắt đầu hóa thành rượu ngon; sự tầm thường được biến đổi; tình yêu nguội lạnh có thể cháy lại; niềm vui đã cạn có thể được đổ đầy.

Nhiều gia đình hôm nay cũng đang “hết rượu”. Hết rượu của sự kiên nhẫn, nên chỉ một chuyện nhỏ cũng có thể bùng thành cãi vã. Hết rượu của sự tin tưởng, nên sống bên nhau mà luôn nghi ngờ. Hết rượu của lời cầu nguyện, nên khi gặp biến cố chỉ biết hoảng loạn. Hết rượu của lòng biết ơn, nên chỉ nhìn thấy những điều người khác chưa làm mà quên những hy sinh họ đã trao. Hết rượu của sự chung thủy, nên dễ tìm những niềm vui bên ngoài để khỏa lấp khoảng trống trong lòng. Hết rượu của sự cảm thông, nên ai cũng muốn người khác hiểu mình mà không chịu hiểu người khác. Trong những lúc ấy, hãy mời Mẹ vào nhà. Hãy để Mẹ chỉ cho ta biết những chum đá nào đang trống rỗng, những bổn phận nào ta cần làm, những lời nào của Chúa ta cần vâng nghe. Phép lạ Cana không xảy ra khi mọi người ngồi chờ một cách thụ động. Các gia nhân phải đổ nước đầy chum. Con người phải làm phần của mình. Chúa biến nước thành rượu, nhưng con người phải có lòng vâng phục. Trong gia đình cũng vậy, muốn Chúa làm mới niềm vui, mỗi người phải bắt đầu từ phần việc nhỏ của mình: một lời xin lỗi, một bữa cơm chung, một giờ tắt điện thoại để lắng nghe nhau, một lần chủ động tha thứ, một quyết định dừng lại một mối quan hệ sai trái, một thói quen cùng nhau cầu nguyện.

Mẹ đưa Chúa đến, và niềm vui bắt đầu, nhưng Mẹ không chỉ đưa Chúa đến trong những ngày vui. Mẹ còn đưa Chúa đến tận chân thập giá. Trên đồi Golgotha, mọi niềm vui bên ngoài dường như đã tắt. Người Con Mẹ yêu thương bị treo trên thập giá. Các môn đệ bỏ trốn. Đám đông chế nhạo. Bóng tối bao phủ mặt đất. Nhưng Mẹ vẫn đứng đó. Sự hiện diện của Mẹ bên chân thập giá nói rằng niềm vui Kitô giáo không phải là lẩn tránh đau khổ, nhưng là tin rằng tình yêu mạnh hơn đau khổ, sự sống mạnh hơn cái chết, và Thiên Chúa vẫn đang hành động ngay cả khi ta không hiểu. Mẹ không thể tháo đinh khỏi tay Con, nhưng Mẹ có thể ở lại. Mẹ không ngăn được lưỡi đòng đâm vào cạnh sườn Người, nhưng Mẹ không bỏ đi. Có những lúc ta không thể giải quyết nỗi đau của người khác, nhưng ta vẫn có thể ở bên họ. Có những lúc không còn lời nào đủ sức an ủi, nhưng một sự hiện diện trung thành đã là một món quà lớn lao. Người mang Chúa đến không phải lúc nào cũng làm cho người đau khổ hết đau ngay, nhưng giúp họ không phải đau một mình.

Từ chân thập giá, Mẹ được trao cho người môn đệ: “Đây là Mẹ của anh.” Từ giây phút ấy, Mẹ trở thành Mẹ của mọi người tin. Chúa Giêsu trao Mẹ cho chúng ta ngay trong giờ đau khổ nhất, như muốn nói rằng trên đường đời, chúng ta không mồ côi. Mẹ sẽ tiếp tục làm điều Mẹ đã làm từ Nadarét đến Bêlem, từ Cana đến Golgotha: Mẹ đưa Chúa đến và đưa chúng ta đến với Chúa. Khi ta lạc đường, Mẹ nhắc ta trở về. Khi ta nản lòng, Mẹ dạy ta tin tưởng. Khi ta khô khan trong cầu nguyện, Mẹ dạy ta giữ mọi sự và suy đi nghĩ lại trong lòng. Khi ta sợ hãi trước tương lai, Mẹ dạy ta thưa xin vâng từng ngày. Khi ta muốn bỏ cuộc vì thập giá quá nặng, Mẹ đứng bên và nhắc ta rằng sau thứ Sáu Tuần Thánh sẽ có buổi sáng Phục Sinh.

Niềm vui mà Mẹ mang đến không ồn ào nhưng rất sâu. Thế gian thường đo niềm vui bằng tiếng cười, bằng những cuộc vui, bằng sự thành công, bằng việc được nhiều người biết đến. Nhưng niềm vui của Mẹ là bài ca Magnificat cất lên từ một người nữ bé nhỏ hoàn toàn tin vào Thiên Chúa. Mẹ vui vì Thiên Chúa đã đoái nhìn phận hèn; vui vì Đấng Toàn Năng đã làm cho Mẹ biết bao điều cao cả; vui vì lòng thương xót của Người trải qua từ đời nọ đến đời kia; vui vì Thiên Chúa nâng cao người khiêm nhường, cho kẻ đói nghèo được no đầy. Niềm vui của Mẹ không tập trung vào chính mình. Mẹ không ca ngợi bản thân, nhưng ca ngợi Thiên Chúa. Đây là bí quyết giữ niềm vui lâu bền. Khi ta đặt mình ở trung tâm, ta rất dễ bất mãn, vì luôn thấy người khác được nhiều hơn, được yêu hơn, được thành công hơn. Nhưng khi Thiên Chúa ở trung tâm, ta biết đón nhận cuộc đời như một ân ban. Ta có thể vui với điều nhỏ bé, biết ơn một ngày bình thường, một bữa cơm giản dị, một người vẫn còn ở bên, một cơ hội để làm lại, một lời cầu nguyện âm thầm. Người biết tạ ơn là người giữ được niềm vui ngay cả khi không có tất cả.

Có lẽ điều thế giới hôm nay thiếu không phải là những người nói về Chúa, nhưng là những người thật sự mang Chúa trong lòng. Người ta đã nghe nhiều lời đạo đức, nhưng vẫn chờ thấy một đời sống hiền lành. Người ta đã nghe nhiều lời giảng về tình yêu, nhưng vẫn chờ được đối xử bằng lòng nhân hậu. Người ta đã nghe nói nhiều về tha thứ, nhưng vẫn thấy những người có đạo giữ mãi hận thù. Người ta đã thấy nhiều biểu tượng tôn giáo, nhưng vẫn mong gặp những con người biết sống như Đức Kitô. Chỉ khi nào Chúa thật sự ở trong ta, bước chân ta mới có thể đem bình an, lời nói ta mới có thể đem hy vọng, ánh mắt ta mới có thể đem sự nâng đỡ. Một người có thể đeo nhiều ảnh tượng Đức Mẹ, đọc nhiều kinh kính Mẹ, tham dự nhiều cuộc hành hương, nhưng điều làm Mẹ vui nhất vẫn là người ấy biết sống lời Mẹ dặn: “Người bảo gì, các con hãy làm theo.”

