
MỘT THẾ KỶ ĐI TÌM CHÂN LÝ – MỪNG THẦY STÊPHANÔ NGUYỄN KHẮC DƯƠNG BƯỚC VÀO TUỔI 102 – Lm. Anmai, CSsR
Nếu phải nói nhớ gì với Thầy Stephano Nguyễn Khắc Dương thì bỉ nhân xin nói ngay và luôn đó là kỷ niệm bỉ nhân bị rớt môn Triết Học Đông Phương do Thầy dạy.
Biết rằng môn Thầy khó qua lắm nên bỉ nhân cũng ráng cày ngày không đủ tranh thủ cày đêm nhưng cày rồi vẫn … rớt … Thế rồi phải làm bài lại thôi ! Học Bạ thời sinh viên Thần và Triết vẫn còn ghi nhớ kẻ rớt môn của Thầy Nguyễn Khắc Dương
Và, hình ảnh một cụ già đến dạy Học Viện Đa Minh hẳn nhiều người khó quên đó là hình ảnh cụ già mặc bộ đồ cũ mèm (với chiếc áo nâu) và lấy cái quần thể thao quấn lên vai .. đi dạy.
Đơn sơ đến thế là cùng ! Mộc mạc đến thế là cùng nhưng Chúa ban cho Thầy một tri thức và một đức tin tuyệt vời.
Bỉ nhân thọ ơn Thầy …
Có những con người đi qua cuộc đời bằng những bước chân thật lớn, để lại phía sau những công trình đồ sộ, những chức danh lẫy lừng, những tượng đài người đời có thể nhìn thấy. Nhưng cũng có những con người đi qua cuộc đời gần như lặng lẽ, càng về già càng thu mình lại, chẳng muốn người ta nói nhiều về mình, vậy mà khi ngoảnh lại, người ta bỗng nhận ra dấu chân của họ đã in trên tâm hồn biết bao thế hệ. Thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương là một con người như thế. Ngày 24 tháng 9 năm 2026, thầy mừng sinh nhật thứ 101 và bước vào tuổi 102. Một trăm lẻ một năm hiện diện giữa cõi đời này là một quãng thời gian rất dài. Một đời người bình thường đã dài; một thế kỷ lại càng dài hơn nữa. Trong một trăm năm ấy, biết bao chính thể thay đổi, biết bao cuộc chiến đi qua, biết bao trào lưu tư tưởng xuất hiện rồi biến mất, biết bao thế hệ con người sinh ra, trưởng thành rồi trở về với cát bụi. Thế mà ở một góc rất khiêm tốn của cuộc đời, vẫn còn một ông già mang tên Nguyễn Khắc Dương, người từng là một cậu bé của đất Hương Sơn, Hà Tĩnh, từng lớn lên giữa gia phong Nho học, từng bước chân vào trường Thiên Hựu ở Huế, từng băn khoăn về ý nghĩa đời người, từng tìm đến Đức Kitô, từng sống đời Phanxicô, từng học triết tại Sorbonne, từng đứng trên bục giảng Đại học Đà Lạt, từng giảng triết học cho nhiều thế hệ sinh viên, chủng sinh và tu sĩ, rồi cuối cùng trở thành một “hành giả” già nua ngồi thật yên trước những bí nhiệm của Thiên Chúa. Tính từ ngày sinh 24-9-1925, năm 2025 Tu đoàn Anh Em Bác Ái Chúa Kitô Tôi Tớ đã cử hành Bách Chu Niên 100 tuổi của thầy; bởi vậy ngày 24-9-2026 là ngày thầy tròn 101 năm cuộc đời và bắt đầu bước vào tuổi 102.
Muốn hiểu Nguyễn Khắc Dương, có lẽ không nên bắt đầu bằng chức danh “giáo sư”, bởi chính cuộc đời thầy dường như luôn chạy trốn những chiếc áo quá rộng mà người khác muốn khoác lên mình. Báo chí từng lưu ý rằng thầy không được Nhà nước phong học hàm giáo sư và học vị của thầy tại Sorbonne là cử nhân triết học, dù từ thời làm Quyền Khoa trưởng Văn khoa Viện Đại học Đà Lạt, học trò vẫn kính gọi thầy là “giáo sư”, rồi nhiều thế hệ linh mục, tu sĩ, trí thức lại thân thương gọi một tiếng rất đơn giản: “Thầy”. Có lẽ tiếng “Thầy” ấy mới thật sự đẹp. Bởi nó không nhất thiết nói về văn bằng. Nó nói về một người từng giúp người khác biết suy nghĩ, biết đặt câu hỏi, biết hoài nghi những câu trả lời quá dễ dàng, biết kính trọng sự thật, và nhất là biết rằng trí tuệ con người dù cao đến đâu cuối cùng vẫn phải cúi đầu trước mầu nhiệm. Thầy sinh ngày 24 tháng 9 năm 1925 trong một gia đình Nho học nổi tiếng ở Hương Sơn, Hà Tĩnh; thân phụ là Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm, một nhà Nho và vị quan được nhắc đến với đời sống thanh liêm. Trong gia đình ấy còn có những tên tuổi lớn của đời sống văn hóa Việt Nam như bác sĩ – nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện, nhà văn Nguyễn Khắc Phê, giáo sư Nguyễn Khắc Phi và nhiều anh chị em thành đạt khác. Thầy là người con thứ bảy trong một gia đình đông con. Nhưng điều quan trọng không phải là “danh gia vọng tộc”. Điều quan trọng là từ rất sớm, cậu bé Nguyễn Khắc Dương đã sống giữa một thế giới đang chuyển mình. Một bên là Nho giáo với lễ nghĩa, gia phong, chữ hiếu, nhân nghĩa, trách nhiệm với tổ tiên và cộng đồng; một bên là thế giới Tây phương đang đi vào Việt Nam cùng khoa học, triết học và Kitô giáo; chung quanh lại còn bàng bạc ảnh hưởng Phật giáo, Lão Trang và toàn bộ tâm thức Á Đông. Chính vì vậy mà đời Nguyễn Khắc Dương sau này trở thành một cuộc đối thoại kéo dài gần trọn thế kỷ giữa Đông và Tây, giữa Nho và Kitô, giữa triết học và đức tin, giữa lý trí và mầu nhiệm, giữa khát vọng tự do của cá nhân và tiếng gọi tự hiến.
