Phụng vụSuy niệm ngày thường

20 BÀI GIẢNG LỄ THÁNH TÊRÊSA HÀI ĐỒNG GIÊSU – Lm. Anmai, CSsR

THÁNH TÊRÊSA HÀI ĐỒNG GIÊSU: TÌNH YÊU BẮT ĐẦU TỪ ĐIỀU BÉ NHỎ

Suy niệm nhân lễ thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu – Lc 10,17–24

Có những lúc ta nghĩ rằng, muốn làm được điều gì cho Chúa thì trước hết mình phải trở nên một người thật lớn: có khả năng đặc biệt, có sức ảnh hưởng, có một công việc khiến nhiều người biết đến. Ta nhìn những nhu cầu của Hội Thánh, nhìn những đau khổ của thế giới, rồi nhìn lại đôi tay mình mà thấy quá ít ỏi. Một người đang bận chăm cha mẹ già, một người mẹ quanh quẩn với con nhỏ, một em thiếu nhi còn phải nhờ người lớn đưa đến nhà thờ, một người bệnh không thể bước ra khỏi phòng: những người ấy có thể làm gì cho Nước Chúa? Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu trả lời bằng chính cuộc đời mình. Chị sống kín đáo trong một đan viện, làm những việc nhỏ, gặp những con người quen thuộc mỗi ngày. Thế mà từ cuộc đời tưởng như rất hẹp ấy, chị mở cho bao người một con đường đến với Chúa. Con đường ấy bắt đầu khi ta thôi đo tình yêu bằng tầm vóc của công việc, và bắt đầu đặt cả trái tim vào việc đang ở trước mặt.

Trong bài Tin Mừng, các môn đệ trở về với niềm vui vì thấy việc mình làm sinh hoa trái. Đức Giêsu đón nhận niềm vui ấy, nhưng Người đưa họ đến một niềm vui sâu hơn: hãy vui vì tên anh em đã được ghi trên trời. Người như muốn nhắc các môn đệ rằng trước khi họ làm được điều gì cho Thiên Chúa, họ đã được Thiên Chúa yêu thương. Trước khi có một thành quả để kể, họ đã có một chỗ trong lòng Cha. Đó cũng là nền tảng của “con đường nhỏ” nơi thánh Têrêsa. Nếu chỉ vui khi mình thành công, ta sẽ dễ nản lòng lúc công việc âm thầm hoặc thất bại. Nếu chỉ tin mình đáng yêu khi mình giỏi giang, ta sẽ sợ để Chúa thấy sự yếu đuối của mình. Nhưng một người con có thể đến với cha ngay cả khi tay trắng. Một người con có thể để mình được bế lên khi không đủ sức bước tiếp. Têrêsa hiểu mình bé nhỏ, và chính nơi sự bé nhỏ ấy, chị học tín thác.

Tin Mừng còn kể rằng Đức Giêsu hân hoan trong Thánh Thần và ngợi khen Chúa Cha vì đã mặc khải cho những người bé mọn. Hình ảnh ấy thật đẹp: Đức Giêsu vui mừng vì những người bé nhỏ có thể nhận biết Cha. Người không đợi họ trở thành những bậc thông thái mới mở lòng với họ. Người mời họ đến trong sự thật của mình. Bé nhỏ theo Tin Mừng không có nghĩa là từ chối trưởng thành, ngại học hỏi hay trốn tránh trách nhiệm. Bé nhỏ là biết mình cần Chúa; là có thể nói “con không tự cứu được mình”; là làm điều tốt mà không cần mọi người nhìn thấy; là nhận lỗi mà không thấy cả giá trị đời mình sụp đổ. Một đứa trẻ biết đưa bàn tay ra khi cần giúp đỡ. Người lớn chúng ta nhiều khi phải đi một quãng đường rất dài mới học lại được cử chỉ giản dị ấy.

Nhưng tin tưởng vào tình yêu Chúa không làm cho đời sống thánh Têrêsa trở nên dễ dàng. Chị vẫn phải sống giữa những khác biệt tính tình, những lời nói khiến mình chạnh lòng, những việc lặp đi lặp lại và cả những ngày thân xác yếu đau. Chị không yêu một nhân loại xa xôi chỉ hiện diện trong ý nghĩ; chị tập yêu người chị em đang sống ngay cạnh mình. Người ấy có thể có thói quen làm chị khó chịu. Người ấy có thể không đáp lại sự dịu dàng của chị. Trong hoàn cảnh ấy, tình yêu không còn là một ý tưởng đẹp để viết vào sổ tay. Tình yêu trở thành lựa chọn rất cụ thể: giữ lại một lời sắc nhọn đang định bật ra, giúp một việc mà không kể công, đối xử tử tế với người mình chưa thấy dễ mến. Những điều ấy nhỏ đến nỗi không ai ghi vào sử sách. Nhưng chính trong những điều ấy, trái tim được uốn nắn để ngày càng giống trái tim Đức Giêsu.

Ta thường mong Chúa trao cho mình một cơ hội lớn để chứng tỏ lòng yêu mến. Có lẽ hôm nay Người đang trao cho ta một cơ hội nhỏ hơn và khó hơn. Đó là người thân vừa nói một câu không đúng lúc, khi ta đã mệt. Đó là người đồng nghiệp nhận phần được khen, còn phần khó nhọc thuộc về ta. Đó là một đứa trẻ hỏi đi hỏi lại trong lúc ta muốn yên tĩnh. Đó là người già kể một câu chuyện mà ta đã nghe nhiều lần. Ta có thể làm một việc rất tốt mà lòng đầy bực bội, hoặc làm chính việc ấy với sự hiện diện và lòng thương. Nhìn từ bên ngoài, hai hành động gần như giống nhau. Nhưng Chúa thấy trái tim. Têrêsa mời ta đem tình yêu vào nơi ít ai nghĩ đến: nét mặt khi lắng nghe, giọng nói khi trả lời, sự nhẫn nại trong một phút bị quấy rầy, lòng trung thành với một trách nhiệm không có tiếng vỗ tay.

Có người nghe nói về “con đường nhỏ” rồi tưởng đó là con đường dành cho ai chưa thể làm việc lớn. Thật ra, yêu trong việc nhỏ đòi một sức mạnh rất thật. Ta có thể giữ vẻ dịu dàng với người lạ trong một buổi gặp, nhưng để dịu dàng với người nhà sau nhiều năm chung sống thì cần hoán cải từng ngày. Ta có thể nói về hòa bình cho cả thế giới, nhưng bước đầu của hòa bình là không dùng một câu nói để làm người bên cạnh đau thêm. Ta có thể cầu nguyện cho Hội Thánh nên thánh, rồi trong chính cộng đoàn của mình lại nuôi một lời đồn, một sự khinh thường, một mối giận âm ỉ. Têrêsa dẫn ta về chỗ gần nhất mà ta có thể bắt đầu. Nếu muốn tình yêu lan xa, hãy để nó đi qua cách mình đối xử với con người cụ thể hôm nay.

Điều này không có nghĩa là phải giả vờ không đau, hoặc để người khác làm hại mình mãi. Có những lúc yêu thương đòi ta nói rõ sự thật, đặt một giới hạn, tìm sự giúp đỡ và bảo vệ người dễ bị tổn thương. Tha thứ cũng không xóa bỏ trách nhiệm của người gây hại. Sự dịu dàng của Tin Mừng không phải sự cam chịu thiếu sáng suốt. Khi nhìn vào thánh Têrêsa, ta thấy một con người quyết tâm không để sự khó chịu có tiếng nói cuối cùng trong lòng mình. Chị đem cả những cảm xúc chưa đẹp đến với Chúa, rồi chọn một hành động phù hợp với tình yêu. Đôi khi hành động ấy chỉ là một nụ cười. Đôi khi đó là im lặng để khỏi làm đau người khác. Và đôi khi, với chúng ta hôm nay, đó là một lời nói thẳng nhưng hiền, để mối tương quan có cơ hội được chữa lành.

Có lẽ điều khiến “con đường nhỏ” chạm đến nhiều tâm hồn là vì nó không đòi ta chờ đến một ngày lý tưởng. Ta không cần đợi bớt bận mới bắt đầu yêu. Không cần đợi gia đình hết những điều phức tạp. Không cần đợi mình hết yếu đuối. Người đang chăm sóc một bệnh nhân có thể đặt tình yêu vào ly nước đưa tận tay. Người làm việc xa nhà có thể gọi về và thật sự lắng nghe. Một em nhỏ có thể đến ngồi bên bạn đang bị bỏ ra ngoài cuộc chơi. Một linh mục có thể gác lại việc mình đang định nói để nghe hết câu chuyện của người đến gặp. Một người đã lỡ làm tổn thương người khác có thể bắt đầu bằng lời xin lỗi không kèm lời bào chữa. Chẳng việc nào trong đó làm cả thế giới đổi khác ngay lập tức. Nhưng nó làm cho một người bớt cô độc; đôi khi, với người ấy, đó đã là cả một thế giới.

Thánh Têrêsa còn giúp ta đối diện với nỗi sợ sâu kín: sợ rằng đời mình quá bình thường nên sẽ bị quên đi. Có những người dành cả cuộc đời lo cho người khác mà hiếm khi được cảm ơn. Có những người cầu nguyện âm thầm cho gia đình suốt nhiều năm nhưng vẫn chưa thấy điều mình mong. Có những người mang bệnh, không còn làm được những việc từng làm, và tự hỏi mình có còn ích gì. Tin Mừng nói với họ rằng giá trị của một con người không biến mất khi khả năng hoạt động giảm đi. Chúa biết tên ta. Người thấy tình yêu được trao đi giữa đêm không ngủ, trong một lời cầu rất ngắn, trong nỗ lực đón nhận ngày hôm nay. Ta không cần biến đau khổ thành điều đẹp đẽ để Chúa yêu mình. Ta có thể than thở với Người, xin Người ở cùng, và để người khác chăm sóc mình. Biết đón nhận tình thương cũng là một cách bước đi trên con đường nhỏ.

Với những người phục vụ trong Hội Thánh, lời nhắc của thánh Têrêsa lại càng gần. Ta có thể chuẩn bị một buổi lễ chu đáo, tổ chức nhiều hoạt động, nói những lời rất đúng về bác ái, rồi vì quá bận mà không nhận ra một người đang lặng lẽ buồn. Ta có thể muốn công việc tông đồ sinh nhiều hoa trái đến mức trở nên khắt khe với cộng sự. Ta có thể vui khi được cần đến, nhưng đau khi không được ghi nhận. Khi ấy, lời Đức Giêsu mời các môn đệ vui vì được thuộc về Cha giúp ta trở lại nguồn mạch. Công việc phục vụ rất quý; người được phục vụ còn quý hơn. Một cộng đoàn có thể thiếu nhiều phương tiện, nhưng nếu người đến đó được lắng nghe, được đối xử công bằng và được đón nhận với lòng nhân hậu, họ có thể nhận ra khuôn mặt Chúa. Tình yêu cần được thấy trong cách ta cùng làm việc, cách ta giải quyết bất đồng, và cách ta đối xử với người chẳng mang lại lợi ích nào cho mình.

Ta cũng đừng hiểu lầm sự bé nhỏ là coi thường ước mơ lớn. Têrêsa mang trong lòng một khát vọng bao la. Chị muốn yêu Chúa và yêu con người vượt khỏi những bức tường đan viện. Chị không thể tự mình đi đến mọi nơi, nhưng chị không để giới hạn ấy làm trái tim khép lại. Chị trao cho Chúa những việc mình có thể làm, và tin rằng Chúa có thể cho tình yêu ấy sinh hoa trái theo cách chị không nhìn thấy. Đó là một hy vọng rất cần cho thời đại chúng ta. Trước đau khổ, bạo lực và chia rẽ, một cử chỉ hiền lành có thể trông quá ít. Nhưng mỗi lần ta từ chối làm tổn thương thêm, mỗi lần ta bênh vực người yếu thế, mỗi lần ta chọn sự thật với lòng thương, ta đang góp phần làm cho thế giới bớt tối. Tình yêu nhỏ không thay thế trách nhiệm sửa chữa những bất công lớn; nó cho ta một trái tim để bền bỉ thực hiện trách nhiệm ấy.

Vậy hôm nay, nếu muốn mừng lễ thánh Têrêsa, ta có thể bắt đầu từ đâu? Hãy nghĩ đến một người cụ thể. Có thể đó là người ta đã lâu không hỏi thăm; một người ta vẫn lịch sự gặp mặt nhưng âm thầm xét đoán; một người trong gia đình đang cần được nghe một câu dịu dàng; hoặc chính bản thân ta, đang mệt mà cứ tự trách mình chưa đủ tốt. Hãy xin Chúa chỉ cho ta một việc yêu thương có thể làm trong ngày hôm nay. Rồi hãy làm việc ấy cách đơn sơ. Đừng đợi cảm xúc trở nên hoàn hảo. Đừng đợi chắc chắn người kia sẽ hiểu. Có những hạt giống được gieo mà người gieo không bao giờ thấy lúc chúng nảy mầm. Chúa thấy.

Sau cùng, điều làm “con đường nhỏ” trở thành đường nên thánh chính là Đức Giêsu. Têrêsa không chỉ dạy ta cố gắng tử tế hơn. Chị chỉ ta đến với Đấng đã yêu ta trước, Đấng biết rõ cả những giới hạn mà ta cố che giấu. Khi mệt, ta có thể tựa vào Người. Khi lỡ cư xử thiếu yêu thương, ta có thể xin tha thứ và bắt đầu lại. Khi làm một việc tốt mà chẳng ai biết, ta có thể vui vì Người biết. Khi thấy mình quá nhỏ trước điều cần làm, ta có thể trao cho Người chính sự nhỏ bé ấy. Đức Giêsu đã vui mừng vì Chúa Cha tỏ mình cho những người bé mọn. Ước gì hôm nay Người cũng nhìn thấy nơi chúng ta một trái tim sẵn sàng mở ra: chưa hoàn hảo, còn phải học yêu thương, nhưng tin rằng mình luôn có thể trở về và bắt đầu lại từ một việc nhỏ.

Lạy Chúa Giêsu, xin cứu chúng con khỏi thói quen coi nhẹ những cơ hội yêu thương ở ngay bên cạnh. Xin cho chúng con biết vui vì được Chúa yêu, trước cả khi nhìn thấy kết quả việc mình làm. Xin dạy chúng con nói một lời hiền khi lòng đang nóng, kiên nhẫn khi phải làm lại một việc quen thuộc, can đảm xin lỗi khi mình sai, và dịu dàng với những ai đang mỏi mệt. Nhờ lời chuyển cầu của thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, xin cho chúng con bước đi trên con đường nhỏ với một tình yêu chân thành, để trong gia đình, cộng đoàn và mọi nơi chúng con hiện diện, người khác được nếm thấy một chút bình an của Chúa. Amen.

Lm. Anmai, CSsR.

YÊU THƯƠNG TRONG NHỮNG ĐIỀU KHÔNG AI NHÌN THẤY

Bài giảng lễ thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu

Anh chị em thân mến, có những người muốn làm điều lớn lao cho Chúa nhưng lại thấy một ngày của mình quá nhỏ. Sáng thức dậy, lo cơm nước, đi làm, chăm con, chăm người bệnh, trả lời những câu hỏi đã nghe nhiều lần, chịu đựng một tính khí khó chịu, rồi tối đến mệt nhoài. Họ tự hỏi: “Một đời cứ lặp lại như thế, tôi có thể nên thánh được không?” Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu trả lời bằng chính cuộc đời mình: có. Không phải đợi đến khi ta có một việc phi thường để làm, một nơi xa xôi để đến, hay một trái tim không còn yếu đuối. Chính hôm nay, giữa những con người Chúa đã đặt bên cạnh ta, con đường nên thánh đã mở ra. Điều quyết định là ta đem bao nhiêu tình yêu vào những gì mình đang sống.

Một nét rất thật nơi chị thánh: sống bác ái với cộng đoàn bằng sự tử tế, biết nghĩ cho người khác, chịu đựng những đau đớn bình thường của đời sống mà không trả đũa, và nhận ra điều tốt nhỏ bé nơi người chung quanh. Từ gợi ý ấy, ta có thể nhìn lại đời mình: có khi điều làm ta xa Chúa chẳng phải một biến cố lớn, mà là cách ta đáp lại một lời nói khó nghe vào cuối một ngày mệt mỏi.

Chúng ta dễ yêu một người khi họ đang dễ thương. Dễ kiên nhẫn khi mình còn khỏe. Dễ mỉm cười khi mọi việc đúng ý. Nhưng tình yêu bắt đầu đi vào chiều sâu ở một chỗ khác: khi ta vẫn đối xử tử tế với người đã làm mình phiền; khi ta nghe hết câu chuyện của một người già dù mình đã nghe câu chuyện ấy hôm qua; khi ta không lấy lỗi lầm của người thân làm vũ khí trong cuộc cãi vã hôm nay. Những điều ấy ít ai thấy, cũng khó kể thành một thành tích. Vậy mà ở đó, trái tim ta đang chọn: giữ lấy mình, hay mở ra cho người khác.

Thánh Têrêsa đã sống trong một đan viện. Ta có thể tưởng tượng nơi ấy lúc nào cũng yên tĩnh, ai cũng dịu dàng, ai cũng hiểu nhau. Nhưng ở đâu có con người, ở đó có khác biệt, va chạm, vô ý, tổn thương. Một cộng đoàn tu trì có những thử thách của nó; một gia đình cũng vậy. Người ta có thể thương nhau thật lòng mà vẫn làm nhau đau. Có lời nói được thốt ra trong lúc nóng giận rồi ở lại trong lòng người nghe nhiều năm. Có việc một người âm thầm làm mỗi ngày đến mức cả nhà quên mất phải nói lời cảm ơn. Có người luôn tỏ ra mạnh mẽ, nên không ai nhận ra họ cũng cần được hỏi thăm. Trong khung cảnh ấy, bác ái không còn là một ý tưởng đẹp để suy ngẫm. Bác ái trở thành một quyết định cụ thể: hôm nay tôi có làm cho người bên cạnh dễ thở hơn một chút không?

Có một nỗi đau âm thầm mà nhiều người mang theo: đau vì không thích chính mình. Ta thấy mình nóng nảy, cầu nguyện khô khan, dễ ghen tị, nói rồi lại hối hận. Ta đã hứa thay đổi nhiều lần mà vẫn vấp vào cùng một lỗi. Nhìn các thánh, ta tưởng các ngài tiến đến với Chúa bằng một trái tim luôn vững vàng; nhìn mình, ta chỉ thấy những mảnh còn dang dở. Thánh Têrêsa mời ta bắt đầu từ chính chỗ ấy. Ta có thể đến với Chúa bằng một lời cầu rất nghèo: “Lạy Chúa, hôm nay con lại yếu đuối. Xin dạy con yêu thương ngay trong sự yếu đuối này.” Người con nhỏ không phải đợi đến lúc tự đi thật vững mới được cha mẹ bồng. Người ấy đưa tay ra vì biết mình cần được bồng. Chúng ta cũng vậy. Chính khi thôi che giấu sự bất toàn trước mặt Chúa, ta có thể để Người dìu mình bước tiếp.

Thế nhưng đón nhận sự yếu đuối của mình không có nghĩa là bằng lòng làm người khác đau. Người biết mình hay nổi nóng cần tập dừng lại trước khi nói. Người đã xúc phạm ai cần xin lỗi. Người nhận ra mình vô tâm cần học chú ý. Lòng thương xót của Chúa không xóa đi lời mời gọi hoán cải; lòng thương xót cho ta can đảm để hoán cải mà không tuyệt vọng. Sau một ngày thất bại, ta vẫn có thể bắt đầu lại bằng một việc rất nhỏ: trở về, gõ cửa phòng người mình đã làm buồn, và nói một câu chân thành.

Có lẽ mỗi người chúng ta đều biết cảm giác muốn đáp trả. Ai đó nói sai về mình, ta muốn lập tức kể ra lỗi của họ. Ai đó làm mình mất mặt, ta muốn họ cũng phải nếm cảm giác ấy. Đôi khi ta im lặng bên ngoài nhưng trong lòng đã dựng lên cả một cuộc tranh luận, ngày nào cũng lặp lại để tự chứng minh mình đúng. Thánh Têrêsa đưa tình yêu của Chúa vào đúng nơi âm thầm ấy. Không trả đũa là một cuộc chiến thật. Nó đòi ta giao cho Chúa nỗi đau của mình, tìm cách nói sự thật với người kia khi cần, đặt ranh giới khi cần, nhưng không để vết thương biến mình thành người thích gây thương tích. Tha thứ có thể cần thời gian. Bước đầu tiên đôi khi chỉ là lời cầu: “Lạy Chúa, lúc này con chưa thể nhìn người ấy bằng ánh mắt hiền lành. Xin giữ lòng con khỏi trở nên cay độc.” Một lời cầu nhỏ như thế đã là một cánh cửa mở ra cho ân sủng.

Thánh nữ còn gợi cho ta một cách nhìn rất đẹp: đừng chỉ ghi nhớ lỗi của người khác; hãy tập nhận ra cả điều tốt nhỏ bé họ làm. Người chồng có thể còn vụng về trong lời nói, nhưng đã lặng lẽ sửa chiếc xe để vợ đi làm an toàn. Người vợ có thể đang mệt nên chưa dịu dàng như mọi ngày, nhưng vẫn nhớ chuẩn bị phần cơm cho cả nhà. Đứa con có thể học hành sa sút, song hôm nay đã biết ngồi bên bà và nghe bà kể chuyện. Một người trong cộng đoàn có thể làm ta khó chịu, nhưng lại là người có mặt trước tiên khi ai đó cần giúp. Nếu chỉ nhìn nhau qua một lỗi lầm, ta sẽ sống giữa những bản án. Nếu tập nhìn ra một điều thiện dù rất nhỏ, ta trao cho người khác cơ hội lớn lên, và cũng cho trái tim mình cơ hội mềm lại.

Điều ấy cần thiết biết bao trong gia đình. Có những mái nhà đủ cơm ăn, đủ đồ dùng, nhưng thiếu lời dịu dàng. Có những người đi ra ngoài được khen là vui vẻ, về nhà lại chỉ còn những câu cộc lốc. Ta dành sự nhẫn nại cho người lạ, rồi đem phần mệt mỏi nhất của mình trao cho người thân. Dĩ nhiên người nhà là nơi ta có thể sống thật; nhưng sống thật cũng bao gồm việc nói mình đang mệt thay vì trút cơn giận lên người khác. Hôm nay, ta thử làm một việc nhỏ: nhìn vào mắt người thân khi họ nói; đặt điện thoại xuống trong bữa cơm; hỏi “Hôm nay mình có vất vả không?” và ở lại đủ lâu để nghe câu trả lời. Đó có thể là một việc lành không ai ngoài căn nhà ấy biết. Chúa biết.

Điều ấy cũng cần thiết trong đời sống giáo xứ. Ta có thể hết lòng lo cho một buổi lễ, một lớp giáo lý, một chương trình bác ái, mà quên mất người đang cùng mình làm việc cũng cần được tôn trọng. Một công việc tốt có thể trở nên nặng nề nếu đi kèm những lời trách móc không cần thiết. Có lúc việc yêu Chúa cụ thể nhất là nói lời cảm ơn người dọn ghế, người quét sân, người tập hát, người đã ở lại sau cùng để tắt đèn. Có lúc việc phục vụ Chúa cụ thể nhất là nhường cho người khác một cơ hội, nghe một ý kiến mình không thích, hoặc sửa sai mà không làm ai mất phẩm giá. Nếu cộng đoàn được xây từ những con người biết nâng đỡ nhau như thế, người bước vào sẽ cảm thấy ở đây có chỗ cho mình.

Anh chị em thân mến, nhiều người sợ rằng đời mình quá bình thường để có thể dâng lên Chúa. Nhưng phần lớn đời người được làm nên từ những giờ bình thường. Tình yêu trung thành cũng phải sống qua những giờ ấy. Người mẹ chăm con bệnh giữa đêm không cần chờ ai chứng kiến. Người cha nhận lỗi với con dù mình có quyền ra lệnh đang dạy con một bài học sâu hơn nhiều lời giảng. Người trẻ từ chối hùa theo một lời chế giễu đang gìn giữ phẩm giá cho một người bạn. Người đau bệnh cố nói lời tử tế với người chăm sóc mình đang trao đi một món quà giữa chính cơn đau. Không phải lúc nào ta cũng làm nổi. Nhưng mỗi lần làm được, dù rất nhỏ, ta đang để tình yêu của Đức Kitô có thêm một chỗ trong đời.

Thánh Têrêsa không dạy ta coi thường những công việc lớn. Hội Thánh cần những người lên đường, lên tiếng, dấn thân và hy sinh trong những hoàn cảnh khó khăn. Chị giúp ta nhớ rằng một trái tim được chuẩn bị để yêu ở nơi xa phải học yêu người ở gần. Nếu trong lòng ta chỉ có nhiệt tình dành cho những người mình chưa gặp, còn người sống cùng ta chỉ nhận được sự bực dọc, thì ta cần trở về với điều căn bản. Sứ mạng của tình yêu bắt đầu từ người Chúa trao cho ta hôm nay: có thể là một người ta rất thương, cũng có thể là một người ta đang thấy khó thương.

Và sẽ có những ngày ta chẳng thấy mình yêu thương được bao nhiêu. Ta đã cố mà vẫn thất bại. Ta vừa cầu nguyện xong lại mất kiên nhẫn. Ta định an ủi một người rồi nói ra câu vụng về. Xin đừng vì thế mà bỏ cuộc. Một đứa trẻ tập bước sẽ ngã nhiều lần; điều giúp nó đi tiếp là bàn tay chìa ra và niềm tin rằng nó vẫn được yêu. Thiên Chúa không mỏi mệt khi thấy ta trở về. Ta có thể xét mình, xin tha thứ, sửa điều cần sửa, rồi ngày mai tập lại. Đời sống thánh thiện lớn lên bằng những lần trở về như thế, trong sự thật và trong lòng tín thác.

Hôm nay, trước khi rời thánh lễ, mỗi người có thể giữ lại một khuôn mặt trong lòng. Đó là ai? Người mình cần nói một lời cảm ơn? Người mình cần xin lỗi? Người mình đã lâu không hỏi thăm? Hay chính là người mà mỗi lần nghĩ tới, lòng mình lập tức khép lại? Ta không cần hứa với Chúa một điều quá lớn. Ta chỉ xin Người chỉ cho mình một bước có thể làm ngay. Một cuộc gọi. Một lời nói dịu hơn. Một việc phục vụ âm thầm. Một lần không nhắc lại lỗi cũ. Một lần nhận ra điều tốt nơi người mình thường phê bình. Xin Chúa cho ta làm bước ấy với tình yêu thật, rồi ngày mai Người sẽ chỉ bước kế tiếp.

Khi đến bàn tiệc Thánh Thể, ta mang theo cả phần đẹp lẫn phần còn khó yêu của mình. Đức Giêsu đã hiến mình cho ta với một tình yêu đi đến tận cùng. Ta đón nhận Người để học cách trao mình trong đời thường: bằng đôi tay sẵn sàng giúp đỡ, bằng lời nói gìn giữ người khác, bằng sự kiên nhẫn không bỏ rơi ai, và bằng lòng khiêm nhường biết bắt đầu lại. Xin thánh Têrêsa cầu cho chúng ta. Xin chị dạy chúng ta đừng chờ một ngày đời mình trở nên phi thường mới yêu Chúa, vì ngay hôm nay, nơi một con người rất gần và một việc rất nhỏ, Chúa đang chờ tình yêu của ta. Amen.

ƠN GỌI CỦA CON LÀ TÌNH YÊU

Có những người đi rất xa để loan báo Tin Mừng. Họ rời quê hương, học một ngôn ngữ mới, bước vào những miền đất chưa quen, chấp nhận thiếu thốn và hiểm nguy để nói cho người khác biết rằng Thiên Chúa yêu thương họ. Và có một thiếu nữ sống sau cánh cửa đan viện Cát Minh tại Lisieux, không đặt chân lên một cánh đồng truyền giáo xa xôi nào, nhưng lại được Hội Thánh nhận làm bổn mạng các xứ truyền giáo. Nghịch lý ấy không làm công cuộc truyền giáo trở nên nhỏ đi. Nó giúp ta nhìn sâu hơn vào nguồn sống của mọi cuộc truyền giáo. Người ta có thể đi đến tận cùng trái đất mà trái tim vẫn ở xa Tin Mừng; cũng có thể âm thầm cầu nguyện trong một căn phòng nhỏ mà trái tim mở rộng đến tận cùng trái đất. Thánh Têrêsa không làm thay công việc của những người ra đi. Chị yêu mến Chúa, cầu nguyện cho các nhà truyền giáo, hiệp thông với những nhọc nhằn của họ và dâng chính đời mình để Tin Mừng được đón nhận. Trong bài giảng ấy, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nhắc đến sự nâng đỡ rất cụ thể của chị dành cho cha Maurice Bellière tại châu Phi và cha Adolphe Rulland tại Trung Hoa. Đối với Têrêsa, những con người ở phương xa có khuôn mặt, có tên gọi, có những ngày cần được nâng đỡ bằng lời cầu nguyện.

Ngày Hội Thánh tuyên phong Têrêsa là Tiến sĩ cũng là Chúa nhật Thế giới Truyền giáo. Sự gặp gỡ ấy nói với ta rằng lệnh truyền “hãy đi” của Đức Giêsu không chỉ vang lên bên ngoài Hội Thánh. Nó còn phải vang lên trong lòng mỗi người đã chịu phép Rửa. Có người được sai đi bằng đôi chân; có người được sai đi bằng lời giảng, bằng việc chăm sóc bệnh nhân, bằng một mái nhà biết đón người cô độc, bằng một đời sống cầu nguyện kiên trì. Một người mẹ không thể rời đứa con đang đau yếu vẫn có thể mang nỗi khổ của một miền đất xa lạ vào lời nguyện mỗi tối. Một người già nằm trên giường bệnh vẫn có thể sống hiệp thông với các nhà truyền giáo. Một em nhỏ có thể dành điều tốt đẹp mình làm hôm nay để cầu cho một người chưa biết Chúa. Không ai bị gạt ra ngoài sứ mạng chỉ vì đời mình ít được nhìn thấy. Nhưng cũng không ai được lấy sự âm thầm làm lý do để khép lòng trước thế giới. Têrêsa ở trong đan viện mà thao thức cho Tin Mừng đến với mọi dân tộc. Một trái tim yêu Chúa thật sự không thể chỉ lo cho sự bình an riêng mình.

Điều gây ngạc nhiên không kém là Têrêsa được gọi là Tiến sĩ Hội Thánh. Chị không theo học đại học, không để lại một bộ sách thần học đồ sộ, và qua đời khi tuổi còn rất trẻ. Hội Thánh vẫn nhận ra nơi chị một người thầy có khả năng soi sáng mầu nhiệm đức tin. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II giải thích rằng sự hiểu biết đức tin của Hội Thánh lớn lên không chỉ nhờ nghiên cứu và giảng dạy, mà còn nhờ kinh nghiệm thiêng liêng của những người để Chúa Thánh Thần dẫn dắt. Điều này không hạ thấp học vấn; Hội Thánh luôn cần những người học hỏi nghiêm túc. Nhưng nó nhắc ta rằng ta có thể biết nhiều điều về Thiên Chúa mà vẫn chưa để tình yêu Thiên Chúa đi vào cách mình sống. Têrêsa đã học trong cầu nguyện, trong đời sống chung, trong những giới hạn của bản thân và trong từng lựa chọn yêu thương. Chị dạy bằng một đời sống đã được Tin Mừng thấm vào.

Có lẽ ai trong chúng ta cũng từng thấy mình quá nhỏ để làm điều gì đáng kể. Một người trẻ nhìn bao vấn đề của thế giới rồi tự hỏi việc tốt của mình thay đổi được gì. Một linh mục nhìn những người mình chưa thể chăm sóc, những cuộc gặp gỡ mình đã bỏ lỡ, rồi thấy nỗ lực của mình quá ít. Một người đang mang bệnh chỉ mong làm xong những việc bình thường trong ngày. Têrêsa cũng đã đứng trước giới hạn của mình. Chị khao khát phục vụ Hội Thánh bằng nhiều cách, nhưng không thể sống tất cả những ơn gọi ấy. Khi suy niệm về Hội Thánh như một thân thể có nhiều chi thể, chị khám phá rằng thân thể ấy có một trái tim, và trái tim ấy phải được tình yêu làm cho sống. Từ đó chị nhận ra ơn gọi của mình là tình yêu. Đó không phải một lời đẹp để an ủi người không làm được việc lớn. Đó là một khám phá đòi hỏi chị đem tình yêu vào chính những việc mình được trao. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đặt khám phá ấy ở trung tâm bài giảng của ngài: tình yêu làm cho các chi thể Hội Thánh hành động và ôm lấy mọi ơn gọi.

Ta thường đo đời mình bằng những điều đếm được: số công việc đã hoàn tất, số người đã đến nghe, số lời cảm ơn đã nhận, số lần tên mình được nhắc đến. Những điều ấy có chỗ hữu ích của chúng. Nhưng có những phần thiết yếu của đời sống Hội Thánh không hiện ra trên một bản tổng kết: một lời cầu nguyện được giữ đến cùng khi lòng đã mỏi, một lần nhường người khác được nói hết, một người lặng lẽ trở lại chăm sóc người thân khó tính, một việc phục vụ được làm tận tâm dù không ai biết ai đã làm. Tình yêu không khiến những việc ấy tự nhiên trở nên dễ. Có khi nó làm ta đau vì buộc ta ở lại, lắng nghe, bắt đầu lại và tha thứ. Têrêsa không tìm một con đường tắt đi quanh những khó khăn của đời sống chung. Chị bước qua chúng bằng lòng tín thác và bằng những hành vi yêu thương cụ thể. Con đường nhỏ của chị gần với đời thường đến mức ta không thể viện cớ rằng mình không có cơ hội bước theo.

“Nhỏ” ở đây không có nghĩa là hời hợt. Một nụ cười trao cho người mình yêu quý có thể đến rất tự nhiên; một thái độ dịu dàng với người vừa làm mình tổn thương có thể đòi cả một cuộc chiến trong lòng. Cầu nguyện khi tâm hồn sốt sắng là điều đáng quý; tiếp tục cầu nguyện khi chẳng cảm thấy gì có thể là một hành vi trung thành sâu sắc. Làm một việc tốt trước mặt mọi người có thể đem lại niềm vui; làm việc ấy trong âm thầm và không đợi lời khen có thể thanh luyện ý hướng của ta. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói rõ rằng con đường tín thác và phó mình cho ân sủng, tuy ở trong tầm với của mọi người, vẫn là một đòi hỏi nghiêm túc của Tin Mừng. Ta đừng biến “con đường nhỏ” thành một cách nói dễ thương rồi bỏ qua sức nặng của nó. Nó mời ta yêu trong những hoàn cảnh mình đang sống, với những con người cụ thể mà mình không thể tùy ý thay thế.

Và con đường ấy bắt đầu từ lòng thương xót của Thiên Chúa. Có người vừa nghe đến nên thánh đã thấy mình thua cuộc, vì họ nhớ quá rõ những lần nóng giận, những lời không giữ được, những điều tốt mình đã hứa rồi lại bỏ dở. Nếu sự thánh thiện chỉ dành cho người chưa từng yếu đuối, rất nhiều người trong chúng ta sẽ không dám bước tới. Têrêsa giúp ta nhìn sự bé nhỏ của mình cách khác: nhận ra mình cần được Chúa nâng đỡ và dám để Người nâng đỡ. Tín thác không xóa trách nhiệm sửa mình. Một người biết mình nóng nảy vẫn phải xin lỗi, tập lắng nghe và tìm cách đừng gây lại cùng một vết thương. Nhưng họ có thể làm những điều đó trong niềm hy vọng, vì thất bại hôm qua không tước mất lời mời gọi yêu thương hôm nay. Người bước trên con đường nhỏ nhiều khi chỉ có thể thưa với Chúa: “Con đã thử và con lại vấp. Xin giúp con đứng dậy, rồi dạy con yêu người đang ở trước mặt con.”

Điều ấy đặc biệt chạm đến những người tận tụy phục vụ mà lòng dần trở nên khô cạn. Ta có thể lo rất nhiều việc cho Hội Thánh, chu toàn lịch trình, giải quyết hết chuyện này đến chuyện khác, nhưng đã lâu không còn ngồi yên trước Chúa để nhớ vì sao mình bắt đầu. Ta có thể nói về tình yêu của Chúa bằng những lời chính xác mà trong lòng chỉ còn sự bực bội với những người mình phục vụ. Không phải vì công việc ấy vô ích; chính vì nó quý giá nên trái tim người làm cần được chăm sóc. Khám phá của Têrêsa không cho phép ta bỏ việc để chỉ giữ một cảm xúc đạo đức êm ái. Nó mời ta đem việc mình làm trở về với nguồn của nó. Trước một bài giảng, một giờ giáo lý, một cuộc thăm bệnh hay một cuộc trò chuyện khó, ta có thể dừng lại một chút để xin Chúa cho mình thực sự thấy con người trước mặt. Họ cần sự hiện diện của ta, sự lắng nghe của ta và một lời nói được thốt ra vì lòng thương.

Têrêsa cũng dạy ta tôn trọng những ơn gọi khác với ơn gọi của mình. Người âm thầm không cần xem nhẹ người hoạt động; người hoạt động không cần coi việc cầu nguyện là phần dành cho ai không còn làm được gì. Nhà truyền giáo trên đường xa cần lời cầu của đan sĩ; người cầu nguyện cần để lòng mình thật sự hướng tới những con người mà nhà truyền giáo gặp gỡ. Trong một giáo xứ cũng vậy: người đứng trên cung thánh, người quét nền nhà, người tập hát, người nấu một bữa cơm, người kiên nhẫn đưa con đến lớp giáo lý đều góp phần vào đời sống của cùng một thân thể. Không phải mọi việc giống nhau hay có thể đổi chỗ cho nhau. Mỗi việc cần được làm cho tốt trong trách nhiệm riêng của nó. Nhưng tình yêu cho các việc ấy một mối liên hệ sâu xa: chúng cùng hướng tới Chúa và tới những người Chúa trao cho Hội Thánh.

Có một câu hỏi lặng lẽ đi theo ta sau khi đọc bài giảng về thánh Têrêsa: Nếu những việc tôi đang làm vẫn tiếp tục như cũ, nhưng tình yêu trong lòng tôi vơi đi, tôi sẽ trở thành người thế nào? Câu hỏi ấy không nhằm kết án. Nó giúp ta nhận ra những lúc cần quay về. Có thể ta cần nghỉ ngơi để thôi cư xử cộc cằn với người thân. Có thể ta cần cầu nguyện lại bằng lời đơn sơ, thay vì chỉ đọc những lời thuộc lòng cho xong. Có thể ta cần gặp một người mình đã tránh mặt và nói một câu thật lòng. Cũng có thể ta cần vui mừng vì một điều tốt bé nhỏ vừa làm được, thay vì lập tức chê nó quá ít. Trái tim được nuôi dưỡng qua những bước rất thật như thế. Tình yêu lớn lên khi được trao đi; lòng tín thác lớn lên khi ta lại đặt đời mình trong tay Chúa, kể cả ngày hôm nay chưa trọn vẹn.