Mẹ không giữ chúng ta trong một thứ tình cảm đạo đức ủy mị. Mẹ luôn hướng về Chúa Giêsu. Tất cả những gì Mẹ có đều đến từ Người. Vẻ đẹp của Mẹ là vẻ đẹp của một tâm hồn đầy ân sủng; sự cao cả của Mẹ là sự cao cả của người nữ tỳ; niềm vui của Mẹ là niềm vui được thuộc trọn về Thiên Chúa. Vì thế, yêu mến Mẹ không thể tách rời khỏi việc yêu mến Đức Kitô. Đến với Mẹ không phải để dừng lại ở Mẹ, nhưng để được Mẹ cầm tay dẫn đến với Chúa. Mẹ giống như ánh bình minh báo trước mặt trời. Ánh bình minh đẹp, nhưng không giữ ánh mắt ta lại cho mình; ánh bình minh báo rằng mặt trời sắp mọc. Mẹ cũng vậy, tất cả nơi Mẹ đều chỉ về Đức Giêsu. Mẹ nói với từng người chúng ta: Hãy mở cửa cho Con của Mẹ. Hãy để Người bước vào những góc tối nhất của lòng con. Hãy trao cho Người nỗi sợ, vết thương, tội lỗi, những mối quan hệ đổ vỡ và những ước mơ chưa thành. Khi Người đến, có thể mọi sự không thay đổi ngay theo cách con mong muốn, nhưng lòng con sẽ bắt đầu được biến đổi.

Mỗi buổi sáng thức dậy, ta có thể xin Mẹ giúp mình trở thành một người mang Chúa đến. Mang Chúa đến nơi công sở bằng sự trung thực và trách nhiệm. Mang Chúa đến trường học bằng sự chăm chỉ, tử tế và không gian lận. Mang Chúa đến khu xóm bằng cách biết chào hỏi, quan tâm và giúp đỡ. Mang Chúa đến mạng xã hội bằng lời nói xây dựng thay vì xúc phạm, bằng sự thật thay vì tin giả, bằng lòng nhân hậu thay vì phán xét. Mang Chúa đến trong gia đình bằng sự kiên nhẫn, chăm sóc và tha thứ. Mang Chúa đến với người nghèo không chỉ bằng lời cầu nguyện, nhưng bằng sự chia sẻ cụ thể. Mang Chúa đến với người bệnh bằng một cuộc thăm viếng, với người cô đơn bằng một cuộc gọi, với người thất bại bằng một lời động viên, với người lầm lỗi bằng cơ hội làm lại. Những việc ấy có thể rất nhỏ, nhưng nếu được làm với tình yêu, chúng có thể trở thành một cuộc Thăm Viếng mới, nơi Mẹ và Chúa lại bước vào một căn nhà, và niềm vui lại bắt đầu.

Có khi ta tự hỏi mình quá yếu đuối, làm sao có thể mang Chúa đến cho ai. Đức Maria cũng chỉ là một thiếu nữ vô danh tại một làng nhỏ. Mẹ không có quyền lực, không có địa vị xã hội, không có những phương tiện lớn lao. Điều Mẹ có là một tâm hồn rộng mở và một lời xin vâng. Thiên Chúa không cần ta phải phi thường mới có thể sử dụng ta. Người chỉ cần ta để cho Người hiện diện. Một ngọn đèn nhỏ vẫn có thể phá tan bóng tối trong một căn phòng. Một lời dịu dàng vẫn có thể cứu một người khỏi tuyệt vọng. Một hành động tử tế vẫn có thể khiến ai đó tin rằng cuộc đời này còn đáng sống. Một lời cầu nguyện âm thầm vẫn có thể nâng đỡ một linh hồn mà ta không biết. Đừng coi thường điều nhỏ bé khi điều nhỏ bé ấy mang Chúa.

Hãy thử nhìn lại cuộc đời mình và tự hỏi: Khi tôi bước vào một nơi, tôi mang theo điều gì? Tôi mang theo sự bình an hay căng thẳng? Tôi mang theo niềm hy vọng hay những lời bi quan? Tôi làm cho người khác thấy nhẹ lòng hay nặng nề hơn? Sau khi nói chuyện với tôi, người ta được nâng đỡ hay bị tổn thương? Sau khi sống chung với tôi, người thân cảm thấy được yêu thương hay luôn phải dè chừng? Sau khi nhìn vào đời sống tôi, người khác có muốn đến gần Chúa hơn hay lại cảm thấy đạo chỉ là những lời nói đẹp? Đây là những câu hỏi không dễ trả lời, nhưng rất cần thiết. Bởi mỗi người trong chúng ta đều đang mang một điều gì đó đến cho thế giới. Hoặc ta mang ánh sáng, hoặc ta làm bóng tối dày thêm. Hoặc ta gieo niềm vui, hoặc ta làm người khác mất đi niềm vui. Hoặc ta trở thành con đường cho Chúa đi vào cuộc đời người khác, hoặc chính lối sống của ta lại trở thành một chướng ngại.

Xin Mẹ Maria dạy chúng ta biết cưu mang Chúa trong tâm hồn như Mẹ, bằng đời sống cầu nguyện, bằng việc lắng nghe Lời Chúa, bằng sự khiêm nhường và vâng phục. Xin Mẹ dạy chúng ta biết lên đường như Mẹ, không trì hoãn việc yêu thương, không chờ khi rảnh rỗi mới phục vụ, không đợi người khác lên tiếng mới quan tâm. Xin Mẹ dạy chúng ta biết nhìn thấy những điều người khác đang thiếu, như Mẹ đã nhận ra tiệc cưới hết rượu; biết đứng lại bên người đau khổ, như Mẹ đã đứng dưới chân thập giá; biết kiên trì cầu nguyện, như Mẹ đã ở giữa các Tông đồ trong nhà Tiệc Ly; biết ca ngợi Thiên Chúa ngay cả giữa những điều chưa hiểu, như Mẹ đã cất bài Magnificat.

Lạy Mẹ Maria, có biết bao mái nhà đang hết niềm vui, xin Mẹ hãy đến và mang Chúa vào. Có biết bao đôi vợ chồng đang sống bên nhau mà lòng đã xa nhau, xin Mẹ hãy đến và nhắc họ rằng tình yêu vẫn có thể bắt đầu lại. Có biết bao người trẻ đang lạc hướng, tìm niềm vui trong những điều chóng qua, xin Mẹ hãy đưa họ đến với Đức Kitô là nguồn sống thật. Có biết bao người già đang cô đơn, người bệnh đang đau đớn, người nghèo đang tuyệt vọng, người tội lỗi đang sợ hãi không dám trở về, xin Mẹ hãy đến với từng người. Xin Mẹ mang Chúa vào những nơi lạnh lẽo nhất của thế giới và những góc tối nhất trong lòng chúng con.