Có một biến cố nhỏ nhưng nhìn lại thật lạ lùng: năm 1938, cậu Dương thi vào Quốc Học Huế không đỗ và sau đó vào học trường Thiên Hựu – Providence, một trường Công giáo. Chính thầy sau này nhìn cái “thi rớt” ấy bằng con mắt đức tin như một sự quan phòng. Tại Thiên Hựu, cậu học trò xuất thân Nho giáo bắt đầu tiếp xúc gần hơn với Kitô giáo, đặc biệt qua đời sống của các linh mục giáo sư, sự tận tụy của họ và cách họ đối xử với học sinh. Nghĩ lại mới thấy có những cánh cửa cuộc đời tưởng như đóng lại nhưng thật ra chỉ để Thiên Chúa đưa ta sang một cánh cửa khác. Nếu cậu Nguyễn Khắc Dương năm ấy đỗ vào Quốc Học, con đường đời có thể đã khác. Nhưng cậu đã trượt một kỳ thi để rồi đi vào Thiên Hựu; và qua Thiên Hựu lại dần bước vào một hành trình mà điểm đến cuối cùng là Đức Kitô. Người đời thường sợ thất bại. Thiên Chúa đôi khi dùng chính thất bại để đổi hướng một đời người. Có lẽ nếu nhìn từ cuối hành trình của thầy, ta mới hiểu rằng Thiên Hựu không chỉ là tên của một ngôi trường; “Thiên Hựu” còn có thể được đọc như một biểu tượng về bàn tay âm thầm của Thiên Chúa trên cuộc đời thầy. Thiên Chúa không giật người thanh niên ấy ra khỏi nguồn cội Việt Nam để biến anh thành một con người xa lạ với dân tộc mình. Trái lại, càng đi sâu vào Kitô giáo, Nguyễn Khắc Dương dường như càng thao thức làm sao đức tin có thể cắm rễ thật sâu trong hồn Việt, làm sao một người có thể vừa trọn vẹn là người Việt vừa trọn vẹn thuộc về Đức Kitô. Chính vì thế, những người nghiên cứu thầy sau này thường nhìn cuộc đời ấy như một cuộc kiếm tìm bản thân giữa những xung đột văn hóa.
Sau những năm biến động của lịch sử, Nguyễn Khắc Dương từng tham gia một số hoạt động địa phương, từng làm thư ký hành chính xã, tham gia hoạt động tuyên truyền một thời gian ngắn rồi dạy học. Nhưng một cuộc cách mạng khác âm thầm hơn đang diễn ra trong lòng anh: cuộc cách mạng của đức tin. Dịp Giáng sinh năm 1948, ước muốn gia nhập Công giáo đã được thổ lộ. Sau thời gian tĩnh tâm tại Tu viện Phanxicô ở Vinh, ngày 9 tháng 1 năm 1949, tại nhà thờ Nghĩa Yên, Nguyễn Khắc Dương lãnh nhận Bí tích Rửa tội, mang tên thánh Stêphanô. Đây có lẽ là một trong những quyết định lớn nhất đời thầy. Với một thanh niên sinh trưởng trong gia đình Nho giáo nền nếp thời ấy, việc bước vào Công giáo không đơn giản là “đổi tôn giáo”. Đằng sau đó là bao nhiêu thao thức về chữ hiếu, về tổ tiên, về gia đình, về văn hóa, về căn tính dân tộc. Chính vì đã đi qua những giằng co đó nên về sau khi nói về Kitô giáo, thầy không nói như một người chỉ thuộc vài công thức giáo lý. Thầy nói bằng kinh nghiệm của một kẻ đã từng đứng ngoài, từng hoài nghi, từng quan sát, từng phản biện, từng đau đáu đi tìm, rồi cuối cùng mới dám trao cuộc đời mình cho Chúa. Đức tin của thầy vì thế không phải thứ đức tin nhàn nhã. Đó là đức tin đã trả giá bằng thao thức. Và một đức tin đã trả giá bằng thao thức thường có khả năng đối thoại rất đặc biệt với những người chưa tin.
