Tâm tình độc giả

ÂN ĐỨC – MỘT ĐỜI ĐỂ TÌNH CHÚA HÓA THÀNH LỜI CA – Lm. Anmai, CSsR

ÂN ĐỨC – MỘT ĐỜI ĐỂ TÌNH CHÚA HÓA THÀNH LỜI CA

Dấu ấn Tình Yêu – Lm. Ân Đức (Lm. Anmai, CSsR trình bày)

https://youtu.be/3U_codBCfGU

Có những người nhạc sĩ viết nhạc để người đời nhớ đến tên mình; có những người viết nhạc để nói hộ nỗi lòng của một thế hệ; lại có những người dường như không chủ ý để lại một “sự nghiệp” nào cả, chỉ âm thầm sống, âm thầm cầu nguyện, âm thầm đi qua những vui buồn của đời mình với Thiên Chúa, rồi đến một ngày người ta giật mình nhận ra rằng phía sau con người lặng lẽ ấy là cả một gia tài âm nhạc mênh mông. Đan sĩ linh mục Ân Đức – Trần Ngọc Hoan – thuộc về những con người như thế. Nhắc đến cha, nhiều người nhớ ngay Dấu ấn tình yêu; nhưng nếu chỉ nhớ một Dấu ấn tình yêu thì vẫn chưa đủ để hiểu Ân Đức. Bởi Dấu ấn tình yêu chỉ như một cánh cửa mở vào cả một thế giới rất riêng: thế giới của người đan sĩ đứng trước Thiên Chúa, của người tu sĩ thao thức về lời khấn, của người linh mục mang trong lòng nỗi thao thức mục tử, của người nghệ sĩ nhạy cảm trước vẻ đẹp và mong manh của phận người, của một tâm hồn từng trải qua những năm tháng lao động nhọc nhằn nhưng vẫn giữ được một khoảng trời thơ mộng để Thiên Chúa bước vào.

Cha Ân Đức sinh năm 1953, từng tu học tại Tiểu Chủng viện Thừa Sai Kontum, gia nhập Dòng Xitô Phước Sơn năm 1974, khấn lần đầu năm 1977, khấn trọn năm 1980 và chịu chức linh mục ngày 6 tháng 9 năm 1997. Những năm dài của đời cha không chỉ diễn ra giữa thinh lặng của đan viện; có cả trại giam, những ngày làm phu xích lô, rồi khoảng mười lăm năm lao động tại nông trường Củ Chi từ 1978 đến 1993. Chính trong hoàn cảnh tưởng như khắc nghiệt và khô cằn ấy, nhiều ca khúc mang dấu ấn rất riêng của Ân Đức đã hình thành. Cha cũng được đào tạo bài bản về ký xướng âm, hòa âm, đối âm, tẩu pháp, phối khí và hình thể thánh ca, đặc biệt dưới sự hướng dẫn của linh mục nhạc sư Tiến Dũng. Nhưng điều làm nhạc Ân Đức khác biệt có lẽ không nằm trước hết ở kỹ thuật. Kỹ thuật tạo nên một nhạc sĩ; đời sống nội tâm mới làm nên một Ân Đức.

Nếu đi lần theo những tác phẩm hiện còn được lưu trữ và phổ biến, ta bắt gặp một gia tài rộng đáng kinh ngạc. Có 25 Năm Hồng Ân, Ân Huệ Tình Yêu, Ân Huệ Tuyệt Vời, Bài Ca Dâng, Bài Ca Khải Hoàn, Bài Ca Linh Mục, Bài Ca Người Mục Tử, Bài Ca Nhân Chứng, Bài Ca Trong Nhà Chúa, Biết Chúa Biết Con, Biết Lấy Gì?, Bổn Phận Của Con, Ca Khúc Thượng Tiến, Ca Khúc Tương Tiến, Có Một Tình Yêu, Cao Ngất Trời Xanh, Có Một Điều, Con Biết Dâng Gì Đây, Con Biết Lấy Chi, Con Muốn Trọn Đời, Con Xin Cảm Tạ, Chén Đắng, Chỉ Mong Tôi, Chỉ Một Thiên Chúa, Cho Con Luôn Tỉnh Thức, Cho Con Nhận Ra Chúa, Chúa Biết Lòng Con, Chúa Đã Chiếm Đoạt Con, Chúa Đã Xức Dầu, Chúa Là Cây Nho, Chúa Là Điểm Tựa, Chúa Là Đối Tượng, Chúa Là Phần Gia Nghiệp, Chúa Nhìn Con, Chúa Phải Lớn Lên, Chuỗi Hồng Ân, Dâng Chúa Đất Trời, Dâng Hài Nhi, Dầu Con Là Ai, Dấu Ấn Tình Yêu, Dòng Đời, Đã Biết Mấy Lần, Để Nên Lời Ngợi Ca, Đứng Trước Nhan Ngài, Đường Con Theo Chúa, Giáng Sinh Quê Em, Hai Chiều Của Tình Yêu, Hành Khúc Người Trẻ Công Giáo, Hạnh Phúc Đời Thánh Hiến, Hát Trên Đỉnh Đồi, Hạt Lúa Dâng Người, Hãy Mừng Rỡ, Hiện Hữu Trong Đức Kitô, Hoa Dại, Hương Nguyện Tình Yêu, Hương Tình Thập Giá, Hy Lễ Của Tình Yêu, Hy Lễ Cuối Cùng, Kiên Trì Theo Chúa, Kinh Tình Yêu, Kính Chào Thánh Mẫu La Vang, Khi Tim Con Khô Cứng, Khúc Hát Một Loài Hoa, Khung Trời Tình Yêu, Lời Cầu Tội Nhân, Lời Mẹ Ru Con, Lời Nguyện Tế Hiến, Lời Tình Tự, Lời Tôi Ca, Lời Từ Biệt, Maria – Người Nữ Thánh Thể, Mẹ Đã Ra Đi, Mẹ Đấng Cứu Chuộc, Mẹ Và Con, Mẹ Vô Nhiễm, Mônica Người Mẹ Mẫu Gương, Mỗi Ngày Là Một Bài Ca, Một Đời Người Tôi Tớ, Một Người Nữ, Mùa Xuân Hiến Tế, Nai Rừng Kia, Niềm Hy Vọng Hằng Sống, Nỗi Buồn Hoàng Tử, Nơi Đứng Của Người, Nụ Hôn Giuđa, Ngài Có Đó, Ngài Chọn Con, Ngọn Đèn Dâng Hiến, Ngôi Nhà Tranh Đơn Sơ, Ngợi Ca Tình Chúa, Nguyện Ước Đời Linh Mục, Người Là Bầu Trời, Nhớ Nguồn, Như Đốm Lửa Tình Yêu, Ôi Thánh Giá Chúa Kitô, Phúc Nào Hơn, Quảng Đại Hiến Dâng, Ra Đi Trên Đường Hy Vọng, Tay Con Dâng, Tất Cả Là Hồng Ân, Tâm Ca Hy Vọng, Tâm Sự Mai Đệ Liên, Tiếng Gọi Tình Yêu, Tìm Nhau, Tình Ca Dâng Hiến, Tình Ca Kết Ước, Tình Ca Mùa Dâng Hiến, Tình Ca Muôn Đời, Tình Chúa Và Quê Hương, Tình Khúc, Tình Nào Lớn Hơn, Tình Người Chờ Tôi, Tình Yêu Chân Thật, Tôi Mừng Rỡ, Thì Xin Cho Tôi, Tròn Dâng, Thiên Chúa Giàu Lòng Thương Xót, Trái Tim Nào, Tròn Dâng – Cầu Hồn, Trong Âm Thầm, Trời Mới Đất Mới, Vâng Lời Thầy, Xin Cám Ơn Ngài, Xin Cho Con, Xin Dạy Cho Con Biết, Xin Dẫn Đưa Con Về, Xin Dâng… Danh mục thư viện thánh ca hiện hành ghi nhận các tác phẩm ấy trong nhiều nhóm khác nhau: tận hiến, ca nguyện – hiệp lễ, cầu hồn, dâng lễ, Đức Mẹ, các thánh, Thánh Vịnh – đáp ca, Mùa Chay, Phục Sinh, Giáng Sinh, Lòng Thương Xót, thánh ca Tin Mừng, hợp xướng và thánh ca vào đời. Chỉ cần đọc chậm những nhan đề ấy thôi, ta cũng đã thấy hiện ra gần như toàn bộ con đường tâm linh của cha: dâng – chọn – gọi – yêu – hiến – chết – sống – cảm tạ – trở về. Dường như nhạc của cha không đi theo một chương trình nghệ thuật được tính toán trước; nó đi theo nhịp của một cuộc đời thuộc về Chúa.