Nơi Têrêsa, điều chị dạy và điều chị sống gặp nhau. Đó là lý do lời chứng của chị có sức thuyết phục. Ta cũng khao khát một sự gặp nhau như vậy trong đời mình. Ta muốn lời “xin vâng” khi cầu nguyện đi vào cách ta đón nhận một thay đổi không mong muốn. Ta muốn lời giảng về lòng thương xót đi vào cách ta đối xử với người lầm lỗi. Ta muốn điều ta dạy trẻ em về giá trị của mỗi người đi vào cách ta nhìn em học chậm, em nghịch ngợm, em ít được chú ý. Sự thống nhất ấy không thành hình trong một ngày. Nó được dệt nên qua rất nhiều lần ta chọn sống điều mình tin. Và khi ta không làm được, nó được dệt tiếp qua việc thành thật nhận lỗi, xin tha thứ và lại bắt đầu.

Têrêsa qua đời rất trẻ, nhưng Hội Thánh vẫn học với chị. Một cuộc đời không cần kéo dài theo ý ta mới có thể sinh hoa trái. Một việc phục vụ không cần nổi bật mới có thể đem lại sự sống. Một lời cầu nguyện không cần được nghe thấy mới đến được với Chúa. Những điều ấy không xóa đi nỗi buồn của bệnh tật, chia ly hay những ước mơ dang dở. Chúng cho ta can đảm tin rằng Chúa có thể đón lấy cả những phần đời chưa kịp hoàn tất. Chị Têrêsa đã muốn tiếp tục làm điều lành cho trần gian; hôm nay, qua chứng tá của chị, biết bao người đang tìm lại lòng tin để sống ngày của mình với tình yêu.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con một trái tim biết yêu giữa chính những bổn phận hằng ngày. Khi chúng con thấy mình nhỏ bé, xin dạy chúng con tín thác vào lòng thương xót Chúa. Khi công việc khiến chúng con mệt, xin đưa chúng con trở lại với niềm vui được ở gần Chúa. Khi chúng con mơ làm những điều lớn lao, xin cho chúng con cũng nhận ra người đang cần được yêu thương ngay bên cạnh. Và khi một ngày khép lại với nhiều điều chưa làm được, xin giúp chúng con trao ngày ấy cho Chúa, để sáng mai lại bắt đầu bằng một hành vi yêu thương. Amen.

Lm. Anmai, CSsR.

NỞ HOA GIỮA NHỮNG MŨI GAI

Suy niệm lễ thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu – Mt 18,1–5

Có những người nhìn vào cuộc đời thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu và chỉ thấy những cánh hoa hồng. Họ nhớ đến một thiếu nữ trẻ tuổi, một nữ tu sống âm thầm trong đan viện, một vị thánh nói nhiều về tình yêu, về sự bé nhỏ, về lòng tín thác. Tất cả những điều ấy đều đúng, nhưng nếu chỉ dừng ở đó, ta có thể biến cuộc đời chị thành một bức tranh quá dịu dàng để soi vào đời mình. Bởi những cánh hoa của Têrêsa đã nở giữa bệnh tật, những giới hạn của bản thân, những va chạm trong đời sống chung, những ngày cầu nguyện khô khan và cả những thử thách đức tin rất sâu. Chị không tìm thấy một con đường không có gai. Chị tìm thấy Chúa Giêsu ngay giữa những mũi gai ấy. Bài giảng lễ thánh Têrêsa của Đức Hồng y Adalberto Martínez Flores gợi lên một hình ảnh thật đẹp và cũng thật nhức nhối: sự thánh thiện như mùa xuân của đời Kitô hữu, những bông hoa bé nhỏ trong khu vườn Thiên Chúa, và bên cạnh đó là những con người hôm nay đang phải đội mão gai vì nghèo khổ, bị loại trừ, bạo lực và lạm dụng. Hình ảnh ấy khiến ta không thể chỉ ngắm hoa mà quên những vết thương. Mừng lễ thánh Têrêsa là hỏi xem tình yêu mà chị đã sống có thể đi vào những vết thương của gia đình, cộng đoàn và thế giới chúng ta như thế nào.

Trong Tin Mừng, các môn đệ đến hỏi Đức Giêsu: “Ai là người lớn nhất trong Nước Trời?” Người gọi một em nhỏ đến, đặt em giữa các ông và nói rằng ai trở nên bé nhỏ như em thì là người lớn nhất trong Nước Trời. Câu trả lời ấy hẳn đã làm các môn đệ ngỡ ngàng. Họ hỏi về vị trí; Chúa đưa đến một con người không có vị trí để tranh. Họ nghĩ đến sự nổi bật; Chúa đặt trước mặt họ một em nhỏ cần được đón nhận và bảo vệ. Họ muốn biết ai đứng trên; Chúa dạy họ cúi xuống. Thánh Têrêsa đã lắng nghe lời ấy bằng cả cuộc đời. Chị hiểu rằng trở nên bé nhỏ không phải là giả vờ mình không có khả năng, cũng không phải thu mình trong sợ hãi. Bé nhỏ trước mặt Thiên Chúa là nhận ra mình cần Người, dám đưa cả sự yếu đuối của mình vào vòng tay Người, và tin rằng tình yêu của Người lớn hơn những gì mình có thể tự làm cho mình. Một đứa trẻ có thể vấp ngã, có thể khóc, có thể chưa biết đường đi; nhưng khi tin vào cha mẹ, em đưa tay ra. Con đường thơ ấu thiêng liêng bắt đầu từ cử chỉ đơn sơ ấy: đưa tay cho Chúa, cả khi đôi tay mình chưa sạch, cả khi lòng mình chưa bình an, cả khi ngày hôm qua mình đã thất bại.

Chúng ta thường tưởng rằng muốn đến gần Chúa thì trước hết phải trở thành một con người thật tốt, thật vững, thật xứng đáng. Ta tự hứa sẽ cầu nguyện sốt sắng hơn khi bớt bận, sẽ trở về với bí tích Hòa Giải khi thắng được một thói quen xấu, sẽ tin tưởng khi mọi chuyện đã sáng tỏ. Rồi năm tháng đi qua, ta vẫn đứng ngoài cửa, vì đời sống con người hiếm khi có một ngày hoàn toàn ngăn nắp. Têrêsa chỉ cho ta một hướng khác: hãy đến với Chúa từ chính nơi mình đang đứng. Nếu hôm nay lòng ta nghèo, hãy đem cái nghèo ấy đến. Nếu hôm nay ta mệt vì đã cố gắng quá lâu, hãy nói với Người rằng mình mệt. Nếu hôm nay ta thấy mình yêu thương quá ít, hãy xin Người dạy mình yêu. Lòng tín thác không xóa đi công việc phải làm để thay đổi đời sống; lòng tín thác cho ta can đảm bắt đầu công việc ấy mà không tuyệt vọng về bản thân. Người con không đợi đến khi tự mình chữa lành mọi vết thương mới trở về nhà. Người con trở về vì biết có Cha đang chờ.

Nhưng sự bé nhỏ rất dễ bị hiểu lầm. Có người nghĩ sống con đường nhỏ là chỉ làm những việc dễ dàng, tránh các quyết định khó khăn và gọi sự thụ động của mình là phó thác. Có người chịu đựng điều sai trái trong im lặng vì sợ rằng lên tiếng sẽ không còn hiền lành. Thánh Têrêsa giúp ta nhìn sâu hơn. Chị không thiếu khát vọng. Chị muốn đem Tin Mừng đến tận những nơi xa, muốn hiến dâng trọn đời cho Chúa và cho Hội Thánh. Điều khiến chị trở nên bé nhỏ là chị không biến khát vọng ấy thành cuộc tranh giành để được nhìn thấy. Chị khám phá một tình yêu có thể đi rất xa ngay từ nơi mình đang sống. Trong đan viện, giữa những công việc lặp lại và những con người cụ thể, chị học cách trao cho Chúa điều mình có thể trao hôm nay. Điều ấy đòi hỏi một sức mạnh âm thầm. Người ta có thể chịu đựng một khó khăn lớn trong một ngày vì biết mọi người đang nhìn; nhưng yêu thương qua hàng nghìn ngày thường, khi không ai biết mình đã phải vượt qua điều gì, là một sự trung thành rất sâu.

Hãy thử nhìn lại một ngày của mình. Buổi sáng bắt đầu với tiếng chuông báo thức, những việc chưa xong, một người thân đang buồn, một lời nói hôm qua vẫn còn mắc trong lòng. Ngoài đường, ai cũng có vẻ vội. Trong nhà, những việc quen thuộc chờ ta làm lại. Có thể ta từng nghĩ: đời tôi cứ thế này thì làm sao nên thánh? Tôi không có những giờ cầu nguyện dài; tôi chẳng đi đến vùng đất xa xôi; tôi cũng không làm được điều gì khiến người khác nhớ đến. Têrêsa sẽ mời ta nhìn kỹ hơn vào chính ngày ấy. Có một người đang chờ ta trả lời bằng giọng tử tế, dù ta đang bực. Có một việc cần làm cho chu đáo, dù chẳng ai khen. Có một người già kể đi kể lại một câu chuyện, và hôm nay họ vẫn cần một người lắng nghe như lần đầu. Có một đứa trẻ đang quan sát cách người lớn đối xử với nhau. Có một người trong cộng đoàn làm ta khó chịu, và ta có thể chọn không lấy sự khó chịu ấy làm lời phán quyết cuối cùng về họ. Những việc đó nhỏ vì chúng nằm gọn trong một ngày; chúng lớn vì một con người có thể được nâng đỡ hoặc bị làm đau ngay tại đó. Tình yêu không phải đợi đến một hoàn cảnh phi thường mới có chỗ để bắt đầu.

Tuy vậy, làm việc nhỏ với tình yêu lớn không có nghĩa là tô đẹp sự kiệt sức hay bắt người bị tổn thương phải cố chịu thêm. Một người mẹ chăm con bệnh cần được người khác đỡ đần. Một người phục vụ cộng đoàn lâu năm cũng cần nghỉ ngơi, cần được hỏi han, cần được nhìn nhận như một con người. Một đứa trẻ bị xúc phạm cần một người lớn tin lời em và bảo vệ em. Nếu ta bảo họ “hãy dâng lên Chúa” để khỏi phải thay đổi điều bất công đang xảy ra, ta đã dùng một lời đạo đức sai chỗ. Tình yêu của Têrêsa rất gần với những điều nhỏ bé, nên cũng rất gần với con người dễ bị tổn thương. Càng nói về thơ ấu thiêng liêng, ta càng phải nghiêm túc với tuổi thơ thật: với sự an toàn, phẩm giá và tiếng nói của các em. Đức Giêsu không chỉ bảo các môn đệ trở nên như trẻ nhỏ. Người còn nói: ai đón tiếp một em nhỏ như thế vì danh Người là đón tiếp chính Người. Khi một cộng đoàn bảo vệ trẻ em, lắng nghe người yếu thế và không che giấu những hành vi gây hại, cộng đoàn ấy đang sống Tin Mừng bằng hành động. Bài giảng cha gửi nhấn mạnh rất rõ mối liên hệ giữa linh đạo thơ ấu và trách nhiệm chăm sóc những người bé nhỏ, đặc biệt trước các hình thức lạm dụng.

Có lẽ vì thế hình ảnh khu vườn của Thiên Chúa cần được hiểu bằng trái tim trưởng thành. Trong một khu vườn, không phải bông hoa nào cũng giống nhau. Có bông nở rực rỡ khiến ai đi qua cũng dừng lại. Có bông thấp gần mặt đất, phải cúi xuống mới thấy. Có cây đang mùa hoa, có cây chỉ còn rễ âm thầm bám sâu trong đất. Nếu ta chỉ quý những bông hoa nổi bật, ta sẽ tưởng rằng nhiều cuộc đời không có gì đẹp. Têrêsa đã nhận mình bé nhỏ trong khu vườn ấy. Chị không cần trở thành một người khác để được Chúa yêu. Đó là một lời giải thoát cho biết bao người đang mệt vì so sánh. Người trẻ nhìn vào thành tựu của bạn bè rồi thấy mình chậm chạp. Người cha, người mẹ nhìn gia đình khác rồi thấy nhà mình nhiều thiếu sót. Người sống đời thánh hiến nhìn hoa trái mục vụ của người khác rồi tự hỏi đời mình có ích gì. Chúng ta cứ đứng trước gương của người khác để xét giá trị đời mình, trong khi Chúa đang mời ta sống trung thành với phần đất Người trao. Ngài không đòi một bông hoa tím phải nở thành hoa hồng. Ngài muốn mỗi người bén rễ trong tình yêu, đón nhận ánh sáng và trao đi hương thơm mình có thể trao.

Nhưng khu vườn hôm nay có những chỗ đất đã bị giẫm nát. Có những người chưa kịp lớn lên đã phải mang gánh nặng vượt quá sức mình. Có những gia đình làm việc vất vả mà vẫn lo từng bữa ăn. Có người trẻ tìm một lối thoát cho nỗi trống rỗng rồi bị mắc kẹt trong nghiện ngập. Có người bị sỉ nhục lâu đến mức bắt đầu tin rằng mình chẳng đáng được yêu. Có người bước vào một cộng đoàn với niềm tin chân thành, rồi bị tổn thương bởi chính người đáng lẽ phải chăm sóc họ. Bài giảng cha gửi gọi những con người ấy là những người đang đội mão gai hôm nay. Hình ảnh ấy buộc ta nhìn lâu hơn vào khuôn mặt đau khổ của họ. Một bông hoa không thể lớn nếu đất thiếu nước; một người cũng khó đứng dậy khi chung quanh chỉ có những lời trách móc. Vì thế, nếu muốn nói với họ về hy vọng, trước hết ta phải đến gần, phải lắng nghe, phải tìm cách gỡ một mũi gai có thật. Một bữa ăn, một nơi an toàn, một lời bênh vực đúng lúc, một hành động ngăn chặn bạo lực, một sự đồng hành bền bỉ: đôi khi đó chính là hình dạng cụ thể nhất của tình yêu mà chúng ta vẫn cầu xin trong nhà thờ.

Thánh Têrêsa được kính nhớ là bổn mạng các xứ truyền giáo, dù chị sống đời đan tu. Điều này nghe nghịch lý nếu ta chỉ hiểu truyền giáo là đi xa. Chị cho thấy trái tim biết yêu có thể mở rộng vượt khỏi những bức tường mình đang sống. Chị cầu nguyện cho các nhà truyền giáo, mang trong lòng những con người mình chưa gặp, hiến dâng cả những hy sinh thầm kín để xin cho Tin Mừng được đón nhận. Điều ấy cũng chất vấn chúng ta. Đôi khi ta nói rất nhiều về truyền giáo, nhưng lại cư xử lạnh lùng với người sống sát bên. Ta muốn đem ánh sáng đến nơi xa, nhưng trong nhà mình có người đang đi qua những ngày tối. Ta mong người khác biết Chúa yêu họ, nhưng chính lời nói của ta khiến họ sợ bước vào nhà thờ. Trái tim truyền giáo bắt đầu lớn lên khi ta để Chúa đổi cách mình nhìn một con người cụ thể. Một giáo xứ truyền giáo không chỉ vì có nhiều chương trình; giáo xứ ấy truyền giáo khi người mới đến được đón bằng sự chân thành, người nghèo không phải xấu hổ khi xin giúp đỡ, trẻ em được an toàn, người từng vấp ngã còn có một con đường trở về. Có những chuyến đi thật xa cần được thực hiện; cũng có những khoảng cách rất gần mà tình yêu phải vượt qua mỗi ngày.

Một trong những khoảng cách khó vượt nhất là khoảng cách giữa ta và người mình không ưa. Yêu người đáng mến thường đem lại niềm vui ngay. Yêu người làm mình phiền lòng cần nhiều hơn một cảm xúc. Trong đời sống chung, ta biết điều ấy rất rõ. Một cử chỉ của người kia khiến ta khó chịu, một thói quen lặp lại khiến ta mất kiên nhẫn, một câu nói vô tâm khiến ta muốn đáp trả cho hả. Têrêsa đã sống tình yêu trong chính nơi những điều như thế có thể xảy ra. Chị không chờ lòng mình luôn thấy dịu dàng rồi mới chọn đối xử tử tế. Chị để cho tình yêu dẫn hành động của mình, từng chút một, giữa những giới hạn thật. Ta cũng có thể bắt đầu như vậy: ngừng lại trước khi nói một lời làm đau; hỏi han thay vì đoán ác ý; góp ý thẳng thắn mà vẫn giữ phẩm giá người nghe; xin lỗi khi nhận ra mình đã sai. Những lựa chọn nhỏ ấy không làm mọi tương quan lập tức êm đẹp. Nhưng chúng giữ cho lòng ta khỏi quen với sự cay nghiệt. Chúng mở một khoảng trống để ân sủng đi vào.

Tín thác nơi tình yêu Thiên Chúa cũng được thử thách vào những ngày ta cầu nguyện mà chẳng thấy gì. Có lúc ta quỳ xuống và tâm trí chỉ đầy lo âu. Có lúc đọc một kinh quen thuộc mà lời kinh như không đi đến đâu. Có lúc ta cầu cho một người thân khỏi bệnh, cho gia đình hòa thuận, cho chính mình thoát khỏi một nỗi buồn, nhưng ngày mai vẫn nặng như hôm qua. Khi ấy, lòng tin của ta có thể âm thầm chuyển thành một câu hỏi đau đớn: Chúa có còn ở đây không? Têrêsa không xa lạ với bóng tối nội tâm. Vì vậy, lời mời tín thác của chị có sức nặng của một cuộc đời đã đi qua thử thách. Tín thác không buộc ta phải cảm thấy vui. Nó cho phép ta nói thật với Chúa: “Con không hiểu, con đang sợ, con chẳng thấy đường; xin Người ở với con.” Có những đêm đức tin chỉ còn là quyết định không buông bàn tay mình đã trao cho Chúa. Một lời kinh nghèo như thế vẫn là lời kinh. Một người vẫn đến với Chúa giữa khô khan đã yêu Người bằng sự bền lòng mà có khi chính họ cũng không nhận ra.

Càng sống lâu, ta càng hiểu con đường nhỏ không làm cuộc đời bớt nghiêm trọng; nó giúp ta sống cuộc đời ấy mà không đánh mất lòng con thảo. Khi còn trẻ, ta thường nghĩ tương lai sẽ mở ra nhiều dịp để yêu, để sửa sai, để làm điều tốt. Rồi có ngày ta nhận ra những cơ hội quý nhất đã đến trong dáng vẻ hết sức bình thường và đã đi qua rất nhanh: một bữa cơm có đủ người thân; một buổi chiều cha mẹ còn khỏe để trò chuyện; một lần đứa con muốn kể chuyện ở trường; một người bạn gọi điện chỉ để nghe giọng mình; một khoảnh khắc ta có thể xin lỗi nhưng đã để lòng tự ái kéo dài thêm. Ta không thể sống lại mọi cơ hội đã lỡ. Nhưng ta có thể nhận ra cơ hội đang ở trước mặt. Hôm nay, có người nào ta cần lắng nghe? Có lời nào ta cần nói cho kịp? Có việc tốt nào ta cứ trì hoãn vì nghĩ nó quá nhỏ? Têrêsa dạy ta đừng khinh một ngày bình thường. Chính trong ngày ấy, ta được trao thời gian để yêu.

Rồi sẽ có người hỏi: nếu tôi đã cố yêu mà vẫn thất bại thì sao? Nếu tôi đã nhiều lần nóng giận, nhiều lần chọn mình trước, nhiều lần hứa thay đổi rồi lại trở về thói cũ thì sao? Có lẽ đây là lúc con đường của Têrêsa trở nên quý nhất. Sự bé nhỏ không phải một thành tích mới để ta phải đạt cho bằng được. Nếu ngay cả việc sống bé nhỏ ta cũng biến thành lý do để chê trách mình, ta sẽ lại đứng một mình dưới sức nặng của bản thân. Hãy bắt đầu bằng một lời thật: “Lạy Chúa, con đã không yêu như con mong muốn.” Sau đó, nếu đã làm đau ai, hãy tìm cách sửa chữa; nếu cần xin lỗi, hãy xin lỗi; nếu cần sự giúp đỡ, hãy đón nhận. Và khi đã làm điều mình có thể làm, hãy để lòng thương xót của Chúa đỡ mình dậy. Đứa trẻ tập đi không lớn lên vì chưa bao giờ ngã. Em lớn lên nhờ có người đưa tay khi em ngã, rồi khích lệ em bước tiếp. Đời sống thiêng liêng cũng cần sự kiên trì ấy, với trách nhiệm thật và hy vọng thật.

Có một vẻ đẹp rất kín đáo nơi những người sống như thế. Họ không tự nhận mình thánh thiện. Họ chỉ trở về với Chúa mỗi khi lạc đường và trở về với con người mỗi khi lòng mình muốn đóng lại. Họ làm việc tốt mà không cần ghi tên; họ nói sự thật mà không tìm cách hạ nhục; họ bảo vệ người yếu mà không hỏi người ấy có thể đền đáp gì. Có người dành cả đời chăm một người thân bệnh nặng. Có người giữ lòng lương thiện giữa môi trường đầy áp lực. Có người âm thầm mở cửa nhà cho một người đang tuyệt vọng. Có người từng bị thương tổn nhưng vẫn cố không truyền vết thương ấy sang người khác. Họ giống những bông hoa thấp gần mặt đất. Ta đi nhanh quá sẽ không thấy. Nhưng người đang mỏi mệt có thể nhận ra hương thơm ấy và có thêm sức để sống một ngày nữa. Đó là một mùa xuân âm thầm của Hội Thánh.

Hôm nay, trước thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, ta không cần hứa với Chúa một cuộc đời lớn lao đến mức chính mình cũng không biết bắt đầu từ đâu. Ta có thể dâng Người ngày hôm nay, với tất cả những gì ngày hôm nay chứa đựng. Dâng một công việc cần làm cho tử tế. Dâng một cuộc gặp cần nhiều kiên nhẫn. Dâng nỗi đau ta chưa biết gọi tên. Dâng người đang cần được bảo vệ. Dâng cả sự bất lực khi ta muốn giúp mà chưa biết giúp thế nào. Xin Chúa làm cho trái tim ta đủ mềm để thấy người khác, đủ can đảm để làm điều phải, đủ khiêm nhường để nhận sự giúp đỡ, và đủ tín thác để không tuyệt vọng khi mùa xuân đến chậm. Những mũi gai của đời người là có thật. Chính vì chúng có thật, một bông hoa được chăm sóc, một vết thương được chữa lành, một em nhỏ được an toàn, một người cô độc được đón nhận đều đáng quý biết bao.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã đặt một em nhỏ giữa các môn đệ để dạy họ con đường vào Nước Trời. Xin đặt những người bé nhỏ vào giữa lòng chúng con hôm nay: những em bé cần được yêu thương, những người đang mang thương tích, những người không có tiếng nói, và cả phần yếu đuối trong chính chúng con mà chúng con thường muốn giấu đi. Nhờ lời chuyển cầu của thánh Têrêsa, xin dạy chúng con tin vào tình yêu của Chúa khi lòng mình sáng, và vẫn tin khi lòng mình tối. Xin cho chúng con biết làm điều nhỏ bé với tất cả tấm lòng, biết gỡ bớt gai trên đường người khác đi, biết ở lại bên người đau khổ mà không vội vàng nói những lời dễ dãi. Nếu đời chúng con chỉ là một bông hoa rất nhỏ trong khu vườn của Chúa, xin cho bông hoa ấy nở đúng nơi Chúa trồng, và trao chút hương thơm của tình yêu cho những người đi ngang qua. Amen.

Lm. Anmai, CSsR.

XIN CHO CON ĐƯỢC NỞ HOA Ở NƠI CHÚA ĐẶT CON

Suy niệm lễ thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu – Mt 18,1–5

Có những bông hoa mọc nơi ai cũng nhìn thấy. Người ta đi ngang qua, dừng lại, ngắm nhìn và khen đẹp. Cũng có những bông hoa mọc sau một bức tường, trong góc vườn ít người lui tới. Chúng vẫn đón ánh mặt trời, vẫn âm thầm nở và tỏa hương, dù chẳng biết có ai nhận ra mình hay không. Nếu bông hoa ấy cứ đòi phải được chuyển ra trước cổng mới chịu nở, khu vườn sẽ thiếu đi một vẻ đẹp mà chỉ Thiên Chúa nhìn thấy trọn vẹn. Mừng lễ thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, chúng ta được mời nhìn lại một câu hỏi rất gần với đời mình: Tôi có sẵn lòng yêu Chúa và yêu người ngay tại nơi Chúa đặt tôi, cả khi không ai biết đến không?

Một hình ảnh đẹp: sự thánh thiện là mùa xuân của đời Kitô hữu. Nhưng mùa xuân ấy không chỉ có hoa. Bài giảng cũng nhắc đến những chiếc gai trong đời sống con người, nhất là nỗi đau của người nghèo, người bị bỏ rơi và những trẻ em phải chịu tổn thương. Từ gợi ý ấy, ta có thể đến với thánh Têrêsa bằng một cái nhìn sâu hơn. Con đường nhỏ của chị không mời ta khép mắt trước đau khổ. Nó dạy ta yêu đến mức một lời nói dịu dàng, một việc làm kín đáo, một sự chăm sóc bền bỉ cũng có thể trở thành nơi tình thương của Chúa chạm đến người khác.

Trong Tin Mừng, các môn đệ hỏi Đức Giêsu: “Ai là người lớn nhất trong Nước Trời?” Đó là một câu hỏi dễ hiểu. Người ta vẫn muốn biết mình đứng ở đâu, được đánh giá ra sao, có quan trọng đối với người khác không. Ngay cả khi đã theo Chúa, lòng người vẫn có thể mang theo chiếc thước đo của hơn thua. Đức Giêsu không bắt đầu bằng một lời giải thích dài. Người gọi một em nhỏ đến, đặt em vào giữa các môn đệ. Giữa những người đang nghĩ về chỗ đứng của mình, Chúa đặt một người bé nhỏ. Rồi Người nói về việc trở nên như trẻ nhỏ và đón tiếp trẻ nhỏ nhân danh Người. Chúa không bảo ta ngây thơ trước sự dữ, cũng không bảo ta thôi suy nghĩ, thôi chịu trách nhiệm. Người mời ta từ bỏ cái kiêu hãnh khiến ta tưởng mình có thể sống mà không cần được yêu, không cần được tha thứ, không cần đến ân sủng. Trẻ nhỏ có thể giơ tay xin giúp. Còn người lớn đôi khi kiệt sức vẫn cố nói: “Tôi tự lo được.” Trẻ nhỏ có thể khóc vì đau. Còn người lớn nhiều khi đem nỗi đau giấu dưới vẻ bình thản, rồi âm thầm cay đắng với cả những người muốn đến gần.

Thánh Têrêsa đã hiểu sự bé nhỏ ấy bằng chính đời mình. Chị khao khát được làm nhiều điều lớn lao cho Chúa, nhưng cuộc sống của chị diễn ra phần lớn trong những ngày tháng kín đáo của đan viện. Chị không thể đi đến mọi miền đất mà lòng mình hướng tới. Chị vẫn có thể cầu nguyện, kiên nhẫn với người bên cạnh, nhận lấy một việc nhỏ và làm việc ấy với tình yêu. Bài giảng cha gửi nhấn mạnh chính điều này: thao thức truyền giáo của Têrêsa được nuôi bằng cầu nguyện và bằng tình yêu trong đời sống thường ngày. Điều ấy đánh động chúng ta, bởi phần lớn đời mình cũng trôi qua trong những việc không có gì nổi bật: một bữa cơm cần chuẩn bị, một người bệnh cần thăm, một đứa trẻ cần được lắng nghe, một công việc phải làm lại cho tử tế, một lời xin lỗi đã chần chừ quá lâu. Ta thường nghĩ mình sẽ sống đẹp hơn khi có một hoàn cảnh khác. Nhưng có khi Chúa đang đợi ta yêu Người ngay trong hoàn cảnh hôm nay.

Con đường nhỏ không làm cho việc nhỏ trở nên dễ dàng. Nhường người khác một lời nói sau cùng có thể khó hơn nói một bài thật hay về đức khiêm nhường. Đi qua một ngày mệt mỏi mà không trút sự bực dọc lên người trong nhà có thể đòi ta nhiều hơn một việc đạo đức trước mặt mọi người. Ngồi nghe một người kể lại nỗi buồn mà ta đã nghe nhiều lần, vẫn nghe với sự tôn trọng, cũng có thể là một cuộc chiến thầm lặng với cái tôi. Những việc ấy không được ghi vào lịch sử. Nhưng chúng đi vào lịch sử của một gia đình: một đứa con dần tin rằng cha mẹ có thời gian cho mình; một người già bớt thấy mình là gánh nặng; một người đang tuyệt vọng tìm được can đảm để bước qua ngày mai. Tình yêu thường bắt đầu như thế. Nó đến gần, ở lại và không bắt người khác phải biết ơn ngay lập tức.

Tuy vậy, đừng hiểu lầm rằng nên cứ cúi đầu chịu đựng mọi điều rồi gọi đó là thánh thiện. Một người bị đối xử tàn nhẫn cần được bảo vệ và nâng đỡ. Một đứa trẻ chịu xâm hại cần được lắng nghe, được đưa đến nơi an toàn, được giúp đỡ bằng những hành động cụ thể. Người đang bệnh cần chăm sóc; người đang túng thiếu cần sự trợ giúp; người bị chà đạp phẩm giá cần có người đứng bên. Chính bài giảng gốc đã đi từ hình ảnh những bông hoa bé nhỏ đến trách nhiệm chăm sóc trẻ em và những người dễ bị tổn thương. Nếu ta nói về “hoa hồng” mà không chịu nhìn thấy những chiếc gai đang đâm vào người khác, lời nói ấy sẽ trở nên rỗng. Yêu bằng con đường nhỏ có khi bắt đầu bằng một việc rất rõ ràng: tin lời một người đang cầu cứu, ngăn một hành vi gây hại, đưa họ đến người có thể giúp.

Thánh Têrêsa gọi ta trở về với lòng tin tưởng. Tin tưởng không có nghĩa là lúc nào lòng cũng nhẹ. Có những ngày cầu nguyện mà chẳng thấy sốt sắng, làm điều tốt mà chẳng được hiểu, cố gắng thay đổi rồi lại nhận ra mình yếu đuối như cũ. Có người bước vào nhà thờ với cả một tuần thất bại đè trên vai và nghĩ: “Chúa hẳn đã chán tôi rồi.” Nhưng một đứa trẻ vấp ngã không cần đứng dậy thật đẹp rồi mới được về nhà. Em có thể trở về với đầu gối trầy xước và đôi mắt đầy nước. Người cha tốt lành sẽ cúi xuống trước khi em kịp nói hết câu. Tin vào tình yêu Thiên Chúa cũng bắt đầu từ đó: dám đem đến cho Người con người thật của mình, kể cả phần vụng về, tội lỗi và sợ hãi. Ta thú nhận lỗi mình, đón nhận ơn tha thứ, rồi bước tiếp. Ta không cần giả vờ mình mạnh để Chúa thương.

Có lẽ vì thế mà hình ảnh một bông hoa bé nhỏ lại chạm đến nhiều người. Một bông hoa không phải tranh phần đất của bông hoa khác. Nó nhận ánh sáng, hút lấy nước từ lòng đất và nở theo vẻ đẹp được trao cho mình. Còn ta dễ đau khổ vì so sánh. Thấy người khác làm được việc lớn, ta xem thường sự trung thành của chính mình. Thấy người khác được yêu mến, ta nghi ngờ giá trị của bản thân. Thấy đời mình cứ quanh quẩn trong một căn nhà, một lớp học, một giáo xứ, một giường bệnh, ta tưởng mình chẳng đi đến đâu. Nhưng Chúa nhìn đời ta gần hơn cách đám đông nhìn. Người biết ai đã thức một đêm bên người bệnh. Người biết ai đã giữ lời hứa khi không ai kiểm tra. Người biết ai đã phải gom hết can đảm mới có thể bước vào tòa giải tội. Người biết một trái tim đã cố không đáp lại sự cay nghiệt bằng cay nghiệt. Những điều ấy có tên trong lòng Chúa, dù ở đời này chẳng có ai đặt tên cho chúng.

Nhìn thánh Têrêsa, người cha người mẹ có thể tự hỏi: hôm nay tôi có thể dành cho con một khoảng thời gian mà mắt tôi thực sự nhìn con, tai tôi thực sự nghe con không? Người trẻ có thể tự hỏi: tôi có đang coi mình vô giá trị chỉ vì thành công của tôi đến chậm hơn người khác không? Người đang phục vụ trong Hội Thánh có thể tự hỏi: tôi còn yêu những con người cụ thể trước mặt mình, hay chỉ yêu hình ảnh đẹp về công việc tôi làm? Người mang bệnh có thể thưa với Chúa: con không làm được những điều con từng làm, nhưng xin giúp con vẫn biết đón nhận tình thương và trao đi chút dịu dàng con còn có. Không ai cần trả lời tất cả trong một ngày. Con đường nhỏ được đi bằng bước chân hôm nay.

Mỗi khi cử hành Thánh Thể, ta lại thấy Thiên Chúa đến với mình trong dáng vẻ rất khiêm nhường. Người nuôi ta bằng một tấm bánh nhỏ, rồi sai ta về với những con người và bổn phận quen thuộc. Có thể sau Thánh lễ, ta vẫn phải giải quyết một cuộc bất hòa. Người thân vẫn cần được chăm sóc. Nỗi lo ngày mai vẫn còn đó. Nhưng ta có thể trở về khác đi một chút: bớt một lời làm đau, thêm một lần hỏi han, bớt đòi người khác hiểu mình ngay, thêm một chút cố gắng hiểu họ. Ơn Chúa có thể lớn lên trong chính những điều nhỏ ấy. Một đời sống thánh thiện không nhất thiết gây tiếng vang. Nó có thể làm cho một mái nhà bớt lạnh, một cộng đoàn bớt khép kín, một người cô độc biết rằng mình vẫn được nhớ đến.

Lạy Chúa Giêsu, nhiều khi con muốn làm một bông hoa ở nơi ai cũng nhìn thấy. Con sợ nở trong góc vườn âm thầm, sợ cố gắng của mình trôi qua mà không được ghi nhận. Xin dạy con vui vì được Chúa nhìn thấy. Khi con yếu đuối, xin cho con can đảm trở về với Chúa. Khi con gặp một người đang đau, xin đừng để con chỉ nói những lời đẹp, nhưng biết ở bên và làm điều cần thiết để chăm sóc họ. Nhờ lời chuyển cầu của thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, xin cho con biết tin tưởng vào tình yêu Chúa và trung thành với phần đời Chúa trao. Nếu hôm nay con chỉ có thể làm một việc lành rất nhỏ, xin cho con làm việc ấy bằng cả trái tim. Và nếu ở một góc vườn nào đó có người đang héo úa vì thiếu tình thương, xin dẫn bước con đến gần, để chúng con cùng được đón ánh sáng của Người. Amen.

Lm. Anmai, CSsR.

NHỎ BÉ ĐỂ TÌNH YÊU ĐI XA

Lễ thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu – G 19,21–27; Lc 10,1–12

Có một điều thật lạ trong ngày lễ thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu: Tin Mừng kể chuyện Đức Giêsu sai các môn đệ lên đường, còn vị thánh chúng ta mừng kính lại sống gần trọn đời trong một đan viện. Chúa bảo: “Hãy đi”; Têrêsa ở lại. Chúa nói đến mùa gặt mênh mông; Têrêsa sống giữa những công việc nhỏ bé, những ngày lặp đi lặp lại, những con người quen thuộc. Thế mà Hội Thánh gọi chị là bổn mạng các xứ truyền giáo. Có lẽ chính nghịch lý ấy đặt trước chúng ta một câu hỏi quan trọng: một đời người phải lớn đến đâu mới có thể góp phần vào công việc của Thiên Chúa? Ta thường nghĩ muốn làm điều gì cho Chúa thì phải đi xa, nói hay, có tài, có ảnh hưởng, được nhiều người biết đến. Ta sợ cuộc đời mình quá hẹp: một căn nhà nhỏ, một công việc không tên, một thân thể đau yếu, một ngày chẳng có gì đáng kể. Thánh Têrêsa nhắc ta rằng khoảng cách xa nhất mà tình yêu phải vượt qua đôi khi không nằm giữa hai lục địa. Nó nằm giữa lòng ta và người đang sống cạnh ta; giữa lời ta đọc trong kinh nguyện và cách ta đối xử với người vừa làm ta khó chịu; giữa ước muốn nên thánh và sự miễn cưỡng trước một việc rất nhỏ đang chờ mình làm. Ai để cho Chúa đi qua những khoảng cách ấy đã bắt đầu lên đường truyền giáo. Trang phụng vụ cha gửi đặt cạnh nhau cuộc sai đi của bảy mươi hai môn đệ, tiếng kêu đầy đau đớn của ông Gióp và con đường nhỏ bé của Têrêsa. Đọc chung ba điều ấy, ta nhận ra: Chúa không đợi con người hết yếu đuối rồi mới sai đi. Người sai những ai biết mình cần được Người yêu thương và nâng đỡ.

Tin Mừng bắt đầu bằng một chi tiết dễ bị bỏ qua: Đức Giêsu sai các môn đệ đến những nơi chính Người sẽ đến. Các ông đi trước, nhưng không phải là nhân vật chính. Các ông chuẩn bị một lối đi, một cánh cửa, một cuộc gặp gỡ cho Người. Đó là sự tự do rất lớn của người môn đệ: mình có thể làm hết lòng mà không cần trở thành trung tâm. Một lời thăm hỏi chân thành có thể giúp ai đó bớt sợ bước vào nhà thờ. Một lần kiên nhẫn lắng nghe có thể khiến một người đang mất niềm tin dám cầu nguyện lại. Một lời xin lỗi trong gia đình có thể mở cánh cửa mà bao bài giảng chưa mở được. Ta không nhìn thấy Chúa bước qua cánh cửa ấy như nhìn thấy một vị khách, nhưng ta biết mình được mời chuẩn bị đường cho Người. Têrêsa đã sống như thế. Chị không thể đến tất cả những miền đất mình mong đến. Chị cũng không thể tự mình chữa lành những đau khổ của thế giới. Chị có thể cầu nguyện, có thể yêu thương người ở gần, có thể đón nhận từng ngày với lòng tín thác. Chị đã trao cho Chúa chính những gì đời mình có. Đôi khi ta buồn vì những gì mình không thể làm, rồi quên mất điều tốt đang ở trong tầm tay. Ta mơ phục vụ một đám đông mà không còn đủ dịu dàng với một người. Ta ước mình có đời sống thiêng liêng sâu sắc mà cứ trì hoãn một lời kinh thành thật. Ta mong một ngày sẽ quảng đại hơn, trong khi hôm nay có người đang cần ta bớt nóng nảy đi một chút. Con đường nhỏ của Têrêsa bắt đầu ngay ở chỗ ấy: trao tình yêu vào việc trước mắt, ngay khi ta còn thấy mình rất nhỏ.

