
ĐỨC CHA VALENTIN HERRGOTT
MỘT ĐỜI GIEO HẠT CHO CAMPUCHIA VÀ VIỆT NAM,
MỘT BÓNG DÁNG MỤC TỬ ÂM THẦM GIỮA LỊCH SỬ HỘI THÁNH
Chúng ta cùng nhau dừng lại thật lâu trước cuộc đời của Đức cha Valentin Herrgott, để không chỉ đọc lại tiểu sử của một vị thừa sai, nhưng để lắng nghe một chứng từ, để ngắm một lối sống, để học lại một linh đạo. Bởi có những con người, khi nhắc đến, ta không chỉ nhớ một vài mốc năm tháng, nhưng nhớ một phong cách hiện diện. Có những người, khi đi qua lịch sử, không làm ồn ào, không tạo cảm giác chói sáng bên ngoài, nhưng lại để xuống những chiếc rễ rất sâu trong lòng Hội Thánh. Đức cha Valentin Herrgott là một người như thế.
Ngài sinh ngày 11 tháng 10 năm 1864 tại Mitzach, thuộc giáo phận Strasbourg, nước Pháp. Ngài gia nhập Hội Thừa sai Paris ngày 18 tháng 9 năm 1885, chịu phó tế ngày 3 tháng 5 năm 1889, chịu chức linh mục ngày 21 tháng 9 năm 1889, rồi được sai sang địa hạt truyền giáo Campuchia cuối năm ấy. Sau khi đến Phnom Penh, ngài học tiếng Việt tại Russey Keo; năm 1890 được sai đến Talok, vùng Svay Rieng, và học thêm tiếng Khmer; từ năm 1893 đến năm 1896 làm cha sở Culaotay; từ năm 1896 làm Bề trên Tiểu chủng viện Cù Lao Giêng suốt ba mươi hai năm; được bổ nhiệm Giám mục phó Phnom Penh ngày 18 tháng 2 năm 1928, được tấn phong giám mục ngày 1 tháng 5 năm 1928 tại nhà nguyện Tiểu chủng viện Cù Lao Giêng, rồi kế vị làm Đại diện Tông tòa Phnom Penh ngày 17 tháng 12 năm 1928; năm 1931 cho sáng lập Dòng Các Tu huynh Giảng viên Giáo lý Thánh Gia Banam, nay là Dòng Thánh Gia; và qua đời tại Phnom Penh ngày 23 tháng 3 năm 1936. Những nét tiểu sử ấy được lưu trong hồ sơ IRFA của Hội Thừa sai Paris và được nhiều nguồn Công giáo về lịch sử dòng Thánh Gia cùng tiểu sử cha Trương Bửu Diệp xác nhận.
Nhưngnếu chỉ đọc từng ấy dữ kiện, chúng ta mới đi ngang qua bề mặt. Điều quan trọng hơn là phải chạm được vào ý nghĩa của cuộc đời ấy. Vì Đức cha Valentin Herrgott không chỉ là một vị giám mục của Phnom Penh theo nghĩa hành chính. Ngài là một chiếc cầu. Một chiếc cầu nối Pháp với Đông Dương. Một chiếc cầu nối Campuchia với miền Nam Việt Nam. Một chiếc cầu nối đời sống chủng viện với đời sống giáo xứ. Một chiếc cầu nối các thế hệ linh mục, tu sĩ, giáo lý viên và cộng đoàn tín hữu. Và nhất là, ngài là một chiếc cầu nối giữa Tin Mừng và những vùng đất đang cần được gieo hạt trong kiên nhẫn.
Có lẽ khi nghe đến hai chữ “truyền giáo”, chúng ta thường tưởng tượng những cuộc lên đường thật xa. Điều đó đúng, nhưng chưa đủ. Truyền giáo không chỉ là đổi nơi chốn. Truyền giáo trước hết là để cho trái tim mình được kéo ra khỏi chính mình. Có những người đi rất xa mà lòng vẫn đóng kín. Có những người đặt chân lên nhiều miền đất lạ mà vẫn chỉ mang theo cái tôi cũ của mình, áp lên người khác cách nghĩ của mình, cách cảm của mình, cách sống của mình. Nhưng cũng có những người đi xa và đồng thời đi sâu, nghĩa là đi sâu vào lịch sử của dân tộc mình phục vụ, đi sâu vào ngôn ngữ, phong tục, ký ức, nỗi đau và niềm hy vọng của họ. Đức cha Valentin Herrgott đã chọn con đường thứ hai.