Có lẽ vì vậy mà chữ “tình yêu” xuất hiện dày đặc trong gia tài Ân Đức. Dấu ấn tình yêu. Ân huệ tình yêu. Có một tình yêu. Hai chiều của tình yêu. Hy lễ của tình yêu. Kinh tình yêu. Khung trời tình yêu. Tiếng gọi tình yêu. Tình ca dâng hiến. Tình ca kết ước. Tình ca mùa dâng hiến. Tình ca muôn đời. Tình Người chờ tôi. Tình yêu chân thật. Tình nào lớn hơn. Hương nguyện tình yêu. Như đốm lửa tình yêu. Người ta có thể nói rằng Ân Đức đã viết đi viết lại suốt đời mình chỉ một bản tình ca. Nhưng đó không phải thứ tình yêu chóng qua của cảm xúc; cũng không phải tình yêu chỉ có mật ngọt mà không có thập giá. Trong thế giới âm nhạc của cha, tình yêu thường đi kèm với hiến dâng. Yêu là dâng. Yêu là để mình được chiếm đoạt. Yêu là chấp nhận trở thành hy lễ. Yêu là bước theo. Yêu là ở lại. Yêu là trung thành trong âm thầm. Yêu là dám để đời mình trở thành của lễ. Vì thế nghe tên Chúa Đã Chiếm Đoạt Con, người ta đã thấy cả một linh đạo. Người tu sĩ không còn thuộc về mình nữa. Một bàn tay vô hình đã chạm đến, đã gọi, đã chiếm lấy, đã dẫn con người ấy vào một cuộc phiêu lưu mà từ đó không còn dễ dàng quay lại. Ngài Chọn Con, Tiếng Gọi Tình Yêu, Con Muốn Trọn Đời, Tròn Dâng, Quảng Đại Hiến Dâng, Một Đời Người Tôi Tớ, Trong Âm Thầm, Phúc Nào Hơn, Hạnh Phúc Đời Thánh Hiến… nghe như từng chương của cùng một quyển nhật ký. Đó là nhật ký của một người đã thưa “xin vâng” và rồi phải dành cả đời để học cho hiểu điều mình đã thưa.

Trong số ấy, Dấu Ấn Tình Yêu có lẽ là tác phẩm kết tinh rõ nhất thế giới tâm linh của Ân Đức. Bài hát được viết trong thời kỳ lao động ở nông trường Củ Chi, một hoàn cảnh rất xa với hình dung thông thường về một nơi thuận lợi cho sáng tác nghệ thuật. Thế nhưng chính ở đó, giữa nhọc nhằn, khô khan và thử thách, người tu sĩ trẻ lại nhận ra dấu tay Thiên Chúa trên đời mình. Các tư liệu về cha cho biết bài hát chịu ảnh hưởng từ cảm hứng của Rabindranath Tagore và tập Lời Dâng, một tác phẩm đã đồng hành sâu xa với tâm hồn cha. Cái đẹp của Dấu Ấn Tình Yêu nằm ở chỗ nó không kể một phép lạ ngoạn mục. Không có biển rẽ đôi. Không có trời mở ra. Không có một cuộc thần hiện dữ dội. Chỉ có một Thiên Chúa đi vào đời người rất nhẹ. Chính sự nhẹ ấy mới làm bài hát sống lâu. Thiên Chúa của Ân Đức thường không ồn ào. Ngài không đập cửa. Ngài đi vào đời con người như một cung đàn, như hương trời, như bàn tay khẽ chạm vào cây sáo để từ một ống tre rỗng mà bật lên tiếng nhạc. Cây sáo không tự mình hát; cây sáo chỉ cần rỗng. Có lẽ toàn bộ linh đạo đan tu của cha nằm trong hình ảnh ấy: rỗng đi để Thiên Chúa thổi qua mình. Một người nghệ sĩ ngoài đời có thể muốn khẳng định tiếng nói riêng; một đan sĩ nghệ sĩ lại học cách nhỏ lại để tiếng của Thiên Chúa lớn lên. Bởi vậy Dấu Ấn Tình Yêu vừa là một bài hát, vừa giống một lời tuyên khấn âm thầm: đời con sẽ là nhạc cụ, còn người chơi đàn là Chúa.

Đặt bên cạnh Dấu Ấn Tình Yêu là Ân Huệ Tình Yêu và Ân Huệ Tuyệt Vời, ta lại gặp thái độ căn bản ấy: đời sống không phải một quyền sở hữu mà là một ân ban. Cha Ân Đức dường như rất thích chữ “hồng ân”. Chuỗi Hồng Ân, 25 Năm Hồng Ân, Tất Cả Là Hồng Ân… không phải những nhan đề ngẫu nhiên. Người trẻ thường nhìn đời bằng dự tính; người trải đời nhìn đời bằng kết quả; còn người đã cầu nguyện lâu năm thường nhìn lại và nói: hóa ra tất cả là ơn. Có những điều khi đang xảy ra ta tưởng là tai họa; nhiều năm sau mới hiểu nó đã âm thầm nhào nặn mình. Có những cánh cửa đóng lại khiến ta đau; nhưng chính vì cánh cửa đó đóng nên ta bước sang một con đường khác, rồi ở đó gặp Chúa. Có những năm tháng dường như vô ích; nhưng đến cuối đời mới biết chính những năm tháng ấy tạo nên độ sâu. Với cha Ân Đức, nông trường không giết chết âm nhạc; nông trường lại sinh ra âm nhạc. Lao động không lấy mất đời nội tâm; lao động làm đời nội tâm đằm xuống. Gian khó không khiến tiếng hát cay đắng; trái lại, càng đi qua gian khó, tiếng hát của cha càng có cái dịu của người đã thôi tranh luận với Thiên Chúa và bắt đầu biết cúi đầu cảm tạ.

