Kỹ năng sống

BỜ HỒ VÀ ĐÁM ĐÔNG: VÀO ĐỜI MÀ KHÔNG BÁN LINH HỒN – Lm. Anmai, CSsR

NGÀY THỨ TƯ. BỜ HỒ VÀ ĐÁM ĐÔNG: VÀO ĐỜI MÀ KHÔNG BÁN LINH HỒN

Hướng cầu nguyện

Đức Giêsu không ở Nazareth mãi. Có một ngày Người rời ngôi nhà quen thuộc, bước ra khỏi nhịp sống âm thầm, đi dọc bờ hồ, gọi các môn đệ, giảng dạy trong hội đường, chữa lành người đau yếu và để cho những đám đông tìm đến mình. Ba mươi năm thinh lặng không phải là cách Người tránh con người. Đó là thời gian Người sống trọn phận người trước khi công khai trao chính mình cho con người. Nazareth chuẩn bị cho bờ hồ. Nếu không có những năm dài sống trước mặt Chúa Cha trong điều bình thường, những ngày giữa đám đông sẽ dễ bị hiểu như một cuộc tìm kiếm ảnh hưởng. Nhưng Đức Giêsu ra đi vì đã đến giờ thi hành ý Cha. Người không cần đám đông để biết mình là ai. Trước khi có ai tung hô, Người đã là Con yêu dấu. Trước khi có ai nghe bài giảng đầu tiên, Người đã sống trong tình yêu của Chúa Cha. Cha hãy ở lại với sự thật ấy một lúc: Đức Giêsu bước vào đám đông từ một căn tính đã được lãnh nhận, chứ không bước vào đó để xin đám đông ban cho mình căn tính. Đối với đời linh mục, đây là một phân định rất sâu. Cha được sai đến với dân, nhưng dân không phải nguồn gốc của ơn gọi Cha. Cha cần yêu họ bằng cả trái tim, nhưng không thể đặt trái tim mình vào tay sự tán thưởng hay thất vọng của họ. Chỉ người biết mình thuộc về Chúa mới có thể thuộc về dân theo cách tự do.

Bờ hồ trong Tin Mừng chẳng yên tĩnh như bờ hồ trong tranh đạo. Ở đó có thuyền phải vá, lưới phải giặt, cá phải bán, thuế phải nộp, người bệnh phải được khiêng tới, những bà mẹ bồng con đi tìm một hy vọng cuối cùng. Ở đó có người tin, người tò mò, người tranh cãi, người muốn thử Đức Giêsu, người chỉ mong chạm vào tua áo Người. Đám đông ấy không đồng nhất, cũng không thuần khiết. Có người đi theo vì lời hằng sống; có người đi theo vì đã ăn bánh mà được no. Có người thật lòng khát Chúa nhưng chưa có ngôn ngữ để diễn tả cơn khát ấy, nên chỉ biết xin khỏi bệnh, xin cơm ăn, xin một lời giải cho chuyện gia đình. Đức Giêsu không bắt họ phải có động cơ hoàn hảo rồi mới được đến gần. Người nhìn thấy họ, nghe tiếng kêu của họ, đụng đến vết thương của họ. Người cho họ ăn. Người giảng dạy họ. Người sửa lại những mong đợi sai lạc của họ. Người kiên nhẫn để một nhu cầu rất trần thế có thể trở thành cửa mở vào một cơn đói sâu hơn. Cha cũng được sai đến một giáo xứ như thế. Người đến xin giấy tờ có thể đang mang một cuộc hôn nhân đổ vỡ. Người chỉ xuất hiện dịp lễ lớn có thể đang sợ bước vào nhà thờ vì nhiều năm mặc cảm. Người xin Cha làm phép một căn nhà mới có thể thực ra muốn được nghe rằng Chúa chưa bỏ gia đình họ. Người gọi điện vào lúc bất tiện có thể là người đã đắn đo suốt nhiều tuần mới đủ can đảm bấm số. Không phải yêu cầu nào cũng phải được đáp ứng theo cách họ muốn. Nhưng mọi người đến đều đáng được nhìn như một con người, trước khi bị xếp thành một việc cần xử lý.