Đức Giêsu còn nói: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít.” Khi nghe lời này, ta thường nghĩ ngay đến những miền xa xôi, những người chưa biết Chúa, những công việc lớn của Hội Thánh. Nghĩ như vậy là đúng, nhưng cánh đồng cũng có thể bắt đầu ngay trong căn nhà ta đang sống. Có người thân đã nhiều năm không còn kể nỗi buồn của họ vì mỗi lần mở lời đều bị ngắt ngang. Có một em nhỏ tưởng mình chỉ được yêu khi có điểm tốt. Có người bệnh cần được hỏi thăm mà không muốn trở thành gánh nặng cho ai. Có người đang ngồi giữa cộng đoàn nhưng cảm thấy mình không thuộc về nơi nào. Mùa gặt nhiều, bởi lòng người có biết bao khát vọng được yêu thương, được tha thứ, được hiểu. Vậy mà đôi khi ta đi ngang qua họ rất nhanh, vì đang bận với việc mà ta gọi là “việc của Chúa”. Chúa nhìn thấy cánh đồng trước khi ta nhìn thấy công việc. Người nhìn thấy con người trước khi ta nhìn thấy kế hoạch. Vì thế, lời đầu tiên Người dạy các môn đệ trước lúc lên đường là hãy cầu xin Chủ mùa gặt. Cầu nguyện giữ cho lòng ta nhớ rằng cánh đồng thuộc về Chúa, người ta gặp cũng thuộc về Chúa. Ta chăm sóc, gieo trồng, kiên nhẫn; còn sự lớn lên sâu kín trong một tâm hồn là mầu nhiệm Người đang thực hiện.

Rồi Chúa sai họ đi “như chiên con đi vào giữa bầy sói”. Hình ảnh ấy khiến ta chùn bước. Ta muốn được bảo đảm rằng nếu mình sống hiền lành, người khác cũng sẽ hiền lành với mình; nếu mình đem bình an đến, họ sẽ đón nhận; nếu mình cố gắng làm điều tốt, mình sẽ được hiểu đúng. Đức Giêsu không hứa điều đó. Người biết môn đệ có thể bị từ chối, có thể thấy lòng tốt của mình không được đáp lại. Nhưng Người vẫn dạy họ bước đi với tâm hồn của chiên con. Sự hiền lành ấy không phải là yếu ớt hay mặc cho người khác làm tổn thương mình. Đó là quyết tâm không để cái ác quyết định mình sẽ trở thành người thế nào. Sau một lời nặng nề, ta vẫn có thể chọn một câu trả lời ngay thẳng mà không tàn nhẫn. Sau khi bị hiểu lầm, ta vẫn có thể tìm cách làm sáng tỏ sự việc mà không nuôi hận thù. Sau một lần thất vọng về con người, ta vẫn có thể mở lòng, dù cần khôn ngoan hơn. Con đường nhỏ của Têrêsa đòi một sức mạnh âm thầm như thế. Giữ một trái tim hiền lành qua nhiều ngày bình thường, giữa mệt mỏi và va chạm, là một việc lớn trước mặt Chúa.

Chúa còn dạy các môn đệ khi vào nhà ai, hãy nói trước tiên: “Bình an cho nhà này.” Người không dặn họ bắt đầu bằng lời trách móc. Người trao cho họ một lời chúc lành. Ta có thể tự hỏi: người khác nhận được điều gì đầu tiên khi gặp mình? Một vẻ mặt khiến họ phải dè chừng, một câu hỏi như đang xét lỗi, hay một chút bình an để họ có thể thở nhẹ hơn? Bình an không có nghĩa là tránh mọi chuyện khó nói. Trong gia đình, trong cộng đoàn, có những sự thật phải được nói ra, những tổn thương phải được nhìn nhận, những giới hạn phải được đặt rõ ràng. Nhưng ngay cả khi nói sự thật khó nghe, ta vẫn có thể giữ một ước muốn chân thành: mong người kia được sống tốt hơn, mong mối tương quan được chữa lành nếu có thể. Lời “bình an cho nhà này” trước hết cần bén rễ trong chính lòng người nói. Một người mang quá nhiều cay đắng thường không thể cho đi bình an chỉ bằng một câu chúc. Bởi vậy, truyền giáo đôi khi bắt đầu bằng việc trở về trước mặt Chúa, nhận ra mình đang giận ai, đang sợ điều gì, đang cố chứng tỏ điều gì. Ta ở lại đó đủ lâu để Chúa thương lấy mình, rồi mới bước đến gõ cửa nhà người khác.

Ở điểm này, bài đọc về ông Gióp làm cho ngày lễ Têrêsa sâu hơn. Ông Gióp đau khổ, bị bạn bè làm cho đau thêm, và vẫn thốt lên niềm tin rằng Đấng bênh vực ông đang sống. Niềm tin ấy không xóa ngay những vết thương của ông. Nó vang lên giữa vết thương. Cuộc đời Têrêsa cũng không phải một bức tranh chỉ có hoa và nắng. Chị biết bệnh tật, biết thử thách, biết những giờ phút không dễ cảm thấy sự an ủi của Chúa. Vì thế, khi nói đến lòng tín thác của chị, ta đừng hiểu đó là khả năng luôn vui vẻ hoặc luôn thấy mình mạnh mẽ. Tín thác là khi một người có thể thưa với Chúa: “Con đang đau. Con chưa hiểu. Con vẫn ở đây.” Có lúc lời cầu nguyện của ta chỉ dài bằng một hơi thở. Có lúc đến nhà thờ mà lòng không sáng hơn ngay. Có lúc một người vẫn chăm sóc gia đình, vẫn chu toàn bổn phận, trong khi chính họ đang rất cần được nâng đỡ. Chúa nhìn thấy những điều ấy. Người không đòi họ phải che giấu nỗi đau để chứng minh đức tin. Sự nhỏ bé trước mặt Chúa còn là can đảm thú nhận rằng mình cần giúp đỡ, cần nghỉ ngơi, cần một bàn tay khác, cần được yêu thương. Một đứa trẻ tin cha mình đâu phải là đứa trẻ chưa từng khóc. Chính khi khóc, em biết mình có thể chạy đến và được bế lên.

Têrêsa giúp ta hiểu vì sao sự nhỏ bé lại có thể trở thành một con đường nên thánh. Có khi ta biến cả đời sống đạo thành cuộc chạy đua âm thầm với chính mình: phải cầu nguyện sốt sắng hơn, phải thắng hết mọi yếu đuối, phải làm được nhiều việc hơn, phải trở thành một phiên bản thật đáng nể. Rồi mỗi lần vấp ngã, ta xấu hổ và muốn trốn Chúa. Nhưng một đứa trẻ đang tập đi không cần giả vờ rằng mình chưa từng ngã. Em cần đứng dậy, hoặc đưa tay cho người yêu em nâng dậy. Têrêsa không dạy ta bằng lòng với tội lỗi hay thôi cố gắng. Chị dạy ta bắt đầu lại từ lòng thương xót của Thiên Chúa. Ta làm điều lành vì đã được yêu; ta xin tha thứ vì tin rằng mình có thể trở về; ta tập nhẫn nại vì Chúa đã kiên nhẫn với mình. Khi để tình yêu Chúa đi trước, ta không còn phải lấy thành tích để mua lấy chỗ đứng trong lòng Người. Và khi bớt bận tâm về việc chứng minh giá trị của mình, đôi tay ta được tự do hơn để phục vụ người khác.

Có những việc nhỏ chỉ thật sự nhỏ đối với người đứng ngoài. Một người mẹ thức thêm một lần vì con bệnh. Một người cha đi làm về, đặt điện thoại xuống để nghe con kể một câu chuyện rất dài. Một người trẻ từ chối góp lời chế giễu một bạn học đang vắng mặt. Một người có quyền quyết định chịu lắng nghe người yếu thế trước khi kết luận. Một người con gọi về nhà, dù mối quan hệ còn vụng về. Một người đang chịu tang cố gắng ăn một bữa cơm và sống qua thêm một ngày. Không ai cần tô đẹp sự nhọc nhằn của họ. Nhưng cũng đừng coi thường tình yêu đã được đặt vào những việc ấy. Chúng ta thường chỉ thấy hoa khi nó đã nở, còn Chúa nhìn thấy cả những lần âm thầm tưới đất. Têrêsa không bảo ta đi tìm những việc bé nhỏ để khỏi phải nhận trách nhiệm lớn. Nếu hôm nay Chúa trao một trách nhiệm lớn, ta hãy nhận và làm cho tốt. Nhưng dù làm việc lớn hay nhỏ, ta vẫn có thể đi con đường của chị: không lấy mình làm trung tâm, không khinh thường ai, không xem tình yêu là phần phụ thêm sau khi mọi việc đã xong.

“Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép”, lời Chúa dặn các môn đệ cũng khiến ta nghĩ đến những thứ ta mang trong lòng. Có khi ta đi gặp người khác với cả một chiếc túi đầy thành kiến: “Người này sẽ chẳng thay đổi đâu.” Có khi ta mang theo nhu cầu phải được cảm ơn, nên chỉ một sự thờ ơ cũng làm ta muốn bỏ cuộc. Có khi ta mang theo nỗi sợ mình không đủ giỏi, rồi cứ chờ đến ngày hoàn hảo mới dám bắt đầu. Những thứ ấy làm bước chân nặng hơn nhiều đồ đạc. Sự nghèo khó Tin Mừng không có nghĩa là coi nhẹ việc chuẩn bị hay làm việc cẩu thả. Nó là tự do để biết điều gì thực sự cần thiết. Ta cần học hỏi, cần cộng tác, cần chăm sóc sức khỏe, cần làm việc có trách nhiệm. Nhưng ta không cần nắm giữ mọi kết quả trong tay. Môn đệ có thể bước vào một ngôi nhà, chúc bình an, ở lại, chia sẻ bữa ăn, chăm sóc người đau yếu, loan báo Nước Chúa đã đến gần. Họ không thể buộc chủ nhà mở lòng. Khi không được đón nhận, họ tiếp tục đi. Điều ấy giải thoát những ai đã yêu thương rất nhiều mà vẫn chưa thấy điều mình hy vọng. Cha mẹ không thể sống thay cuộc đời con. Người mục tử không thể tin thay cho từng người mình chăm sóc. Ta cứ làm điều mình được trao với lòng trung tín, và phó thác phần còn lại cho Chúa.

Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đứng trước chúng ta như một người chị hiểu lòng khao khát làm nhiều điều tốt, đồng thời hiểu nỗi đau khi nhận ra sức mình có hạn. Chị không bảo ta dập tắt những ước mơ lớn. Chị mời ta đặt chúng trong trái tim yêu thương của Chúa, rồi bắt đầu từ nơi mình đang đứng. Nếu không thể chữa lành mọi nỗi đau, hôm nay ta có thể tránh gây thêm một vết thương. Nếu không thể đưa bình an đến cả thế giới, hôm nay ta có thể ngừng đem sự bực bội của mình trút lên người trong nhà. Nếu không thể đi đến một miền truyền giáo xa xôi, hôm nay ta có thể nhớ cầu nguyện cho một người đang âm thầm phục vụ ở đó, nâng đỡ công việc của họ bằng khả năng mình có, và sống Tin Mừng giữa những người được đặt gần mình. Không điều nào trong những việc ấy tầm thường khi được làm bằng tình yêu. Một đời sống có thể rất kín đáo mà vẫn rộng mở. Một lời kinh trong đêm có thể đi xa hơn người cầu nguyện tưởng. Một người không còn đủ sức bước nhiều vẫn có thể nâng đỡ bước chân của người khác bằng lòng thương, sự khích lệ và niềm hy vọng.

Hôm nay, nếu ta đang thấy mình bé nhỏ, xin đừng vội xem đó là một thất bại. Hãy đem sự bé nhỏ ấy đến với Chúa như nó đang là. Nếu ta mệt, hãy nói mình mệt. Nếu ta đã sai, hãy xin được tha thứ và sửa điều có thể sửa. Nếu ta đang cô đơn, hãy tìm một người đáng tin để cùng bước tiếp. Nếu ta còn sức để yêu, dù chỉ một chút, hãy trao chút ấy cho người trước mặt. Chúa Giêsu đã sai những con người thật, với đôi chân có thể mỏi và trái tim có thể sợ. Người cũng đã đi đến những nơi họ được sai tới. Đó là niềm an ủi của chúng ta: ta không phải tự mình mang Chúa đến bằng một sức mạnh phi thường; ta được cộng tác với Đấng đã yêu thương thế giới trước cả khi ta biết yêu. Xin thánh Têrêsa cầu cho chúng ta biết đón nhận tình yêu ấy mỗi ngày, biết giữ bình an trong lòng, biết làm việc nhỏ với một trái tim rộng, và biết đứng dậy sau những lần vấp ngã. Rồi từ căn nhà này sang căn nhà khác, từ một ngày bình thường sang ngày bình thường kế tiếp, lời chúc của Tin Mừng sẽ có hình có dáng trong đời ta: “Bình an cho nhà này.”

Lm. Anmai, CSsR.

ĐỂ TÌNH YÊU THƯƠNG XÓT ĐƯỢC YÊU THƯƠNG

Bài suy niệm nhân lễ thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu

Có những người đi tìm Thiên Chúa bằng những bước chân thật dài, mong làm được một điều phi thường để chứng tỏ mình yêu Người. Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu lại chỉ cho ta một con đường khác: đứng trước Thiên Chúa với đôi bàn tay bé nhỏ, trống không, và để cho Người yêu mình. Nghe thì dễ, nhưng có lẽ đó là điều khó nhất. Bởi chúng ta quen tự hỏi: “Tôi đã làm được gì cho Chúa?” hơn là lặng xuống để nghe câu hỏi dịu dàng hơn: “Con có tin rằng Cha yêu con không?” Chúng ta muốn mang đến cho Chúa một đời sống đã được sắp xếp gọn ghẽ, một trái tim đã vượt qua mọi yếu đuối, một đức tin không còn chao đảo. Nhưng nếu phải đợi đến ngày ấy mới dám đến gần Người, có lẽ chúng ta sẽ đứng ngoài cửa suốt đời. Têrêsa hiểu rằng đứa trẻ không cần lớn lên trước rồi mới được cha bế. Chính vì nó bé nhỏ mà nó đưa tay lên. Chính vì nó không tự bước nổi mà nó cần được nâng đỡ. Và chính ở nơi con người thôi giả vờ mạnh mẽ, tình yêu thương xót của Thiên Chúa có chỗ để đi vào.

Ông Gióp, người đã đi qua mất mát, đau đớn và những câu hỏi không thể giải quyết bằng vài lời khuyên. Cuối cùng, điều thay đổi ông không đơn thuần là có thêm một lời giải thích về đau khổ. Ông được gặp Thiên Chúa. Có một khoảng cách rất lớn giữa nghe người khác nói về Chúa và tự mình ở lại trước mặt Người, mang theo cả những điều mình không hiểu. Nhiều người chúng ta cũng vậy. Ta biết Thiên Chúa là Cha nhân lành vì đã được học từ thuở nhỏ; ta có thể nhắc lại rất đúng những điều phải tin. Thế nhưng, vào một đêm mất ngủ vì người thân đau bệnh, vào một ngày ta bị hiểu lầm, hay sau một lỗi lầm khiến ta không dám nhìn lại chính mình, lời tuyên xưng ấy bỗng trở thành một câu hỏi: “Chúa có còn ở đây không?” Têrêsa không dạy ta che câu hỏi ấy bằng một nụ cười đạo đức. Cuộc đời chị cũng biết đến bệnh tật, bóng tối và thử thách trong đức tin. Con đường bé nhỏ không phải là con đường của người chưa từng đau. Đó là con đường của người, ngay giữa những gì không hiểu, vẫn có thể thưa: “Con xin trao mình cho tình yêu Chúa.”

Nói đến việc thánh Têrêsa dâng mình cho Tình Yêu Thương Xót, ta có thể dễ hình dung một hành vi lớn lao, chỉ dành cho một tâm hồn đặc biệt. Nhưng thử dừng lại ở chữ thương xót. Thương xót là tình yêu cúi xuống nơi có một vết thương. Nếu tôi nghĩ mình chẳng có vết thương nào, chẳng cần được tha thứ, chẳng cần ai nâng dậy, thì tôi sẽ không hiểu vì sao lòng thương xót lại quý đến thế. Có những người sợ đến với Chúa vì thấy mình bất xứng. Họ đợi cầu nguyện sốt sắng hơn, đợi bỏ được một thói quen xấu, đợi lòng mình hết khô khan. Họ nghĩ mình phải đem đến cho Chúa một món quà đủ đẹp. Nhưng một người con trở về nhà đâu cần đứng ngoài cổng để tự chữa lành mọi vết thương rồi mới gõ cửa. Nó gõ cửa vì biết trong nhà có Cha. Dâng mình cho Tình Yêu Thương Xót trước hết là dám tin rằng Chúa không ngoảnh mặt khi thấy sự thật về ta. Người thấy hết, và Người vẫn gọi ta đến gần.

Dĩ nhiên, tin vào lòng thương xót không có nghĩa là coi nhẹ tội lỗi. Có những điều ta phải nhận trách nhiệm, phải xin lỗi, phải đền bù, phải từ bỏ. Nhưng người biết mình được yêu sẽ có sức can đảm làm những việc ấy. Còn người chỉ sợ bị kết án thường tìm cách giấu mình. Ta có thể che một lỗi lầm trước người khác, rồi dần dần che nó trước chính mình. Ta có thể gọi sự cứng cỏi của mình là nguyên tắc, gọi sự ganh tị là nhiệt thành, gọi việc làm tổn thương người khác là nói sự thật. Tình yêu thương xót không chiều theo những cái tên ta đặt để né tránh sự thật. Tình yêu ấy đủ dịu dàng để ta dám nhìn vào vết thương, và đủ mạnh mẽ để không bỏ mặc ta ở đó. Thánh Têrêsa không mời ta bằng lòng với sự bé nhỏ như một cái cớ để khỏi lớn lên. Chị mời ta đem chính sự bé nhỏ ấy đến với Chúa, để Người dạy ta yêu hơn ngày hôm qua.

Trong Tin Mừng được ghi trên trang ấy, các môn đệ trở về đầy vui mừng vì những việc đã thực hiện được nhân danh Đức Giêsu. Người không dập tắt niềm vui của họ, nhưng đưa niềm vui ấy về một nơi sâu hơn: hãy vui vì tên anh em đã được ghi trên trời. Lời ấy chạm đến một nỗi mệt rất âm thầm trong đời sống chúng ta. Ta thường đo giá trị bản thân bằng thành quả: một công việc thành công, một lời khen, số người lắng nghe, những điều mình đã giúp được. Làm được việc tốt thì ta vui, điều đó thật chính đáng. Nhưng nếu chỉ biết vui vì mình hữu ích, ta sẽ ra sao vào ngày không còn làm được bao nhiêu? Một người mẹ kiệt sức sau nhiều năm chăm con, một người bệnh phải nhờ người khác đỡ mình ngồi dậy, một người già không còn theo kịp nhịp sống của gia đình, một linh mục thấy bài giảng của mình chẳng thay đổi được ai: liệu họ có kém quý giá hơn trước mặt Chúa? Đức Giêsu trả lời bằng một niềm vui không bị lấy mất khi sức lực suy giảm: trước khi con làm được điều gì, con đã được Cha biết đến. Trước khi con có một thành tích để kể, tên con đã có chỗ trong lòng Người.

Đó cũng là lý do con đường của Têrêsa có sức an ủi đến vậy. Nó đến được với người đang sống một cuộc đời tưởng như chẳng có gì đáng kể. Một ngày của họ có thể chỉ gồm bữa cơm phải nấu, căn phòng phải quét, một người khó tính phải chăm sóc, một việc đã làm nhiều lần đến nỗi không ai còn nhận ra. Thế giới thường chú ý đến những điều lớn và mới. Tình yêu lại thường được thử trong điều nhỏ và lặp lại. Kiên nhẫn nghe một câu chuyện đã nghe hôm qua; sửa một lời nói quá nặng; đem nước cho người bệnh mà không nhắc họ nhớ mình đã vất vả; cầu nguyện cho một người mình không dễ mến; làm công việc được giao ngay cả khi chẳng ai nhìn thấy. Những việc ấy tự chúng không hào nhoáng. Nhưng khi được trao cho Chúa bằng một trái tim yêu mến, chúng không hề biến mất. Một giọt nước rơi xuống đất có thể chẳng ai nghe tiếng; một giọt nước trao cho người đang khát thì khác. Điều nhỏ bé mang tình yêu cũng vậy: nó chạm đến một con người thật.

Ta cần cẩn thận, vì đôi khi nghe nói về “việc nhỏ”, ta tưởng Chúa chỉ đòi mình chịu đựng tất cả trong im lặng. Không phải thế. Yêu thương có lúc đòi ta nói rõ một điều sai, tìm sự giúp đỡ, đặt một giới hạn cần thiết, bảo vệ người yếu thế. Sự bé nhỏ của Têrêsa không phải sự cam chịu trước điều ác; đó là sự khiêm nhường của người biết mình cần Chúa trong mọi việc, cả khi phải làm một việc rất khó. Cũng đừng nghĩ rằng dâng mình cho tình yêu Chúa là đi tìm đau khổ. Chúa không cần ta tự gây thương tích để chứng minh lòng trung thành. Khi đau khổ đến, ta có thể xin được chữa lành, xin người khác giúp đỡ, và cùng lúc xin ơn đừng đánh mất tình yêu. Có ngày lời cầu nguyện đẹp nhất chỉ là: “Lạy Chúa, hôm nay con mệt quá. Xin ở với con.” Nếu lời ấy chân thật, nó đã là một sự trao hiến.

Có lẽ mỗi người đều có một chỗ trong lòng mà mình không muốn Chúa chạm vào. Một ký ức cũ, một sự thất vọng chưa nói thành lời, một mối quan hệ đã nguội lạnh, một tội cứ xưng rồi lại phạm, một cảm giác mình đã cầu nguyện bao năm mà vẫn chẳng đổi thay. Ta có thể sẵn lòng dâng Chúa thời giờ, công việc, tiền bạc, nhưng lại giữ chặt chính nơi mình cần lòng thương xót nhất. Vì nơi ấy ta xấu hổ. Ta sợ nếu mở ra, Chúa sẽ thất vọng về mình. Thế mà việc dâng mình chỉ trở nên thật khi ta không còn trao cho Chúa một con người được chọn lọc kỹ càng. Ta thưa với Người: “Đây là con, cả phần con muốn giấu. Xin đừng để con chạy trốn tình yêu của Chúa.” Và có khi bước đầu tiên rất cụ thể: đi xưng tội sau một thời gian dài, nói lời xin lỗi mà mình đã trì hoãn, kể với một người đáng tin điều mình không thể gánh một mình, hoặc ngồi yên trước Thánh Thể vài phút mà không tìm cách tỏ ra sốt sắng. Chỉ ngồi đó, để Chúa nhìn mình.

Đức Giêsu tạ ơn Chúa Cha vì những mầu nhiệm Nước Trời được tỏ cho những người bé mọn. Người bé mọn ở đây không phải người kém trí hiểu hay không có khả năng. Một người uyên bác vẫn có thể bé mọn nếu họ biết cúi đầu trước tình yêu mình không thể sở hữu. Một người ít học vẫn có thể khép lòng nếu họ nghĩ mình không cần ai. Bé mọn là thôi đặt cái tôi làm cửa ngõ duy nhất cho mọi sự: phải hiểu hết rồi mới tin, phải kiểm soát hết rồi mới trao phó, phải chắc mình xứng đáng rồi mới nhận quà. Có những cánh cửa chỉ mở khi bàn tay ta chịu buông. Đứa trẻ đón nhận sự chăm sóc không phải vì nó đã tính đủ giá trị của món quà, nhưng vì nó tin người đang đưa tay về phía mình. Têrêsa nhắc ta trở lại với sự tín thác ấy. Không ngây thơ trước đau khổ, không làm ngơ trước tội lỗi, nhưng biết rằng tình yêu của Cha lớn hơn điều mình có thể tự lo liệu.

Vậy hôm nay, nếu phải mang về từ lễ thánh Têrêsa một điều, ta có thể mang về lời này: hãy để cho mình được Chúa thương xót. Khi cầu nguyện khô khan, hãy đến. Khi vừa thất bại, hãy đến. Khi tự hào vì làm được nhiều việc, cũng hãy đến, để nhớ rằng mình được yêu còn sâu hơn những việc ấy. Khi chẳng còn sức làm gì, hãy đến, vì Chúa không quên tên con. Rồi từ nơi ấy, hãy yêu người bên cạnh bằng một việc có thật. Đừng đợi đến khi mình có thể yêu cả thế giới. Hãy bắt đầu với người đang sống cùng nhà, người đang chờ một cuộc gọi, người mình vừa nói lời thiếu dịu dàng. Ta không biết một việc nhỏ được làm hôm nay sẽ đi xa đến đâu. Nhưng ta biết Đấng đón nhận nó. Ta không biết ngày mai mình sẽ mạnh mẽ hay yếu đuối. Nhưng ta biết mình có thể đưa tay về phía ai. Và nếu tối nay nhìn lại, ta thấy mình đã yêu quá ít, thì ngay lúc ấy vẫn còn một việc có thể làm: trở về với Chúa, không giấu giếm, không tuyệt vọng, và xin Người dạy mình bắt đầu lại.

Lạy Chúa Giêsu, xin cứu chúng con khỏi nỗi sợ phải đến với Chúa bằng chính con người thật của mình. Xin cho chúng con hiểu rằng lòng thương xót của Chúa không phải phần thưởng dành cho người đã hoàn hảo, nhưng là nguồn sống cho người đang cần được chữa lành. Nhờ lời chuyển cầu của thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, xin dạy chúng con tin cậy như trẻ nhỏ, can đảm nhận lỗi, bền lòng làm điều thiện trong những ngày bình thường, và yêu người ở gần mình bằng những việc rất cụ thể. Khi chúng con không còn gì đáng tự hào, xin cho chúng con vẫn nhớ mình thuộc về Chúa. Khi chúng con muốn bỏ cuộc, xin giữ bàn tay chúng con trong tay Người. Xin làm cho đời chúng con, dù âm thầm và nhỏ bé, trở thành nơi Tình Yêu Thương Xót được đón nhận và được trao đi. Amen.

Lm. Anmai, CSsR.

NHỎ BÉ TRONG VÒNG TAY CHÚA

Bài giảng lễ thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu – Mt 18,1–5

Anh chị em thân mến, có những ngày chúng ta mệt đến mức chỉ muốn được nghe một lời thật dịu dàng: “Con không cần phải gồng mình thêm nữa.” Mệt vì công việc, vì trách nhiệm, vì một người thân đau yếu, vì những điều đã cố gắng rất lâu mà vẫn chưa đổi thay. Cũng có khi chúng ta mệt vì đời sống đức tin của chính mình: đã bao lần hứa sẽ kiên nhẫn hơn mà vẫn nóng giận; đã bao lần quyết tâm cầu nguyện mà lòng cứ khô khan; đã bao lần muốn yêu thương cho tử tế mà cuối ngày lại thấy mình nhỏ nhen. Giữa những nỗi mệt ấy, Hội Thánh mừng lễ thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu. Vị thánh mang tên “Hài Đồng” không đến để bảo chúng ta giả vờ rằng cuộc đời đơn giản. Chị đến để nhắc chúng ta một điều có sức giải thoát: trước mặt Thiên Chúa, ta được phép bé nhỏ. Ta có thể nhận ra mình yếu mà không tuyệt vọng, nhận ra mình cần được giúp đỡ mà không xấu hổ, nhận ra mình chưa nên thánh mà vẫn dám tin Chúa đang dẫn mình đi trên đường nên thánh.

Tin Mừng kể rằng các môn đệ đến hỏi Đức Giêsu: “Ai là người lớn nhất trong Nước Trời?” Chúa không bắt đầu bằng một bài giải thích dài. Người gọi một em nhỏ đến, đặt em giữa các ông và nói rằng nếu không trở nên như trẻ nhỏ, các ông sẽ chẳng được vào Nước Trời. Có lẽ chính hình ảnh ấy đã làm các môn đệ ngỡ ngàng. Họ đang nghĩ đến vị trí; Chúa đặt trước mặt họ một người chẳng có vị trí nào để đòi hỏi. Họ đang hỏi ai lớn hơn; Chúa bảo họ nhìn người bé nhất. Họ muốn biết con đường đi lên; Chúa chỉ cho họ con đường trở về với sự thật của mình. Một đứa trẻ không tự nuôi sống mình, không tự bảo vệ mình trước mọi hiểm nguy, không thể lớn lên nếu thiếu bàn tay chăm sóc. Chúa đặt em nhỏ ở giữa để những người trưởng thành học lại điều mình dễ quên: sự sống của ta luôn là một quà tặng được đón nhận. Ta cần cơm bánh, hơi thở, tình thương, sự tha thứ; và sâu xa hơn tất cả, ta cần Thiên Chúa.

Chính ở điểm này, lời Chúa chạm vào lòng chúng ta. Lớn lên, ta học được nhiều điều cần thiết: tự làm việc, tự quyết định, giữ lời hứa, gánh lấy trách nhiệm. Nhưng cùng với sự trưởng thành ấy, đôi khi ta âm thầm tin rằng mình phải tự xoay xở với tất cả. Ta sợ để người khác thấy mình đang lo âu. Ta sợ thừa nhận một vết thương chưa lành. Ta nghĩ rằng một người có đức tin vững phải luôn bình an, một người cầu nguyện lâu năm phải luôn sốt sắng, một người phục vụ Chúa phải luôn mạnh mẽ. Rồi khi không được như thế, ta thất vọng về bản thân và bắt đầu né tránh cả Chúa. Thánh Têrêsa đã đi qua kinh nghiệm yếu đuối của một con người thực. Chị biết mình mong manh; chị không xây dựng sự thánh thiện trên ý nghĩ rằng một ngày nào đó mình sẽ chẳng còn cần đến lòng thương xót. Chị đem chính sự mong manh ấy đến với Chúa. Càng nhận ra giới hạn của mình, chị càng đặt lòng tin nơi tình yêu và sự trung tín của Người. Đó là chiều sâu của con đường thơ ấu thiêng liêng: sống thật trước mặt Cha và để Cha yêu thương, nâng đỡ, biến đổi mình.

Một em bé an tâm trong vòng tay cha mẹ không vì em đã hiểu hết mọi chuyện. Em an tâm vì biết mình đang được bế. Đời sống đức tin cũng có những lúc như thế. Ta không hiểu tại sao lời cầu xin của mình chưa được nhận theo cách mình mong. Ta không hiểu vì sao một người tốt lại chịu đau khổ, vì sao gia đình mình phải trải qua một mùa khó khăn, vì sao lòng mình cứ phải chiến đấu với cùng một nỗi sợ. Tin tưởng vào Chúa không có nghĩa là ta phải tìm ra lời giải cho mọi câu hỏi rồi mới được bình an. Có khi lời cầu nguyện chân thật nhất chỉ là: “Lạy Cha, con không hiểu. Con buồn. Con sợ. Xin đừng để con rời tay Cha.” Một lời nguyện như thế không nhỏ bé theo nghĩa tầm thường. Nó đòi một lòng can đảm lớn, bởi ta đã thôi che giấu và dám trao cho Chúa chính phần đời mình không kiểm soát được.

Thánh Têrêsa cũng giúp ta hiểu rằng lòng tín thác không làm con người thụ động. Một đứa trẻ học bước đi bằng cách nắm tay người lớn, nhưng chính em vẫn phải nhấc chân lên. Người tin vào Chúa cũng vậy: vẫn phải làm việc, chọn điều thiện, xin lỗi khi sai, kiên trì khi khó, tìm sự giúp đỡ khi cần. Chị Têrêsa bước theo tiếng gọi của mình với một ý chí rõ ràng; rồi trong đời sống thường ngày của tu viện, chị tiếp tục yêu thương qua những việc rất cụ thể. Tin vào sức mạnh của Chúa hoạt động nơi sự yếu đuối không phải là ngồi chờ mọi sự tự đổi thay. Đó là can đảm thực hiện phần việc nhỏ bé của mình, đồng thời không đòi đôi vai hữu hạn của mình phải mang lấy phần việc thuộc về Thiên Chúa.

Có lẽ nhiều người trong chúng ta đang sống một cuộc đời mà những việc tốt khó được nhìn thấy. Một người mẹ thức dậy khi con sốt, sáng hôm sau vẫn đi làm. Một người cha đi làm về mệt mà cố ngồi nghe con kể chuyện ở trường. Một người con nhẫn nại chăm sóc cha mẹ già, dù có những ngày lòng mình cũng cạn sức. Một người âm thầm tránh nói xấu đồng nghiệp, dù đang bị hiểu lầm. Một người cố quay lại tòa giải tội sau nhiều năm chần chừ. Một người đang chịu bệnh vẫn hỏi thăm người nằm giường bên cạnh. Những việc ấy có thể chẳng xuất hiện trong một câu chuyện lớn lao nào, nhưng đều có một sức nặng của tình yêu. Thánh Têrêsa dạy ta đừng đợi đến khi có thể làm một việc phi thường mới bắt đầu yêu Chúa. Ngay hôm nay, trong căn nhà này, ở bàn làm việc này, với người đang làm ta khó chịu này, ta có thể bắt đầu bằng một điều nhỏ và làm điều ấy với một trái tim rộng mở.

Tuy nhiên, “làm việc nhỏ” cũng không có nghĩa là việc gì ta làm cũng dễ dàng. Có những lời xin lỗi chỉ gồm vài chữ mà phải mất nhiều tháng ta mới nói được. Có một cuộc điện thoại rất ngắn mà ta trì hoãn vì sợ bị từ chối. Có một lần giữ im lặng, không đáp trả bằng lời cay nghiệt, đòi ta chiến đấu với chính mình hơn cả một ngày lao động. Có những người thấy việc đến nhà thờ là bình thường; với người khác, bước qua cánh cửa ấy sau một lỗi lầm có thể là cả một cuộc trở về. Chúa nhìn thấy chiều sâu của mỗi việc. Người biết một chén nước được trao đi trong lúc ta đang mệt có giá trị thế nào; Người biết một nụ cười được giữ lại giữa cơn đau tốn bao nhiêu cố gắng. Bởi vậy, xin đừng coi thường những khởi đầu nhỏ. Hạt giống không cần phải là một cây lớn ngay trong ngày được gieo xuống. Nó cần được đặt vào đất, được tưới, được đón ánh sáng và được kiên nhẫn chờ đợi.

Chúng ta thường nghiêm khắc với mình theo một cách lạ lùng. Khi người khác ngã, ta có thể nói: “Hãy đứng dậy, Chúa còn thương bạn.” Khi chính mình ngã, ta lại nói: “Mình chẳng thay đổi được đâu.” Ta đối xử với người khác như thể lòng thương xót của Chúa là thật, nhưng đối xử với mình như thể lòng thương xót ấy đã hết. Thánh Têrêsa mời ta bỏ lối nghĩ đó. Nếu Chúa là Cha, ta có thể trở về với Người cả khi tay mình còn lấm bẩn. Đứa trẻ vấp ngã không cần đứng dậy cho thật đẹp rồi mới được chạy đến với cha; chính vì đau mà em tìm đến cha. Cũng thế, khi phạm lỗi, ta cần thành thật nhận lỗi, sửa chữa điều có thể sửa và tìm đến ơn tha thứ. Đừng để sự hổ thẹn giữ mình ở xa Chúa. Người không vui vì ta ngã; Người muốn ta để Người nâng dậy.

Bài đọc từ thư Rôma nói đến Thần Khí làm cho chúng ta được nhận làm nghĩa tử và gọi Thiên Chúa là Cha. Đây là một lời có thể ta đã nghe nhiều lần đến nỗi quên mất sự lớn lao của nó. Ta không đến với Chúa như người làm thuê thấp thỏm chờ xem hôm nay mình có đủ tốt để được giữ lại hay không. Ta đến với Người trong thân phận người con đã được yêu thương và được mời sống xứng với tình yêu ấy. Khi một người con làm sai, sự thật vẫn cần được nói ra; việc sai vẫn cần được sửa. Nhưng người cha tốt không muốn đứa con tưởng rằng chỉ một lỗi lầm đã xóa mất chỗ của nó trong gia đình. Thiên Chúa đưa ta trở về bằng lòng thương xót để ta có sức thay đổi. Ta trưởng thành trong đức tin khi biết nhận trách nhiệm về đời mình mà vẫn tin mình thuộc về Người.

Điều ấy còn thay đổi cách ta nhìn người khác. Nếu tôi được Chúa kiên nhẫn đón nhận trong sự bé nhỏ của mình, tôi có thể tập kiên nhẫn với sự bé nhỏ của anh chị em. Một cộng đoàn sẽ khác đi biết bao nếu người ta bớt vội xếp nhau vào những cái tên cố định: “người ấy khó tính”, “em ấy hư”, “gia đình ấy chẳng sốt sắng”, “người kia không bao giờ thay đổi”. Có thể người mà ta thấy khó gần đang trải qua một nỗi đau ta không biết. Có thể đứa trẻ hay quậy phá đang mong một người lớn thực sự lắng nghe. Có thể người đã bỏ lễ một thời gian vẫn muốn quay về nhưng sợ ánh mắt của cộng đoàn. Đón nhận một người bé nhỏ nhân danh Đức Giêsu, như lời Tin Mừng hôm nay, có khi bắt đầu bằng việc dành cho họ một chỗ để được bắt đầu lại. Ta không biết một cử chỉ tử tế của mình sẽ giúp ai dám tin rằng Chúa chưa bỏ quên họ.

Anh chị em thân mến, mỗi lần dự Thánh lễ, chúng ta đến bàn tiệc của Chúa với đôi tay trống. Ta không thể tự làm ra Mình Thánh Chúa; ta chỉ có thể mở tay đón nhận. Cử chỉ ấy nói lên sự thật về cả cuộc đời ta. Ta làm được nhiều điều, nhưng sự sống sâu xa nhất vẫn là ân ban. Ta mang đến đây công việc đã hoàn thành và việc còn dang dở, niềm vui và nỗi buồn, lòng mến cùng những lần yêu chưa đủ. Chúa nhận lấy tất cả, nuôi dưỡng ta bằng chính sự sống của Người, rồi sai ta trở lại đời thường. Sau Thánh lễ, con đường thơ ấu thiêng liêng có thể bắt đầu bằng một việc rất gần: về nhà và nói lời dịu dàng hơn; gặp người mình đã tránh mặt và chủ động chào; dành vài phút cầu nguyện thay vì tiếp tục chạy trốn sự thinh lặng; làm điều phải làm hôm nay mà không tự hành hạ mình vì chưa thể làm hết mọi điều.