Lạy Mẹ, xin đừng chỉ đến thăm chúng con trong những ngày chúng con sốt sắng, nhưng cả trong những ngày tâm hồn chúng con khô khan. Xin đừng chỉ ở bên chúng con trong những lúc thành công, nhưng nhất là khi chúng con thất bại. Xin đừng chỉ đồng hành khi đường đời bằng phẳng, nhưng hãy nắm tay chúng con khi phải bước qua thung lũng tối tăm. Xin Mẹ giúp chúng con hiểu rằng niềm vui không bắt đầu khi chúng con có tất cả, nhưng bắt đầu khi chúng con có Chúa. Niềm vui không bắt đầu khi cuộc đời không còn thập giá, nhưng khi giữa thập giá, chúng con nhận ra Chúa đang ở cùng. Niềm vui không bắt đầu khi mọi người đều hiểu và yêu thương chúng con, nhưng khi chúng con biết mình được Thiên Chúa yêu bằng một tình yêu không đổi thay.

Và rồi, sau khi được Mẹ đưa đến với Chúa, xin Mẹ cũng sai chúng con lên đường. Xin đừng để chúng con giữ Chúa cho riêng mình. Xin biến chúng con thành những bước chân vội vã của Mẹ giữa cuộc đời hôm nay. Để nơi nào có hận thù, chúng con mang đến sự hòa giải; nơi nào có thất vọng, chúng con gieo niềm hy vọng; nơi nào có cô đơn, chúng con đem sự hiện diện; nơi nào có nước mắt, chúng con biết ngồi lại và sẻ chia; nơi nào có người bị bỏ quên, chúng con biết gọi tên họ bằng tình yêu. Xin cho mỗi lời nói của chúng con có thể trở thành một lời chào làm người khác được nâng dậy; mỗi việc làm của chúng con trở thành một dấu chỉ rằng Thiên Chúa vẫn đang chăm sóc thế giới này.

Mẹ đưa Chúa đến, và niềm vui bắt đầu. Ngày xưa, niềm vui đã bắt đầu trong căn nhà của bà Êlisabét khi lời chào của Mẹ vang lên. Niềm vui đã bắt đầu trong đêm Bêlem khi Mẹ đặt Hài Nhi vào máng cỏ. Niềm vui đã bắt đầu tại Cana khi Mẹ đưa sự thiếu thốn của con người đến với Chúa. Niềm hy vọng đã không tắt trên đồi Canvê vì Mẹ vẫn đứng vững dưới chân thập giá. Niềm vui của Hội Thánh đã bừng lên trong ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống khi Mẹ hiện diện giữa các Tông đồ. Và hôm nay, niềm vui ấy vẫn có thể bắt đầu lại trong cuộc đời chúng ta, miễn là chúng ta mở cửa cho Mẹ, để Mẹ mang Chúa vào.

Xin Mẹ đến với chúng con. Xin Mẹ bước vào gia đình chúng con, bước vào những mối quan hệ đang rạn nứt, bước vào những ký ức đang làm chúng con đau đớn, bước vào những dự định khiến chúng con lo âu, bước vào cả những phần con người mà chúng con vẫn cố che giấu. Nhưng xin Mẹ đừng đến một mình. Xin Mẹ hãy mang Chúa Giêsu đến, bởi chỉ có Người mới là niềm vui không ai lấy mất, là ánh sáng không bóng tối nào dập tắt, là bình an mà thế gian không thể ban tặng, là sự sống mạnh hơn mọi cái chết. Và khi Chúa được đón nhận, dù chỉ trong một tâm hồn bé nhỏ, một căn nhà nghèo hèn hay một cuộc đời đầy vết thương, thì ở đó, niềm vui đã bắt đầu.

ĐỨC MARIA LÀ MẸ THIÊN CHÚA – TƯỚC HIỆU NÓI VỀ MẸ, NHƯNG TRƯỚC HẾT TUYÊN XƯNG ĐỨC GIÊSU KITÔ

Kính thưa cộng đoàn,

Khi Hội Thánh long trọng tuyên xưng Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, có lẽ nhiều người trong chúng ta cảm thấy đây là một tước hiệu thật cao cả, thật huy hoàng và dường như chỉ nhằm tôn vinh Đức Mẹ. Quả thật, không có thụ tạo nào được Thiên Chúa ban cho một phẩm giá cao trọng như Đức Maria. Không có người phụ nữ nào trong lịch sử nhân loại được gọi bằng một danh xưng vừa dịu dàng, vừa nhiệm mầu, vừa vượt quá mọi trí hiểu của con người như danh xưng Mẹ Thiên Chúa. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc ca ngợi Đức Maria, chúng ta vẫn chưa hiểu hết chiều sâu của tước hiệu này. Bởi vì tước hiệu Mẹ Thiên Chúa, trước khi nói về vinh dự của Đức Maria, lại là một lời tuyên xưng đức tin vô cùng mạnh mẽ về căn tính của Đức Giêsu Kitô. Hội Thánh gọi Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa không phải để đặt Mẹ ngang hàng với Thiên Chúa, càng không phải để nói rằng Mẹ có trước Thiên Chúa hay sinh ra bản tính Thiên Chúa. Hội Thánh gọi Mẹ là Mẹ Thiên Chúa bởi vì Người Con mà Mẹ đã cưu mang, sinh hạ, bồng ẵm, nuôi dưỡng và trao ban cho nhân loại chính là Đức Giêsu Kitô, Ngôi Hai Thiên Chúa làm người. Người là Thiên Chúa thật và cũng là người thật. Người không phải là một con người bình thường được Thiên Chúa nhận làm con sau này; cũng không phải là một con người được Thiên Chúa ngự vào như ngự trong một ngôi đền; càng không phải là hai nhân vật đứng cạnh nhau, một bên là Thiên Chúa và một bên là con người. Đức Giêsu chỉ là một Ngôi vị duy nhất, Ngôi vị của Con Thiên Chúa, nhưng Người có hai bản tính trọn vẹn: bản tính Thiên Chúa và bản tính nhân loại. Chính Ngôi Lời vĩnh cửu ấy đã thật sự mang lấy xác phàm trong lòng Đức Trinh Nữ Maria. Vì thế, người con được sinh ra bởi Đức Maria không phải chỉ là “một phần con người” của Đức Giêsu, nhưng là chính Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống. Bởi vậy, gọi Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa chính là bảo vệ chân lý rằng Đức Giêsu Kitô thật sự là Thiên Chúa đã làm người.

Tin Mừng thánh Gioan mở đầu bằng lời tuyên xưng hết sức long trọng: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa.” Rồi thánh sử nói tiếp: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta.” Ngôi Lời không phải mới bắt đầu hiện hữu khi được thụ thai trong lòng Đức Maria. Người đã có từ đời đời. Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh Sáng bởi Ánh Sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật. Thế nhưng, trong một thời điểm của lịch sử, Ngôi Lời vĩnh cửu ấy đã chọn bước vào thế giới của con người, không phải bằng tiếng sấm chớp vang trời, không phải bằng sức mạnh khiến muôn dân run sợ, nhưng bằng con đường nhỏ bé và âm thầm nhất: trở thành một thai nhi trong lòng một người mẹ. Đấng mà trời cao không thể chứa nổi lại tự nguyện ở trong cung lòng Đức Maria. Đấng dựng nên muôn tinh tú lại để cho một người phụ nữ cưu mang. Đấng nuôi sống muôn loài lại nhận dòng sữa của một người mẹ. Đấng là Lời quyền năng đã phán một lời thì vũ trụ được tạo thành, lại học nói những tiếng đầu đời trong mái nhà Nadarét. Đấng cầm giữ vận mạng lịch sử lại để cho bàn tay của Đức Maria bồng ẵm, chăm sóc và dẫn dắt những bước chân bé nhỏ. Đó là mầu nhiệm Nhập Thể. Và chính trong mầu nhiệm Nhập Thể ấy, chúng ta hiểu vì sao Đức Maria được gọi là Mẹ Thiên Chúa.