Từ năm 1950, Nguyễn Khắc Dương bước vào đời sống Phanxicô; hành trình tu trì ấy trải qua Vinh, Nha Trang và về sau cả những năm tu học tại Pháp. Có thời gian thầy phải thực hiện nghĩa vụ quân sự; rồi từ năm 1956 được gửi sang Pháp, tiếp tục tu học và theo triết học tại Đại học Sorbonne. Ở Paris, giữa một trong những trung tâm trí thức lớn của phương Tây, người thanh niên Việt Nam ấy không chỉ học Kant, Descartes, Pascal hay những trường phái triết học. Một điều sâu sắc hơn dường như đã xảy ra: thầy học thái độ của người làm trí thức. Các hồi ức và bài viết về thầy nhấn mạnh ấn tượng của Nguyễn Khắc Dương trước sự khiêm tốn trí thức của các giáo sư Sorbonne: thận trọng khi phán đoán, trung thực với điều mình biết và điều mình chưa biết, không dễ chạy theo phong trào. Có lẽ bài học ấy theo thầy suốt đời. Càng biết nhiều càng biết mình chưa biết. Càng học triết càng ít muốn dùng triết học như cây gậy để đánh người khác. Càng đến gần Chân Lý càng biết rằng chân lý không phải tài sản riêng của mình. Có người học cao để nói thật nhiều; thầy Dương dường như học để biết im lặng trước những điều lớn hơn mình. Có người dùng tri thức để dựng nên cái tôi; thầy lại mở tập Hồi ức bằng sự dè dặt trước chính việc kể về mình, sợ rằng kể đời mình rồi lại vô tình phô trương cái tôi. Đó là một nét rất Nguyễn Khắc Dương: cả một đời suy tư về con người mà cuối cùng lại dè chừng chính cái tôi của mình.
Cuối năm 1965, thầy trở về Việt Nam. Sau một thời gian dạy tại Sài Gòn, thầy lên Đà Lạt, giảng dạy triết học tại Viện Đại học Đà Lạt, rồi đảm nhận trách nhiệm Phó Khoa trưởng và Quyền Khoa trưởng. Đây là giai đoạn người thầy Nguyễn Khắc Dương để lại dấu ấn sâu trong đời trí thức và giáo dục. Nhưng điều những học trò nhớ về thầy có lẽ không chỉ nằm trong các bài triết học. Một người thầy lớn không chỉ truyền một hệ thống khái niệm; người thầy lớn trao cho học trò một cách đứng trước cuộc đời. Thầy Dương có cái duyên rất riêng trong giảng dạy: những đề tài tưởng khô như triết học nhập môn, tâm lý học, đạo đức học, luân lý học hay triết lý khoa học khi đi qua giọng nói của thầy lại trở thành chuyện của đời sống. Thầy có thể từ Aristotle đi sang Khổng Tử, từ triết học Tây phương trở về chuyện gia đình Việt Nam, từ tâm lý học đi sang chuyện tình yêu, hôn nhân, dục tính, đời tu, rồi bất chợt kéo người nghe đến trước một câu hỏi về Thiên Chúa. Bởi thế những băng ghi âm bài giảng của thầy không mang dáng dấp giáo trình đóng hộp. Nó giống một dòng suy tưởng đang sống, nơi người giảng suy nghĩ cùng người nghe. Chính nét “thỏa mái”, cởi mở ấy làm cho việc chuyển những băng giảng cũ thành sách trở nên vừa quý giá vừa vô cùng khó khăn.
Sau năm 1975, đường đời lại đổi hướng. Các nguồn tư liệu ghi nhận thầy trải qua nhiều hoàn cảnh khác nhau, làm việc tại Lâm Đồng, sống ở Đà Lạt, rồi về sau tiếp tục được mời giảng dạy trong nhiều môi trường khác. Điều đáng nói là bục giảng không còn là một chức vụ nhưng dần trở thành một sứ vụ. Nhiều chủng sinh, tu sĩ, linh mục và cả những vị sau này trở thành giám mục đã từng là học trò của thầy. Từ năm 1996 đến những năm sau đó, thầy sống ở nhiều cộng đoàn, tiếp tục dạy triết học, tâm lý học cho các nhóm chủng sinh, tu sinh; một thời gian dài ở Huế, rồi những năm cuối đời tìm được nơi dừng chân tại Tu đoàn Anh Em Bác Ái Chúa Kitô Tôi Tớ ở Tân Nghĩa, Bình Thuận. Tu đoàn cho biết thầy đã chọn nơi đây làm chỗ “dừng bước” an dưỡng tuổi già gần một thập niên. Cụm từ “dừng bước” nghe thật đẹp đối với một người cả đời là hành giả. Có những người già dừng bước vì chân không còn đi nổi. Nhưng một hành giả của tinh thần thì dù thân xác đã ngồi yên, cuộc hành trình bên trong vẫn tiếp tục. Có khi chính những năm cuối đời, khi chẳng còn phải lên lớp, chẳng còn phải điều hành khoa, chẳng còn phải chứng minh điều gì với ai, mới là lúc một con người đi sâu nhất vào câu hỏi đã theo mình từ tuổi trẻ: cuối cùng, tôi là ai trước mặt Thiên Chúa?
