
TĨNH TÂM TU SĨ NĂM 2027
Chủ đề xuyên suốt: Ở LẠI VỚI CHÚA — ĐỂ NGƯỜI KHÁC ĐƯỢC BÌNH AN KHI Ở BÊN TA
MỖI THÁNG, XIN DỪNG LẠI MỘT CHÚT ĐỂ THƯƠNG NHAU LÂU HƠN
Có những buổi sáng, chuông nhà nguyện vừa reo, chúng ta đã bật dậy rất nhanh. Nhưng cũng có những buổi sáng, tiếng chuông reo xong rồi mà tâm hồn vẫn còn đang thương lượng với chiếc gối: “Thêm một chút nữa thôi!” Chiếc gối chẳng tuyên khấn điều gì, vậy mà đôi khi lại có sức giữ người tu sĩ mạnh hơn cả một chương trình đã được cộng đoàn nhất trí thông qua.
Đời dâng hiến có những điều rất đẹp và cũng rất thật như thế. Có những giờ cầu nguyện bình an, có những ngày làm việc quên mệt, có những lần cảm thấy mình được Chúa yêu đến mức không biết nói gì ngoài lời tạ ơn. Rồi cũng có những hôm vừa đọc kinh xong đã khó chịu vì một chuyện nhỏ; vừa suy niệm về lòng thương xót đã thấy người bên cạnh dùng cái ly của mình; vừa xin Chúa ban ơn từ bỏ đã phát hiện ai đó tự tiện dời chiếc ghế quen thuộc. Hóa ra, có những điều chúng ta sẵn sàng trao cho Chúa, nhưng nếu Chúa muốn đụng đến chiếc ghế, thời khóa biểu hoặc cách nấu món canh mình thích, thì cuộc trao đổi cần thêm ít phút.
Chúng ta có thể mỉm cười khi nhận ra mình trong những chuyện ấy. Một nụ cười hiền giúp người tu sĩ bớt sợ phải nhìn lại bản thân. Bởi có lúc, điều làm chúng ta mệt không hẳn là khuyết điểm đang có, mà là công sức bỏ ra để chứng minh rằng mình không có khuyết điểm ấy. Người nóng tính cố giải thích rằng mình chỉ nhiệt thành. Người hay kiểm soát nói rằng mình quá có trách nhiệm. Người khó đón nhận góp ý cho rằng người khác chưa hiểu hoàn cảnh. Cứ thế, con người thật ngồi chờ trong lòng, còn chúng ta bận dẫn một phiên bản đã được chỉnh trang đi gặp mọi người.
Ngày tĩnh tâm là dịp mời con người thật ấy bước ra trước mặt Chúa. Không cần trang điểm cho sự mệt mỏi. Không phải dùng một câu đạo đức để che đi nỗi buồn. Cũng không cần đọc một lời nguyện dài đến mức cuối cùng chính mình quên mất điều ban đầu định thưa. Có khi lời cầu nguyện thành thật nhất chỉ là: “Lạy Chúa, dạo này con khó sống quá. Xin giúp con.” Chúa không bối rối vì lời thú nhận ấy. Có lẽ điều khó hơn nằm ở phía chúng ta: dám tin rằng mình vẫn được yêu khi chưa kịp trở nên dễ thương.
Cuốn sách này được viết để đồng hành với những khoảng dừng như vậy trong năm 2027. Mỗi tháng, chúng ta dành thời gian trở về với Lời Chúa và nhìn lại một phần đời dâng hiến: sự thành thật với bản thân, những vết thương còn ảnh hưởng đến cách yêu, lời khấn khó nghèo, đời sống tình cảm, đức vâng phục, tình huynh đệ, sự tha thứ, công việc phục vụ, đời cầu nguyện, tuổi già và niềm hy vọng. Sau cùng, chúng ta cùng nhìn lại một năm để xin cho cách hiện diện của mình giúp người khác cảm nhận được lòng nhân hậu của Chúa.
Những đề tài ấy rất gần. Chúng ở trong nhà nguyện, nhưng cũng có mặt ở bàn ăn, phòng họp, nhà bếp, hành lang và những tin nhắn gửi lúc chưa kịp bình tĩnh. Đôi khi, một mẩu bánh để dành trong tủ lạnh cũng đủ mở ra một bài xét mình khá đầy đủ về quyền sở hữu, ý riêng và khả năng tha thứ. Chuyện nghe thì nhỏ, nhưng phản ứng của chúng ta trước chuyện nhỏ có thể cho thấy những điều đang lớn trong lòng. Nếu một miếng bánh biến mất khiến ta nhớ suốt ba ngày, có lẽ điều cần tìm lại không chỉ là miếng bánh.
Tĩnh tâm giúp chúng ta nhận ra những điều ấy mà không phải khinh ghét chính mình. Ta có thể thấy một phản ứng chưa trưởng thành và bắt đầu học cách khác. Ta có thể nhận ra mình đang cô đơn, cần được lắng nghe, cần nghỉ ngơi hoặc cần tìm sự đồng hành. Ta cũng có thể nhìn thấy những nỗ lực âm thầm mà lâu nay mình chưa biết tạ ơn: đã bớt một lần nói nặng, đã chịu nghe thêm một chút, đã xin lỗi sớm hơn, đã không bỏ cuộc sau một ngày sống chưa tốt.
Sự trưởng thành thường đến chậm hơn lòng mong muốn. Chúng ta muốn sau một kỳ tĩnh tâm, mọi khó khăn nội tâm đều được giải quyết gọn gàng. Ra khỏi nhà nguyện, lòng sẽ thanh thản, nét mặt sẽ hiền hòa, ai nói gì cũng mỉm cười. Nhưng rồi vừa về đến phòng, thấy đồ dùng bị dời chỗ, ta chợt nhận ra ân sủng vẫn đang cần sự cộng tác rất cụ thể của mình. Chúa đã làm việc; phần ta là tập sống điều vừa cầu nguyện, có khi phải tập lại ngay trong buổi chiều hôm ấy.
Vì thế, xin đừng đọc những trang này với áp lực phải sửa hết mọi sự trong một tháng. Mỗi người có lịch sử, sức khỏe, hoàn cảnh và nhịp trưởng thành riêng. Có những điều cần một quyết tâm rõ ràng. Có những điều cần thời gian, đối thoại và sự trợ giúp thích hợp. Một vết thương lâu năm không biến mất chỉ vì chúng ta đã nghe một bài suy niệm cảm động. Một tương quan bị tổn hại cũng cần nhiều hành vi trung tín để được xây lại. Sống đời thiêng liêng đòi ta biết cậy trông và biết làm những việc cần làm.
Khi đọc, cũng xin giữ cuốn sách ở gần mình. Có một cách đọc sách đạo đức rất quen: vừa gặp một đoạn nói về nóng tính, ta lập tức nhớ đến một người; gặp đoạn nói về quyền bính, ta nghĩ ngay đến người khác; đến phần xét mình thì trong đầu đã có gần đủ danh sách cộng đoàn. Đọc như thế cũng chăm chú lắm, chỉ tiếc rằng người cần gặp mình trong trang sách lại cứ được cho nghỉ.
Nếu có đoạn nào khiến chúng ta muốn gấp sách lại và nói: “Tác giả chắc chưa hiểu hoàn cảnh của tôi,” thì cũng cứ bình an. Có thể đoạn ấy chưa phù hợp với điều mình đang sống. Nhưng cũng có thể nó vừa chạm đến một điều mình còn muốn giữ kín. Hãy ở lại thêm một chút, hỏi Chúa và lắng nghe. Cuốn sách không biết tên chúng ta. Chúa thì biết, và Người biết với một tình yêu đủ kiên nhẫn để không bỏ cuộc trước những điều ta vẫn đang loay hoay.
Mỗi bài tĩnh tâm có thể được đọc chậm, chia thành nhiều lần, đem vào giờ cầu nguyện riêng hoặc sử dụng trong sinh hoạt cộng đoàn tùy hoàn cảnh. Đừng lo nếu có hôm chỉ một đoạn ngắn giữ mình lại rất lâu. Có khi một câu hỏi thành thật có ích cho cả ngày. Cũng đừng buồn nếu đọc xong chưa thấy cảm xúc gì đặc biệt. Một lời nhắc có thể âm thầm ở lại, rồi đến đúng lúc giúp ta dừng trước một câu nói làm đau người khác. Đó đã là điều quý.
Nếu được, sau mỗi tháng, hãy chọn một việc nhỏ để tập. Nhỏ đến mức có thể làm thật: chào một người mình hay tránh; nghe hết một câu trước khi phản bác; giữ một lời hẹn; xin lỗi về một việc rõ ràng; đặt điện thoại xuống khi người khác đang nói; hỏi thăm một anh chị em mà lâu nay mình chỉ gặp để trao việc. Đừng vội quyết tâm “từ nay sẽ yêu thương tất cả mọi người trong mọi hoàn cảnh” rồi sáng hôm sau lại cáu vì một người đóng cửa hơi mạnh. Một bước vừa sức, được làm đều đặn, có thể đưa ta đi xa.
Cuốn sách cũng mong đem lại cho người đọc một chút nhẹ lòng. Đời dâng hiến có những lúc rất nghiêm túc, nhưng người tu sĩ vẫn cần biết vui. Vui vì được sống bên nhau, vì một chuyện vụng về vô hại, vì nhận ra mình cũng có những tính nết khá buồn cười. Biết cười hiền về bản thân giúp ta dễ nhận lỗi hơn. Ta bớt phải giữ dáng vẻ của người luôn đúng, bớt làm cho mỗi lần góp ý trở thành một buổi bảo vệ luận án về sự vô tội của mình. Tiếng cười ấy cần giữ sự tử tế: để mọi người được gần nhau hơn, để người yếu không trở thành đề tài mua vui.
Ước mong qua mười hai tháng, chúng ta có thể sống thật hơn trước Chúa và dễ đến gần nhau hơn trong cộng đoàn. Người bên cạnh có thể chưa biết ta đã đọc bao nhiêu trang, nhưng họ sẽ nhận ra nếu được nghe một câu trả lời dịu hơn. Họ có thể không biết quyết tâm của ta là gì, nhưng sẽ thấy nếu ta biết giữ lời, biết nhận lỗi và không đem chuyện riêng của họ ra kể. Những thay đổi ấy đem lời cầu nguyện đi vào căn nhà mình đang sống.
Xin mở cuốn sách với lòng tự do ấy. Hãy đem theo cả nhiệt thành lẫn mệt mỏi, cả lòng biết ơn lẫn điều còn chưa hiểu. Chúng ta cùng đến trước Chúa như những người đã được gọi và vẫn đang học đáp lại. Có tháng bước được xa, có tháng chỉ đủ sức đứng vững, có tháng phải xin một bàn tay nâng đỡ. Trong mọi tháng, chúng ta vẫn có thể trở về.
Và nếu đang đọc mà chợt nhận ra: “Ôi, đoạn này giống mình quá!”, xin đừng vội xem đó là một tai nạn. Có thể đó chính là lúc cuộc tĩnh tâm bắt đầu.
Trở về với tình yêu thuở ban đầu, canh tân đời sống thánh hiến, xây dựng tình huynh đệ và lên đường phục vụ.
Có một câu hỏi người tu sĩ cần mang vào những ngày tĩnh tâm: Sau những năm tháng theo Chúa, trái tim tôi đang trở thành trái tim như thế nào? Tôi có biết lắng nghe hơn không? Có dịu dàng hơn với người yếu đuối không? Có còn vui khi bước vào nhà nguyện? Có thể sống với anh chị em mà không luôn đòi họ phải giống mình? Người đến với tôi có gặp được một chút lòng thương xót của Chúa, hay phải mang thêm nỗi sợ bị xét đoán?
Đời tu được hình thành qua những điều rất cụ thể: một giờ cầu nguyện được gìn giữ giữa ngày bận rộn, một lời xin lỗi không trì hoãn, một quyết định trung thực khi chẳng ai kiểm tra, một lần chịu ngồi xuống nghe người anh em nói hết câu. Những việc ấy âm thầm định hình con người thánh hiến. Và chính ở đó, người tu sĩ khám phá mình đang để Chúa dẫn đi hay đang dùng đời tu để bảo vệ những ý riêng.
Mười hai bài tĩnh tâm năm 2027 được nối kết thành một tiến trình: nhớ lại mình được yêu, trở về với Chúa, thành thật với bản thân, để Chúa chữa lành, canh tân các lời khấn, học sống cộng đoàn, phục vụ trong tự do, đón nhận sự mong manh và trao lại đời mình. Mỗi tháng có một đoạn Lời Chúa, một trọng tâm suy niệm, những câu hỏi xét mình và một thực hành cụ thể. Khi bước sang tháng mới, cộng đoàn dành ít phút nhìn lại điều đã tập sống trong tháng trước, để những ngày tĩnh tâm dần trở thành một nếp sống.
THÁNG MỘT — CHÚA VẪN NHỚ NGÀY ĐẦU TÔI ĐẾN
Trở về với tình yêu khởi đầu của ơn gọi.
Lời Chúa: Ga 1,35–39 — Các môn đệ đầu tiên đến xem nơi Đức Giêsu ở và ở lại với Người.
Có những buổi sáng đầu năm, người tu sĩ mở cửa nhà nguyện khi trời còn chưa sáng hẳn. Ghế ngồi vẫn ở chỗ cũ, ngọn đèn chầu vẫn lặng lẽ cháy, trang sách kinh mở ra với những lời đã đọc biết bao lần. Mọi sự quen thuộc đến mức đôi khi ta không còn nhận ra mình đang đứng trước một hồng ân. Ta biết giờ nào phải có mặt, biết đến lượt ai xướng kinh, biết sau giờ nguyện sẽ là Thánh lễ, điểm tâm và một ngày đầy công việc. Nhưng giữa sự chính xác của thời khóa biểu ấy, có thể đã lâu rồi ta chưa tự hỏi: tôi có còn vui vì được đến đây không? Tôi có còn nhận ra Đấng đang chờ mình không? Hay tôi chỉ đang tiếp tục một nếp sống đã đi vào cơ thể, trong khi lòng mình còn ở rất xa?
Đầu năm thường khiến người ta nghĩ đến những điều cần làm. Một cộng đoàn có chương trình mới, một cơ sở có dự định mới, một người phụ trách có những lo toan mới. Ta nhìn vào những tháng phía trước và bắt đầu tính toán: phải sửa chỗ nào, tổ chức việc gì, bổ sung nhân sự ra sao, làm thế nào để đáp ứng những nhu cầu ngày càng nhiều. Những việc ấy có chỗ đứng của chúng. Nhưng trước khi cầm lấy bản kế hoạch, người tu sĩ được mời ngồi lại trước mặt Chúa và nhớ rằng đời mình đã bắt đầu từ một cuộc gặp gỡ. Có một thời ta chưa biết quản trị, chưa biết giảng dạy, chưa đủ kinh nghiệm để điều hành bất cứ điều gì. Ta đến với hai bàn tay còn vụng, một hiểu biết còn ít ỏi và một trái tim chưa hề hình dung hết những gì đang chờ mình. Vậy mà Chúa đã đón nhận.
Có lẽ điều ta cần nhất vào đầu năm là để ký ức ấy được sống lại. Ta đã từng muốn thuộc về Chúa. Ta đã từng nghe tên Người và thấy trong lòng có một điều gì không dễ giải thích. Ta đã từng nhìn một người sống đời tận hiến rồi tự hỏi liệu mình có thể đi con đường ấy không. Ta đã từng bước vào nhà nguyện, quỳ xuống và thưa với Người một lời rất vụng. Ta đã từng sợ, từng do dự, từng muốn đi rồi muốn ở lại. Nhưng qua những giằng co ấy, một lời mời vẫn âm thầm lớn lên. Hôm nay, sau nhiều năm, ta có thể đã quên giọng nói đầu tiên của lòng mình. Chúa vẫn biết ngày ấy.
Nói rằng Chúa vẫn nhớ ngày đầu tôi đến là nhìn nhận rằng đời tôi luôn ở trong sự hiểu biết và tình yêu của Người. Không một chặng đường nào của tôi bị thất lạc trước mặt Chúa. Người biết người thanh niên, người thiếu nữ đã đứng trước cổng tu viện năm nào. Người biết chiếc vali mang theo những gì, biết lòng người ấy đã háo hức ra sao, biết những nỗi sợ được giấu dưới vẻ bình tĩnh. Người biết cả những điều khi ấy tôi chưa hiểu về chính mình. Tôi tưởng mình đến vì một động lực thật trong sáng, nhưng Người đã thấy trong đó cả lòng quảng đại lẫn nhu cầu được chấp nhận, cả niềm tin lẫn một chút mơ mộng, cả khát vọng dâng hiến lẫn những vết thương chưa có tên. Người đã đón lấy con người cụ thể ấy và bắt đầu dẫn đi.
Bởi vậy, trở về với tình yêu khởi đầu không đòi ta phải dựng lại một bức ảnh thật đẹp về bản thân. Ta có thể nhìn lại trong sự thật. Có những ngày đầu đầy sốt sắng, cũng có những ngày đầu nhiều lúng túng. Có người bước vào đời tu từ một gia đình nâng đỡ, có người phải đi qua sự phản đối và nước mắt. Có người nhận ra tiếng gọi khá sớm; có người chỉ dám đáp lại sau nhiều năm lẩn tránh. Có người đến với một niềm vui rõ rệt; có người đến trong niềm tin còn run rẩy. Chúa đã làm việc giữa những hoàn cảnh rất khác nhau ấy. Điều đáng tạ ơn là Người đã không đợi chúng ta hiểu hết mọi sự rồi mới gọi.
Trong đoạn Tin Mừng đầu tiên về các môn đệ đi theo Đức Giêsu, có một sự giản dị khiến ta cần dừng lại. Hai người nghe lời giới thiệu của Gioan rồi đi theo Người. Họ chưa có một chương trình dài hạn, chưa biết những miền đất sẽ đặt chân tới, chưa hiểu con đường ấy rồi sẽ đưa mình đến đâu. Đức Giêsu quay lại và hỏi họ đang tìm gì. Câu hỏi đến trước mọi lời giao việc. Người muốn họ nhận biết điều đang thúc đẩy bước chân mình. Họ thưa bằng một câu hỏi về nơi Người ở. Rồi họ được mời đến xem, và đã ở lại với Người ngày hôm ấy.
Đời tu cần được đọc lại từ cuộc gặp gỡ này. Trước những công việc ta đảm nhận, có câu hỏi của Chúa dành cho lòng ta. Trước các vai trò ta được trao, có lời mời đến ở với Người. Sự hiện diện ấy nuôi dưỡng mọi điều về sau. Một người có thể học được nhiều kỹ năng để phục vụ, nhưng không ai có thể thay người ấy sống mối tương quan với Chúa. Cộng đoàn có thể sắp xếp giờ kinh, nhà dòng có thể cung cấp chương trình đào tạo, người đồng hành có thể giúp phân định. Tuy nhiên, vẫn có một sự đáp lại rất riêng: chính tôi có muốn ở với Người hay không?