Chúng ta hãy nghĩ thật chậm về chuyện ngài học tiếng Việt ở Russey Keo rồi học tiếp tiếng Khmer ở Talok. Nhiều người có thể nghe điều ấy như một chi tiết bình thường của đời truyền giáo. Nhưng nếu suy niệm kỹ, đó là một bài học rất lớn. Học ngôn ngữ không chỉ là học để nói. Học ngôn ngữ là học để lắng nghe. Học ngôn ngữ là chấp nhận mình còn vụng, còn sai, còn phải được người khác dạy lại. Học ngôn ngữ là một hành vi khiêm tốn. Và người truyền giáo nào chịu học ngôn ngữ của dân mình phục vụ thì người ấy đang nói bằng chính cuộc đời mình rằng: tôi không đến đây để bắt anh bước hẳn vào thế giới của tôi; tôi cũng muốn bước vào thế giới của anh. Đó là bác ái. Đó là tôn trọng. Đó là tinh thần nhập thể. Các mốc học tiếng Việt và tiếng Khmer của ngài được hồ sơ IRFA ghi rất rõ, và chính chúng cho thấy phương pháp truyền giáo của ngài khởi đi bằng sự học hỏi chứ không bằng áp đặt.
Rồi từ năm 1896, cha Valentin Herrgott được trao trách nhiệm tại Tiểu chủng viện Cù Lao Giêng, và ngài ở đó ba mươi hai năm. Thưa cộng đoàn, ba mươi hai năm không phải là một giai đoạn phụ. Ba mươi hai năm là một đời ở trong một đời. Ba mươi hai năm là một lời thưa xin vâng được lặp lại mỗi ngày. Ba mươi hai năm là đủ để một người không chỉ điều hành một cơ sở, mà trở thành ký ức của một nơi chốn. Chính vì thế, muốn hiểu Đức cha Valentin, phải nhìn thật sâu vào Cù Lao Giêng.
Cù Lao Giêng không chỉ là một địa danh của miền Tây. Cù Lao Giêng là một chiếc nôi ơn gọi. Một nơi mà biết bao người trẻ đã đến đó với những giấc mơ còn mỏng manh, với những thao thức còn non nớt, với những lựa chọn còn chưa hoàn tất. Tại đó, họ học tiếng Latinh, học thần học sơ khởi, học kỷ luật, học cầu nguyện, học sống cộng đoàn, học vâng phục, học im lặng, học chịu đựng, học từ bỏ, học yêu Hội Thánh bằng những việc không hào nhoáng. Và Đức cha Valentin ở giữa chiếc nôi ấy suốt ba mươi hai năm.
Chúng ta hãy thử hình dung một chút. Mỗi năm, những khuôn mặt mới đến. Mỗi năm, có những người trưởng thành, có người chững lại, có người đổi hướng, có người được Chúa dẫn đi xa hơn. Người phụ trách ở giữa dòng chảy ấy phải có đôi mắt rất kiên nhẫn. Bởi đào tạo không giống như xây một bức tường rồi nhìn thấy nó hoàn thành. Đào tạo là làm việc với con người. Và con người thì không lớn lên theo đường thẳng. Có những ngày rất sốt sắng. Có những ngày rất chao đảo. Có những người rất hứa hẹn, rồi sau đó lại chậm. Có những người âm thầm, nhưng sau lại trở thành cột trụ. Người làm công việc đào tạo phải biết chờ. Phải biết hy vọng khi chưa thấy. Phải biết gieo ngay cả khi trời chưa báo mùa.
