Kỹ năng sống

NGƯỜI NGHÈO: TIÊU CHUẨN XÉT “ĐỜI NÀO ĐANG Ở TRONG TU” – Lm. Anmai, CSsR

NGƯỜI NGHÈO: TIÊU CHUẨN XÉT “ĐỜI NÀO ĐANG Ở TRONG TU”

Chúa Giêsu không trừu tượng hóa người nghèo

Người nghèo trong Tin Mừng không phải một ý tưởng đẹp để đặt vào bài giảng. Họ có tên, có khuôn mặt, có một thân thể biết đói, biết đau, biết mệt. Họ đứng ở cổng nhà người giàu như anh Ladarô. Họ chen trong đám đông để chạm vào áo Chúa vì không còn biết tìm ai. Họ là người mù ngồi bên vệ đường, là bà góa bỏ vào hòm tiền hai đồng xu nhỏ, là đám đông theo Chúa đến chiều mà chưa có gì ăn. Họ mang theo những câu chuyện không vừa với một biểu mẫu xin trợ giúp: một khoản nợ kéo dài qua nhiều mùa lúa, một người chồng mất sức lao động, một đứa con nghỉ học để phụ mẹ, một căn bệnh đã bán hết tài sản mà vẫn chưa chữa xong. Khi Chúa Giêsu gặp họ, Người không bắt đầu bằng một nhận định tổng quát về nghèo đói. Người nhìn thấy con người. Người hỏi người mù: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Câu hỏi ấy có vẻ thừa, vì ai cũng thấy anh mù. Nhưng Chúa không lấy sự thiếu thốn của một người làm quyền để nói thay người ấy. Người để anh cất tiếng nói về chính đời mình. Đó là điểm khởi đầu của mọi cuộc gặp gỡ xứng với Tin Mừng.

Ở Việt Nam, người nghèo cũng không sống trong một bức tranh đơn giản. Có người nghèo tiền. Có người đủ ăn nhưng không đủ tiền chữa bệnh. Có gia đình sở hữu một căn nhà nhỏ mà mọi khoản thu nhập đều bị nợ nuốt mất. Có người lao động nhập cư đi lễ đều đặn nhưng không biết mình có được tính là người của giáo xứ hay không. Có cụ già ở một mình, vẫn nói “tôi ổn” vì sợ làm phiền con cháu. Có người khuyết tật bị đối xử như một gánh nặng, người mắc bệnh tâm thần bị tránh mặt, người vừa ra tù về không tìm được ai tin mình, người mẹ đơn thân đứng cuối nhà thờ vì sợ những ánh nhìn. Nếu Cha chỉ hỏi ai thuộc diện nghèo theo sổ sách, Cha sẽ bỏ sót nhiều người. Nếu Cha chỉ tìm những trường hợp đau khổ dễ khiến người khác xúc động, Cha sẽ bỏ sót những nỗi khốn khó âm thầm, kéo dài, không lên hình đẹp. Người nghèo không phải một nhóm người có chung một câu chuyện. Mỗi người phải được gặp như một người.

Hội Thánh Việt Nam đã có những giai đoạn nghèo cùng dân. Nhiều nhà xứ sống bằng bữa cơm đạm bạc. Nhiều linh mục đi những con đường lầy lội mà giáo dân vẫn đi. Nhiều nữ tu chăm bệnh nhân bằng những gì mình có trong tay, nhiều cộng đoàn chia nhau từng bao gạo lúc chính họ cũng thiếu. Ký ức ấy đáng quý, nhưng ký ức không tự bảo đảm cho lòng trung thành hôm nay. Một cộng đoàn có thể kể rất hay chuyện cha ông từng nghèo mà hiện tại không còn biết người lao động quanh mình phải sống bằng bao nhiêu tiền một tháng. Một nhà dòng có thể lưu giữ những tấm ảnh đơn sơ thuở đầu mà những người phục vụ trong nhà hiện nay không được lắng nghe cho tử tế. Nghèo trong quá khứ không thay thế được sự gần gũi hôm nay. Dân Chúa không sống bằng câu chuyện chúng ta đã từng ở bên họ, nếu bây giờ họ không còn tìm thấy một chỗ ngồi bên cạnh chúng ta.