Câu hỏi “đang tìm gì” có thể làm ta bối rối hơn sau nhiều năm sống đời tu. Thuở ban đầu, câu trả lời có vẻ dễ: con tìm Chúa, con muốn dâng đời con cho Chúa. Hôm nay, khi dám nhìn kỹ hơn, ta nhận ra lòng mình đang tìm nhiều thứ. Ta muốn công việc thuận lợi, muốn người khác hiểu mình, muốn những hy sinh được nhìn nhận, muốn có một chỗ đứng ổn định, muốn bớt bị can thiệp, muốn được giao việc phù hợp với khả năng. Những ước muốn ấy cần được nhận diện và phân định, vì chúng ảnh hưởng đến cách ta sống với Chúa, với cộng đoàn và với những người được trao cho ta phục vụ. Ta có thể vẫn nói mình tìm Chúa, trong khi phần lớn sức lực lại được dùng để bảo vệ một hình ảnh về bản thân.
Có khi sự thay đổi diễn ra rất chậm. Ta không hề có một ngày công khai quyết định đặt Chúa ra bên lề. Ta chỉ bắt đầu bớt một chút thời gian cầu nguyện để hoàn thành một việc gấp. Rồi việc gấp nối tiếp việc gấp. Ta đem công việc vào giờ chầu, lấy giờ đọc Lời Chúa để tìm ý cho bài nói, đọc một bản văn thiêng liêng nhưng chỉ nghĩ xem đoạn nào có thể trích vào bài giảng. Dần dần, mọi sự thánh thiêng đều trở thành chất liệu cho công tác. Ta biết phải nói gì với người khác, nhưng ít có lúc để Lời Chúa nói điều Người muốn nói với chính mình.
Một người giảng về cầu nguyện vẫn cần học cách cầu nguyện. Một người hướng dẫn tĩnh tâm vẫn cần để Chúa dẫn vào sự thật. Một người giúp người khác nhận ra ơn gọi vẫn cần trở lại với câu hỏi về đời tận hiến của mình. Chức vụ và kinh nghiệm không tự động bảo đảm đời sống nội tâm. Đôi khi chính sự thành thạo khiến ta khó nhận ra mình đang khô cạn, vì bên ngoài mọi việc vẫn vận hành. Ta vẫn hoàn tất trách nhiệm, vẫn được tín nhiệm, vẫn nhận những lời cảm ơn. Chỉ trong những khoảng lặng rất hiếm, ta mới nghe rõ một sự mỏi mệt không thể giải quyết bằng việc hoàn thành thêm một công tác.
Có người tu sĩ không còn nhiều niềm vui nhưng cũng không thấy mình có lý do để buồn. Cuộc sống tương đối ổn, công việc không thất bại, cộng đoàn không có biến cố lớn. Vậy mà buổi sáng thức dậy, lòng nặng như phải tiếp tục một điều đã mất ý nghĩa. Ta dễ cáu hơn, khó chịu trước những chuyện nhỏ hơn, cần nhiều sự giải trí hơn để đi qua một ngày. Những gì trước đây được làm với lòng quảng đại nay đều phải tính toán. Ta bắt đầu nhìn người khác bằng sự nghi ngờ, nhìn người trẻ bằng vẻ chán nản, nhìn những lời mời gọi đổi mới như thể tất cả đều ngây thơ. Trong trường hợp ấy, câu hỏi đầu năm cần rất hiền nhưng cũng rất thật: điều gì đang xảy ra trong tôi?
Sự nguội lạnh có nhiều nguyên nhân. Có khi ta đã để đời mình bị chia nhỏ bởi quá nhiều nhiệm vụ. Có khi một nỗi thất vọng trong cộng đoàn chưa bao giờ được nói ra. Có khi ta mang theo cảm giác bị đối xử bất công, bị hiểu lầm, bị sử dụng rồi quên lãng. Có khi thân xác đã kiệt sức mà ta vẫn ép mình tiếp tục, vì nghĩ rằng nghỉ ngơi là thiếu quảng đại. Có khi đức tin đang trải qua một giai đoạn thanh luyện, khiến những cảm xúc quen thuộc không còn xuất hiện. Muốn trở về với Chúa, ta cần đủ bình tĩnh để phân biệt những điều ấy. Nếu mọi sự mệt mỏi đều bị gọi ngay là thiếu yêu mến, người tu sĩ sẽ càng khép kín. Nếu mọi sự nguội lạnh đều được giải thích bằng hoàn cảnh, ta lại dễ tránh né phần trách nhiệm của mình.
Có những lúc điều cần làm trước tiên là ngủ cho đủ, giảm bớt một nhiệm vụ, tìm một người có khả năng lắng nghe, nhận sự giúp đỡ chuyên môn khi cần. Thân xác là nơi ta sống sự đáp lại với Chúa mỗi ngày. Một người mất ngủ triền miên, làm việc quá sức và không có chỗ giãi bày khó có thể giữ được sự quân bình chỉ bằng những lời tự nhủ phải cố thêm. Tôn trọng giới hạn của mình cũng là một việc của đức tin. Ta nhìn nhận rằng mình là thụ tạo, cần được nâng đỡ, cần để người khác chăm sóc. Chúa có thể đến với ta qua một giờ nghỉ được chấp nhận trong bình an, qua một cuộc gặp đồng hành được chuẩn bị chân thành, qua sự giúp đỡ mà trước đây lòng tự ái khiến ta từ chối.
Nhưng cũng có những điều ta biết rõ mình cần hoán cải. Ta biết mình vẫn có thời gian cho điện thoại mà luôn nói không có thời gian cho Chúa. Ta biết mình có thể ngồi rất lâu với những câu chuyện không cần thiết nhưng lại thấy mười lăm phút thinh lặng là quá dài. Ta biết mình đang nuôi một sự ghen tị, một thói quen than phiền, một tương quan thiếu ngay thẳng. Ta biết có những điều đang làm trái tim mình phân tán. Sự dịu dàng của Chúa cho phép ta nhận lỗi mà không tuyệt vọng; đồng thời, tình yêu của Người mời ta làm một điều cụ thể để thay đổi. Một cuộc tĩnh tâm sẽ đi vào đời sống khi ta thôi chỉ cảm động về những điều hay đẹp và bắt đầu đụng tới nơi mình vẫn né tránh.
Hai môn đệ đã đến xem nơi Đức Giêsu ở. Trong câu hỏi về nơi ở ấy có một ước muốn được bước gần hơn vào đời sống của Người. Chúng ta cũng có thể biết nhiều về Chúa mà chưa dành đủ chỗ cho Người trong đời mình. Ta biết những danh xưng thần học, biết các bản văn, biết những cách diễn đạt chính xác. Nhưng khi gặp một biến cố làm tổn thương lòng tự trọng, ta vẫn phản ứng như người hoàn toàn đơn độc. Khi kế hoạch thất bại, ta hoảng hốt như thể mọi giá trị của đời mình đều sụp đổ. Khi không được chọn, ta thấy mình không còn ý nghĩa. Những phản ứng ấy mở ra một câu hỏi đáng cầu nguyện: tôi đang đặt nền tảng đời mình ở đâu?
Người tu sĩ cần một nơi để trở về trong lòng Chúa. Nơi ấy được hình thành bằng những lần thật sự hiện diện trước mặt Người, đem theo điều đang sống và để Người soi sáng. Có hôm ta đến với lòng biết ơn. Có hôm ta chỉ đem được sự bực bội, một nỗi ghen, một thất vọng mà chính mình cũng thấy xấu hổ. Chúa không chỉ đón phần đạo đức đã được chuẩn bị cẩn thận. Người muốn gặp con người thật của ta. Nếu trong giờ cầu nguyện ta chỉ nói những điều mình nghĩ là xứng đáng, những vùng sâu nhất của đời sống sẽ vẫn nằm ngoài cuộc đối thoại với Người.
Có người chưa bao giờ nói với Chúa rằng mình đang giận. Họ nghĩ một người tận hiến không nên có cảm xúc ấy. Vì vậy, họ đọc kinh rất đúng nhưng rời nhà nguyện với cơn giận vẫn nguyên vẹn. Có người chưa bao giờ thú nhận rằng mình đang cô đơn, vì sợ điều ấy chứng tỏ ơn gọi không vững. Có người không dám nói mình muốn được yêu thương và được nhìn nhận, vì nghĩ như thế là thiếu siêu thoát. Những nhu cầu không được nhìn nhận vẫn tiếp tục tìm lối đi, đôi khi qua những gắn bó thiếu tự do hoặc những đòi hỏi làm khổ cộng đoàn. Cầu nguyện chân thật giúp ta đưa các nhu cầu ấy ra ánh sáng, để hiểu chúng và sống với chúng trong sự trưởng thành.
Ta có thể bắt đầu bằng những câu rất đơn sơ: lạy Chúa, hôm nay con buồn vì không được hỏi ý kiến; con đang sợ người khác làm tốt hơn mình; con thấy mình bị bỏ quên; con không biết có còn yêu công việc này không; con đang tránh một người trong cộng đoàn; con muốn cầu nguyện nhưng lòng cứ chạy đi. Những lời ấy có thể không đẹp, nhưng chúng mở cửa. Từ đó, ta có thể lắng nghe Chúa qua Lời Người, xét lại cách mình hiểu sự việc, nhận ra một điều cần xin lỗi, một giới hạn cần chấp nhận, một quyết định cần được phân định. Sự thân tình lớn lên khi ta thôi trốn trong những lời nói an toàn.
Tin Mừng ghi lại rằng các môn đệ đã ở lại với Đức Giêsu ngày hôm ấy. Một ngày ở lại đã trở thành một phần của câu chuyện được kể cho các thế hệ về sau. Chi tiết thời gian được giữ lại trong bản văn khiến người đọc nhận ra tính cụ thể của cuộc gặp: đức tin chạm vào một ngày, một giờ, một nơi chốn trong đời người. Ơn gọi của ta cũng có những dấu mốc như vậy. Có một cánh cửa đã mở, một người đã nói lời nâng đỡ, một trang Lời Chúa đã khiến ta dừng lại, một buổi cầu nguyện đã làm ta can đảm hơn. Những điều ấy đáng được nhớ lại với lòng biết ơn.
Tuy nhiên, ký ức về ơn gọi không chỉ gồm những ngày long trọng. Ta thường nhớ ngày mặc tu phục, ngày khấn, ngày chịu chức hay nhận sứ vụ, nhưng có thể quên những buổi tối mình đã âm thầm chọn ở lại với Chúa giữa cơn cám dỗ bỏ cuộc. Có thể quên một người anh em đã nhận ra mình đang buồn và ngồi lại sau bữa cơm. Có thể quên vị phụ trách đã kiên nhẫn trước sự non nớt của mình. Có thể quên người phục vụ trong nhà đã chăm sóc khi mình bệnh. Chúa đã nâng đỡ ta qua những bàn tay rất bình thường. Khi viết lại câu chuyện ơn gọi, ta cần trả lại chỗ đứng cho những người ấy. Sự trung tín của ta đã được nhiều người âm thầm gìn giữ.
Có những người không bao giờ xuất hiện trong bản giới thiệu thành tích của một tu sĩ, nhưng đời sống của họ đã góp phần làm nên con người ấy. Một người mẹ chấp nhận nỗi nhớ để con được tự do đáp lại tiếng gọi. Một người cha ít nói nhưng đều đặn cầu nguyện. Một ân nhân giúp đỡ mà không đòi được biết tên. Một người đào tạo nghiêm khắc vừa đủ để ta nhận ra điều phải sửa. Một người bạn đã nói thật khi ta bắt đầu sống hai mặt. Một người nghèo đã giúp ta thấy bài giảng của mình còn cách xa cuộc sống. Nhớ lại họ, ta bớt nghĩ rằng mọi điều hôm nay chỉ do cố gắng của mình.
Lòng biết ơn làm thay đổi cách ta nhìn những năm đã qua. Ta vẫn có thể gọi đúng những điều đau đớn, vẫn nhìn nhận những sai lầm và những bất công cần được giải quyết. Nhưng toàn bộ lịch sử không còn bị thu hẹp vào vài vết thương. Trong một giai đoạn khó khăn, đã có người ở bên. Trong một lần vấp ngã, đã có cơ hội đứng dậy. Trong một quyết định vụng về, đã có bài học giúp ta bớt làm tổn thương người khác. Trong một lần mất điều mình muốn, đã có một khoảng tự do mới dần xuất hiện. Lòng biết ơn cần thời gian để nhận ra những điều ấy, nhất là khi nỗi đau còn gần.
Cũng có những chặng đường ta chưa thể hiểu. Ta nhìn lại một sự chuyển đổi, một mất mát, một đổ vỡ trong tương quan và vẫn thấy lòng nghẹn. Ta chưa thấy điều tốt nào đủ để giải thích những gì đã xảy ra. Khi ấy, ta không cần ép mình đưa ra một kết luận đạo đức cho mọi biến cố. Có những chuyện cần được để lại trước Chúa trong sự chưa hiểu. Ta có thể thưa: con chưa biết phải đọc đoạn đời này thế nào, nhưng con muốn đem nó đến với Chúa. Đức tin cho phép một người ở lại ngay cả khi chưa tìm được lời giải thích. Sự hiện diện ấy có khi là lời cầu nguyện chân thật nhất mà ta có thể dâng.
Trở về với tình yêu khởi đầu cũng đòi ta chấp nhận rằng mình đã thay đổi. Người bước vào nhà dòng năm nào không còn nguyên như cũ. Thân xác khác đi, khả năng khác đi, cách nhìn đời cũng khác. Có những hăng hái ban đầu đã được thanh luyện qua kinh nghiệm. Có những giấc mơ không thành. Có những việc từng nghĩ mình sẽ làm suốt đời nay phải trao lại. Ta không thể sống hiện tại bằng cách đòi mình trở thành người của hai mươi hay ba mươi năm trước. Tình yêu cần được sống bằng con người đang có hôm nay, với sự trưởng thành và cả những giới hạn của hôm nay.
Một người trẻ có thể yêu bằng sự mau mắn nhận việc. Một người lớn tuổi có thể yêu bằng cách vui lòng để người khác làm theo một cách mới. Một người khỏe có thể đi xa, còn một người bệnh có thể học cách hiện diện trong sự lệ thuộc. Một người từng quen được hỏi ý kiến có thể phải tập lắng nghe khi tiếng nói mình không còn ở trung tâm. Mỗi giai đoạn có một lời đáp riêng. Chúa không đo tình yêu của một tu sĩ già yếu bằng số công việc người ấy còn có thể thực hiện. Cách người ấy đón nhận sự chăm sóc, cầu nguyện cho cộng đoàn và giữ lòng hiền lành trong giới hạn cũng có sức nuôi dưỡng người khác.
Đôi khi điều làm ta đau nhất khi về già là cảm giác mình không còn cần thiết. Ta từng có lịch làm việc kín, từng được tìm đến để xin lời khuyên, từng quyết định nhiều việc. Nay người khác đảm nhận, điện thoại ít reo hơn, các cuộc họp diễn ra mà không cần mình. Nếu đã gắn giá trị đời mình quá chặt với chức vụ, giai đoạn ấy trở nên rất khó. Chính lúc này, lời mời thuở đầu có thể vang lên một cách mới. Ngày mới đến, ta chưa làm được bao nhiêu mà đã được đón nhận. Hôm nay, khi không còn làm được nhiều, ta vẫn được Chúa yêu. Sự thật ấy cần được cầu nguyện lâu, vì lòng tự trọng bị thương không dễ bình an chỉ sau một lần nghe nhắc.
Người đang ở giữa những năm phục vụ sung sức cũng cần học sự tự do ấy. Công việc có thể đem lại một cảm giác hữu ích rất mạnh. Khi người khác cần mình, ta thấy mình có giá trị. Vì vậy, ta khó từ chối, khó nghỉ, khó chia sẻ trách nhiệm. Ta nói mình làm vì sứ vụ, nhưng đôi khi cũng sợ rằng nếu người khác đảm nhận tốt, họ sẽ không còn cần đến mình. Nỗi sợ ấy khiến ta ôm việc, kiểm soát và khó chấp nhận sáng kiến của người trẻ. Cầu nguyện giúp ta đưa nhu cầu được cần đến trước mặt Chúa. Ta xin ơn phục vụ hết lòng và vẫn đủ tự do để trao lại.
Một dấu chỉ của tình yêu được làm mới là ta bắt đầu quan tâm trở lại đến những người đang sống gần mình. Có thể từ lâu ta đã dành sự kiên nhẫn cho người ngoài nhưng chỉ còn sự cộc cằn khi về cộng đoàn. Ta nghe những câu chuyện dài của khách đến thăm, nhưng không đủ chú ý để nghe một người chị em nói hết câu. Ta giảng về sự hiệp thông, rồi ngồi cùng bàn mà không nhìn mặt một người mình không ưa. Đời sống cộng đoàn đặt trước mắt ta những chỗ cụ thể cần hoán cải. Không ai có thể yêu cộng đoàn chỉ bằng một ý tưởng đẹp về tình huynh đệ.
Người cùng nhà có những thói quen khiến ta khó chịu. Họ nói nhiều, làm chậm, quên việc, có cách xử lý khác mình. Họ có thể thật sự đã làm ta tổn thương. Muốn sống bác ái, ta cần nhận diện cả điều phải chịu đựng trong kiên nhẫn lẫn điều cần được nói ra và sửa đổi. Sự hiệp thông lớn lên qua những cuộc đối thoại có trách nhiệm, qua lời xin lỗi rõ ràng, qua việc tôn trọng ranh giới và bổn phận của nhau. Khi có hành vi gây hại, cần tìm sự trợ giúp và cách giải quyết thích hợp. Đời tận hiến cần sự thật để tình thương có thể trở thành nơi nương tựa.
Có những cộng đoàn giữ được trật tự nhưng mất dần sự thân tình. Ai cũng biết việc mình, ai cũng tránh làm phiền nhau, nhưng một người buồn có thể sống nhiều tuần mà không ai hỏi. Một người bệnh vẫn cố làm vì sợ bị xem là yếu đuối. Một người trẻ gặp khủng hoảng nhưng chỉ nghe những lời nhắc phải cố gắng. Trong tháng đầu năm, việc trở về với tình yêu khởi đầu có thể bắt đầu bằng một sự chú ý đơn giản: nhận ra người bên cạnh đang sống thế nào. Một lời hỏi thăm có chờ câu trả lời, một lần chủ động chia sẻ phần việc, một chỗ ngồi dành cho người thường bị bỏ lại có thể làm cộng đoàn ấm lên.