Cha hãy nhìn cách Đức Giêsu thấy đám đông: “Thấy đám đông, Người chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt” (Mt 9,36). Tin Mừng không nói Người thấy một cơ hội mở rộng ảnh hưởng. Người thấy con người lầm than. Hai lối nhìn ấy có thể dẫn một linh mục đến cùng một sân nhà thờ đông người, cùng một ngày hội, cùng một chương trình mục vụ, nhưng tạo ra hai đời sống nội tâm khác nhau. Một lối nhìn âm thầm đếm: bao nhiêu người tới, bao nhiêu người khen, hình ảnh của giáo xứ đẹp đến đâu, tên mình được nhắc đến thế nào. Lối nhìn kia hỏi: trong đám người trước mặt, ai đang mệt đến mức không còn cầu nguyện được, ai đang nuôi con một mình, ai sắp phải đưa cha mẹ vào bệnh viện, ai đứng cuối nhà thờ vì tưởng mình không còn chỗ ở gần Chúa? Cùng một đám đông, nhưng người mục tử có thể thấy những gương mặt, hoặc chỉ thấy một con số. Ơn chạnh lòng thương bắt đầu bằng việc để cho đám đông có gương mặt.

Đám đông cần Cha, nhưng cũng có thể quyến rũ Cha. Họ có thể yêu mến Cha thật lòng, và tình yêu ấy là một an ủi chính đáng. Một lời cảm ơn sau thánh lễ có thể nâng một người mục tử đang kiệt sức. Một giáo xứ đông người cầu nguyện có thể là dấu chỉ đẹp của ân sủng. Cha không cần giả vờ mình không vui trước những điều ấy. Chúa đã tạo dựng trái tim con người có khả năng đón nhận tình thương. Điều cần xét là Cha làm gì với niềm vui đó. Cha có đem nó về trong lời tạ ơn, hay đem nó về nuôi cái tôi? Cha có thể vui vì dân đến gần Chúa mà không đòi họ luôn đến gần mình không? Cha có thể mừng khi một người được nâng đỡ bởi một linh mục khác, một cộng đoàn khác, một người giáo dân trưởng thành, dù Cha không còn là trung tâm câu chuyện của họ không? Tình phụ tử thiêng liêng cho phép người ta lớn lên và đi tiếp. Nó không giữ người ta quanh mình để mình bớt trống vắng. Khi Cha cần một nhóm người thường xuyên ngợi khen để thấy ngày sống của mình có ý nghĩa, Cha rất dễ bắt đầu chiều theo điều họ muốn nghe. Có khi Cha sẽ né một sự thật cần nói. Có khi Cha sẽ ưu tiên người có ảnh hưởng hơn người đang cần được thăm. Có khi Cha sẽ sợ một thánh lễ vắng hơn sợ chính lòng mình xa Chúa. Tiếng vỗ tay trở nên nguy hiểm từ lúc nó có quyền quyết định sự bình an của Cha.

Đức Giêsu đã biết tiếng tung hô và biết cả lúc người ta bỏ đi. Sau khi được ăn no, đám đông có thể muốn tôn Người làm vua. Người lánh đi. Khi lời giảng về Bánh hằng sống trở nên khó nghe, nhiều môn đệ rút lui. Người không chạy theo để đổi lời cho dễ được chấp nhận. Người quay sang Nhóm Mười Hai và hỏi liệu họ cũng muốn bỏ đi không. Đó là tự do của một Đấng yêu con người đến cùng mà không mua lấy sự hiện diện của họ bằng cách phản bội sự thật. Cha hãy cầu xin được học thứ tự do ấy. Nó không làm Cha lạnh lùng. Trái lại, chỉ khi tự do trước khả năng bị từ chối, Cha mới có thể yêu người ta mà không âm thầm đòi họ trả công bằng sự trung thành với mình. Có những lúc Cha phải giảng một lời an ủi; có những lúc Cha phải nói một lời khó. Có những lúc Cha cần nhận lời đến một cuộc gặp; có những lúc Cha phải từ chối một đòi hỏi không đúng. Không thể chọn tất cả những điều ấy bằng một câu hỏi duy nhất: Người ta sẽ nghĩ gì về tôi?

