Kỹ năng sống

HOANG ĐỊA: CHỖ ĐỜI BỊ LỘT MẶT NẠ – Lm. Anmai, CSsR

HOANG ĐỊA: CHỖ ĐỜI BỊ LỘT MẶT NẠ – Lm. Anmai, CSsR

Sau khi chịu phép rửa tại sông Giođan, Đức Giêsu được Thần Khí dẫn vào hoang địa. Vừa nghe tiếng Chúa Cha tuyên bố Người là Con yêu dấu, Người đã đi đến một nơi không có đám đông xác nhận điều ấy, không có môn đệ đứng quanh, không có phép lạ để người ta trầm trồ, không có một công việc hữu hình nào chứng minh rằng Người đang làm điều có ích. Có một sự thật rất sâu ở đây: trước khi công khai rao giảng, Đức Giêsu ở lại trong cô tịch; trước khi trao bánh cho dân, Người chịu đói; trước khi được người ta tìm kiếm, Người sống những ngày không ai tìm. Hoang địa không làm Người thành Con Thiên Chúa. Người đã là Con yêu dấu trước khi bước vào đó. Nhưng trong hoang địa, căn tính ấy được sống giữa cơn đói, sự cô độc và lời dụ dỗ phải chứng tỏ mình. Cha cũng vậy. Cha không trở thành linh mục nhờ những ngày hoạt động không ngơi. Cha đã được Chúa gọi, được Hội Thánh đặt tay và được sai đi. Thế nhưng có những lúc Cha sống như thể mình chỉ còn là linh mục khi lịch kín, nhà thờ đông, việc đang chạy và người ta còn cần mình. Một buổi chiều không ai gọi điện có thể làm Cha bồn chồn hơn một ngày đầy việc. Một tuần không có chương trình nổi bật có thể khiến Cha thấy mình vô dụng. Chính tại điểm ấy, hoang địa bắt đầu nói sự thật: Cha có tin mình vẫn là người được Chúa yêu khi không tạo ra điều gì để người khác nhìn thấy không?

Hoang địa trong Tin Mừng không phải chuyến nghỉ dưỡng thiêng liêng. Nơi ấy có cái đói thật, có thân xác mệt thật, có sự cô độc thật và có một tiếng nói biết chọn đúng lúc con người yếu để đưa ra lời đề nghị tưởng như hợp lý. Tên cám dỗ không bắt đầu bằng lời mời bỏ Chúa. Nó bắt đầu bằng câu: “Nếu ông là Con Thiên Chúa…” Nó chạm vào căn tính rồi đề nghị Đức Giêsu chứng minh căn tính bằng cách phục vụ một nhu cầu trước mắt. Cha hãy dừng lại ở chữ “nếu” ấy. Có bao nhiêu chữ “nếu” đang lặng lẽ điều khiển đời linh mục của Cha? Nếu giáo dân kính trọng tôi, tôi mới yên tâm rằng mình đang phục vụ tốt. Nếu bề trên ghi nhận, tôi mới thấy sự hy sinh của mình có giá trị. Nếu nhà xứ tươm tất, giáo xứ phát triển, lễ nghi đông đảo, các bài đăng được chia sẻ, tôi mới tin Chúa đang ở cùng tôi. Nếu không còn những điều ấy, tôi là ai? Kẻ cám dỗ muốn Cha đặt căn tính của mình vào chỗ có thể bị lấy đi. Đức Giêsu từ chối. Người là Con trước khi biến đá thành bánh; Người vẫn là Con khi chịu đói. Có lẽ một trong những cuộc hoán cải khó nhất của đời linh mục là tin điều này cho chính mình: Cha thuộc về Chúa trước khi Cha làm được một việc gì cho Chúa.