Khi nói Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, Hội Thánh không có ý nói Mẹ là nguồn gốc của thần tính nơi Đức Giêsu. Đức Maria không sinh ra Thiên Chúa xét theo bản tính Thiên Chúa, bởi Con Thiên Chúa được Chúa Cha sinh ra từ trước muôn đời. Nhưng trong thời gian, Đức Maria đã thật sự sinh hạ chính Ngôi Con Thiên Chúa trong bản tính nhân loại mà Người đã đón nhận từ Mẹ. Một người mẹ không chỉ là mẹ của thân xác con mình, nhưng là mẹ của chính người con ấy. Khi một người phụ nữ sinh một đứa trẻ, chúng ta không nói bà chỉ là mẹ của thân xác đứa trẻ, còn linh hồn đứa trẻ thì không liên quan đến bà. Chúng ta gọi bà là mẹ của toàn thể con người ấy. Cũng vậy, Đức Maria không phải là mẹ của thần tính nơi Đức Giêsu, nhưng Mẹ là Mẹ của chính Ngôi vị Đức Giêsu Kitô; mà Ngôi vị ấy là Ngôi Con Thiên Chúa. Vì thế, Mẹ thật sự là Mẹ Thiên Chúa. Tước hiệu ấy không làm cho Mẹ trở thành nữ thần, không đặt Mẹ vào trong Ba Ngôi Thiên Chúa, nhưng tuyên xưng rằng Người Con Mẹ sinh ra là Thiên Chúa thật. Nếu Đức Maria chỉ là mẹ của một con người mang tên Giêsu, còn Con Thiên Chúa là một nhân vật khác, thì mầu nhiệm Nhập Thể đã bị phá vỡ, ơn cứu độ của chúng ta cũng không còn nền tảng. Nhưng nếu Người nằm trong máng cỏ Bêlem thật sự là Thiên Chúa làm người, thì người phụ nữ đã sinh hạ Người phải được gọi là Mẹ Thiên Chúa.

Trong biến cố Truyền Tin, sứ thần Gabriel đã nói với Đức Maria: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà; vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.” Sứ thần không nói rằng Mẹ sẽ sinh ra một con người bình thường, rồi sau đó người ấy mới trở thành Con Thiên Chúa. Ngay từ giây phút được thụ thai trong lòng Mẹ, Đấng ấy đã là Con Thiên Chúa. Chính Ngôi Con đời đời của Chúa Cha đã nhận lấy nhân tính trong cung lòng Đức Maria. Mầu nhiệm không nằm ở chỗ một con người vươn lên để trở thành Thiên Chúa, nhưng ở chỗ Thiên Chúa hạ mình để trở thành con người. Không phải một phàm nhân tự mặc lấy vinh quang Thiên Chúa, nhưng là Con Thiên Chúa tự khoác lấy sự yếu đuối của kiếp người. Người không chỉ mang dáng vẻ bề ngoài của con người, nhưng thật sự có một thân xác, một linh hồn, một trái tim, một ý chí và những cảm xúc của con người. Người thật sự sinh ra, thật sự lớn lên, thật sự đói khát, mệt mỏi, vui buồn, đau đớn và chết. Nhưng trong tất cả những điều ấy, Người vẫn là Con Thiên Chúa hằng sống. Vì thế, khi Đức Maria sinh Đức Giêsu tại Bêlem, Mẹ đã sinh một con người thật; nhưng con người ấy chính là Thiên Chúa thật. Đây là điểm trung tâm của đức tin Kitô giáo.

Chúng ta cần nhấn mạnh điều này, bởi vì đôi khi lòng đạo đức bình dân có thể khiến người ta nói rất nhiều về Đức Maria nhưng lại quên mất Đức Kitô. Người ta có thể tổ chức những cuộc rước long trọng, dâng nhiều hoa đẹp, đọc nhiều kinh, hát nhiều bài ca về Mẹ, nhưng đời sống lại không có chỗ cho Lời Chúa, không có lòng yêu mến Thánh Thể, không có sự hoán cải và không có tinh thần sống theo Tin Mừng. Một lòng sùng kính Đức Maria mà không dẫn đến Đức Kitô sẽ không còn là lòng sùng kính đích thực. Chính Đức Maria không bao giờ giữ chúng ta lại cho riêng Mẹ. Mẹ luôn đưa chúng ta đến với Con của Mẹ. Ở tiệc cưới Cana, lời quan trọng nhất Mẹ nói không phải là lời ca tụng chính mình, nhưng là lời căn dặn các gia nhân: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Cả cuộc đời Đức Maria dường như chỉ là một cử chỉ chỉ về Đức Giêsu và nói với nhân loại rằng: Đây là Con của tôi, nhưng cũng là Chúa của tôi; đây là con trẻ tôi đã sinh ra, nhưng cũng là Đấng đã dựng nên tôi; đây là người tôi đã bồng ẵm trong đôi tay, nhưng cũng là Đấng đang nâng đỡ toàn thể vũ trụ; đây là Đấng đã sống dưới mái nhà của tôi, nhưng cũng là Chúa Tể của trời đất; hãy lắng nghe Người, hãy tin vào Người, hãy bước theo Người và hãy làm tất cả những gì Người truyền dạy.

Bởi đó, càng yêu mến Đức Maria, chúng ta càng phải yêu mến Đức Giêsu. Càng tôn kính Mẹ, chúng ta càng phải gắn bó với Con của Mẹ. Mỗi kinh Kính Mừng được đọc lên phải giúp chúng ta nhận ra rõ hơn rằng “Giêsu, Con lòng Bà gồm phúc lạ” chính là trung tâm của lời kinh. Danh thánh Giêsu nằm ở giữa kinh Kính Mừng như viên ngọc nằm ở trung tâm triều thiên của Mẹ. Những lời ca tụng Đức Maria không khép lại nơi Mẹ, nhưng mở ra về phía Đức Kitô. Mẹ được chúc phúc vì hoa trái lòng Mẹ là Đấng Cứu Thế. Mẹ đầy ân sủng vì Thiên Chúa đã chọn Mẹ để Ngôi Lời mang lấy xác phàm. Mẹ cao trọng không phải vì Mẹ tự làm nên vinh quang cho mình, nhưng vì Mẹ hoàn toàn thuộc về Đức Kitô và để Đức Kitô được hình thành trong Mẹ. Mọi vẻ đẹp của Đức Maria đều phản chiếu vẻ đẹp của Con Mẹ; mọi ân sủng nơi Mẹ đều phát xuất từ công nghiệp cứu chuộc của Đức Kitô; mọi tước hiệu của Mẹ đều có ý nghĩa trong tương quan với mầu nhiệm của Con Thiên Chúa.