Trong ngày lễ thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, xin Chúa ban cho chúng ta một trái tim biết tin cậy. Khi thành công, xin cho ta biết tạ ơn mà không kiêu căng. Khi thất bại, xin cho ta biết đứng dậy mà không tuyệt vọng. Khi thấy mình yếu, xin cho ta đủ khiêm nhường để xin giúp đỡ. Khi gặp một người yếu hơn, xin cho ta đủ dịu dàng để ở bên họ. Và trong những ngày chẳng cảm thấy mình tiến bộ chút nào, xin cho ta vẫn trung thành với một việc lành bé nhỏ. Ta có thể thưa với Chúa: “Lạy Cha, hôm nay con chỉ làm được chừng ấy. Con trao cho Cha điều con đã làm, điều con chưa làm được và cả con người thật của con. Xin dạy con yêu Cha trong ngày hôm nay.” Có lẽ đó là bước đi đầu tiên, rồi cũng là bước đi cần được lặp lại suốt đời: đặt bàn tay nhỏ của mình vào bàn tay Chúa và để Người dẫn đi. Amen.

Lm. Anmai, CSsR.

ĐỪNG SỢ NÊN THÁNH

Có lẽ nhiều người trong chúng ta chưa từng nói thành lời rằng mình sợ nên thánh. Ta vẫn kính các thánh, vẫn xin các ngài chuyển cầu, vẫn mong con cái lớn lên thành người tốt. Nhưng khi nghe Chúa gọi chính mình nên thánh, lòng ta lại chùng xuống. Ta nghĩ đến một đời sống quá cao, quá sạch, quá xa: không được yếu đuối, không được nóng giận, không được mệt mỏi, không được thất bại. Ta nhìn vào những điều mình đã làm, những điều mình muốn quên, những lời hứa với Chúa còn dang dở, rồi tự nhủ: “Chuyện ấy dành cho người khác.” Thế là ta tiếp tục đi lễ, tiếp tục cầu nguyện đôi chút, tiếp tục làm những việc phải làm, nhưng âm thầm chừa lại một khoảng cách giữa mình và lời mời gọi của Chúa. Ta tin Chúa có thể làm cho con người nên thánh; chỉ riêng trường hợp của mình, ta thấy khó tin. Lễ thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đến để chạm vào chính khoảng cách ấy. Cuộc đời chị nói với ta một điều vừa dịu dàng vừa đòi hỏi: hãy để Thiên Chúa yêu mình thật; rồi từ nơi mình đang sống, hãy đáp lại tình yêu ấy bằng một việc thật.

Thánh Têrêsa không chờ đến khi mình trở thành một con người phi thường mới bắt đầu yêu Chúa. Chị sống một đời ngắn ngủi, trong những ngày tháng có giờ giấc, có bổn phận, có những người sống gần mình, có niềm vui và cả những điều khó chịu. Chị không thể chọn một cuộc đời rộng lớn hơn cuộc đời đã được trao, nhưng chị có thể đặt vào đó một tình yêu rộng lớn hơn. Đó là điều làm người ta phải dừng lại trước chị. Ta thường nghĩ rằng nếu hoàn cảnh khác đi, mình sẽ sống tốt hơn: nếu gia đình bớt căng thẳng, nếu công việc bớt nặng, nếu có thêm thời gian, nếu sức khỏe khá hơn, nếu người bên cạnh dễ thương hơn. Có thể những khó khăn ấy hoàn toàn có thật. Chúa thấy chúng, và Chúa không xem nhẹ chúng. Nhưng tình yêu của Người vẫn có thể bắt đầu ngay hôm nay, trong một căn bếp còn bừa bộn, một buổi chiều trở về rất mệt, một cuộc trò chuyện ta đã trì hoãn, một thánh lễ ta đến dự với tâm hồn khô khan. Nên thánh không đòi ta bước ra khỏi đời mình để tìm một đời sống tưởng tượng. Chúa đến gặp ta ở đây.

Ta sợ nên thánh một phần vì ta tưởng Chúa chỉ hài lòng khi mình đã hoàn hảo. Bởi thế, mỗi lần thấy một thói xấu cũ trở lại, ta nản lòng; mỗi lần cầu nguyện mà đầu óc đi lang thang, ta thấy mình giả dối; mỗi lần cố gắng rồi lại vấp ngã, ta nghĩ có lẽ chẳng ích gì. Nhưng một đứa trẻ đang tập đi không thôi là con của cha mẹ nó khi ngã xuống. Nó cần được nâng dậy, cần học cách bước vững hơn, và cần biết bàn tay nào đang đưa ra cho mình. Con đường nhỏ của thánh Têrêsa không biến sự yếu đuối thành điều đáng tự hào, cũng không bảo ta cứ yên tâm ở mãi trong tội lỗi. Con đường ấy dạy ta đem sự yếu đuối của mình đến với Chúa, thành thật gọi tên nó, đón nhận ơn tha thứ và bắt đầu lại. Có những người ở rất gần Chúa mà vẫn kiệt sức vì luôn cố chứng minh mình xứng đáng được yêu. Têrêsa như khẽ kéo tay họ: con đã được yêu rồi. Chính vì được yêu, con mới có can đảm đổi đời.

Tin Mừng về hai người con làm sáng tỏ điều ấy. Người con thứ nhất trả lời cha mình bằng một tiếng “không”, nhưng sau đó hối hận và đi làm vườn nho. Người con thứ hai thưa “vâng” rất đẹp, rồi chẳng đi. Đức Giêsu đưa ta đến một câu hỏi không dễ né tránh: cuối cùng, ai đã làm theo ý cha? Trong đời sống đạo, chúng ta có thể rất quen với tiếng “vâng”. Ta biết khi nào cần đáp, biết điều gì nên nói, biết cách diễn tả những ý tưởng tốt lành. Có lúc ta còn làm người khác cảm phục bởi lời nói của mình. Nhưng Chúa nhìn sâu hơn câu trả lời ban đầu. Người nhìn bước chân sau đó. Người nhìn xem lời cầu nguyện có làm ta dịu lại với người trong nhà không; việc rước lễ có khiến ta công bình hơn với người mình thuê làm không; lòng sốt sắng có giúp ta can đảm xin lỗi khi đã làm ai đau không. Một tiếng “vâng” nói trước bàn thờ cần tiếp tục được nói bằng đời sống, ở những nơi không có ai vỗ tay và nhiều khi cũng chẳng có ai nhận ra.

Dẫu vậy, dụ ngôn còn chứa một niềm hy vọng lớn cho người đang mang trong lòng một tiếng “không”. Có thể ta đã từng từ chối Chúa bằng một lựa chọn sai. Có thể ta đã sống nhiều năm xa bí tích Hòa Giải, đã để một mối hận lớn dần, đã làm tổn thương người thân rồi ngại quay về. Cũng có thể tiếng “không” của ta rất âm thầm: biết điều thiện mà cứ hẹn ngày mai, biết một người cần được lắng nghe mà giả vờ bận, biết mình phải sửa một điều mà cứ chờ người khác thay đổi trước. Người con trong Tin Mừng đã nói “không”, nhưng câu chuyện của anh không dừng ở đó. Một lúc nào đó, anh nhận ra mình có thể đứng dậy. Cha anh vẫn còn vườn nho. Lời mời vẫn còn đó. Với chúng ta cũng vậy, quá khứ cần được nhìn nhận và sửa chữa trong khả năng của mình, nhưng quá khứ không có quyền viết thay câu trả lời cuối cùng của ta. Hôm nay, ta có thể đi.

Điều này thật quan trọng khi ta nói về lòng thương xót. Có người sợ rằng tin vào lòng thương xót sẽ khiến mình dễ dãi. Nhưng ai thực sự đón nhận lòng thương xót sẽ không còn muốn dùng nó làm cớ để ở yên. Người ấy biết Chúa đã đi tìm mình lúc mình lạc đường; vì thế người ấy muốn quay về. Người ấy biết mình được tha thứ; vì thế người ấy muốn ngừng làm đau người khác. Người ấy hiểu mình không tự cứu nổi mình; vì thế người ấy mở lòng cho ân sủng và chịu trách nhiệm về những việc mình làm. Lòng thương xót không phải là lời nói ru ta ngủ trong một cuộc đời cũ. Đó là tiếng Chúa gọi tên ta, đánh thức ta và dẫn ta ra cửa. Thánh Têrêsa đã tin vào tình yêu ấy với một sự táo bạo lạ lùng. Chị không đo tình yêu Thiên Chúa bằng sự thành công của mình. Chị cũng không lấy sự nhỏ bé làm lý do để từ chối lời mời gọi lớn lao. Chị để lòng mình được nâng lên, rồi trung thành trong những việc trước mắt.

Có khi việc trước mắt nhỏ đến mức ta ngại gọi đó là con đường nên thánh. Đó là một lần ngừng lời nói đang chuẩn bị làm người khác xấu hổ. Là chăm sóc cha mẹ già khi câu chuyện của các ngài lại lặp thêm một lần nữa. Là trả lại món tiền mình có thể giữ mà chẳng ai biết. Là giữ lời hứa với con dù hôm ấy mình bận. Là hỏi một người đang buồn: “Dạo này bạn thế nào?” rồi ở lại đủ lâu để nghe câu trả lời. Là cầu nguyện cho người khiến mình khó chịu, trước khi mình có thể cảm thấy thương họ. Những việc ấy nhỏ trong mắt người đời vì chúng ít tạo ra tiếng vang. Nhưng chúng không nhỏ đối với người nhận được chúng, và cũng không nhỏ đối với một trái tim đang tập yêu. Một đời người phần lớn được làm nên từ những giờ bình thường. Nếu ta cứ đợi một biến cố lớn mới trao đời mình cho Chúa, có thể ta sẽ bỏ lỡ vô số lần Người đến xin ta yêu thương trong một ngày rất đỗi bình thường.

Tất nhiên, nói về những việc nhỏ không có nghĩa là làm ngơ trước những trách nhiệm lớn. Có những sự thật phải được nói ra, có những bất công phải được sửa, có những người yếu thế cần được bảo vệ, có những vết thương cần sự giúp đỡ kiên trì. Tình yêu không phải lúc nào cũng nhẹ nhàng. Đôi khi nó đòi ta từ bỏ một lợi ích, nhận lỗi công khai, kiên nhẫn đồng hành với người bệnh, hoặc đứng về phía một người đang bị bỏ mặc. Con đường nhỏ dạy ta đừng xem thường một hành động yêu thương khiêm tốn; đồng thời nó rèn cho ta trái tim đủ trung tín để bước vào những việc khó hơn khi Chúa trao. Người biết yêu trong điều kín đáo sẽ dần học được cách yêu khi phải trả giá. Người chỉ thích những việc lớn vì chúng khiến mình được nhìn thấy có thể sẽ bỏ cuộc trước một bổn phận bé nhỏ lặp đi lặp lại.

Thánh Phaolô mời gọi ta sống khiêm nhường và quan tâm đến người khác theo tâm tình của Đức Kitô. Đây là một phép thử rất thật cho lòng đạo. Ta có thể muốn nên thánh mà vẫn muốn mọi người công nhận mình đúng. Ta có thể hy sinh nhiều nhưng âm thầm ghi nhớ từng lần người khác không biết ơn. Ta có thể phục vụ cộng đoàn mà lòng ngày càng cay đắng vì người bên cạnh được quý mến hơn. Khi ấy, Chúa không chỉ hỏi ta đã làm được bao nhiêu việc. Người còn hỏi: trong những việc ấy, con có để người khác được sống không? Con có biết vui vì điều tốt nơi họ không? Con có thể nhận ra một người khó tính cũng có những gánh nặng mình chưa hiểu không? Khiêm nhường bắt đầu từ sự thật: tôi cần ơn Chúa, và người đang đứng trước mặt tôi cũng được Chúa yêu. Sự thật ấy làm mềm trái tim. Nó giúp ta bớt biến đời sống đạo thành một cuộc so sánh âm thầm, nơi người khác luôn là thước đo để ta thấy mình hơn hoặc kém.

Có những người trẻ nghe lời mời nên thánh và tưởng rằng mình phải thôi ước mơ, thôi vui, thôi sống trọn tuổi trẻ. Thánh Têrêsa lại cho thấy một trái tim trẻ có thể ước mơ rất lớn chính vì đã gặp Thiên Chúa. Chị muốn yêu nhiều hơn tầm tay nhỏ bé của mình; muốn đời mình sinh ích cho những người mình không thể gặp. Đó không phải là tuổi trẻ bị thu hẹp. Đó là tuổi trẻ tìm thấy một chân trời sâu hơn. Các bạn trẻ hôm nay cũng đang mang những câu hỏi rất thật: mình là ai khi không còn được điểm cao, lượt thích, một chỗ đứng nổi bật? Mình có đáng yêu khi thất bại không? Có ai chờ mình khi mình trở về với đôi tay trắng? Tin Mừng không đáp bằng một lời khen dễ dãi. Tin Mừng đưa các bạn đến với Đức Giêsu, Đấng biết rõ từng người và vẫn gọi từng người bước theo. Người không đợi các bạn sống xong tuổi trẻ mới bắt đầu đồng hành. Người muốn bước vào những chọn lựa, tình bạn, niềm vui, nỗi sợ và cả những lần các bạn phải làm lại từ đầu.

Còn với những người đã đi qua nhiều năm tháng, lời “đừng sợ nên thánh” cũng vẫn dành cho mình. Đôi khi tuổi tác làm ta nghĩ rằng những gì cần đổi đã quá muộn. Ta quen một cách nói, một kiểu phản ứng, một khoảng cách trong gia đình. Ta bảo: “Tính tôi là vậy.” Nhưng lòng Chúa không thôi làm việc khi tóc ta đã bạc. Một người cha có thể học nói lời xin lỗi với con mình sau nhiều năm chỉ biết ra lệnh. Một người mẹ có thể học nghỉ ngơi mà không mặc cảm, để yêu thương bằng một trái tim bớt kiệt sức. Một người đã từng bị tổn thương có thể từng bước tìm lại tự do, dù tiến trình ấy chậm và cần người đồng hành. Một linh mục có thể trở về với niềm vui ban đầu của ơn gọi bằng một giờ cầu nguyện thành thật, một cuộc gặp gỡ không vội vàng, một lần nhận rằng mình cũng cần được giúp đỡ. Chúa không hứa mọi vết thương sẽ lành ngay. Người hứa ở cùng ta trên đường trở về, và không một ngày nào là quá tầm thường để bắt đầu bước tiếp.

Nếu hỏi thánh Têrêsa phải bắt đầu từ đâu, có lẽ ta nên nhìn vào chính ngày hôm nay. Đừng vội hứa với Chúa những điều thật lớn để rồi tối nay vẫn tránh một việc cụ thể Người đang nhắc. Hãy ngồi yên ít phút trước Người, không tô đẹp mình, cũng không kết án mình thay Người. Hãy nói: “Lạy Chúa, con đang sợ. Con thấy mình nhỏ, con thấy mình yếu. Xin chỉ cho con việc yêu thương kế tiếp.” Sau đó, hãy làm việc ấy. Có thể là đến gặp một người để xin lỗi. Có thể là trở lại tòa giải tội. Có thể là dành trọn một bữa cơm cho gia đình mà không nhìn vào điện thoại. Có thể là ngừng nói xấu một người. Có thể là chăm sóc một bổn phận đã bị bỏ quên. Khi làm xong, đừng đứng đó đo xem mình đã thánh thiện hơn bao nhiêu. Hãy cảm tạ Chúa và ngày mai lại bước thêm một bước. Một hành trình dài thường được gìn giữ bằng những lời đáp rất ngắn: “Vâng, hôm nay con đi.”

Anh chị em thân mến, điều đáng buồn nhất không phải là ta nhận ra mình còn xa sự thánh thiện. Điều đáng buồn là vì thấy mình còn xa, ta không dám đến gần Chúa. Thánh Têrêsa không mời ta ngắm một cuộc đời đẹp rồi thở dài về đời mình. Chị mời ta tin rằng tình yêu Thiên Chúa cũng đang hướng về mình, vào đúng lúc mình còn nghèo nàn, còn lúng túng, còn phải học lại cách yêu. Đức Giêsu của dụ ngôn vẫn gọi các con vào vườn nho. Nếu hôm qua ta đã nói “không”, hôm nay ta có thể đứng dậy. Nếu miệng ta đã nói “vâng” mà chân còn đứng yên, hôm nay ta có thể bước đi. Đừng sợ nên thánh, vì Chúa không gọi ta đi một mình. Hãy sợ một điều thôi: để cho nỗi nghi ngờ tình yêu của Người giữ ta ở mãi ngoài cửa, trong khi cửa đã mở và Cha vẫn đang chờ. Xin thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu cầu cho chúng ta có một lòng tin đơn sơ mà can đảm, một tình yêu biết đi vào những việc nhỏ, và một trái tim mỗi ngày lại dám thưa với Chúa: “Con đây. Xin dạy con yêu.”

Lm. Anmai, CSsR.

CỨ ĐI VỀ PHÍA GIÊRUSALEM

Suy niệm Lc 9,51–56,

Có những ngày, người ta chỉ muốn quay về. Quay về một nơi không ai từ chối mình, không ai hiểu lầm thiện ý của mình, không ai bắt mình phải yêu thương thêm nữa. Ta đã cố gắng đủ rồi, đã nhẫn nhịn đủ rồi, đã đi một quãng đường rất dài với lòng tốt của mình, thế mà trước mặt vẫn là một cánh cửa đóng. Trong những ngày ấy, Tin Mừng kể rằng Đức Giêsu cũng từng đi đến một làng không đón tiếp Người. Người biết mình đang đi đâu. Giêrusalem ở phía trước, với cuộc thương khó đang chờ. Người vẫn sai các môn đệ đi chuẩn bị chỗ nghỉ dọc đường. Nhưng dân làng Samaria từ chối đón Người vì Người đang hướng về Giêrusalem. Giacôbê và Gioan nổi giận, muốn lửa từ trời xuống thiêu hủy họ. Đức Giêsu quay lại quở trách hai ông, rồi cùng các môn đệ đi sang làng khác. Một câu chuyện ngắn, nhưng đủ soi vào những điều rất sâu trong lòng ta: ta làm gì khi tình yêu của mình không được đón nhận, khi điều mình tin là đúng bị người khác khước từ, khi con đường Chúa chọn đi qua nơi mình không muốn bước tới?

Thánh Luca nói Đức Giêsu nhất quyết lên đường đi Giêrusalem. Đó là một quyết định của tình yêu. Người không đi vì không biết điều gì sẽ xảy ra. Người cũng không đi vì thích đau khổ. Người đi vì ở cuối con đường ấy có những con người cần được cứu, có chúng ta với những lần vấp ngã, phản bội, sợ hãi và lạc đường. Giêrusalem sẽ là nơi Người bị bắt, bị bỏ rơi và đóng đinh; nhưng cũng là nơi Người yêu cho đến cùng. Bởi vậy, ngay từ lúc khởi hành, Đức Giêsu đã mang trong lòng một sự kiên định mà chẳng lời từ chối nào có thể làm đổi hướng. Người biết mình đến để trao ban sự sống. Người không thể vì một cánh cửa đóng mà từ bỏ những người đang đợi phía sau cánh cửa ấy, cũng không thể vì các môn đệ nóng giận mà biến hành trình cứu độ thành cuộc trừng phạt.

Ta hãy dừng lại ở ngôi làng Samaria. Người ta không đón Đức Giêsu vì đích đến của Người. Họ nhìn vào hướng Người đi và để một mối bất hòa lâu đời quyết định thái độ của mình. Điều ấy nghe có vẻ xa xôi, nhưng đời ta có biết bao cách đóng cửa giống như thế. Ta sẵn lòng cầu xin Chúa bước vào nhà, miễn là Người đừng chạm đến một sự giận hờn ta muốn giữ. Ta muốn Chúa an ủi, miễn là Người đừng bảo ta làm hòa. Ta muốn được Người chúc lành, miễn là Người đừng dẫn mình qua con đường thập giá. Có khi ta nói: “Lạy Chúa, xin ở lại với con”, nhưng trong thâm tâm lại thêm một điều kiện: xin đừng thay đổi kế hoạch con đã sắp đặt, đừng đưa con đến gần người con đã tránh mặt, đừng đòi con buông điều con đang nắm chặt. Rồi ta tự hỏi vì sao Chúa dường như chỉ đứng ngoài cửa. Có thể Người vẫn đang gõ, còn ta chỉ muốn đón một vị khách sẽ đi theo ý mình.

Nhưng các môn đệ cũng cần được Chúa sửa dạy. Giacôbê và Gioan ở gần Đức Giêsu hơn dân làng; hai ông yêu mến Thầy, đau vì Thầy bị xúc phạm. Chính trong cơn đau ấy, hai ông lại muốn gọi lửa xuống trên những người Thầy đến để cứu. Có thứ nóng giận khoác áo lòng nhiệt thành rất khéo. Ta tự nhủ mình đang bảo vệ điều thánh thiêng, đang bênh vực người bị tổn thương, đang giữ cho sự thật được tôn trọng. Rồi ta dùng những lời lẽ làm nhục người khác, vui thầm khi họ thất bại, ước cho họ chịu một bài học thật đau. Nỗi đau của ta có thể là thật; điều sai trái ta chứng kiến cũng có thể là thật. Nhưng Chúa vẫn hỏi: sau khi bảo vệ điều đúng, trái tim con còn muốn người kia được sống, được đổi mới, được trở về không? Nếu câu trả lời là không, có lẽ ta đã rời mắt khỏi Đức Giêsu, dù miệng vẫn gọi tên Người.

Đức Giêsu quở trách hai môn đệ rồi đi sang làng khác. Người không giả vờ như mình đã được đón tiếp. Người không ở lại để ép họ mở cửa. Người cũng không lấy sự từ chối làm lý do để hủy diệt họ. Chỉ một động tác âm thầm ấy thôi đã dạy ta một điều khó: có những cánh cửa hôm nay chưa mở, và ta có thể tiếp tục bước đi mà lòng không hóa thành cay đắng. Ai bị từ chối cũng đau. Một người mẹ gọi điện cho con nhiều lần mà không được trả lời; một người cha muốn nói lời xin lỗi nhưng đứa con chưa sẵn sàng nghe; một người phục vụ hết lòng rồi nhận lại lời nghi ngờ; một người âm thầm làm điều tốt mà chẳng ai hiểu. Chúa không bảo họ rằng nỗi đau ấy nhỏ bé. Người đã đi qua nó. Người chỉ xin họ đừng để nỗi đau viết hộ phần còn lại của cuộc đời mình. Nếu trái tim cứ đứng mãi trước cánh cửa đã khép để đòi một sự công nhận, nó sẽ không còn sức nhận ra những người khác đang cần mình yêu thương.

Bài đọc về ông Gióp đưa ta đến một nỗi tối tăm khác. Ông đau khổ đến mức nguyền rủa ngày mình chào đời, hỏi vì sao mình còn phải sống khi đường trước mặt mịt mù. Kinh Thánh đã giữ lại lời kêu đau đớn ấy. Vì thế, khi một người chịu khổ nói rằng họ mệt quá, họ không hiểu Chúa ở đâu, họ chẳng còn thấy ánh sáng, ta không cần vội vàng sửa lời họ cho đẹp. Ta có thể ngồi xuống và lắng nghe. Có những câu hỏi chỉ có thể được nói ra giữa nước mắt; nói được chúng trước mặt Chúa đã là một cách bám lấy Người. Chính Đức Giêsu trên thập giá cũng đã cất tiếng kêu trong cảm nghiệm bị bỏ rơi. Người biết vực sâu của thân phận con người, nên người đang ở dưới vực không phải tìm một giọng nói khác rồi mới được cầu nguyện. Họ có thể đến với Chúa bằng giọng nói run rẩy của mình.

Đức tin không buộc ta phải gọi đêm tối là ban ngày. Có khi điều ta làm được chỉ là thưa: “Lạy Chúa, con vẫn ở đây. Con chẳng hiểu gì, nhưng xin đừng để con buông tay Người.” Lời cầu nguyện ấy nghèo lắm. Nó không giải thích được mất mát, không khiến vết thương lành ngay, không làm người đã ra đi trở lại. Nhưng trong cái nghèo ấy có một mối dây còn nguyên. Người đau khổ có thể không cảm thấy Chúa đang nắm tay mình. Xin đừng vì thế mà bảo họ thiếu lòng tin. Nhiều khi chính việc họ còn thở dài hướng về Chúa, còn dám mang đến Người sự thật trần trụi của mình, đã là một hành vi tin tưởng can đảm.

Ngày lễ thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đặt bên cạnh Tin Mừng này một người bạn đồng hành rất gần gũi. Con đường thơ ấu thiêng liêng của chị không đòi ta giả vờ rằng đời sống đơn giản. Thánh nữ biết bệnh tật, chia ly, thử thách và những giờ phút đức tin không có an ủi dễ cảm thấy. Điều chị học là phó thác chính con người bé nhỏ của mình cho lòng thương xót Chúa, rồi yêu mến Người trong những gì ngày hôm nay trao đến. Cha Roger Landry, trong bài giảng cha gửi, nối con đường tín thác và yêu thương ấy với quyết định lên Giêrusalem của Đức Giêsu: nhìn về phía Người, học muốn điều Người muốn, đem cả những hy sinh rất nhỏ của một ngày kết hợp với tình yêu của Người trên thập giá.

Ta thường nghĩ phải có một việc lớn thì mới có thể yêu lớn. Ta chờ một cơ hội rõ ràng để hy sinh, một cuộc gặp làm thay đổi cuộc đời, một phút giây mình thấy trái tim bừng cháy. Trong khi ấy, ngày hôm nay đi qua bằng những việc rất nhỏ: thức dậy khi còn mệt; trả lời tử tế với người vừa làm mình khó chịu; rửa một cái chén không phải phần việc của mình; ngồi thêm ít phút bên người già đang kể lại câu chuyện cũ; giữ kín một lỗi lầm của người khác mà mình có thể đem ra kể; làm việc cẩn thận khi chẳng ai kiểm tra. Những việc ấy không tự nhiên trở thành thánh thiện chỉ vì chúng nhỏ. Chúng trở thành của lễ khi ta đặt vào đó một tình yêu thật. Đường nhỏ của thánh Têrêsa rộng đến mức một người bệnh nằm trên giường, một người mẹ bận rộn, một linh mục kiệt sức, một người trẻ đang cố sống ngay lành giữa bao áp lực, đều có thể bước vào. Không ai phải đợi cuộc đời mình trở nên phi thường mới được yêu Chúa bằng cả trái tim.

Và cũng đừng hiểu tín thác là sẽ chẳng còn đau. Một đứa trẻ tin cha mình vẫn có thể khóc khi ngã. Người tín thác nơi Chúa vẫn thấy buồn khi bị hiểu lầm, vẫn cần được nghỉ ngơi khi mệt, vẫn cần tìm sự giúp đỡ khi đau khổ vượt quá sức mình. Tín thác là trong tất cả những điều ấy, ta không kết luận rằng mình đã bị Chúa bỏ đi. Ta có thể đem đến cho Người cả lòng mình như nó đang là: chưa bình an, chưa quảng đại, còn tức giận, còn sợ hãi. Thánh Têrêsa không dạy ta trở nên bé nhỏ bằng cách coi nhẹ đời mình; chị mời ta thôi đòi mình phải tự cứu lấy mình. Một bàn tay trống có thể đón quà. Một trái tim thú nhận sự nghèo khó của mình có thể học nhận tình thương.

Câu chuyện của Giacôbê và Gioan vì thế cũng là câu chuyện của đường nhỏ. Khi bị xúc phạm, hai ông muốn làm một việc lớn: gọi lửa từ trời. Đức Giêsu chỉ đưa hai ông sang làng khác. Có lẽ giữa hai động tác ấy là cả quãng đường hoán cải của người môn đệ: từ ước muốn chứng tỏ quyền lực đến khả năng làm chủ cơn giận; từ việc đòi thắng ngay trước mắt đến lòng kiên nhẫn đối với một con người; từ thái độ muốn mọi người công nhận Thầy đến niềm tin rằng Thầy biết con đường mình đang đi. Hôm nay, “đi sang làng khác” có thể là ngừng một lời cay nghiệt ngay trước khi nó thoát ra; là không nhắn tin lúc đang giận; là chấp nhận cuộc đối thoại chưa thể diễn ra; là cầu nguyện cho người mình chưa thể gặp lại. Những điều ấy nhỏ, nhưng đôi khi tốn của ta rất nhiều. Chúa nhìn thấy giá của sự dịu hiền mà không ai khác biết.

Trong Thánh lễ, ta lại gặp chính Đấng đã nhất quyết đi về Giêrusalem. Người đã trao thân mình vì những con người đón nhận Người cách vụng về, chậm chạp, và cả những người từng đóng cửa trước Người. Trước Thánh Thể, ta không cần trình ra một trái tim hoàn hảo. Ta có thể đem đến cơn giận còn nóng, nỗi buồn còn sâu, những câu hỏi chưa có lời giải, sự mệt mỏi của một ngày tưởng như vô ích. Người nhận lấy tất cả và dạy ta bắt đầu lại. Có thể sau Thánh lễ, người từng từ chối ta vẫn chưa thay đổi. Có thể nỗi đau của ông Gióp trong lòng ta vẫn còn đó. Nhưng ta có thể ra về với một hướng đi: hôm nay, xin đừng để sự từ chối quyết định cách mình yêu; xin đừng để đau khổ làm mình khép cửa với Chúa; xin đừng chờ đến khi làm được điều lớn lao mới dâng Người một hành vi yêu thương.

Giêrusalem của mỗi người không hoàn toàn giống nhau. Với người này, đó là cuộc trò chuyện cần được bắt đầu sau nhiều năm im lặng. Với người kia, đó là việc trung thành chăm sóc một người thân đang yếu đi từng ngày. Với một người khác nữa, đó là chấp nhận mình phải chữa lành, phải xin tha thứ, phải thôi nuôi giấc mơ trả đũa. Chúa không gọi ta tự mình biết hết chặng đường. Người mời ta nhìn Người và đi bước đang ở ngay trước mặt. Khi có làng đóng cửa, Người vẫn đi. Khi các môn đệ muốn gọi lửa, Người vẫn dạy họ yêu. Khi thập giá hiện ra, Người vẫn không rút lại lời hiến mình. Ta bước theo Người với đôi chân nhỏ bé của ta; chính lòng thương xót của Người giữ cho ta khỏi lạc hướng.

Lạy Chúa Giêsu, có những ngày con muốn bỏ cuộc chỉ vì một lời từ chối. Có những lúc con muốn đáp lại tổn thương bằng một ngọn lửa, rồi gọi nó là công lý. Có những đêm con giống ông Gióp, chẳng thấy lối ra và cũng chẳng biết cầu nguyện thế nào. Xin cho con được nói thật với Chúa. Xin giữ đôi mắt con hướng về Người khi lòng con chỉ muốn nhìn vào vết thương của mình. Nhờ lời chuyển cầu của thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, xin dạy con tin tưởng bằng một hành vi nhỏ hôm nay, yêu thương bằng một việc nhỏ hôm nay, và ngày mai lại bắt đầu. Nếu có cánh cửa chưa mở, xin giúp con đừng đứng đó với ngọn lửa trong tay. Xin cho con tiếp tục đi với Chúa, về phía Giêrusalem, nơi tình yêu của Người đã mở cho tất cả chúng con một con đường về nhà. Amen.

Lm. Anmai, CSsR.

ĐỪNG XIN LỬA TỪ TRỜI XUỐNG, HÃY ĐỂ TÌNH YÊU CHÚA BỪNG LÊN

Suy niệm Lc 9,51–56, trong ánh sáng cuộc đời thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu

Có những câu Tin Mừng ta đọc rất nhanh, nhưng nếu dừng lại, ta sẽ thấy cả trái tim Đức Giêsu ở trong đó: khi đã tới ngày Người được đưa lên trời, Người nhất quyết đi lên Giêrusalem. Người biết thành ấy đang chờ mình với sự chống đối, với cô đơn, với thập giá. Vậy mà Người vẫn đi. Không phải vì Người không sợ đau, cũng không phải vì những người ở Giêrusalem đều xứng đáng với tình yêu của Người. Người đi vì đã quyết yêu họ đến cùng. Quyết tâm của Đức Giêsu không phải là sự cứng cỏi của một người muốn thắng cuộc tranh luận; đó là sự trung thành của một trái tim không chịu bỏ rơi con người. Con đường trước mặt càng tối, Người càng không quay lưng. Chúng ta thường nghĩ mình sẽ yêu thương khi người khác dễ thương hơn, sẽ tha thứ khi họ nhận lỗi trước, sẽ trung thành khi cuộc sống bớt nhọc nhằn. Đức Giêsu thì đi về phía những người có thể khước từ Người. Chỉ một chi tiết ấy thôi cũng đủ khiến ta lặng người: Người đã biết có thể bị từ chối, nhưng vẫn lên đường.

Dọc đường, một làng Samari không đón tiếp Người vì Người đang hướng về Giêrusalem. Đối với dân làng, đích đến của Người đã trở thành lý do để đóng cửa. Họ không hỏi Người khát không, mệt không, có điều gì muốn nói với họ không. Họ chỉ thấy Người thuộc về phía mà mình không muốn đón nhận. Chuyện ấy tưởng đã ở rất xa, nhưng vẫn xảy ra trong lòng ta mỗi ngày. Có khi ta không từ chối Chúa bằng lời; ta chỉ đặt điều kiện cho Người: “Xin Chúa đến, nhưng đừng đụng vào mối giận này. Xin Chúa ở lại, nhưng đừng bảo con làm hòa. Xin Chúa ban bình an, nhưng đừng dẫn con qua một sự thật đau lòng. Xin Chúa cho con được theo Người, miễn là con không phải thay đổi điều con đang cố giữ.” Ta có thể mở cửa nhà thờ, đọc kinh rất sốt sắng, rồi âm thầm đóng một cánh cửa nhỏ trong lòng. Chính nơi cánh cửa ấy, Chúa đang kiên nhẫn đứng chờ.

Giacôbê và Gioan thấy Thầy bị khước từ thì nổi nóng. Các ông muốn gọi lửa từ trời xuống thiêu hủy cả làng. Ta hiểu phần nào cơn giận ấy: các ông yêu Thầy, không chịu nổi cảnh Thầy bị coi thường. Nhưng tình yêu dành cho Chúa có thể bị trộn lẫn với tự ái của chính mình. Ta tưởng mình đang bảo vệ Chúa, trong khi thật ra mình không chịu nổi việc bị xúc phạm. Ta tưởng mình đang bênh vực chân lý, trong khi lòng mình chỉ muốn người kia phải trả giá. Đức Giêsu quay lại quở trách các môn đệ, rồi cùng họ đi sang làng khác. Người không biến một cuộc khước từ thành cuộc hủy diệt. Người cũng không bắt các môn đệ giả vờ rằng chuyện ấy không đau. Người dạy họ tiếp tục bước đi mà không mang theo ngọn lửa báo thù. Có những lúc, phép lạ lớn nhất Chúa làm không phải là khiến người khác lập tức đổi lòng, mà là giữ cho lòng ta khỏi hóa đá sau khi bị họ từ chối.

Ai từng thật lòng yêu thương đều biết bị từ chối đau đến mức nào. Một người mẹ chuẩn bị bữa cơm, chỉ mong cả nhà ngồi lại với nhau, nhưng từng người lặng lẽ cầm điện thoại đi về phòng. Một người cha cố gắng sửa chữa lỗi lầm cũ, nhưng con vẫn không muốn nghe. Một người phục vụ cộng đoàn với tất cả thiện chí, rồi nghe công việc của mình bị hiểu sai. Có cả những lời xin lỗi đã nói ra mà không được đáp lại, những lần gõ cửa mà phía bên kia im lặng. Tin Mừng hôm nay không bảo người đau phải vội vàng vui lên. Tin Mừng cho họ thấy Đức Giêsu đã đi qua con đường ấy. Người hiểu nỗi buồn của người đứng trước một cánh cửa khép lại, bởi chính Người cũng từng đứng đó. Và Người chỉ cho ta một cách sống rất khó: đừng để một cánh cửa đóng quyết định toàn bộ trái tim mình. Ta có thể khóc, có thể cần thời gian để lành lại, có thể phải giữ khoảng cách cần thiết; nhưng xin đừng để nỗi đau dạy ta căm ghét. Xin đừng vì một người không đón nhận mình mà thôi đón nhận tất cả những người khác.

Bài đọc về ông Gióp đưa câu chuyện vào một vùng tối hơn. Đau khổ chồng lên đau khổ đến mức ông nguyền rủa ngày mình chào đời. Kinh Thánh đã không xóa những lời ấy đi. Điều đó an ủi biết bao người đang mệt đến nỗi không còn tìm được một câu kinh đẹp để thưa với Chúa. Có những ngày người ta không muốn làm gương cho ai; họ chỉ muốn cơn đau dừng lại. Có những đêm người ta không đủ sức nói “con tín thác”, mà chỉ hỏi “tại sao?”. Nếu cha, nếu anh chị em đang ở trong một đêm như thế, xin đừng nghĩ tiếng kêu của mình làm Chúa thất vọng. Gióp đã kêu lên từ chỗ sâu nhất của đau đớn. Đức Giêsu trên thập giá cũng đã cất tiếng giữa cảm giác bị bỏ rơi. Cầu nguyện đôi khi bắt đầu bằng một lời rất nhỏ: “Lạy Chúa, con không hiểu. Nhưng con vẫn đang nói với Chúa đây.” Khi chưa thể bước xa hơn, cứ ở lại trong lời ấy.

Hôm nay, thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu giúp ta nhìn con đường lên Giêrusalem bằng đôi mắt của một người con. Con đường thơ ấu thiêng liêng của chị thường được kể qua những việc nhỏ: một nụ cười, một hy sinh kín đáo, một lời nói dịu dàng. Nhưng nếu chỉ nhìn thấy sự dịu dàng, ta sẽ bỏ lỡ sức mạnh của chị. Têrêsa đã đi qua mất mát, bệnh tật và những thử thách nặng nề trong đức tin. Chị không nhỏ bé vì đời chị ít đau khổ. Chị nhỏ bé vì giữa những điều vượt quá sức mình, chị vẫn muốn tựa vào Thiên Chúa và vẫn chọn yêu thương. Chị hiểu rằng nên thánh không đòi một trái tim chưa từng run sợ; nên thánh là đem cả trái tim run sợ ấy đến với Cha. Một em bé ngã xuống có thể khóc rất lâu, nhưng em không cần giả làm người lớn mới được bế lên. Có lẽ điều khó nhất với ta là chấp nhận mình cũng cần được Chúa bế lên như thế.

Ta thích mình mạnh mẽ, có câu trả lời cho mọi chuyện, có thể lo liệu mọi thứ. Ta muốn dâng cho Chúa một đời sống đã gọn gàng, một đức tin đã vững vàng. Nhưng đời sống thực lại đầy những điều vụng về: ta dễ cáu khi thiếu ngủ, khó tha thứ khi bị chạm vào vết thương cũ, sốt sắng buổi sáng rồi nản lòng buổi chiều. Têrêsa không dạy ta lấy sự yếu đuối làm cớ để đứng yên. Chị dạy ta bắt đầu ngay từ nơi mình đang đứng. Nếu hôm nay chưa thể làm một việc lớn, hãy làm việc nhỏ đang ở trước mắt với tình yêu chân thật. Nếu chưa thể nói một lời hòa giải dài, hãy thôi kể thêm một câu chuyện làm người kia xấu đi. Nếu chưa thể vui vẻ với người làm mình tổn thương, hãy xin Chúa giúp mình đừng cầu điều dữ cho họ. Nếu đã sa ngã, hãy trở về. Đường nhỏ không phải là đường dễ; đó là con đường người ta phải chọn lại rất nhiều lần trong cùng một ngày.