Và cũng bởi thế, thật ý nghĩa khi vào những năm cuối của một đời người dài hơn một thế kỷ, những lời giảng tưởng đã thất lạc của thầy lại lần lượt được tìm thấy, nghe lại, chép lại và chuẩn bị trao cho thế hệ sau. Năm 2025, đúng dịp mừng thầy bách chu niên, một phần những bài nói chuyện của thầy tại Trường Viết văn Nguyễn Du năm 1988 đã được biên soạn và xuất bản thành cuốn “Để hiểu Đạo Chúa hơn”, dày 412 trang. Tu đoàn cho biết những bài nói chuyện này đã từng được tưởng là thất lạc, trong khi rất nhiều bài giảng khác của thầy vẫn nằm trong hàng chục cuốn băng cũ. Điều ấy khiến ta nghĩ đến một hình ảnh rất cảm động: một ông thầy đã quá già, giọng nói của mấy chục năm trước còn nằm trong những cuộn băng từ đang lão hóa theo thời gian; những người học trò và những người yêu quý thầy cặm cụi nghe từng câu, gõ từng chữ, cố cứu lấy tiếng nói ấy khỏi sự quên lãng. Công việc ấy không đơn thuần là kỹ thuật. Nó giống một hành động biết ơn. Bởi người ta chỉ cẩn thận giữ lời của ai đó khi biết rằng trong những lời ấy có một phần gia tài tinh thần không nên để mất.
Và bây giờ lại có thêm một tin vui trong dịp thầy bước vào tuổi 102. Theo tư liệu được chia sẻ, cha Trăng Thập Tự cùng các cộng sự tại Quy Nhơn đã bỏ rất nhiều công sức chuyển khoảng hai mươi bài giảng của thầy tại các Đại chủng viện trong nhiều thập niên từ băng ghi âm sang văn bản. Khối tư liệu thật phong phú: từ Triết học nhập môn, Tâm lý học, Đạo đức học, Luân lý học, Triết lý khoa học và cái nhìn khái quát về khoa học, đến Đức tin và Ơn gọi, đường thơ ấu thiêng liêng nơi thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, Chuỗi Mân Côi trong đời sống chiêm niệm, những suy nghĩ về tình yêu, và cả những trang tự bạch cuối đời. Nếu khối tư liệu ấy được biên tập đầy đủ, tập sách có thể dày hơn sáu trăm trang. Nhưng sáu trăm trang ấy, xét cho cùng, không phải sáu trăm trang “kiến thức”. Nó là sáu trăm trang dấu vết của một tâm hồn. Người biên soạn vì thế cần nhiều hơn khả năng sửa lỗi chính tả. Họ phải hiểu triết học, thần học, tâm lý, văn hóa Đông Tây, phải đủ tinh tế để phân biệt đâu là lời nói khẩu ngữ cần giữ lại vì mang đúng giọng của thầy, đâu là chỗ cần hiệu đính để người đọc hiểu, đâu là câu nói mang tính dí dỏm của một buổi lên lớp, đâu là luận điểm cần chú giải bối cảnh. Biên tập Nguyễn Khắc Dương mà làm cho ông thầy ấy trở nên đạo mạo, khô cứng, chỉn chu như một bộ giáo trình được viết sẵn có khi lại đánh mất Nguyễn Khắc Dương.
Chỉ cần đọc vài dòng bài giảng Tâm lý học được lưu lại đã thấy cái chất ấy. Thầy có thể bắt đầu bằng chuyện “thời ông cụ nhà tôi”, rồi từ cách học của Nho giáo nói sang triết học, luân lý học, tâm lý học hiện đại; từ Khổng Tử lại bất chợt chạm tới chuyện đa thê, độc thê, đời tu, chuyện nam nữ, bằng lối nói dân dã đến mức người nghe có thể bật cười. Nhưng đừng vội nghĩ đó chỉ là tếu táo. Sau tiếng cười thường là một nhát cắt vào đời sống. Đó là nghệ thuật của những người đã học rất nhiều nhưng không còn nhu cầu làm cho người khác choáng ngợp vì chữ nghĩa của mình. Người thật sự hiểu một điều thường có thể nói nó bằng ngôn ngữ rất đơn giản. Người chỉ mới thuộc bài thường phải núp sau thuật ngữ. Nguyễn Khắc Dương dường như thích kéo triết học xuống khỏi tháp ngà để ngồi chung trên một chiếc chiếu với người Việt, uống một chén trà rồi nói chuyện đời. Và khi chuyện đời đi đủ sâu, nó sẽ thành chuyện đạo; chuyện đạo đi đủ sâu lại trở thành chuyện sống; còn chuyện sống đi đến tận cùng lại là chuyện chết, chuyện cứu độ và chuyện con người đứng trước Đấng Tuyệt Đối.