Đó là lý do vì sao Cù Lao Giêng không chỉ là bối cảnh lịch sử của Đức cha Valentin, mà còn là trường học thiêng liêng của chính ngài. Ở đó, ngài không chỉ dạy chủng sinh. Ở đó, chính ngài được dạy sống linh đạo người gieo hạt. Mỗi giờ học là một lần gieo. Mỗi lời nhắc nhở là một lần gieo. Mỗi quyết định kỷ luật là một lần gieo. Mỗi sự nâng đỡ dành cho một tâm hồn đang lung lay là một lần gieo. Người gieo không phải lúc nào cũng thấy ngay hạt nảy mầm. Nhưng nếu không gieo, sẽ chẳng bao giờ có mùa gặt.
Tài liệu cho thấy ngài không chỉ quản lý Tiểu chủng viện Cù Lao Giêng, mà còn chăm lo các cơ sở vật chất và đồng thời phụ trách các chị em Providence bên cạnh chủng viện. Các nguồn về Dòng Thánh Gia cũng cho thấy từ môi trường ấy, ngài có cái nhìn rất mạnh về việc đào tạo nhân sự cho sứ vụ. Điều này rất quan trọng. Vì muốn Hội Thánh lớn lên, không thể chỉ lo phần nổi. Phải lo cho rễ. Phải lo cho người. Phải lo cho những con người sẽ tiếp tục làm việc của Chúa sau mình.
Đây là một bài học rất mạnh cho thời hôm nay. Chúng ta lo rất nhiều việc. Chúng ta xây nhà thờ, sửa nhà xứ, tổ chức lễ lạy, làm chương trình, lo truyền thông, vận hành hội đoàn. Tất cả đều cần. Nhưng nếu lơ là việc đào tạo người trẻ, giáo lý viên, ơn gọi, cộng tác viên, thì rồi phần nổi có thể còn đẹp mà phần rễ sẽ yếu. Đức cha Valentin Herrgott dạy chúng ta rằng muốn Hội Thánh có tương lai thì phải chấp nhận đầu tư vào những gì chậm nhất, âm thầm nhất, ít được nhìn thấy ngay nhất. Đó chính là đào tạo.
Và chính trong môi trường Cù Lao Giêng ấy, chúng ta gặp một mối liên hệ rất đẹp với cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp. Các tiểu sử Công giáo của cha Diệp cho biết ngài học ở Tiểu chủng viện Cù Lao Giêng, rồi tiếp tục tại Đại chủng viện Phnom Penh. Năm 1924, thầy Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp được thụ phong linh mục. Sau đó, ngài được bổ nhiệm làm cha phó tại Hố Trư, một cộng đoàn người Việt ở Kandal, Campuchia; đầu năm 1928 được điều về dạy tại Tiểu chủng viện Cù Lao Giêng; và tháng 3 năm 1930 mới được bổ nhiệm về Tắc Sậy. Các nguồn của Hội đồng Giám mục Việt Nam và các tiểu sử được phổ biến rộng rãi đều thống nhất về chuỗi sự kiện đó.
Ở đây, điều làm ta xúc động không chỉ là sự trùng hợp niên biểu. Điều làm ta xúc động là logic thiêng liêng ẩn bên dưới. Đức cha Valentin ở trong giai đoạn hình thành của cha Diệp. Ngài ở đó khi cha Diệp thuộc về Cù Lao Giêng. Ngài ở đó khi cha Diệp được thụ phong dưới quyền ngài. Ngài ở đó khi cha Diệp nhận những bài sai đầu đời, đi Hố Trư rồi trở về dạy ở chính nơi mình từng học. Điều đó có nghĩa là giữa Đức cha Valentin và cha Trương Bửu Diệp có một mối dây rất thật: mối dây giữa người đào tạo và người được sai đi, giữa người gieo và một hạt giống sẽ nảy nở rất đẹp trong tương lai.
Lịch sử Hội Thánh thường đẹp như thế. Người ta dễ nhớ đến một vị linh mục nổi tiếng, một chứng nhân lớn, một khuôn mặt được giáo dân yêu mến. Nhưng phía sau luôn có những con người âm thầm khác. Có người đã dạy. Có người đã phong chức. Có người đã trao bài sai. Có người đã đặt niềm tin. Có người đã sửa dạy trong chủng viện. Có người đã mở đường. Không có những con người ấy, lịch sử của các chứng nhân sẽ không có nền. Nhắc đến cha Trương Bửu Diệp, vì thế, cũng là dịp để ta biết ơn những người như Đức cha Valentin Herrgott.