Có những cộng đoàn và cơ sở của Hội Thánh nay có điều kiện vật chất tốt hơn trước. Điều ấy có thể phục vụ nhiều việc lành: một ngôi nhà vững để đón người đến, một phương tiện an toàn để đi mục vụ, một phòng học đủ sáng cho trẻ em, một cơ sở chăm sóc người bệnh sạch sẽ và bền lâu. Của cải tự nó không kể hết câu chuyện luân lý. Câu hỏi nằm ở cách ta có được, sử dụng và để nó uốn nắn trái tim mình. Khi một nơi ở trở nên tiện nghi hơn, người nghèo có còn dám bước vào không? Khi nhà xứ có cổng cao hơn, có ai còn biết đứng đợi ngoài cổng không? Khi lịch mục vụ đầy những cuộc gặp với người có khả năng đóng góp, giờ dành cho người không thể đóng góp còn nằm ở đâu? Khoảng cách vật chất có thể quản lý được; khoảng cách trong cái nhìn mới làm người ta đau. Người nghèo thường nhận ra rất nhanh mình được đón tiếp vì là một người con của Hội Thánh, hay chỉ được tiếp vì câu chuyện của mình hữu ích cho một chương trình bác ái.

Một chiếc xe đẹp không đủ để kết án một linh mục; một căn phòng đơn sơ cũng không đủ để chứng minh ngài yêu người nghèo. Nhưng các dấu hiệu bên ngoài không vô nghĩa. Dân đọc được cách Cha dùng tiền, cách Cha nói về sự thiếu thốn, cách Cha chọn khách mời cho bàn ăn, cách Cha phản ứng khi có người quần áo lấm lem bước vào lúc nhà xứ đang tiếp khách. Họ thấy Cha có kiên nhẫn nghe người không biết trình bày mạch lạc không. Họ thấy Cha có nhớ lời hứa ghé thăm một gia đình khó khăn không. Họ thấy một người giàu có thể gặp Cha nhanh thế nào, và một người nghèo phải chờ bao lâu. Có khi Cha giảng rất đúng về công bằng, nhưng một người phụ bếp vẫn phải nhắc nhiều lần mới được trả khoản tiền công đã hẹn. Có khi giáo xứ quyên góp được một số tiền lớn cho người nghèo ở xa, nhưng không ai để ý đến người giữ xe, lau dọn, sửa điện đang làm việc ngay trong khuôn viên nhà thờ. Những điều ấy ít khi xuất hiện trong báo cáo mục vụ. Chúng lại nói rất rõ đời nào đang được phép đi vào đời tu.

Ưu tiên người nghèo không phải là một nhãn chính trị để dán lên sứ vụ. Đó là đòi hỏi phát xuất từ cách Đức Kitô sống và cách Người muốn được nhận ra. Người đã loan Tin Mừng cho người nghèo. Người đã ngồi cùng những người bị coi thường. Người đã đặt một em nhỏ vào giữa những người đang tranh nhau địa vị. Người đã nói về cuộc phán xét sau cùng bằng những hành động ai cũng hiểu: cho ăn, cho uống, đón tiếp, thăm nom. “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta”, Người đặt chính mình vào cuộc gặp ấy. Lời này không cho phép Cha biến người nghèo thành đề tài phụ, chỉ nhắc tới khi cần vận động quyên góp. Nó hỏi Cha đã gặp ai, đã bỏ qua ai, và đã để ai đứng đợi trước cửa quá lâu.