Có một chữ dường như đi xuyên qua tất cả những gì thầy dạy: chữ “tìm”. Thầy là một người đi tìm. Đi tìm từ khi còn chưa biết mình sẽ tìm ai. Đi tìm qua Nho giáo. Đi tìm qua Lão Trang. Đi tìm qua Phật giáo. Đi tìm giữa những biến động của dân tộc. Đi tìm trong Kitô giáo. Đi tìm trong tu viện Phanxicô. Đi tìm giữa Paris. Đi tìm nơi Sorbonne. Đi tìm trong triết học. Đi tìm giữa Đại học Đà Lạt. Đi tìm trong những năm tháng hậu chiến. Đi tìm giữa những thế hệ học trò. Và dường như càng về cuối, cái tìm ấy càng ít ồn ào. Một nghiên cứu về đời thầy đã dùng chính hình ảnh của thánh Augustinô để diễn tả: trái tim con người luôn khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Thiên Chúa. Có lẽ đó là chìa khóa thích hợp nhất để đọc cuộc đời Nguyễn Khắc Dương. Nếu chỉ nhìn thầy như nhà triết học, ta chưa hiểu thầy. Nếu chỉ gọi thầy là nhà giáo, vẫn chưa đủ. Nếu chỉ nhìn thầy như một người Công giáo, ta cũng dễ bỏ mất cái vật lộn dài lâu đã dẫn thầy đến đức tin. Cuộc đời ấy là cuộc tìm kiếm Ơn Cứu Độ.
Điều đặc biệt là khi đã tìm thấy Đức Kitô, thầy không vứt bỏ những gì mình đã đi qua. Nho giáo vẫn ở đó. Chữ hiếu vẫn ở đó. Văn hóa Việt vẫn ở đó. Lão Trang vẫn thấp thoáng ở đó. Sự nhạy cảm trước Phật giáo vẫn ở đó. Triết học Tây phương vẫn ở đó. Nhưng tất cả như những con sông cuối cùng được mời gọi chảy về một biển lớn hơn. Thầy không phải người làm công việc “pha trộn tôn giáo”. Thầy là người đã sống đủ sâu trong nhiều miền văn hóa để nhận ra rằng người Công giáo Việt Nam chỉ thật sự trưởng thành khi đức tin không còn là chiếc áo mặc bên ngoài một tâm thức Việt Nam chưa được Tin Mừng chạm đến, nhưng khi chính tâm hồn Việt ấy được thanh luyện và hoàn tất trong Đức Kitô. Có lẽ vì thế thầy từng thao thức rằng người Công giáo Việt Nam không nên chỉ “giữ đạo” nhưng phải đi tới một đời sống nội tâm sâu sắc, phải thực sự “thể hiện đạo”. Nhận xét ấy của thầy đã được nhiều tài liệu mục vụ Công giáo dẫn lại. Đây vẫn là câu hỏi nóng hổi hôm nay. Một người có thể đọc kinh đầy đủ mà chưa chắc đã để Tin Mừng đổi đời mình. Có thể tham dự nghi lễ rất sốt sắng mà vẫn sống cay nghiệt với người khác. Có thể bảo vệ đạo bằng lời lẽ hùng hồn nhưng không có lòng thương xót. Có thể thuộc giáo lý rất kỹ nhưng chưa gặp Đức Kitô. Có lẽ thầy Dương muốn người Kitô hữu đi xa hơn: từ giữ luật tới gặp gỡ; từ bổn phận tới tình yêu; từ cái vỏ tôn giáo tới kinh nghiệm sống động với Thiên Chúa.
Điều ấy cũng giải thích vì sao một ông thầy triết lại say mê con đường thơ ấu thiêng liêng của thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, lại nói về Chuỗi Mân Côi, lại suy niệm về đức tin và ơn gọi. Triết học đặt rất nhiều câu hỏi; cuối cùng một tâm hồn lớn lại tìm đến sự đơn sơ. Người trẻ thường nghĩ trưởng thành là biết thêm thật nhiều. Những người đi thật xa đôi khi phát hiện trưởng thành là biết trở về với những điều rất nhỏ: một kinh Kính Mừng, một tiếng “xin vâng”, một việc bé nhỏ làm vì yêu, một sự phó thác trong đêm tối. Đường triết học của Nguyễn Khắc Dương không kết thúc trong một hệ thống triết học mang tên Nguyễn Khắc Dương. Nó dường như kết thúc ở chỗ một ông già cầm Chuỗi Mân Côi. Và đó có lẽ là một trong những hình ảnh đẹp nhất của trí tuệ Kitô giáo: đi qua bao nhiêu thư viện cuối cùng vẫn biết quỳ xuống.
Cuộc đời thầy còn đẹp ở chỗ nó phá vỡ nhiều khuôn mẫu thông thường về thành công. Thầy không lập gia đình. Thầy đã từng đi vào đời tu rồi lại rời một dòng tu để sống ơn gọi theo cách riêng. Thầy không xây một sự nghiệp học thuật đồ sộ theo tiêu chuẩn thông thường. Không thấy một “hệ thống Nguyễn Khắc Dương” với hàng chục bộ sách kinh điển. Nhiều bài giảng còn nằm trên băng từ. Có những bản thảo từng lưu truyền nội bộ rất lâu. Cuốn Hồi ức của thầy hoàn thành từ khá sớm nhưng mãi đến năm 2020 mới được chính thức xuất bản cùng tập “Thế Tâm tạp vận”. Cuốn “Để hiểu Đạo Chúa hơn” lại đến khi tác giả đã trăm tuổi. Nếu đánh giá một đời người bằng tốc độ xuất bản, chức vị hay danh tiếng, cuộc đời ấy có nhiều khoảng tưởng như “trễ”. Nhưng trước mặt Thiên Chúa có lẽ không có chữ trễ. Có những hạt giống phải nằm dưới đất rất lâu mới nảy mầm. Có những lời nói phải sau ba bốn chục năm người ta mới hiểu giá trị để tìm lại. Có những con người lúc đang hoạt động không mấy nổi tiếng, nhưng khi thế hệ sau nhìn lại mới nhận ra họ đã âm thầm tạo nên một tầng đất cho bao người đứng trên đó.