Một dòng rất lớn trong gia tài Ân Đức là âm nhạc về đời thánh hiến. Điều này hoàn toàn phù hợp với chính lời cha từng chia sẻ: phần lớn sáng tác thánh ca của cha nảy sinh từ những nhu cầu thực tế của cộng đoàn đan tu và các dòng tu, nhất là trong các lễ tuyên khấn, an táng và những dịp liên quan đến chức linh mục. Bởi vậy ta gặp Tình Ca Mùa Dâng Hiến, Tình Ca Dâng Hiến, Tình Ca Kết Ước, Con Muốn Trọn Đời, Ngài Chọn Con, Chúa Đã Chiếm Đoạt Con, Ân Huệ Tình Yêu, Ân Huệ Tuyệt Vời, Dầu Con Là Ai, Có Một Điều, Có Một Tình Yêu, Hạnh Phúc Đời Thánh Hiến, Hoa Dại, Hy Lễ Của Tình Yêu, Một Đời Người Tôi Tớ, Như Đốm Lửa Tình Yêu, Phúc Nào Hơn, Tiếng Gọi Tình Yêu, Tròn Dâng, Trong Âm Thầm, Xin Cho Con, Con Biết Dâng Gì Đây… Đây không phải những bài hát của một người đứng ngoài quan sát đời tu. Cha viết từ bên trong. Bởi vậy niềm vui trong đó không phải thứ vui màu hồng của ngày mặc áo hay ngày tuyên khấn. Một người đã đi gần trọn đời tu mới biết lời khấn không chỉ là khoảnh khắc đẹp trước bàn thờ. Lời khấn thật sự bắt đầu sau ngày lễ, khi hoa đã héo, người thân đã về, cộng đoàn trở lại nhịp bình thường, và người tu sĩ phải sống cái “xin vâng” giữa những điều rất nhỏ: một giờ kinh khi mệt, một công việc mình không thích, một người anh em khó gần, một căn bệnh kéo dài, một bổn phận âm thầm không ai biết, một sự hiểu lầm không thể thanh minh, một ước mơ riêng phải đặt xuống. Âm nhạc Ân Đức về đời thánh hiến vì thế thường có sự dịu dàng nhưng không nhẹ dạ. Đó là dịu dàng của người biết cây thập giá nặng bao nhiêu mà vẫn ôm lấy nó.

Trong Âm Thầm có thể xem như một chìa khóa để hiểu cả con người Ân Đức. Đời đan sĩ vốn là cuộc đời đi vào phía sau sân khấu. Thế giới đo giá trị bằng sự xuất hiện; đan tu đo giá trị bằng khả năng biến mất. Thế giới muốn được nhìn thấy; đan sĩ tập sống dưới ánh mắt của một mình Thiên Chúa. Có lẽ bởi thế nhạc cha không cần nhiều cử chỉ phô diễn. Ngay cả khi giai điệu có lúc dâng lên, vẫn thường có một lớp trầm lặng phía dưới. Cha không kéo người nghe về phía mình; cha dẫn họ đi qua mình để chạm đến một Đấng khác. Cái khó của thánh ca nằm ở đó. Nếu quá nghệ thuật, người ta chỉ nhớ nghệ sĩ. Nếu quá giáo huấn, bài hát trở thành bài giảng có nốt nhạc. Nếu quá ủy mị, nó làm người nghe xúc động nhưng không dẫn đến cầu nguyện. Ân Đức nhiều lần tìm được một con đường ở giữa: đủ đẹp để người ta muốn hát, đủ đơn sơ để cộng đoàn có thể cầu nguyện, đủ tình để chạm lòng, và đủ khiêm tốn để bài hát không che khuất Thiên Chúa.

Đến với Tình Khúc, người ta thấy một nét rất Ân Đức: cha không ngại dùng ngôn ngữ của tình yêu để nói về đời tận hiến. Tình yêu giữa linh hồn và Thiên Chúa nơi truyền thống Kitô giáo vốn có chiều kích hôn ước rất sâu, từ Diễm Ca cho đến các nhà thần bí. Với cha, đời tu không chỉ là thi hành một số lời khấn, mà là một chuyện tình. Nếu không có tình yêu, khiết tịnh dễ biến thành khô cằn; khó nghèo dễ thành thiếu thốn; vâng phục dễ thành gánh nặng. Chỉ tình yêu mới làm cho tất cả những mất mát bề ngoài trở thành một sự lựa chọn tự do. Bởi thế những nhan đề như Tình Ca Muôn Đời, Tình Ca Kết Ước, Tình Ca Dâng Hiến không phải mỹ từ. Chúng diễn tả căn tính của đời tu: có một người đã đem cả cuộc đời mình đặt vào một giao ước tình yêu với Thiên Chúa.

Rồi có Khúc Hát Một Loài Hoa, một tác phẩm rất được yêu thích. Hình ảnh một bông hoa nhỏ đủ cho thấy cái nhìn về chính mình của người viết. Hoa đẹp nhưng hoa không tự tạo nên mình; hoa nở nhưng không sở hữu sắc đẹp của mình; hoa có hương nhưng hương ấy được trao để tỏa đi. Một đời người cũng thế. Bao tài năng ta có, bao điều ta làm được, bao người yêu mến ta, rồi cuối cùng cũng phải trở về với câu hỏi: có gì thật sự là của ta? Bài hát ấy mang một nét đẹp tinh thần rất gần với linh đạo khiêm nhu: đừng khoe hoa, hãy nhớ Người đã cho hoa nở. Một nguồn tư liệu hiện nay cũng ghi nhận Khúc Hát Một Loài Hoa, cùng với Dấu Ấn Tình Yêu và Tình Khúc, là những ca khúc quen thuộc gắn với tên tuổi Ân Đức.

Nhưng nếu chỉ nhìn Ân Đức như nhạc sĩ của đời tận hiến thì vẫn thiếu. Có một Ân Đức rất linh mục. Ta gặp Bài Ca Linh Mục, Bài Ca Người Mục Tử, Nguyện Ước Đời Linh Mục, Chúa Đã Xức Dầu, Bổn Phận Của Con, Biết Chúa Biết Con, Chúa Phải Lớn Lên, Cho Con Nhận Ra Chúa, Kiên Trì Theo Chúa, Đường Con Theo Chúa, Hát Trên Đỉnh Đồi, Ngài Có Đó, Lời Tình Tự, Tình Ca Mùa Dâng Hiến… Một linh mục khi còn trẻ thường nghĩ mình sẽ làm gì cho Chúa. Một linh mục đi lâu năm dần hiểu vấn đề quan trọng hơn là Chúa muốn làm gì nơi mình. Chúa Phải Lớn Lên là một nhan đề đẹp đến mức có thể dùng làm phương châm cho cả đời linh mục. Linh mục càng lớn trong mắt người đời mà Chúa càng nhỏ đi thì đời linh mục ấy đã lệch hướng. Linh mục càng nổi tiếng mà Tin Mừng càng lu mờ thì đó không phải thành công. Linh mục càng làm cho người ta lệ thuộc vào mình thay vì dẫn họ đến Đức Kitô thì mục vụ đã sai. Người mục tử chân chính phải dám nhỏ đi. Có lẽ bởi vậy cha Ân Đức sống khá lặng. Nhạc của cha được hát ở nhiều nơi nhưng con người cha không cố bước ra phía trước những bài hát ấy. Có những nghệ sĩ đứng trước tác phẩm mình; cũng có nghệ sĩ đứng sau tác phẩm để tác phẩm tự nói. Ân Đức dường như thuộc nhóm thứ hai.

Một nhánh khác rất đẹp là những tác phẩm về Thập Giá và hy lễ: Chén Đắng, Hương Tình Thập Giá, Hy Lễ Của Tình Yêu, Ôi Thánh Giá Chúa Kitô, Lời Nguyện Tế Hiến, Mùa Xuân Hiến Tế, Nụ Hôn Giuđa, Tâm Sự Mai Đệ Liên… Ở đây thế giới âm nhạc bắt đầu sẫm màu hơn. Nhưng sự sẫm màu ấy không dẫn tới tuyệt vọng. Thập giá trong nhạc Ân Đức không phải ngõ cụt mà là cánh cửa. Chén Đắng gợi đến giờ phút Đức Kitô trong Vườn Cây Dầu, nơi tình yêu không còn là cảm xúc đẹp mà trở thành vâng phục đến tận cùng. Nụ Hôn Giuđa chạm vào một vết đau khác: phản bội. Có những đau khổ đến từ bệnh tật; có đau khổ đến từ nghèo túng; nhưng đau nhất vẫn thường là đau do con người gây cho nhau, nhất là từ người từng ở rất gần. Nụ hôn đáng lẽ là dấu hiệu của tình yêu lại trở thành tín hiệu nộp Thầy. Một người có đời sống nội tâm sâu mới bị ám ảnh bởi nghịch lý ấy. Còn Tâm Sự Mai Đệ Liên mở ra một thế giới khác của tình yêu: tình yêu của người từng đổ vỡ nhưng gặp Đấng không khinh mình, để từ đó nước mắt trở thành đường về. Ân Đức thường nhìn con người ở chỗ yếu của họ nhưng không khóa họ lại trong yếu đuối. Trong nhạc cha vẫn có một cánh cửa mở: ân sủng.