Điều ấy soi sáng cơn nóng giận của hai môn đệ. Khi muốn gọi lửa xuống trên làng Samari, các ông nhìn những người trong làng như một đám đông đáng trừng phạt. Chỉ cần nhìn như thế, người ta có thể quên rằng sau mỗi cánh cửa là một con người có tên, có nỗi sợ, có lịch sử, có khả năng đổi thay. Têrêsa mời ta làm một việc nhỏ mà rất khó: trước khi kết án, hãy nhớ người kia vẫn là người Chúa muốn cứu. Điều đó không xóa bỏ trách nhiệm của họ, không buộc ta chấp nhận sự xúc phạm hay bạo hành, cũng không làm sự thật bớt quan trọng. Nhưng nó ngăn ta vui mừng trước sự hủy diệt của một con người. Ta có thể gọi một hành động là sai mà vẫn mong người thực hiện hành động ấy được hoán cải. Ta có thể bảo vệ người bị tổn thương mà không nuôi mộng trả thù. Ta có thể rời khỏi một nơi không đón nhận mình như Đức Giêsu đã rời làng Samari, và vẫn giữ lòng mình hướng về sự sống.

Có lẽ mỗi người đều có một “làng Samari” riêng: một nơi mình không được chào đón, một mối quan hệ cứ nhắc đến là tim đau, một ký ức khiến mình chỉ muốn xin lửa từ trời xuống. Ta không thể ép người khác mở cửa. Ta cũng không thể đổi quá khứ thành một câu chuyện chưa từng xảy ra. Nhưng ta có thể đem ngôi làng ấy vào lời cầu nguyện và thưa: “Lạy Chúa, con đang giận. Con chưa tha thứ nổi. Xin đừng để cơn giận này làm chủ đời con.” Một lời cầu nguyện thành thật như thế quý hơn những lời đạo đức đẹp đẽ mà lòng mình không theo kịp. Chúa đủ kiên nhẫn để đi cùng ta từng bước. Người đã không đòi các môn đệ hiểu hết trái tim Người ngay trong ngày hôm ấy; Người quở trách họ, rồi vẫn đưa họ đi cùng. Người cũng có thể sửa dạy ta mà không bỏ ta lại phía sau.

Con đường lên Giêrusalem còn đi qua những việc rất bình thường. Đức Giêsu không chỉ yêu nhân loại bằng một ý tưởng cao đẹp; Người yêu qua những bước chân trên đường bụi, qua một cơn khát, qua việc chịu để người khác đóng cửa trước mặt mình, và cuối cùng qua thân mình bị trao nộp. Tình yêu của ta cũng được thử trong đời sống cụ thể như vậy. Ta có thể nói rất hay về lòng thương xót, nhưng sẽ sống ra sao khi một người trong nhà lặp lại cùng một lỗi cũ? Ta có thể xúc động trước thập giá, nhưng sẽ đối xử thế nào với người phục vụ mình khi họ làm chậm? Ta có thể cầu cho hòa bình thế giới, nhưng có chịu ngừng một lời mỉa mai ngay trong bữa cơm? Những câu hỏi nhỏ ấy không làm lý tưởng Kitô giáo bé đi. Chúng đưa lý tưởng ấy vào nơi nó có thể thành máu thịt. Một nụ cười được trao khi lòng đang mệt, một lần lắng nghe mà không chen vào để thắng, một công việc âm thầm không ai biết ơn: nếu được làm vì yêu, chúng có thể thành những bước chân rất thật theo Đức Giêsu.

Trong Thánh lễ, ta gặp lại Đấng đã nhất quyết đi lên Giêrusalem. Người trao ban chính mình cho những con người vẫn còn chậm hiểu, còn sợ hãi, còn dễ nổi nóng như các môn đệ ngày xưa. Mỗi lần đến bàn tiệc Thánh Thể, ta không cần che giấu bàn tay đang nắm chặt vì giận dữ, hay trái tim đang kiệt sức vì bị khước từ. Hãy mang cả những điều ấy đến. Xin Người dạy ta mở tay ra. Xin Người nuôi ta bằng tình yêu của Người, để sau Thánh lễ ta có thể bước tới một người cụ thể với chút hiền lành hơn hôm qua. Đó có thể là một lời hỏi thăm, một cuộc gọi đã trì hoãn, một lời xin lỗi không kèm lời tự bào chữa, hoặc sự can đảm nói sự thật mà không làm nhục ai. Têrêsa sẽ nhận ra những việc ấy. Chị hiểu một đời người được dệt nên từ những lần yêu thương nhỏ bé, lặp đi lặp lại, ngay cả khi chẳng ai ngoài Chúa nhìn thấy.

Lạy Chúa Giêsu, có những ngày con muốn theo Chúa lên Giêrusalem; cũng có những ngày con chỉ muốn quay về nơi an toàn. Có những lúc con đau vì người khác đóng cửa; cũng có những lúc chính con đóng cửa trước Chúa. Xin nhìn con bằng ánh mắt Chúa đã nhìn các môn đệ nóng nảy: thấy hết điều cần sửa, nhưng vẫn cho họ một chỗ bên cạnh Người. Xin dạy con đừng dùng nỗi đau của mình làm lý do gây đau cho người khác. Xin cho con lòng tin của ông Gióp để còn cất tiếng gọi Chúa giữa đêm tối, và cho con trái tim bé nhỏ của thánh Têrêsa để mỗi ngày dám yêu thêm một chút. Khi con mệt, xin nâng con lên. Khi con giận, xin giữ con khỏi lời nói tàn nhẫn. Khi con bị từ chối, xin nhắc con nhớ rằng con vẫn được Chúa đón nhận. Và khi con đứng trước một người khó thương, xin cho con nhớ: Chúa cũng đang đi tìm người ấy. Amen.

Lm. Anmai, CSsR.

CON ĐƯỜNG NHỎ DẪN VÀO TRÁI TIM CHÚA

Lễ thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, với các bài đọc G 42,1–6.12–17 và Lc 10,17–24.

Có những ngày chúng ta mệt đến mức không còn muốn nghe ai bảo mình phải cố gắng hơn. Ta đã cố gắng rồi. Đã gắng sống tử tế, gắng giữ lời cầu nguyện giữa bao việc phải lo, gắng tha thứ cho một người cứ làm mình đau, gắng đứng dậy sau một lỗi lầm tưởng như đã bỏ được từ lâu. Vậy mà nhìn lại, ta vẫn thấy mình nóng nảy, vẫn dễ tủi thân, vẫn sợ hãi, vẫn muốn được công nhận, vẫn có những khoảng tối không biết nói cùng ai. Trong những ngày ấy, lời mời gọi nên thánh có thể nghe xa vời như một đỉnh núi dành cho người khác. Ta tự hỏi: “Một người như tôi, đi mãi mà vẫn vấp ngã, liệu có thể đến gần Chúa không?” Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã sống với câu hỏi ấy. Chị không phủ nhận sự bé nhỏ của mình, cũng không đợi đến khi hết yếu đuối mới bắt đầu yêu Chúa. Chị khám phá một con đường khởi đi ngay tại nơi người ta thường muốn che giấu: sự nghèo nàn của chính mình. Khi đôi chân không đủ sức leo cao, người con có thể giơ tay để được Cha nâng lên. Nhưng giơ tay cũng cần can đảm. Ta phải tin rằng Cha đang nhìn mình bằng tình thương, chứ không đứng đó để đếm xem mình đã ngã bao nhiêu lần.

Trong Tin Mừng, các môn đệ trở về với niềm vui lớn. Họ đã được sai đi và đã thấy quyền năng của Chúa hoạt động. Đức Giêsu đón nhận niềm vui ấy, rồi đưa họ đi sâu hơn: hãy vui vì tên anh em đã được ghi trên trời. Người không để các môn đệ chỉ sống nhờ những thành quả hôm nay, bởi sẽ có ngày họ được đón tiếp và cũng sẽ có ngày họ bị khước từ; có ngày họ thấy việc mình làm sinh hoa trái và cũng có ngày gieo mãi mà chưa thấy gì mọc lên. Nếu lòng họ chỉ yên khi thành công, một thất bại sẽ đủ làm họ nghi ngờ tất cả. Đức Giêsu trao cho họ một niềm vui bền hơn: họ thuộc về Chúa Cha. Đó cũng là điều người môn đệ hôm nay rất cần được nghe. Có khi ta làm việc cho Chúa nhiều đến nỗi quên ở lại với Chúa. Ta vui khi được khen, buồn khi bị quên; hăng hái khi có kết quả, chán nản khi công việc âm thầm. Ta tưởng mình đang tìm vinh quang cho Chúa, nhưng một lời nhận xét không vừa ý đã khiến cả ngày mất bình an. Lúc ấy, con đường nhỏ nhắc ta trở về với câu hỏi giản dị: nếu hôm nay tôi chẳng làm được điều gì đáng kể, tôi có còn tin mình là người con được Cha yêu thương không?

Thánh Têrêsa hiểu rằng làm con không có nghĩa là thôi lớn lên trong trách nhiệm. Một em bé được yêu sẽ học bước đi, học nói thật, học xin lỗi, học chia sẻ. Tình thương của cha mẹ không thay em sống cuộc đời của mình; tình thương ấy cho em đủ an tâm để lớn lên. Đời sống thiêng liêng cũng vậy. Tín thác vào Chúa không phải là buông xuôi trước lỗi lầm, càng không phải tự cho phép mình làm điều sai vì nghĩ rằng rồi Chúa sẽ tha. Tín thác là đem cả sự thật về mình đến trước Chúa: điều tốt ta đã cố làm, tội ta đã phạm, nỗi đau ta chưa chữa lành, và ước muốn bắt đầu lại dù lòng còn run sợ. Có những người sau khi phạm tội liền tránh cầu nguyện, tránh nhà thờ, tránh tòa giải tội. Họ nghĩ phải sửa mình cho khá hơn rồi mới dám trở về. Nhưng người con bị ngã và bẩn áo cần được chăm sóc ngay lúc ấy. Nếu cứ ngồi một mình trong góc tối vì xấu hổ, em sẽ chỉ thêm lạnh và thêm đau. Lòng thương xót của Chúa mở đường cho ta trở về, để ta được tha thứ và học sống khác đi.

Nhiều người trong chúng ta dễ tin Chúa yêu mình khi mọi sự tương đối tốt đẹp. Khi ta giữ được lời hứa, cầu nguyện sốt sắng, cư xử dịu dàng, ta thấy mình có thể ngẩng đầu trước mặt Người. Nhưng khi một ngày trôi qua đầy vụng về, ta bắt đầu nghi ngờ tình yêu ấy. Ta đem cả cách con người thưởng phạt nhau đặt lên Thiên Chúa: hôm nay tôi ngoan thì Chúa gần, hôm nay tôi hư thì Chúa xa. Thế là ta sống trước mặt Chúa như người làm công lo mất phần thưởng, hơn là người con muốn trở về nhà. Thánh Têrêsa mời ta đi vào một sự thật khó tin hơn vì nó quá tốt lành: tình yêu của Cha đi trước những cố gắng của ta. Chính vì được yêu, ta mới có thể sám hối mà không tuyệt vọng; chính vì được thương xót, ta mới dám nhìn nhận tội mình mà không cần bào chữa. Đứa con biết Cha sẽ đón mình không vì thế mà yêu tội lỗi. Em có lý do để rời bỏ nó, vì em biết niềm vui nào đang đợi mình nơi Cha.

Bài đọc về ông Gióp dẫn ta đến một chiều sâu khác của lòng tín thác. Ông đã đau khổ và đã hỏi. Có những điều ông không hiểu nổi; đến cuối hành trình, ông nhận ra Thiên Chúa lớn hơn những lời giải thích mình có thể nắm trong tay. Nỗi đau của ông không trở thành điều nhỏ nhặt chỉ vì ông đã gặp Chúa. Những mất mát vẫn là mất mát. Nhưng cuộc gặp gỡ ấy đổi khác cách ông đứng trước những điều mình không hiểu. Chúng ta cũng có những câu hỏi không dễ trả lời: tại sao người mình thương ra đi quá sớm, tại sao một lời cầu xin chân thành dường như rơi vào thinh lặng, tại sao sau nhiều năm cố gắng một vết thương vẫn nhức nhối? Con đường nhỏ không buộc ta giả vờ rằng những câu hỏi ấy không có thật. Người con có thể khóc trước mặt Cha, có thể nói: “Con không hiểu.” Và khi chưa thể nói được câu nào sáng sủa hơn, vẫn có thể thưa: “Xin Cha ở lại với con.” Đôi khi đó là lời cầu nguyện thật nhất trong cả một giai đoạn dài.

Ta thường mong sự thánh thiện sẽ biểu lộ qua những việc khiến người khác nhìn thấy. Ta muốn làm một điều lớn, trao đi một món quà lớn, có một lần hy sinh thật đáng nhớ. Trong khi đó, ngày sống đặt trước mặt ta những việc quá nhỏ để kể lại: nghe cho hết câu chuyện của một người đang cần được lắng nghe; dọn một chỗ bừa bộn mà không than phiền; sửa một lời nói sắc cạnh trước khi nó làm ai tổn thương; nhường cho người khác chút thời gian nghỉ; trả lời một tin nhắn bằng sự tử tế thay vì sự cáu gắt. Thánh Têrêsa đã tìm nơi những việc như thế chỗ để yêu. Việc nhỏ không tự nhiên trở thành dễ. Có khi giữ im lặng trước một lời khó chịu cần nhiều sức hơn một bài diễn thuyết đẹp. Có khi yêu thương người sống cạnh mình ngày này qua ngày khác khó hơn xúc động trước một nỗi đau rất xa. Chúa thấy cả những cuộc chiến âm thầm ấy. Người biết có những nụ cười đã phải đi qua một lời cầu nguyện, có những câu “không sao đâu” được nói ra sau khi ta đã chọn tha thứ, có những bổn phận bình thường được chu toàn trong lúc lòng mình rất nặng.

Đó là lý do con đường nhỏ gần với mọi người. Một người mẹ thức dậy giữa đêm vì con sốt có thể bước trên đường ấy. Một người cha trở về sau ngày làm việc mệt mỏi mà vẫn dịu dàng với gia đình có thể bước trên đường ấy. Một người già đau yếu, không còn làm được bao nhiêu việc, vẫn có thể dâng lên Chúa lời cầu nguyện cho con cháu và những ai đang khổ. Một người trẻ đang học cách từ chối gian dối, một linh mục lắng nghe thêm một cuộc điện thoại lúc cuối ngày, một tu sĩ chọn nói tốt về người đã làm mình buồn, một người mang lỗi lầm cũ đến tòa giải tội: mỗi người đều có thể đặt tình yêu vào bước chân hôm nay. Không ai phải mượn cuộc đời của người khác để nên thánh. Chúa gặp ta trong chính cuộc đời ta được trao, giữa những con người ta đang sống cùng và những bổn phận đang chờ trước cửa.

Tuy nhiên, có một điều làm ta khó đi con đường này: ta muốn tự mình bảo đảm rằng mình sẽ nên thánh. Ta muốn có bằng chứng rõ ràng rằng mình đã tiến bộ, muốn kiểm tra lòng mình và yên tâm rằng mình đã khá hơn năm trước. Khi không thấy điều ấy, ta nản chí. Thánh Têrêsa hiểu sự nghèo khó của con người sâu hơn. Chị biết ngay cả việc tốt mình làm cũng là một ơn đã nhận. Điều đó không lấy mất trách nhiệm của ta; nó giải thoát ta khỏi ý nghĩ rằng ta phải tự cứu lấy mình. Có một thứ kiêu ngạo rất kín đáo nằm trong nỗi thất vọng quá mức về bản thân: ta đau khổ không chỉ vì đã làm điều sai, mà còn vì không chịu nổi việc mình có thể yếu đuối đến thế. Khiêm nhường giúp ta nhận lỗi, xin tha thứ, sửa chữa điều có thể sửa chữa và bước tiếp. Nó không bắt ta nhìn chằm chằm vào mình đến mức quên nhìn Chúa. Người con ngã thì đứng dậy nhờ bàn tay đang đưa ra; em không cần nằm đó mãi để chứng minh rằng cú ngã làm mình đau.

Sống nhỏ bé còn là học nhận tình yêu từ người khác. Có người luôn muốn giúp mọi người nhưng rất ngại để ai giúp mình. Họ có thể cho đi tiền bạc, thời giờ, lời khuyên, nhưng không dám nói: “Tôi cần anh chị cầu nguyện cho tôi.” Họ sợ làm phiền, sợ mang ơn, sợ người khác thấy mình không mạnh mẽ như vẻ ngoài. Thế nhưng tình yêu không chỉ đi một chiều. Khi cho phép một người lắng nghe nỗi mệt của mình, khi thành thật xin lỗi, khi nhận một sự chăm sóc với lòng biết ơn, ta cũng đang học làm con. Chúa không dựng nên ta để mỗi người gồng gánh một mình. Có những lúc lòng thương xót của Người đến qua một bàn tay con người, một bữa cơm được để phần, một câu hỏi rất nhẹ: “Dạo này bạn có ổn không?” Nếu ta luôn đáp “ổn” trong khi lòng đang kiệt sức, có lẽ đã đến lúc tập trả lời thật hơn với một người đáng tin cậy.

Trong Tin Mừng, Đức Giêsu vui mừng vì Chúa Cha tỏ những điều sâu nhiệm cho những người bé mọn. Người bé mọn không phải là người không biết suy nghĩ, mà là người biết mình cần được dạy, cần được yêu và cần được dẫn đường. Họ còn khả năng kinh ngạc trước một ân huệ. Họ không coi lời tha thứ là chuyện đương nhiên, không coi một ngày mới là điều mình có quyền đòi, không coi người thân luôn ở bên là chuyện chắc chắn mãi mãi. Một trái tim như thế có thể nhận ra Chúa trong những điều rất bình thường. Buổi sáng, họ cảm tạ vì còn được sống. Khi làm sai, họ đủ khiêm tốn để xin lỗi. Khi gặp một người khó thương, họ nhớ rằng mình cũng đã nhiều lần được người khác nhẫn nại. Khi được điều tốt, họ vui mà không cần giữ hết ánh sáng cho riêng mình. Chúa Cha tỏ mình trong những cuộc đời biết mở ra như vậy.

Rồi sẽ đến lúc con đường nhỏ đi qua bóng tối. Thánh Têrêsa không sống một đời chỉ có những cảm xúc êm đềm. Bởi thế, lòng tín thác của chị không thể bị thu nhỏ thành một câu nói dễ thương dùng để an ủi người đang khổ. Có những ngày cầu nguyện mà lòng khô khan, vẫn có thể cầu nguyện. Có những ngày không cảm thấy mình được yêu, vẫn có thể đặt đời mình trong tay Chúa. Có những ngày muốn bỏ cuộc với một người thân, vẫn có thể chọn làm một cử chỉ tử tế và xin Chúa lo phần trái tim mình chưa làm nổi. Tình yêu trưởng thành qua những lựa chọn ấy. Nó không luôn rực sáng trong cảm giác của ta; có khi chỉ là ngọn đèn rất nhỏ được che bằng hai bàn tay giữa gió lớn. Nhưng ngọn đèn ấy vẫn sáng, vì người giữ đèn không cậy vào sức mình mà xin Chúa gìn giữ.

Mỗi Thánh lễ đưa ta trở về nguồn mạch của con đường nhỏ. Nơi bàn thờ, Đức Giêsu trao ban chính mình dưới hình bánh bé nhỏ. Người đến gần để ta có thể đón nhận, đến trong sự lặng lẽ để ở lại với ta. Trước Thánh Thể, ta được phép thôi trình bày một phiên bản đẹp đẽ của bản thân. Ta có thể mang đến cả ngày sống lộn xộn: những việc làm vì yêu, những lời đã nói thiếu yêu thương, một hy vọng chưa thành, một người ta chưa tha thứ được. Ta thưa với Người: “Con chỉ có bấy nhiêu. Xin nhận lấy và dạy con yêu.” Khi rước Chúa, ta đón Đấng đang nuôi dưỡng đời mình. Người không chờ ta tự trở nên đủ đầy rồi mới đến; Người đến để ta có sức sống, sức sám hối và sức trao ban.

Có lẽ hôm nay chúng ta không cần đặt ra một quyết tâm lớn khiến ngày mai đã thấy mình thất bại. Hãy bắt đầu bằng một việc nhỏ và thật. Nếu đã lâu chưa cầu nguyện, hãy ngồi trước Chúa ít phút và nói đúng điều đang có trong lòng. Nếu đang mang lỗi, hãy xin ơn can đảm trở về với bí tích Hòa Giải. Nếu có người đang chờ một lời xin lỗi, hãy nói lời ấy mà không thêm những câu tự biện hộ. Nếu gia đình đang thiếu sự lắng nghe, hãy cất điện thoại và ở lại với nhau trong một bữa cơm. Nếu đã cố gắng rất nhiều mà vẫn mệt, hãy cho mình được nghỉ và được nhận sự giúp đỡ. Những bước ấy có thể nhỏ đến mức chẳng ai ghi nhận. Nhưng một con đường được tạo nên bằng những bước chân như vậy, và một đời yêu mến Chúa cũng được dệt nên từ những lần trở về, hết ngày này sang ngày khác.

Lạy Chúa Giêsu, có những lúc con tưởng phải trở thành một người khác thì Chúa mới vui lòng đón con. Xin cho con nhớ rằng Chúa gọi con đến với Người ngay hôm nay, với sự thật của con hôm nay. Xin dạy con ghét tội lỗi mà không tuyệt vọng về chính mình; biết nhận trách nhiệm mà không khép lòng trước ơn tha thứ; biết làm những việc nhỏ bằng tình yêu chân thành, nhất là khi không ai nhìn thấy. Khi con tự hào, xin cho con nhớ mọi điều tốt lành đều là ân huệ. Khi con ngã, xin cho con nhớ đường về vẫn mở. Khi con không hiểu điều đang xảy ra, xin cho con đủ tin để ở lại với Chúa thêm một ngày nữa. Nhờ lời chuyển cầu của thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, xin làm cho trái tim con đơn sơ, can đảm và đầy yêu thương. Để đến cuối đời, niềm vui sâu nhất của con là đã được làm con Chúa và đã cố gắng yêu những người Chúa gửi đến bên mình. Amen.

Lm. Anmai, CSsR.

CON ĐƯỜNG NHỎ DẪN VÀO TRÁI TIM CHÚA

Suy niệm lễ thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu – G 1,6–22; Lc 9,46–50

Có những ngày ta mệt vì phải tỏ ra mình mạnh mẽ. Ta cố làm cho mọi việc ổn thỏa, cố giữ hình ảnh của một người trưởng thành, có trách nhiệm, biết cầu nguyện, biết yêu thương. Nhưng chỉ một lời chê, một thất bại, một biến cố bất ngờ cũng đủ làm ta nhận ra lòng mình mong manh biết bao. Chính lúc ấy, thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đến bên ta như một người chị nhỏ, không trao cho ta bí quyết để trở nên phi thường, nhưng nhắc ta nhớ một điều dễ quên: ta được phép bé nhỏ trước mặt Thiên Chúa. Ta được phép đến với Người bằng đôi tay trống, bằng một trái tim chưa lành hẳn, bằng lời cầu nguyện nghẹn ngào chẳng thành câu. Đứa con không phải chứng minh mình xứng đáng rồi mới được cha bế lên. Nó đưa tay ra vì biết cha đang ở đó. Con đường thơ ấu thiêng liêng bắt đầu từ cử chỉ đơn sơ ấy: thôi gồng mình để tự cứu lấy mình, và để cho Thiên Chúa yêu thương mình.

Tin Mừng kể rằng các môn đệ tranh luận xem ai là người lớn nhất. Họ đang đi với Đức Giêsu, nhưng trong lòng vẫn đo chiều cao của mình bằng cách đứng cạnh người khác. Ai được Thầy tín nhiệm hơn? Ai có tiếng nói hơn? Ai đáng được nhớ đến? Đức Giêsu biết điều đang diễn ra trong lòng họ. Người không mở một cuộc tranh luận để chọn ra người thắng. Người đem một em nhỏ đặt bên cạnh mình. Giữa những người đang tìm chỗ cao, Chúa dành chỗ bên cạnh Người cho một người bé nhỏ. Rồi Người dạy rằng ai đón tiếp em nhỏ ấy nhân danh Người thì đón tiếp chính Người; người nhỏ nhất giữa mọi người mới là người lớn nhất.

Lời ấy chạm vào một căn bệnh âm thầm của đời sống đức tin. Ta có thể làm nhiều việc cho Chúa mà vẫn đau đáu về chỗ đứng của mình. Ta có thể phục vụ cộng đoàn mà vẫn buồn vì không ai biết mình đã vất vả thế nào. Ta có thể nói về lòng khiêm nhường, nhưng trong thâm tâm lại khó chịu khi người khác được khen. Ta có thể vui vì một việc tốt được hoàn thành, rồi niềm vui ấy chùng xuống khi tên mình không được nhắc tới. Chúa không khinh chê những yếu đuối đó. Người đặt một em nhỏ trước mặt ta để dịu dàng hỏi: “Con đang tìm điều gì nơi Thầy? Con muốn được Thầy yêu, hay muốn được mọi người nhìn nhận là lớn lao?” Câu hỏi ấy khiến ta lặng đi, vì có khi điều làm ta kiệt sức không phải là công việc quá nhiều, mà là nỗi sợ mình nhỏ bé trong mắt người đời.

Thánh Têrêsa hiểu nỗi khát khao nên thánh, nhưng chị cũng hiểu sự giới hạn của mình. Chị không đợi đến khi mình có một tâm hồn hoàn hảo mới bắt đầu yêu Chúa. Chị bước đi với những gì mình có: một ngày sống bình thường, một việc bổn phận, một cuộc gặp gỡ, một lần phải nhẫn nhịn, một lúc cầu nguyện khô khan. Con đường nhỏ của chị là con đường tín thác và yêu mến, gắn với lời mời gọi trở nên như trẻ nhỏ và sống nghèo khó trong tâm hồn. Nghèo khó trong tâm hồn không có nghĩa là coi nhẹ những khả năng Chúa ban. Đó là biết mọi điều tốt đẹp nơi mình đều là quà tặng; khi làm được việc lành thì biết tạ ơn, khi vấp ngã thì biết trở về. Người nghèo trong tâm hồn vẫn cố gắng hết sức, nhưng không đặt cả hy vọng đời mình lên sức riêng. Họ làm việc bằng đôi tay của mình và phó thác kết quả vào tay Chúa.

Ta thường tưởng con đường nhỏ sẽ dễ đi vì nó không đòi những công việc lẫy lừng. Nhưng thử sống một ngày với tình yêu trong những điều không ai thấy, ta sẽ hiểu nó khó biết bao. Khó mỉm cười với một người vừa làm mình tổn thương. Khó chăm sóc người thân khi chính mình đang mệt. Khó làm lại một việc nhàm chán mà không than phiền. Khó vui trước thành công của người khác khi ước mơ của mình còn dang dở. Khó âm thầm cầu nguyện cho người mình bất đồng ý kiến. Những điều ấy nhỏ trong mắt thế gian, nhưng có thể đòi cả một cuộc chiến trong lòng. Tình yêu không được đo bằng độ lớn của công việc bên ngoài. Có những hành động rất nhỏ chứa đựng một sự từ bỏ rất lớn; cũng có những công việc thật lớn được làm với một trái tim chỉ mong tìm chính mình. Chúa nhìn thấy phần không ai thấy ấy.

Bài đọc về ông Gióp đưa con đường tín thác vào một thử thách sâu hơn. Chỉ trong một ngày, ông nghe hết tin dữ này đến tin dữ khác: tài sản mất, người làm bị giết, rồi các con qua đời. Kinh Thánh không kể ông bình thản như thể chẳng đau đớn. Ông xé áo, cắt tóc và sấp mình xuống đất. Giữa cảnh tan nát ấy, ông vẫn chúc tụng danh Chúa. Đức tin của ông không xóa tiếng khóc. Lòng tín thác không biến mất mát thành chuyện nhẹ nhàng. Có những nỗi đau ta phải khóc, có những câu hỏi ta chưa thể trả lời, có những ngày chỉ đi hết một ngày thôi cũng đã là một cố gắng lớn. Sống như người con trước mặt Chúa là mang cả sự thật ấy đến với Người: “Lạy Chúa, con đau. Con không hiểu. Nhưng xin đừng để con đánh mất Chúa giữa lúc này.”

Khi nói về sự phó thác, ta cần thật dịu dàng với những người đang chịu khổ. Đừng vội bảo một người vừa mất con rằng họ phải vui lên vì Chúa có kế hoạch của Người. Đừng nói với người đang bệnh nặng rằng họ chỉ cần tin mạnh hơn là sẽ không sợ. Chúa Giêsu đã khóc trước mộ Ladarô; Người cũng đã đi vào nỗi cô đơn và đau đớn của cuộc Thương Khó. Đôi khi việc yêu thương nhất ta có thể làm là ngồi lại, lắng nghe, giúp họ một việc cụ thể và cùng họ cầu nguyện khi họ không còn lời nào để cầu nguyện. Têrêsa không dạy ta phủ một lớp lời đạo đức lên vết thương. Chị mời ta đặt vết thương trong bàn tay có dấu đinh của Đức Kitô. Bàn tay ấy biết đau là gì, và vẫn nắm lấy tay ta.

Có những điều mất đi làm ta không chỉ buồn mà còn thấy mình chẳng còn là mình nữa. Một công việc từng cho ta cảm giác có ích bỗng chấm dứt. Sức khỏe từng cho ta tự do bỗng suy giảm. Một người thân từng hiện diện mỗi ngày nay chỉ còn trong ký ức. Một trách nhiệm ta yêu quý được trao cho người khác. Khi ấy, ta dễ tự hỏi: “Nếu không còn những điều này, tôi là ai?” Con đường thơ ấu thiêng liêng không trả lời bằng cách bảo ta xem những gì đã mất là không đáng kể. Nó dẫn ta đến một câu trả lời sâu hơn: trước khi con làm được bất cứ điều gì, trước khi ai đó biết tên con, trước cả lúc con có thể tự đứng vững, con đã là người được Thiên Chúa yêu. Những gì con làm có giá trị. Những người con yêu quý vô cùng quý giá. Nhưng căn tính sâu nhất của con không bị xóa đi khi cuộc đời đổi khác: con vẫn là con của Cha.

Một ý tưởng rất đáng suy nghĩ là đôi khi ta trưởng thành trong đời sống thiêng liêng bằng cách bớt đi: bớt những ảo tưởng về mình, bớt nhu cầu kiểm soát, bớt đòi mọi người phải biết ơn, để lòng có chỗ đón nhận Chúa. Điều ấy không có nghĩa mọi mất mát đều do Chúa gây ra, hay ta phải thụ động trước bất công và bệnh tật. Ta vẫn cần chữa bệnh, bảo vệ người yếu thế, sửa điều sai và nâng đỡ người đau khổ. Nhưng ngay trong những giới hạn không thể tránh khỏi, Chúa vẫn có thể dạy ta một tự do mới. Ta bớt bám vào hình ảnh mình muốn người khác thấy. Ta bớt tưởng tình yêu phải được đáp trả đúng cách mình mong. Ta học làm điều tốt vì đó là điều tốt. Ta học ở lại với Chúa ngay cả khi chẳng cảm thấy mình sốt sắng. Có khi lòng người rộng ra sau những lần phải mở bàn tay đã nắm quá chặt.

Con đường nhỏ cũng dạy ta cách nhìn người khác. Đức Giêsu không chỉ mời các môn đệ trở nên bé nhỏ; Người còn bảo họ đón tiếp em nhỏ. Ta không thể nói mình tin Chúa yêu người bé nhỏ, rồi lại làm ngơ trước một đứa trẻ cần được lắng nghe, một người già nói chậm khiến ta mất kiên nhẫn, một người bệnh phải nhờ cậy người khác, một người nghèo bước vào cộng đoàn với vẻ ngại ngùng. Đón tiếp họ không chỉ là dành cho họ một chỗ ngồi. Đó là dành thời gian, sự tôn trọng và một ánh nhìn không làm họ thấy mình là gánh nặng. Có khi một em nhỏ sẽ không nhớ bài giảng hôm ấy nói gì, nhưng sẽ nhớ rất lâu người lớn đã dịu dàng hay lạnh lùng với em. Có khi một người cô độc không cần ta giải quyết cả cuộc đời họ; họ cần biết hôm nay có người thật sự vui vì họ hiện diện.

Ở cuối đoạn Tin Mừng, ông Gioan kể rằng các môn đệ đã ngăn một người trừ quỷ nhân danh Đức Giêsu vì người ấy không cùng đi trong nhóm của họ. Chúa bảo đừng ngăn cản. Chi tiết này nối liền với cuộc tranh luận xem ai là người lớn nhất. Khi quá bận bảo vệ vị trí của mình, ta cũng dễ muốn thu hẹp điều tốt vào phạm vi của nhóm mình. Ta khó chịu khi người khác làm được việc lành mà không qua mình. Ta e ngại khi một người có cách phục vụ khác mình lại được tín nhiệm. Một trái tim bé nhỏ trước Chúa sẽ bớt sợ điều đó. Nếu một người đang được giúp đỡ, nếu Tin Mừng đang được sống bằng sự chân thành, ta có lý do để tạ ơn. Nước Chúa rộng hơn vòng tay ta có thể ôm, và Chúa đang hành động nơi những người ta chưa kịp hiểu hết.

Thánh Têrêsa được yêu mến vì chị khiến sự thánh thiện trở nên gần gũi, nhưng chị không hứa một đời sống luôn ngọt ngào. Có lúc yêu Chúa là tiếp tục cầu nguyện giữa khô khan. Có lúc tin Chúa là tiếp tục bước đi khi tương lai mờ mịt. Có lúc thương một người là kiên nhẫn với họ thêm một ngày nữa, dù lòng mình chưa hết đau. Con đường nhỏ đi ngang qua những nơi rất thật ấy. Nó không bảo ta phải cảm thấy tình yêu trong mọi phút giây; nó mời ta chọn yêu bằng một hành động có thể làm hôm nay. Nếu hôm nay chưa thể tha thứ trọn vẹn, ta có thể xin Chúa giúp mình thôi nuôi thêm hận thù. Nếu hôm nay chưa thể vui, ta có thể thành thật nói với Người vì sao mình buồn. Nếu hôm nay quá yếu để làm nhiều việc, ta có thể đón nhận sự chăm sóc của người khác với lòng biết ơn. Trở nên bé nhỏ cũng là học để người khác yêu thương mình.

Mỗi lần tham dự Thánh lễ, ta bước đến bàn tiệc Chúa bằng đôi tay trống. Ta không thể tự làm ra Bánh Trường Sinh, không thể dùng thành tích để mua lấy ân sủng. Ta chỉ có thể đón nhận. Cử chỉ ấy thật đơn sơ mà cũng thật khó: người quen tự lo liệu mọi sự phải học nhận quà; người luôn trách mình không đủ tốt phải tin rằng Chúa vẫn mời mình đến; người mệt mỏi vì phục vụ phải nhớ rằng chính mình cũng cần được nuôi dưỡng. Chúa Giêsu đến với ta dưới hình bánh nhỏ bé. Người đặt sự sống của Người vào lòng bàn tay con người, như thể muốn nói rằng tình yêu lớn lao nhất vẫn có thể đến thật gần, thật âm thầm. Khi rước lễ, xin ta đừng chỉ cầu được mạnh hơn để làm thêm nhiều việc. Hãy cầu một điều rất sâu: “Lạy Chúa, xin dạy con tin rằng con thuộc về Chúa.”

Rồi khi ra khỏi nhà thờ, ta có thể bắt đầu con đường nhỏ ngay tại nơi mình sống. Một lời cảm ơn chưa kịp nói. Một cuộc điện thoại cho người đang chờ. Một lời xin lỗi không kèm theo lời bào chữa. Một giờ làm việc tử tế dù không ai kiểm tra. Một lần ngừng lại để nghe con trẻ kể hết câu chuyện của nó. Một lần hỏi thăm người vẫn thường chăm sóc mọi người nhưng hiếm khi được ai hỏi thăm. Một lời cầu nguyện cho người khiến ta buồn. Những việc ấy chẳng tạo nên tiếng vang. Nhưng nếu được làm với tình yêu, chúng mở một lối cho Chúa bước vào đời thường. Và biết đâu chính qua những điều rất nhỏ ấy, một người nào đó sẽ bớt cô đơn, bớt sợ hãi, bớt nghĩ rằng mình đã bị quên lãng.

Lạy Chúa Giêsu, con đã nhiều lần muốn trở nên lớn lao đến nỗi quên mất niềm vui được làm con của Chúa. Con đã sợ yếu đuối, sợ thua kém, sợ mình chẳng để lại dấu ấn nào. Xin cho con nhìn em nhỏ Chúa đặt bên cạnh Người và hiểu rằng trong trái tim Chúa luôn có chỗ cho người bé nhỏ. Xin cho con biết cố gắng mà không kiêu căng, biết thất bại mà không tuyệt vọng, biết khóc khi đau và biết tựa vào Chúa khi không còn sức. Xin dạy con đón tiếp những người ít được chú ý, vui trước điều tốt người khác làm, và yêu trong những việc bình thường của ngày hôm nay. Nhờ lời chuyển cầu của thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, xin cho con đủ khiêm nhường để đưa tay ra. Con đường về với Chúa có thể bắt đầu từ đó: một đứa con đưa tay ra, và tin rằng Cha sẽ không để mình bước đi một mình. Amen.

Lm. Anmai, CSsR.

BÔNG HOA NHỎ GIỮA MỘT THẾ GIỚI NHIỀU GAI

Bài giảng lễ thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu – Mt 18,1–5

Anh chị em thân mến, có lẽ ai trong chúng ta cũng từng nghĩ rằng muốn làm một điều gì thật lớn cho Chúa, mình phải có một cuộc đời thật khác thường. Phải đi đến một miền đất xa, làm được một công việc nhiều người biết đến, nói những lời khiến người khác xúc động, hoặc có một sức mạnh phi thường để chịu đựng những thử thách phi thường. Thế rồi ta nhìn lại cuộc đời mình: một căn nhà quen thuộc, một công việc lặp đi lặp lại, những người thân có lúc rất dễ thương và cũng có lúc làm ta mệt mỏi, một trái tim vừa muốn yêu nhiều hơn vừa thường xuyên thấy mình yêu chưa đủ. Ta tự hỏi: với một cuộc đời nhỏ bé như thế, mình có thể nên thánh không? Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu trả lời bằng chính cuộc đời chị: có. Không những có thể, mà chính nơi cuộc đời nhỏ bé ấy, nếu ta đặt trọn vào tay Chúa, tình yêu có thể nở hoa.