Và có lẽ đây cũng là lý do những học trò của thầy vẫn gọi thầy bằng tiếng “Thầy” đầy kính trọng. Bởi tri thức có thể cũ đi, giáo trình có thể thay đổi, một trường phái triết học hôm nay thịnh hành ngày mai có thể lùi vào lịch sử; nhưng nhân cách của một người thầy thì ở lại. Người ta có thể quên Aristotle được giảng ở tiết thứ mấy, quên Kant được giải thích thế nào, nhưng người ta không quên một ông thầy sống thanh đạm, tự do trước tiền bạc và danh vọng, không quên dáng vẻ hơi “gàn”, không quên cách ông trò chuyện, không quên sự khiêm tốn trí thức, không quên một trí tuệ lớn lại có thể chơi với một đứa trẻ, đi bộ chỉ để báo cho người quen khỏi mất công tới dự một buổi nói chuyện bị hạn chế người tham dự. Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy từng kể lại một chi tiết rất nhỏ như thế về Nguyễn Khắc Dương và tự hỏi đó là một người “gàn” hay một triết nhân. Có khi triết lý lớn nhất của một con người không nằm trong sách họ viết, mà nằm trong cách họ đối xử với một việc rất nhỏ chẳng ai nhìn thấy.
Một trăm lẻ một năm – nói ra chỉ vài chữ nhưng thử nghĩ xem bao nhiêu người đã đi qua đời thầy. Cha mẹ, anh chị em, thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp, học trò, những người cùng thời… biết bao nhiêu người đã khuất. Một người sống đến hơn trăm tuổi mang trong mình không chỉ tuổi tác mà còn cả một nghĩa trang ký ức. Những người từng cùng ta ăn một bữa cơm không còn nữa. Những con đường từng quen đã thay tên. Những ngôi nhà cũ có thể đã mất. Những cơ chế chính trị đã biến đổi. Những trường học đã không còn như trước. Những giọng nói từng thân thiết chỉ còn trong ký ức. Sống lâu là một hồng ân nhưng cũng là một cuộc thanh luyện lớn, bởi càng sống lâu càng phải tiễn nhiều người. Cuối cùng người ta học rằng chẳng có gì thuộc về mình mãi mãi. Danh tiếng không. Chức vụ không. Tiền bạc không. Ngôi nhà không. Sức khỏe không. Ngay cả trí nhớ rồi cũng có thể dần rời khỏi ta. Chỉ còn tình yêu và những gì đã trao cho Thiên Chúa.
Bởi vậy nhìn thầy Nguyễn Khắc Dương ở tuổi hơn trăm, ta không chỉ thán phục một trường hợp trường thọ. Nếu chỉ nói “102 tuổi mà còn minh mẫn” thì vẫn quá ít. Điều đáng suy nghĩ hơn là Thiên Chúa đã để cho một hành trình kéo dài đến vậy để làm gì? Có lẽ câu trả lời không thuộc về chúng ta. Nhưng ta có thể nhận ra một dấu chỉ: vào khi thân xác thầy ngày càng yếu đi thì tiếng nói của thầy từ những cuốn băng cũ lại đang được hồi sinh. Người nói dần im, nhưng lời đã nói lại bắt đầu lên tiếng. Bàn tay không còn viết nhiều, nhưng người khác lại gõ từng dòng lời của thầy. Đôi chân đã dừng bước, nhưng tư tưởng lại có thể đi xa hơn trước. Đó là nghịch lý rất đẹp của tuổi già: khi người ta thôi làm, điều họ đã gieo bắt đầu tự lớn lên.
Cho nên việc biên tập khoảng hai mươi bài giảng ấy không chỉ nên được nhìn như một dự án xuất bản. Đó là một công việc gìn giữ ký ức của Giáo hội và văn hóa. Nếu được thực hiện cẩn trọng, tập “SUY NGẪM VỀ TRIẾT LÝ, ĐẠO & ĐỜI” – dù cuối cùng mang tên nào – có thể trở thành một chứng tích độc đáo về cách một trí thức Công giáo Việt Nam của thế kỷ XX đối diện với những vấn đề căn bản của con người. Những đề tài Triết học nhập môn, Tâm lý học, Đạo đức học, Luân lý học, triết lý khoa học nghe tưởng thuộc giảng đường; nhưng qua thầy Dương chúng lại luôn quay về câu hỏi: con người sống để làm gì? tự do là gì? yêu là gì? hạnh phúc là gì? đức tin có ý nghĩa gì? khoa học biết được đến đâu? lý trí phải dừng ở đâu? ơn gọi là gì? vì sao phải cầu nguyện? tại sao con người cần Thiên Chúa? Đó không phải câu hỏi cũ. Con người năm 2026 vẫn hỏi. Người trẻ giữa trí tuệ nhân tạo vẫn hỏi. Một người có điện thoại thông minh trong tay vẫn hỏi. Nhà khoa học vẫn hỏi. Người hấp hối càng hỏi. Công nghệ có thể trả lời ngày mai trời mưa hay nắng, nhưng không thể thay ta trả lời tại sao mình phải sống, tại sao phải yêu, tại sao phải tha thứ, và khi chết rồi đời mình có rơi vào hư vô hay không.