Thật đặc biệt, cha viết khá nhiều về cái chết và niềm hy vọng phục sinh: Đứng Trước Nhan Ngài, Lời Từ Biệt, Hy Lễ Cuối Cùng, Niềm Hy Vọng Hằng Sống, Tròn Dâng – Cầu Hồn, Trời Mới Đất Mới, Xin Dạy Cho Con Biết, Nhớ Nguồn… Việc một đan sĩ viết nhiều về sự chết không có gì lạ. Truyền thống đan tu luôn coi việc nhớ đến cái chết không phải để bi quan mà để học sống đúng. Người nhớ mình sẽ chết thường bớt tham lam những điều chóng qua. Người nhớ mình sẽ chết thường dễ tha thứ hơn. Người nhớ mình sẽ chết thường hiểu rằng một ngày nào đó những cuộc hơn thua hôm nay sẽ trở nên buồn cười. Có lẽ vì sống lâu trong bầu khí ấy, cha Ân Đức đã viết nhạc cầu hồn không chỉ bằng nỗi buồn mà bằng sự phó thác. Niềm Hy Vọng Hằng Sống đã nói ngay từ nhan đề: cái chết của Kitô hữu không được phép có tiếng nói cuối cùng. Trời Mới Đất Mới cũng thế. Phía sau nghĩa trang còn có một quê hương. Phía sau lời từ biệt còn có cuộc gặp lại. Phía sau “hy lễ cuối cùng” không phải hư vô mà là Nhan Ngài.

Và rồi thật xúc động khi hôm nay đọc lại những tên bài ấy sau khi chính tác giả đã khép lại hành trình trần thế của mình. Đan sĩ linh mục M. Eduardo – Ân Đức – Trần Ngọc Hoan qua đời ngày 20 tháng 9 năm 2026, sau một đời dài trong ơn gọi đan tu và linh mục. Bây giờ Lời Từ Biệt không còn chỉ là bài hát cha viết cho người khác. Đứng Trước Nhan Ngài bỗng trở thành chính tư thế cuối cùng của đời cha. Trời Mới Đất Mới bây giờ không chỉ là thần học được hát lên mà là niềm hy vọng Hội Thánh gửi gắm cho chính cha. Hy Lễ Cuối Cùng bỗng mang một âm sắc khác. Có những tác phẩm chỉ thực sự hoàn tất khi đời tác giả hoàn tất. Có những câu nhạc phải chờ đến lúc người viết nằm xuống mới nghe hết được chiều sâu của chúng. Người nhạc sĩ từng nhiều lần viết cho tang lễ của anh em mình cuối cùng cũng bước qua cánh cửa mà mình đã bao lần suy niệm. Và lạ thay, nghe nhạc cầu hồn của cha lúc này, người ta không chỉ nghĩ đến chết. Người ta nghĩ đến về. Về nhà. Về với Đấng mà một đời cha đã hát.

Trong gia tài ấy còn có một Ân Đức rất gần với Đức Maria: Kính Chào Thánh Mẫu La Vang, Lời Mẹ Ru Con, Maria – Người Nữ Thánh Thể, Mẹ Đã Ra Đi, Mẹ Đấng Cứu Chuộc, Mẹ Và Con, Mẹ Vô Nhiễm, Mỗi Ngày Là Một Bài Ca, Một Người Nữ. Đây không phải dòng sáng tác chiếm số lượng áp đảo, nhưng lại cho thấy đời cầu nguyện của cha không chỉ hướng về mầu nhiệm Thiên Chúa một cách trừu tượng. Đức Maria xuất hiện với những nét rất thân tình: Mẹ, người nữ, tiếng ru, sự hiện diện. Đặc biệt nhan đề Maria – Người Nữ Thánh Thể mở ra một trực giác thần học đẹp: Mẹ là người đã cưu mang Ngôi Lời bằng chính thân xác mình; đời Mẹ tự bản chất là một đời đón nhận và trao ban Đức Kitô. Còn Một Người Nữ nghe đơn sơ đến lạ. Không cần những danh xưng thật lớn; chỉ “một người nữ”, nhưng chính người nữ nhỏ bé ấy đã để Thiên Chúa làm nên việc lớn.

Có cả mảng Thánh Vịnh và phụng vụ: Bài Ca Trong Nhà Chúa, Ca Khúc Tương Tiến (Tv 44), Hãy Mừng Rỡ, Lời Cầu Tội Nhân, Nai Rừng Kia (Tv 41), Ngợi Ca Tình Chúa, Tâm Ca Hy Vọng (Tv 72), Xin Dẫn Đưa Con Về, rồi các bài dâng lễ như Bài Ca Dâng, Biết Lấy Gì?, Dâng Chúa Đất Trời, Tay Con Dâng, Xin Dâng, các bài mùa Phục Sinh như Bài Ca Khải Hoàn, Chúa Là Cây Nho, Lời Nguyện Tế Hiến, Giáng Sinh với Dâng Hài Nhi, Giáng Sinh Quê Em, Mùa Chay với Chén Đắng, Lòng Thương Xót với Thiên Chúa Giàu Lòng Thương Xót. Những bài này cho thấy cha không chỉ là người viết “nhạc đạo” theo nghĩa rộng; cha ý thức rõ đời sống phụng vụ của Hội Thánh. Tuy vậy, chính cha từng nói mình không có ý định viết cho đủ mọi phần của Thánh lễ hay mọi mùa phụng vụ; cha viết từ nhu cầu thực tế của cộng đoàn. Điều ấy rất quan trọng. Nó cho thấy âm nhạc của cha không sinh ra từ tham vọng xây dựng một danh mục cho đầy, mà từ đời sống. Cần một bài hát cho ngày khấn, cha viết. Cần một bài cho tang lễ, cha viết. Có một thao thức trước Chúa, cha viết. Đời sống đi trước, âm nhạc theo sau.

Bên cạnh đó là một thế giới mà tôi rất thích ở Ân Đức: thánh ca vào đời. Những nhan đề Chỉ Mong Tôi, Chúa Nhìn Con, Hạt Lúa Dâng Người, Khi Tim Con Khô Cứng, Lời Tôi Ca, Mùa Xuân Hiến Tế, Nỗi Buồn Hoàng Tử, Nơi Đứng Của Người, Nụ Hôn Giuđa, Ngọn Đèn Dâng Hiến, Ngôi Nhà Tranh Đơn Sơ, Người Là Bầu Trời, Thì Xin Cho Tôi cho thấy cha không nhốt đức tin trong nhà thờ. Thiên Chúa của cha đi vào thơ, vào đất, vào hạt lúa, vào căn nhà tranh, vào nỗi buồn, vào cái nhìn, vào trái tim khô cứng, vào những câu hỏi rất con người. Đây cũng là nơi ảnh hưởng của Tagore hiện rõ nhất. Cha kể rằng năm 1973 lần đầu đọc Gitanjali – Lời Dâng qua bản dịch của Đỗ Khánh Hoan và về sau đã dành nhiều năm cưu mang những cảm xúc ấy trước khi hình thành tập và băng Lời Tôi Ca. Những ca khúc như Người Là Bầu Trời, Tình Người Chờ Tôi, Nỗi Buồn Hoàng Tử, Lời Tôi Ca được các nguồn âm nhạc hiện nay ghi nhận có liên hệ trực tiếp đến thơ Rabindranath Tagore qua bản dịch Đỗ Khánh Hoan.