Trong lịch sử Hội Thánh, tước hiệu Mẹ Thiên Chúa trở thành một điểm phân định quan trọng về đức tin. Đã có thời người ta muốn tách Đức Giêsu thành hai chủ thể: một người là con của Đức Maria và một Đấng khác là Con Thiên Chúa. Theo lối suy nghĩ ấy, Đức Maria chỉ nên được gọi là “Mẹ của Đức Kitô” theo nghĩa Mẹ của con người Giêsu, chứ không được gọi là Mẹ Thiên Chúa. Nhưng Hội Thánh nhận ra rằng cách nói đó làm tổn thương chính mầu nhiệm của Đức Kitô. Nếu trong Đức Giêsu có hai ngôi vị tách biệt, thì ai đã chịu chết trên thập giá? Chỉ là một con người hay chính Con Thiên Chúa làm người? Ai đã đổ máu để cứu chuộc chúng ta? Chỉ là một phàm nhân hay Đấng là Chúa của sự sống? Ai đã nằm trong máng cỏ? Ai đã đi trên mặt biển? Ai đã tha tội? Ai đã khóc trước mồ Ladarô? Ai đã chịu đóng đinh? Ai đã sống lại? Câu trả lời của đức tin là: chỉ có một Đức Giêsu Kitô duy nhất, Con Thiên Chúa làm người. Chính Đấng là Thiên Chúa đã sinh ra trong thân phận con người; chính Đấng là Thiên Chúa đã đói, đã khát, đã mệt mỏi trong nhân tính; chính Đấng là Thiên Chúa đã chịu đau khổ và chịu chết trong thân xác nhân loại; và cũng chính Đấng ấy đã sống lại vinh quang. Thần tính của Người không đau khổ và không chết, nhưng Ngôi vị chịu đau khổ và chịu chết trong bản tính nhân loại chính là Ngôi Con Thiên Chúa. Do đó, máu đổ ra trên thập giá thật sự là máu của Con Thiên Chúa làm người, và cái chết của Người có giá trị cứu độ cho toàn thể nhân loại.

Đây chính là lý do tước hiệu Mẹ Thiên Chúa không phải là một chuyện phụ thuộc hay một cuộc tranh luận chỉ dành cho các nhà thần học. Tước hiệu ấy liên quan trực tiếp đến ơn cứu độ của mỗi người chúng ta. Nếu Đức Giêsu chỉ là một con người tốt lành, một ngôn sứ vĩ đại, một bậc thầy đạo đức hay một vị tử đạo anh hùng, thì Người không thể cứu chúng ta khỏi quyền lực của tội lỗi và sự chết. Một con người dù thánh thiện đến đâu cũng không thể tự mình nối lại khoảng cách vô tận giữa nhân loại tội lỗi và Thiên Chúa chí thánh. Nhưng Đức Giêsu vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật. Là người thật, Người có thể đại diện cho nhân loại, mang lấy đau khổ của chúng ta, vâng phục thay cho sự bất tuân của chúng ta và chịu chết trong thân xác của chúng ta. Là Thiên Chúa thật, tình yêu, sự vâng phục và hy lễ của Người mang một giá trị vô hạn, đủ sức cứu chuộc muôn người thuộc mọi thời đại. Nơi Đức Kitô, Thiên Chúa thật sự đến với con người, và con người thật sự được đưa về với Thiên Chúa. Chính vì thế, chỉ có Người là Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người. Tước hiệu Mẹ Thiên Chúa bảo đảm rằng Đấng sinh bởi Đức Maria và hiến mình trên thập giá chính là Đấng có thể cứu độ chúng ta.

Có thể nói, nơi cung lòng Đức Maria đã diễn ra cuộc gặp gỡ kỳ diệu giữa trời và đất. Không phải một cuộc gặp gỡ chóng qua, nhưng là một sự kết hợp không bao giờ phân lìa. Ngôi Con Thiên Chúa đã mang lấy nhân tính và sẽ không bao giờ cởi bỏ nhân tính ấy. Sau khi sống lại và lên trời, Đức Giêsu không thôi làm người. Trên ngai vinh quang, Người vẫn là Thiên Chúa làm người, vẫn mang những dấu đinh cứu độ trong thân thể phục sinh. Điều đó có nghĩa là nhân tính của chúng ta đã được đưa vào trong chính sự sống của Thiên Chúa. Thân phận con người không còn là một thực tại xa lạ đối với Thiên Chúa. Thiên Chúa biết thế nào là khóc bằng đôi mắt con người, biết thế nào là đau bằng một thân xác con người, biết thế nào là bị phản bội, bị hiểu lầm, bị bỏ rơi và bị giết chết. Người biết không phải chỉ bằng sự hiểu biết của Đấng toàn tri, nhưng bằng kinh nghiệm thật sự trong nhân tính mà Người nhận từ Đức Maria. Vì vậy, khi chúng ta đau khổ, chúng ta không cầu nguyện với một Thiên Chúa lạnh lùng và xa cách. Chúng ta cầu nguyện với Đức Giêsu, Đấng đã mang lấy thân phận của chúng ta, đã đi qua bóng tối của chúng ta và đã biến chính đau khổ cùng sự chết thành con đường dẫn đến sự sống.

Đức Maria đã trao cho Con Thiên Chúa tất cả những gì một người mẹ trao cho con mình. Từ Mẹ, Đức Giêsu nhận một thân xác thật sự thuộc về dòng giống nhân loại. Dòng máu chảy trong thân thể Đức Giêsu là dòng máu Người nhận từ Đức Maria. Gương mặt nhân loại của Đức Giêsu mang những nét mà hẳn người ta có thể nhận ra sự giống Mẹ. Đôi tay đã chạm đến người phong cùi, đôi mắt đã nhìn người tội lỗi bằng lòng thương xót, trái tim đã rung động trước đám đông bơ vơ, thân xác đã bị đóng đinh trên thập giá, tất cả đều thuộc về nhân tính mà Ngôi Lời nhận lấy trong lòng Đức Maria. Chúng ta không thể nghĩ đến Đức Giêsu làm người mà hoàn toàn tách Người khỏi Đức Maria, bởi chính qua lời “xin vâng” của Mẹ, Người đã bước vào lịch sử nhân loại. Thế nhưng, càng chiêm ngắm sự gần gũi giữa Đức Maria và Đức Giêsu, chúng ta càng phải nhận ra Mẹ không bao giờ che khuất Người. Mẹ giống như ô cửa sổ trong suốt để ánh sáng Đức Kitô đi qua; giống như bình minh báo hiệu Mặt Trời công chính đang đến; giống như chiếc đèn đặt bên Đấng là Ánh Sáng thật. Người Kitô hữu không dừng lại ở bình minh mà quên Mặt Trời, không ôm lấy chiếc đèn mà bỏ quên Ánh Sáng, không ca tụng người mẹ mà quên Người Con là trung tâm của lịch sử cứu độ.