Có lẽ vì vậy Nguyễn Khắc Dương vẫn đáng đọc. Không phải vì mọi câu nói của một ông thầy trăm tuổi đều mặc nhiên đúng. Chính tinh thần của thầy có lẽ cũng không muốn người ta đọc thầy như đọc một pho kinh bất khả tranh luận. Một người thật sự làm triết sẽ muốn người đọc tiếp tục suy nghĩ, chất vấn và đối thoại. Giá trị của thầy nằm ở chỗ dám đi vào câu hỏi, chứ không phải đóng mọi câu hỏi bằng một câu trả lời dễ dãi. Đức tin Công giáo nơi thầy cũng không tiêu diệt lý trí. Trái lại, lý trí được đưa tới tận biên giới của mình để từ đó có thể nhận ra rằng còn một chiều kích mà lý trí tự nó không chiếm hữu được. Đó là mầu nhiệm. Mầu nhiệm không phải điều vô lý. Mầu nhiệm là điều có thể hiểu ngày càng sâu nhưng không bao giờ hiểu hết.
Ở tuổi 102 đang mở ra, có lẽ lời đẹp nhất dành cho thầy không phải là chúc thầy thêm thật nhiều năm nữa theo cách chúng ta thường chúc. Một người đã hơn một thế kỷ chắc hiểu thời gian khác chúng ta. Với người trẻ, thêm một năm là thêm kế hoạch. Với người rất già, thêm một ngày có thể đã là một lời tạ ơn. Mỗi buổi sáng mở mắt còn nhìn thấy ánh sáng là quà tặng. Mỗi hơi thở là một kinh nguyện. Mỗi lần có người đến thăm là một cuộc gặp có thể là lần cuối. Cái chết không còn là một ý niệm triết học; nó đứng rất gần, nhưng với người tin, phía sau cái chết là Đấng mình đã tìm kiếm cả đời.
Và thật đẹp nếu một ngày kia hành giả Nguyễn Khắc Dương đi hết cuộc hành trình, người ta có thể nói rằng: ông đã tìm cả đời, nhưng thật ra ngay từ đầu đã có Một Người đi tìm ông. Cậu bé thi trượt Quốc Học tưởng mình đổi trường; có thể Thiên Chúa đã đứng sau một ngã rẽ. Người thanh niên bước vào Thiên Hựu tưởng mình đi học; Thiên Chúa đang mở một cánh cửa. Người trí thức tìm chân lý; Chân Lý đã kiên nhẫn chờ. Người thanh niên tìm đời tu; Chúa dẫn qua nhiều hình thức để cuối cùng chỉ còn một điều là thuộc về Ngài. Người triết gia đặt hàng nghìn câu hỏi; rồi một ngày câu trả lời có thể không phải một mệnh đề mà là một Khuôn Mặt.
Đó có lẽ là vẻ đẹp lớn nhất trong cuộc đời Stêphanô Nguyễn Khắc Dương. Không phải là ông biết nhiều. Không phải là ông sống lâu. Không phải là ông từng dạy ở Sorbonne – điều này cũng cần nói cho chính xác: thầy học tại Sorbonne chứ không phải giáo sư Sorbonne. Không phải là ông từng giữ trách nhiệm tại Đại học Đà Lạt. Không phải là có giám mục, linh mục, tu sĩ gọi ông bằng thầy. Vẻ đẹp lớn nhất là sau mọi thăng trầm, ông vẫn là một người đi tìm Thiên Chúa và để Thiên Chúa tìm thấy mình.
Một trăm lẻ một năm, còn gì để sở hữu?
Có lẽ không còn gì.
Nhưng cũng chính lúc không còn gì để giữ, người ta mới có thể trao tất cả.
Trao những suy nghĩ cho học trò. Trao những bài giảng cho hậu thế. Trao ký ức cho những trang Hồi ức. Trao tiếng nói cho những cuộn băng cũ. Trao những thao thức về triết lý, đạo và đời cho những người sẽ không bao giờ có cơ hội ngồi trong lớp của thầy. Và sau cùng trao chính mình cho Thiên Chúa.
Ngày 24 tháng 9 năm nay, mừng thầy bước vào tuổi 102, xin đừng chỉ đếm những ngọn nến. Một trăm lẻ một ngọn nến nhiều quá. Hãy đếm những cuộc gặp gỡ. Đếm những học trò. Đếm những người đã nhờ một câu nói của thầy mà suy nghĩ lại. Đếm những chủng sinh đã học triết với thầy rồi thành linh mục. Đếm những người ngoài Công giáo từng được thầy giúp nhìn Kitô giáo bằng một ánh mắt khác. Đếm những trang sách. Đếm những băng giảng. Đếm những lần thầy cầm Chuỗi Mân Côi. Đếm những đêm một mình suy nghĩ. Đếm những thất bại hóa thành ân sủng. Đếm những ngã rẽ tưởng tình cờ nhưng sau này nhìn lại lại thấy bàn tay Chúa.