Và ở đây, một lần nữa, ta thấy nổi bật linh đạo người gieo hạt. Người gieo không nhất thiết phải là người được nhắc đến nhiều nhất trong mùa gặt. Người gieo chỉ cần trung tín với cánh đồng Chúa trao. Có thể trong ký ức phổ thông của dân Chúa hôm nay, tên cha Trương Bửu Diệp được nhắc nhiều hơn. Điều đó tự nhiên. Nhưng chính vì thế, ta lại càng thấy vẻ đẹp của người gieo. Có những người là bông lúa trổ rạng rỡ trước mắt mọi người. Có những người là người đã cặm cụi gieo trước đó. Nếu không có mùa gieo, làm gì có mùa gặt. Nếu không có chiếc nôi ơn gọi, làm gì có vị mục tử của Tắc Sậy. Nếu không có những người âm thầm chuẩn bị, làm gì có những khuôn mặt sau này trở thành niềm an ủi cho cả một vùng dân Chúa.
Người gieo hạt không sống để chiếm lấy toàn bộ hoa trái. Người gieo hạt sống để hạt giống có cơ hội gặp đất tốt. Đức cha Valentin đã sống như thế. Ngài gieo bằng việc học tiếng nói của dân mình phục vụ. Ngài gieo bằng việc ở lại Cù Lao Giêng ba mươi hai năm. Ngài gieo bằng việc đào tạo chủng sinh và nâng đỡ đời sống tu trì. Ngài gieo bằng việc phong chức và sai đi. Ngài gieo bằng việc lập Dòng Thánh Gia Banam năm 1931. Các nguồn về Dòng Thánh Gia cho biết dòng này được Đức cha Valentin cho sáng lập tại Banam, thuộc địa phận Phnom Penh, để phục vụ sứ vụ giáo lý và truyền giáo; về sau dòng tiếp tục phát triển trên đất Việt Nam, nhất là tại Long Xuyên. Một hạt giống được gieo ở Campuchia, rồi bén rễ sâu ở Việt Nam. Chỉ riêng điều đó cũng đã là một biểu tượng rất đẹp cho tầm nhìn người gieo của ngài.
Chúng ta đang sống trong một thời đại rất nóng lòng. Ai cũng muốn thấy ngay kết quả. Mục vụ cũng thế. Làm một chương trình xong là muốn thấy đổi thay liền. Dạy một lớp là muốn thấy các em ngoan ngay. Đồng hành một người là muốn thấy họ hoán cải ngay. Nhưng Nước Chúa thường lớn lên theo nhịp khác. Như hạt cải. Như men trong bột. Như lúa trong đồng. Người gieo phải chấp nhận rằng có những mùa mình không được thấy trọn. Đức cha Valentin đã sống cái nhịp ấy.
Có lẽ khi ở Cù Lao Giêng, ngài không thể thấy hết những linh mục tương lai sẽ đi xa tới đâu. Có lẽ khi phong chức cho cha Diệp, ngài không thể thấy hết tương lai đạo đức và lòng mến mộ mà dân Chúa sẽ dành cho vị linh mục ấy. Có lẽ khi lập Dòng Thánh Gia Banam, ngài không thể thấy hết hành trình của dòng sau những biến cố lịch sử lớn lao của Campuchia và Việt Nam. Nhưng ngài vẫn gieo. Đây chính là điểm rất thánh. Gieo mà không nắm chắc mùa gặt. Gieo mà không đòi mình phải được thấy hết kết quả. Gieo mà vẫn vui lòng để Chúa làm phần còn lại.