Bài Tin Mừng hôm nay bắt đầu bằng một câu hỏi rất quen với lòng người: “Ai là người lớn nhất trong Nước Trời?” Các môn đệ muốn biết ai đứng cao hơn. Đức Giêsu gọi một em nhỏ, đặt em vào giữa các ông và bảo họ phải trở nên như trẻ nhỏ. Hãy dừng lại ở cử chỉ ấy một chút. Chúa không đưa vào giữa một người có thành tích, địa vị hay tiếng nói đầy uy quyền. Người đặt vào giữa một em bé cần được yêu thương, dạy dỗ và bảo vệ. Những người lớn đang nhìn lên để tìm vị trí của mình; Chúa mời họ cúi xuống để thấy một con người. Những người lớn đang hỏi ai là người quan trọng nhất; Chúa cho họ thấy một người mà thế gian rất dễ xem là không quan trọng. Têrêsa đã để lời Tin Mừng ấy đi vào tận đáy lòng. Chị nhận ra rằng trước mặt Thiên Chúa, điều quyết định không phải là mình cao bao nhiêu, nhưng là mình có dám để Chúa yêu thương và nâng mình dậy hay không.

Trở nên nhỏ bé theo Tin Mừng không có nghĩa là coi thường bản thân, giả vờ ngây thơ, hay trốn tránh trách nhiệm. Một đứa trẻ tin cha mẹ vẫn phải tập bước đi; và mỗi lần ngã, em lại giơ tay để được đỡ dậy. Sự nhỏ bé mà Têrêsa sống là sự thật thà trước mặt Chúa. Chị không tự nhận mình đã mạnh mẽ, thánh thiện hay hoàn hảo. Chị biết giới hạn của mình. Nhưng chị cũng không lấy những giới hạn ấy làm lý do để tuyệt vọng. Chị tin rằng lòng thương xót của Thiên Chúa lớn hơn sự yếu đuối của mình. Có người vì thấy mình còn nhiều thiếu sót nên không dám đến gần Chúa, cứ đợi đến ngày mình cầu nguyện sốt sắng hơn, sống tốt hơn, bớt nóng nảy hơn rồi mới trở về. Têrêsa nhắc ta rằng chính hôm nay, với đôi tay còn trống và trái tim còn vụng về, ta có thể đến. Một người con không cần chữa lành vết thương của mình trước rồi mới được chạy vào lòng cha; em chạy vào lòng cha để được chăm sóc vết thương.

Têrêsa từng ước ao đem Tin Mừng đến khắp nơi. Nhưng cuộc đời chị diễn ra phần lớn sau cánh cửa đan viện. Nếu chỉ nhìn bằng mắt thường, người ta có thể nói: một người muốn đi thật xa mà cuối cùng lại ở một chỗ. Còn chị khám phá rằng trái tim biết yêu thì không bị giam bởi những bức tường. Trong thinh lặng, chị cầu nguyện cho các nhà truyền giáo. Trong đời sống chung, chị học kiên nhẫn với người chị em ở gần mình. Trong một việc rất nhỏ, chị tìm cách làm với tình yêu lớn. Bài giảng của Đức Hồng y Adalberto Martínez Flores mà chúng ta đọc hôm nay cũng nhấn mạnh điều ấy: sứ mạng của Hội Thánh khởi đi từ một trái tim cầu nguyện, yêu thương và trao hiến; sự thánh thiện lớn lên ngay trong những việc thường ngày.

Điều ấy rất gần với đời sống chúng ta. Có người mẹ chẳng thể đi đâu xa vì còn đứa con nhỏ cần chăm sóc; có người cha suốt ngày làm việc để gia đình có bữa cơm; có người già đau yếu không còn đủ sức tham gia những việc trước kia mình vẫn làm; có người trẻ đi học, đi làm, mỗi ngày cố giữ lòng ngay thẳng giữa rất nhiều áp lực. Những cuộc đời ấy đâu có đứng ngoài con đường nên thánh. Một lời dịu lại trước khi cơn giận bật ra; một bữa cơm được chuẩn bị khi lòng đang mệt; một lần chịu khó nghe người thân nói hết câu chuyện; một lời xin lỗi được nói trước dù mình cũng có phần tủi thân; một kinh Lạy Cha âm thầm đọc cho người đang đau khổ: tất cả có thể trở thành nơi ta yêu mến Chúa. Việc nhỏ vẫn là việc nhỏ. Nhưng khi được làm bằng tình yêu, nó không còn là một việc vô nghĩa.

Có khi ta mơ làm điều lớn lao cho một người ở rất xa, vì yêu người ở xa không đòi ta phải nhường chiếc ghế trong nhà, bớt một lời cay nghiệt, hay kiên nhẫn nghe một câu chuyện đã kể đến lần thứ năm. Người ở gần mới biết ta có thật sự hiền lành không. Người cùng sống mới chạm đến sự ích kỷ mà ta giấu rất khéo sau những ý định tốt đẹp. Con đường bé nhỏ của Têrêsa đi qua chính nơi ấy. Không phải lúc nào tình yêu cũng mang dáng vẻ rực rỡ. Nhiều khi tình yêu là giữ lại một câu nói có thể làm người khác đau. Là nhận một việc mình không thích mà không làm cả nhà phải gánh thêm sự khó chịu của mình. Là nhìn một người khó tính như một con người cũng đang cần được thương, dù ta vẫn phải nói thật và giữ những ranh giới cần thiết. Tình yêu ở gần rất khó, nhưng chính vì thế nó có thể biến đổi lòng ta rất sâu.

Têrêsa gọi mình là một bông hoa nhỏ trong khu vườn của Chúa. Hình ảnh ấy đẹp, nhưng đừng hiểu theo nghĩa hời hợt. Một bông hoa nhỏ không phải là một bông hoa vô giá trị. Nó cũng không cần trở thành hoa hồng để được Chúa nhìn thấy. Bao nhiêu người khổ sở vì cả đời cố nở thành bông hoa của người khác: người trẻ so mình với bạn bè rồi thấy mình thua kém; người làm cha mẹ nhìn sang gia đình bên cạnh rồi thấy nhà mình chẳng bằng ai; người phục vụ trong giáo xứ âm thầm buồn vì công sức mình không được nhắc tên. Têrêsa mời ta hỏi một câu giản dị hơn: hôm nay, nơi Chúa đặt tôi, tôi có thể yêu thế nào? Bông hoa nhỏ không tự chọn khu vườn, nhưng nó có thể đón ánh sáng. Chúng ta không luôn chọn được hoàn cảnh sống, nhưng trong hoàn cảnh ấy, ta vẫn có thể mở lòng cho ân sủng và thực hiện điều thiện đang ở trong tầm tay.

Tuy nhiên, nói về hoa mà quên gai thì bài giảng này sẽ quá dễ nghe. Có những gai nhọn trong chính gia đình mình: một mối bất hòa kéo dài, một người trẻ bị bỏ mặc trong cô đơn, một người già cảm thấy mình thành gánh nặng. Có những gai nhọn trong xã hội: nghèo đói, nghiện ngập, bạo lực, sự thờ ơ trước nỗi đau của người yếu thế. Và có những gai nhọn gây thương tích cho trẻ em ngay tại những nơi lẽ ra các em phải được an toàn. Bài giảng gốc đã nói thẳng đến sự cần thiết phải bảo vệ trẻ em và người dễ bị tổn thương, ngăn ngừa lạm dụng và chăm sóc những người bị hại. Đó là một lời nhắc không thể bỏ qua khi suy niệm câu Tin Mừng: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy.”

Tiếp đón một em nhỏ không chỉ là mỉm cười, phát cho em một chiếc bánh hay dành cho em một chỗ trong tấm ảnh ngày lễ. Tiếp đón là lắng nghe khi em nói mình sợ. Là tin rằng nỗi đau của em cần được xem xét nghiêm túc. Là dạy em biết phẩm giá và những giới hạn của thân thể mình. Là tạo ra một gia đình, một lớp giáo lý, một cộng đoàn nơi người lớn không dùng quyền lực để bịt miệng trẻ nhỏ. Nếu có một em bé bị làm tổn thương mà chúng ta chỉ lo giữ vẻ yên ổn bên ngoài, thì chúng ta đã để em đứng một mình giữa những người lớn. Đức Giêsu đặt em vào giữa để mọi người nhìn thấy và có trách nhiệm với em. Chúng ta không thể ca ngợi sự bé nhỏ của Têrêsa mà lại xem nhẹ sự an toàn của những em bé thật đang sống bên cạnh mình. Một cộng đoàn biết yêu Chúa phải là nơi trẻ em được bảo vệ bằng những hành động cụ thể, nơi người bị thương được lắng nghe, nâng đỡ và đối xử công bằng.

Anh chị em thân mến, con đường bé nhỏ cũng không bảo ta cứ chịu đựng mọi điều sai trái rồi gọi đó là hy sinh. Têrêsa dạy ta khiêm nhường, chứ không dạy ta nhắm mắt trước sự dữ. Chị dạy ta tin vào tình yêu Chúa, và chính niềm tin ấy giúp ta can đảm chăm sóc người dễ bị tổn thương. Có lúc việc lành nhỏ bé là một ly nước trao tận tay. Có lúc việc lành ấy là lên tiếng để một người khác khỏi bị hại. Có lúc là nhận ra một gia đình đang gặp khó khăn và ở lại giúp họ lâu hơn một lời an ủi. Hoa chỉ có thể nở khi khu vườn được chăm sóc; trẻ em chỉ có thể lớn lên khi người lớn chịu trách nhiệm về những điều mình làm và những điều mình đã thấy.

Có một điều rất an ủi nơi thánh Têrêsa: chị không đặt niềm hy vọng ở chỗ mình sẽ chẳng bao giờ thất bại. Nếu thế, ai trong chúng ta có thể hy vọng? Chị đặt hy vọng nơi lòng thương xót của Chúa. Khi ta vấp ngã, Chúa không vui vì sự vấp ngã ấy; Người muốn ta đứng dậy và trở về. Khi ta thấy mình nhỏ, Chúa không bảo ta phải tự làm cho mình cao lên mới xứng đáng được yêu. Người cúi xuống. Khi ta chỉ còn một chút sức để cầu nguyện, Người vẫn nghe. Khi ta muốn bắt đầu lại sau rất nhiều lần bắt đầu lại, Người vẫn mở đường. Tình yêu của Chúa không làm cho điều sai trở thành đúng, nhưng cho người đã sai một con đường thật để hoán cải. Tình yêu ấy cũng không xóa ngay mọi vết thương, nhưng không bỏ mặc người mang vết thương.

Hôm nay, có lẽ mỗi người chúng ta đều có thể đem đến trước Chúa một điều rất nhỏ. Người đang kiệt sức có thể thưa: “Lạy Chúa, con chưa biết yêu cho tốt, xin dạy con bắt đầu lại.” Người đang mặc cảm vì quá khứ có thể thưa: “Xin giúp con tin rằng đời con vẫn có thể nở hoa.” Người đang gánh trách nhiệm với gia đình hay cộng đoàn có thể hỏi: “Hôm nay con cần chăm sóc ai, và con cần bảo vệ ai?” Một lời cầu nguyện như thế không đưa ta ra khỏi cuộc sống. Nó đưa Chúa vào nơi ta đang sống, để sau khi cầu nguyện, ta nhìn người trước mặt bằng đôi mắt khác và làm điều cần làm.

Trong Thánh lễ này, chúng ta không mang lên bàn thờ một cuộc đời đã hoàn hảo. Ta mang lên đó những ngày bình thường của mình: niềm vui chưa trọn, sự cố gắng không ai thấy, những lỗi lầm cần được tha thứ, những người ta muốn yêu mà chưa biết yêu thế nào. Bánh và rượu là những của lễ giản dị. Chúa đón nhận và ban cho ta chính sự sống của Người. Xin thánh Têrêsa giúp chúng ta tin rằng cuộc đời mình, dù âm thầm đến đâu, vẫn có thể được biến đổi khi trao vào tay Chúa. Xin cho người đang ở nơi xa tìm được sức mạnh từ lời cầu nguyện của chúng ta; người ở ngay bên cạnh tìm được nơi chúng ta một sự dịu dàng thật; và những em nhỏ giữa cộng đoàn tìm được một mái nhà an toàn, nơi các em được lắng nghe và yêu thương.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã đặt một em nhỏ vào giữa các môn đệ. Xin đặt lại vào giữa lòng chúng con những con người mà chúng con thường vô tình bước qua. Xin cho chúng con đủ nhỏ để tin cậy Chúa, đủ khiêm nhường để nhận lỗi, đủ kiên nhẫn để yêu trong đời thường, và đủ can đảm để bảo vệ người yếu thế. Xin cho mỗi người được nở hoa đúng nơi Chúa đã gieo mình xuống. Dù bông hoa ấy bé nhỏ, xin cho nó đem đến một chút hương thơm của Tin Mừng cho căn nhà, giáo xứ và thế giới hôm nay. Amen.

Lm. Anmai, CSsR.

KHI KHÔNG CÒN GÌ ĐỂ KHOE, TA VẪN CÒN ĐƯỢC CHÚA YÊU

Suy niệm nhân lễ thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu — G 1,6–22; Lc 9,46–50

Có một câu hỏi âm thầm đi theo con người suốt cả cuộc đời: Tôi có đáng được yêu không? Khi còn nhỏ, ta mong được khen vì ngoan ngoãn, học giỏi. Lớn lên, ta mong có một công việc ổn định, một chỗ đứng, một điều gì đó để người khác nhìn vào mà công nhận. Ngay cả trong đời sống đức tin, có khi ta cũng mang nỗi băn khoăn ấy đến trước mặt Chúa: Con cầu nguyện chưa đủ sốt sắng, con chưa sửa được tính xấu này, con vẫn phạm lại lỗi cũ; liệu Chúa có còn vui lòng đón nhận con? Ta quen đo giá trị của mình bằng những gì mình làm được, đến nỗi khi hai bàn tay trống không, ta tưởng mình cũng chẳng còn gì quý giá. Chính vào nơi sâu kín ấy, Đức Giêsu đặt một em nhỏ bên cạnh Người. Giữa lúc các môn đệ đang tranh luận xem ai là người lớn nhất, Chúa không đưa ra một bảng xếp hạng mới. Người đưa đến trước mặt họ một con người bé nhỏ, chẳng có địa vị nào để bảo vệ mình, chẳng có thành tích nào để gây ấn tượng. Và Người nói: ai đón tiếp em nhỏ này vì danh Người là đón tiếp chính Người. Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã dành cả cuộc đời ngắn ngủi để sống đến tận cùng điều Tin Mừng ấy: trước khi cố trở nên lớn lao trước mặt Chúa, hãy để mình được Chúa đón nhận như một người con.

Ta thường nghĩ làm một người con bé nhỏ là chuyện dễ. Thật ra, càng lớn, ta càng khó chấp nhận mình cần được nâng đỡ. Ta muốn tự lo liệu, tự chứng minh, tự giải quyết mọi sự. Ta không thích người khác thấy mình yếu đuối; đôi khi ta cũng không muốn Chúa thấy, dù Người đã biết rõ. Ta có thể thú nhận một lỗi nhỏ, nhưng giấu đi vết thương lớn. Ta có thể xin Chúa giúp mình thành công, nhưng lại ngại thưa với Người rằng: “Con sợ. Con mệt. Con không biết phải đi tiếp thế nào.” Trở nên như trẻ nhỏ trước mặt Chúa không có nghĩa là bỏ trách nhiệm, thôi suy nghĩ hay chờ phép lạ làm thay phần việc của mình. Đó là sống thật về thân phận mình: tôi có thể cố gắng hết lòng, nhưng tôi không phải nguồn mạch sự sống của chính tôi; tôi có thể yêu thương người khác, nhưng chính tôi cũng cần được yêu thương; tôi có thể đứng vững hôm nay, nhưng ngày mai tôi vẫn cần ơn Chúa. Một đứa trẻ tin tưởng cha mẹ không vì nó biết mọi chuyện sẽ diễn ra đúng ý mình. Nó tin vì khi điều gì xảy ra, nó biết mình có thể chạy về. Con đường thơ ấu thiêng liêng bắt đầu từ một niềm tin như thế.

Thánh Têrêsa hiểu rằng sự bé nhỏ ấy không phải một khuyết điểm cần che giấu. Chị không chờ đến ngày mình hết yếu đuối mới bắt đầu yêu Chúa. Chị đem chính sự nghèo nàn của mình đến với Người. Chị nhận ra mọi điều tốt đẹp mình có đều là quà tặng, nên chẳng có lý do gì để kiêu căng; chị cũng nhận ra lòng thương xót của Chúa lớn hơn sự nghèo nàn của mình, nên chẳng có lý do gì để tuyệt vọng. Đó là nét đẹp lạ lùng của “con đường nhỏ”: một con người vẫn nghiêm túc chiến đấu với bản thân, vẫn tập yêu thương trong những việc rất cụ thể, nhưng thôi coi sự thánh thiện như chiếc cúp mình phải giành lấy bằng sức riêng. Tình yêu của Chúa đến trước. Chính vì được yêu, ta mới có can đảm đứng dậy và học yêu. Chính vì được đón nhận, ta mới dám nhìn thẳng vào lỗi lầm để hoán cải. Nếu quên điều ấy, việc đạo đức dễ trở thành gánh nặng, và cả lời cầu nguyện cũng có thể biến thành một cuộc tự kiểm tra không bao giờ đạt điểm đủ cao.

Bài đọc về ông Gióp đặt niềm tín thác ấy trước một thử thách đau đớn. Trong một ngày, những tin dữ dồn dập ập đến: của cải bị cướp mất, người làm thiệt mạng, rồi các con ông cũng qua đời. Gióp xé áo, cạo đầu và sấp mình xuống đất. Kinh Thánh không kể về một người cha bình thản trước cái chết của con mình. Ông đau buồn. Và giữa nỗi đau ấy, ông vẫn chúc tụng danh Chúa. Ta cần đứng thật lâu trước cảnh này, để đừng biến lời ông thành một câu an ủi quá nhanh dành cho người đang chịu tang. Mất mát vẫn là mất mát. Người vừa tiễn một người thân không cần bị thúc ép phải mỉm cười, phải hiểu ngay ý nghĩa đau khổ, hay phải nói rằng mình đã ổn. Đức tin của Gióp sâu xa chính vì ông không phủ nhận điều đang làm lòng mình tan nát. Ông mang cả nỗi đau ấy đến trước Thiên Chúa. Có những ngày, lời cầu nguyện của ta cũng chỉ có thể là một tiếng nấc, một sự im lặng, một câu rất ngắn: “Lạy Chúa, xin ở lại với con.” Một người con bé nhỏ có quyền khóc trong lòng Cha.

Chúng ta dừng lại và kết nối hình ảnh Gióp với kinh nghiệm của thánh Têrêsa: con đường tín thác vẫn phải đi qua những điều bị lấy mất, những điều không thể giữ lại. Nhưng ta phải nói điều này bằng tất cả sự cẩn trọng và dịu dàng: Thiên Chúa không vui thích trước nước mắt của con cái Người. Ta không cần gọi cái chết là một điều tốt, không cần xem bệnh tật là phần thưởng, cũng không cần gán mọi tai họa cho một kế hoạch mà mình đã hiểu thấu. Khi đứng dưới chân thập giá, Đức Maria đâu được trao một lời giải thích khiến trái tim người mẹ thôi đau. Mẹ ở lại với Con. Và Con Thiên Chúa đã đi vào tận cùng nỗi đau của nhân loại để không ai phải chịu đau khổ như một kẻ bị bỏ mặc. Tín thác không phải là biết vì sao mọi chuyện xảy ra. Nhiều khi tín thác chỉ là, giữa một điều mình không hiểu nổi, vẫn hướng về Chúa và thưa: “Con chưa thấy đường, nhưng xin đừng để con rời tay Ngài.”

Có những mất mát đến bất ngờ, có những mất mát diễn ra rất chậm. Một ngày kia, ta nhận ra sức khỏe không còn như trước. Một mối quan hệ từng gần gũi trở nên xa cách. Công việc ta tận tâm gắn bó không đi theo hướng mình mong. Một người cha, người mẹ bắt đầu quên những chuyện từng rất thân thuộc. Có khi thứ bị lấy mất không ai nhìn thấy: cảm giác mình còn hữu ích, niềm vui cầu nguyện, sự tự tin rằng mình đang sống đúng. Những lúc ấy, câu hỏi nhức nhối nhất có thể là: “Nếu con không còn làm được điều con vẫn làm, con còn là ai?” Thánh Têrêsa nhẹ nhàng đưa ta trở lại điểm khởi đầu: con là người được Chúa yêu. Khi khỏe mạnh, con được yêu. Khi đau yếu, con vẫn được yêu. Khi làm được nhiều điều tốt đẹp, con được yêu. Khi chẳng còn đủ sức để làm gì ngoài việc hiện diện và đón nhận sự chăm sóc của người khác, con vẫn được yêu. Phẩm giá của con không mất theo những khả năng con đã mất. Trước khi con là người phục vụ, người thành đạt, người gánh vác gia đình hay người được cộng đoàn cần đến, con đã là một người con.

Điều ấy cũng thay đổi cách ta nhìn những việc nhỏ. Nhiều người ao ước làm một việc lớn cho Chúa, nhưng phần lớn đời mình lại trôi qua trong những việc ít ai để ý: chuẩn bị bữa cơm, dọn căn phòng, trả lời một tin nhắn tử tế, ngồi nghe người già kể lại câu chuyện đã kể nhiều lần, kiềm một lời chua chát đang chực bật ra. Nếu chỉ nhìn bề ngoài, những việc ấy chẳng đáng ghi vào tiểu sử. Nhưng tình yêu không đo bằng tiếng vang của công việc. Một người mẹ mệt sau cả ngày dài vẫn dịu giọng với con; một người đang buồn vẫn dành chỗ trong lòng cho nỗi buồn của bạn; một người bị hiểu lầm chọn giải thích chân thành thay vì làm người khác tổn thương: những điều đó nhỏ trong mắt thế gian, nhưng có thể là cả một cuộc chiến âm thầm trong trái tim. Con đường nhỏ không bảo ta làm ít đi. Nó mời ta yêu hết lòng trong chính điều đang ở trước mặt, dù không có ai đứng đó để vỗ tay.

Dẫu vậy, sự bé nhỏ của Tin Mừng không dừng ở việc nhìn nhận mình cần Chúa. Đức Giêsu đặt em nhỏ bên cạnh Người rồi nói đến việc đón tiếp em. Có một đứa trẻ thật, một con người thật, đang cần chỗ đứng giữa các môn đệ bận tranh xem ai lớn hơn. Nếu ta muốn sống con đường của thánh Têrêsa, ta phải tự hỏi: ai là người bé nhỏ đang đứng cạnh tôi? Có thể đó là một em bé hay bị mắng vì chậm chạp. Có thể là người cao tuổi nói điều gì cũng bị cắt ngang. Có thể là một người bệnh chỉ muốn được gọi bằng tên mình thay vì tên căn bệnh. Có thể là người mới đến giáo xứ, đứng cuối nhà thờ mà không ai bắt chuyện. Đón tiếp họ không chỉ là có một thái độ tốt trong lòng; đó là nhường thời gian, lắng nghe câu trả lời, bảo vệ họ khi họ bị coi thường, và để sự hiện diện của họ làm thay đổi lịch trình vốn rất quan trọng đối với mình. Ta không thể nói mình yêu sự bé nhỏ trước mặt Chúa mà lại thiếu kiên nhẫn với người bé nhỏ đang ở trước mặt ta.

Tin Mừng còn kể thêm một chi tiết dễ bị bỏ qua. Ông Gioan báo với Chúa rằng các môn đệ đã ngăn một người trừ quỷ nhân danh Đức Giêsu, bởi người ấy không cùng đi trong nhóm họ. Chúa bảo đừng ngăn cản. Ngay sau bài học về người nhỏ nhất, các môn đệ lại phải học thêm rằng họ không sở hữu mọi điều tốt lành Chúa đang thực hiện. Đây cũng là một kiểu “bé lại” rất khó: vui khi người khác làm được việc tốt mình muốn làm; chấp nhận rằng mình không phải người duy nhất được Chúa dùng; đừng vì không nhận được lời ghi công mà mất luôn niềm vui trước điều thiện. Trong gia đình, trong cộng đoàn, cả trong việc phục vụ Hội Thánh, lòng yêu mến có thể bị trộn với nỗi sợ mình trở nên không quan trọng. Ta bắt đầu giữ phần việc như giữ lãnh thổ, nhìn thành công của người khác như một sự thua thiệt của mình. Nhưng một đứa con biết mình có chỗ trong lòng Cha thì không cần giành mất chỗ của anh chị em. Ta có thể cộng tác, nhường đường, học hỏi và mừng cho nhau, vì ân sủng Chúa rộng hơn những ranh giới do sự tự ái của ta dựng lên.

Có lẽ hôm nay Chúa đang mời ta buông xuống một điều rất cụ thể. Không hẳn là một tài sản hay một công việc, mà là đòi hỏi phải luôn tỏ ra mạnh mẽ. Là nỗi xấu hổ khi phải xin giúp đỡ. Là thói quen chỉ thấy mình có giá trị nếu mọi người hài lòng. Là mong muốn được người khác công nhận trước khi mình chịu làm một việc tốt. Cũng có thể Chúa mời ta buông một hình ảnh đạo đức quá đẹp về bản thân, để có thể thật thà nhận ra mình đang ganh tị, nóng nảy, sợ hãi hoặc kiệt sức. Buông xuống như thế không dễ, vì những điều ấy từng giúp ta cảm thấy an toàn. Nhưng khi hai tay cứ nắm chặt điều mình dùng để chứng minh bản thân, ta khó mở tay đón nhận tình yêu được ban nhưng không. Chúa không đứng đợi ta ở cuối một cuộc leo núi để hỏi đã lập được bao nhiêu thành tích. Người có mặt ngay nơi ta thật lòng thưa: “Con cần Ngài.”

Thánh Têrêsa qua đời khi tuổi đời còn rất trẻ. Nhìn theo những thước đo thông thường, cuộc đời trong đan viện của chị có vẻ giới hạn: không đi đến những nơi xa xôi, không làm những công trình khiến nhiều người biết tên lúc sinh thời. Nhưng chị đã để tình yêu của Chúa đi vào những giới hạn ấy và từ đó học yêu không ngừng. Điều làm cho cuộc đời chị có sức chạm đến biết bao tâm hồn không phải vì chị chưa từng đau, chưa từng mỏi mệt hay chưa từng đi trong bóng tối. Chính một con người đã biết những điều đó vẫn chọn phó thác đã nói với chúng ta rằng: con đường nên thánh không đóng lại trước những ai thấy mình nhỏ bé. Người quá tuổi để bắt đầu lại vẫn có thể bắt đầu. Người mang nhiều lỗi lầm vẫn có thể trở về. Người đang trải qua một mùa khô khan vẫn có thể dâng lên Chúa một ngày sống trung thành. Người không làm nổi điều phi thường vẫn có thể yêu một người ở gần mình hôm nay.

Rồi đến lúc tham dự Thánh lễ, ta lại đứng trước Chúa với hai bàn tay trống. Ta không thể tự tạo ra Bánh ban sự sống. Ta chỉ có thể đón nhận. Có lẽ đó là một trong những giây phút chân thật nhất của đời Kitô hữu: ta đến, mang theo những cố gắng và cả những thất bại, niềm vui và nỗi đau, lòng sốt mến và sự khô khan; rồi thưa rằng mình cần được nuôi dưỡng. Chúa không đợi đến khi ta hoàn hảo mới gọi ta đến gần. Chính nơi Người, ta học dần cách sống như một người con và cách đón tiếp những người con khác. Xin thánh Têrêsa cầu cho chúng ta có một tâm hồn đủ khiêm nhường để nhận ơn, đủ can đảm để bắt đầu lại, và đủ dịu dàng để nhận ra Đức Kitô nơi người bé nhỏ. Khi không còn gì để khoe, ta vẫn còn có thể thưa với Chúa: “Con đây.” Và trong tình yêu của Người, lời ấy đã là một khởi đầu rất đẹp.

Lm. Anmai, CSsR.

CON ĐƯỜNG NHỎ DẪN VÀO TRÁI TIM THƯƠNG XÓT CỦA CHÚA

Suy niệm nhân lễ thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, gợi hứng từ G 42,1-6.12-17 và Lc 10,17-24

Có một nỗi mệt mỏi rất âm thầm trong đời sống đức tin: mệt vì nghĩ rằng mình phải trở nên thật tốt rồi mới dám đến gần Chúa. Ta muốn cầu nguyện bằng một tâm hồn sốt sắng, nhưng lòng lại khô khan. Ta muốn yêu thương quảng đại, nhưng vừa bị tổn thương đã thấy mình co lại. Ta quyết tâm bỏ một thói quen cũ, thế mà ít lâu sau lại ngã đúng chỗ ấy. Rồi ta bắt đầu ngại nhìn lên Chúa. Ta vẫn đi lễ, vẫn đọc kinh, vẫn làm những điều phải làm, nhưng tận sâu trong lòng có một khoảng cách: “Có lẽ Chúa thất vọng về tôi.” Chính vào nơi ấy, con đường nhỏ của thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu mở ra như một lối về. Không phải vì thánh nữ xem nhẹ tội lỗi hay coi sự nên thánh là chuyện dễ dàng, nhưng vì chị đã nhận ra một điều có sức đổi cả cuộc đời: người con không cần giả vờ mình đã lớn để được Cha yêu. Người con có thể đến với Cha bằng đôi tay trống, bằng sự thật về mình, và bằng lòng tin rằng tình thương của Cha lớn hơn những lần mình vấp ngã. Bài giảng của cha Roger J. Landry về “con đường nhỏ của lòng tín thác vào lòng thương xót Chúa” đặt trực giác ấy bên cạnh Tin Mừng: Đức Giêsu vui mừng vì Chúa Cha tỏ mình cho những người bé mọn; và Người nhắc các môn đệ rằng niềm vui sâu xa nhất của họ là tên họ đã được ghi trên trời.

Các môn đệ trở về sau chuyến đi đầy phấn khởi. Họ đã thấy sức mạnh của danh Đức Giêsu trong sứ vụ. Niềm vui ấy có thật, nhưng Chúa đưa họ đi xa hơn: đừng chỉ vui vì những gì mình làm được; hãy vui vì mình thuộc về Thiên Chúa. Lời ấy chạm đến một cám dỗ rất kín đáo trong lòng người đạo đức. Ta dễ đo giá trị đời mình bằng kết quả: một công việc thành công, một cộng đoàn phát triển, một lời khen, một giai đoạn cầu nguyện đầy an ủi. Khi mọi sự thuận lợi, ta thấy mình có ích và được Chúa đoái nhìn. Khi sức lực giảm sút, việc làm không sinh hoa trái như mong đợi, hay một lỗi lầm phơi bày sự yếu đuối của mình, ta lại thấy bản thân chẳng còn bao nhiêu giá trị. Nhưng trước khi ta làm được bất cứ điều gì cho Chúa, Người đã gọi ta là con. Trước khi đôi tay ta có thể đem về một thành quả, đôi tay ấy đã được Người nắm lấy. Nếu quên điều này, ngay cả việc phục vụ Chúa cũng có thể trở thành một cuộc tìm kiếm sự bảo đảm cho bản thân. Ta làm nhiều mà lòng vẫn bất an, vì luôn sợ một ngày nào đó mình không làm đủ nữa. Đức Giêsu trả lại cho các môn đệ nền tảng vững bền hơn mọi thành công: niềm vui được Chúa Cha biết đến, yêu thương và mời gọi vào sự sống của Người.

Thánh Têrêsa hiểu điều ấy bằng cả cuộc đời ngắn ngủi của mình. “Con đường nhỏ” không phải là chọn sống tầm thường, cũng không phải là viện cớ mình yếu đuối để khỏi phải thay đổi. Đó là con đường của một người biết mình không thể tự đưa mình lên tới Thiên Chúa, nên để cho Thiên Chúa cúi xuống nâng mình lên. Có những người nghe chữ bé nhỏ liền nghĩ đến sự non nớt. Nhưng nhìn nhận mình bé nhỏ trước Chúa đòi một sự trưởng thành rất sâu. Trẻ con có thể muốn cả thế giới chiều theo ý mình; người sống tinh thần thơ ấu thiêng liêng thì học từ bỏ ý muốn làm chủ mọi sự. Họ vẫn làm việc hết lòng, vẫn sửa lỗi, vẫn gánh trách nhiệm, nhưng không biến những việc ấy thành bằng chứng rằng mình chẳng cần đến ân sủng. Họ có thể thưa: “Lạy Chúa, con sẽ làm hết phần con hôm nay. Phần con không thể làm, xin Chúa dẫn con đi.” Một lời cầu nguyện như thế đơn sơ mà khó biết bao! Ta quen tự lo liệu, quen giữ hình ảnh mạnh mẽ, quen giấu những chỗ thiếu thốn nhất. Ta sợ nếu buông sự kiểm soát, mọi thứ sẽ đổ vỡ. Trong khi đó, điều Chúa muốn chữa lành trước hết có khi chính là nỗi sợ khiến ta phải một mình chống đỡ cả cuộc đời.

Bài đọc về ông Gióp cho ta thấy một hành trình khác của lòng tín thác. Sau những mất mát và câu hỏi không dễ trả lời, ông không nhận được một bản giải thích đầy đủ cho từng nỗi đau. Điều đổi thay sâu xa là tương quan của ông với Thiên Chúa: từ chỗ biết về Người qua lời nghe kể, ông đi vào một cuộc gặp gỡ trực tiếp hơn. Điều ấy không làm đau khổ của ông trở thành nhẹ tênh, cũng không buộc người đang chịu khổ phải vội vàng nói rằng mình đã hiểu mọi sự. Có những vết thương cần rất lâu để nguôi; có những lời cầu nguyện chỉ là tiếng thở dài. Nhưng trong câu chuyện của Gióp, ta nhận ra đức tin có thể lớn lên ngay giữa điều chưa hiểu: “Con không biết vì sao chuyện này xảy đến. Con vẫn muốn tìm Chúa, vẫn muốn nói với Chúa, vẫn muốn để Chúa ở cùng con.” Thánh Têrêsa cũng không dạy ta tin tưởng bằng cách phủ một lớp lời đẹp lên mọi đêm tối. Tin tưởng là tiếp tục hướng về Chúa ngay cả khi lòng mình không cảm thấy ánh sáng; là không lấy cảm giác vắng mặt làm lời kết luận cuối cùng về tình yêu của Người.

Con đường nhỏ đặc biệt cần thiết khi ta phạm lỗi. Sau một lần nóng giận, một lời nói làm người khác đau, một lựa chọn ích kỷ, ta thường bị kéo về hai phía. Một phía là tự bào chữa: “Ai ở hoàn cảnh ấy cũng sẽ làm vậy thôi.” Phía kia là tự kết án: “Mình chẳng bao giờ khá hơn được.” Cả hai đều có thể giữ ta ở xa Chúa. Tự bào chữa khiến ta không thật lòng nhận lỗi; tự kết án khiến ta không tin mình còn có thể được chữa lành. Lòng thương xót mời ta bước qua cả hai: gọi đúng tên điều mình đã làm, xin tha thứ, sửa chữa điều có thể sửa, rồi trở về. Có khi việc trở về ấy bắt đầu bằng một câu rất nhỏ trước cây thánh giá: “Lạy Chúa, con lại ngã. Xin đừng để con chạy trốn Chúa.” Ta có thể xưng tội với một trái tim run rẩy; có thể tìm gặp người mình đã làm tổn thương và nhận phần trách nhiệm của mình; có thể bắt đầu lại một việc lành mà hôm qua mình bỏ dở. Chúa không cần ta dựng lên một phiên bản sạch đẹp của mình trước khi bước vào tòa giải tội. Chính sự thật được đem đến với Người mới có thể được lòng thương xót chạm tới.

Dĩ nhiên, tín thác vào lòng thương xót không có nghĩa là xem nhẹ vết thương mình gây ra. Một người con tin cha mình sẽ đón nhận mình vẫn phải học xin lỗi khi làm sai và học đừng làm đau người khác nữa. Cũng vậy, ân sủng không làm ta thờ ơ với cuộc hoán cải; ân sủng cho ta can đảm để hoán cải mà không tuyệt vọng. Có những lần ta cần thay đổi thói quen rất cụ thể: thôi tìm cớ để nói xấu một người, ngưng nuôi một mối giận, trung thực trong công việc, dành thời gian cho người thân mà mình đã lâu không thật sự lắng nghe. Có những sai lỗi cần được đền bù bằng hành động chứ không chỉ bằng nước mắt. Con đường nhỏ đi qua những quyết định thật ấy. Nó nhỏ vì được bước từng bước trong ngày thường; nó dẫn rất xa vì mỗi bước đều đặt trong bàn tay Chúa.

Têrêsa còn giúp ta nhìn lại ý nghĩa của một đời sống tưởng như chẳng có gì đáng kể. Ta thường hình dung sự thánh thiện ở những việc lớn: đi đến một nơi xa, chịu đựng một thử thách phi thường, làm một việc khiến nhiều người xúc động. Nhưng phần lớn đời người được dệt bằng những điều lặp lại. Một bữa ăn phải nấu. Một người già kể lại câu chuyện cũ. Một em nhỏ cần được kiên nhẫn chỉ bảo. Một bổn phận không ai thấy. Một cơn mệt khiến ta muốn gắt gỏng, và đúng lúc ấy ta chọn nói dịu đi. Một buổi sáng lòng nặng trĩu mà vẫn đứng dậy làm điều cần làm. Những việc ấy có thể rất nhỏ trước mắt người đời, nhưng tình yêu đặt vào đó thì không nhỏ. Một lời tử tế nói đúng lúc có thể ngăn một người khỏi cô độc thêm một ngày. Một lần không đáp trả sự khó chịu bằng sự khó chịu có thể chặn lại cả một dây chuyền tổn thương. Một phút thầm cầu nguyện cho người mình khó thương có thể là khởi đầu của tự do trong lòng. Thánh Têrêsa không cần một sân khấu rộng để yêu; chị đã để tình yêu đi vào những khoảnh khắc gần nhất, khó nhất, ít được chú ý nhất.

Chính ở đây con đường nhỏ trở nên thấm thía đối với những ai đang thấy mình bị đời sống làm cho kiệt sức. Có thể hôm nay ta chẳng làm được điều gì rực rỡ. Cầu nguyện thì phân tâm; công việc thì dang dở; trong nhà còn những hiểu lầm chưa tháo gỡ. Ta nhìn người khác tiến nhanh và âm thầm trách mình sao cứ quanh quẩn với những giới hạn cũ. Nhưng Chúa không yêu ta theo một bảng xếp hạng. Người thấy cả cố gắng mà người khác không thấy: một người mẹ giấu nước mắt để dịu dàng với con; một người cha trở về sau ngày làm việc dài vẫn cố ngồi nghe con nói; một người bệnh chịu nhận sự chăm sóc dù thấy mình thành gánh nặng; một người tu sĩ trung thành với giờ kinh khi lòng không còn chút an ủi; một người trẻ từ chối một điều sai dù chẳng ai khen. Có những chiến thắng không vang tiếng reo mừng. Chỉ Chúa biết hôm nay ai đã phải vượt qua chính mình để trao đi một chút yêu thương. Và với Người, “một chút” được trao bằng cả trái tim không bao giờ là chuyện vô nghĩa.