Ưu tiên ấy cũng không có nghĩa là Cha chỉ được yêu một nhóm người. Mục tử được sai đến với cả cộng đoàn. Người có của cũng cần được nghe Tin Mừng, cần được mời gọi sử dụng của cải cách công chính và quảng đại; người có chức trách cũng cần một lương tâm được đào luyện. Nhưng nếu mọi cuộc gặp đều thuận theo sức hút của tiền bạc và địa vị, người nghèo sẽ luôn là người bị dời sang ngày mai. Họ ít có khả năng đặt lịch, ít biết cách gây chú ý, ít dám nhắc Cha giữ lời. Vì vậy phải có một lựa chọn cụ thể để họ không bị bỏ lại. Cha không cần tuyên bố lựa chọn ấy thật lớn. Cha cần để nó có hình dạng trong lịch sống: giờ thăm bệnh không bị cắt đầu tiên khi bận; cuộc hẹn với gia đình túng thiếu không bị hủy vì xuất hiện một bữa tiệc; lời xin giúp của người không quen biết được xem xét cẩn thận mà không bị gạt đi bằng vẻ khó chịu. Lịch của Cha là một bản văn thần học viết bằng thời gian. Nó cho thấy ai có thể đến gần Cha và ai phải đứng ngoài.

Có một sự cám dỗ tinh vi trong đời mục vụ: chỉ yêu người nghèo khi họ dễ thương. Ta cảm động trước một bà cụ hiền lành, nhưng mau mất kiên nhẫn với một người đàn ông xin giúp mà nói năng cộc cằn. Ta sẵn lòng trợ giúp một em bé học giỏi, nhưng lúng túng trước một thiếu niên bỏ học, hay gây gổ và đã nhiều lần làm người khác thất vọng. Ta thích câu chuyện về một gia đình nghèo chăm chỉ vươn lên, nhưng bối rối trước một gia đình đã nhận giúp đỡ mà vẫn tiếp tục rối ren. Sự khốn khó có thể làm con người kiệt sức, phòng vệ, nghi ngờ, đôi khi đưa ra những lựa chọn sai. Tôn trọng phẩm giá của họ không buộc ta phải coi mọi điều họ làm là đúng; nó đòi ta đừng rút lại tình người khi họ không đáp ứng hình ảnh người nghèo mà ta muốn gặp. Giúp đỡ cần có phân định, có giới hạn và có sự cộng tác thích hợp. Nhưng sự phân định của Tin Mừng bắt đầu từ việc nhận ra trước mặt mình là một người có thể đang rất đau, chứ không phải một hồ sơ phiền phức.

Một linh mục có thể tự hỏi: tại sao tôi càng làm nhiều việc bác ái lại càng thấy bực bội với người đến xin? Có thể vì ngài đã quá mệt. Có thể vì nhiều yêu cầu vượt quá khả năng. Có thể vì ngài phải đối diện với những trường hợp thiếu trung thực. Cũng có thể vì việc giúp đỡ đã trở thành một hệ thống mà trong đó ngài luôn đứng phía có quyền cho, còn người kia luôn đứng phía phải trình bày mình xứng đáng được nhận. Nếu không đem kinh nghiệm ấy vào cầu nguyện và đối thoại, sự mệt mỏi sẽ biến thành khinh miệt. Rồi một cái thở dài, một câu hỏi sắc, một ánh mắt nghi ngờ sẽ đi trước mọi món quà. Người nhận có thể cầm gạo về, nhưng mang theo cả sự nhục nhã. Cha không phải người có vô hạn tiền bạc và sức lực. Cha được phép nói mình chưa thể giúp, được phép tìm một cách giúp khác. Nhưng Cha luôn có thể cố gắng nói sao để người trước mặt không phải đánh đổi phẩm giá lấy một cơ hội được nghe.

Người nghèo còn đưa ra cho đời tu một phép thử khác: họ có thể làm xáo trộn vẻ ngăn nắp mà ta yêu thích. Họ đến sai giờ. Họ cần được nghe đúng lúc ta muốn nghỉ. Chuyện của họ có nhiều đầu mối, không giải quyết xong bằng một cuộc điện thoại. Họ nhắc ta rằng công việc mục vụ không vận hành hoàn toàn như một dự án có mục tiêu, thời hạn và kết quả gọn gàng. Có người được giúp một lần rồi khá hơn. Có người phải được đồng hành nhiều năm mà hoàn cảnh vẫn bấp bênh. Có người qua đời trước khi những lời cầu nguyện và nỗ lực của ta đem lại điều ta mong. Ở lại với những đời sống ấy là một cách nghèo của chính người phục vụ: chấp nhận mình không phải vị cứu tinh, không thể sửa hết mọi vết nứt, nhưng có thể giữ cho một người khỏi phải chịu đau một mình.