Cám dỗ thứ nhất đến bằng bánh. Bánh là điều tốt. Người đói cần ăn; người làm mục vụ cần được nghỉ, được chăm sóc sức khỏe, được sống trong những điều kiện đủ để phục vụ. Tin Mừng không yêu cầu Cha giả vờ rằng thân xác mình không mệt hay nhu cầu của mình không có thật. Chính Đức Giêsu đã đói. Điều cần phân định là lúc nào nhu cầu chính đáng trở thành tiếng nói cuối cùng. Có thể Cha đã khởi đầu bằng một lý do hợp lý: phải sửa nhà xứ để tiếp khách, phải sắm phương tiện để đi thăm các họ lẻ, phải có chút tiện nghi để giữ sức. Rồi rất chậm, gần như không nhận ra, sự tiện nghi được nâng thành điều không thể thiếu; điều không thể thiếu trở thành quyền lợi; quyền lợi trở thành lý do để Cha khó chịu khi bị từ chối. Khi ấy, cám dỗ không nằm ở cái bàn, chiếc xe hay căn phòng. Nó nằm ở câu Cha nói với lòng mình: “Tôi phục vụ nhiều như thế, tôi xứng đáng được điều này.” Câu ấy có thể đúng ở một mức độ nào đó, nhưng nó cũng có thể mở cửa cho một cách sống mà nơi đó sự hy sinh của Cha được đem ra làm giấy phép để khỏi phải xét mình. Cha cần bánh. Cha cần nghỉ. Nhưng Cha cần tự do hơn cả hai. Bởi khi phải có đúng thứ bánh mình muốn mới giữ được sự bình an, Cha đã để cơn đói ra lệnh cho mình.

Có những thứ bánh không ăn bằng miệng. Cha có thể đói lời khen đến mức nhớ rất lâu một câu chê và chỉ nghe thoáng qua mười lời cảm ơn. Cha có thể đói được cần đến, đến mức không chịu nổi việc một giáo dân giải quyết tốt công việc mà không hỏi Cha. Cha có thể đói cảm giác mình là người quan trọng nhất trong phòng, dù miệng vẫn nói về tinh thần phục vụ. Cha có thể đói sự thân mật, sự an ủi, một người luôn sẵn sàng nghe mình, đến mức dần dần bước qua những ranh giới mà trước đây Cha từng thấy rõ. Cha có thể đói tiền để làm việc lớn, rồi tự cho phép mình bớt minh bạch vì tin rằng mục đích tốt sẽ biện minh cho cách làm. Cha có thể đói sự an toàn, nên tránh một lời cần nói, tránh một người cần gặp, tránh một quyết định công bằng có thể khiến người có thế lực phật lòng. Những cơn đói ấy không biến Cha thành người xấu. Chúng nhắc rằng Cha là con người. Nhưng khi Cha không chịu gọi đúng tên chúng, chúng sẽ học cách nói bằng giọng của sứ mạng. “Tôi cần được quý mến để làm mục vụ.” “Tôi phải nắm hết mọi việc vì giáo xứ cần ổn định.” “Tôi phải giữ quan hệ này vì người ấy giúp nhà thờ rất nhiều.” Cơn đói được khoác áo phục vụ sẽ khó bị nhận ra hơn cơn đói nói thẳng tên mình. Hoang địa tháo chiếc áo ấy xuống, để Cha có thể thành thật trước Chúa mà không cần diễn vai một người không bao giờ thiếu thốn.

Đức Giêsu đáp: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.” Người không phủ nhận bánh. Người từ chối biến bánh thành toàn bộ sự sống. Điều ấy có nghĩa gì cho Cha vào sáng hôm nay? Có thể là đừng mở điện thoại trước khi mở Tin Mừng, bởi tin nhắn đầu ngày rất dễ giành quyền quyết định tâm trạng cả ngày. Có thể là dám dùng bữa đơn giản mà không tự thương hại mình. Có thể là nhận một lời góp ý mà không lập tức đi tìm người khác để xác nhận mình đúng. Có thể là nói với Chúa: “Con đang muốn được khen. Con muốn ai đó thấy việc con đã làm. Con không giả vờ là mình không cần điều ấy. Nhưng xin đừng để nhu cầu ấy điều khiển con.” Lời Chúa không làm bụng người đang đói tự nhiên no. Lời Chúa giữ cho người đang đói khỏi tưởng rằng mình phải có được điều mình muốn bằng mọi giá. Người linh mục đã học sống với một cơn đói chưa được đáp ứng có thể gần người nghèo hơn, kiên nhẫn hơn với người yếu đuối và tự do hơn trước những món quà đi kèm đòi hỏi.