Và rồi sẽ nhận ra không thể đếm được.
Bởi một đời người không được đo bằng số năm người ấy tồn tại, mà bằng tình yêu đã được gieo vào đời.
Xin tạ ơn Chúa vì một thế kỷ Nguyễn Khắc Dương.
Tạ ơn Chúa vì cậu học trò từng thi trượt để bước qua cánh cửa Thiên Hựu.
Tạ ơn Chúa vì người thanh niên Nho giáo đã có can đảm bước xuống dòng nước Thanh Tẩy để trở thành Stêphanô.
Tạ ơn Chúa vì một tu sĩ Phanxicô đã biết tiếp tục phân định khi hành trình đời tu của mình không diễn ra như dự kiến.
Tạ ơn Chúa vì một sinh viên Sorbonne đã học được không chỉ triết học mà còn sự khiêm nhường của trí tuệ.
Tạ ơn Chúa vì một ông thầy Đà Lạt không biến triết học thành những xác chữ chết nhưng đem nó vào những câu chuyện rất người.
Tạ ơn Chúa vì một hành giả đã đi giữa Nho – Phật – Lão – Tây phương – Kitô giáo mà cuối cùng vẫn có thể quỳ trước Đức Kitô.
Tạ ơn Chúa vì những lời giảng tưởng đã thất lạc lại được tìm thấy.
Tạ ơn Chúa vì những con người như cha Trăng Thập Tự và các cộng sự đã kiên nhẫn nghe lại những cuộn băng cũ, cứu từng lời khỏi chìm vào quên lãng.
Tạ ơn Chúa vì khi một ông thầy đã gần như không còn đủ sức đi nữa thì những lời của thầy lại chuẩn bị lên đường.
Và trên hết, xin tạ ơn vì ở cuối mọi triết lý, mọi đạo lý và mọi biến động của cuộc đời, vẫn còn một điều không thay đổi: Thiên Chúa yêu con người.
Có lẽ thầy Dương đã mất hơn một thế kỷ để suy nghĩ về điều ấy.
Và có lẽ càng cuối đời, câu trả lời càng đơn giản.
Thiên Chúa là Tình Yêu.
Con người được tạo dựng để yêu.
Đời người là hành trình học yêu.
Đức tin là dám trao mình cho Tình Yêu ấy.
Cái chết là cánh cửa cuối cùng ta phải đi qua để gặp Đấng mình đã kiếm tìm suốt đời.
Mừng thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương bước vào tuổi 102. Xin Chúa gìn giữ thầy trong những ngày tháng thật quý giá còn lại của hành trình trần thế. Xin cho tuổi già của thầy trở thành một lời giảng không cần tiếng nói, một bài triết học không cần bảng đen, một bài thần học không cần chú thích: bài học của một con người đã đi rất xa để cuối cùng trở về thật gần với Thiên Chúa. Và xin cho những di cảo, những bài giảng, những cuộn băng cũ, những suy tư về TRIẾT LÝ – ĐẠO – ĐỜI sớm được biên tập cẩn trọng, để tiếng nói của một người thầy thuộc thế kỷ XX còn tiếp tục trò chuyện với những con người của thế kỷ XXI.
Bởi có những người thầy, ngày họ rời bục giảng không phải là ngày bài giảng kết thúc.
Có những bài giảng phải mất vài chục năm mới được người ta nghe lại.
Có những hạt giống phải nằm thật lâu trong đất mới thành cây.
Và có những cuộc đời, phải đợi đến khi đi gần hết một thế kỷ, người ta mới bắt đầu hiểu hết giá trị của sự hiện diện ấy.
Thầy Nguyễn Khắc Dương là một cuộc đời như thế.
Một người con của đất Nghệ.
Một người mang trong mình dấu ấn Nho gia.
Một người đã đi qua những va đập Đông – Tây.
Một Kitô hữu trở lại.
Một người từng mặc áo dòng Phanxicô.
Một sinh viên Sorbonne.
Một ông thầy triết.
Một người thầy của nhiều thế hệ.
Một kẻ “bên lề” theo cách thầy tự nhìn mình.
Một hành giả.
Một người cầm Chuỗi Mân Côi.
Và cuối cùng, chỉ là một người con rất nhỏ đang đi về Nhà Cha.
Chúc mừng sinh nhật thầy.
Chúc mừng một trăm lẻ một năm hồng ân.
Chúc mừng thầy bước vào tuổi 102.
Và xin cảm ơn thầy vì đã nhắc chúng ta rằng đời người đáng quý không phải vì sống được bao lâu, nhưng vì sau tất cả những câu hỏi, những thành công, những thất bại, những ngã rẽ và những cuộc kiếm tìm, ta có để cho đời mình dẫn tới Thiên Chúa hay không.
Lm. Anmai, CSsR