Nghèo và phẩm giá

Giúp người nghèo bắt đầu bằng một điều rất giản dị mà cũng rất khó: đừng tước khỏi họ quyền là một con người trọn vẹn. Một người đến xin tiền viện phí vẫn có ý kiến, ký ức, đức tin, lòng tự trọng và những khả năng mà Cha chưa biết. Một người mẹ nhận học bổng cho con không vì thế mà trao cho giáo xứ quyền kể chuyện gia đình mình trước đám đông. Một người già nhận phần cơm không mắc nợ người phát cơm một nụ cười đúng lúc máy ảnh hướng tới. Của trao đi có thể là của cộng đoàn, của ân nhân hoặc của chính Cha; phẩm giá của người nhận không thuộc về ai để đem ra sử dụng. Nếu một hành vi bác ái khiến người được giúp phải đứng trước máy ảnh trong tư thế biết ơn, phải kể lại điều riêng tư để chứng minh mình đáng thương, hoặc phải nghe một bài khuyên răn giữa chỗ đông người, thì hành vi ấy cần được xét lại, dù số tiền trao đi là thật.

Thời đại truyền thông khiến cám dỗ này trở nên dễ dàng. Một chuyến thăm có thể biến thành album ảnh chỉ sau vài phút. Một câu chuyện đau buồn có thể được viết lại thành lời kêu gọi rất cảm động. Có những trường hợp truyền thông giúp tìm được nguồn lực cần thiết và lan tỏa lòng quảng đại; điều đó đáng trân trọng. Nhưng trước khi đưa hình ảnh hoặc hoàn cảnh của một người lên mạng, phải hỏi người ấy có thực sự hiểu chuyện gì sẽ xảy ra với hình ảnh của mình không, có quyền từ chối mà vẫn được giúp không, và câu chuyện ấy có thể làm họ hoặc con cái họ tổn thương về sau không. Sự đồng ý được đưa ra trong tình thế cùng quẫn rất dễ trở thành một sự đồng ý không tự do. Có những khoản hỗ trợ nên được trao mà không ai biết ngoài những người cần biết. Có những gương mặt cần được giữ khỏi ống kính. Tin Mừng không cần một người đang khổ phải phơi nỗi khổ ấy ra để chứng minh lòng thương xót của Hội Thánh.

Chúa Giêsu có những lúc bảo người được chữa lành đừng nói với ai. Không thể lấy một chi tiết ấy làm quy tắc cấm mọi lời chứng công khai, vì Tin Mừng cũng ghi lại những người đã làm chứng về việc Chúa thực hiện nơi họ. Nhưng thái độ của Người giúp ta nhớ: con người quan trọng hơn danh tiếng của người chữa lành. Chúa không cần chiếm lấy câu chuyện của họ. Người trả họ về với đời sống, gia đình và cộng đoàn. Người nghèo mà ta giúp cũng cần được tự do bước tiếp trong câu chuyện của chính họ. Nếu Cha thường xuyên kể một trường hợp đã được mình giúp để minh họa bài giảng, kể cả khi giấu tên, hãy tự hỏi người trong cuộc có thể bị nhận ra không, có muốn câu chuyện ấy được kể không, và mình kể để phục vụ điều gì. Một câu chuyện xúc động có thể làm bài giảng mạnh hơn trong vài phút, nhưng sự tin cậy của một con người có thể mất đi rất lâu.

Tôn trọng phẩm giá cũng có nghĩa là biết hỏi người ta cần gì. Ta dễ mang thứ mình có và gọi đó là đáp án. Một gia đình cần tiền học phí, ta đem quần áo cũ. Một người bệnh cần người đưa đến bệnh viện, ta gửi một lời động viên. Một người đang chịu bạo lực cần được đưa đến nơi an toàn và gặp người có chuyên môn, ta chỉ bảo họ nhẫn nhịn. Một người thất nghiệp cần cơ hội làm việc, ta tiếp tục tặng những phần quà khiến họ phải xếp hàng trước công chúng. Quà có thể quý, và nhiều lúc cấp thiết. Nhưng lắng nghe cho biết quà ấy có đúng chỗ không. Cha có thể không đáp ứng được điều họ cần nhất; ít nhất Cha đừng vội thay tiếng nói của họ bằng kế hoạch mình đã chuẩn bị sẵn.