Ảnh hưởng Tagore nơi Ân Đức là một điều đáng suy nghĩ. Tagore không phải một nhà thơ Công giáo, nhưng người đan sĩ Công giáo ấy lại nhận ra trong những vần thơ phương Đông một tiếng vọng của khát vọng gặp Đấng Tuyệt Đối. Điều đó nói lên sự rộng mở của tâm hồn nghệ sĩ. Người có đức tin trưởng thành không sợ cái đẹp nằm ngoài biên giới quen thuộc của mình. Họ nhận ra rằng mọi vẻ đẹp chân thật cuối cùng đều có thể trở thành một con đường dẫn về Nguồn Đẹp. Ân Đức đọc Tagore không phải để trở thành Tagore; cha đọc rồi đem những rung động ấy vào kinh nghiệm Kitô giáo của mình. Người Là Bầu Trời – chỉ nhan đề thôi đã gợi một sự bao la. Con người ở trong Thiên Chúa như chim ở trong trời, như hơi thở nằm trong không khí, như dòng sông nằm trong lòng đất. Lời Tôi Ca lại gợi hình ảnh con người được sinh ra để hát trước Đấng Tạo Hóa. Chính cha từng suy niệm hình ảnh “người ca công của Thượng Đế” nơi Tagore và nhận ra hình ảnh ấy nơi chính những người hát thánh ca: họ hát không phải để thêm gì cho Thiên Chúa, mà bởi được hát cho Ngài đã là một hồng ân. Tôi nghĩ nếu phải tìm một danh xưng đẹp cho Ân Đức ngoài “đan sĩ nhạc sĩ”, thì có lẽ đó là người ca công của Thiên Chúa.

Một tác phẩm khiến tôi dừng lại lâu là Nơi Đứng Của Người. Chỉ một nhan đề đã hàm chứa cả Tin Mừng. Đức Kitô đứng ở đâu? Không phải luôn ở chỗ sang trọng. Không phải cứ nơi nào người ta nhân danh Ngài là Ngài ở đó. Người thường đứng gần những kẻ bé nhỏ, bị quên lãng, đau khổ. Chính tư liệu lưu trữ hợp âm của bài này cho thấy ca khúc mở bằng hình ảnh rất tương phản: có thảm hoa nhưng Người lại không bước vào đó, Người đứng ở nơi khác, bên những con người bé nhỏ. Cái nhìn ấy rất Tin Mừng. Và nó cũng nhắc người tu sĩ, linh mục, người làm công tác tôn giáo một câu hỏi đau: ta đang đứng ở đâu? Nơi có hoa đón ta, hay nơi Chúa đang đứng? Có khi ta xây rất nhiều thứ “cho Chúa” nhưng Chúa lại đang ở ngoài cửa, nơi một người nghèo, một bệnh nhân, một đứa trẻ bị bỏ quên đang đợi.

Khi Tim Con Khô Cứng lại là nhan đề của một lời cầu nguyện rất thật. Những người cầu nguyện lâu năm hiểu rằng đời sống thiêng liêng không phải lúc nào cũng ngọt. Có những ngày kinh nguyện là ánh sáng; có những ngày kinh nguyện như nói vào tường. Có những mùa lòng tràn đầy; có những mùa chẳng cảm thấy gì. Cha Ân Đức không chỉ viết về những lúc ngây ngất. Cha biết trái tim có thể khô. Và điều rất đẹp là khi tim khô, ta vẫn có thể hát. Có lẽ đó mới là đức tin. Hát khi vui không khó. Hát khi chẳng cảm thấy Chúa mà vẫn tin Chúa đang ở đó mới là lời ca của người trưởng thành.

Dòng Đời, Đã Biết Mấy Lần, Hai Chiều Của Tình Yêu, Hiện Hữu Trong Đức Kitô, Khung Trời Tình Yêu, Tìm Nhau, Tình Chúa Và Quê Hương, Trái Tim Nào, Xin Cám Ơn Ngài, Con Xin Cảm Tạ, Cao Ngất Trời Xanh… lại tạo nên một Ân Đức trữ tình hơn. Ở đó đức tin không bị đóng khung trong thuật ngữ thần học mà trở thành một thứ hơi thở. Cha có khả năng đưa những vấn đề rất lớn – ân sủng, hiến tế, ơn gọi, sự hiện hữu trong Đức Kitô – về thành một ngôn ngữ khá mềm. Đó là lý do nhạc của cha đi vào đời sống của người bình thường. Người ta có thể không biết giải thích thần học về ân sủng, nhưng có thể hát Tất Cả Là Hồng Ân. Người ta có thể không diễn giải được thần học về ơn gọi, nhưng có thể hát Ngài Chọn Con. Người ta có thể không nói được một luận đề về sự tự hủy, nhưng hát Chúa Phải Lớn Lên thì họ hiểu. Đây chính là sức mạnh của thánh ca: thần học đi vào trái tim bằng giai điệu.

Còn Nhớ Nguồn lại cho thấy một khía cạnh rất Việt Nam trong tâm hồn cha. Đạo không làm người ta mất gốc. Đi theo Chúa không có nghĩa là quên tổ tiên, cha mẹ, quê hương. Trái lại, đức tin làm lòng biết ơn sâu hơn. Một nguồn ca từ phổ biến hiện nay ghi nhận bài này mở từ những hình ảnh rất dân tộc về tổ, nguồn, công cha, nghĩa mẹ rồi đưa tất cả về Thiên Chúa là cội nguồn sau hết. Đó là một cách hội nhập rất tự nhiên. Không cần những lý thuyết cao siêu, chỉ cần cho người Việt được cầu nguyện bằng chính những biểu tượng đã ăn sâu trong tâm thức Việt Nam.

Tình Chúa Và Quê Hương, Giáng Sinh Quê Em, Hành Khúc Người Trẻ Công Giáo cũng mở ra một Ân Đức không xa rời đời sống xã hội. Đan sĩ không có nghĩa là người vô cảm với quê hương. Càng thuộc về Chúa, người ta càng phải yêu mảnh đất mình được sinh ra. Tình yêu Thiên Chúa nếu làm một người lạnh nhạt với con người thì tình yêu ấy có vấn đề. Ân Đức không viết nhiều những ca khúc xã hội theo nghĩa trực tiếp, nhưng trong nhạc vẫn có quê hương, người trẻ, gia đình, cha mẹ, cảnh đời, người nghèo và những thao thức của phận người.

Nhìn về lịch sử phát hành, ta càng thấy hành trình sáng tác ấy dài và bền bỉ. Các tư liệu ghi nhận trong giai đoạn khó khăn cha đã thực hiện những băng cassette như Hát Về Quê Hương năm 1987, Lời Tôi Ca, Hương Nguyện Tình Yêu năm 1990 và Ngọn Đèn Dâng Hiến năm 1991; về sau, từ 2001 đến 2017, cha thực hiện 12 CD mang chủ đề chung Dấu Ấn Tình Yêu, rồi năm 2020 xuất bản tuyển tập Dấu Ấn Tình Yêu quy tụ các ca khúc đã được thể hiện trong loạt CD ấy. Chỉ riêng sự bền bỉ ấy đã đáng kính. Người ta có thể viết một bài hay nhờ một phút cảm hứng; nhưng để viết qua mấy chục năm, phải có một mạch nguồn ở bên trong. Một đốm lửa có thể bùng lên rất sáng rồi tắt. Còn để cháy cả đời, phải là than hồng.