Cám dỗ thứ hai đưa Đức Giêsu lên nóc Đền Thờ. Đó là nơi thánh, nơi người ta dễ nghĩ rằng mọi chuyện xảy ra đều mang màu sắc của Thiên Chúa. Tên cám dỗ còn biết dùng lời Kinh Thánh để đề nghị một màn chứng tỏ ngoạn mục: cứ gieo mình xuống, thiên thần sẽ đỡ. Đây là cám dỗ đáng sợ cho người thường xuyên ở gần những điều thánh. Không phải lúc nào nó cũng bảo Cha phạm một điều hiển nhiên sai. Đôi khi nó mời Cha làm một việc có vẻ rất đạo đức, nhưng ở tâm điểm là nhu cầu được nhìn thấy. Một thánh lễ có thể được chuẩn bị chu đáo vì yêu mến Chúa và tôn trọng dân Người; cũng thánh lễ ấy có thể trở thành nơi Cha âm thầm tìm một hình ảnh đẹp về mình. Một bài giảng có thể giúp người nghe gặp Tin Mừng; cũng bài giảng ấy có thể được Cha cân đo chủ yếu bằng số người đến khen sau lễ. Một chương trình bác ái có thể đáp lại nỗi thiếu thốn của người nghèo; cũng chương trình ấy có thể khiến người nhận phải đứng trong khung hình để chứng nhận lòng tốt của người cho. Các dấu chỉ bên ngoài không tự nói hết sự thật của trái tim. Vì thế hoang địa hỏi một câu rất riêng: nếu việc tốt ấy không ai biết là do Cha làm, Cha còn muốn làm không?

Nhu cầu được nhìn nhận không phải điều đáng xấu hổ. Người linh mục cũng cần sự nâng đỡ và khích lệ. Một lời cảm ơn chân thành có thể giúp Cha đi qua nhiều ngày mỏi mệt. Nhưng vinh quang bắt đầu chiếm chỗ của Chúa khi Cha không còn đủ bình an để làm điều đúng trong âm thầm. Nó lộ ra lúc Cha sốt ruột vì người khác được nhắc tên; lúc Cha bực bội vì buổi lễ không đông như dự tính; lúc Cha xem một con số trên màn hình như phán quyết về giá trị bài giảng; lúc Cha kể một câu chuyện mục vụ với nhiều chi tiết hơn mức cần thiết vì muốn người nghe thấy mình đã tận tâm biết bao. Nó cũng lộ ra ở nỗi đau không tương xứng khi Cha bị hiểu lầm. Bị hiểu lầm là điều đau, và có lúc Cha cần giải thích để bảo vệ sự thật. Nhưng nếu một hiểu lầm nhỏ khiến Cha mất ngủ nhiều đêm, có thể hoang địa đang cho thấy hình ảnh của mình đã trở thành nơi Cha gửi quá nhiều sự sống. Cha không thể kiểm soát cách mọi người nhìn Cha. Cha có thể giữ sự thật, đón nhận lời sửa, giải thích khi cần và để thời gian làm phần việc của nó. Đức Giêsu đã không gieo mình khỏi nóc Đền Thờ để buộc người ta, hay buộc Chúa Cha, xác nhận Người là Con. Cha cũng không cần biến đời mình thành một chuỗi bằng chứng công khai rằng mình là một linh mục tốt.

Có một thứ vinh quang tinh vi hơn: vinh quang của người tự nhận mình chẳng cần vinh quang. Cha có thể kể về sự giản dị của mình với một niềm tự hào kín đáo. Cha có thể lấy việc mình không xuất hiện trên mạng làm lý do để xem thường người đang dùng mạng cách tốt lành. Cha có thể nói mình chỉ muốn sống âm thầm, nhưng lại mong người khác nhận ra sự âm thầm ấy và cảm phục. Hoang địa không để Cha yên với những nhãn hiệu đẹp, kể cả nhãn hiệu “khiêm tốn”. Nó đưa Cha về một câu hỏi khó hơn: trong việc này, tôi đang yêu ai? Nếu Cha thấy câu trả lời chưa trong sạch, xin đừng vội nản. Trái tim con người thường pha trộn. Người đang học khiêm nhường không phải người không bao giờ muốn được khen, mà là người có thể nhận ra ham muốn ấy, đem nó đến trước Chúa và tiếp tục làm điều lành ngay cả khi chẳng được khen. Có khi một hành vi rất nhỏ sẽ dạy Cha nhiều hơn một bài suy niệm lớn: nhường cho người khác trình bày kết quả chung; cảm ơn người cộng tác trước mặt giáo dân; làm một việc cần thiết rồi không kể lại; cầu nguyện cho người vừa được trao cơ hội mà Cha từng mong cho mình.