Tước hiệu Mẹ Thiên Chúa cũng giúp chúng ta hiểu đúng về đức khiêm nhường của Đức Maria. Có người nghĩ rằng càng gọi Mẹ bằng những tước hiệu cao trọng thì càng làm Mẹ xa cách con người. Nhưng điều kỳ diệu là người được gọi là Mẹ Thiên Chúa lại chính là người nữ tỳ khiêm hạ của làng Nadarét. Khi sứ thần báo tin Mẹ sẽ cưu mang Con Đấng Tối Cao, Đức Maria không tự phụ, không xem mình là người đặc biệt để được người khác tôn kính. Mẹ chỉ thưa: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Vinh quang của Mẹ nằm trong sự vâng phục. Sự cao cả của Mẹ nằm trong việc để Thiên Chúa hoàn toàn thực hiện ý định của Người. Mẹ không tìm cách trở thành trung tâm; Mẹ để Đức Kitô trở thành trung tâm. Mẹ không tìm cách làm cho tên mình được lưu danh; Mẹ để danh Thiên Chúa được cả sáng. Khi bà Êlisabét gọi Mẹ là “Mẹ của Chúa tôi”, Đức Maria không giữ lời chúc tụng ấy cho mình, nhưng lập tức cất lên bài Magnificat: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa.” Mẹ biết mọi thế hệ sẽ khen Mẹ diễm phúc, nhưng Mẹ cũng biết lý do duy nhất là vì “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả.” Mẹ không chiếm hữu ân sủng nhưng quy tất cả về Thiên Chúa.

Bài học ấy đặc biệt cần thiết cho đời sống đức tin của chúng ta. Có khi chúng ta phục vụ trong giáo xứ, trong hội đoàn, trong cộng đoàn hay trong gia đình, nhưng âm thầm mong người khác nhìn thấy mình, ca ngợi mình và ghi nhận công lao của mình. Có khi chúng ta nói rằng mình làm vì Chúa, nhưng lại buồn bực khi không được nhắc tên, không được ngồi chỗ danh dự hoặc không được người khác biết ơn. Đức Maria dạy chúng ta rằng người thật sự thuộc về Thiên Chúa sẽ không tìm cách đặt mình vào trung tâm. Mẹ đã mang chính Thiên Chúa trong lòng mà vẫn sống âm thầm. Mẹ biết Người Con mình đang cưu mang là Vua vũ trụ, nhưng Mẹ không đòi hỏi một cung điện. Mẹ sinh Đấng Cứu Thế trong hang đá nghèo hèn mà không một lời trách móc. Mẹ nghe lời tiên báo một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn mà vẫn tiếp tục tin tưởng. Mẹ theo Con trên con đường rao giảng mà không tranh giành một vị trí bên cạnh Người. Mẹ đứng dưới chân thập giá, khi mọi vinh quang trần thế dường như đã sụp đổ, mà không rút lại tiếng xin vâng. Mẹ là Mẹ Thiên Chúa không phải vì Mẹ tự nâng mình lên, nhưng vì Mẹ để Thiên Chúa hạ mình xuống trong lòng Mẹ và để chương trình cứu độ được hoàn thành qua cuộc đời Mẹ.

Tuyên xưng Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa cũng giúp chúng ta nhìn lại cách mình đón nhận Đức Giêsu. Nhiều người sẵn sàng chấp nhận Đức Giêsu như một người thầy dạy khôn ngoan, một nhà cải cách xã hội, một mẫu gương yêu thương, nhưng lại ngần ngại tuyên xưng Người là Chúa và là Thiên Chúa. Người ta thích một Đức Giêsu chỉ nói những lời an ủi, nhưng không muốn một Đức Giêsu có quyền đòi hỏi mình hoán cải. Người ta muốn nghe Người nói về tình yêu, nhưng không muốn nghe Người nói: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.” Người ta muốn nhận phúc lành từ Người, nhưng không muốn trao quyền làm chủ cuộc đời cho Người. Thế nhưng, đức tin Kitô giáo không cho phép chúng ta giản lược Đức Giêsu thành một nhân vật đạo đức trong lịch sử. Người là Chúa. Người là Thiên Chúa thật. Người có quyền trên lương tâm, trên chọn lựa, trên thời gian, trên tài năng, trên của cải và trên toàn bộ cuộc đời chúng ta. Gọi Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa đồng nghĩa với việc chúng ta phải quỳ xuống trước Đức Giêsu và thưa như thánh Tôma: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con.”

Nếu Đức Giêsu là Thiên Chúa thật, thì lời Người nói không chỉ là một trong nhiều ý kiến để chúng ta cân nhắc. Lời Người là chân lý và là sự sống. Nếu Đức Giêsu là Thiên Chúa thật, thì Thánh Thể không phải chỉ là một biểu tượng nhắc nhớ một người đã chết trong quá khứ, nhưng là sự hiện diện thật của Đấng Phục Sinh. Nếu Đức Giêsu là Thiên Chúa thật, thì việc tham dự thánh lễ không thể chỉ là một thói quen xã hội hay một sinh hoạt đạo đức tùy thích, nhưng là cuộc gặp gỡ với chính Chúa Tể của đời mình. Nếu Đức Giêsu là Thiên Chúa thật, thì mỗi lần chúng ta cố tình phạm tội, chúng ta không chỉ vi phạm một quy tắc đạo đức, nhưng đang từ chối tình yêu của Đấng đã tạo dựng và cứu chuộc chúng ta. Nếu Đức Giêsu là Thiên Chúa thật, thì mỗi người nghèo, người bệnh, người bị bỏ rơi mà Người tự đồng hóa với họ không thể bị chúng ta xem thường. Nếu Đức Giêsu là Thiên Chúa thật, thì lời mời gọi tha thứ, yêu thương kẻ thù, sống khiêm nhường, trung tín trong hôn nhân, công bằng trong công việc và trong sạch trong tâm hồn không phải là những đề nghị đẹp nhưng không bắt buộc; đó là con đường của sự sống.

Đồng thời, nếu Đức Giêsu là người thật, thì Người không cứu chúng ta từ xa. Người bước vào hoàn cảnh cụ thể của kiếp người. Người có một gia đình, một quê hương, một ngôn ngữ và một lịch sử. Người lao động bằng đôi tay, sống giữa những người hàng xóm, biết thế nào là thiếu thốn, biết nỗi đau mất người thân và cảm nghiệm sự mong manh của thân phận con người. Người không xấu hổ gọi chúng ta là anh em. Nhờ nhân tính thật của Người, mọi thực tại tốt đẹp của con người đều có thể trở thành nơi gặp gỡ Thiên Chúa. Lao động có thể trở thành lời cầu nguyện. Gia đình có thể trở thành mái ấm thánh thiện. Nước mắt có thể trở thành của lễ. Bệnh tật có thể được kết hợp với thập giá. Niềm vui có thể trở thành lời tạ ơn. Tình bạn, tình yêu, trách nhiệm và sự hy sinh hằng ngày đều có thể được thánh hóa. Đức Giêsu không cứu chúng ta bằng cách kéo chúng ta ra khỏi thân phận làm người, nhưng bằng cách chữa lành, đổi mới và đưa chính nhân tính của chúng ta vào sự hiệp thông với Thiên Chúa.