Có một cách rất kín đáo để đời đi vào tu: biến đời mục vụ thành nơi kiếm bằng chứng rằng mình quan trọng. Cha bắt đầu một công việc vì thương dân, nhưng dần dần không chịu nổi nếu công việc ấy không mang dấu tay mình. Cha quy tụ người trẻ vì muốn họ gặp Chúa, nhưng rồi thấy khó chịu khi họ quý mến một người hướng dẫn khác. Cha chăm sóc một giáo điểm vì trách nhiệm, nhưng rồi kể về nó như một chiến công riêng. Cha tổ chức một lễ hội vì niềm vui cộng đoàn, nhưng sau lễ chỉ nhớ những lời khen, những lời chê và các bức ảnh. Sự lệch hướng thường không xảy ra trong một ngày. Nó đến từng chút một, dưới những câu nói có vẻ rất đạo đức: “Mình chỉ muốn việc Chúa được tốt hơn”, “Mình phải giữ uy tín để còn làm mục vụ”, “Dân đang cần mình”. Có thể những câu ấy chứa một phần sự thật. Nhưng Cha cần đem cả phần còn lại vào cầu nguyện. Nếu Chúa mời Cha làm việc ấy âm thầm, không được nhắc tên, Cha còn muốn làm không? Nếu một người khác làm tốt hơn, Cha có thực lòng vui không? Nếu một chương trình đông người khiến Cha không còn thời gian thăm một người bệnh, Cha có đủ tự do để đổi thứ tự ưu tiên không?

Mục tử tốt lành biết đàn chiên, nhưng cũng biết mình không phải Đấng Cứu Độ. Sự thật thứ nhất ngăn Cha dửng dưng; sự thật thứ hai ngăn Cha kiệt sức vì tự cho mình phải hiện diện ở mọi nơi. Có một kiểu hám việc đội lốt hy sinh. Người linh mục nhận mọi lời mời, trả mọi tin nhắn ngay lập tức, ôm mọi quyết định, dự mọi cuộc họp, bởi sâu bên trong ngài sợ rằng khi ngài vắng mặt, người ta vẫn sống được. Cũng có một kiểu sợ việc đội lốt đời sống thiêng liêng: rút lui mỗi khi con người làm mình mệt, viện cớ cần thinh lặng để khỏi gặp những cảnh đời không thể giải quyết nhanh. Đức Giêsu không dạy Cha chọn một trong hai kiểu ấy. Người ở giữa dân thật sự, đến mức có lúc không kịp ăn. Người cũng lên núi cầu nguyện, lên thuyền sang bờ bên kia, đưa các môn đệ đến nơi thanh vắng. Người không trốn trách nhiệm khi rút lui; Người trở về với nguồn của sứ mạng. Cầu nguyện không lấy thời giờ khỏi đàn chiên như thể đó là phần Cha giữ riêng cho mình. Cầu nguyện gìn giữ trái tim để khi trở lại, Cha còn có thể nhìn đàn chiên bằng ánh mắt của Đức Kitô.