Cám dỗ thứ ba là quyền lực. Trên núi cao, kẻ cám dỗ bày ra các vương quốc và hứa trao chúng nếu Đức Giêsu cúi xuống thờ lạy nó. Lời đề nghị ấy phơi bày một sự trao đổi: được quyền trên nhiều thứ, với cái giá là để lòng mình thuộc về một chủ khác. Trong đời linh mục, quyền lực hiếm khi xuất hiện dưới hình dạng thô sơ ấy. Nó bước vào cùng với trách nhiệm thật. Cha phải quyết định về nhân sự, tài chính, chương trình, việc xây dựng, kỷ luật, phụng vụ và vô số chuyện thường ngày. Có những lúc quyết đoán là cần thiết; chậm quyết định có thể làm hại cộng đoàn. Nhưng quyền được quyết rất dễ làm người ta quen với việc không cần lắng nghe. Ban đầu Cha chỉ cắt ngang một ý kiến vì đang vội. Sau đó Cha thấy giải thích là mất thời gian. Dần dần, người cộng tác học cách đoán ý Cha thay vì nói điều họ nghĩ. Cuộc họp vẫn có mặt nhiều người, nhưng thực ra không còn cuộc trao đổi nào. Giáo dân im lặng trước mặt Cha và nói thật ở nơi khác. Người trẻ rút lui. Người từng góp ý một lần rồi thôi. Cha có thể tưởng mọi sự đang thuận vì ít ai phản đối, trong khi cộng đoàn đã học rằng nói thật không còn an toàn.

Quyền lực trong Hội Thánh là một thử thách riêng vì nó được trao trong ngôn ngữ phục vụ. Cha có thể nói “vì ích chung” và thật lòng muốn ích chung, nhưng ích chung ấy vẫn cần được kiểm chứng bằng những người chịu hậu quả từ quyết định của Cha. Một gia đình nghèo có dám trình bày khó khăn của họ không? Người phụ nữ đang gánh phần lớn công việc giáo xứ có được hỏi ý trước khi thêm việc cho chị không? Người cộng tác có thể nói “con nghĩ khác” mà không sợ mất chỗ đứng không? Khi sai, Cha có thể nhận lỗi rõ ràng mà không thêm một bài giải thích dài để bảo toàn uy thế không? Cơn đói quyền lực không chỉ là muốn cai trị. Có khi đó là nỗi sợ mất kiểm soát, sợ người khác làm không đúng ý, sợ nếu mình buông một việc thì người ta sẽ thấy mình không còn cần thiết. Người thích kiểm soát thường rất mệt. Họ phải luôn biết, luôn xét, luôn giữ chìa khóa cuối cùng. Hoang địa cho Cha thấy sự mệt ấy và hỏi: Cha đang gánh một trách nhiệm Chúa giao, hay đang gánh cả những điều Cha không dám tin Chúa có thể làm qua người khác?

Đức Giêsu không nhận các vương quốc theo cách kẻ cám dỗ đề nghị. Người đi con đường của Chúa Cha, con đường sẽ dẫn qua phục vụ, bị khước từ và thập giá. Cha không được gọi để từ bỏ trách nhiệm mục tử. Cha được gọi để thi hành trách nhiệm ấy mà không quỳ trước sức hấp dẫn của quyền lực. Điều đó đòi những việc rất cụ thể: phân biệt điều phải giữ vì bổn phận với điều Cha chỉ muốn giữ vì thói quen; công khai những gì cần minh bạch; nghe trọn một lời góp ý trước khi đáp; để người có chuyên môn làm việc của họ; tạo điều kiện cho người trẻ trưởng thành dù họ sẽ làm khác cách Cha từng làm; hỏi người yếu thế xem quyết định này tác động thế nào đến họ. Một linh mục có thể nói rất nhiều về Chúa là Đấng quan phòng, nhưng nếu không thể giao cho người khác một việc vừa sức, lời nói ấy chưa đi hết vào tay mình. Một linh mục có thể giảng về Đức Kitô rửa chân, nhưng nếu mọi người chỉ được phục vụ theo phương án ngài đã định sẵn, chiếc khăn vẫn chưa chạm đất.