Ta cũng cần nhìn lại cách mình tiếp xúc với người đang tìm hiểu ơn gọi. Khi đã trải qua nhiều thất vọng, người tu sĩ dễ nói về đời tu bằng giọng chua chát. Ta nghĩ mình đang giúp người trẻ thực tế, nhưng có thể đang trao cho họ phần cay đắng chưa được chữa lành của mình. Người trẻ cần được biết những khó khăn thật, đồng thời được gặp những người dám sống ơn gọi với sự ngay thẳng và hy vọng. Ta có thể nói rằng đời cộng đoàn đòi nhiều kiên nhẫn, rằng sứ vụ có lúc vất vả, rằng bản thân cũng từng yếu đuối. Cách nói của một người đã biết đem những điều ấy vào cầu nguyện khác với giọng nói của người chỉ còn muốn chứng minh rằng không có gì đáng tin.
Tình yêu khởi đầu cần được bảo vệ khỏi sự khinh miệt. Khi ta bắt đầu coi mọi thiện chí là giả tạo, mọi sự sốt sắng là hình thức, mọi sáng kiến là tìm danh, lòng ta sẽ không còn chỗ để nhận ra ơn Chúa nơi người khác. Một người có thể đã từng bị lừa dối, nhưng kinh nghiệm ấy không cho phép họ kết luận về tất cả. Một cộng đoàn có thể có những giới hạn, nhưng vẫn có những con người đang âm thầm sống tốt. Một người phụ trách có thể chưa hiểu ta, nhưng vẫn có điều ta cần học trong tương quan ấy. Sự khôn ngoan giúp phân định; sự cay đắng khiến ta đóng cửa trước cả những điều lành.
Đầu năm, ta có thể xin Chúa cho mình thấy lại một điều tốt nơi người mà mình đã quen phê bình. Không cần phủ nhận những khó khăn giữa hai người. Chỉ cần nhìn nhận rằng họ không bị gói trọn trong điều làm ta khó chịu. Họ cũng có một lịch sử, những nỗi sợ, những cố gắng mà ta chưa biết. Có thể họ vụng về trong cách thể hiện, nhưng vẫn trung thành với một bổn phận nặng nhọc. Có thể họ ít nói lời dễ nghe, nhưng đã âm thầm giúp nhiều người. Cái nhìn được chữa lành bắt đầu khi ta để sự thật về người khác rộng hơn nhận xét của mình.
Cũng vậy, ta cần nhìn lại chính mình với lòng thương xót. Một số người mang theo trong đời tu một bản án âm thầm: tôi không đủ tốt, tôi đã làm hỏng quá nhiều, tôi không còn xứng đáng với điều mình đã khấn. Họ vẫn tiếp tục trách nhiệm nhưng mất sự tự do của người được tha thứ. Mỗi khi nhớ đến quá khứ, họ chỉ thấy lỗi lầm. Việc xét mình trở thành một cách lặp lại lời kết tội. Trong hoàn cảnh ấy, trở về với Chúa cần bao gồm việc đón nhận ơn tha thứ một cách nghiêm túc. Khi đã thành tâm sám hối, lãnh nhận bí tích Hòa giải và thực hiện những trách nhiệm sửa chữa cần thiết, ta được mời tiếp tục sống trong ân sủng, thay vì giữ mình mãi trong sự tự khinh.
Sự hối cải giúp một người sống có trách nhiệm hơn. Họ biết mình có thể ngã nên bớt phán xét người yếu đuối. Họ nhớ tác hại của lỗi lầm nên cẩn trọng hơn trong tương quan. Họ biết mình đã được nâng dậy nên sẵn lòng nâng đỡ người khác. Dần dần, một phần quá khứ đau đớn có thể trở thành nơi phát sinh lòng khiêm nhường. Ta không cần kể mọi chuyện cho mọi người để chứng minh mình thành thật. Ta cần đưa sự thật đến đúng nơi, với người có trách nhiệm giúp đỡ, và để sự thật ấy thay đổi cách sống hôm nay.
Có những người sợ trở lại với tình yêu khởi đầu vì nghĩ rằng mình không còn khả năng rung động như trước. Họ nhớ một thời cầu nguyện dễ dàng, đọc Lời Chúa là thấy lòng sốt sắng, tham dự phụng vụ là cảm động. Nay họ chỉ thấy khô khan. Nhưng tình yêu có những cách hiện diện kín đáo hơn cảm xúc. Một người vẫn đến cầu nguyện khi lòng không có gì để nắm giữ, vẫn giữ sự trung thực trong công việc khi không ai kiểm tra, vẫn chăm sóc người bệnh khi không được cảm ơn, đang thực hiện những chọn lựa có giá trị. Sự khô khan cần được phân định, nhưng không thể chỉ dựa vào cảm giác để kết luận rằng tình yêu đã chết.
Ta cần học ở lại với Chúa bằng con người hiện tại. Có hôm cầu nguyện là đọc chậm một đoạn Tin Mừng và để một câu ở lại trong lòng. Có hôm là ngồi yên trước Thánh Thể, nhận biết mình đang phân tán rồi nhẹ nhàng trở về. Có hôm là kể cho Chúa một cuộc gặp khó khăn, xin được thấy phần trách nhiệm của mình. Có hôm ta không nói được bao nhiêu, chỉ đặt trước Người một người đang đau khổ. Sự trung thành được xây bằng những lần trở lại như vậy. Qua thời gian, ta có thể nhận ra mình ít phản ứng vội hơn, dễ xin lỗi hơn, bớt cần được khen hơn. Đó cũng là hoa trái của cầu nguyện.
Thinh lặng thường làm lộ ra những gì sự bận rộn che khuất. Khi vừa ngồi xuống, ta nhớ ngay một việc chưa xong, một tin nhắn chưa trả lời, một cuộc trao đổi khiến mình khó chịu. Rồi đến những nỗi lo sâu hơn: tương lai của cộng đoàn, sức khỏe, sự thất bại, nỗi cô đơn. Ta có thể muốn đứng dậy vì nghĩ ngồi đây chẳng làm được gì. Nhưng chính lúc ấy, điều đang chi phối ta bắt đầu hiện rõ. Ta có thể đặt từng điều trước mặt Chúa, phân biệt việc nào cần xử lý sau giờ nguyện và nỗi sợ nào cần được ở lại trong cuộc đối thoại với Người. Thinh lặng cần sự kiên nhẫn, nhất là với người đã quen sống giữa nhiều kích thích.
Điện thoại và những luồng thông tin liên tục khiến việc ở lại trở nên khó hơn. Ta cầm máy để xem một thông báo, rồi bị kéo qua nhiều chuyện khác. Một khoảng trống vừa xuất hiện đã được lấp đầy. Tâm trí quen với việc chuyển nhanh từ điều này sang điều kia nên một trang Tin Mừng đọc chậm có vẻ quá ít. Trong tháng này, một lựa chọn nhỏ có thể giúp ta lấy lại sự tự do: đặt điện thoại ra ngoài tầm tay trong giờ nguyện, để một khoảng yên tĩnh trước khi ngủ, hoặc không mở tin tức ngay khi thức dậy. Những việc ấy tạo chỗ cho lòng mình tập chú ý trở lại.
Đọc Lời Chúa riêng cũng cần được phân biệt với việc chuẩn bị cho người khác. Người có trách nhiệm giảng dạy rất dễ đọc một đoạn Tin Mừng rồi lập tức nghĩ đến bố cục, ví dụ và điều người nghe cần sửa. Trong giờ cầu nguyện riêng, ta có thể xin ơn đừng vội đứng vào vị trí người giải thích. Hãy để mình là người đang đi theo Đức Giêsu, đang được hỏi về điều mình tìm kiếm, đang được mời đến ở với Người. Một câu đã giảng nhiều lần vẫn có thể chạm đến một chỗ ta chưa muốn mở. Ta cần cho Lời ấy thời gian.
Chẳng hạn, khi đọc việc các môn đệ ở lại với Chúa, ta có thể nhận ra mình luôn vội. Ngồi với người bệnh cũng vội, nghe một lời tâm sự cũng vội, ăn cơm cũng vội. Sự vội vã có lúc do trách nhiệm, có lúc đã thành thói quen khiến ta khó hiện diện ở bất cứ đâu. Ta ở một nơi mà tâm trí đã sang việc kế tiếp. Dần dần, những người gần ta cảm thấy họ chỉ được tiếp nhận như một phần của lịch làm việc. Cầu nguyện có thể giúp ta tập một nhịp sống khác: dành trọn sự chú ý cho một người trong khoảng thời gian thích hợp, nghe cho hết, làm một việc cho đến nơi, để cuộc sống có những khoảng không bị chia cắt.
Người tu sĩ cần xem lại sự liên hệ giữa cầu nguyện và sứ vụ. Một giờ nguyện chân thật sẽ dần tác động đến cách làm việc, dù sự thay đổi có thể chậm. Ta bớt dùng lời nói để áp đảo, bớt quyết định chỉ vì bị chạm tự ái, biết nhận lỗi khi làm sai. Ta quan tâm hơn đến người chịu ảnh hưởng từ những quyết định của mình. Nếu sau nhiều năm, đời cầu nguyện hoàn toàn không chạm đến cách đối xử với người khác, ta cần đem điều ấy vào phân định. Sự sốt sắng trong nhà nguyện cần có đường đi vào bàn làm việc, nhà bếp, lớp học và những cuộc họp cộng đoàn.
Ngược lại, sứ vụ cũng đưa ta trở lại với Chúa. Có những hoàn cảnh khiến ta thấy khả năng mình quá ít. Ta không giải quyết được hết nỗi đau của người đến gặp, không thể làm cho một gia đình lập tức hòa thuận, không đủ phương tiện giúp mọi người đang thiếu thốn. Nếu cứ nghĩ mình phải cứu được tất cả, ta sẽ nhanh chóng kiệt sức hoặc trở nên lạnh lùng để tự bảo vệ. Trở về cầu nguyện, ta nhìn nhận phần việc được trao và phần vượt quá khả năng. Ta xin biết làm điều có thể với lòng trung thành, cộng tác với người khác và trao phó những điều chưa giải quyết được.
Có lẽ một trong những điều cần được chữa lành nơi người tận hiến là ý nghĩ mình chỉ đáng được yêu khi hữu ích. Ý nghĩ ấy khiến ta làm việc không ngừng nhưng khó bình an. Một ngày nghỉ trở thành một ngày có lỗi. Một lần bệnh khiến ta xấu hổ. Một người làm thay khiến ta thấy bị đe dọa. Khi còn khỏe, ta có thể che giấu điều ấy dưới vẻ nhiệt thành. Nhưng một biến cố làm mất khả năng sẽ cho thấy ta đã dựa vào đâu. Bài tĩnh tâm đầu năm mời ta trở về với sự thật nền tảng: trước khi tôi làm được điều gì cho cộng đoàn, tôi đã được Chúa yêu.
Đón nhận tình yêu ấy không làm giảm tinh thần trách nhiệm. Người biết mình được yêu có thể làm việc với một sự tự do rộng hơn. Họ dám cố gắng, cũng dám nhìn nhận giới hạn. Họ biết vui khi người khác làm tốt. Họ có thể nhận góp ý mà không cảm thấy toàn bộ con người bị phủ nhận. Họ sẵn sàng sửa sai vì không phải bảo vệ một hình ảnh hoàn hảo. Trong cộng đoàn, sự tự do ấy đem lại nhiều bình an. Người khác có thể đến gần họ, nói thật với họ, cùng họ tìm điều tốt hơn.
Các lời khấn cũng cần được nhìn lại trong ánh sáng của mối tương quan này. Theo thời gian, ta có thể quá quen với cách trình bày về khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục, đến mức ít nhận ra những đòi hỏi cụ thể trong đời mình. Đầu năm là dịp đặt những lời đã tuyên trước mặt Chúa và hỏi xem hôm nay mình đang sống ra sao. Có điều gì ta giữ rất chặt? Có nơi nào lòng mình thiếu tự do? Có chọn lựa nào cần được đem ra đối thoại? Những câu hỏi ấy cần sự chân thành hơn là một câu trả lời đẹp.
Khó nghèo chạm đến cách ta dùng của chung, cách ta nhìn nhu cầu và cách ta đón nhận giới hạn. Ta có thể ít có tài sản đứng tên nhưng vẫn rất khó chịu khi không được sử dụng một tiện nghi mình muốn. Ta có thể giảng về chia sẻ mà tiêu dùng thiếu ý thức. Ta có thể muốn sống đơn sơ nhưng lại so sánh nơi mình ở với nơi khác, phương tiện của mình với phương tiện người khác. Trở về với tình yêu khởi đầu giúp ta nhớ điều từng làm mình sẵn lòng buông. Rồi ta nhìn vào một việc cụ thể: món đồ nào không cần nữa, thói quen chi tiêu nào cần sửa, sự chăm sóc nào đối với của chung đang bị bỏ qua.
Khiết tịnh chạm đến cách ta yêu và cách ta đón nhận nhu cầu được yêu. Trái tim của người tận hiến vẫn cần tình bạn, sự thân tình và những tương quan lành mạnh. Những nhu cầu ấy cần được sống trong sự thật, với ranh giới phù hợp và khả năng chịu trách nhiệm. Có người khép lòng đến mức không cho ai biết mình đang buồn. Có người lại tìm một chỗ dựa riêng rồi dần lệ thuộc, giấu giếm và mất tự do. Đời cầu nguyện, tương quan cộng đoàn và việc đồng hành giúp ta nhận ra những chuyển động ấy sớm hơn. Ta xin Chúa dạy mình yêu cách rộng rãi, tôn trọng phẩm giá của người khác và trung thành với điều đã cam kết.
Vâng phục đưa ta vào việc lắng nghe, phân định và sống trách nhiệm trong tương quan. Có khi ta cần từ bỏ một ý riêng; có khi cần can đảm trình bày một khó khăn hoặc một điều lương tâm nhận thấy. Sự trưởng thành đòi ta nói thật với lòng tôn trọng, biết nghe lý do của người khác và đón nhận những quyết định chính đáng ngay cả khi chúng không trùng với sở thích. Người có trách nhiệm cũng cần lắng nghe người được trao cho mình, giải thích khi có thể và ý thức ảnh hưởng của quyền hạn. Khi mọi người cùng tìm ý Chúa, lời khấn được sống trong một tương quan có sự thật và lòng tin.
Trong cả ba lời khấn, ta có thể nhận ra một câu hỏi chung: hôm nay tôi đang trao cho Chúa điều gì? Có thể ta đã trao một thời tuổi trẻ, đã đi nhiều nơi, đã chấp nhận nhiều hy sinh, nhưng vẫn giữ lại một phần rất kín. Ta không muốn ai đụng tới một kế hoạch, một cách làm, một sự gắn bó, một mối bất bình. Ta có thể chấp nhận nhiều thiếu thốn nhưng không chịu được việc không được nhìn nhận. Ta có thể quảng đại với tiền bạc nhưng giữ chặt quyền quyết định. Ta có thể tuân giữ bề ngoài nhưng trong lòng âm thầm rút khỏi mọi tương quan. Chúa mời ta đưa phần ấy đến với Người.
Việc trao lại thường bắt đầu bằng sự nhận biết. Ta chưa buông được ngay, nhưng có thể thôi giả vờ rằng mình hoàn toàn tự do. Ta có thể thưa: lạy Chúa, con đang giữ điều này; con sợ nếu buông, đời con sẽ trống; con chưa tin rằng mình vẫn có thể sống bình an khi không còn nó. Lời cầu nguyện ấy đã là một bước. Sau đó cần thời gian, sự đồng hành và những quyết định nhỏ để tập sống khác. Ân sủng làm việc trong sự kiên nhẫn của đời sống thường ngày.
Bài tĩnh tâm đầu năm cũng mời ta xem lại cách nói về ơn gọi của mình. Có khi ta kể câu chuyện ấy như một chuỗi thành công, lược bỏ những do dự, những người đã giúp và những điều mình từng sai. Có khi ta chỉ kể những đau khổ, khiến người nghe không còn thấy lý do nào để biết ơn. Viết lại câu chuyện như một lời tạ ơn giúp ta tìm một giọng kể chân thật hơn. Ta nhìn nhận điều đã nhận, điều đã làm, điều đã mất và điều vẫn đang được Chúa dẫn dắt. Ta để những mảnh đời khác nhau cùng có chỗ trong lịch sử của mình.
Có thể bắt đầu từ một ký ức cụ thể: lần đầu nghĩ đến đời tu, một buổi trò chuyện, ngày rời nhà, bữa cơm đầu tiên trong cộng đoàn. Rồi viết về những người đã giúp mình phân định, những khó khăn đã đi qua, điều từng làm mình vui, điều từng khiến mình muốn bỏ cuộc. Sau mỗi chặng, hãy dừng lại để nhận ra mình đã được nâng đỡ thế nào. Nếu có chỗ chưa thể tạ ơn, có thể ghi lại như một lời phó thác. Bản viết ấy không cần trau chuốt để công bố. Nó cần đủ thật để ta có thể đọc lại trước mặt Chúa.
Khi viết, ta có thể ngạc nhiên vì một số điều nhỏ lại ở lại lâu nhất. Một tách nước được mang đến lúc mình ốm. Một lời nhắc không làm mình mất mặt. Một lần được cho cơ hội sau khi làm sai. Một người phụ trách nhận ra khả năng mà chính mình chưa dám tin. Những điều ấy giúp ta hiểu thêm cách Chúa chăm sóc. Chúng cũng đặt ra một trách nhiệm nhẹ nhàng: hôm nay tôi có thể trở thành người đem một sự nâng đỡ như vậy cho ai?
Tình yêu khởi đầu được nuôi bằng việc cho đi sự tốt lành đã nhận. Một tu sĩ từng được kiên nhẫn hướng dẫn có thể học cách kiên nhẫn với người mới. Một người từng được lắng nghe trong khủng hoảng có thể dành thời gian cho người đang hoang mang. Một người từng được tha thứ có thể thôi dùng lỗi cũ của anh em để định nghĩa họ. Sự trở về với Chúa không khép ta trong việc chăm chú vào đời sống riêng. Nó mở mắt ta trước những người đang cần một sự hiện diện có lòng thương.
Trong tháng này, khoảng cầu nguyện riêng cần được chọn cho phù hợp với hoàn cảnh và được giữ cách nghiêm túc. Đừng bắt đầu bằng một quyết tâm quá lớn rồi sớm bỏ cuộc. Hãy chọn một khoảng thời gian có thể trung thành, xác định nơi chốn và chuẩn bị những điều giúp mình hiện diện. Có thể đến nhà nguyện sớm hơn, có thể dành một lúc yên tĩnh sau công việc. Trong khoảng ấy, để việc chuẩn bị bài giảng và những nhiệm vụ khác sang một bên. Mở đoạn Tin Mừng, đọc chậm, nhận biết mình đang ở trước Chúa và thưa với Người điều thật nhất.
Có ngày ta sẽ thấy mình cầu nguyện rất vụng. Tâm trí đi xa, thân xác mệt, lòng không có cảm xúc. Khi nhận ra, hãy trở về với câu Lời Chúa hoặc lời thưa đơn sơ. Đừng dành cả giờ để tức giận với chính mình vì đã chia trí. Việc nhẹ nhàng trở lại cũng là một hành vi của lòng tin. Nếu sự mệt mỏi kéo dài, cần xem lại nhịp sống. Nếu có một vấn đề cứ lặp đi lặp lại, hãy đem nó đến cuộc đồng hành. Cầu nguyện riêng và việc tìm sự giúp đỡ có thể nâng đỡ nhau.