Tuy nhiên, có lẽ điều khó nhất đối với nhiều người không phải là làm một việc nhỏ, mà là đón nhận tình yêu. Ta quen nghĩ mình phải hữu ích mới đáng được yêu, phải đứng vững mới không làm phiền ai, phải có điều gì tốt đẹp để dâng Chúa. Bởi thế, khi rơi vào một giai đoạn chẳng thể làm được bao nhiêu, ta bối rối như thể mình không còn chỗ trong lòng Người. Con đường của Têrêsa âm thầm hỏi: Nếu hôm nay con không thể mang đến một thành quả nào, con có dám đến không? Nếu con chỉ có một trái tim nghèo, con có tin Cha vẫn muốn gặp con không? Thật lạ, ta có thể tin rằng Thiên Chúa yêu nhân loại, nhưng lại khó tin Người kiên nhẫn với riêng mình. Ta dễ nói về lòng thương xót như một giáo lý đúng, rồi sống như thể đó là món quà dành cho người khác. Tín thác bắt đầu khi ta để lời ấy đi từ đầu xuống tim: Chúa biết con người thật của ta và vẫn gọi ta về.

Đức Giêsu đã tỏ cho ta khuôn mặt của Chúa Cha. Người ngồi với kẻ tội lỗi, chạm đến người bị gạt ra bên lề, tìm con chiên lạc, đón người con trở về. Người không đứng ở một khoảng cách an toàn để giảng cho con người cách thoát khỏi khổ đau; Người đi vào thân phận chúng ta, mang lấy sự mong manh của chúng ta và yêu cho đến cùng. Vì thế, khi sợ đến gần Thiên Chúa, ta hãy nhìn Đức Giêsu. Hãy nhìn Người trong máng cỏ: một Hài Nhi để người ta có thể bồng ẵm. Hãy nhìn Người trên thập giá: Đấng vẫn mở rộng vòng tay giữa lúc bị con người khước từ. Hãy nhìn Người trong Thánh Thể: Đấng tự trao mình dưới hình bánh bé nhỏ để ở lại và nuôi dưỡng chúng ta. Người không làm mình nhỏ bé như thế để ta tiếp tục sợ hãi tình yêu của Người. Mỗi lần đến với Thánh Thể, ta có thể đem theo cả những phần đời mình muốn giấu nhất và thưa: “Con ở đây. Con chưa biết yêu Chúa như con muốn, nhưng con tin Chúa đang dạy con.”

Có người sẽ hỏi: “Nếu cứ tin mình được thương xót, liệu tôi có dễ dãi với bản thân không?” Câu hỏi ấy đáng được lắng nghe. Một thứ dễ dãi có thể ru ta ngủ trong điều sai. Nhưng lòng thương xót thật không ru ngủ; lòng thương xót đánh thức. Khi biết mình được yêu ngay trong sự thật, ta không còn phải dành hết sức để che giấu, chống chế hoặc tuyệt vọng. Ta được tự do để nhìn nhận điều cần đổi thay. Người được tha thứ có thể bắt đầu học tha thứ. Người được Chúa kiên nhẫn nâng dậy có thể kiên nhẫn hơn với người bên cạnh. Và người biết bản thân sống nhờ ân sủng sẽ bớt khắt khe khi thấy anh chị em mình vấp ngã. Đó là một dấu chỉ rất thật của việc đi trên con đường nhỏ: ta không chỉ tìm lòng thương xót cho mình, mà dần trở thành người biết trao lòng thương xót.

Có những ngày con đường này chỉ dài bằng khoảng cách từ chiếc giường đến chỗ quỳ cầu nguyện. Có những ngày nó là quãng đường từ lòng tự ái đến một lời xin lỗi. Có những ngày nó là quyết định mở cửa cho người thân bước vào câu chuyện của mình, thay vì im lặng và để khoảng cách lớn thêm. Cũng có ngày ta chẳng bước nổi, chỉ đủ sức ngước mắt lên. Nếu vậy, hãy bắt đầu từ cái ngước mắt ấy. Không ai phải hoàn tất cả cuộc đời thánh thiện trong một buổi sáng. Chúa mời ta sống trung thành với ngày hôm nay: nhận ra một ân huệ, thú nhận một lỗi lầm, làm một việc tốt trước mắt, trao một gánh nặng cho Người. Ngày mai sẽ có ân sủng cho ngày mai. Khi nhìn lại, ta có thể ngạc nhiên vì biết bao bước chân nhỏ đã đưa mình đi qua một đoạn đường dài.

Ước gì lễ thánh Têrêsa giúp ta thôi coi sự bé nhỏ của mình như một điều đáng xấu hổ. Ta vẫn cần lớn lên trong đức tin, trong trách nhiệm và trong tình yêu; nhưng ta lớn lên bằng cách ở lại trong tương quan với Cha, không phải bằng cách rời khỏi Người để chứng minh mình đủ mạnh. Ước gì khi thành công, ta nhớ rằng niềm vui sâu nhất là được thuộc về Chúa. Khi thất bại, ta nhớ rằng đường về vẫn mở. Khi không hiểu điều đang xảy đến, ta có thể cùng ông Gióp tiếp tục thưa chuyện với Người. Khi thấy mình chẳng có gì lớn lao để dâng, ta hãy dâng việc nhỏ đang ở trong tay với tất cả tình yêu mình có. Và khi trái tim lại run sợ trước những yếu đuối quen thuộc, xin thánh Têrêsa dạy ta làm một việc thật đơn sơ: chạy về phía lòng thương xót, để Chúa bồng mình lên, rồi từ trong vòng tay ấy học bước tiếp.

Lạy Chúa Giêsu, xin chữa nơi con ý nghĩ rằng con phải hoàn hảo mới được Chúa yêu. Xin cho con đủ khiêm nhường để gọi lỗi lầm của mình là lỗi lầm, đủ can đảm để sửa đổi, và đủ tín thác để không ở mãi trong mặc cảm. Xin dạy con yêu Chúa qua những việc nhỏ của hôm nay: một lời nói hiền hòa, một bổn phận chu toàn, một sự hy sinh kín đáo, một lần trở về sau vấp ngã. Khi con quên mất mình là con của Cha, xin nhắc con rằng tên con được ghi trong trái tim Người. Và khi hành trình nên thánh có vẻ quá xa, xin cho con bình an bước một bước nhỏ, rồi thêm một bước nhỏ nữa, trong lòng thương xót không ngừng nâng đỡ con. Amen.

Lm. Anmai, CSsR.

ĐỪNG XIN LỬA XUỐNG TRÊN NGƯỜI ĐÃ KHƯỚC TỪ MÌNH

Suy niệm Lc 9,51–56 trong ngày kính thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu

Có những ngày, điều làm ta đau nhất không phải là công việc nặng nhọc hay một chặng đường quá dài, mà là một cánh cửa không mở. Ta bước đến với thiện chí, nhưng người khác lạnh nhạt. Ta nói một lời chân thành, nhưng nhận lại sự nghi ngờ. Ta đã cố gắng yêu thương, đã nhẫn nại, đã chờ đợi, vậy mà vẫn bị từ chối. Những lúc ấy, lòng người rất dễ chuyển từ buồn sang giận. Ta bắt đầu nhớ lại mọi điều họ từng làm mình tổn thương. Ta muốn họ hiểu rằng họ đã sai. Ta muốn có một câu trả lời sắc bén, một hành động đủ mạnh để họ phải hối tiếc. Chính ở chỗ ấy, Tin Mừng hôm nay đặt trước mắt ta hình ảnh Đức Giêsu: Người đang đi về Giêrusalem, biết rõ điều gì chờ mình ở đó, và trên đường đi, một làng Samari không đón tiếp Người. Giacôbê và Gioan lập tức muốn gọi lửa từ trời xuống thiêu hủy họ. Nhưng Đức Giêsu quay lại quở trách hai môn đệ, rồi tiếp tục lên đường.

Ta có thể hiểu nỗi giận của Giacôbê và Gioan. Các ông yêu mến Thầy, không chịu nổi cảnh Thầy mình bị xúc phạm. Thế nhưng, tình yêu dành cho Chúa vẫn có thể bị pha lẫn với lòng tự ái của chính mình. Ta tưởng mình đang bảo vệ Chúa, trong khi điều mình muốn bảo vệ là cảm giác được tôn trọng. Ta tưởng mình đang bênh vực chân lý, trong khi lòng mình chỉ mong thắng một cuộc tranh cãi. Ta tưởng mình đang sốt sắng vì điều thánh thiện, nhưng sâu bên dưới lại là ước muốn nhìn người khác bị trừng phạt. Bởi vậy, lời quở trách của Đức Giêsu dành cho hai môn đệ thật cần thiết. Người yêu họ đủ để ngăn họ dùng danh nghĩa của Người làm điều trái với trái tim Người.

Điều đáng suy nghĩ là Đức Giêsu đã quyết tâm đi về Giêrusalem. Đích đến ấy không mơ hồ. Ở đó có chống đối, đau khổ và thập giá. Người không quay lưng với con đường của Chúa Cha chỉ vì một ngôi làng từ chối mình; cũng không để sự từ chối ấy quyết định cách Người cư xử. Người cứ đi tiếp. Có một sức mạnh rất lớn trong sự đi tiếp ấy. Khi bị khước từ, ta thường muốn dừng lại để đòi công bằng ngay lập tức, muốn buộc người khác nhìn nhận thiện chí của mình, muốn giải thích cho đến khi họ phải hiểu. Nhưng đôi khi, điều Chúa mời gọi là giữ lòng mình khỏi cay đắng và tiếp tục làm việc lành. Một cánh cửa đóng lại không nhất thiết phải biến ta thành con người khép kín. Một lời nói bất công không buộc ta phải sống phần đời còn lại trong giận dữ. Người khác có thể từ chối đón ta; ta vẫn có thể chọn đừng từ chối tình yêu mà Chúa đặt vào lòng mình.

Con đường ấy khó. Ta không thể chỉ bảo một người đang đau rằng hãy quên đi và bước tiếp. Có những lời từ chối chạm rất sâu: một người con thấy mình không được cha mẹ lắng nghe; một người mẹ hy sinh bao năm mà cảm thấy không ai hiểu; một người phục vụ cộng đoàn âm thầm rồi nhận về lời trách móc; một người đã xin lỗi thật lòng nhưng vẫn không được tha thứ. Nỗi đau ấy cần được nhìn nhận. Đức Giêsu không dạy ta giả vờ rằng vết thương không có thật. Chính Người đã nếm sự cô độc, đã đi qua những ánh mắt lạnh lùng, đã chịu sự bỏ rơi. Vì thế, khi ta đến với Người trong những ngày lòng mình nặng trĩu, ta không gặp một Đấng đứng xa mà khuyên nhủ. Ta gặp Đấng biết đường từ ngôi làng khước từ đến đồi Canvê dài và buốt đến thế nào.

Bài đọc về ông Gióp được đặt bên cạnh Tin Mừng hôm ấy cũng nhắc ta rằng có những nỗi khổ không thể giải quyết bằng vài câu nói đạo đức. Gióp đau đến mức cất lên những lời than rất tối tăm. Kinh Thánh vẫn giữ lại tiếng kêu ấy. Điều đó an ủi biết bao: người đau khổ không phải đợi đến khi mình nói được những lời đẹp đẽ mới được thưa chuyện với Thiên Chúa. Có lúc lời cầu nguyện chỉ là: “Lạy Chúa, con mệt quá.” Có lúc chỉ là ngồi trước Nhà Tạm mà không nói nổi điều gì. Có lúc ta tin, nhưng đức tin run rẩy; ta hy vọng, nhưng nước mắt vẫn chảy. Chúa nghe được cả lời cầu nguyện chưa thành tiếng ấy.

Chính trong ánh sáng ấy, thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu trở nên gần gũi với ta. Khi nói đến “con đường thơ ấu”, ta dễ hình dung một lối sống dịu dàng, trong sáng, ít va chạm. Nhưng sự bé nhỏ của thánh nữ không phải là một cách tránh né đau khổ. Đó là lòng tin của người biết mình không thể tự cứu mình và vì thế dám phó thác trọn vẹn cho Cha. Đó là tình yêu được thực hành khi cảm xúc đã cạn, khi chẳng ai thấy, khi việc phải làm quá bình thường để được ca ngợi. Bài giảng Cha gửi nối bước chân của Đức Giêsu hướng về Giêrusalem với con đường tín thác và yêu thương của thánh Têrêsa: giữ mắt hướng về Chúa, rồi đặt cả những hy sinh nhỏ bé hằng ngày vào tình yêu của Người.

Ta thường nghĩ muốn nên thánh thì phải làm điều gì thật lớn. Ta chờ một cơ hội phi thường, một hoàn cảnh thuận lợi hơn, một tâm hồn vững vàng hơn. Nhưng ngày hôm nay đã có sẵn những nơi tình yêu đòi ta bước vào. Đó là lúc ta có thể đáp trả bằng giọng gay gắt nhưng chọn nói nhẹ hơn. Là lúc ta lắng nghe một người kể lại chuyện cũ, dù mình đã nghe nhiều lần. Là lúc ta làm xong một việc không ai cảm ơn. Là lúc ta nhận ra mình đã sai và nói lời xin lỗi trước khi kịp tìm lý do bào chữa. Là lúc ta cầu nguyện cho người khiến mình khó chịu, dù lời cầu nguyện ban đầu còn khô khan. Những điều ấy nhỏ trong mắt đời, nhưng không nhỏ đối với một trái tim đang học yêu. Một đời người được dệt bằng những giây phút như thế. Nếu cứ đợi một ngày khác để bắt đầu, có thể ta sẽ bỏ lỡ chính con đường Chúa đang mở dưới chân mình.

Thánh Têrêsa không dạy ta yêu những đau khổ vì bản thân đau khổ là điều tốt. Chị giúp ta khám phá rằng ngay giữa điều không thể chọn, ta vẫn có thể chọn cách yêu. Một căn bệnh không trở nên nhẹ chỉ vì ta cầu nguyện. Một mất mát không thôi đau chỉ vì ta nói mình tín thác. Nhưng Chúa có thể ở cùng ta trong căn bệnh, trong mất mát ấy; Người có thể giữ cho trái tim ta còn khả năng hướng về người khác, còn khả năng đón nhận sự chăm sóc, còn khả năng thưa: “Lạy Chúa, xin đừng để đau khổ này làm con thôi yêu.” Đó là một lời cầu nguyện can đảm. Có khi để nói được lời ấy, ta phải khóc rất lâu. Và Chúa không hối thúc ta phải hết khóc.

Trở lại với hai môn đệ, ta thấy mình trong các ông nhiều hơn ta muốn thú nhận. Có một thứ “lửa từ trời” mà ta vẫn âm thầm gọi xuống mỗi ngày. Đó là câu nói nhằm làm người khác xấu hổ trước đám đông. Đó là sự im lặng dùng để trừng phạt. Đó là cách kể lại câu chuyện sao cho người mình không ưa chỉ còn hiện lên với những lỗi lầm của họ. Đó là niềm vui kín đáo khi nghe tin họ thất bại. Ta có thể chưa làm hại ai bằng hành động, nhưng đã nhiều lần để cơn giận quyết định mình sẽ nghĩ về họ thế nào. Đức Giêsu quay lại quở trách các môn đệ vì Người muốn cứu cả ngôi làng lẫn trái tim những người đi theo Người. Nếu cứ nuôi lửa giận, sau cùng người bị thiêu đốt trước tiên có thể chính là ta.

Thương xót không có nghĩa là phủ nhận điều sai. Có lúc ta phải nói thật, phải bảo vệ người yếu thế, phải đặt một giới hạn rõ ràng. Đức Giêsu cũng không ở lại ngôi làng để giả vờ rằng sự khước từ chưa từng xảy ra. Người đi sang làng khác. Ta cũng có thể rời khỏi một nơi làm mình bị tổn hại, có thể ngừng một cuộc đối thoại đang trở nên tàn nhẫn, có thể tìm sự giúp đỡ cần thiết. Nhưng ngay khi phải đặt giới hạn, ta vẫn được mời gọi giữ cho lòng mình khỏi mong người khác bị hủy diệt. Đó là một sự phân định khó khăn và trưởng thành: nói sự thật mà không lấy hận thù làm sức mạnh; bước đi mà không mang theo ước muốn trả đũa.

“Giêrusalem” của mỗi người có thể là bổn phận mình đã trì hoãn, một cuộc hòa giải cần bắt đầu, một người thân đang cần sự hiện diện kiên nhẫn, một lời cam kết cần được giữ giữa lúc lòng không còn hứng khởi. Ta biết con đường ấy sẽ tốn sức nên cứ nhìn sang hướng khác. Đức Giêsu hôm nay dạy ta xác định lại đích đến: đời mình hướng về đâu, và mình đang để điều gì kéo mình lệch đường? Có khi chỉ một câu chê đã khiến ta quên mất bao năm mình muốn sống cho Chúa. Có khi chỉ một người không đón nhận đã khiến ta nghi ngờ giá trị của tất cả những gì mình trao đi. Nhưng ơn gọi của ta lớn hơn một lời khen, và tình yêu Chúa dành cho ta bền hơn một lần bị từ chối. Ta có thể buồn, có thể nghỉ một chút, có thể xin người khác nâng đỡ; rồi, cùng với Chúa, ta lại đi tiếp.

Con đường nhỏ của thánh Têrêsa bắt đầu ngay ở điểm ta thường xấu hổ nhất: sự nghèo nàn của mình. Ta hay nghĩ phải mạnh mẽ rồi mới đến với Chúa, phải cầu nguyện sốt sắng rồi mới xứng đáng gần Người, phải sửa hết những thói quen xấu rồi mới dám tin mình được yêu. Nhưng người con bé nhỏ đâu đợi mình đủ sức mới đưa tay cho cha. Chính vì không đủ sức mà em đưa tay. Tín thác là thế: không che giấu sự yếu đuối, cũng không lấy nó làm cớ để nằm yên; ta đem nó đến với Chúa và để Người dìu mình bước thêm một bước. Có ngày bước ấy là tha thứ. Có ngày chỉ là ngừng nói một lời làm đau. Có ngày là dám quay lại cầu nguyện sau nhiều tuần khô khan. Chúa thấy từng bước rất nhỏ ấy.

Trong Thánh lễ, ta được đặt trước tình yêu đã đi đến cùng. Đức Giêsu tiến về Giêrusalem không phải để chứng minh Người có thể chịu đựng bao nhiêu, nhưng để trao ban chính mình cho nhân loại Người yêu. Trên bàn thờ, Người vẫn đến gần những con người thất thường, dễ hứa rồi dễ quên, muốn theo Chúa mà vẫn thường thích gọi lửa xuống trên người khác. Người không đợi ta có một trái tim hoàn hảo mới nuôi dưỡng ta bằng Mình và Máu Thánh. Người đến để chữa lành trái tim ấy. Khi đón nhận Thánh Thể, ta có thể dâng Người cả điều mình ngại thú nhận: “Con còn giận. Con vẫn thấy bị khước từ. Con muốn yêu nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu.” Chúa không coi lời thú nhận ấy là thất bại. Đó có thể là nơi tình yêu thật bắt đầu.

Rồi khi ra khỏi nhà thờ, ta sẽ lại gặp những điều rất bình thường: một tin nhắn khó trả lời, một người trong nhà đang mệt, một công việc lặp lại, một bất đồng chưa được tháo gỡ. Xin đừng coi đó là những trở ngại nằm ngoài đời sống thiêng liêng. Chính ở đó, ta có thể sống điều vừa cầu nguyện. Ta không cần biến mọi khoảnh khắc thành một thành tựu. Chỉ cần hỏi: “Lạy Chúa, trong việc này, con có thể yêu thêm một chút bằng cách nào?” Có thể câu trả lời là im lặng để nghe. Có thể là nói ra điều cần nói với sự dịu dàng. Có thể là đi thăm một người cô độc. Có thể là nhận mình cần được giúp đỡ. Những việc nhỏ được làm bằng tình yêu sẽ dần dần mở rộng trái tim ta.

Lạy Chúa Giêsu, khi bị khước từ, Chúa vẫn tiếp tục con đường yêu thương. Xin ở lại với chúng con khi một cánh cửa đóng lại, khi một lời nói làm chúng con đau, khi chúng con mệt đến mức muốn đáp trả bằng giận dữ. Xin dạy chúng con nhận ra ngọn lửa đang cháy trong lòng mình và can đảm trao nó cho Chúa. Xin cho chúng con sự bé nhỏ của thánh Têrêsa: biết đưa tay ra khi yếu đuối, biết tin mình được yêu khi chẳng có gì đáng khoe, biết làm một việc lành âm thầm ngay hôm nay. Và khi đường về Giêrusalem của đời mình trở nên quá khó, xin nhắc chúng con rằng Chúa đang đi cùng. Chỉ cần còn đi với Chúa, chúng con vẫn có thể bắt đầu lại, vẫn có thể học yêu, vẫn có thể trở nên thánh giữa những ngày bình thường nhất.

Lm. Anmai, CSsR.

Top of Form

Bottom of Form

ĐỪNG SỢ NÊN THÁNH

Có một lời mời gọi nghe rất đẹp, nhưng cũng dễ làm chúng ta chùn bước: hãy nên thánh. Nghe đến hai chữ ấy, nhiều người lập tức nghĩ đến những tâm hồn phi thường, những con người cầu nguyện suốt ngày, hy sinh không biết mệt, chẳng bao giờ nổi nóng, chẳng bao giờ nghi ngờ, chẳng bao giờ thất bại. Rồi nhìn lại mình, ta thấy một đời sống quá bình thường: sáng thức dậy với bao việc phải lo, chiều trở về với bao điều chưa giải quyết, lòng muốn yêu thương mà đôi khi chỉ một câu nói cũng đủ làm mình khó chịu. Ta biết cầu nguyện là tốt nhưng vẫn có những ngày đọc kinh mà tâm trí đi đâu mất. Ta muốn sống quảng đại nhưng vẫn giữ riêng cho mình những tính toán nhỏ. Ta muốn tha thứ nhưng vết thương cũ cứ nhói lên. Và thế là ta tự nhủ: nên thánh chắc là chuyện của người khác. Phần mình, chỉ mong sống tử tế được ngày nào hay ngày ấy. Nhưng Chúa không nhìn ta rồi thất vọng vì ta chưa phải là một vị thánh. Người nhìn ta bằng tình yêu của một người Cha, biết rõ cả những chỗ yếu đuối nhất, mà vẫn gọi: “Con hãy đến gần Cha hơn.” Nên thánh bắt đầu từ chính lời mời ấy. Nó bắt đầu khi một người tin rằng mình được Chúa yêu ngay trong lúc còn dang dở, và vì được yêu, mình có thể đổi thay.

Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu khiến lời mời gọi nên thánh trở nên gần gũi lạ thường. Chị không đi khắp thế giới để rao giảng, không để lại những công trình đồ sộ, không có một cuộc đời dài để làm thật nhiều việc. Chị sống trong một đan viện, với những ngày tháng tưởng như giống nhau: cầu nguyện, làm việc, chung sống với các chị em, chịu bệnh tật, chịu những giới hạn của chính mình. Thế mà nơi cuộc đời nhỏ bé ấy, một tình yêu lớn đã bừng sáng. Têrêsa nhận ra rằng mình không thể tự leo lên đỉnh cao thánh thiện bằng sức riêng. Chị không giấu sự nhỏ bé của mình trước mặt Chúa, cũng không lấy nó làm cớ để buông xuôi. Chị đem chính sự nhỏ bé ấy đến với Người. Đó là vẻ đẹp của con đường thơ ấu thiêng liêng: không phải sống hời hợt như một đứa trẻ không biết trách nhiệm, nhưng là tin cậy như một người con biết mình có Cha. Người con ấy vẫn phải bước đi, vẫn phải học yêu, vẫn phải đứng dậy sau khi ngã; chỉ có điều, em không tin rằng mình phải bước một mình.

Có lẽ điều làm chúng ta sợ nên thánh là ta nghĩ Chúa sẽ lấy mất những gì khiến đời mình vui. Ta tưởng càng đến gần Chúa, cuộc sống càng khắt khe; càng thuộc về Chúa, ta càng ít được là chính mình. Nhưng một người mẹ yêu con đâu mong con sống bé lại, buồn hơn, nghèo tình yêu hơn. Thiên Chúa cũng vậy. Người không gọi ta nên thánh để biến ta thành một khuôn mặt xa lạ. Người gọi ta nên thánh để trái tim ta được chữa lành, để ta biết yêu bằng một tình yêu tự do hơn, bền bỉ hơn, chân thật hơn. Có những niềm vui chỉ kéo dài một buổi tối. Có những lời khen làm ta phấn chấn vài giờ rồi lại để ta khát lời khen khác. Có những điều ta tưởng đang nắm giữ, cuối cùng lại nắm giữ chính ta. Chúa nhìn thấy cơn khát ấy. Khi mời ta nên thánh, Người đang mở cho ta con đường đi đến niềm vui sâu hơn: niềm vui của một đời sống có thể trao đi mà không thấy mình bị mất mát.

Tin Mừng về hai người con được cha sai đi làm vườn nho đặt trước mặt ta một câu hỏi rất thật. Một người ban đầu từ chối, nhưng sau đó hối hận và đi làm. Người kia thưa vâng, nhưng rồi không đi. Có khi ta đã sống như người con thứ nhất. Ta đã nói “không” với Chúa bằng một quyết định sai, một thời gian nguội lạnh, một lần cố tình làm ngơ trước tiếng lương tâm. Ta đã biết việc phải làm mà vẫn tránh né. Nhưng câu chuyện ấy nhắc ta rằng lời từ chối hôm qua chưa nhất thiết là lời cuối cùng của đời mình. Hôm nay ta vẫn có thể đứng lên và đi vào vườn nho. Ta vẫn có thể trở về với Chúa, nói lời xin lỗi với một người thân, trả lại điều không thuộc về mình, bắt đầu sửa một thói quen đã làm mình và người khác đau khổ. Thiên Chúa mở lối cho người biết hối cải. Người không đóng đinh ta mãi vào giờ phút tệ nhất của đời ta.

Cũng có khi ta giống người con thứ hai hơn ta muốn thừa nhận. Ta quen nói “vâng” trong nhà thờ, quen đọc những lời kinh đúng, quen biết điều gì tốt và điều gì xấu, nhưng lại chậm chạp khi phải thực sự yêu thương. Miệng ta xin Chúa cho mình có lòng hiền lành, rồi về nhà lại buông một câu làm người thân tổn thương. Ta cầu nguyện cho người nghèo, nhưng khó chịu khi một người bất tiện thật sự gõ cửa đời mình. Ta nói về lòng thương xót, nhưng giữ rất kỹ danh sách những người mình chưa muốn tha thứ. Những điều ấy không có nghĩa mọi lời cầu nguyện của ta đều giả dối. Chúng nhắc ta rằng lời “vâng” cần đi từ môi miệng xuống đôi tay, từ một ước muốn đẹp thành một việc làm cụ thể. Đời sống đức tin không được đo bằng dáng vẻ đạo đức mà người khác nhìn thấy. Nó được thử thách trong những nơi ít ai nhìn: cách ta đối xử với người ở cùng nhà, cách ta nói về người vắng mặt, cách ta phản ứng khi quyền lợi của mình bị đụng chạm, cách ta giữ lời khi chẳng ai buộc mình phải giữ.

Nên thánh, vì thế, không khởi đầu bằng việc tự hỏi: “Làm sao tôi trở thành một con người đáng ngưỡng mộ?” Câu hỏi gần Tin Mừng hơn là: “Hôm nay Cha muốn con làm gì?” Có ngày câu trả lời là kiên nhẫn lắng nghe một người đã kể cùng câu chuyện nhiều lần. Có ngày là thôi đáp trả bằng một lời cay nghiệt. Có ngày là thú nhận lỗi của mình trước khi giải thích lỗi của người khác. Có ngày là trung thành với bổn phận âm thầm, dù lòng đang mong một việc gì lớn lao và được chú ý hơn. Có ngày là đến với bí tích Hòa Giải sau một thời gian dài trì hoãn. Có ngày là nghỉ ngơi đúng lúc, vì thân xác mệt mỏi của ta cũng cần được chăm sóc. Những việc ấy nhỏ đến nỗi không ai viết thành tiểu sử. Nhưng nếu được làm bằng tình yêu, chúng có sức đổi một con người từ bên trong. Một đời thánh thiện được dệt nên qua rất nhiều lần chọn yêu như thế.

Con đường nhỏ không hề dễ. Ai đã từng quyết tâm đáp lại một người khó thương bằng sự dịu dàng sẽ hiểu. Ai đã từng muốn được công nhận nhưng vẫn lặng lẽ làm phần việc của mình sẽ hiểu. Ai đã từng phải xin lỗi khi trong lòng vẫn còn hàng trăm lý do để tự bênh vực sẽ hiểu. Điều nhỏ bé đôi khi đòi một cuộc chiến rất lớn trong lòng. Têrêsa không dạy chúng ta coi nhẹ những cuộc chiến ấy. Chị dạy ta đừng coi thường một hành vi yêu thương chỉ vì nó không gây tiếng vang. Chúa thấy những cố gắng mà người khác không thấy. Người thấy người cha đi làm về đã mệt vẫn ngồi xuống nghe con kể chuyện. Người thấy người mẹ âm thầm chăm sóc gia đình trong những ngày không ai nhận ra mình kiệt sức. Người thấy một người trẻ quyết định không tham gia vào cuộc chế giễu bạn mình. Người thấy một người cao tuổi, trong căn phòng yên ắng, đọc một kinh Kính Mừng cho đứa cháu đang xa Chúa. Nước Trời có thể lớn lên ngay giữa những khoảnh khắc như vậy.

Nhưng có một điều cần nhớ: chúng ta không nên thánh chỉ nhờ cố gắng siết chặt ý chí. Nếu chỉ nhìn vào những gì mình phải sửa, ta sẽ mau mệt. Nếu mỗi lần vấp ngã đều kết luận rằng mình vô dụng, ta sẽ dần sợ cả việc bắt đầu lại. Điều nâng ta dậy là lòng thương xót của Thiên Chúa. Lòng thương xót không bảo rằng tội lỗi chẳng quan trọng. Chúa yêu ta quá nhiều nên Người không muốn ta ở mãi trong điều làm trái tim mình chai cứng, làm tổn thương người khác và xa Người. Bởi thế, Người chờ ta quay về. Người cho ta ánh sáng để nhận ra sự thật, lòng can đảm để xưng thú và ân sủng để đổi đời. Một người đã đi sai rất xa vẫn có thể bắt đầu bước trở lại. Một người đã nói “không” rất nhiều lần vẫn có thể nói một lời “vâng” chân thành. Cánh cửa trở về mở ra cho ta hôm nay; ta đừng đợi đến khi thấy mình xứng đáng rồi mới bước qua. Chính trong lúc trở về, ta được Chúa chữa lành.

Có những người rất dễ tin Chúa có thể tha thứ cho người khác, nhưng không tin Người còn kiên nhẫn với mình. Họ nhớ rõ một tội cũ, một lựa chọn sai, một lần mình đã làm ai đó đau lòng. Họ có thể đã xưng tội, đã tìm cách sửa chữa, mà vẫn lặng lẽ mang trong lòng ý nghĩ: “Nếu Chúa biết hết về tôi, chắc Người không thể dùng đời tôi làm điều gì tốt.” Nhưng Chúa biết hết. Người biết cả điều ta chưa đủ can đảm để gọi tên, biết nỗi sợ nằm bên dưới một tính xấu, biết vết thương khiến ta phản ứng vụng về. Và chính Người vẫn gọi ta. Không phải vì những gì đã xảy ra đều không đáng kể, nhưng vì tình yêu của Người mạnh hơn khả năng tự cứu mình của ta. Ta có trách nhiệm sửa chữa điều có thể sửa, xin tha thứ nơi cần xin tha thứ, và chấp nhận những hậu quả mình phải gánh. Đồng thời, ta được phép tin rằng đời mình còn có thể sinh hoa trái. Một quá khứ đau buồn không phải toàn bộ căn tính của một con người được Thiên Chúa yêu thương.

Thánh Phaolô mời gọi các tín hữu sống khiêm nhường và mang lấy tâm tình của Đức Kitô. Lời ấy đi thẳng vào chỗ khó nhất của chúng ta. Ta thích nghĩ mình khiêm nhường cho đến lúc bị hiểu lầm. Ta thấy mình quảng đại cho đến lúc người khác nhận được phần tốt hơn. Ta dễ nói về tình yêu cho đến lúc phải nhường một ý kiến, nhận một lời góp ý, hoặc vui vì thành công của người từng khiến mình chạnh lòng. Khiêm nhường không phải tự cho mình là vô giá trị. Khiêm nhường là biết mình được Chúa yêu, nên không cần giành mọi ánh nhìn về phía mình; biết người khác cũng được Chúa yêu, nên không cần làm họ nhỏ lại để mình lớn lên. Đức Giêsu đã đi con đường ấy trước chúng ta. Người đến gần những người bị bỏ quên, cúi xuống rửa chân cho môn đệ và trao ban chính mình. Càng ở gần Người, ta càng học được cách nhìn người khác như một con người cần được yêu, chứ không phải như đối thủ, gánh nặng hay phương tiện.

Thử nhìn lại một ngày sống rất bình thường. Buổi sáng, trước khi cầm điện thoại, ta có thể dành một phút đặt ngày mới vào tay Chúa. Khi gặp người làm mình khó chịu, ta có thể chậm lại trước khi nói. Khi thấy ai đang buồn, ta có thể hỏi thăm rồi thực sự nghe câu trả lời. Khi phạm lỗi, ta có thể nhận lỗi mà không thêm một chữ “nhưng” để đẩy phần trách nhiệm sang người khác. Khi làm được một điều tốt, ta có thể cảm tạ Chúa mà không vội kể cho nhiều người biết. Buổi tối, ta có thể nhớ lại một điều mình đã nhận, một điều mình đã làm chưa tốt và một người mình muốn phó thác cho Chúa. Chẳng ai trong chúng ta làm được tất cả những điều ấy cách trọn vẹn mỗi ngày. Nhưng mỗi lần thật lòng thực hiện một điều, ta đang mở cửa để ân sủng làm việc trong cuộc đời mình.

Người trẻ có thể đặc biệt sợ lời mời nên thánh vì tưởng rằng nó buộc mình phải từ bỏ những ước mơ đẹp. Thật ra, tuổi trẻ cần những ước mơ lớn; điều đáng hỏi là ước mơ ấy sẽ đưa mình đến đâu và giúp mình trở thành người thế nào. Ước mơ học giỏi, làm việc tốt, xây dựng gia đình, phục vụ xã hội, dấn thân cho Hội Thánh đều có thể là nơi tình yêu Chúa lớn lên. Một trái tim trẻ không cần dập tắt nhiệt huyết để thuộc về Chúa. Trái tim ấy cần học phân định: điều gì làm mình tự do hơn để yêu, điều gì đang âm thầm trói mình vào cái nhìn của người khác; điều gì đem lại niềm vui bền lâu, điều gì chỉ lấp đầy một buổi chiều cô quạnh. Thánh Têrêsa đã sống một cuộc đời ngắn ngủi mà khao khát yêu thương của chị vẫn rộng đến tận cùng thế giới. Chị nhắc người trẻ rằng đời mình quý giá ngay hôm nay. Không cần đợi thành đạt, được nhiều người biết đến, hay hết mọi yếu đuối mới bắt đầu yêu Chúa và yêu người.

Người lớn cũng có những nỗi sợ riêng. Có người đã sống quá lâu trong một nếp quen và nghĩ mình không thể thay đổi. Có người mải lo cho gia đình đến mức cảm thấy đời sống thiêng liêng chỉ còn là phần sót lại cuối ngày. Có người mang nỗi buồn vì con cái xa Chúa, vì cuộc hôn nhân lạnh nhạt, vì bao lời cầu nguyện dường như chưa được đáp. Lời mời nên thánh vẫn đến với họ, rất dịu dàng. Có thể hôm nay sự thánh thiện của một người là tiếp tục yêu thương mà không kiểm soát người mình yêu. Là cầu nguyện cho con với lòng tin cậy, đồng thời học nói với con bằng sự tôn trọng. Là chăm sóc một người bệnh mà cũng dám nhờ người khác giúp khi mình kiệt sức. Là trung thành với Chúa trong một mùa đời chẳng có cảm xúc sốt sắng nào. Những ngày như thế có thể khô khan, nhưng không hề vô ích. Có những rễ cây mọc sâu nhất vào lúc trên mặt đất dường như chưa có gì thay đổi.

Và có những người đang đau khổ đến mức nghe lời “hãy nên thánh” lại tưởng mình được yêu cầu phải vui lên ngay, phải chấp nhận ngay, phải gọi nỗi đau là một ân huệ. Không. Người đau cần được lắng nghe, được chăm sóc và được phép nói thật rằng mình đang đau. Đức Giêsu không đứng xa nỗi thống khổ của con người. Người đã khóc trước mộ bạn mình; Người đã trải qua cô đơn và sợ hãi trong vườn Cây Dầu. Đi với Chúa trên đường nên thánh không có nghĩa là thôi cảm thấy đau. Đôi khi nó chỉ là lời cầu nguyện rất ngắn: “Lạy Chúa, hôm nay con không biết phải bước tiếp thế nào. Xin ở với con.” Một lời cầu nguyện như vậy, thốt lên giữa nước mắt, vẫn là một hành vi của đức tin.

Đức Maria có thể dạy chúng ta sống lời “vâng” giữa những điều mình chưa hiểu hết. Mẹ không được cho xem trước toàn bộ con đường. Mẹ đón nhận lời Chúa, cưu mang Đức Giêsu, chăm sóc Người qua những năm tháng âm thầm, rồi đứng dưới chân thập giá. Trong cuộc đời Mẹ, lòng tin không xóa hết những câu hỏi; lòng tin giúp Mẹ tiếp tục ở lại với Chúa. Ta có thể đến với Mẹ bằng kinh Mân Côi, bằng một lời thưa đơn sơ, bằng chính sự bối rối của mình. Mẹ dẫn ta về với Đức Giêsu và nhắc ta rằng tình yêu cần được sống từng ngày. Có khi một kinh Kính Mừng được đọc giữa giờ nghỉ ngắn, giữa chuyến xe đông người, bên giường bệnh, là cách một tâm hồn đặt bàn tay mình vào tay Mẹ để bước tiếp.

“Đừng sợ nên thánh” cũng có nghĩa là đừng sợ trao cho Chúa con người thật của mình. Ta không cần dựng lên một phiên bản đẹp đẽ để Chúa yêu. Người đã thấy ta trong lúc ích kỷ, nóng nảy, mệt mỏi, ghen tị, và Người vẫn mời ta đến. Ta hãy đến với Người bằng lòng biết ơn khi ngày sống vui, bằng lời kêu cứu khi ngày sống nặng nề, bằng sự ăn năn khi mình phạm tội, bằng niềm hy vọng khi mình đứng dậy. Ta hãy gặp Người trong Lời Chúa, trong Thánh Thể, trong bí tích Hòa Giải, và trong người anh chị em đang cần mình. Rồi từ những cuộc gặp ấy, ta sẽ dần nhận ra: sự thánh thiện không xa đời sống. Nó đi vào cách ta dùng thời gian, kiếm tiền, nói sự thật, giữ lời hứa, yêu gia đình, phục vụ cộng đoàn và đối xử với người yếu thế. Nó làm cho đời thường trở thành nơi ta đáp lại tình yêu Thiên Chúa.