Đây cũng là nguồn an ủi lớn lao cho những ai đang cảm thấy cuộc đời mình quá yếu đuối, quá nghèo nàn hoặc quá tầm thường. Thiên Chúa đã không khinh thường thân xác con người. Người đã không ghê sợ sự nhỏ bé của một thai nhi, sự lệ thuộc của một trẻ thơ, sự đơn điệu của đời sống gia đình hay sự vất vả của lao động. Người đã mang lấy tất cả những điều ấy. Vì thế, chúng ta không cần tìm Thiên Chúa chỉ trong những biến cố phi thường. Người có thể đến với chúng ta trong căn bếp nhỏ, trong phòng bệnh, trong giờ làm việc, trong tiếng khóc của một đứa trẻ, trong việc chăm sóc một người già và trong những bổn phận tưởng như không ai nhìn thấy. Đức Maria trở thành Mẹ Thiên Chúa không phải giữa những tiếng tung hô của đám đông, nhưng trong một căn nhà nhỏ tại Nadarét, bằng một lời xin vâng được thốt ra trong âm thầm. Mầu nhiệm lớn nhất của lịch sử đã bắt đầu trong sự khiêm tốn. Điều đó nhắc chúng ta đừng coi thường những tiếng xin vâng nhỏ bé mỗi ngày. Một người mẹ kiên nhẫn với con, một người cha âm thầm hy sinh cho gia đình, một người con chăm sóc cha mẹ bệnh tật, một người tu sĩ trung thành với giờ kinh, một linh mục tận tụy với đoàn chiên, một người trẻ từ chối cám dỗ để sống trong sạch: những tiếng xin vâng ấy có thể trở thành nơi Đức Kitô tiếp tục được sinh ra cho thế giới.

Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, nhưng Mẹ cũng là người môn đệ đầu tiên của Đức Kitô. Mẹ không chỉ cưu mang Người trong thân xác, mà trước hết đã cưu mang Người bằng đức tin. Trước khi Ngôi Lời thành hình trong lòng Mẹ, Lời đã được đón nhận trong tâm hồn Mẹ. Thánh Augustinô từng nhấn mạnh rằng Đức Maria có phúc vì đã tin vào Đức Kitô hơn là chỉ vì đã sinh Đức Kitô theo xác thể. Điều ấy không làm giảm giá trị của thiên chức làm Mẹ, nhưng cho thấy chiều sâu thật sự của thiên chức ấy. Mẹ là Mẹ Thiên Chúa bởi Mẹ đã mở trọn con người mình cho ý muốn Thiên Chúa. Lời xin vâng của Mẹ không chỉ diễn ra một lần trong ngày Truyền Tin, nhưng được lặp lại suốt cuộc đời: xin vâng khi không tìm được chỗ trọ ở Bêlem; xin vâng khi phải bồng Con chạy sang Ai Cập; xin vâng trong những năm tháng âm thầm tại Nadarét; xin vâng khi không hiểu hết lời Con nói trong Đền Thờ; xin vâng khi Con rời mái nhà để thi hành sứ vụ; xin vâng khi người ta chống đối, vu khống và tìm giết Con; xin vâng khi đứng dưới chân thập giá; xin vâng trong ngày thứ Bảy thinh lặng, khi tảng đá đã khép lại ngôi mộ. Mẹ là Mẹ Thiên Chúa bởi vì Mẹ không ngừng để Thiên Chúa là Thiên Chúa trong cuộc đời mình.

Chúng ta cũng được mời gọi cưu mang Đức Kitô bằng đức tin và sinh Người ra cho thế giới bằng đời sống. Dĩ nhiên, không ai trong chúng ta có thiên chức độc nhất vô nhị như Đức Maria. Nhưng theo nghĩa thiêng liêng, mỗi Kitô hữu đều được mời gọi để Đức Kitô lớn lên trong mình. Mỗi khi chúng ta đón nhận Lời Chúa với tâm hồn vâng phục, Đức Kitô được hình thành trong chúng ta. Mỗi khi chúng ta để cho Thánh Thể biến đổi trái tim mình, Đức Kitô sống trong chúng ta. Mỗi khi chúng ta tha thứ cho người làm mình đau khổ, Đức Kitô được sinh ra giữa một thế giới đầy hận thù. Mỗi khi chúng ta bảo vệ người yếu thế, chăm sóc người nghèo, nói lời sự thật, giữ lòng trong sạch và sống trung tín, Đức Kitô lại trở nên hữu hình giữa nhân loại. Thế giới hôm nay không chỉ cần nghe chúng ta nói về Đức Giêsu; thế giới cần gặp thấy dung mạo Người trong cung cách sống của chúng ta. Người Kitô hữu phải trở thành một “máng cỏ” sống động, một nơi đủ nghèo để Đức Kitô có thể ngự vào, đủ sạch để Người có thể ở lại và đủ mở rộng để người khác có thể gặp Người.

Tước hiệu Mẹ Thiên Chúa còn nhắc chúng ta về phẩm giá của thân xác và sự sống con người. Nếu Con Thiên Chúa đã từng là một thai nhi trong lòng Đức Maria, thì sự sống trong lòng mẹ không bao giờ là một vật vô nghĩa hay một khối tế bào có thể tùy tiện loại bỏ. Chính Thiên Chúa đã chọn bắt đầu cuộc sống nhân loại của Người từ giây phút được thụ thai. Người không bỏ qua bất cứ giai đoạn nào của kiếp người. Người đã sống sự mong manh của thai nhi, sự lệ thuộc của trẻ nhỏ và sự trưởng thành từng ngày của một con người. Vì thế, khi bảo vệ sự sống của một thai nhi, chúng ta không chỉ bảo vệ một nguyên tắc luân lý, nhưng còn tôn trọng chính con đường mà Con Thiên Chúa đã chọn để đến với chúng ta. Khi chăm sóc một người bệnh, một người khuyết tật, một người già yếu hay một người không còn khả năng đóng góp cho xã hội, chúng ta đang tuyên xưng rằng phẩm giá con người không nằm ở sức khỏe, khả năng, tiền bạc hay sự hữu dụng, nhưng được đặt nền trên việc con người được Thiên Chúa yêu thương và được Con Thiên Chúa mang lấy chính thân phận ấy.

Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa cũng mời gọi chúng ta chiêm ngắm tình yêu tự hạ của Thiên Chúa. Thiên Chúa không cứu con người bằng cách đứng từ trời cao ban xuống một mệnh lệnh. Người cứu chúng ta bằng cách đến ở giữa chúng ta. Người không chỉ gửi một sứ điệp, nhưng trao ban chính Con Một. Người không chỉ nói rằng Người yêu nhân loại, nhưng để Con của Người mang lấy thịt và máu của nhân loại. Từ giây phút Nhập Thể, chúng ta hiểu rằng Thiên Chúa không sợ sự gần gũi. Người bước vào một gia đình, chấp nhận có một người mẹ, để cho mình được yêu thương bằng tình yêu nhân loại. Một Thiên Chúa chấp nhận gọi một người phụ nữ là Mẹ là một Thiên Chúa đã hạ mình đến tận cùng. Nhưng chính trong sự tự hạ ấy, quyền năng của Người được tỏ lộ. Quyền năng của Thiên Chúa không phải là quyền năng nghiền nát kẻ yếu, nhưng là quyền năng có thể trở nên yếu đuối vì yêu. Không phải quyền năng đứng trên người khác, nhưng là quyền năng cúi xuống rửa chân. Không phải quyền năng tránh né đau khổ, nhưng là quyền năng mang lấy đau khổ để cứu người mình yêu.