Một thực hành khác là giữ vài phút cuối ngày để nhớ lại một điều mình đã nhận. Đó có thể là một cuộc gặp thuận lợi, một việc được người khác giúp, một lúc đã tránh được lời nói gây tổn thương, hoặc một lỗi lầm vừa được nhận ra. Hãy tạ ơn về điều lành, xin tha thứ về điều chưa tốt và trao ngày đã qua cho Chúa. Qua những lần nhìn lại ngắn ấy, ta tập nhận biết sự hiện diện của Người trong đời thường. Năm tháng sẽ bớt trôi qua như những công việc nối tiếp không để lại ý nghĩa.
Nếu có thể, hãy dành trong tháng một cuộc gặp với người đồng hành thiêng liêng hoặc một người có trách nhiệm và đáng tin cậy. Đừng chỉ kể những công việc đang làm. Hãy nói về cách mình cầu nguyện, điều đang làm mình mệt, tương quan đang khó, nỗi sợ chưa muốn nhận. Có những nút thắt được tháo dần khi có một người nghe và giúp ta gọi đúng tên. Sự trưởng thành của người tận hiến bao gồm khả năng tìm sự trợ giúp trước khi mọi điều trở nên quá nặng.
Ta cũng có thể chọn một việc hòa giải cụ thể. Có thể là xin lỗi vì một lời nói, trả lại một điều đã giữ không đúng, chủ động nói chuyện với người mình đang tránh, hoặc ngưng nhắc lại một lỗi cũ của ai đó. Hòa giải cần sự khôn ngoan và không phải lúc nào cũng đưa đến sự gần gũi như mong muốn. Tuy vậy, ta có thể chịu trách nhiệm về phần mình, tìm cách sửa chữa và trao phó phản ứng của người khác. Một bước nhỏ trong sự thật có giá trị hơn nhiều quyết tâm chỉ nằm trên giấy.
Khi cầu nguyện về năm mới, ta thường xin sức khỏe, bình an và công việc thuận lợi. Ta cũng có thể xin một điều gần với Tin Mừng hôm nay: xin cho con còn muốn gặp Chúa. Có những ngày mọi chuyện thành công mà ta quên mất Người. Có những ngày thất bại lại khiến ta trở về chân thành hơn. Lòng khao khát gặp Chúa cần được gìn giữ giữa cả hai hoàn cảnh. Ta xin được nhớ đến Người khi được khen, khi bị hiểu lầm, khi đang bận và khi không còn việc để làm.
Rồi hãy lắng nghe câu hỏi về điều mình đang tìm. Nếu bỏ đi chức vụ đang có, tôi còn thấy đời mình đáng quý không? Nếu công việc không được biết đến, tôi còn muốn làm với lòng ngay thẳng không? Khi một người khác được chọn, tôi có thể cầu nguyện cho họ không? Tôi có dành cho Chúa thời gian mà không chờ một ích lợi công việc nào không? Những câu hỏi ấy có thể làm lộ ra những phần chưa tự do. Ta đem chúng vào cầu nguyện với sự kiên nhẫn. Mục đích là để tình yêu được lớn lên trong sự thật.
Có thể trong buổi tĩnh tâm này, ta sẽ nhận ra mình đang rất xa sự đơn sơ ngày trước. Đừng vội biến nhận biết ấy thành một lời kết tội. Chính việc nhận ra đã mở một lối trở về. Ta không cần chờ đến khi có lại mọi cảm xúc, giải quyết xong mọi khó khăn hoặc trở nên xứng đáng hơn mới đến nhà nguyện. Hãy đến với con người đang có. Người đã đón ta thuở ban đầu vẫn biết cách gặp ta hôm nay. Có những điều phải sửa, những quyết định phải làm, nhưng bước đầu có thể chỉ là ở lại đủ lâu để thưa một lời chân thật.
Cũng có thể ta nhận ra mình đã được giữ gìn nhiều hơn mình tưởng. Giữa những mệt mỏi, ta vẫn còn muốn sống tử tế. Sau những lần thất vọng, ta vẫn chưa thôi cầu nguyện. Dù có những lúc yếu đuối, ta vẫn tìm đường trở lại. Hãy tạ ơn vì điều ấy. Đời tận hiến không được làm nên chỉ bằng những khoảnh khắc rực rỡ. Nhiều năm được gìn giữ qua những chọn lựa âm thầm: thức dậy để cầu nguyện, làm trọn một bổn phận, dừng lại trước một lời cay nghiệt, nhận lỗi, tìm sự giúp đỡ, bắt đầu lại sau một ngày không tốt.
Chúa vẫn nhớ ngày đầu tôi đến. Người cũng biết ngày hôm nay tôi đến với một trái tim đã đi qua nhiều điều. Trái tim ấy có lòng biết ơn, có những chỗ chai đi, có vết thương, có phần quảng đại và phần còn tính toán. Tôi không cần che giấu trước mặt Người. Tôi có thể đặt toàn bộ đời mình trong cuộc gặp gỡ này, để tình yêu thuở đầu được lớn lên thành một tình yêu có khả năng sống qua thử thách. Sự đơn sơ trưởng thành biết rõ những giới hạn của con người và vẫn chọn tin cậy, yêu thương, phục vụ.
Ngày đầu, có thể tôi chỉ biết thưa rằng mình muốn theo Chúa. Hôm nay, sau bao năm, lời ấy có thể được nói với một sự hiểu biết sâu hơn. Tôi biết đi theo Người sẽ có những lúc phải buông ý riêng. Tôi biết cộng đoàn gồm những con người cần được tha thứ, trong đó có tôi. Tôi biết sứ vụ có niềm vui và những giới hạn không thể vượt qua bằng ý chí. Tôi biết cầu nguyện có những mùa khô khan. Tôi cũng biết mình đã nhiều lần được nâng dậy. Với tất cả điều đã biết ấy, tôi vẫn có thể thưa: lạy Chúa, con muốn ở lại với Ngài.
Tháng Một có thể bắt đầu như thế. Một lời đáp được nói lại trong thinh lặng, một khoảng thời gian được dành cho Chúa, một trang ký ức được viết thành lời tạ ơn. Rồi từ nhà nguyện, ta trở về bàn ăn, công việc, những tương quan đang chờ mình. Ta thử sống chậm hơn ở một cuộc gặp, nói dịu hơn trong một bất đồng, trung thực hơn ở một quyết định. Tình yêu được nuôi trong sự hiện diện sẽ dần có hình hài giữa đời sống thường ngày.
Hôm nay, trước khi xin Chúa chúc lành cho mọi dự định của năm mới, hãy để Người gặp lại chính ta. Hãy ngồi xuống và nói điều đang thật sự có trong lòng. Có thể lời đầu tiên chỉ là: “Lạy Chúa, đã lâu rồi con chưa ở với Chúa như thế này.” Rồi đừng vội đứng dậy.
Lạy Chúa Giêsu, con đến trước mặt Chúa với những năm tháng đã qua của đời mình. Có những ngày con nhớ lại trong niềm vui, có những ngày con còn ngại nhìn đến. Có những lời con đã thưa với tất cả lòng quảng đại, cũng có những lời đã dần trở nên quen thuộc trên môi. Chúa biết con đã được nâng đỡ thế nào, đã yếu đuối ở đâu, đã cố gắng ra sao và đã bao lần tìm cách tránh né điều Chúa mời gọi. Hôm nay, con xin đem tất cả đến trước mặt Chúa.
Xin cho con nhớ ngày đầu con đến. Xin cho con nhận ra tình yêu đã đi trước mọi khả năng và công việc của con. Khi ấy, con còn hiểu rất ít, còn nhiều vụng dại, nhưng Chúa đã mở cho con một con đường. Xin cho con biết tạ ơn vì những người đã giúp con bước đi, vì gia đình, cộng đoàn, những người đào tạo, những người đã nói thật và những người đã kiên nhẫn với con. Xin Chúa gìn giữ họ trong tình yêu của Ngài.
Có những phần trong câu chuyện ơn gọi mà con vẫn chưa hiểu. Con còn mang một nỗi buồn, một sự giận, một câu hỏi chưa có lời đáp. Xin giúp con tìm được nơi an toàn để nói thật và nhận sự nâng đỡ cần thiết. Xin cho con can đảm sửa điều mình đã làm sai, bảo vệ điều cần được bảo vệ và kiên nhẫn với những vết thương đang được chữa lành. Xin đừng để nỗi đau khiến con đóng lòng trước mọi điều tốt đẹp.
Lạy Chúa, con đã nhiều lần đem công việc đến với Chúa mà quên đem chính mình. Con xin Chúa giúp bài giảng, chương trình, kế hoạch và những người con phục vụ, nhưng lại ít nói với Chúa về điều đang làm lòng con xa Ngài. Xin dạy con cầu nguyện trong sự thật. Khi con ghen tị, xin giúp con nhận ra. Khi con cần được nhìn nhận, xin cho con đủ khiêm nhường để thú nhận. Khi con cô đơn, xin dẫn con đến những tương quan lành mạnh và trưởng thành. Khi con mệt, xin cho con biết đón nhận sự chăm sóc.
Xin gìn giữ trong con ước muốn gặp Chúa. Giữa một ngày nhiều việc, xin nhắc con dành cho Chúa một khoảng thời gian thật sự. Trong giờ thinh lặng, xin giúp con nhẹ nhàng trở về mỗi khi lòng phân tán. Xin cho Lời Chúa đi vào những quyết định, lời nói và cách con đối xử với người khác. Xin cho người sống gần con nhận được chút bình an từ việc con ở với Ngài.
Xin đổi mới cách con yêu cộng đoàn. Có người con chưa hiểu, có người con đang tránh, có người đã bị lời nói của con làm buồn. Xin chỉ cho con một việc cụ thể để bắt đầu sửa chữa. Xin cho con biết lắng nghe mà không vội phán đoán, góp ý với lòng tôn trọng và nhận góp ý mà không khép lòng. Xin giúp chúng con chăm sóc người yếu, chú ý đến người âm thầm và để mỗi người có thể sống trong sự thật.
Xin thanh luyện cách con phục vụ. Khi được tín nhiệm, xin cho con biết trách nhiệm của mình. Khi không được chọn, xin gìn giữ con khỏi sự cay đắng. Khi người khác làm tốt, xin cho con biết vui. Khi phải trao lại một công việc, xin giúp con trao bằng sự rộng rãi. Khi sức khỏe giảm sút, xin cho con tin rằng đời mình vẫn được Chúa đón nhận. Xin cho con đừng bắt bản thân và người khác phải làm việc không ngừng mới được xem là có giá trị.
Lạy Chúa, có một phần đời con vẫn đang giữ lại. Xin cho con đủ ánh sáng để nhận ra và đủ tin tưởng để mở bàn tay. Con chưa biết mình sẽ đi qua năm mới thế nào. Con chỉ xin được bắt đầu bằng sự hiện diện trước mặt Chúa hôm nay. Xin giúp con trung thành với khoảng cầu nguyện đã chọn, với trách nhiệm đã nhận và với những bước hoán cải nhỏ mà Chúa đang mời.
Chúa biết ngày đầu con đến. Xin đón con trong ngày hôm nay, khi con trở lại với bao điều còn dang dở. Xin đánh thức niềm vui được thuộc về Ngài và dạy con sống niềm vui ấy bằng một tình yêu chân thành, kiên nhẫn. Con muốn ở lại với Chúa. Xin giữ con trong tình yêu của Ngài. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
THÁNG HAI — XIN CHO CON DÁM SỐNG THẬT TRƯỚC MẶT CHÚA
Thành thật với bản thân và trở về trong tinh thần hoán cải.
Lời Chúa: Lc 18,9–14 — Người thu thuế cầu nguyện trong thái độ khiêm nhường.
Có những ngày người tu sĩ bước vào nhà nguyện mà trong lòng đã chuẩn bị sẵn những điều sẽ thưa với Chúa. Ta biết phải tạ ơn điều gì, xin ơn gì, dùng lời nào cho phù hợp. Ta quen với ngôn ngữ của cầu nguyện, quen với những tâm tình được diễn tả trong sách thiêng liêng, quen cả cách nói về sự yếu đuối của con người. Nhưng có thể ngay trong những lời rất đúng ấy, ta vẫn chưa nói đến điều đang thực sự xảy ra nơi mình. Ta xin ơn yêu thương nhưng tránh nhắc tên người mình đang ghét. Ta xin lòng khiêm nhường nhưng không muốn nhìn lại phản ứng của mình khi bị góp ý. Ta xin được sống khó nghèo nhưng lặng lẽ bảo vệ những tiện nghi đã quen dùng. Ta nói với Chúa nhiều điều, trong khi một phần đời sống vẫn được giữ kín, như thể nếu không gọi tên thì Chúa sẽ chưa nhìn thấy.
Có lẽ điều làm ta ngại nhất trong ngày tĩnh tâm là phải ngồi yên đủ lâu để nghe lại chính mình. Khi làm việc, ta còn có thể dựa vào những điều hữu ích đang thực hiện. Khi gặp gỡ người khác, ta còn được nâng đỡ bởi vai trò, bởi sự kính trọng, bởi hình ảnh mà người ta vẫn dành cho mình. Nhưng trong thinh lặng, những điều ấy dần lùi lại. Ta nhận ra một cơn giận chưa nguôi, một sự ganh tị mình vẫn cố giải thích, một nỗi cô đơn không muốn thú nhận, một thói quen đã nhiều lần hứa bỏ mà vẫn tiếp tục. Ta có thể muốn đứng dậy ngay, tìm một việc gì đó để làm, mở điện thoại, đọc thêm một tài liệu, hoặc nghĩ đến những vấn đề của người khác. Đối diện với chính mình đôi khi khó hơn đối diện với một công việc nặng nhọc.
Vì thế, lời nguyện của tháng này cần bắt đầu rất đơn sơ: lạy Chúa, xin cho con dám sống thật trước mặt Ngài. Xin cho con đủ can đảm để thôi nói vòng quanh điều mình cần nhìn nhận. Xin cho con tin rằng sự thật về con có thể được đặt trong tình thương của Chúa. Con không cần làm cho mình trở nên đáng thương hơn, cũng không cần làm cho mình có vẻ tốt hơn. Con chỉ muốn đến với con người đang có, để Chúa gặp con ở chính nơi con đang sống.
Dụ ngôn về hai người lên Đền Thờ cầu nguyện đưa ta vào một sự phân định rất sâu. Cả hai đều đến nơi cầu nguyện. Cả hai đều hướng lời nói của mình về Thiên Chúa. Người Pharisêu có những việc đạo đức đáng kể để nhắc đến: ông ăn chay, dâng phần mười, giữ những điều mà nhiều người không thực hiện. Người thu thuế đứng ở đằng xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực và xin Thiên Chúa thương xót mình là người tội lỗi. Khi kết thúc dụ ngôn, Đức Giêsu cho thấy người thu thuế ra về được nên công chính. Lời cầu xin của ông đặt toàn bộ hy vọng nơi lòng thương xót.
Điều khiến người Pharisêu khép lại nằm ngay trong cách ông nhìn bản thân và người bên cạnh. Những việc tốt đã trở thành lý do để ông tự xác nhận sự công chính của mình. Ông kể về điều mình làm, rồi đặt mình cao hơn những người ông cho là xấu xa. Ngay trong nơi cầu nguyện, ông vẫn giữ khoảng cách với người thu thuế bằng một cái nhìn khinh miệt. Thiên Chúa được nhắc đến trong lời nói, nhưng người cầu nguyện vẫn đang xoay quanh sự hài lòng về bản thân. Ông không thấy mình cần được tha thứ, cần được đổi mới, cần được cứu khỏi chính thái độ coi thường người khác.
Chúng ta dễ nhận ra vấn đề của người Pharisêu khi đọc bản văn. Tuy nhiên, chính sự dễ dàng ấy cũng cần được xét lại. Ta có thể đọc dụ ngôn rồi thầm nghĩ: may mà tôi không giống ông ấy. Khi đó, cái nhìn khinh miệt mà ta vừa phê phán đã tìm được chỗ trong lòng mình. Bản văn cần được đưa trở lại với người đang cầu nguyện. Tôi có đang dùng đời sống đạo đức để che một sự kiêu căng không? Tôi có cần người khác kém hơn để thấy mình tốt hơn không? Tôi có còn khả năng nhận ra lỗi của mình khi đã quen được xem là người hướng dẫn người khác?
Người thu thuế không trình bày một bản thành tích. Ông cũng không lấy lỗi lầm của người khác để giảm nhẹ phần trách nhiệm của mình. Ông nhìn nhận tình trạng của bản thân và hướng về lòng thương xót. Sự khiêm nhường ấy làm cho ông có thể đón nhận điều mình không tự tạo ra được. Trong lời cầu nguyện của ông có một sự nghèo khó rất thật: ông cần Thiên Chúa. Đời tận hiến cũng cần được gìn giữ trong thái độ ấy. Sau nhiều năm sống kỷ luật, học hỏi và phục vụ, ta vẫn là người cần được cứu độ, cần được tha thứ, cần được dẫn đi từng ngày.
Người sống đời thánh hiến thường được nhìn như người có thể nâng đỡ người khác. Một linh mục được tìm đến khi có người đau khổ. Một tu sĩ được mong đợi biết nhẫn nại, hy sinh, ứng xử chín chắn. Những mong đợi ấy có lý do của chúng, vì đời tận hiến mang một trách nhiệm làm chứng. Nhưng khi không được hiểu cách quân bình, chúng có thể khiến người tu sĩ nghĩ rằng mình không được phép yếu. Ta phải biết trả lời, phải giữ bình tĩnh, phải có lòng tin, phải sẵn sàng. Dần dần, ta thấy khó nói rằng mình đang bối rối, đang sợ, đang mất phương hướng. Ta tiếp tục giúp người khác gọi tên nỗi đau, còn nỗi đau của mình thì không có chỗ để được nói ra.
Có người trở nên rất thành thạo trong việc giữ vẻ ổn định. Họ vẫn cười, vẫn làm việc, vẫn có mặt ở những sinh hoạt chung. Khi được hỏi, họ nói mọi sự bình thường. Nhưng trong phòng riêng, họ mệt đến mức không muốn gặp ai. Họ thức khuya để kéo dài một khoảng thời gian không phải đáp ứng mong đợi của người khác. Họ dùng những thú tiêu khiển liên tục để tránh nghe lòng mình. Họ có thể vẫn chu toàn nhiều việc, nhưng sự sống bên trong đang cạn dần. Nếu chỉ nhìn vào hiệu quả công việc, không ai nhận ra họ đang cần giúp đỡ. Và đôi khi chính họ cũng chưa dám nhận điều ấy.