Có những người nghèo không muốn nhận giúp đỡ theo cách ta đưa ra. Ta đừng vội gọi đó là kiêu ngạo hay vô ơn. Có thể họ sợ bị hàng xóm biết. Có thể họ đã từng bị hứa rồi thất hứa. Có thể một túi quà không giải quyết được điều cấp bách, còn việc phải đứng nhận trước nhiều người làm họ đau. Có thể họ muốn làm một công việc để có thu nhập hơn là được tặng tiền. Nếu ta thực lòng muốn giúp, lời từ chối cũng là một thông tin cần nghe. Nó cho thấy người ấy vẫn đang cố bảo vệ một phần quyền quyết định về đời mình. Bác ái biết kính trọng quyền ấy sẽ tìm được những con đường sâu hơn: kết nối với công việc phù hợp, hỗ trợ học nghề, cùng gia đình lập kế hoạch chi tiêu khi họ muốn, giúp họ tiếp cận dịch vụ y tế, hoặc đơn giản là tiếp tục hiện diện mà không ép buộc.

Một giáo xứ có thể tổ chức bác ái rất chu đáo mà vẫn vô tình giữ người nghèo ở vị trí người nhận vĩnh viễn. Họ được mời đến khi phát quà, nhưng không được hỏi ý kiến khi xây dựng chương trình. Họ được nhắc tên trong lời cầu nguyện, nhưng ít khi được mời tham gia các quyết định ảnh hưởng đến đời sống cộng đoàn. Họ được trao một phần cơm, nhưng không ai nghĩ rằng họ cũng có thể nấu một món ăn, dạy một nghề, chăm một luống cây, dẫn một giờ kinh, thăm một người bệnh khác. Không phải ai cũng có cùng khả năng và thời gian; đừng biến sự tham gia thành điều kiện để được giúp. Nhưng hãy để cửa mở. Người nghèo có điều để trao. Một cộng đoàn chỉ biết cho họ mà không biết nhận từ họ sẽ dần quên rằng mình đang gặp anh chị em.

Cha có thể học ở một người mẹ bán hàng rong sự bền bỉ cầu nguyện giữa những chuyến xe sớm. Cha có thể học ở một người công nhân vừa mất việc cách giữ lời hứa với con. Cha có thể được một bệnh nhân nghèo an ủi vào đúng ngày mình tưởng mình đến để an ủi họ. Những cuộc gặp ấy không cần được kể lại như những câu chuyện tô hồng nghèo khổ. Thiếu ăn vẫn là thiếu ăn; bệnh không tiền chữa vẫn là một bất công cần được đối diện. Nhưng phẩm giá con người không đợi đến khi hết nghèo mới xuất hiện. Nó có sẵn nơi họ. Bác ái đích thực nhận ra phẩm giá ấy, tìm cách bảo vệ nó và không dùng lời ca ngợi sức chịu đựng để né tránh trách nhiệm thay đổi những điều có thể thay đổi.

Chính trong các mối quan hệ lao động thường ngày, phẩm giá người nghèo được thử rõ ràng. Một cơ sở Công giáo có thể phát hàng trăm phần quà mỗi năm mà vẫn trả công không thỏa đáng cho người làm bếp, người trông cổng, người dọn vệ sinh. Có thể khen họ là “người nhà” nhưng dùng hai chữ thân tình ấy để né một cuộc trao đổi minh bạch về giờ làm, ngày nghỉ và trách nhiệm. Có thể nói yêu người nghèo ở nơi xa mà cáu gắt với người làm công đang đứng ngay trước mặt. Nếu Hội Thánh muốn lời nói về người nghèo có sức nặng, hãy bắt đầu từ người đang làm việc trong các cơ sở của mình. Trả công công bằng, nói rõ thỏa thuận, giữ lời hẹn, cho người lao động được nghỉ ngơi và lắng nghe khi họ gặp khó khăn: đó không phải phần phụ của công việc bác ái. Đó là bác ái đi vào cách vận hành hằng ngày.