Ước gì khi nghe lời mời nên thánh, chúng ta thôi nhìn quá lâu vào khoảng cách giữa mình và các thánh. Các ngài cũng đã phải bắt đầu bằng một bước chân, rồi một bước chân nữa. Có những bước rất vững vàng; có những bước run rẩy. Điều nâng đỡ các ngài là lòng tin rằng Chúa có thể làm nên điều đẹp đẽ từ một cuộc đời biết trao vào tay Người. Hôm nay, nếu lòng ta đang lạnh, hãy xin Chúa một chút lửa. Nếu ta đang ở xa, hãy quay về một bước. Nếu ta đã ngã, hãy để Người đỡ dậy. Nếu ta đang được bình an, hãy đem bình an ấy đến cho ai đó. Và nếu ta chẳng biết bắt đầu từ đâu, hãy bắt đầu bằng việc nhỏ đang chờ ngay trước mặt mình, làm việc ấy với tất cả tình yêu có thể.

Lạy Chúa Giêsu, con sợ sự thánh thiện vì con biết mình yếu đuối. Nhưng Chúa đã biết điều ấy từ lâu, và Chúa vẫn gọi con. Xin cho con đừng dùng những vấp ngã làm lý do để xa Chúa, cũng đừng dùng những việc đạo đức để che giấu một trái tim chưa chịu yêu. Xin dạy con tin vào lòng thương xót, can đảm trở về, khiêm nhường sửa mình và trung thành trong những việc nhỏ. Nhờ lời chuyển cầu của thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, xin cho con hiểu rằng một đời sống bình thường, khi được trao cho tình yêu của Chúa, vẫn có thể tỏa hương. Hôm nay con xin thưa với Chúa một lời “vâng” nhỏ bé. Xin giúp con sống lời ấy cho đến cuối ngày. Và ngày mai, xin lại gọi con bắt đầu.

Lm. Anmai, CSsR.

TÊN CON ĐÃ ĐƯỢC VIẾT TRÊN TRỜI

Bài suy niệm nhân lễ thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, gợi hứng từ Lc 10,17–24

Có một niềm vui rất dễ hiểu: niềm vui khi ta làm được điều gì đó tốt đẹp. Một người cha vui vì nuôi được các con khôn lớn. Một người mẹ vui vì những tháng ngày vất vả của mình không uổng phí. Một người trẻ vui vì vượt qua kỳ thi, tìm được việc làm, đứng vững sau những lần thất bại. Người phục vụ trong Hội Thánh cũng vui khi lớp giáo lý có thêm một em nhỏ chăm chú lắng nghe, khi một người lâu năm xa Chúa trở về, khi một gia đình đang rạn nứt chịu ngồi lại với nhau. Những niềm vui ấy rất thật và đáng biết ơn. Bảy mươi hai môn đệ trong Tin Mừng cũng mang một niềm vui như thế khi trở về sau chuyến đi rao giảng. Các ông đã thấy sức mạnh của danh Đức Giêsu hoạt động qua đôi tay yếu đuối của mình. Nhưng ngay giữa lúc các môn đệ đang hân hoan kể về những điều mình làm được, Chúa nhẹ nhàng đưa các ông đi sâu hơn: hãy vui vì tên anh em đã được ghi trên trời. Người không dập tắt niềm vui của các ông. Người chỉ cho các ông thấy nơi niềm vui ấy bắt đầu và nơi nó có thể ở lại mãi mãi.

Bởi có một ngày, ta sẽ không còn làm được những điều mình từng làm. Đôi tay từng chăm sóc người khác có thể run lên và cần được chăm sóc. Trí nhớ từng sắc bén có thể trở nên chậm chạp. Công việc từng đem lại cho ta cảm giác mình hữu ích có thể được giao cho người khác. Một người từng được nhiều người tìm đến có thể bước vào tuổi già với những buổi chiều rất vắng. Nếu niềm vui sâu nhất của ta chỉ nằm ở khả năng, thành quả hay vị trí của mình, thì khi những điều ấy qua đi, lòng ta sẽ chao đảo biết bao. Chúa biết điều đó. Vì thế, Người đặt vào tay các môn đệ một niềm vui không phụ thuộc vào ngày hôm ấy họ thành công hay thất bại: họ thuộc về Thiên Chúa. Trước khi họ đi rao giảng, Chúa đã yêu họ. Sau một chuyến đi tốt đẹp, Chúa vẫn yêu họ. Và nếu có một ngày họ trở về tay trắng, điều ấy cũng không xóa được tình yêu Chúa dành cho họ.

Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã sống gần trái tim của lời Tin Mừng này. Nhắc đến chị, người ta thường nghĩ đến sự nhỏ bé, đơn sơ, đến những đóa hoa hồng và “con đường thơ ấu thiêng liêng”. Nhưng nếu chỉ dừng ở hình ảnh dịu dàng ấy, ta dễ bỏ qua cuộc chiến âm thầm trong tâm hồn một người muốn yêu Chúa hết sức mình. Têrêsa có những ước vọng lớn. Chị muốn đi xa, muốn loan báo Tin Mừng, muốn dâng cả đời cho Chúa và cho các linh hồn. Thế mà cuộc đời chị lại diễn ra phần lớn trong một đan viện, giữa những công việc nhỏ, những giới hạn của sức khỏe, những va chạm thường ngày và những thử thách nội tâm. Theo cách nhìn của thế gian, đó là một khoảng đời chật hẹp. Theo cách nhìn của tình yêu, nơi ấy có thể mở ra đến tận cùng thế giới. Bài suy niệm trên trang phụng vụ cha gửi cũng làm nổi bật nghịch lý ấy: vị thánh được đặt làm bổn mạng các xứ truyền giáo đã sống đời đan tu, và sức mạnh của chị được tỏ lộ giữa yếu đuối, đau khổ và lòng tín thác.

Chúng ta thường nghĩ mình phải trở nên lớn lao rồi mới có thể dâng cho Chúa một đời sống xứng đáng. Phải cầu nguyện sốt sắng hơn, phải sửa hết những thói xấu, phải thôi buồn, thôi sợ, thôi yếu đuối; phải làm một việc thật đáng kể. Rồi từ lúc nào, hành trình nên thánh trở thành hành trình chờ một phiên bản tốt hơn của chính mình xuất hiện. Ta đứng trước Chúa mà cứ ngoái nhìn về một con người chưa thành hình. Ta nói: “Khi con tốt hơn, con sẽ đến với Chúa.” Trong khi Chúa đang ở ngay trước mặt, chờ ta mở cửa bằng chính bàn tay còn run rẩy hôm nay. Têrêsa nhắc ta rằng một đứa trẻ không đợi đến khi biết đi vững mới chịu để cha mình bế. Nó đưa hai tay lên chính vì nó chưa đi vững. Lòng tín thác bắt đầu ở đó: biết rõ sự bé nhỏ của mình mà vẫn dám đến gần Thiên Chúa.

Điều này nghe có vẻ dễ, nhưng sống được lại rất khó. Có người chịu nhận mình yếu trước mọi người mà không chịu nhận mình được Chúa yêu khi còn yếu. Có người sẵn sàng thú nhận lỗi lầm, nhưng âm thầm tin rằng lỗi lầm ấy khiến mình không còn đáng được thương. Có người cầu nguyện hằng ngày mà trong sâu thẳm vẫn nghĩ Chúa chỉ vui khi mình làm đủ, làm đúng, làm tốt. Bởi thế, đón nhận lòng thương xót đôi khi đòi hỏi một sự khiêm nhường rất lớn. Ta phải buông ý muốn tự tay kiếm lấy tình yêu của Chúa. Ta phải để Chúa đến gần những chỗ mình đã mất công che giấu: một sự ganh tị, một nỗi tủi thân, một lời nói cay nghiệt, một thói quen cứ ngã rồi lại ngã. Khi ta thôi tìm cách trình lên Chúa một cuộc đời được sắp xếp cho đẹp, ta mới có thể thưa thật: “Lạy Chúa, đây là con. Xin thương con và dạy con yêu mến Chúa ngay từ chỗ này.”

Sống bé nhỏ không có nghĩa là xem nhẹ tội lỗi hay buông xuôi trước điều sai. Một em bé tin cha mẹ sẽ đỡ mình vẫn phải tập bước; và sau khi ngã, em lại đứng lên. Người tín thác vào lòng thương xót cũng vậy. Họ biết xin lỗi khi làm đau người khác. Họ tìm cách sửa điều mình đã làm hỏng. Họ kiên nhẫn tập lại một việc lành dù hôm qua vừa thất bại. Chỉ có điều, họ không lấy thất bại làm tên gọi cuối cùng của mình. Họ để Chúa gọi mình bằng cái tên Chúa đã biết và đã yêu. Tin Mừng nói các môn đệ được mời vui vì tên mình đã được ghi trên trời. Câu ấy chạm đến một nỗi khao khát rất sâu của con người: giữa vô vàn gương mặt trên đời, liệu có ai thật sự biết tôi là ai? Liệu khi tôi không còn làm được gì hữu ích, vẫn có ai chờ tôi không? Đức Giêsu trả lời bằng cách dẫn ta về với Chúa Cha. Trước mặt Người, ta không phải một con số đi qua rồi mất hút. Người biết ta.

Có những người cả đời cố gắng để được gọi tên. Họ học giỏi để được cha mẹ chú ý. Họ làm việc đến kiệt sức để được nhìn nhận. Họ nhận thêm trách nhiệm vì sợ rằng nếu mình từ chối, chẳng ai còn cần mình nữa. Họ giữ vẻ bình thản ngay cả khi lòng đã mỏi mệt, vì sợ nói ra thì người khác sẽ thất vọng. Dần dần, họ không còn phân biệt được giữa tình yêu và sự công nhận. Một lời khen làm họ ấm lòng suốt ngày; một câu chê khiến họ thức trắng đêm. Tin Mừng không bảo họ ngừng cố gắng, cũng không xem nhẹ những điều tốt đẹp họ làm. Chúa chỉ mời họ đặt chân lên một nền đất vững hơn: con được yêu trước khi con lập thành tích. Khi biết mình được yêu như thế, ta có thể tiếp tục làm việc tận tâm mà không bắt người khác phải trả cho mình bằng lời tán thưởng. Ta có thể đón nhận một lời góp ý mà không thấy cả con người mình bị phủ nhận. Ta cũng có thể nghỉ ngơi mà không mang mặc cảm mình vô dụng.

Têrêsa đã khám phá một khoảng trời rộng lớn ngay trong những việc rất nhỏ. Một việc làm âm thầm có thể trở thành lời cầu nguyện. Một lần nhẫn nại với người khó gần có thể là một hành vi yêu thương. Một lời đáp dịu đi khi trong lòng đang bực bội có thể là một bước đi theo Đức Giêsu. Những điều ấy không có vẻ rực rỡ. Chúng ít khi được kể lại, càng hiếm khi được ghi vào một bản thành tích. Nhưng đời sống con người được dệt bằng chính những khoảnh khắc như thế. Một gia đình được chữa lành phần nào khi ai đó chịu lắng nghe hết câu. Một cộng đoàn bớt lạnh lẽo khi có người nhớ đến thành viên hay ngồi một mình. Một đứa trẻ có thêm can đảm sống tốt khi được người lớn sửa dạy mà vẫn giữ cho em biết mình đáng quý. Tình yêu không trở nên nhỏ vì việc làm nhỏ. Đôi khi, chính khi không còn gì để phô bày, ta mới thấy rõ mình đang làm điều ấy cho ai.

Dĩ nhiên, người ta có thể làm những việc nhỏ mà lòng vẫn đầy cay đắng. Có thể im lặng bên ngoài nhưng bên trong chất chứa sự khinh miệt. Có thể phục vụ âm thầm rồi mong một ngày mọi người nhận ra mình đã hy sinh nhiều đến mức nào. Vì thế, con đường của Têrêsa không chỉ là chọn những việc bé mọn; đó còn là để cho Chúa thanh luyện tình yêu trong khi ta làm chúng. Một nụ cười cố gắng trao cho người mình thấy khó thương có thể cần nhiều ơn Chúa hơn một bài nói chuyện trôi chảy trước đám đông. Một ngày chăm người bệnh, lau dọn, nấu ăn, rồi tối đến cầu nguyện trong mệt mỏi có thể chứa đựng một lời “xin vâng” sâu xa. Không ai bên ngoài đo được điều gì đang diễn ra trong lòng người ấy. Chỉ Thiên Chúa biết sức nặng của một hành vi yêu thương.

Có lẽ vì vậy mà Đức Giêsu hân hoan tạ ơn Chúa Cha: những mầu nhiệm của Nước Trời được tỏ cho những người bé mọn. Người bé mọn ở đây không nhất thiết là người ít học, ít khả năng hay chưa từng có thành tựu. Đó là người còn biết mở lòng để đón nhận. Một học giả vẫn có thể bé mọn khi dám thưa: “Lạy Chúa, điều này con chưa hiểu.” Một người lãnh đạo vẫn có thể bé mọn khi biết xin lỗi. Một người đã phục vụ nhiều năm vẫn có thể bé mọn khi biết vui vì thế hệ sau làm được điều tốt hơn mình. Và một người đang khổ đau vẫn có thể bé mọn khi không hiểu vì sao đời mình ra nông nỗi ấy, nhưng trong nước mắt vẫn thưa: “Xin Chúa ở lại với con.” Trong ngày lễ này, bài đọc về ông Gióp đặt cạnh lời Tin Mừng càng làm tiếng thưa ấy thêm sâu: sau những câu hỏi vượt quá sức mình, con người đứng trước Thiên Chúa với một cái nhìn khác về Người và về chính mình.

Có một sự thật cần được nói bằng tất cả sự dịu dàng: đau khổ không tự nó làm con người nên thánh. Bệnh tật có thể làm ta sợ. Bị hiểu lầm có thể làm ta giận. Cô đơn có thể khiến ta khép lòng. Những đêm không cảm thấy Chúa ở gần có thể làm lời cầu nguyện trở nên khô khan và nặng nhọc. Têrêsa đã đi qua đau đớn và thử thách nội tâm; con đường tín thác của chị vì thế không phải lời khuyên nhẹ tênh của người chưa từng nếm mùi tối tăm. Điều đáng quý là giữa những điều không thể tự mình tháo gỡ, chị vẫn muốn ở lại với Chúa. Đôi khi ta cũng chỉ làm được chừng ấy. Ta không có lời giải cho bệnh của người thân. Ta không biết bao giờ một vết thương cũ mới thôi đau. Ta cầu nguyện rồi vẫn phải bước vào ngày mai với nhiều câu hỏi. Lúc ấy, đức tin có thể chỉ còn là một lời rất ngắn: “Chúa ơi, xin nắm lấy con.” Một lời ngắn như thế, nếu được thưa bằng cả con người, đâu có nhỏ.

Chúa Giêsu không bảo các môn đệ vui vì từ đây họ sẽ không bao giờ thất bại. Người cũng không hứa đời họ sẽ luôn dễ dàng. Người hướng mắt họ về Chúa Cha, Đấng biết tên họ. Ta cần nhớ điều ấy trong những ngày mình làm điều tốt mà không thấy kết quả. Có người kiên nhẫn cầu nguyện cho con suốt nhiều năm, nhưng con vẫn xa nhà thờ. Có người cố gắng hòa giải mà người kia chưa sẵn lòng. Có người dạy giáo lý, chăm sóc bệnh nhân, thăm người nghèo, rồi trở về với cảm giác những gì mình làm quá ít trước bao đau khổ. Xin cứ tiếp tục gieo điều lành trong khả năng của mình; và khi lòng nản chí, xin nhớ rằng Chúa nhìn thấy cả người đang gieo. Giá trị một đời yêu thương không nằm trọn trong những kết quả ta kịp nhìn thấy.

Lại có những ngày thử thách đến từ chính lòng ta. Ta thấy mình ghen với người được khen. Ta buồn khi việc mình làm không được nhắc tới. Ta biết nên tha thứ, nhưng cứ nhớ mãi lời xúc phạm. Ta muốn cầu nguyện, nhưng cầm điện thoại lên lại dễ hơn. Ta muốn sống hiền, nhưng vừa bước vào nhà đã nói một câu khiến người thân tổn thương. Trong những ngày ấy, thật dễ thất vọng về bản thân và cho rằng mình chẳng tiến bộ gì. Con đường thơ ấu mời ta thành thật hơn: nhận lỗi, xin ơn tha thứ, làm một việc cụ thể để sửa lại, rồi bắt đầu tiếp. Đứa trẻ học đi không đếm mỗi lần ngã để kết luận mình không thể đi. Nó đứng lên vì biết có người đang đợi nó bước tới. Chúng ta cũng có thể bắt đầu lại, không phải vì tội lỗi chẳng đáng kể, mà vì lòng thương xót của Chúa đủ lớn để gọi ta ra khỏi tội lỗi.

Thánh Têrêsa còn nhắc Hội Thánh về một điều rất đẹp: cuộc đời cầu nguyện và yêu thương âm thầm vẫn tham dự vào sứ mạng loan báo Tin Mừng. Có những người không thể đi xa. Có người vì tuổi tác, vì bệnh tật, vì trách nhiệm gia đình, vì hoàn cảnh không cho phép. Nhưng ngay nơi mình đang ở, họ có thể mang trong lòng những người chưa từng gặp. Một bà mẹ thức đêm bên con sốt có thể dâng sự mệt nhọc ấy trong lời cầu nguyện cho các gia đình đang tuyệt vọng. Một người già lần chuỗi trong căn phòng nhỏ có thể nhớ đến những người truyền giáo nơi xa. Một người trẻ từ chối nói xấu bạn mình, dù chẳng ai thấy, đang để Tin Mừng có thêm chỗ trong thế giới. Ta không biết Chúa nối những điều bé nhỏ ấy với đời người khác bằng những con đường nào. Ta chỉ biết tình yêu chân thành không bị giam trong bốn bức tường nơi nó bắt đầu.

Tuy vậy, khi nghe nói đến hy sinh âm thầm, ta cũng cần nhớ rằng Chúa không muốn con người bị bỏ mặc trong đau khổ. Nếu một người đang quá sức, họ cần được giúp đỡ. Nếu một người đang bị tổn thương, họ cần được lắng nghe và bảo vệ. Đừng lấy gương các thánh để bảo người khác cứ chịu đựng một mình. Sự bé nhỏ theo Tin Mừng còn là can đảm nói: “Tôi cần anh chị em.” Chính những lúc đón nhận sự chăm sóc của người khác, ta học bài học khó của tình yêu: mình có thể cho đi, và mình cũng cần được nhận lãnh. Cả hai đều cần một trái tim khiêm nhường.

Ước gì ngày lễ thánh Têrêsa giúp ta nhìn lại những gì mình đang lấy làm chỗ dựa. Nếu hôm nay công việc thuận lợi, ta có thể tạ ơn Chúa mà không để thành công chiếm hết lòng mình. Nếu hôm nay mọi việc dang dở, ta có thể buồn và tìm cách làm tốt hơn, nhưng không vì thế mà nghi ngờ giá trị của mình trước mặt Chúa. Nếu đang sống một đời rất bình thường, với những bổn phận lặp đi lặp lại, ta có thể xin ơn nhận ra những con người cụ thể Chúa đã trao cho mình để yêu thương. Và nếu đang trải qua một mùa tối, chưa đủ sức cảm thấy vui, ta có thể chỉ ở lại trước mặt Chúa. Người hiểu cả lời cầu nguyện chưa kịp thành tiếng.

Rồi một ngày, mọi điều ta từng tự hào có thể mờ đi. Người khác sẽ tiếp nối công việc của ta. Những đồ vật ta nâng niu sẽ đổi chủ. Những câu chuyện về ta sẽ được kể ít dần. Nhưng Tin Mừng hôm nay cho ta một hy vọng dịu dàng và bền vững: Chúa biết tên ta. Người biết cả những lần ta yêu mà không ai hay, những lần ta cố gắng bắt đầu lại, những giọt nước mắt ta lau vội trước khi mở cửa cho người khác. Ta không cần làm cho đời mình trở nên phi thường mới được phép đến với Người. Hôm nay, ta có thể đến như mình đang là, đưa hai bàn tay nhỏ bé của mình cho Chúa, rồi học yêu thêm một chút trong việc đang chờ trước mắt.

Lạy Chúa Giêsu, xin dạy con vui vì con thuộc về Chúa. Khi con làm được điều tốt, xin giữ lòng con biết ơn. Khi con thất bại, xin cho con can đảm đứng dậy. Khi con muốn được nhìn nhận, xin nhắc con rằng Chúa vẫn thấy con. Khi con mỏi mệt vì những bổn phận nhỏ bé, xin mở mắt con nhận ra người đang cần tình yêu của con hôm nay. Nhờ lời chuyển cầu của thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, xin cho con biết tín thác vào lòng thương xót Chúa, biết đón nhận sự giúp đỡ, biết yêu thương bằng những việc cụ thể, và biết trở về với Chúa mỗi lần lạc bước. Xin cho con được sống bình an trong niềm tin đơn sơ này: tên con được Chúa biết đến, và trong nhà Cha, luôn có chỗ dành cho con. Amen.

Lm. Anmai, CSsR.

BÀN TAY CHÚA TRÊN NHỮNG ĐIỀU BÉ NHỎ

Suy niệm nhân lễ nhớ thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, từ Nkm 2,1–8 và Lc 9,57–62

Có những ngày ta nhìn công việc của mình và tự hỏi: những điều tôi đang làm có thật sự thay đổi được ai không? Một người cha, người mẹ nhắc con cầu nguyện mỗi tối mà thấy con vẫn thờ ơ. Một giáo lý viên chuẩn bị bài học rất lâu, rồi bước vào lớp và nhận ra các em chỉ mong mau đến giờ ra chơi. Một thầy cô dạy giáo lý hay môn tôn giáo cố gắng gieo vào lòng học trò một câu hỏi về Thiên Chúa, nhưng không biết câu hỏi ấy có ở lại với các em qua ngày hôm sau. Một linh mục giảng, giải tội, đi thăm người bệnh, lặp lại những lời an ủi quen thuộc đến mức đôi khi chính mình cũng mệt. Ta muốn được thấy một dấu hiệu: một tâm hồn đổi thay, một gia đình trở về, một lớp trẻ biết yêu mến Chúa hơn. Nhưng nhiều khi, sau tất cả những gì đã trao đi, trước mắt ta vẫn chỉ là những bức tường chưa xây xong.

Chúng ta đặt bên cạnh nhau hai hình ảnh thật đẹp: ông Nơkhemia trở về xây dựng Giêrusalem đổ nát, và cô nữ tu trẻ âm thầm cầu nguyện trong đan viện Cát Minh. Một người đứng trước tường thành cần gỗ, cần đường đi và sự cho phép của nhà vua; một người ở sau cánh cửa đan viện, chẳng có lấy những phương tiện mà thế gian gọi là sức mạnh. Thế mà nơi cả hai, Thiên Chúa vẫn hành động. Nơkhemia nhận ra bàn tay tốt lành của Chúa ở trên mình. Còn Têrêsa, qua một cuộc đời ngắn ngủi và ẩn khuất, nhắc Hội Thánh nhớ rằng tình yêu có thể đi xa hơn bước chân con người.

Nơkhemia không đứng trước một Giêrusalem nguyên vẹn. Ông mang trong lòng nỗi đau về một thành phố của cha ông đang tan hoang, về những cánh cổng cháy rụi và những bức tường đổ xuống. Nỗi đau ấy khiến ông cầu nguyện, nhưng cũng khiến ông can đảm mở lời với nhà vua, xin được trở về và xin những gì cần thiết để bắt tay vào việc. Tin tưởng vào Chúa không làm ông khoanh tay. Chính vì tin, ông dám bước tới chỗ mình sợ hãi. Chúng ta thường mong Chúa trao cho mình một công việc trọn vẹn, với đủ người cộng tác, đủ phương tiện và một kết quả có thể đo đếm.

Nhưng nhiều ơn gọi lại bắt đầu bằng một bức tường đổ nát. Người làm cha mẹ được trao một gia đình với những vết thương cần kiên nhẫn chữa lành. Người dạy học được trao những học trò có thể đã quen nghĩ mình kém cỏi hoặc chẳng được ai lắng nghe. Người phục vụ giáo xứ được trao một cộng đoàn có cả lòng quảng đại lẫn những bất hòa chưa giải quyết. Có khi việc đầu tiên Chúa muốn ta làm thật nhỏ: gọi tên một người, ngồi xuống nghe một câu chuyện, xin lỗi trước, chuẩn bị tử tế một bài dạy, trở lại thăm một người đã lâu không đến nhà thờ. Viên đá đầu tiên đặt lại vào bức tường có thể chẳng gây tiếng động nào. Nhưng nếu đó là điều Chúa trao cho ta hôm nay, nó đáng để ta cúi xuống nhặt lên.

Thánh Têrêsa cũng đã sống giữa những điều bé nhỏ như thế. Khi nhắc đến một vị thánh được gọi là bổn mạng các xứ truyền giáo, người ta dễ hình dung những hành trình xa xôi, những đám đông nghe giảng, những cuộc đời được biến đổi trong phút chốc. Còn Têrêsa sống trong đan viện, nơi những ngày tháng có thể rất giống nhau. Chị cầu nguyện, làm việc, sống với các chị em, đón nhận bệnh tật và cả những khô khan của lòng mình. Chị không có một sân khấu để chứng tỏ mình yêu Chúa. Chính đời sống bình thường ấy trở thành nơi chị tập yêu. Điều đó an ủi chúng ta, bởi phần lớn cuộc đời chúng ta cũng diễn ra trong những việc không ai kể lại: nấu một bữa cơm khi đang mệt, trả lời dịu dàng dù vừa bị hiểu lầm, sửa bài cho học trò cẩn thận hơn mức công việc đòi hỏi, giữ lời hứa với một đứa trẻ, kiềm lại một lời làm đau người khác. Những việc ấy không nhỏ đối với người được yêu thương nhờ chúng. Và trước mặt Chúa, chúng cũng không biến mất chỉ vì không ai trông thấy.

Tin Mừng theo thánh Luca hôm nay lại có một giọng điệu nghiêm khắc. Một người nói muốn theo Đức Giêsu, và Người nhắc đến cuộc sống không có chỗ tựa an toàn. Một người khác được gọi theo Người, nhưng muốn thu xếp việc nhà trước. Người thứ ba muốn đi theo, nhưng còn ngoái lại phía sau. Đức Giêsu biết rõ tình thân quý giá biết bao; Người không dạy môn đệ lạnh lùng với gia đình hay vô trách nhiệm trước người thân. Người hỏi mỗi người một câu sâu hơn: khi Chúa gọi, điều gì đang nắm giữ lòng con đến mức con không thể đáp lời? Có thể đó là tiền bạc, vị trí, một lời khen ta chờ mãi không được nghe. Cũng có thể đó là nỗi sợ làm người khác thất vọng, nỗi sợ phải thay đổi, hoặc thói quen trì hoãn điều tốt cho đến một ngày mọi chuyện thuận lợi hơn. Ta nói mình sẽ cầu nguyện khi hết bận; sẽ làm hòa khi người kia dịu giọng; sẽ phục vụ quảng đại khi được ghi nhận; sẽ dạy dỗ bằng cả tấm lòng khi gặp một lớp học dễ thương hơn. Cứ thế, một đời người có thể trôi qua trong lời hứa “để sau”. Lời mời gọi của Chúa đưa ta trở về với hiện tại: hôm nay con có thể yêu bằng cách nào?

Con đường bé nhỏ của Têrêsa giúp ta nghe lời mời gọi ấy mà không tuyệt vọng. Nếu cứ nghĩ theo Chúa là lập tức trở thành một con người không biết mệt, không còn yếu đuối, không bao giờ bị tổn thương, ta sẽ sớm thấy mình bất lực. Têrêsa không đặt niềm tin vào một hình ảnh lớn lao về bản thân. Chị đến với Chúa bằng chính sự nhỏ bé của mình. Chị để Chúa thấy giới hạn, sự nghèo nàn, những điều chị chưa làm được; rồi chị lại tin rằng Chúa vẫn có thể đón nhận và biến đổi phần đời ấy. Có một thứ khiêm nhường rất khó học: thôi xem mình là người phải cứu tất cả. Ta có trách nhiệm làm hết lòng phần việc được giao, nhưng không thể ép một hạt giống nảy mầm trong đêm. Ta có thể chuẩn bị một bài giáo lý cho sáng mai, nhưng không thể ra lệnh cho một em nhỏ tin. Ta có thể mở cửa, ở lại, kiên nhẫn và cầu nguyện; cuộc gặp gỡ sâu xa giữa một tâm hồn với Thiên Chúa thuộc về ân sủng. Nhận ra giới hạn ấy làm ta tự do hơn để trao đi điều mình có, thay vì cay đắng vì điều mình chưa thấy.

Sự nghèo khó mà Đức Giêsu mời gọi trước hết chạm đến cách ta cậy dựa. Ta vẫn cần học hỏi nghiêm túc, làm việc có phương pháp, chuẩn bị đầy đủ những phương tiện cần thiết. Nơkhemia đã xin gỗ để xây cổng thành; ông đâu coi thường những tấm gỗ. Một giáo viên cần kiến thức vững, cần hiểu học trò và biết cách giảng dạy. Một người phục vụ cần lên kế hoạch, giữ lời hứa và nhận trách nhiệm về những sơ suất của mình. Nhưng giữa mọi sự chuẩn bị ấy, lòng ta có thể âm thầm đổi chủ. Ta bắt đầu tin rằng một bài nói thật hay sẽ tự nó cứu được người nghe, rằng một chương trình thật đông sẽ chứng minh công việc của mình có giá trị, rằng nếu không có ta thì mọi việc sẽ sụp đổ. Khi ấy, công việc của Chúa trở thành nơi ta đi tìm sự bảo đảm cho chính mình. Nghèo khó là tiếp tục làm việc tận tâm, đồng thời biết thưa: “Lạy Chúa, con đã chuẩn bị hết sức; xin Người làm điều con không thể làm.” Lời cầu nguyện ấy chẳng làm công việc nhẹ đi, nhưng làm trái tim người phục vụ bớt nặng. Ta còn biết cảm ơn khi người khác làm tốt, biết nhờ giúp đỡ khi mình kiệt sức, biết nghỉ ngơi mà không thấy có lỗi, và biết vui khi hạt giống mình gieo nở hoa trong bàn tay một người khác.

Sự tự do Đức Giêsu mời gọi cũng không làm tình yêu giữa con người trở nên ít sâu đậm hơn. Trái lại, nó thanh luyện cách ta yêu. Đôi khi ta bám lấy người mình thương đến nỗi muốn quyết định thay cả phần đời của họ. Cha mẹ sợ con lớn lên khác điều mình hình dung; người dạy học buồn khi học trò đặt những câu hỏi mình chưa trả lời được; người mục tử đau lòng khi một người từng gắn bó với cộng đoàn nay chọn đi xa. Nỗi đau ấy có thật. Nhưng yêu một người trước mặt Chúa còn có nghĩa là tôn trọng con đường người ấy phải tự bước, tiếp tục ở gần bằng sự chân thành, và không biến lòng biết ơn của họ thành phần thưởng mình đòi hỏi. Thánh Têrêsa đi vào đời sống kín ẩn, mang theo tình yêu dành cho gia đình và Hội Thánh. Chị để tình yêu ấy lớn lên trong lời cầu nguyện và sự trao hiến. Có những lúc chúng ta cũng phải học yêu như vậy: không thể có mặt ở mọi nơi, không sửa được mọi sai lầm, không giữ được ai ở lại, nhưng vẫn có thể phó thác họ cho Chúa và giữ lòng mình sẵn sàng đón tiếp.

Rồi còn hình ảnh bàn tay đặt trên cán cày. Người cày ruộng cần nhìn về phía trước để đường cày đi thẳng. Ai cứ ngoái lại sẽ khó đi tới nơi mình muốn đến. Trong đời sống đức tin, ngoái lại nhiều khi là sống mãi với một phiên bản đẹp đẽ của quá khứ. Ta nhớ những năm mình sốt sắng hơn, lớp học ngày ấy dễ dạy hơn, cộng đoàn thuở trước gần gũi hơn. Hoặc ta ngoái lại vì một thất bại: một lời giảng vụng về, một quyết định sai, một lần thiếu kiên nhẫn với người mình thương. Ký ức có thể dạy ta biết ơn và sám hối; nhưng nếu cứ ở lại trong đó, ta sẽ bỏ lỡ người đang đứng trước mặt mình hôm nay. Hôm nay vẫn có một em nhỏ cần được gọi bằng tên. Hôm nay vẫn có một người bệnh mong ai đó ghé thăm. Hôm nay vẫn có một lời xin lỗi có thể mở lại cuộc trò chuyện đã khép từ lâu. Chúa gặp ta trong ngày hôm nay, với sức lực thật của ta, với những gì ta đã học được và cả những vết thương còn đau. Người gọi ta tiếp tục đường cày từ chính nơi mình đang đứng.

Tôi đang nhìn những người trẻ được trao cho tôi như thế nào? Nếu chỉ nhìn các em như một lớp học phải hoàn thành chương trình, ta dễ sốt ruột khi các em chậm hiểu và dễ coi câu hỏi của các em là sự quấy rầy. Nếu thật sự nhìn các em như những con người đang lớn lên, ta sẽ nghe được cả điều nằm sau một câu hỏi vụng về. Một em hỏi “Chúa ở đâu khi con buồn?” có thể đang trải qua điều em chưa biết kể với ai. Một em tỏ ra chống đối có thể đã quá quen với cảm giác mình chẳng bao giờ đủ tốt. Một em cười đùa liên tục có thể sợ sự im lặng, vì trong im lặng em phải gặp nỗi cô đơn của mình. Người thầy không thể biết hết, càng không thể chữa lành tất cả. Nhưng người thầy có thể tạo ra một nơi mà học trò không phải xấu hổ vì đang tìm kiếm. Có khi sau nhiều năm, một người trẻ chẳng nhớ nổi định nghĩa mình từng học; em chỉ nhớ rằng đã có một người lớn trả lời mình bằng sự kính trọng. Ký ức ấy có thể trở thành cánh cửa để em tin rằng mình cũng được Thiên Chúa lắng nghe.

Có lẽ đây là một trong những việc khó nhất của người trao truyền đức tin: sống điều mình nói giữa những ngày hoàn toàn bình thường. Nói về lòng thương xót khi vừa bị ai đó xúc phạm. Dạy trẻ em cầu nguyện khi chính mình đang khô khan. Nói về niềm hy vọng khi một người thân trong nhà đau bệnh. Ta không cần diễn vai một con người không bao giờ chao đảo. Người trẻ đủ tinh tế để nhận ra những lời nói trơn tru mà thiếu sự thật. Họ cũng có thể nhận ra vẻ đẹp của một người lớn biết thừa nhận: “Thầy cũng có những ngày khó cầu nguyện, nhưng thầy vẫn đến với Chúa”; “Cô đã nóng giận, cô xin lỗi các em”; “Cha không có câu trả lời dễ dàng cho nỗi đau này, nhưng cha sẽ ngồi lại với con.” Một chứng tá như thế không làm đức tin trở nên yếu đi. Nó cho thấy đức tin có thể sống trong một con người bằng xương bằng thịt. Bàn tay Chúa đã ở trên Nơkhemia giữa những cuộc xin phép và việc xây cất; bàn tay ấy cũng có thể ở trên một giáo viên đang sửa lại câu nói của mình sau khi lỡ làm học trò buồn.

Thánh Têrêsa dạy ta nhìn lại từng ngày với một câu hỏi dịu dàng: hôm nay tôi đã để tình yêu đi vào việc nào? Câu trả lời không nhất thiết là một thành tựu lớn. Có khi hôm nay ta đã làm một việc tốt trong tâm trạng chẳng vui, và vẫn cố làm tử tế. Có khi ta đã không nói ra lời cay nghiệt đang ở đầu môi. Có khi ta lắng nghe một câu chuyện dài dù đồng hồ đã muộn. Có khi ta nhận ra mình đã sai, rồi đi xin lỗi. Và cũng có những ngày câu trả lời là: hôm nay tôi yêu chưa tốt. Ngay lúc ấy, con đường bé nhỏ vẫn còn mở. Ta không phải chờ đến khi trở nên hoàn hảo mới dám trở lại với Chúa. Có thể bắt đầu bằng việc nhận lỗi với Người, tìm cách sửa điều có thể sửa, rồi đón nhận một ngày mới. Lòng tín thác không xóa trách nhiệm; nó cho ta can đảm chịu trách nhiệm mà không chìm trong xấu hổ. Một người biết mình được Chúa thương cả khi yếu đuối sẽ dễ học cách thương người khác trong những lúc họ khó thương nhất.

Nếu tối nay ta thấy mình giống Giêrusalem với vài cánh cổng đổ nát, xin đừng vội kết luận rằng mọi sự đã hết. Có những mối quan hệ cần được xây lại rất chậm. Có một đức tin từng nồng nhiệt nay chỉ còn một lời nguyện ngắn trước khi ngủ. Có một người đã phục vụ lâu năm mà lòng mệt đến mức không muốn nghe thêm một lời nhờ vả. Chúa nhìn thấy những điều ấy. Người cũng nhìn thấy viên đá nhỏ ta còn có thể đặt xuống ngày mai. Ta được phép nghỉ khi mệt, được phép tìm người giúp, được phép khóc vì điều đã mất. Rồi khi có thể, ta lại bước một bước. Nơkhemia đã không xây cả thành phố trong một buổi sáng. Têrêsa cũng không sống trọn cuộc đời mình trong một hành động phi thường. Các ngài đã đi qua những ngày cụ thể, đáp lời Chúa trong điều được trao, và tin rằng bàn tay Người vẫn ở đó.

Lạy Chúa Giêsu, nhiều khi con muốn yêu Chúa bằng những việc thật lớn, nhưng lại bỏ qua người đang chờ con lắng nghe. Con muốn có một đức tin mạnh mẽ, nhưng sợ phải thú nhận mình đang mệt và đang nghi ngại. Xin dạy con sự can đảm của Nơkhemia để dám bắt đầu xây lại những gì đổ vỡ. Xin dạy con lòng tín thác của thánh Têrêsa để không khinh thường một việc lành âm thầm. Xin giúp con chuẩn bị công việc của mình hết lòng, yêu những người Chúa trao cho con bằng sự kính trọng, và trao kết quả vào tay Người. Khi con vui vì thấy hạt giống nảy mầm, xin cho con biết tạ ơn. Khi con chẳng thấy gì ngoài đất khô, xin cho con đủ kiên nhẫn để tiếp tục chăm sóc. Và khi con ngoái lại vì tiếc nuối hay sợ hãi, xin nhẹ nhàng gọi tên con, để con quay về phía Người và bước tiếp. Amen.

Lm. Anmai, CSsR.

Bài viết liên quan

Back to top button
error: Content is protected !!