Và đó cũng phải là con đường của Hội Thánh. Hội Thánh chỉ thật sự trung thành với Đức Kitô khi biết mang lấy những đau khổ của con người, biết trở nên gần gũi với người nghèo, người bị bỏ rơi, người tội lỗi và những người đang mất hy vọng. Hội Thánh không thể chỉ rao giảng một Thiên Chúa từ xa, bởi Thiên Chúa mà Hội Thánh tuyên xưng là Thiên Chúa đã làm người. Mọi hình thức sống đạo khiến chúng ta xa lánh con người, khép kín trong sự an toàn và lạnh lùng trước nỗi đau của tha nhân đều trái ngược với mầu nhiệm Nhập Thể. Đức Maria đã không giữ Con Thiên Chúa trong cung lòng cho riêng mình. Sau biến cố Truyền Tin, Mẹ vội vã lên đường đến phục vụ bà Êlisabét. Khi mang Đức Kitô trong mình, Mẹ trở thành người lên đường. Đây là dấu chỉ để chúng ta xét mình: nếu chúng ta thật sự mang Chúa trong lòng, chúng ta có lên đường phục vụ không? Nếu chúng ta thật sự rước Chúa trong Thánh Thể, chúng ta có trở nên dịu dàng hơn với người thân, quảng đại hơn với người nghèo, kiên nhẫn hơn với người yếu đuối và sẵn sàng hòa giải với người làm tổn thương mình không? Nếu sau nhiều năm giữ đạo mà lòng chúng ta vẫn cứng cỏi, ích kỷ, thích xét đoán và không biết cảm thương, có lẽ chúng ta mới chỉ mang danh Kitô hữu mà chưa để Đức Kitô thực sự lớn lên trong mình.

Khi đứng dưới chân thập giá, Đức Maria nhìn thấy Người Con mà Mẹ đã sinh ra đang chịu chết. Đây là giờ phút tước hiệu Mẹ Thiên Chúa được thử thách trong bóng tối sâu thẳm nhất. Thiên thần đã từng nói Người sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao và triều đại Người sẽ vô cùng vô tận. Nhưng giờ đây, Người bị treo giữa hai tên tử tội, thân thể đầy thương tích, bị đám đông chế nhạo và dường như hoàn toàn thất bại. Đức Maria không nhìn thấy vinh quang, nhưng Mẹ vẫn tin. Mẹ không hiểu hết, nhưng không bỏ đi. Mẹ không thể cứu Con khỏi thập giá, nhưng Mẹ hiện diện. Chính sự hiện diện ấy cho thấy đức tin của Mẹ không được xây trên những dấu lạ bên ngoài, nhưng trên sự trung tín của Thiên Chúa. Là Mẹ Thiên Chúa không có nghĩa Mẹ được miễn khỏi đau khổ; trái lại, Mẹ được dẫn vào tận chiều sâu của mầu nhiệm thập giá. Người càng gần Đức Kitô càng không thể tránh khỏi việc cùng Người mang lấy nỗi đau của thế giới.

Điều này an ủi chúng ta khi gặp thử thách. Có lúc chúng ta cầu nguyện mà không thấy Chúa trả lời; phục vụ mà không được nhìn nhận; yêu thương mà bị phản bội; sống tốt mà vẫn chịu thiệt thòi. Có những lúc lời hứa của Thiên Chúa dường như trái ngược với những gì đang xảy ra. Khi ấy, Đức Maria dưới chân thập giá dạy chúng ta giữ lòng trung tín. Mẹ không cần hiểu hết mới tiếp tục tin. Mẹ không đòi Thiên Chúa phải giải thích rồi mới xin vâng. Mẹ tin rằng ngay cả khi mọi sự dường như kết thúc trong nấm mồ, Thiên Chúa vẫn có lời cuối cùng. Và quả thật, Người Con Mẹ sinh ra đã sống lại. Đấng bị đóng đinh chính là Chúa của sự sống. Kẻ bị người đời loại bỏ chính là viên đá góc tường. Bóng tối không thắng được Ánh Sáng. Cái chết không thể giam giữ Đấng là Thiên Chúa thật và người thật.

Kính thưa cộng đoàn, mừng kính Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, chúng ta đừng chỉ dừng lại ở một tước hiệu đẹp dành cho Mẹ. Hãy để tước hiệu ấy dẫn chúng ta đến một lời tuyên xưng mạnh mẽ hơn về Đức Giêsu Kitô. Người Con nằm trong vòng tay Mẹ là Chúa của trời đất. Hài Nhi trong máng cỏ là Ngôi Lời đã dựng nên vũ trụ. Người thợ mộc Nadarét là Con Một của Chúa Cha. Người bị đóng đinh trên đồi Canvê là Đấng Cứu Độ trần gian. Đấng phục sinh từ cõi chết là Thiên Chúa thật và người thật, là niềm hy vọng duy nhất của nhân loại. Vì vậy, chúng ta không chỉ ngắm nhìn Người, nhưng phải thờ lạy Người; không chỉ ngưỡng mộ lời Người dạy, nhưng phải sống theo lời ấy; không chỉ xin Người ban ơn, nhưng phải trao trọn cuộc đời cho Người.

Xin Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, dạy chúng ta biết gìn giữ Đức Kitô ở trung tâm đời mình. Xin Mẹ giúp chúng ta đừng biến lòng đạo đức thành việc tìm kiếm cảm xúc, nhưng thành một cuộc gặp gỡ thật sự với Đức Giêsu. Xin Mẹ dạy chúng ta biết lắng nghe Lời Chúa, yêu mến Thánh Thể, trung thành với Hội Thánh, quảng đại với người nghèo và can đảm sống Tin Mừng. Xin Mẹ cho chúng ta có một tâm hồn đủ khiêm nhường để thưa tiếng xin vâng, đủ trong sạch để Đức Kitô ngự vào, đủ rộng mở để trao Người cho tha nhân và đủ trung tín để đứng bên thập giá khi hành trình đức tin trở nên tối tăm.

Và trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời, xin cho chúng ta cùng với Đức Maria luôn xác tín rằng: Đức Giêsu Kitô không chỉ là một người đã từng sống trong lịch sử, nhưng là Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Người là Thiên Chúa thật để có thể cứu độ chúng ta; Người là người thật để có thể ở gần và mang lấy thân phận của chúng ta. Người sinh bởi Đức Maria để chúng ta được tái sinh làm con Thiên Chúa. Người mang lấy xác phàm để xác phàm của chúng ta được dự phần vinh quang. Người bước vào sự chết để mở đường cho chúng ta đến sự sống đời đời. Bởi thế, khi Hội Thánh gọi Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, Hội Thánh không chỉ đặt một triều thiên trên đầu Mẹ, nhưng còn quỳ xuống trước Người Con của Mẹ và tuyên xưng bằng cả đức tin, niềm hy vọng và tình yêu rằng:

Lạy Đức Giêsu Kitô, Con Đức Trinh Nữ Maria, Chúa là Thiên Chúa thật và là người thật. Chúa đã đến ở giữa chúng con, đã mang lấy thân phận chúng con, đã chết và sống lại để cứu độ chúng con. Xin Chúa trở thành trung tâm, cùng đích và ý nghĩa của toàn thể cuộc đời chúng con. Amen.

Bài viết liên quan

Back to top button
error: Content is protected !!