Ba cám dỗ ấy không đứng riêng thành ba ngăn rõ rệt. Bánh, vinh quang và quyền lực thường nắm tay nhau. Cha muốn một chương trình lớn vì tin nó có ích; rồi cần tiền để làm; rồi cần người ủng hộ; rồi bắt đầu tránh những điều có thể làm mất lòng người ủng hộ; rồi mong công việc được công nhận để chứng minh các nhượng bộ của mình là đáng giá. Hoặc Cha bắt đầu từ một mối quan tâm rất đẹp dành cho giáo xứ, nhưng vì sợ việc thất bại, Cha giữ quyền quyết định quá chặt; vì phải gánh mọi việc, Cha thấy mình có quyền được bù đắp; vì cần sự bù đắp, Cha khó nhận ra những nhu cầu riêng đang dẫn mình đi đâu. Điều nguy hiểm của cám dỗ là nó không luôn đến trong một quyết định lớn. Nó lớn lên qua nhiều lời tự cho phép nhỏ, nhiều lần trì hoãn xét mình, nhiều buổi tối mệt quá nên chọn điều dễ chịu nhất. Không ai thức dậy một sáng và bỗng dưng thấy mình đã thờ bánh, danh hay quyền. Thường phải mất một quãng đường dài để đi lạc; rồi đến một ngày hoang địa mở ra, Cha mới thấy những dấu chân mình đã để lại.

Bởi vậy, hoang địa là một ân huệ khó chịu. Nó lấy bớt những tiếng động đang giúp Cha không nghe thấy lòng mình. Khi một công việc đột nhiên dừng lại, Cha có thể thấy mình nóng nảy mà không hiểu vì sao. Khi một kỳ nghỉ thật sự bắt đầu, Cha có thể cầm điện thoại lên hết lần này đến lần khác, dù không mong tin nhắn nào cụ thể. Khi bệnh buộc Cha nằm yên, Cha có thể thấy khó chịu vì người khác vẫn tiếp tục làm việc mà không có mình. Khi chuyển xứ, về hưu hoặc được giao một công việc ít ai thấy, Cha có thể đau vì cảm giác bị lãng quên. Xin đừng vội kết án mình vì những cảm giác ấy. Chúng là những điều cần được chăm sóc và phân định. Nhưng cũng đừng vội lấp chúng bằng một việc mới. Hãy để chúng nói hết điều chúng biết. Biết đâu bên dưới sự sốt ruột là nỗi sợ mình chẳng đáng yêu nếu không hữu ích. Biết đâu bên dưới cơn giận vì bị bỏ qua là một vết thương cũ chưa được gọi tên. Biết đâu bên dưới thói quen kiểm soát là nỗi kinh hoàng trước một lần thất bại. Chúa không dẫn Cha vào hoang địa để chế giễu những vết thương ấy. Người đưa Cha đến chỗ đủ yên để không phải dùng cả giáo xứ che chúng lại.

Có những buổi chiều nhà xứ yên đến mức Cha nghe rõ tiếng quạt, tiếng xe ngoài đường và tiếng một ý nghĩ mình đã tránh suốt nhiều tháng. Cha nhớ một người mình đối xử thiếu công bằng. Cha nhớ lần mình lấy sự mệt mỏi làm cớ để nói nặng với người không thể đáp trả. Cha nhớ món tiền mình đã quyết quá nhanh. Cha nhớ một tình cảm đang đi xa hơn mức lành mạnh. Cha nhớ mình đã lâu không cầu nguyện ngoài những giờ kinh phải đọc. Những phút ấy có thể làm Cha muốn đứng dậy ngay, mở một bài giảng, gọi cho ai đó, lướt màn hình hoặc bắt tay vào dọn một ngăn tủ. Việc nào cũng có vẻ tốt hơn ngồi lại với sự thật. Nhưng hoang địa chỉ bắt đầu sinh hoa trái khi Cha ở lại thêm một chút. Không cần giải quyết cả đời trong một buổi chiều. Chỉ cần nói: “Lạy Chúa, con thấy điều này. Con chưa biết phải làm gì cho đúng. Xin ở đây với con.” Một lời cầu nguyện nghèo như thế có thể thật hơn nhiều câu đẹp được đọc mà lòng vẫn ở xa.