Thật ra, đó cũng là linh đạo của mọi người Kitô hữu. Người cha trong gia đình đang gieo hạt khi trung thành với bổn phận hằng ngày mà không biết hết tương lai của con. Người mẹ đang gieo hạt khi giữ cho mái nhà còn lời kinh tối mà không biết hạt nào sẽ mọc trước. Người giáo lý viên đang gieo hạt khi kiên nhẫn với một em nhỏ khó dạy. Người linh mục đang gieo hạt khi ngồi tòa giải tội nhiều giờ mà không ai thấy. Một giáo xứ đang gieo hạt khi âm thầm đầu tư cho giới trẻ, cho thiếu nhi, cho người nghèo, cho bệnh nhân, cho việc đào tạo ơn gọi. Chúng ta thường tưởng những việc lớn mới quan trọng. Nhưng trong logic của Thiên Chúa, điều quan trọng thường bắt đầu bằng một hạt rất nhỏ.
Bởi thế, nhìn Đức cha Valentin Herrgott, chúng ta không chỉ học một vài mốc lịch sử. Chúng ta học một cách sống. Một cách sống biết ở lại thật lâu với điều Chúa trao. Một cách sống biết chấp nhận mình không phải là trung tâm. Một cách sống biết xây nền hơn là chỉ lo phần nổi. Một cách sống biết đào tạo hơn là kiểm soát. Một cách sống biết làm chiếc cầu hơn là dựng bức tường.
Nếu phải nói cách thật đơn sơ, có lẽ có thể nói thế này: Đức cha Valentin là một người đã đến từ rất xa để ở lại rất lâu. Ngài đến từ Pháp, nhưng trái tim mục tử của ngài cắm rễ tại Campuchia và miền Nam Việt Nam. Ngài không đi ngang qua như một khách lữ hành. Ngài để đời mình ở lại trong ngôn ngữ, trong chủng viện, trong bài sai, trong cộng đoàn, trong hội dòng, trong những con người mà ngài góp phần chuẩn bị cho sứ vụ. Đó là vẻ đẹp của một đời hiến dâng.
Khi trở thành Giám mục phó rồi Đại diện Tông tòa Phnom Penh vào năm 1928, ngài không từ bỏ căn tính của người gieo. Tài liệu về Giáo hội Campuchia ghi nhận dưới thời ngài, nhiều cộng đoàn Kitô hữu mới được hình thành; tại Kampot có khoảng 200 người được rửa tội; các công trình giáo dục, bác ái và đào tạo tiếp tục phát triển. Như vậy, ngay cả khi bước vào hàng giám mục, ngài vẫn mang nhịp sống của nhà truyền giáo và nhà đào tạo. Chức giám mục nơi ngài không tách khỏi phục vụ; trái lại, được mọc lên từ phục vụ.
Đây cũng là bài học rất lớn cho đời sống mục tử hôm nay. Thẩm quyền trong Hội Thánh chỉ đẹp khi nó được nâng bởi hy sinh. Chức vụ chỉ đáng kính khi phía sau nó là một đời đã đổ ra. Một người lãnh đạo cộng đoàn không thật sự lớn vì có danh xưng, nhưng vì biết làm cho người khác lớn lên. Đức cha Valentin đã làm điều đó. Ngài không giữ cho mọi sự lệ thuộc vào mình. Ngài đào tạo, ngài trao, ngài lập nền, ngài sai đi. Ngài chấp nhận rằng hoa trái có thể lớn lên nơi người khác. Và chỉ những ai thật sự tự do mới sống được như vậy.
Càng nhìn lại cuộc đời ngài, ta càng thấy rõ ba từ khóa: học, xây, trao.
Ngài học. Học tiếng Việt. Học tiếng Khmer. Học cách sống giữa những dân tộc không phải quê hương sinh học của mình.
Ngài xây. Xây nền đào tạo. Xây chủng viện. Xây cộng đoàn. Xây những điều kiện để Tin Mừng bén rễ.
Ngài trao. Trao bài sai. Trao trách nhiệm. Trao một hội dòng cho tương lai. Trao lòng tin vào những con người còn rất trẻ.
Và ở đây, mỗi người chúng ta có thể tự hỏi: đời sống tôi có đang đi theo ba động từ ấy không? Tôi có còn chịu học không? Tôi có đang xây cái gì cho tương lai của gia đình, giáo xứ, cộng đoàn không? Tôi có biết trao điều mình có cho người khác lớn lên không? Hay tôi chỉ sống để giữ lấy phần của mình?