Điều tôi quý nhất nơi gia tài Ân Đức không phải là có bao nhiêu tác phẩm, cũng không phải ca khúc nào nổi tiếng nhất. Điều đáng quý hơn là tính nhất quán giữa con người và âm nhạc. Cha viết về dâng hiến vì cha đã dâng hiến. Cha viết về linh mục vì cha là linh mục. Cha viết về đan tu vì cha sống trong đan viện. Cha viết về lao nhọc vì chính cha đã lao nhọc. Cha viết về cái chết vì đời đan sĩ mỗi ngày đều tập buông bỏ. Cha viết về hồng ân vì nhìn lại đời mình cha thấy ơn Chúa. Cha viết về thinh lặng bởi cha đã ở trong thinh lặng. Cha viết về tình yêu không phải chỉ vì “tình yêu” là chữ đẹp, mà vì đối với cha, Thiên Chúa đã thật sự là một câu chuyện tình kéo dài cả đời.

Có lẽ đó cũng là lý do một số bài của cha có sức sống lâu hơn thời điểm chúng ra đời. Người ta có thể thay đổi cách phối khí. Thế hệ này có thể thích phong cách khác thế hệ kia. Khẩu vị âm nhạc phụng vụ cũng biến chuyển. Nhưng những câu hỏi căn bản của con người thì không đổi: Tôi là ai? Tại sao Chúa gọi tôi? Tôi có đủ sức theo Ngài không? Khi lòng khô cứng thì làm gì? Khi bị phản bội thì làm sao? Khi chết rồi tôi đi đâu? Tôi lấy gì đáp lại ân huệ của Chúa? Làm sao để đời mình không uổng phí? Âm nhạc Ân Đức chạm tới những câu hỏi ấy nên nó có khả năng vượt qua lớp áo thời đại.

Nếu phải gom toàn bộ gia tài đó vào vài chữ, tôi sẽ nghĩ đến bốn chữ: TÌNH – DÂNG – THẬP GIÁ – HỒNG ÂN. Tình là khởi điểm. Dâng là câu trả lời. Thập giá là con đường. Hồng ân là điều người ta nhận ra khi ngoái lại. Lúc còn trẻ, ta thường nghĩ mình dâng nhiều cho Chúa lắm. Ta bỏ cái này, hy sinh cái kia, đi tu, làm linh mục, sống phục vụ. Nhưng càng già trong ơn gọi, người ta càng hiểu rằng điều mình “dâng” chẳng đáng bao nhiêu so với điều mình đã nhận. Cuối cùng, từ “con đã cho Chúa tất cả”, người ta chuyển sang “Chúa đã cho con tất cả”. Đó chính là sự trưởng thành của linh đạo. Và tôi cảm thấy âm nhạc Ân Đức đi theo đường ấy. Những bài về dâng hiến rất nhiều, nhưng càng về chiều sâu, trung tâm dường như không còn là “con dâng” mà là “Chúa ban”. Không phải công trạng của con, mà là hồng ân Ngài. Không phải con trung thành giỏi, mà là Chúa đã giữ con. Không phải con tìm được Chúa, mà là Chúa đã tìm con trước.

Bởi vậy Biết Chúa Biết Con cũng là một nhan đề đáng suy niệm. Bao nhiêu năm tu chưa chắc đã biết Chúa; bao nhiêu năm sống cũng chưa chắc đã biết mình. Người ta có thể thuộc rất nhiều sách thần học nhưng vẫn mang một hình ảnh méo mó về Thiên Chúa. Người ta có thể làm rất nhiều việc đạo đức nhưng không dám nhìn thật vào những góc tối của chính mình. “Biết Chúa biết con” là hai cuộc khám phá đi song song. Càng biết Chúa yêu mình, ta càng đủ can đảm nhìn nhận mình yếu. Càng biết mình yếu, ta càng hiểu tại sao mình cần lòng thương xót. Và có lẽ từ đó mới có Thiên Chúa Giàu Lòng Thương Xót.

Chúa Biết Lòng Con lại đưa người ta về một chỗ rất riêng. Có những điều ta không giải thích được cho ai. Có những đau đớn nói ra cũng không ai hiểu. Có những lần bị hiểu lầm mà càng thanh minh càng rối. Có những giằng co ngay cả người thân nhất cũng không biết. Nhưng “Chúa biết lòng con” là đủ. Đan sĩ sống lâu với Thiên Chúa có lẽ dần đạt tới sự bình an ấy: không nhất thiết ai cũng hiểu mình. Chỉ cần Chúa biết. Không nhất thiết ai cũng công nhận. Chỉ cần sống thật trước mặt Ngài.

Cho Con Nhận Ra Chúa thì đi chiều ngược lại: Chúa biết con, nhưng con lại thường không nhận ra Chúa. Chúa đến trong một người nghèo, con không nhận ra. Chúa đến trong một biến cố trái ý, con phản kháng. Chúa đến trong một người anh em khó chịu, con tránh né. Chúa đến trong thinh lặng, con lại thích tiếng động. Chúa đến qua thập giá, con đòi dấu lạ. Vậy nên cả đời Kitô hữu có thể được thu lại trong lời xin này: xin cho con nhận ra Chúa.

Cho Con Luôn Tỉnh Thức cũng thế. Điều làm đời tu chết không hẳn là những cú ngã lớn; đôi khi là sự ngủ quên chậm chạp. Vẫn đi lễ, vẫn đọc kinh, vẫn làm việc nhưng lòng đã không còn cháy. Người ta sống bằng thói quen. Sự thánh thiện bị thay bằng cơ chế. Và vì thế cần tỉnh thức. Một đan sĩ đã sống nhiều năm càng biết nguy cơ ấy. Có thể ở rất gần Nhà Tạm mà lòng rất xa Chúa. Có thể hát về tình yêu mỗi ngày mà trái tim hết yêu. Bởi vậy lời cầu “cho con luôn tỉnh thức” là lời cầu của người biết mình mong manh.

Rồi Kiên Trì Theo Chúa. Không phải hăng hái theo Chúa. Không phải xúc động theo Chúa. Không phải một lần thề sống thề chết theo Chúa. Mà là kiên trì. Hai chữ nghe không lãng mạn nhưng rất thật. Một đời ơn gọi không được đo bằng ngày khởi đầu mà bằng ngày cuối cùng. Người ta có thể khởi đầu trong tiếng vỗ tay; điều quan trọng là kết thúc trong trung tín. Ngày tuyên khấn ai cũng có thể khóc. Nhưng năm thứ ba mươi, bốn mươi, năm mươi của lời khấn mới trả lời người ấy đã yêu thế nào. Cha Ân Đức đã đi gần nửa thế kỷ trong đời khấn. Chính đời cha làm cho nhan đề ấy có trọng lượng.

Ngọn Đèn Dâng Hiến là một hình ảnh khác thật đẹp. Đèn cháy bằng cách tiêu hao chính mình. Nó sáng vì nó mất đi. Dâng hiến cũng vậy. Nếu một đời tu chỉ tìm cách bảo toàn bản thân, bảo toàn thời gian, bảo toàn sự tiện nghi, bảo toàn danh dự, thì ngọn đèn ấy khó cháy. Ánh sáng có giá của nó. Nhưng kỳ lạ thay, cây nến không nghèo đi vì đã cháy. Nó hoàn thành ý nghĩa của mình trong chính sự tiêu hao. Người tận hiến cũng vậy: đời mình chỉ thực sự có ý nghĩa khi trở thành ánh sáng cho ai đó.