Vì thế, “biết lúc ở lại và lúc lánh” không phải một mẹo sắp lịch. Đó là việc lắng nghe Thần Khí giữa những nhu cầu đều có vẻ cấp bách. Một đám đông đang chờ Cha không tự động có nghĩa Cha phải bỏ hết mọi sự khác. Một người đau yếu cần bí tích không thể bị đặt ngang với một cuộc gặp có thể dời. Một buổi chầu Cha đã dành để ở với Chúa không nên luôn là việc đầu tiên bị xóa mỗi khi điện thoại reo. Một cuộc trò chuyện với anh em linh mục đang khủng hoảng có thể quan trọng hơn sự hiện diện mang tính nghi thức của Cha ở một bữa tiệc. Phân định đòi Cha nhìn người thật, việc thật và giới hạn thật của mình. Có lúc yêu là mở cửa nhà xứ thêm một giờ. Có lúc yêu là hẹn người ấy sang sáng mai, để đêm nay Cha ngủ và ngày mai còn đủ kiên nhẫn lắng nghe họ. Có lúc yêu là đích thân đi. Có lúc yêu là trao việc cho người có khả năng và tin họ. Đám đông không thể trở thành người điều khiển toàn bộ đời sống Cha chỉ vì đám đông nói lớn nhất.

Cha hãy đặt trước mặt Chúa một ngày mục vụ thường. Buổi sáng có thánh lễ, một người xin gặp gấp, mấy hồ sơ cần ký, một tin nhắn báo bệnh nhân nhập viện, nhóm phụng vụ đang bất đồng, một gia đình muốn Cha đến dùng cơm, một người trẻ hỏi chuyện đức tin vào đúng lúc Cha đã mệt. Trong những giây phút ấy, điều gì dẫn Cha? Tình thương, sự lo lắng, thói quen, mặc cảm có lỗi, nhu cầu được thích, hay sự bình an của người đang tìm ý Chúa? Cha không cần tự kết án vì mình từng mệt mỏi hoặc từng muốn được công nhận. Đức Giêsu biết thân phận con người. Nhưng Cha cần nhận diện những sợi dây đang kéo mình, bởi người mục tử bị kéo đi trong vô thức sẽ dần gọi mọi sự kéo đi ấy là “ý Chúa”. Có những việc tốt Cha làm vì đúng là đàn chiên cần. Cũng có những việc tốt Cha làm vì không chịu nổi cảm giác người ta có thể thất vọng về mình. Hai điều ấy nhìn từ ngoài giống nhau, nhưng khi tối về, một điều để lại lòng biết ơn, điều kia để lại cay đắng.

Còn những người không ở trong đám đông thì sao? Một giáo xứ dễ biết tên những người đến họp, người đóng góp, người đứng trong các hội đoàn, người thường xuyên gặp Cha sau lễ. Nhưng người không đến nữa cũng thuộc về tầm nhìn của mục tử. Có người đi khỏi nhà thờ sau một lời nói làm họ tổn thương. Có người vì công việc mà nhiều năm chỉ đứng ngoài cổng. Có người đã tái hôn, mang hoàn cảnh phức tạp và không biết còn được ai lắng nghe. Có người trẻ lặng lẽ mất đức tin trong khi cha mẹ vẫn tưởng chúng chỉ bận học. Có người nghèo thấy nhà thờ ngày càng đẹp nhưng không biết mình có thể bước vào với đôi dép cũ hay không. Cha sẽ không thể biết hết tên họ bằng sức riêng. Nhưng Cha có thể hỏi, có thể đi thăm, có thể tập lắng nghe những giáo dân biết xóm làng, có thể đọc những sự vắng mặt như một lời mời mục vụ chứ không chỉ như một thất bại thống kê. Một người hấp hối lúc nửa đêm không làm cho sân nhà thờ đông người kém giá trị. Nhưng lời gọi từ giường bệnh sẽ cho Cha thấy rõ hơn mình yêu ai khi chẳng có sân khấu, chẳng có máy ảnh, và có thể chẳng có ai biết mình đã đến.