Nếu gia đình biết học lắng nghe nhau hơn, biết xây bầu khí cầu nguyện và biết trao cho con cái một di sản đức tin, gia đình ấy đang sống linh đạo của người gieo.
Nếu giáo xứ biết đầu tư cho thiếu nhi, người trẻ, giáo lý viên, ơn gọi, người nghèo, giáo xứ ấy đang sống linh đạo của người gieo.
Nếu một linh mục biết kiên nhẫn đào tạo người cộng tác thay vì ôm trọn mọi việc, linh mục ấy đang sống linh đạo của người gieo.
Nếu một người giáo dân biết sống phần việc âm thầm của mình với lòng trung tín, người ấy cũng đang sống linh đạo của người gieo.
Có lẽ đây là điều đẹp nhất ta nhận được khi suy niệm về Đức cha Valentin Herrgott: ngài dạy ta tin vào sức mạnh của những điều âm thầm. Thế gian thường chạy theo cái nổi bật, cái nhanh, cái thấy được ngay. Nhưng Thiên Chúa nhiều lần lại chọn con đường khác. Ngài chọn hạt giống. Ngài chọn men trong bột. Ngài chọn sự kiên nhẫn. Ngài chọn những con người không nhất thiết phải đứng ở trung tâm ánh sáng, nhưng chấp nhận đứng giữa cánh đồng.
Đức cha Valentin đã sống như một người đứng giữa cánh đồng đó. Cánh đồng ấy có tên là Campuchia. Cánh đồng ấy có tên là Cù Lao Giêng. Cánh đồng ấy có tên là những chủng sinh trẻ. Cánh đồng ấy có tên là cha Trương Bửu Diệp trong những năm đầu đời linh mục. Cánh đồng ấy có tên là Dòng Thánh Gia Banam. Cánh đồng ấy có tên là các cộng đoàn được mở rộng dưới thời ngài ở Phnom Penh. Và ngài đã làm điều người gieo phải làm: mang hạt giống ra, cúi xuống, gieo đi, rồi tín thác mùa màng cho Chúa.
Ước gì khi nhìn lại cuộc đời ấy, chúng ta không chỉ thán phục, nhưng thật sự được hoán cải trong cách nghĩ và cách sống. Ước gì chúng ta bớt nôn nóng hơn. Bớt tìm phần nổi hơn. Bớt hỏi “khi nào mới có kết quả” hơn. Và biết hỏi nhiều hơn: hôm nay tôi đã gieo gì? Tôi đã nâng đỡ ai? Tôi đã đầu tư cho ai? Tôi đã để lại chiếc rễ nào cho tương lai? Tôi có đang là cây cầu hay đang là bức tường?
Nếu phải đúc kết thật ngắn về Đức cha Valentin Herrgott, có lẽ ta có thể nói thế này: ngài là một người đã gieo rất nhiều mà không đòi mình phải nắm hết mùa gặt. Và chính vì thế, cuộc đời ngài đi rất xa trong ký ức Hội Thánh.
Xin cho chúng ta học được nơi ngài lòng trung tín của người ở lại thật lâu với điều Chúa trao. Xin cho chúng ta học được nơi ngài sự khiêm tốn của người chịu học ngôn ngữ và văn hóa của dân mình phục vụ. Xin cho chúng ta học được nơi ngài cái nhìn của người xây nền, người đào tạo, người nối kết. Xin cho chúng ta biết yêu những việc nhỏ, yêu những việc chậm, yêu những việc âm thầm, vì rất có thể chính ở đó Thiên Chúa đang chuẩn bị những mùa gặt lớn lao mà hôm nay mắt ta chưa thấy.
Và khi bài này khép lại, ước gì trong lòng mỗi người vẫn còn ngân một hình ảnh: hình ảnh một vị mục tử đến từ rất xa, học tiếng của dân mình, ở lại với chiếc nôi ơn gọi, phong chức và sai người đi, lập dòng cho tương lai, rồi âm thầm gieo hạt cho đến ngày nằm xuống. Một cuộc đời như thế không chỉ đáng nhớ. Một cuộc đời như thế đáng để chúng ta học theo.
Lm. Anmai, CSsR