Sống thật bắt đầu bằng việc chấp nhận rằng một người có thể vừa tận tâm vừa mệt, vừa yêu ơn gọi vừa đang gặp khủng hoảng, vừa có lòng tin vừa mang nhiều câu hỏi. Những trạng thái ấy cần được hiểu trong hoàn cảnh cụ thể. Khi mọi mệt mỏi đều bị xem là thiếu quảng đại, người tu sĩ sẽ học cách che giấu. Khi mọi câu hỏi đều bị nghi ngờ là bất trung, họ sẽ ngừng đối thoại. Một môi trường có sự lắng nghe và phân định giúp người ta nói thật sớm hơn, trước khi nỗi khó khăn trở thành một đổ vỡ lớn.
Trong ngày tĩnh tâm, ta có thể xin Chúa giúp phân biệt điều mình đang trải qua. Tôi đang thiếu ngủ, hay đang mất niềm vui sâu xa? Tôi cần nghỉ ngơi, cần thay đổi cách làm việc, hay cần hoán cải một thói quen? Tôi đang trải qua khô khan trong cầu nguyện, hay đang tránh Chúa vì có điều không muốn sửa? Tôi cảm thấy cô đơn vì thiếu những tương quan nâng đỡ, hay vì đã khép mình trước mọi lời mời gặp gỡ? Có những điều cùng hiện diện và ảnh hưởng lẫn nhau. Việc gọi đúng tên cần sự kiên nhẫn, đôi khi cần một người đồng hành có kinh nghiệm hoặc sự trợ giúp chuyên môn thích hợp.
Cảm xúc cũng cần được nhìn nhận cách ngay thẳng. Buồn, sợ, thất vọng hay cảm thấy ghen không tự nó kể hết sự thật luân lý về một con người. Cần xem ta đón nhận cảm xúc ấy thế nào, nuôi dưỡng nó ra sao, đã chọn nói và làm điều gì. Một cơn giận có thể báo cho ta biết một giới hạn đang bị xâm phạm; đồng thời, cơn giận không cho phép ta làm nhục người khác. Một cảm giác ganh tị có thể giúp ta nhận ra nhu cầu được nhìn nhận; nhưng nếu ta cố tình hạ thấp người thành công, ta phải chịu trách nhiệm về việc ấy. Thành thật giúp ta vừa hiểu mình vừa nhận đúng phần trách nhiệm.
Có người rất sợ nhận rằng mình ganh tị. Họ quen nghĩ ganh tị là điều nhỏ nhen, không hợp với tuổi đời, chức vụ hoặc đời sống đạo đức của mình. Vì vậy, cảm xúc ấy được khoác những tên gọi có vẻ hợp lý hơn. Khi một người trẻ được tín nhiệm, ta nói mình chỉ lo họ chưa đủ chín chắn. Khi một sáng kiến được đón nhận, ta lập tức nhắc đến những nguy cơ mà chưa chịu nhìn điều tốt. Khi một người khác được cảm ơn, ta nhớ ngay những thiếu sót của họ. Có thể trong những nhận xét ấy có phần đúng. Nhưng nếu lòng mình chỉ khó chịu khi điều tốt xảy đến cho người kia, ta cần ngồi lại với Chúa.
Lời cầu nguyện khi ấy có thể rất cụ thể: lạy Chúa, con buồn vì không được nhắc đến. Con khó chịu khi người ấy được chọn. Con đã muốn tìm một lỗi của họ để cảm thấy mình đỡ thua kém. Xin cho con thấy nhu cầu đang làm con mất tự do. Xin giúp con biết nhìn nhận công lao của họ và chăm sóc nỗi bất an của mình bằng một cách trưởng thành hơn. Một lời thưa như thế khó hơn việc đọc một lời nguyện chung về lòng khiêm nhường. Nhưng nó đưa ta đến đúng nơi cần được chữa lành.
Cũng có khi ta gọi sự nóng nảy là lòng nhiệt thành. Ta nói lớn vì lo cho công việc, cắt lời vì không có thời gian, nặng lời vì muốn người khác nên tốt. Sau đó, ta chỉ kể rằng mình đã phải nhắc nhở. Ta bỏ qua giọng nói, ánh mắt, những câu làm người nghe xấu hổ. Có thể điều cần sửa trong công việc là có thật. Tuy nhiên, người bị góp ý vẫn có phẩm giá và cần được đối xử cách tôn trọng. Sống thật đòi ta nhìn cả nội dung lẫn cách thức. Tôi đã nói điều đúng bằng một cách gây tổn thương nào? Tôi có thể chịu trách nhiệm về cách nói của mình mà không dùng lỗi của người khác để biện hộ không?
Một lời xin lỗi trưởng thành cần đi đến sự việc cụ thể. Ta có thể nói rằng trong cuộc họp mình đã cắt lời, đã dùng một câu thiếu tôn trọng, đã góp ý ở nơi có quá nhiều người trong khi nên trao đổi riêng. Khi nhận trách nhiệm rõ ràng, ta tạo điều kiện cho việc sửa chữa. Nếu lời xin lỗi chỉ là “tôi có gì không phải thì bỏ qua”, người nghe có thể vẫn không biết ta có hiểu điều đã gây đau hay không. Sự cụ thể khiến ta khó trốn, nhưng cũng giúp hai bên biết phải bắt đầu thay đổi từ đâu.
Thói kiểm soát cũng dễ được che dưới danh nghĩa trách nhiệm. Người phụ trách có nhiệm vụ theo dõi công việc, giữ sự thống nhất, bảo đảm điều đã được trao được thực hiện nghiêm túc. Nhưng có lúc ta muốn biết mọi chuyện vì không chịu nổi việc người khác có khoảng tự do. Ta khó để họ thử, khó chấp nhận một phương pháp khác, khó nghe một ý kiến không qua sự chấp thuận của mình. Khi ai đó trưởng thành hơn, ta cảm thấy vai trò mình bị thu hẹp. Sự thật này thường không dễ nhận, nhất là khi ta đã hy sinh nhiều cho tập thể. Ta cần hỏi: cách tôi điều hành có giúp người khác lớn lên và chịu trách nhiệm, hay khiến họ chỉ còn biết đoán ý tôi?
Người chịu trách nhiệm cần những nơi có thể được góp ý cách chân thành. Quyền hạn dễ làm giảm số người dám nói thật. Khi mọi người chỉ báo điều ta muốn nghe, ta có thể tưởng mình luôn đúng. Một bầu khí mà người góp ý bị lạnh nhạt, bị gán động cơ xấu hoặc chịu thiệt thòi sẽ nhanh chóng mất sự thật. Người có trách nhiệm phải xét lại phản ứng của mình trước những điều khó nghe. Tôi có hỏi để hiểu thêm không? Tôi có phân biệt việc người khác không đồng ý với việc họ không tôn trọng mình không? Sau một góp ý, cách tôi đối xử với họ có thay đổi theo hướng trừng phạt không?
Có lúc ta gọi sự lạnh nhạt là khôn ngoan. Vì từng bị tổn thương, ta quyết định không để ai đến gần nữa. Ta chỉ giao tiếp ở mức cần thiết, tránh quan tâm sâu, không muốn biết ai đang buồn. Ta có lý do để thận trọng, nhưng sự khép kín kéo dài có thể làm nghèo cả đời mình lẫn cộng đoàn. Khôn ngoan giúp thiết lập ranh giới phù hợp và lựa chọn những tương quan đáng tin. Ta vẫn có thể giữ sự kín đáo mà dành cho người khác lòng tử tế, sự chú ý và một khoảng hiện diện thật. Nếu ta luôn dùng kinh nghiệm đau đớn để giải thích mọi khoảng cách, cần hỏi xem mình có còn muốn được chữa lành không.
Có lúc ta gọi việc né tránh đối thoại là giữ bình an. Một vấn đề đã lặp lại nhiều lần nhưng không ai trực tiếp trao đổi với người liên quan. Thay vào đó, những lời phàn nàn đi qua nhiều phòng, nhiều bàn ăn, nhiều cuộc nói chuyện riêng. Bề ngoài cộng đoàn yên, nhưng lòng tin đang bị bào mòn. Người bị nói đến không có cơ hội giải thích hoặc sửa đổi. Những người nghe chuyện mang thêm một nhận xét mà chưa chắc đã biết đầy đủ sự việc. Sống thật đòi sự can đảm nói đúng nơi, đúng người, đúng mức độ. Có việc cần đối thoại trực tiếp; có việc cần người có trách nhiệm hoặc người trung gian. Sự thận trọng phải giúp sự thật được tiếp cận, thay vì khiến nó bị chôn vùi.
Thinh lặng có giá trị khi nó giữ ta khỏi lời nói thiếu bác ái, giúp ta chờ đến lúc bình tĩnh và chọn cách trao đổi thích hợp. Nhưng thinh lặng cũng có thể được dùng để gây áp lực, làm người khác sợ, hoặc bảo vệ một sự việc gây hại. Mỗi người cần xét lại thứ thinh lặng mình đang giữ. Tôi im vì muốn hiểu và nói tốt hơn, hay vì muốn người kia tự chịu đựng? Tôi giữ kín vì tôn trọng phẩm giá, hay vì sợ mất hình ảnh của một cá nhân hoặc tập thể? Những câu hỏi ấy đụng đến trách nhiệm rất thật của đời sống chung.
Sự thành thật trước Chúa không đòi mỗi người phải kể mọi điều riêng tư trong cộng đoàn. Có những vùng của đời sống nội tâm cần được gìn giữ và chỉ chia sẻ trong một tương quan đồng hành thích hợp. Tự do, sự kín đáo và phẩm giá của từng người phải được tôn trọng. Một buổi chia sẻ không nên trở thành nơi buộc người ta công khai những vết thương, những cám dỗ hoặc những lỗi riêng tư. Việc một người chưa muốn kể một chuyện sâu kín trước tập thể không đủ để kết luận rằng họ thiếu cởi mở. Cần có sự khôn ngoan để phân biệt điều thuộc trách nhiệm chung với điều thuộc lương tâm và đời sống riêng.
Đồng thời, sự riêng tư cũng không miễn trừ trách nhiệm về những hành vi ảnh hưởng đến người khác. Nếu có tiền bạc cần giải trình, một quyết định cần làm rõ, một lời nói gây hại cần sửa chữa, ta phải đối diện với phần việc ấy. Khi có hành vi xâm hại, lạm dụng hoặc gây nguy hiểm, cần tìm đến người và cơ chế có trách nhiệm bảo vệ, làm rõ và xử lý. Sự kín đáo phục vụ phẩm giá con người; nó không thể trở thành lý do để người bị hại tiếp tục chịu đựng. Thành thật trước Chúa phải đi cùng lòng can đảm bảo vệ sự sống cụ thể.
Có một sự khác biệt cần được gìn giữ giữa nhận lỗi và tự làm nhục mình. Người thu thuế nhìn nhận mình là người tội lỗi và cầu xin lòng thương xót. Ông không cần tuyên bố rằng đời mình hoàn toàn vô giá trị. Chúng ta cũng vậy. Khi nhận một hành vi sai, ta đang gọi đúng điều phải sửa. Nếu từ đó kết luận rằng mình chỉ là một con người đáng khinh, ta có thể rơi vào tuyệt vọng và càng khó thay đổi. Sự hối cải cần đủ rõ để chịu trách nhiệm, đồng thời đủ tin tưởng để đón nhận khả năng bắt đầu lại.
Có người mang trong lòng một giọng nói rất khắc nghiệt. Mỗi lần làm sai, họ lập tức nghe những lời kết án: mình luôn như vậy, không bao giờ khá hơn, không xứng đáng ở đây. Những nhận xét ấy có thể đã được học từ những kinh nghiệm cũ, rồi dần trở thành cách tự đối xử. Ngày tĩnh tâm cần mở ra một lối khác. Ta hỏi mình đã làm gì, điều gì dẫn đến hành vi ấy, ai bị ảnh hưởng và cần sửa chữa thế nào. Những câu hỏi có thể dẫn tới hành động. Còn lời kết án toàn bộ con người thường chỉ làm ta tê liệt.
Cũng có một kiểu tự hạ khiến ta tránh sự thật theo cách khó nhận hơn. Ta dễ nói mình yếu đuối, tội lỗi, bất xứng trước đám đông, nhưng khi được góp ý về một việc cụ thể thì lập tức phản ứng. Những lời chung chung đôi khi an toàn vì không đụng vào điều nào phải thay đổi. Người khác còn có thể an ủi và khen ta khiêm nhường. Trong khi đó, việc nhận rằng mình đã thiếu trung thực trong một bản báo cáo, đã hứa mà không làm, đã dùng lời nói để hạ uy tín người khác lại khó hơn nhiều. Sự khiêm nhường được kiểm chứng ở khả năng nhận một sự thật cụ thể mà không lập tức tìm đường thoát.
Bởi vậy, việc xét mình trong tháng này nên bám vào đời sống thật. Thay vì chỉ nói “con thiếu bác ái”, hãy nhớ lại một cuộc gặp: ai đã đến, mình đã nghe thế nào, câu nào đã được nói, người ấy đã bị ảnh hưởng ra sao. Thay vì chỉ nói “con thiếu cầu nguyện”, hãy nhìn những ngày vừa qua: mình đã dành thời gian thế nào, điều gì chiếm chỗ, có lựa chọn nào mình đã biết rõ mà vẫn tiếp tục. Thay vì chỉ nói “con kiêu ngạo”, hãy xét phản ứng khi bị sửa, khi người khác được khen, khi công việc không theo ý. Sự cụ thể giúp lương tâm được soi sáng và giúp quyết tâm có hình hài.
Tuy nhiên, xét mình không cần biến thành việc dò xét từng cảm xúc với sự lo âu. Có người đã quen nghi ngờ mọi động lực của mình, đến mức việc tốt nào cũng bị phủ nhận vì có thể pha chút tự ái. Động lực con người thường cần được thanh luyện qua thời gian. Ta có thể làm một việc tốt với lòng chân thành mà vẫn cảm thấy vui khi được cảm ơn. Điều cần xét là ta có dùng việc tốt để thao túng, đòi hỏi hoặc đặt mình trên người khác không. Người dễ rơi vào lo âu lương tâm cần sự đồng hành ổn định, để học cách phân định trong bình an và tin tưởng.
Thành thật cũng bao gồm việc nhận những điều tốt Chúa đã thực hiện nơi mình. Có người nghĩ chỉ nhắc lỗi mới là khiêm nhường. Nhưng phủ nhận mọi ân huệ cũng làm câu chuyện đời mình thiếu sự thật. Ta có thể tạ ơn vì đã kiên nhẫn hơn trong một tương quan, đã dừng được một thói quen xấu, đã can đảm nói thật một lần, đã đón nhận sự giúp đỡ. Những điều ấy không làm ta tự mãn khi được nhìn nhận như ân sủng cần tiếp tục chăm sóc. Lòng biết ơn đem lại sức lực cho hoán cải, vì ta thấy rằng sự thay đổi đã có thể bắt đầu.
Trong đời tận hiến, có một nguy cơ đặc biệt: dùng kiến thức thiêng liêng để đi vòng qua những vấn đề rất người. Ta biết nói về phó thác nhưng chưa làm những việc cần thiết để giải quyết một xung đột. Ta khuyên người khác tha thứ trong khi chưa chịu nghe đầy đủ điều họ đã trải qua. Ta nói phải hy sinh nhưng không xét xem cách phân chia công việc có công bằng hay không. Ta nhắc đến thánh ý Chúa để kết thúc một cuộc trao đổi mà mình không muốn tiếp tục. Những lời đạo đức khi ấy có thể che đi điều cần được nhìn rõ. Sự trưởng thành thiêng liêng đòi ta để đức tin soi sáng và thúc đẩy trách nhiệm cụ thể.
Có những vết thương cần được nghe bằng một sự chú ý thật. Một người bị đối xử thiếu tôn trọng không chỉ cần được khuyên cầu nguyện. Họ có thể cần được bảo vệ, được giúp trình bày sự việc, được nhìn nhận điều đã xảy ra. Một người kiệt sức cần được xem lại khối lượng công việc. Một người có dấu hiệu khó khăn tâm lý kéo dài có thể cần sự chăm sóc chuyên môn. Cầu nguyện nâng đỡ những bước ấy. Khi ta thành thật về nhu cầu của mình và của người khác, ta tạo chỗ cho nhiều cách Chúa có thể dùng để giúp đỡ.
Xin giúp đỡ thường khó vì nó chạm đến hình ảnh ta muốn giữ. Người quen hướng dẫn người khác có thể thấy xấu hổ khi trở thành người cần hướng dẫn. Người lớn tuổi có thể sợ bị đánh giá là chưa trưởng thành. Người có trách nhiệm có thể lo mất uy tín. Nhưng để một vấn đề âm thầm lớn lên vì sợ bị biết thường gây hậu quả nặng hơn. Sự khiêm nhường có khi chỉ là đặt một cuộc hẹn và nói câu đầu tiên: con đang có một khó khăn mà tự mình chưa xử lý được. Từ câu ấy, một con đường có thể mở ra.
Việc chọn người đồng hành cần sự khôn ngoan. Ta cần người biết lắng nghe, tôn trọng sự kín đáo, có khả năng phân định và đủ tự do để nói điều cần nói. Nếu chỉ tìm người luôn đồng ý, ta có thể tiếp tục được an ủi trong những cách giải thích cũ. Nếu tìm đến nơi khiến mình sợ hãi, bị áp đặt hoặc bị xâm phạm ranh giới, ta cũng cần xem lại. Một tương quan đồng hành tốt giúp ta hiểu rõ hơn, chịu trách nhiệm hơn và lớn lên trong tự do trước Chúa. Qua thời gian, ta được giúp để tự nhận định và sống trưởng thành.
Có người đi qua nhiều cuộc gặp mà vẫn tránh một chuyện chính. Họ kể công việc, kể người khác khó thế nào, kể những điều mình đã cố gắng. Mỗi lần đến gần vấn đề của bản thân, câu chuyện lại rẽ sang nơi khác. Ta có thể nhận ra điều ấy khi chuẩn bị cầu nguyện: điều gì tôi luôn định nói nhưng rồi không nói? Tôi sợ điều gì sẽ xảy ra nếu người đồng hành biết? Tôi đang bảo vệ một sự kín đáo chính đáng, hay đang bảo vệ một thói quen mình chưa muốn bỏ? Có khi một cuộc gặp chỉ thật sự bắt đầu khi ta dám nói điều đã nhiều lần giữ lại.
Nỗi sợ bị biết có nhiều tầng. Có chuyện khiến ta xấu hổ vì đã làm sai. Có chuyện khiến ta sợ vì từng bị người khác phán xét hoặc làm tổn thương khi chia sẻ. Có chuyện thuộc những nhu cầu và cảm xúc bình thường nhưng ta đã được dạy phải che giấu. Vì vậy, câu hỏi “tôi đang sợ điều gì sẽ bị biết” cần được đặt trong sự tế nhị. Ta không vội kết luận. Hãy xin Chúa cho mình hiểu nỗi sợ ấy, phân biệt điều cần được bảo vệ với điều cần được đưa ra ánh sáng ở một nơi thích hợp.