Đức Giêsu chạnh lòng thương vì họ như bầy chiên không người chăn dắt. Chạnh lòng thương không phải một cảm xúc mạnh thoáng qua trước khổ đau. Nó đi vào cách Người dùng thời giờ, chạm đến người bị tránh né, dừng lại trước tiếng kêu mà người khác muốn bịt đi. Xin Cha đừng sợ một lòng thương xót có hình dạng rất nhỏ. Nhớ tên một người lâu ngày vắng lễ. Đến thăm một gia đình mà không báo trước để họ khỏi phải dọn nhà tiếp Cha. Để một người kể hết câu chuyện dù Cha đã đoán được đoạn cuối. Nhận ra người phục vụ nhiều nhất cũng có thể là người cần được chăm sóc. Giữ kín một nỗi đau đã được trao cho Cha. Trả lời một lời xin lỗi bằng sự dịu dàng. Hỏi một em thiếu nhi đang đứng một mình rằng em tên gì. Những điều ấy không xuất hiện trong báo cáo thành tích. Nhưng chính ở đó, “đám đông” bắt đầu trở lại thành những con người được yêu.

Lòng thương xót cũng cần sự thật. Đức Giêsu cho đám đông ăn, rồi mời họ tìm thứ lương thực không hư nát. Người chữa lành, rồi mở trước mắt họ một sự sống lớn hơn sức khỏe thể lý. Người không khinh nhu cầu trước mắt của họ, nhưng cũng không giam họ mãi trong nhu cầu ấy. Đôi khi Cha bị đòi phải giải quyết ngay điều mà mình chỉ có thể đồng hành. Một gia đình muốn Cha nói một câu khiến đứa con trở về. Một người muốn Cha cầu nguyện để bệnh khỏi. Một hội đoàn muốn Cha đứng về phía họ trong tranh chấp. Cha có thể hiện diện, cầu nguyện, hướng dẫn, giúp họ tìm sự trợ giúp cần thiết và cùng chịu một phần gánh nặng. Cha không cần hứa điều mình không có quyền hứa. Tình thương không đòi Cha đóng vai người làm phép lạ. Nó đòi Cha đừng bỏ người ta một mình trước sự thật khó chịu. Khi không thể cho họ điều họ xin, Cha vẫn có thể trao điều thật: sự lắng nghe, một lời ngay thẳng, bí tích, và sự hiện diện bền bỉ.

Có lúc đám đông sẽ không hiểu Cha. Có lúc Cha đã làm điều phải làm mà người ta vẫn buồn. Có lúc một bài giảng được soạn trong cầu nguyện không được đón nhận. Có lúc một quyết định công bằng khiến người có tiếng nói lớn phản đối. Nếu đời nội tâm của Cha chỉ đứng vững khi mọi người đồng ý, Cha sẽ sớm đánh đổi sự thật để mua yên ổn. Hãy nhìn Đức Giêsu bị hiểu lầm. Người vẫn tiếp tục yêu. Người không dùng sự phản đối làm cớ để khinh con người, cũng không dùng lòng thương để xóa bỏ điều Chúa Cha đã trao phó. Cha có thể đau khi bị chê. Cha có thể xét lại mình, xin lỗi nếu đã sai, sửa cách nói nếu đã làm người khác tổn thương. Nhưng sau khi đã làm tất cả những điều ấy, Cha không phải quỳ trước dư luận. Người mục tử cần một lương tâm được huấn luyện, những người khôn ngoan có thể góp ý thật, và những giờ cầu nguyện không bị tiếng ồn chiếm mất. Sự tự do trước tiếng vỗ tay cũng là sự tự do trước tiếng la ó. Cả hai đều không có quyền thay Chúa gọi tên Cha.