Hạt Lúa Dâng Người tiếp tục cùng một linh đạo: hạt lúa phải rơi xuống. Nếu cứ giữ nguyên hạt, nó an toàn nhưng cô độc. Nếu chấp nhận mục nát, nó sinh nhiều bông hạt. Ân Đức không sáng tạo hình ảnh ấy; đó là Tin Mừng. Nhưng điều đáng kể là cha đã sống nó. Người đan sĩ rời những giấc mơ bình thường của tuổi trẻ để đi vào một đời kín đáo. Và chính từ cái “mất” ấy, bao bài ca đã sinh ra cho cộng đoàn.

Hoa Dại lại là một hình ảnh rất dịu. Hoa dại không được trồng giữa vườn cảnh. Không ai chăm. Không ai đặt bảng tên. Nhưng nó vẫn nở trước mặt Chúa. Có bao nhiêu đời tu như thế. Không ai biết. Không chức vụ. Không công trình lớn. Không ảnh trên báo. Không hàng nghìn người theo dõi. Họ nở rồi tàn ở một góc rất nhỏ của Hội Thánh. Nhưng Thiên Chúa thấy. Có lẽ cha Ân Đức hiểu vẻ đẹp đó nên những gì nhỏ bé thường đi vào âm nhạc của cha.

Và rồi Dầu Con Là Ai. Câu ấy có một sự khiêm nhường rất thật. Dầu con là ai, Chúa vẫn gọi; dầu con thế nào, Chúa vẫn thương. Ơn gọi không bắt đầu từ sự xứng đáng. Nếu phải xứng đáng rồi mới được gọi thì chẳng ai đủ điều kiện. Chính vì bất xứng mà ân sủng mới là ân sủng. Người sống lâu với Chúa càng hiểu điều ấy. Ban đầu ta có thể nghĩ Chúa gọi vì ta có cái gì. Sau vài chục năm mới hiểu Ngài gọi đơn giản vì Ngài yêu.

Có Một Điều cũng gợi một đời quy tụ. Tuổi trẻ muốn nhiều thứ. Tuổi già thường chỉ còn cần một điều. Marta bận rộn nhiều việc; Maria chọn phần tốt nhất. Đan tu tự bản chất là hành trình từ rất nhiều về một. Rất nhiều tiếng nói về một Lời. Rất nhiều ham muốn về một tình yêu. Rất nhiều việc về một Đấng. Và khi đời gần hết, có lẽ người ta mới hiểu điều gì thực sự quan trọng.

Vì thế khi nhìn lại hơn một trăm tựa bài của cha, tôi không thấy một “kho ca khúc” đơn thuần. Tôi thấy một tiểu sử được viết bằng âm nhạc. Nếu xếp đúng thứ tự, có lẽ ta có thể đọc cuộc đời cha qua chính những nhan đề ấy: một người nghe Tiếng Gọi Tình Yêu, thưa Con Muốn Trọn Đời, nhận ra Ngài Chọn Con, để Chúa Đã Chiếm Đoạt Con, rồi bước vào Tình Ca Mùa Dâng Hiến. Người ấy học Quảng Đại Hiến Dâng, tập sống Trong Âm Thầm, nhiều lúc phải cầu Khi Tim Con Khô Cứng, có khi uống Chén Đắng, ôm Hương Tình Thập Giá, nhưng vẫn biết Xin Cám Ơn Ngài, vẫn nhận ra Tất Cả Là Hồng Ân. Người ấy trở thành linh mục và cầu xin Chúa Phải Lớn Lên, sống Bài Ca Người Mục Tử, giữ lấy Nguyện Ước Đời Linh Mục, rồi đến một ngày hát Lời Từ Biệt, bước vào Hy Lễ Cuối Cùng, mang theo Niềm Hy Vọng Hằng Sống để đi về Trời Mới Đất Mới. Nếu đó không phải là một đời được viết bằng âm nhạc thì còn là gì nữa?

Cha Ân Đức từng phát hành các băng nhạc trong một thời mà phương tiện thu âm và phổ biến vô cùng hạn chế. Từ cassette đến CD, từ những tập nhạc chép tay, in ronéo đến tuyển tập in ấn và thế giới kỹ thuật số, các ca khúc của cha đã đi qua nhiều thế hệ công nghệ. Nhưng có một điều không thay đổi: con người vẫn cần được an ủi, vẫn cần một bài hát khi khấn dòng, một bài khi tạ ơn, một bài khi đứng trước quan tài người thân, một bài khi thấy lòng mình nguội lạnh, một bài khi muốn nói với Chúa điều miệng không nói nổi. Và vì thế nhạc Ân Đức vẫn có chỗ ở.

Tôi cũng rất quý một chi tiết nơi cha: trong cuộc trao đổi về tác quyền tháng 3 năm 2026, cha nói rõ rằng các bài thánh ca của mình khi được sử dụng trong Thánh lễ và phụng vụ thì các ca đoàn có thể sử dụng tự do, không phải trả chi phí; chỉ khi khai thác mang tính kinh doanh thì nên liên hệ về quyền tác giả. Chi tiết ấy dường như cũng phù hợp với cách cha nhìn âm nhạc: những bài hát ấy sinh ra trước hết để phục vụ cộng đoàn cầu nguyện. Người viết vẫn có quyền tác giả và quyền ấy cần được tôn trọng, nhưng đích đến ban đầu của những ca khúc ấy là bàn thờ, nhà nguyện, cộng đoàn, người cầu nguyện.

Rồi ngày 20 tháng 9 năm 2026 đã đến. Người từng viết Lời Tôi Ca thôi hát bằng giọng người trần thế. Người từng viết Ngọn Đèn Dâng Hiến đã để ngọn đèn đời mình cháy đến phần cuối. Người từng viết Dấu Ấn Tình Yêu mang chính dấu ấn ấy đi qua cửa sự chết. Người từng viết Trời Mới Đất Mới nay được Hội Thánh trao vào lòng thương xót của Đấng đã hứa làm mới mọi sự. Người từng viết Đứng Trước Nhan Ngài giờ đây chính mình được mong chờ đứng trước Nhan ấy. Có một nỗi buồn rất dịu khi nghĩ về điều đó. Không dữ dội. Không cần nhiều tiếng khóc. Nó giống nhạc Ân Đức: trầm, chậm, sâu và hiền.

Có lẽ một đan sĩ chết cũng nên ra đi như thế. Không phải một cuộc chia tay ồn ào, mà như một giờ Kinh Tối kéo dài sang vĩnh cửu. Chuông đan viện vẫn ngân. Anh em vẫn hát Thánh Vịnh. Một chỗ trong nhà cơm trống đi. Một căn phòng đóng lại. Một người không còn bước qua hành lang quen thuộc. Nhưng nơi nào đó, bài hát vẫn được cất lên. Một nữ tu trẻ trong ngày khấn có thể hát bài của cha. Một linh mục mừng ngân khánh có thể hát bài của cha. Một gia đình tiễn người thân có thể hát bài của cha. Một ca đoàn ở một giáo xứ rất xa có thể hát Dấu Ấn Tình Yêu mà chưa từng gặp tác giả. Và như vậy người nhạc sĩ đã im tiếng mà lời ca chưa im.

Đó có lẽ là số phận đẹp nhất của người viết thánh ca: mình biến mất, lời cầu nguyện còn lại.

Sau tất cả, tôi không muốn gọi gia tài của cha Ân Đức chỉ là “sự nghiệp âm nhạc”. Hai chữ sự nghiệp nghe vẫn có gì thuộc về thành tích. Tôi muốn gọi đó là một đời cầu nguyện được chép thành nốt nhạc. Có lời cầu nguyện mang hình thức Thánh Vịnh. Có lời cầu nguyện mang hình thức nước mắt. Có lời cầu nguyện là im lặng. Còn với cha Ân Đức, rất nhiều lời cầu nguyện đã thành giai điệu.