Một lĩnh vực cần sự ngay thẳng là cách ta sống các tương quan. Ta có thể đang dành cho một người sự quan tâm khiến mình dần mất tự do. Ban đầu chỉ là một sự dễ chịu vì được hiểu, rồi thành nhu cầu phải liên lạc thường xuyên, phải được trấn an, phải giữ một khoảng riêng không muốn ai biết. Dấu hiệu cần chú ý có thể là sự giấu giếm, sự chia trí kéo dài, việc lơ là bổn phận hoặc phản ứng quá mạnh khi tương quan bị đặt câu hỏi. Sự thành thật sớm giúp ta tìm cách điều chỉnh trước khi gây tổn thương cho mình và người khác.
Trong những trường hợp ấy, ta cần tránh cả sự hoảng sợ lẫn tự trấn an quá dễ. Có tình cảm là một phần của đời sống con người; cách ta nuôi dưỡng và sống tình cảm ấy cần được phân định trong ánh sáng của ơn gọi, cam kết và trách nhiệm. Đưa chuyện ấy đến một cuộc đồng hành thích hợp, thiết lập ranh giới rõ ràng, chăm sóc những khoảng thiếu thốn trong đời sống và xây dựng các tương quan lành mạnh là những bước có thể cần thiết. Thành thật cho phép ta hành động khi còn đủ khả năng lựa chọn sáng suốt.
Tiền bạc và của chung cũng là nơi sự thật được thử thách. Những khoản chi nhỏ thiếu giải trình, một món đồ giữ lại mà không hỏi, một cách dùng phương tiện chung theo tiện lợi riêng, một báo cáo không đầy đủ có thể được xem nhẹ vì nghĩ chẳng đáng bao nhiêu. Nhưng thói quen che giấu thường lớn lên từ những điều được bỏ qua. Người sống khó nghèo cần sự minh bạch phù hợp với trách nhiệm mình nhận. Khi sai, việc nhận lỗi cần đi cùng giải trình, hoàn trả hoặc sửa chữa cần thiết. Lời nguyện xin sống thật phải chạm đến cả những con số, những giấy tờ và những quyết định rất thường ngày.
Lời nói cũng có những vùng thiếu trung thực tinh vi. Ta kể một sự việc theo cách mình có vẻ hợp lý nhất, lược bỏ phần đã kích động người kia, nhấn mạnh phản ứng của họ. Ta dùng câu “nhiều người cũng nghĩ vậy” khi thực ra mới chỉ có một cuộc trò chuyện. Ta gán cho người khác một động cơ mà mình không thể biết chắc. Ta gọi lời đồn là thông tin để tham khảo. Những cách nói ấy làm tổn thương lòng tin. Hoán cải có thể bắt đầu bằng việc phân biệt rõ điều mình thấy, điều mình nghe và điều mình suy đoán. Khi chưa biết, ta tập nói mình chưa biết.
Có khi ta đã nói một nhận xét sai và nhiều người nghe. Sau đó, dù biết sự thật khác đi, ta chỉ âm thầm ngưng nhắc lại. Nhưng người bị ảnh hưởng vẫn mang tiếng xấu. Trách nhiệm có thể đòi ta trở lại với những người đã nghe để đính chính trong mức độ thích hợp. Việc ấy khó vì ta phải chấp nhận mình đã vội vàng hoặc thiếu công bằng. Tuy nhiên, chính sự khó ấy cho thấy hoán cải cần một giá phải trả. Ta trả lại cho người khác điều đã bị lời nói mình lấy mất.
Một người sống thật cũng tập giữ lời hứa. Có thể ta dễ nói sẽ cầu nguyện, sẽ gọi lại, sẽ giúp, sẽ xem xét, chỉ để kết thúc cuộc gặp trong sự dễ chịu. Sau đó, việc ấy bị quên. Những lời hứa nhỏ lặp lại mà không được giữ khiến người khác không còn biết có thể tin ta đến mức nào. Sự chân thành đôi khi đòi nói ít hơn, lượng sức mình và nhận trách nhiệm rõ hơn. Nếu không thể làm, ta nói sớm. Nếu quên, ta nhận. Nếu hoàn cảnh thay đổi, ta giải thích. Đời sống đáng tin được xây bằng những việc rất giản dị như vậy.
Trước mặt Chúa, ta còn cần xét lại cách dùng thời gian. Một người có thể luôn than bận mà vẫn dành nhiều giờ cho những điều phân tán. Có người dùng công việc để tránh cộng đoàn. Có người liên tục nhận việc bên ngoài vì không muốn đối diện với sự trống rỗng bên trong. Có người giữ lịch kín vì sợ khi dừng lại sẽ phải gặp những câu hỏi về đời mình. Công việc tự nó có thể tốt, nhưng cách ta dùng nó cần được soi sáng. Tôi có còn chọn lựa, hay đang để sự bận rộn điều khiển? Tôi có thể nghỉ trong bình an không? Tôi có thể hiện diện với Chúa mà không cần chứng minh mình hữu ích không?
Những câu hỏi ấy có thể đưa ta đến một nỗi sợ sâu hơn: nếu tôi không còn được xem là mạnh mẽ, giỏi giang hoặc đạo đức, người khác có còn chấp nhận tôi không? Nỗi sợ ấy thường khiến ta tốn nhiều sức để quản lý hình ảnh. Ta tránh nhận lỗi, khó nói mình không biết, không muốn để ai thấy giới hạn. Nhưng một đời sống luôn phải giữ vẻ hoàn chỉnh sẽ rất mệt. Người thu thuế trong dụ ngôn giúp ta hướng mắt về lòng thương xót. Trước Thiên Chúa, tôi không phải tự tạo ra nền tảng cuối cùng cho giá trị đời mình. Tôi được mời nhận sự thật và mở lòng đón ân sủng.
Sự thật ấy cần được đưa vào bí tích Hòa giải. Việc chuẩn bị xưng tội có thể bắt đầu bằng một khoảng cầu nguyện đủ yên để nhìn lại đời sống, xin ánh sáng và lòng thống hối. Ta nhớ những hành vi cụ thể, nhận phần trách nhiệm, phân biệt điều đã tự do chọn với điều mình chỉ đang chịu đựng hoặc bị ảnh hưởng. Ta đến để nhận ơn tha thứ và được nâng đỡ trong việc đổi mới. Có những người trì hoãn vì nghĩ phải sửa cho xong rồi mới xưng tội. Nhưng chính người đang yếu cần ân sủng để có thể bước tiếp.
Khi xưng tội, ta có thể nói rõ ràng, ngắn gọn và chân thành, không cần làm cho lỗi mình nghe nhẹ hơn bằng một câu chuyện quá dài. Hoàn cảnh có thể cần được trình bày để hiểu đúng sự việc, nhưng không nên trở thành cách đẩy trách nhiệm hoàn toàn sang người khác. Ta cũng cần tránh nhận những lỗi không thuộc về mình chỉ vì cảm giác tội lỗi hoặc áp lực. Vị giải tội có thể giúp phân định khi ta chưa rõ. Một cuộc xưng tội chân thành đặt hy vọng nơi lòng thương xót và hướng đến một quyết tâm có thể sống.
Có những lỗi lặp lại khiến người tu sĩ rất nản. Ta nghĩ mình đã khấn nhiều năm, đã học nhiều, đã nghe bao bài tĩnh tâm mà vẫn nóng, vẫn ganh, vẫn thiếu kỷ luật. Nỗi buồn ấy cần được đưa đến Chúa. Đồng thời, ta có thể xét lại cách mình chiến đấu: đã nhận ra hoàn cảnh thường dẫn đến lỗi chưa? Đã có một thay đổi cụ thể trong nhịp sống chưa? Đã tìm sự đồng hành chưa? Hay sau mỗi lần vấp ngã, ta chỉ quyết tâm bằng một cảm xúc mạnh rồi trở lại đúng điều kiện cũ? Ân sủng mời gọi sự cộng tác kiên nhẫn, có hiểu biết và có những bước thực tế.
Nếu thường nổi nóng khi mệt, ta cần xem lại cách nghỉ ngơi và nhận biết dấu hiệu quá tải. Nếu thường nói xấu trong một nhóm trò chuyện, ta cần thay đổi cách tham dự hoặc chủ động chuyển câu chuyện. Nếu một thói quen thiếu trung thực được nuôi bởi sự kín đáo quá mức, cần có một hình thức trách nhiệm giải trình thích hợp. Nếu việc sử dụng thiết bị làm mình mất tự do, cần giới hạn rõ ràng và sự trợ giúp khi cần. Những bước ấy không thay thế cầu nguyện; chúng là cách đem điều đã cầu nguyện vào đời sống.
Đón nhận ơn tha thứ cũng là một hành vi của đức tin. Có người đã thành tâm xưng tội nhưng tiếp tục tự trừng phạt bằng việc nhắc lỗi cũ như một bản án không thể xóa. Nếu còn trách nhiệm sửa chữa, ta thực hiện. Nếu còn hậu quả, ta kiên nhẫn đối diện. Nhưng ta cũng cần học tin vào ơn Chúa đã ban, thay vì chỉ tin vào cảm giác bất xứng của mình. Khi nỗi ám ảnh tội lỗi kéo dài và làm đời sống mất bình an, cần trao đổi với người đồng hành hoặc người có chuyên môn thích hợp. Chúa mời người được tha thứ bước đi trong một đời sống mới.
Hoán cải thường được nhận ra qua những thay đổi nhỏ có thể kiểm chứng. Người hay biện minh bắt đầu nói: việc ấy tôi đã làm sai. Người hay cắt lời bắt đầu nghe cho hết. Người quen giữ kín mọi khó khăn đặt một cuộc hẹn xin giúp đỡ. Người thường làm nhục người khác khi góp ý chuyển sang trao đổi riêng và tôn trọng hơn. Người luôn kể công bắt đầu làm một việc tốt mà không nhắc lại. Những bước ấy không gây tiếng vang, nhưng chúng thay đổi bầu khí chung và làm lòng tin có thể được xây lại.
Khi đã gây tổn thương, ta cần chấp nhận rằng lòng tin không trở lại ngay sau một lời xin lỗi. Người kia có thể cần thời gian, cần thấy sự thay đổi ổn định, cần một khoảng cách phù hợp. Ta không nên đòi họ phải mau quên để mình bớt khó chịu. Sự hoán cải trưởng thành biết tôn trọng nhịp hồi phục của người bị ảnh hưởng. Ta tiếp tục sống có trách nhiệm ngay cả khi chưa được nhìn nhận như mình mong. Chính trong giai đoạn ấy, ta học yêu sự thật hơn sự thanh thản nhanh chóng của bản thân.
Có những người sẽ không đáp lại lời xin lỗi như ta hy vọng. Họ có thể chưa sẵn sàng, có thể hiểu khác, hoặc vẫn giữ khoảng cách. Ta cần xem lại phần mình với người đồng hành và tiếp tục làm điều đúng. Sự hòa giải trọn vẹn có khi vượt quá khả năng của một người. Tuy vậy, việc nhận lỗi chân thành, sửa chữa phù hợp và ngưng lặp lại hành vi gây hại vẫn có giá trị. Ta không điều khiển được phản ứng của người khác, nhưng có thể chịu trách nhiệm về cách mình sống từ đây.
Tĩnh tâm cũng là lúc nhìn lại những điều ta thường dùng để giải thích hành vi. “Tính tôi vốn vậy” có thể mô tả một khuynh hướng, nhưng không miễn cho ta việc học cách ứng xử tốt hơn. “Tôi chỉ nói sự thật” không đủ để biện minh cho lời nói tàn nhẫn. “Ai cũng làm thế” không làm một việc thiếu ngay thẳng trở thành đúng. “Tôi hy sinh nhiều rồi” không cho phép ta đòi người khác phải chịu những cơn giận của mình. Mỗi câu giải thích cần được đặt trước Chúa để xem nó đang giúp hiểu sự việc hay đang ngăn cản hoán cải.
Đặc biệt, ta cần cẩn trọng với việc dùng những hy sinh quá khứ để xin một sự miễn trừ ở hiện tại. Có người đã làm việc nhiều năm, đi qua nhiều thiếu thốn, xây dựng nhiều công trình. Những điều ấy đáng được biết ơn. Nhưng lòng biết ơn đối với quá khứ vẫn đi cùng trách nhiệm hôm nay. Một người có công vẫn cần được góp ý khi làm sai. Một người lớn tuổi vẫn cần tôn trọng người trẻ. Một người từng chịu bất công vẫn phải chịu trách nhiệm nếu mình đang gây bất công cho người khác. Sự thật bảo vệ cả những điều tốt đã làm lẫn phẩm giá của người đang sống bên cạnh.
Người trẻ cũng cần sống thật với những giới hạn của mình. Có thể ta thích nói về đổi mới nhưng chưa đủ kiên nhẫn học những gì đã có. Ta phê bình người lớn tuổi cứng nhắc nhưng lại khó nghe bất cứ ai khác ý. Ta nói muốn đối thoại nhưng chỉ thấy đối thoại có ích khi kết quả đúng theo mong muốn. Ta dễ giải thích sự thiếu bền bỉ bằng việc không được hiểu. Mỗi thế hệ đều có những cách tự bảo vệ riêng. Lời Chúa mời từng người đứng trước Thiên Chúa, thay vì chỉ dùng bản văn để phân tích thế hệ khác.
Một cộng đoàn trưởng thành cần nuôi dưỡng khả năng nhận lỗi mà không làm người có lỗi mất hết chỗ đứng. Nếu mỗi lần ai nhận sai đều bị nhắc lại mãi, mọi người sẽ học cách chối. Nếu người nói khó khăn bị xem là yếu kém, các khủng hoảng sẽ được giấu đến phút cuối. Ngược lại, khi sự thật được đón nhận cách có trách nhiệm, khi lỗi được xử lý công bằng và phẩm giá vẫn được giữ gìn, con người có nhiều can đảm hơn để trở về. Người phụ trách và từng thành viên đều góp phần tạo nên bầu khí ấy bằng cách phản ứng trước sự yếu đuối của nhau.
Ta cũng cần xét cách mình đón nhận sự thật về người khác. Có khi ta đòi họ cởi mở nhưng lại không giữ được điều họ đã tin tưởng chia sẻ. Có khi ta hỏi thăm vì tò mò nhiều hơn vì quan tâm. Có khi ta dùng một chuyện riêng tư để giải thích mọi hành vi của họ từ đó về sau. Nếu muốn có một cộng đoàn chân thành, ta phải trở thành người có thể được tin cậy. Biết điều gì cần giữ kín, điều gì phải chuyển đến người có trách nhiệm và cách bảo vệ người liên quan là một phần của sự trưởng thành.
Trong tháng này, có thể chọn một điều đang làm đời sống mình thiếu trung thực để bắt đầu sửa. Chỉ một điều thôi, nhưng đủ cụ thể. Có thể là ngưng kể lại những chuyện làm người khác mang tiếng. Có thể là giải trình rõ một khoản chi. Có thể là nói thật về việc mình chưa làm xong. Có thể là nhận một nhu cầu cần được giúp đỡ. Có thể là chấm dứt một sự giấu giếm đang làm mình mất tự do. Hãy viết điều ấy bằng một câu rõ ràng, chọn bước đầu tiên và thời điểm thực hiện. Sau đó đem tiến trình ấy vào cầu nguyện và cuộc đồng hành thích hợp.
Mỗi tối, ta có thể dành ít phút nhìn lại một sự việc trong ngày. Tôi đã sống thật ở đâu? Tôi đã né tránh điều gì? Khi nào lòng tự ái khiến tôi bóp méo câu chuyện? Tôi đã nhận được ơn nào để cư xử khác trước? Hãy tạ ơn về điều tốt, nhận lỗi về điều sai và xác định một việc cần sửa vào ngày mai. Đừng biến giờ xét mình thành một phiên tòa dài khiến mình không thể ngủ. Một cái nhìn ngắn, rõ và tín thác có thể được thực hiện bền bỉ hơn những cuộc tự tra vấn nặng nề.
Khi thấy mình lại vấp, hãy trở về với sự việc cụ thể. Đừng vội phủ nhận toàn bộ những cố gắng đã có. Sự thay đổi thường có những bước tiến và những lần lùi. Điều cần theo dõi là mình có nhận ra sớm hơn không, có ít gây hại hơn không, có mau nhận trách nhiệm hơn không, có tìm sự trợ giúp thay vì che giấu không. Những dấu chỉ ấy giúp ta thấy công việc của hoán cải đang diễn ra. Ta tiếp tục cộng tác trong sự khiêm nhường, không buông xuôi vì yếu đuối và cũng không tự mãn vì một vài ngày làm tốt.
Trước khi kết thúc ngày tĩnh tâm, hãy trở lại hình ảnh người thu thuế đứng ở đằng xa. Ông không có lời nào để bảo đảm cho mình ngoài lời cầu xin. Có thể hôm nay ta cũng thấy mình như vậy: đã biết nhiều mà vẫn sống chưa được bao nhiêu, đã nhận nhiều mà còn giữ lại quá nhiều, đã dạy người khác trở về mà chính mình vẫn chần chừ. Hãy để sự nhận biết ấy đưa ta đến với Chúa. Lòng thương xót là nơi người tội lỗi có thể bắt đầu nói thật và tìm lại đường sống.
Ta không cần đi ra khỏi nhà nguyện với lời hứa rằng từ nay sẽ không còn yếu đuối. Ta có thể ra về với một quyết định khiêm tốn hơn và thật hơn: con sẽ thôi che giấu điều này; con sẽ nhận trách nhiệm về việc ấy; con sẽ đặt cuộc hẹn xin giúp đỡ; con sẽ chuẩn bị lãnh nhận bí tích Hòa giải; con sẽ sửa một điều đã làm người khác đau. Một quyết định như thế cần được sống qua những ngày bình thường, khi cảm xúc tĩnh tâm đã lắng xuống. Chính ở đó, lời cầu nguyện được tiếp tục bằng hành động.
Và nếu hôm nay ta chưa nói được nhiều, hãy bắt đầu bằng điều gần nhất: lạy Chúa, con đang sợ. Con sợ nếu sống thật, con sẽ mất hình ảnh, mất chỗ đứng, mất sự chấp nhận. Xin giúp con tìm nơi thích hợp để nói điều cần nói. Xin cho con tin rằng đời con có thể được xây lại trên sự thật. Xin dạy con nhận lỗi mà không tuyệt vọng, đón nhận sự giúp đỡ mà không xấu hổ và bước vào một ngày mới với lòng chân thành hơn.
Lạy Chúa Giêsu, hôm nay con xin đứng trước mặt Chúa với con người thật của con. Có những điều con đã nói rất nhiều, cũng có những điều con luôn tránh nhắc đến. Con biết cách diễn tả một tâm tình đạo đức, nhưng đôi khi chưa biết thưa với Chúa điều đang làm lòng mình nặng nề. Xin giúp con bắt đầu từ đó. Xin cho con đủ bình tĩnh để nhìn và đủ tin tưởng để không bỏ chạy.