Hãy trở lại bờ hồ. Có thể Cha thấy Đức Giêsu đứng giữa người bệnh và người đói, giữa môn đệ còn vụng về và những người đặt câu hỏi khó. Người không vội coi tất cả là phiền toái. Người cũng không vội biến tất cả thành thành công của mình. Người nhìn, Người chạnh lòng thương, Người làm việc Chúa Cha trao cho ngày ấy. Rồi Người cầu nguyện. Cha hãy bước đến gần Người với giáo xứ thật của mình: những gương mặt Cha mến, những người khiến Cha mệt, người Cha đã bỏ sót, người đã khen Cha quá nhiều, người đã chê Cha đến đau lòng. Đừng đem một giáo xứ lý tưởng vào cầu nguyện. Hãy đem chính giáo xứ có bờ hồ ồn ào ấy. Cũng hãy đem con người thật của Cha: trái tim muốn yêu mà đôi khi muốn được yêu hơn, đôi tay muốn phục vụ mà đôi khi muốn nắm giữ, một thân xác có giới hạn, một ơn gọi vẫn cần được thanh luyện mỗi ngày. Đức Giêsu không đợi Cha trở nên hoàn hảo rồi mới sai Cha ra với dân. Người mời Cha ở với Người để mỗi lần ra đi, Cha biết mình ra đi từ đâu và sẽ trở về với ai.

Lời Chúa để ở lại

“Thấy đám đông, Người chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt.” (Mt 9,36)

Cha có thể đọc chậm câu ấy nhiều lần. Lần đầu, hãy nhìn đám đông bằng mắt mình và thành thật nhận ra cảm giác đầu tiên: thương, mệt, vui, sợ, bực, hay cần được họ yêu mến. Lần thứ hai, hãy xin được đứng cạnh Đức Giêsu để nhìn họ bằng mắt Người. Lần thứ ba, hãy để cho ánh mắt ấy quay về phía chính Cha. Cha cũng là một người được Người chạnh lòng thương. Cha không phải tự sản xuất lòng thương xót từ một trái tim đã cạn. Cha được nhận lòng thương xót trước khi trao lòng thương xót.

Xét mình

Cha cần một thánh lễ đông người, một chương trình thành công, một lời khen công khai đến mức nào để cảm thấy mình là linh mục có giá trị? Khi ít người đến, Cha có buồn vì họ thiếu cơ hội gặp Chúa, hay buồn vì chính mình thấy bị bỏ quên? Cha có dễ nhớ tên người giúp việc nhà thờ, người đóng góp, người xuất hiện thường xuyên, mà ít hỏi về người bệnh, người nghèo và người đã lặng lẽ rời xa cộng đoàn không? Trong lịch của Cha, có ai thường được đón trước vì họ có ảnh hưởng, và có ai thường phải đợi vì họ không có gì để mang lại? Cha có biết rút lui để cầu nguyện và nghỉ ngơi, hay chỉ đổi đám đông ngoài sân nhà thờ lấy đám đông trên màn hình? Khi một người khác được dân quý mến, trái tim Cha bình an hay co lại? Cha có dám nói một lời thật với lòng hiền lành khi biết lời ấy có thể khiến mình bớt được vỗ tay không? Và lúc Cha nói mình “vì đàn chiên”, Cha có còn nghe được tiếng của một con chiên cụ thể đang gọi mình không?

Xin ơn ngày thứ tư

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã thấy đám đông và chạnh lòng thương. Xin cho con đôi mắt biết dừng lại trên từng gương mặt, một trái tim không chai đi vì mệt mỏi, và một tình yêu không chọn người theo lợi ích họ có thể đem lại. Xin cho con vui khi dân Chúa quy tụ, nhưng không lấy số đông làm thước đo giá trị đời mình. Xin cho con đủ can đảm ở lại khi một người cần được chăm sóc, đủ khiêm tốn rút lui khi con cần trở về cầu nguyện, và đủ tự do để người khác tiếp tục công việc tốt mà không cần tên con đứng trước. Xin giải thoát con khỏi cơn đói tiếng vỗ tay, khỏi nỗi sợ bị lãng quên, khỏi thói quen gọi mọi bận rộn là tận tụy. Xin nhắc con rằng trước khi con là mục tử của ai, con đã là con chiên được Chúa biết tên. Từ sự thật ấy, xin sai con trở lại bờ hồ, để con yêu dân Chúa bằng trái tim thuộc trọn về Chúa. Amen.

Bài viết liên quan

Back to top button
error: Content is protected !!