Từ Để Nên Lời Ngợi Ca đến Lời Tôi Ca, từ Ngọn Đèn Dâng Hiến đến Dấu Ấn Tình Yêu, từ Tình Khúc đến Khúc Hát Một Loài Hoa, từ Chén Đắng đến Niềm Hy Vọng Hằng Sống, từ Bài Ca Linh Mục đến Nguyện Ước Đời Linh Mục, từ Nơi Đứng Của Người đến Người Là Bầu Trời, từ Trong Âm Thầm đến Trời Mới Đất Mới – tất cả làm nên một trường ca mà nhân vật chính cuối cùng không phải Ân Đức. Nhân vật chính là Thiên Chúa. Ân Đức chỉ là người kể chuyện. Hay đúng hơn, người ca công.

Và có lẽ chính điều ấy làm cha trở nên đáng nhớ.

Bởi cuối đời, điều đẹp nhất của một linh mục không phải người ta nhớ ngài nổi tiếng đến đâu, có bao nhiêu tác phẩm, xây bao nhiêu công trình, quen bao nhiêu người. Điều đẹp nhất là sau khi ngài đi rồi, người ta vẫn nhờ những gì ngài để lại mà nhớ đến Chúa.

Cha Ân Đức đã để lại điều đó.

Người ta nghe Dấu Ấn Tình Yêu, và nhớ hồng ân Chúa.

Người ta hát Tình Ca Dâng Hiến, và có một người trẻ thêm can đảm dâng đời mình.

Người ta hát Ngọn Đèn Dâng Hiến, và một tu sĩ đang mỏi mệt có thể nhớ lại vì sao mình bắt đầu.

Người ta hát Bài Ca Linh Mục, và một linh mục có thể lặng người trước ân huệ mình đã lãnh nhận.

Người ta hát Niềm Hy Vọng Hằng Sống bên quan tài người thân, và nước mắt bỗng bớt tuyệt vọng.

Người ta hát Nhớ Nguồn, và nhớ công cha nghĩa mẹ.

Người ta hát Khúc Hát Một Loài Hoa, và hiểu rằng bông hoa nhỏ nhất cũng đẹp khi nở cho Thiên Chúa.

Người ta hát Chúa Phải Lớn Lên, và hiểu mình phải nhỏ lại.

Người ta hát Trong Âm Thầm, và hiểu rằng những điều đẹp nhất không nhất thiết phải được ai biết.

Người ta hát Tất Cả Là Hồng Ân, và bỗng nhận ra rằng đời mình, dù đã qua bao nhiêu khúc quanh, vẫn là một ân ban.

Vậy là đủ.

Một đời nghệ sĩ mà làm người ta nhớ đến tác giả thì đã đáng quý. Một đời linh mục nghệ sĩ mà làm người ta quên tác giả để nhớ đến Thiên Chúa thì còn đẹp hơn.

Tối Chúa Nhật 20 tháng 9 năm 2026, người ca công ấy đã khép lại phần nhạc dành cho trần gian. Nhưng tôi thích nghĩ rằng cha không thôi hát. Chỉ là đổi ca đoàn. Đổi cung thánh. Đổi phía của bức màn.

Ở đây, chúng ta hát bằng một giọng còn nhiều chênh phô của phận người.

Ở đó, hy vọng cha được hòa vào bài ca mà Sách Khải Huyền gọi là bài ca mới.

Ở đây, người nhạc sĩ từng cố tìm những nốt nhạc đẹp để nói về Thiên Chúa.

Ở đó, có lẽ không còn cần nốt nhạc nữa, vì đã gặp chính Đấng mà mọi tiếng hát chỉ là chiếc bóng.

Ở đây, cha từng viết Người Là Bầu Trời.

Ở đó, mong rằng cha đã bước vào bầu trời ấy.

Ở đây, cha từng viết Trời Mới Đất Mới.

Ở đó, mong rằng cha đã được nhìn thấy điều mình từng hát.

Ở đây, cha viết Đứng Trước Nhan Ngài.

Ở đó, xin cho cha được thật sự đứng trước Nhan Ngài.

Ở đây, cha từng nói bằng âm nhạc rằng đời người được ghi một dấu ấn tình yêu.

Và bây giờ, khi trang đời cuối cùng đã khép lại, điều còn lại có lẽ vẫn chỉ là dấu ấn ấy.

Dấu ấn của một Thiên Chúa đã gọi. Dấu ấn của một người đã đáp. Dấu ấn của một đời đã dâng. Dấu ấn của cây thập giá đã đi qua. Dấu ấn của hồng ân còn ở lại. Dấu ấn của tình yêu mà cái chết không thể xóa.

Xin cảm ơn cha Ân Đức, vì giữa một thế giới nhiều tiếng động, cha đã để lại những giai điệu giúp người ta đi vào thinh lặng. Xin cảm ơn cha vì đã không chỉ viết về tình yêu Thiên Chúa mà đã dành cả đời để tìm cách sống tình yêu ấy. Xin cảm ơn những năm tháng nông trường đã không làm người nghệ sĩ trong cha chết đi. Xin cảm ơn những giờ cầu nguyện trong đan viện đã làm tiếng nhạc của cha dịu lại. Xin cảm ơn những ngày vui, những chén đắng, những mùa hiến tế, những khoảng cô tịch mà từ đó bao giai điệu đã sinh ra. Xin cảm ơn một đời người đã dám để mình trở thành cây sáo trong tay Thiên Chúa.

Và nếu được chọn một cách để nhớ cha, có lẽ đừng chỉ dựng một tượng đài bằng lời khen. Hãy hát nhạc cha. Nhưng hát bằng đời sống.

Hát Dấu Ấn Tình Yêu bằng một đời biết ơn.

Hát Tình Ca Dâng Hiến bằng sự trung thành.

Hát Chúa Phải Lớn Lên bằng việc biết nhỏ mình lại.

Hát Nơi Đứng Của Người bằng cách đứng gần người nghèo.

Hát Nhớ Nguồn bằng lòng hiếu thảo.

Hát Khi Tim Con Khô Cứng bằng sự kiên trì cầu nguyện.

Hát Ngọn Đèn Dâng Hiến bằng một đời dám hao mòn vì người khác.

Hát Tròn Dâng bằng cách không giữ lại cho mình phần tốt nhất.

Hát Niềm Hy Vọng Hằng Sống ngay cả khi đứng trước mộ phần.

Hát Trong Âm Thầm bằng những việc tốt không cần ai biết.

Hát Tất Cả Là Hồng Ân vào buổi chiều của cuộc đời.

Và rồi một ngày, khi đến lượt chúng ta đặt xuống mọi công việc, mọi dự tính, mọi chức vụ, mọi thành công, mọi thất bại, mọi tiếng khen chê, có lẽ ta cũng sẽ hiểu điều mà người đan sĩ nhạc sĩ ấy đã hát suốt đời: cuối cùng, chẳng có gì thật sự là của mình. Tất cả đều được trao. Và điều đẹp nhất ta có thể làm là trao lại.

Ân Đức đã trao lại tiếng hát.

Ân Đức đã trao lại đời mình.

Còn Thiên Chúa – Đấng đã ghi dấu tình yêu trên đời cha từ buổi đầu – giờ đây xin hoàn tất bản nhạc mà cha đã bắt đầu dưới thế.

Người ca công đã đi vào cõi lặng.

Nhưng bài ca vẫn còn.

Và có những bài ca, một khi đã sinh ra từ cầu nguyện, thì không bao giờ thực sự kết thúc.

Lm. Anmai, CSsR

Bài viết liên quan

Back to top button
error: Content is protected !!