Thinh lặng không phải lúc nào cũng đem đến bình an ngay. Có người vừa ngồi xuống đã cảm thấy mệt. Có người thấy buồn, giận hoặc trống rỗng. Có người lo rằng cầu nguyện của mình không còn sốt sắng. Cha đừng vội lấy những cảm giác đầu tiên làm kết luận về tình trạng linh hồn mình. Khi một căn phòng đã ồn quá lâu, lúc tiếng máy tắt đi, ta mới nghe tiếng vật dụng lỏng, tiếng nước rò, tiếng gió qua khe cửa. Thinh lặng làm lộ những điều đã ở đó. Nó cũng cho Cha cơ hội phân biệt cơn mệt cần được nghỉ ngơi, vết thương cần được chia sẻ với người đáng tin, tội cần được xưng thú, và nỗi sợ cần được đem ra trước Chúa nhiều lần. Có những điều Cha nên nói với cha linh hướng, với một người anh em linh mục đủ kín đáo, hoặc với người có khả năng giúp Cha hiểu mình. Hoang địa không đòi Cha một mình chữa tất cả. Đức Giêsu ở một mình trước cám dỗ; còn Cha, một con người cần được nâng đỡ, không phải chứng tỏ sức mạnh bằng cách giấu mọi cuộc chiến.

Một dấu hiệu giúp Cha nhận ra mình đang tránh hoang địa là sự khó chịu trước một khoảng trống không có mục đích. Nếu ngồi yên mười phút khiến Cha lập tức thấy mình đang phí thời giờ, hãy nhẹ nhàng hỏi: ai đã dạy tôi rằng chỉ thời gian tạo ra kết quả mới có giá trị? Nếu Cha cảm thấy phải kể cho ai đó biết mình vừa cầu nguyện, hãy hỏi: tại sao một cuộc gặp gỡ riêng với Chúa chưa đủ để tôi vui? Nếu Cha chỉ có thể nghỉ khi hoàn toàn kiệt sức, hãy hỏi: tôi có tin Chúa vẫn chăm sóc giáo xứ khi tôi ngủ không? Những câu hỏi ấy không nhằm buộc tội. Chúng giúp Cha nhận ra vị trí thật của công việc trong đời mình. Công việc là nơi Cha trao tình yêu. Nó không thể là nguồn duy nhất cho biết Cha đáng được yêu. Giáo xứ là đoàn chiên Chúa trao Cha chăm sóc. Giáo xứ không thể trở thành thứ Cha cần giữ trong tay để khỏi đối diện sự mong manh của mình.

Ngày thứ hai này, có lẽ Cha muốn làm điều gì lớn: tắt mọi thiết bị cả ngày, quyết định một chương trình khổ chế nghiêm ngặt, thay đổi toàn bộ lịch sống. Nếu Chúa thật sự mời Cha làm thế, xin cứ phân định. Nhưng hôm nay có thể bắt đầu nhỏ hơn và thật hơn. Hãy chọn một khoảng thời gian đủ rõ: hai mươi phút trước Nhà Tạm, một giờ đi bộ không mang tai nghe, một buổi chiều không mở mạng khi không có việc cần. Đừng dùng khoảng ấy để soạn bài giảng hay lập kế hoạch mục vụ. Hãy mang đến đó một câu Lời Chúa, chỉ một câu. Đọc chậm. Đọc lại. Để một chữ ở lại với Cha. Nếu trí óc đi lang thang, trở về. Nếu có ý nghĩ khó chịu, đừng đánh nhau với nó ngay; hãy xem nó đang chỉ vào cơn đói nào. Cha muốn được an ủi? Muốn được thấy? Muốn được bảo đảm rằng mình vẫn quan trọng? Hãy nói thật với Chúa. Hoang địa không có giải thưởng cho người kể về mình hay nhất. Nó mở ra cho người thôi che giấu.

“Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh.” Có lẽ khi đọc câu ấy, Cha thấy mình đang rất cần một thứ bánh nào đó. Đừng ép mình tuyên bố rằng mình không cần. Hãy đặt cái cần ấy trong tay Chúa: “Lạy Chúa, con cần được nghỉ, xin dạy con nghỉ mà không mặc cảm. Con cần một lời khích lệ, xin dạy con đón nhận mà không lệ thuộc. Con cần sự cộng tác, xin dạy con mời gọi mà không điều khiển. Con cần được yêu, xin giữ con khỏi bắt một người khác gánh điều chỉ mình Chúa mới gánh nổi.” Lời cầu ấy cụ thể vì cám dỗ luôn cụ thể. Một chiến thắng tưởng tượng trên những ham muốn nói chung sẽ ít giúp Cha khi đứng trước một cuộc gọi, một khoản tiền, một lời khen hay một người làm Cha thấy được thấu hiểu. Hãy xin ơn ngay tại nơi Cha biết mình yếu. Ơn Chúa không khinh chỗ yếu ấy.