Người nghèo cũng cần sự thật. Lòng thương xót không buộc Cha hứa điều mình không thể làm. Nếu quỹ bác ái có giới hạn, hãy nói rõ giới hạn ấy với sự tôn trọng. Nếu một khoản vay khó có khả năng được hoàn trả, hãy gọi đúng bản chất của khoản hỗ trợ để cả hai phía không sống trong một lời hứa giả. Nếu cần xem xét một lời đề nghị, hãy giải thích quy trình và thời gian trả lời, rồi giữ lời. Người đang túng thiếu có thể chịu một câu trả lời “hiện giờ chúng tôi chưa thể giúp đủ”; điều làm họ thêm đau là bị cho chờ đợi vô hạn, bị chuyền từ người này sang người khác, hoặc được hứa cho qua chuyện. Sự ngay thẳng giữ cho bác ái không trở thành một thứ quyền lực mơ hồ.

Tôn trọng phẩm giá đòi hỏi bảo vệ sự riêng tư. Những người giúp đỡ trong giáo xứ có thể cần chia sẻ thông tin để phối hợp, nhưng chỉ nên chia sẻ điều cần thiết với người có trách nhiệm. Một hoàn cảnh nợ nần, bệnh tật, đổ vỡ hôn nhân hay tổn thương của trẻ em không được trở thành chuyện kể trong cuộc họp rộng hoặc bữa ăn thân mật. Cũng không thể lấy lý do “cầu nguyện cho họ” để truyền đi chi tiết mà chính họ không muốn công khai. Khi người nghèo phải kể câu chuyện của mình nhiều lần cho nhiều người chỉ để nhận cùng một sự hỗ trợ, chính cách tổ chức của chúng ta có thể làm họ mệt thêm. Một cộng đoàn biết giữ kín sẽ tạo ra một sự an toàn mà nhiều món quà không mua được.

Có lúc phẩm giá của người nghèo buộc Cha nói lên một lời khó nghe. Cha gặp một gia đình liên tục bị chủ nợ đe dọa, một nhóm lao động không được trả đủ công, những đứa trẻ phải bỏ học, một người bệnh bị từ chối vì không có khả năng chi trả. Không phải mọi tình huống đều có thể giải quyết bằng một lời lên tiếng công khai; có khi làm như vậy còn đặt người yếu vào nguy hiểm. Nhưng cũng không thể thu hẹp sứ vụ vào việc an ủi từng nạn nhân rồi để nguyên mọi nguyên nhân có thể sửa được. Cha cần tìm người có năng lực, hiểu sự việc, lắng nghe người chịu ảnh hưởng và chọn cách hành động khôn ngoan. Đôi khi đó là hòa giải một tranh chấp. Đôi khi là kết nối trợ giúp pháp lý hoặc chuyên môn thích hợp. Đôi khi là nói trong bài giảng về lương tâm, tiền lương và trách nhiệm mà không biến một gia đình cụ thể thành ví dụ. Bênh vực người nghèo phải giúp họ có thêm chỗ đứng, chứ không lấy nỗi khổ của họ làm sân khấu cho sự can đảm của mình.

Cũng có những lúc sự giúp đỡ tốt nhất của Cha là nhận ra giới hạn của mình. Một người đang bị bạo hành cần được bảo vệ và có thể cần sự hỗ trợ chuyên môn; một người có dấu hiệu khủng hoảng tâm thần cần được tiếp cận chăm sóc phù hợp; một trẻ em đang gặp nguy cơ cần người lớn có trách nhiệm hành động để bảo đảm an toàn. Linh mục và cộng đoàn có thể ở bên, lắng nghe, kết nối, trợ giúp vật chất và thiêng liêng. Sự tận tâm ấy càng có giá trị khi biết mời đúng người cùng tham gia. Người nghèo không đáng phải nhận một giải pháp vượt quá khả năng của người đưa ra, chỉ vì người ấy sợ thừa nhận mình cần giúp đỡ.