Chúa biết những mong đợi con đang mang, những trách nhiệm con đang giữ và những hình ảnh con sợ đánh mất. Có lúc con đã cố tỏ ra mạnh mẽ khi thật sự cần nghỉ. Có lúc con nói mọi sự ổn trong khi lòng đầy lo âu. Có lúc con sợ bị xem là yếu nên không dám xin giúp đỡ. Xin cho con nhận ra giới hạn của mình và biết tìm sự nâng đỡ thích hợp. Xin giúp con đón nhận sự chăm sóc với lòng biết ơn.
Xin soi sáng những cách con đang tự biện minh. Khi con dùng sự nhiệt thành để giải thích lời nói nóng nảy, xin giúp con nhận ra người đã bị tổn thương. Khi con gọi thói kiểm soát là trách nhiệm, xin giúp con thấy tự do của người khác. Khi con dùng sự im lặng để tránh đối thoại, xin cho con can đảm tìm cách trao đổi đúng đắn. Khi con kể câu chuyện chỉ có phần mình hợp lý, xin nhắc con nhớ điều đã cố tình bỏ qua.
Lạy Chúa, có những điều trong lòng con thật khó nhận. Con có thể ganh tị trước thành công của người khác, buồn khi không được nhắc đến, khó chịu khi không được hỏi ý kiến. Xin giúp con gọi tên những cảm xúc ấy mà không nuôi dưỡng chúng thành lời nói và hành vi gây hại. Xin cho con hiểu nhu cầu đang ở bên dưới và học cách sống với chúng trong sự trưởng thành. Xin cho con biết vui với điều tốt nơi người khác.
Xin giúp con phân biệt lỗi lầm cần sám hối với vết thương cần được chăm sóc, giới hạn cần chấp nhận và trách nhiệm cần đảm nhận. Xin gìn giữ con khỏi thói đổ lỗi, cũng khỏi việc nhận về mình những điều không thuộc trách nhiệm của con. Xin dẫn con đến những người có thể giúp con thấy rõ và bước đi trong tự do.
Con cầu xin Chúa cho những người đang sống cạnh con. Có người mang một khó khăn mà con chưa biết. Có người đã nhiều lần muốn nói nhưng không tìm được sự lắng nghe. Có người đã bị lời nói hoặc cách đối xử của con làm cho khép lại. Xin giúp con trở thành người đáng tin cậy hơn. Xin dạy con giữ sự kín đáo, tôn trọng ranh giới và biết tìm sự bảo vệ cần thiết cho người đang bị tổn thương.
Xin cho cộng đoàn chúng con có can đảm sống trong sự thật. Xin cho người có trách nhiệm biết lắng nghe những điều khó nghe. Xin cho người góp ý biết nói với lòng ngay thẳng và tôn trọng. Xin giúp chúng con xử lý lỗi lầm cách công bằng, bảo vệ phẩm giá và tạo điều kiện cho sự sửa đổi. Xin đừng để nỗi sợ mất hình ảnh khiến chúng con bỏ quên con người cụ thể.
Lạy Chúa, con xin ơn thống hối để chuẩn bị lãnh nhận bí tích Hòa giải. Xin cho con nhận lỗi rõ ràng, không tìm cách giảm nhẹ bằng việc kết tội người khác. Xin giúp con tin vào ơn tha thứ và thực hiện những việc sửa chữa cần thiết. Khi con vấp lại, xin cho con biết trở về, học từ điều đã xảy ra và tìm thêm sự trợ giúp. Xin giữ con khỏi tuyệt vọng và khỏi thái độ dễ dãi với chính mình.
Có một điều con cần bắt đầu thay đổi trong tháng này. Xin Chúa giúp con nhìn rõ điều ấy và thực hiện bước đầu tiên. Xin cho con trung thành trong những ngày bình thường, khi không có ai thấy và không có cảm xúc mạnh nâng đỡ. Xin cho lời nói của con đáng tin hơn, cách làm việc minh bạch hơn và tương quan với người khác chân thành hơn.
Lạy Chúa, con cần lòng thương xót của Ngài. Con xin đặt trước Chúa điều tốt đã nhận, điều sai đã làm và điều còn sợ chưa dám nói. Xin tiếp tục dẫn con vào sự thật bằng tình yêu của Chúa. Xin cho con can đảm nhận lỗi và đủ tin tưởng để bắt đầu lại. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
THÁNG BA — CÓ NHỮNG VẾT THƯƠNG ĐANG LÊN TIẾNG TRONG CÁCH TÔI YÊU
Để Chúa chữa lành và học chịu trách nhiệm về những phản ứng của mình.
Lời Chúa: Ga 5,1–9 — Đức Giêsu gặp người đau yếu bên hồ Bếtdatha.
Có những buổi tối, người tu sĩ trở về phòng sau một ngày sinh hoạt hoàn toàn bình thường, nhưng trong lòng lại nặng đến mức không muốn nói với ai. Công việc vẫn được hoàn thành. Giờ kinh vẫn có mặt. Bữa cơm vẫn ngồi đúng chỗ. Người khác nhìn vào có lẽ chẳng thấy điều gì đáng chú ý. Thế mà một lời nói từ buổi sáng vẫn còn vang trong trí. Một câu góp ý ngắn trong cuộc họp vẫn chưa chịu khép lại. Một người được hỏi ý kiến trong khi mình không được hỏi, một công việc được giao cho người khác, một tin nhắn đã đọc mà chưa được trả lời, tất cả có thể theo ta từ nhà nguyện đến phòng ăn, từ bàn làm việc đến giường ngủ. Ta biết sự việc không lớn như cảm giác mình đang mang. Ta cũng tự nhủ phải quảng đại hơn, phải trưởng thành hơn, phải sống tinh thần từ bỏ. Nhưng càng cố ép mình đừng buồn, lòng lại càng buồn. Càng trách mình quá nhạy cảm, ta càng thấy cô độc trong chính nỗi nhạy cảm ấy.
Có khi ta phản ứng bằng một câu nói gắt. Có khi bằng sự im lặng kéo dài. Có khi ta vẫn mỉm cười, nhưng từ đó không còn hết lòng với người đã làm mình khó chịu. Ta trả lời vừa đủ. Ta làm việc vừa đủ. Ta giữ phép lịch sự, đồng thời âm thầm rút lại sự gần gũi. Người kia không hiểu vì sao khoảng cách bỗng xuất hiện. Chính ta cũng khó giải thích. Nếu được hỏi, ta có thể nói: “Không có gì.” Nhưng trong lòng có rất nhiều điều. Có nỗi buồn vì cảm thấy mình không được coi trọng. Có sự giận dữ vì tưởng rằng người khác đã xem thường những hy sinh của mình. Có nỗi sợ rằng sau bao nhiêu năm tận tụy, mình vẫn dễ dàng bị thay thế. Đằng sau một phản ứng hôm nay, đôi khi có một câu chuyện rất cũ đang tìm cách được nghe.
Tháng tĩnh tâm này mời ta ngồi lại trước mặt Chúa với những điều như thế. Ta không đến để tìm thêm lý lẽ kết tội mình. Ta cũng không đến để lập một hồ sơ những người đã khiến mình đau. Ta đến vì muốn hiểu điều gì đang xảy ra trong lòng, muốn nhận ra mình đã yêu thương ra sao khi mang theo những vết thương chưa được chăm sóc. Có lẽ ta đã dành nhiều năm để học cách phục vụ người khác mà chưa biết phải làm gì với sự hụt hẫng của chính mình. Ta biết an ủi một người đang khóc, nhưng lại thấy xấu hổ khi mình cần được an ủi. Ta khuyên người khác đừng sợ yếu đuối, trong khi bản thân vẫn sống rất căng vì không cho phép ai nhìn thấy sự mong manh của mình.
Trước mặt Chúa, ta được phép bắt đầu bằng một lời đơn sơ: “Lạy Chúa, con đang đau. Con chưa hiểu hết vì sao. Con muốn sống tốt với anh chị em, nhưng có những lúc con không làm được điều con thật lòng mong muốn. Xin giúp con nhìn rõ lòng mình.”
Bài Tin Mừng đưa chúng ta đến bên hồ Bếtdatha. Ở đó có nhiều người đau yếu, và có một người đã mang bệnh suốt ba mươi tám năm. Một khoảng thời gian dài đến mức khi nghe qua, ta có thể chỉ chú ý đến con số mà quên rằng đó là từng ngày sống thật. Từng buổi sáng thức dậy trong giới hạn của thân thể. Từng lần hy vọng rồi thất vọng. Từng lần thấy người khác có cơ hội mà mình vẫn nằm lại. Ba mươi tám năm ấy không chỉ là thời gian của bệnh tật. Đó còn là thời gian một con người phải sống với sự phụ thuộc, chờ đợi và những điều mình không thể tự giải quyết.
Đức Giêsu nhìn thấy ông. Người biết ông đã đau yếu từ lâu và hỏi ông có muốn được khỏi bệnh không. Câu hỏi ấy đi thẳng đến một con người cụ thể, với một nỗi khổ cụ thể. Giữa nơi có nhiều người đang cần được giúp, ông được gặp gỡ. Người nằm đó không còn chỉ là một trường hợp giữa đám đông. Có Đấng dừng lại trước cuộc đời ông.
Trong giờ tĩnh tâm, ta hãy để điều này đến với mình chậm rãi: Chúa nhìn thấy tôi. Người thấy những việc tôi đã làm, và cũng thấy những nặng nhọc tôi không biết nói cùng ai. Người thấy cách tôi cố gắng giữ bình tĩnh trong cuộc họp. Người thấy lúc tôi trở về phòng rồi bật khóc. Người thấy cả những điều tôi chưa dám gọi tên: sự ganh tị, nhu cầu được yêu, nỗi sợ bị bỏ rơi, sự tủi thân khi mình không còn được cần đến. Tôi không phải trình bày một phiên bản đã được sửa sang cho dễ chấp nhận rồi mới đến gặp Người. Tôi có thể đến với con người đang có thật.
Khi trả lời Đức Giêsu, người đau yếu nói đến việc ông không có ai đưa xuống hồ khi nước động, và khi ông đang tìm cách đến thì người khác đã xuống trước. Trong lời đáp ấy, ta nghe thấy sự bất lực của một người cần được giúp mà chưa có người giúp. Tuy nhiên, chúng ta không cần suy đoán thêm rằng ông muốn ở lại với bệnh tật, hay ông cố tình bào chữa cho hoàn cảnh của mình. Bản văn cho biết điều ông đã chịu đựng và cuộc gặp gỡ đã làm thay đổi đời ông. Khi đem câu chuyện này vào đời sống nội tâm, ta cũng cần giữ sự kính trọng ấy: nỗi đau của một người không phải điều để người ngoài vội vàng giải thích.
Lời “không có ai” có thể chạm đến một nơi sâu trong đời tu. Một người có thể sống giữa cộng đoàn đông đúc mà vẫn cảm thấy không biết phải tìm ai khi lòng mình quá mệt. Có người cùng ăn, cùng đọc kinh, cùng làm việc, nhưng thiếu một cuộc trò chuyện trong đó họ được lắng nghe đến nơi đến chốn. Có người được nhiều người biết tên, biết khả năng, biết chức vụ, nhưng ít ai biết họ đang sợ điều gì. Và cũng có người đã được quan tâm, nhưng vì những thất vọng trước đây, họ rất khó tin rằng sự quan tâm hôm nay là thật. Họ vừa mong được đến gần, vừa chuẩn bị sẵn để tự bảo vệ nếu lại bị tổn thương.
Đời sống thánh hiến không xóa bỏ lịch sử cá nhân. Ngày ta bước vào nhà dòng, những năm tháng tuổi thơ không ở lại ngoài cổng. Những lời so sánh từng nghe trong gia đình, cảm giác phải ngoan mới được thương, những lần bị chê trước mặt người khác, những cuộc chia tay chưa được đón nhận, tất cả đều có thể tiếp tục ảnh hưởng đến cách ta hiểu mình và hiểu người. Ta mang vào ơn gọi cả khả năng yêu thương lẫn những điều khiến tình yêu gặp khó khăn. Chiếc áo dòng có thể diễn tả một sự thuộc về mới, nhưng người mặc áo ấy vẫn cần lớn lên qua thời gian, qua cầu nguyện, qua những tương quan chân thật và qua việc học sống có trách nhiệm.
Điều này không làm giảm giá trị của ơn gọi. Nó giúp ta sống ơn gọi trên nền đất thật. Ân sủng đến với con người có thân thể biết mệt, ký ức biết đau, trái tim biết mong đợi. Chúa gọi chính con người ấy bước theo Người. Vì vậy, ta không cần giả vờ mình đã vượt qua mọi nhu cầu nhân bản để chứng minh lòng dâng hiến. Ta có thể yêu Chúa thật lòng và vẫn cần được nghỉ ngơi. Ta có thể quảng đại trong sứ vụ và vẫn cần học cách đón nhận lời góp ý. Ta có thể trung thành với lời khấn và vẫn còn những nỗi sợ cần được soi sáng.
Một khó khăn âm thầm trong đời tu là ta dễ biết mình phải trở nên thế nào hơn là biết mình đang thực sự ở đâu. Ta thuộc những lời nói về sự hiệp nhất, nhưng chưa nhận ra mình đang nuôi một sự bất mãn kéo dài. Ta nói được về đức khiêm nhường, nhưng khi người khác không đồng ý, trong lòng lại thấy phẩm giá mình bị đe dọa. Ta giảng về lòng thương xót, nhưng rất khắt khe với người làm việc chậm hơn mình. Giữa điều mình tin và cách mình phản ứng vẫn còn một khoảng cách. Tĩnh tâm là dịp nhìn vào khoảng cách ấy với lòng thành thật, để điều mình tuyên xưng dần đi vào cách mình sống.
Ta có thể bắt đầu từ một sự việc gần đây. Hãy nhớ lại một lần mình phản ứng mạnh hơn điều hoàn cảnh đòi hỏi. Đừng vội kể toàn bộ lỗi của người kia. Hãy ở lại với những gì đã xảy ra trong mình. Khi nghe câu nói ấy, thân thể tôi thế nào? Tôi nóng mặt, tim đập nhanh, cổ họng nghẹn lại hay muốn lập tức rời khỏi phòng? Tôi cảm thấy buồn, xấu hổ, tức giận hay sợ hãi? Trong đầu tôi xuất hiện câu nào: “Họ chẳng coi mình ra gì”, “Mình lúc nào cũng là người thừa”, “Mình làm bao nhiêu cũng vô ích”? Những câu ấy có thật sự chỉ thuộc về chuyện hôm nay không, hay chúng đã xuất hiện nhiều lần trong đời tôi?
Có thể một lời góp ý trong hiện tại đã đánh thức ký ức từng bị làm nhục. Có thể một quyết định thuyên chuyển khiến ta nhớ lại cảm giác không được ai hỏi ý kiến về những điều quan trọng của đời mình. Có thể việc một người trẻ được tín nhiệm chạm vào nỗi lo rằng mình chỉ có giá trị khi còn hữu dụng. Những liên hệ ấy cần được tìm hiểu kiên nhẫn. Không phải phản ứng nào cũng bắt nguồn từ tuổi thơ, và không phải bất đồng nào cũng là dấu hiệu của một tổn thương sâu kín. Đôi khi ta đơn giản đang thiếu ngủ, đang làm việc quá sức, hoặc đang đứng trước một cách đối xử thực sự thiếu công bằng. Hiểu mình đòi ta nhìn đủ rộng để không ép mọi sự vào một lời giải thích duy nhất.
Dù vậy, có những phản ứng cứ lặp lại với nhiều người, ở nhiều nơi, qua nhiều năm. Ta đổi cộng đoàn nhưng vẫn thường cảm thấy bị gạt ra ngoài. Ta đổi công việc nhưng vẫn không chịu được khi người khác làm khác ý mình. Ta gặp những người rất khác nhau nhưng cuối cùng đều nghĩ họ vô ơn. Khi một khuôn mẫu lặp đi lặp lại, ta cần đủ can đảm tự hỏi: phần nào trong chuyện này thuộc về cách tôi đang nhìn và đáp lại? Câu hỏi ấy không phủ nhận trách nhiệm của người khác. Nó mở cho ta một phần tự do mà việc chỉ chờ người khác thay đổi không thể mang lại.
Có những người đã quen sống trong tình trạng phải chứng minh mình xứng đáng được yêu. Khi còn nhỏ, họ có thể được khen chủ yếu vì học giỏi, biết vâng lời, biết làm hài lòng người lớn. Lớn lên, họ tiếp tục tìm sự an toàn bằng việc trở nên cần thiết. Trong đời tu, điều này có thể mang hình thức rất đẹp ở bên ngoài: luôn nhận thêm việc, ít khi nghỉ, không muốn làm ai thất vọng, sẵn sàng có mặt bất cứ lúc nào. Cộng đoàn có thể quý sự tận tụy ấy, còn chính người ấy càng ngày càng kiệt sức. Họ khó nói “tôi không thể nhận thêm”, vì trong lòng, từ chối một công việc gần giống như đánh mất quyền được yêu thương.
Rồi một ngày, không ai nhận ra họ đã mệt đến đâu. Một lời cảm ơn bị quên. Một sự giúp đỡ không đến đúng lúc. Nỗi buồn dồn lại thành giận dữ: “Tôi làm cho mọi người như vậy mà chẳng ai nghĩ đến tôi.” Nỗi buồn ấy cần được nghe. Đồng thời, người ấy cũng cần học nhận ra điều mình chưa nói. Có thể cộng đoàn đã vô tâm. Cũng có thể họ đã nhiều lần nói “tôi làm được” trong khi thật sự cần người khác đỡ một phần. Khi ta luôn che giấu giới hạn, người bên cạnh khó biết mình đang cần gì. Họ không thể đọc được tất cả những hy sinh diễn ra trong thinh lặng.
Một nhu cầu chính đáng không trở thành thấp kém chỉ vì người mang nhu cầu ấy đã khấn dòng. Nhu cầu được lắng nghe, được tôn trọng, được nghỉ ngơi, được đối xử công bằng thuộc về đời sống con người. Điều cần trưởng thành là cách ta nhận biết và biểu lộ chúng. Ta có thể nói: “Tuần này tôi đang quá tải, xin cộng đoàn giúp tôi sắp xếp lại.” Ta có thể thưa: “Khi được góp ý trước nhiều người như vậy, tôi rất khó tiếp nhận. Xin cho tôi được trao đổi riêng.” Ta có thể nói với người có trách nhiệm: “Tôi muốn thi hành việc được giao, nhưng có một số khó khăn tôi cần trình bày để việc phục vụ được bền hơn.” Những lời ấy cần sự khiêm tốn vì ta phải chấp nhận mình có giới hạn, và cần sự can đảm vì ta không còn dùng im lặng để mong người khác tự hiểu.