Sau hoang địa, Đức Giêsu đi ra và bắt đầu loan báo Tin Mừng. Người không ở lại đó để giữ riêng cho mình một đời sống tinh tuyền xa con người. Hoang địa làm rõ Người thuộc về ai, để khi đi vào làng mạc, chạm đến người bệnh, ngồi ăn với người tội lỗi, đối diện những đám đông và chịu sự chống đối, Người vẫn trung thành với Chúa Cha. Cha cũng đi vào hoang địa để trở về với đoàn chiên bằng một trái tim sáng hơn. Khi Cha không còn quá đói lời khen, Cha sẽ dễ nói một lời thật mà không tìm cách làm vừa lòng tất cả. Khi Cha không phải giữ quyền trên mọi sự, Cha sẽ nhận ra các ân huệ Chúa đã đặt nơi giáo dân. Khi Cha biết mình cần được thương xót, Cha sẽ bớt khắc nghiệt với người đang vật lộn. Khi Cha đã ngồi trước Chúa mà không có gì để trình bày, Cha sẽ bớt đòi người đến gặp mình phải có thành tích để xứng đáng được lắng nghe. Sự thinh lặng của Cha lúc ấy có thể trở thành một chỗ nghỉ cho người khác.

Hoang địa vẫn còn đó sau ngày thứ hai. Nó sẽ trở lại trong một đêm trực bệnh viện, một lần bị từ chối, một mùa mục vụ ít kết quả, một kỳ thuyên chuyển ngoài dự tính, một tuổi già phải để người khác làm thay. Cha không thể chuẩn bị sẵn một câu trả lời dễ dàng cho mọi lần trở lại ấy. Nhưng Cha có thể tập một điều ngay hôm nay: khi cơn đói lên tiếng, đừng vội để nó tự xưng là Chúa. Hãy nhận ra nó, gọi tên nó và ở lại trước Đấng đã gọi Cha là của Người. Đức Giêsu đã chịu đói trong hoang địa mà không đánh đổi mối hiệp thông với Chúa Cha. Xin Người dạy Cha chịu một khoảng thiếu, một lần không được chú ý, một giới hạn của quyền mình, mà vẫn tin sự sống của mình đang được gìn giữ. Đến lúc ấy, Cha có thể bước ra khỏi hoang địa, nhận lấy bánh với lòng biết ơn, đón lời khen mà không bị nó giữ lại, thi hành quyền mục tử mà không bắt ai cúi xuống trước mình. Hoang địa đã lột mặt nạ của cám dỗ. Xin nó cũng giúp Cha nhận ra khuôn mặt thật của mình: một người con đang được Chúa yêu, một người môn đệ vẫn cần nghe Lời, một người mục tử chỉ có thể trao điều mình đã để Chúa nuôi dưỡng.

“Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.” (Mt 4,4)

Xét mình: Trong ba cơn đói bánh, danh và quyền, cơn đói nào đã ảnh hưởng rõ nhất đến các quyết định của Cha trong năm nay? Có một việc mục vụ nào Cha đang dùng để trì hoãn một cuộc gặp gỡ thành thật với Chúa, với người khác hoặc với chính mình? Khi không ai gọi, không ai cần và không ai khen, Cha thường nghĩ gì về giá trị của mình? Cha đang giữ một quyền quyết định nào vì trách nhiệm, và quyền nào vì sợ buông tay? Nếu có bốn mươi giờ thinh lặng thật, điều Cha sợ nghe thấy là gì? Hôm nay Cha có thể dành một khoảng thinh lặng cụ thể nào để bắt đầu nghe?

Xin ơn ngày thứ hai: Lạy Đức Giêsu đã chịu đói trong hoang địa, xin cho con ơn dám nhìn nhận cơn đói của mình mà không để nó làm chủ. Xin cho con biết nhận bánh với lòng biết ơn, làm việc lành dù không ai thấy, và dùng quyền được trao để nâng người khác đứng lên. Khi con muốn chạy khỏi thinh lặng, xin giữ con ở lại với Chúa. Khi con muốn chứng tỏ mình là ai, xin nhắc con nhớ con đã thuộc về Chúa. Xin cho con ơn dám đói mà không bán mình. Amen.

Bài viết liên quan

Back to top button
error: Content is protected !!