Ngồi xuống với người nghèo không phải một dáng chụp ảnh. Đó là một cách từ bỏ vị trí quen thuộc. Khi ngồi xuống, Cha khó giảng giải từ trên cao. Cha phải nghe những điều không vừa với nhận định ban đầu của mình. Cha có thể phát hiện người đến xin tiền vốn đã nhiều lần cố tự xoay xở. Cha có thể nhận ra một gia đình không đến nhà thờ nhiều vì giờ làm việc, đường đi và gánh chăm sóc người bệnh, chứ không hẳn vì nguội lạnh. Cha có thể hiểu một người trễ hẹn đã phải đợi xe, xin đổi ca làm, hoặc không có tiền đi lại. Những hiểu biết ấy không xóa mọi trách nhiệm cá nhân; chúng làm cho phán đoán của ta công bằng hơn. Một cộng đoàn gần người nghèo không được xây bằng sự cả tin. Nó được xây bằng sự thật đủ kiên nhẫn để nhìn hết một con người.

Và rồi Cha cũng phải để họ hỏi lại mình. Họ có thể hỏi tại sao giáo xứ tổ chức một bữa tiệc lớn mà không có tiền hỗ trợ học sinh bỏ học. Họ có thể hỏi tại sao một người có tiếng nói được đón ngay, còn họ phải chờ. Có thể câu hỏi ấy thiếu thông tin; có thể việc chi tiêu đã được dành từ một nguồn không thể chuyển sang mục đích khác. Cha có quyền giải thích. Nhưng trước khi giải thích, hãy nghe phần sự thật nằm trong cảm nhận của họ. Người nghèo không luôn đúng, cũng như Cha không luôn đúng. Một cộng đoàn trưởng thành không sợ những câu hỏi như thế, vì biết rằng tiền của, địa vị và thói quen đều có thể làm mắt mình mờ đi. Sự minh bạch thích hợp với cộng đoàn, sự sẵn lòng nhận lỗi và sửa cách làm sẽ nói về Tin Mừng mạnh hơn một lời khẳng định rằng chúng ta luôn yêu người nghèo.

Sau cùng, người nghèo không phải thước đo để Cha tự thấy mình đạo đức. Nếu Cha đi thăm họ rồi trở về với cảm giác mình tốt hơn người khác, sự gặp gỡ đã bị lệch. Nếu Cha kể về họ chủ yếu để chứng minh đời tu của mình còn ý nghĩa, họ lại bị dùng thêm một lần nữa. Hãy để họ hiện diện trước Cha như những người được Thiên Chúa yêu, có lịch sử và tự do riêng. Có người sẽ cảm ơn Cha. Có người sẽ không. Có người sẽ trở thành bạn. Có người Cha chỉ gặp một lần. Điều Cha được mời gọi giữ không phải là kết quả đẹp của từng cuộc gặp, mà là một trái tim còn nhận ra Đức Kitô nơi người bé nhỏ, kể cả khi Người đến trong dáng vẻ khiến Cha bất tiện.

Đến cuối ngày, phép xét mình có thể rất cụ thể. Hôm nay Cha đã dành thời gian cho ai? Cha nói bằng giọng nào với người không thể giúp ích cho công việc của mình? Cha có bảo vệ câu chuyện riêng của người đã tin Cha không? Có ai trong cộng đoàn đang làm việc mà chưa được đối xử công bằng? Có khoản chi nào cần được cân nhắc lại? Có người nào Cha đã hứa sẽ trở lại thăm nhưng rồi quên mất? Những câu hỏi ấy không nhằm kết án Cha; chúng đưa Cha về với nơi đời tu gặp đời thật. Bởi có một thứ “đời” muốn bước vào nhà tu bằng tiền bạc, tiện nghi, uy tín và quyền được ưu tiên. Cũng có một đời sống khác đang gõ cửa: đời của người nghèo, người bệnh, người bị bỏ quên, người không biết phải mở lời thế nào. Khi Cha mở cửa cho họ bước vào với đầy đủ phẩm giá, Cha sẽ thấy chính mình được dẫn trở lại gần Đức Kitô.

Lm. Anmai, CSsR

Bài viết liên quan

Back to top button
error: Content is protected !!