Một cách nói rõ ràng có thể tránh được nhiều ngày âm thầm trách móc. Tuy nhiên, rõ ràng cũng cần đi cùng thực tế: người khác có thể nghe mà chưa hiểu ngay; có những nhu cầu không thể được đáp ứng trọn vẹn; có lúc cộng đoàn thiếu người, thiếu phương tiện, hoặc chưa có cách giải quyết tốt. Sống trưởng thành là có thể trình bày điều mình cần mà không biến việc được đáp ứng thành điều kiện duy nhất để tiếp tục yêu thương. Ta vừa học lên tiếng, vừa học chịu đựng phần thiếu thốn không thể tránh khỏi của một đời sống chung. Phân biệt được điều cần thay đổi với điều cần kiên nhẫn đón nhận là công việc của cầu nguyện và phân định lâu dài.
Có những vết thương đang lên tiếng trong sự khắt khe của ta. Ta khó chịu khi thấy một người được nghỉ, vì ngày xưa mình từng phải cố gắng trong hoàn cảnh nặng hơn mà không ai quan tâm. Ta bực bội trước một người dám nói mình mệt, vì bản thân chưa bao giờ cho phép mình nói như vậy. Ta thấy người trẻ quá yếu đuối chỉ vì họ diễn tả điều mà thế hệ mình đã quen giấu kín. Trong những lúc ấy, ta có thể tưởng mình đang bảo vệ tinh thần hy sinh. Nhưng cũng cần tự hỏi: tôi có đang buộc người khác chịu lại điều từng làm tôi đau không? Tôi có vô tình xem nỗi khổ mình đã trải qua như một tiêu chuẩn mà ai cũng phải đi qua mới xứng đáng?
Những năm tháng khó khăn có thể dạy ta sự bền bỉ. Chúng cũng có thể để lại những cách đối xử mà ta cần xét lại. Một điều đã xảy ra lâu năm chưa chắc là điều nên tiếp tục. Nếu trước đây ta từng bị sửa dạy bằng lời nặng nề, ta vẫn có thể học góp ý cách tôn trọng. Nếu từng không được nghỉ khi bệnh, ta có thể quan tâm hơn đến người đang yếu sức. Nếu từng bị hiểu lầm mà không ai nghe mình, ta có thể quyết định sẽ nghe người khác trước khi kết luận. Quá khứ không thể được làm lại, nhưng cách ta đối xử hôm nay có thể khiến một người khác không phải mang thêm cùng một nỗi đau.
Đôi khi sự khắt khe còn hướng vào chính mình. Ta tự nói với bản thân bằng thứ giọng mà mình sẽ không bao giờ dùng để nói với một người đang cần được nâng đỡ: “Có vậy cũng chịu không nổi.” “Tu bao nhiêu năm rồi mà vẫn thế.” “Mình thật vô dụng.” Ta tưởng càng nghiêm khắc thì càng mau sửa đổi. Nhưng những lời khinh miệt chính mình thường khiến ta co lại, giấu giếm và tuyệt vọng hơn. Ta cần nhận lỗi rõ ràng, nhưng không cần hạ nhục bản thân. Có thể nói: “Hôm nay tôi đã làm một điều sai. Tôi phải sửa.” Câu ấy đủ thật mà không biến toàn bộ con người tôi thành điều đáng bỏ đi.
Sự dịu dàng với bản thân có thể bắt đầu rất cụ thể: thừa nhận mình buồn mà không tự mắng; nhận ra mình đang mệt trước khi nhận thêm việc; cho phép mình xin giúp đỡ khi không còn đủ sức. Ta chăm sóc con người Chúa trao cho mình để có thể sống ơn gọi cách trung thành. Một người luôn bỏ mặc sức khỏe và cảm xúc của bản thân có thể dần đem sự cạn kiệt ấy vào mọi tương quan. Lúc đó, người ở gần phải chịu những cơn cáu gắt mà họ không hiểu nguyên do. Việc chăm sóc mình vì thế cũng liên quan đến trách nhiệm đối với cộng đoàn.
Có những vết thương lại lên tiếng qua nhu cầu kiểm soát. Ta muốn biết mọi việc đang diễn ra thế nào, ai đã nói gì, vì sao một quyết định được đưa ra mà chưa hỏi mình. Ta khó giao việc vì sợ người khác làm hỏng, khó chấp nhận sáng kiến mới vì sợ mất vai trò, khó để người khác tự giải quyết vì thấy mình bị đặt ra ngoài. Cẩn thận và có trách nhiệm là những điều đáng quý. Nhưng khi nhu cầu kiểm soát quá lớn, người cộng tác sẽ thấy mình không được tin tưởng. Họ phải xin phép những điều rất nhỏ, phải đoán tâm trạng của ta, phải tránh mọi khác biệt để giữ yên ổn.
Nếu đang ở vị trí có trách nhiệm, ta càng cần xét mình về điều này. Nỗi bất an riêng có thể được che dưới danh nghĩa bảo vệ trật tự. Sự tổn thương cá nhân có thể ảnh hưởng đến việc phân công. Ta dễ giao việc tốt cho người khiến mình thấy được kính trọng và giữ khoảng cách với người dám bất đồng. Ta có thể gọi đó là vấn đề thái độ, trong khi chưa thật sự phân biệt giữa một người thiếu tôn trọng với một người chỉ đang nói điều mình không muốn nghe. Quyền bính đòi ta tìm sự trợ giúp để hiểu các phản ứng của mình, vì những phản ứng ấy có thể tác động đến cuộc sống và ơn gọi của người khác.
Một câu hỏi khó nhưng cần thiết là: người sống dưới trách nhiệm của tôi có được tự do nói thật không? Họ có thể trình bày một sai sót mà không sợ bị làm nhục? Họ có thể không đồng ý với tôi mà vẫn được đối xử công bằng? Khi tôi buồn, cả cộng đoàn có phải thay đổi nhịp sống để tránh làm tôi khó chịu không? Nếu người khác luôn phải dò xét nét mặt tôi trước khi mở lời, có lẽ nỗi đau của tôi đã trở thành một gánh nặng chung. Tôi cần nhận ra điều đó để tìm cách thay đổi, chứ không chờ mọi người thích nghi mãi với sự thất thường của mình.
Cũng có những vết thương lên tiếng qua việc bám vào chức vụ. Ta đã phục vụ nhiều năm, đã quen được hỏi ý kiến, được chào đón, được cần đến. Khi trách nhiệm được trao cho người khác, một khoảng trống mở ra. Ta có thể thành thật vui vì người kế nhiệm có khả năng, đồng thời vẫn thấy buồn vì mình không còn ở vị trí cũ. Hai điều ấy có thể cùng tồn tại. Không cần phủ nhận nỗi buồn để tỏ ra thanh thoát. Điều cần là đem nỗi buồn ấy vào cầu nguyện và trao đổi với người đáng tin, thay vì biến nó thành những lời chê bai âm thầm hoặc sự can thiệp khiến người mới không thể làm việc.
Có một sự mất mát thực sự khi ta phải rời công việc gắn bó lâu năm. Nơi ấy có công sức, kỷ niệm, những người mình thương, những điều còn dang dở. Ta cần thời gian để chia tay. Nhưng nếu toàn bộ giá trị bản thân đã đặt vào vai trò, việc chia tay sẽ trở thành một cuộc khủng hoảng căn tính: tôi còn là ai khi không còn điều hành, giảng dạy, phụ trách hay được nhắc đến? Chính ở đó, lời tuyên khấn mời ta trở về sâu hơn với sự thuộc về Chúa. Người đã yêu tôi trước khi tôi đảm nhận chức vụ này. Người vẫn gọi tên tôi khi tôi không còn đứng ở nơi nhiều người nhìn thấy.
Đối với người đang bệnh, lớn tuổi hoặc phải giảm hoạt động, câu hỏi ấy có thể rất đau. Cộng đoàn cần tránh những lời an ủi quá nhanh như thể việc mất khả năng làm điều mình yêu thích là chuyện dễ dàng. Người đã quen phục vụ có thể thấy buồn khi phải nhận sự giúp đỡ, thấy ngượng vì làm phiền, thấy mình không còn đóng góp gì. Họ cần được hiện diện cùng, được hỏi ý kiến trong những điều phù hợp, được tôn trọng cả khi nhịp sống đã chậm lại. Sự chữa lành trong cộng đoàn đôi khi bắt đầu từ việc để một người cảm nhận rằng họ vẫn có chỗ, dù không còn làm được nhiều việc.
Những quyết định thuyên chuyển cũng có thể chạm đến nỗi sợ bị bỏ rơi. Về lý trí, ta biết đời tu có sự sai đi. Về tình cảm, ta vẫn đau khi phải rời những tương quan và công việc đã gắn bó. Có người nghe quyết định mới rồi lập tức nghĩ: “Chắc tôi đã làm điều gì sai.” Có người thấy mình bị loại bỏ dù không có bằng chứng rõ ràng. Có người không dám trình bày khó khăn vì sợ bị xem là thiếu vâng phục. Sự phân định cần một không gian trong đó người tu sĩ có thể nói thật mà không bị vội quy kết. Việc lắng nghe không làm mất ý nghĩa của sự vâng phục; nó giúp con người cụ thể được đón nhận trong quyết định liên quan đến đời họ.
Người được sai đi cũng cần nhận trách nhiệm về cách mình đón nhận. Có thể tôi cần hỏi thêm để hiểu. Có thể tôi cần nói rõ những khó khăn về sức khỏe, gia đình hoặc khả năng. Có thể tôi cần thời gian để bớt xúc động trước khi trao đổi. Nhưng tôi cần tránh biến sự đau buồn thành một cuộc vận động chống đối âm thầm, lôi kéo người khác về phía mình hoặc hạ thấp người được chọn thay thế. Một nỗi đau được trình bày trung thực mở đường cho đối thoại. Một nỗi đau được nuôi bằng lời đồn có thể làm tổn thương cả những người không liên quan.
Trong đời sống huynh đệ, có những lúc ta đòi một người phải bù đắp quá nhiều cho những thiếu thốn đã có từ trước. Ta muốn họ luôn hiểu ý, luôn có mặt, luôn trả lời ngay, luôn chọn mình trước những người khác. Khi họ bận, ta thấy bị bỏ rơi. Khi họ thân với người khác, ta thấy bị phản bội. Khi họ đặt một giới hạn, ta nghĩ tình thương đã hết. Nhu cầu được gắn bó là điều con người ai cũng có. Nhưng một người anh em, một chị em hay một người đồng hành không thể gánh trách nhiệm chữa lành toàn bộ lịch sử của ta bằng sự hiện diện không ngừng của họ.
Ta cần học nhìn người khác như một con người có đời sống, giới hạn và những trách nhiệm riêng. Họ có thể thương ta mà vẫn không đáp lại ngay. Họ có thể quan tâm mà không hiểu hết. Họ có thể có những tình bạn khác mà không vì thế giảm giá trị của tương quan với ta. Khi nỗi bất an xuất hiện, ta có thể nhận biết: “Tôi đang sợ mất sự gắn bó này.” Từ đó, ta tìm cách nói phù hợp, tìm thêm sự nâng đỡ lành mạnh, trở về với cầu nguyện và những tương quan cộng đoàn rộng hơn. Ta không cần trừng phạt người kia bằng lạnh nhạt chỉ để kiểm tra xem họ có đi tìm mình hay không.
Có những sự im lặng khiến đời sống chung rất mệt. Người im lặng có thể nghĩ mình đang tránh gây chuyện, nhưng nếu họ cố ý không trả lời, không hợp tác, làm cho người khác phải đoán lỗi của họ, sự im lặng ấy đã mang tính gây áp lực. Giữ thinh lặng để bình tâm là điều tốt khi ta nói rõ: “Bây giờ tôi còn xúc động. Xin cho tôi một chút thời gian, rồi tôi sẽ trao đổi.” Còn rút khỏi tương quan vô thời hạn để người khác lo sợ là điều cần được xét lại. Thinh lặng trong đời tu có thể nuôi dưỡng lòng mến, nhưng cũng có thể bị dùng để che sự giận dữ chưa được giải quyết.
Lời nói cũng cần được thanh luyện. Có người không lớn tiếng nhưng thường dùng những nhận xét khiến người khác thấy mình nhỏ bé. Một câu đùa về sự chậm chạp, một lời nhắc lại lỗi cũ trước mặt khách, một lời khen kèm so sánh có thể để lại nỗi đau lâu hơn người nói tưởng. Ta dễ biện minh rằng mình thẳng tính, rằng người khác quá nhạy cảm, rằng ai sống với mình lâu sẽ hiểu. Tuy nhiên, tính khí không miễn cho ta trách nhiệm học cách nói. Nếu nhiều người cùng bị tổn thương bởi một cách diễn đạt, ta cần lắng nghe tác động ấy thay vì chỉ nhắc lại ý định tốt của mình.
Hiểu nguyên nhân không miễn trừ trách nhiệm. Đây là một điểm phải giữ thật vững trong tháng tĩnh tâm này. Tôi có thể đã bị đối xử khắt khe, nhưng tôi vẫn cần chịu trách nhiệm khi làm nhục người khác. Tôi có thể sợ bị bỏ rơi, nhưng tôi vẫn cần sửa cách kiểm soát những người gần mình. Tôi có thể đang mệt và buồn, nhưng tôi vẫn phải xin lỗi nếu trút sự bực bội lên người vô can. Nhận biết vết thương giúp tôi hiểu vì sao thay đổi khó đến thế. Nó không cho tôi quyền tiếp tục gây đau rồi yêu cầu mọi người thông cảm mãi.
Đồng thời, chịu trách nhiệm cần có giới hạn đúng đắn. Tôi không phải chịu trách nhiệm về mọi cảm xúc của người khác, và cũng không phải mọi lần họ buồn đều do tôi có lỗi. Có những giới hạn cần đặt ra khiến người kia thất vọng. Có những quyết định công bằng vẫn làm ai đó không vui. Có những lời góp ý cần thiết không thể khiến người nghe dễ chịu ngay. Vì vậy, tôi phải xét xem mình đã hành xử có tôn trọng, trung thực và đúng trách nhiệm hay chưa. Tôi không thể lấy việc người khác hài lòng làm thước đo duy nhất cho sự tốt lành của mình.
Trưởng thành trong yêu thương đòi ta nhận phần mình mà không nhận thay phần của tất cả mọi người. Một người quá quen tự trách có thể xin lỗi ngay cả khi họ đang bị đối xử bất công, chỉ để mau chóng chấm dứt căng thẳng. Một người quá sợ mất tương quan có thể chấp nhận mọi yêu cầu rồi sau đó âm thầm oán giận. Ta cần học nói: “Điều này tôi đã làm sai, tôi xin sửa”, và cũng có thể nói: “Điều này tôi chưa thể đồng ý; chúng ta cần trao đổi thêm.” Lòng khiêm nhường có chỗ cho sự thật, kể cả sự thật rằng tôi cần được bảo vệ khỏi một cách đối xử gây hại.
Vì vậy, khi nói đến chữa lành trong đời tu, chúng ta không thể đặt toàn bộ gánh nặng lên người đang đau. Có những tổn thương bắt nguồn từ cách tổ chức, cách sử dụng quyền bính, cách góp ý hoặc cách giải quyết xung đột trong cộng đoàn. Nếu một người liên tục bị làm nhục, việc chỉ khuyên họ cầu nguyện nhiều hơn là chưa đủ. Nếu những điều họ trình bày luôn bị xem là thiếu tinh thần tu trì, họ có thể ngày càng sợ nói thật. Cộng đoàn cần có khả năng nhìn lại các thực hành của mình, lắng nghe người yếu thế và sửa những điều gây tổn hại.
Sự tha thứ cũng cần được hiểu với lòng tôn trọng đối với người bị thương. Tha thứ không thể bị biến thành một mệnh lệnh buộc họ lập tức vui vẻ, quên hết và trở lại tương quan như chưa có gì xảy ra. Một người có thể đang tha thứ mà vẫn còn buồn, vẫn cần khoảng cách, vẫn chưa thể tin cậy như trước. Niềm tin được xây dựng lại nhờ sự thật và cách hành xử thay đổi qua thời gian. Người gây tổn thương cần chấp nhận tiến trình ấy. Không thể đòi người kia mau quên chỉ vì mình đã nói lời xin lỗi.
Có những trường hợp, điều cần thiết đầu tiên là chấm dứt cách đối xử gây hại và tìm sự trợ giúp từ người có trách nhiệm thích hợp. Sự hiệp nhất của cộng đoàn không được nuôi bằng việc bắt một người chịu đựng trong thinh lặng để giữ vẻ yên ổn. Một cộng đoàn biết sửa sai có thể phải đi qua những cuộc nói chuyện khó, những thay đổi bất tiện và cả việc nhìn nhận rằng mình đã bỏ sót nỗi đau của ai đó. Đó là một công việc đòi lòng can đảm. Người ta có thể tiếp tục sống chung sau một lời thú nhận chân thành và những bước sửa đổi cụ thể; còn sự phủ nhận kéo dài thường làm khoảng cách sâu thêm.
Trở lại bên hồ Bếtdatha, chúng ta nghe Đức Giêsu bảo người đau yếu trỗi dậy, vác chõng và đi. Lời Người có hiệu lực: người ấy được khỏi và bước đi. Khi cầu nguyện với biến cố này, ta hãy đón nhận quyền năng và lòng thương xót của Chúa, đồng thời tránh dùng phép lạ để đặt gánh nặng lên người đang trải qua một tiến trình chữa lành chậm. Không phải ai cầu nguyện cũng lập tức hết đau buồn. Không phải ai yêu Chúa cũng dễ dàng vượt qua ký ức tổn thương. Sự chậm chạp không tự nó nói lên đức tin yếu kém. Có những điều cần nhiều thời gian, nhiều lần được lắng nghe và nhiều bước thực hành nhỏ.
Lời Chúa có thể nâng ta dậy ngay trong tiến trình chưa hoàn tất ấy. Hôm nay tôi vẫn còn dễ chạnh lòng, nhưng tôi có thể dừng lại trước khi nói lời làm đau. Hôm nay tôi vẫn sợ bị từ chối, nhưng tôi có thể xin điều mình cần bằng một lời rõ ràng. Hôm nay tôi chưa hết buồn về quyết định thuyên chuyển, nhưng tôi có thể ngừng nói xấu người liên quan. Hôm nay tôi vẫn thấy khó khi người khác được khen, nhưng tôi có thể chúc mừng họ cách chân thành và mang phần ganh tị của mình đến với Chúa. Đó là những bước đi có thật, dù chưa ai nhìn thấy sự thay đổi lớn.
Có khi điều đầu tiên cần tập là tạo một khoảng dừng giữa cảm xúc và hành động. Ta không thể luôn ngăn cảm giác giận xuất hiện, nhưng có thể học không lập tức gửi tin nhắn khi đang giận. Ta có thể để một bản trả lời sang sáng hôm sau rồi đọc lại. Ta có thể xin tạm ngừng cuộc trao đổi khi nhận ra mình không còn đủ bình tĩnh. Ta có thể đi uống nước, ngồi yên một lúc, thở chậm và thưa với Chúa điều đang làm mình khó chịu. Khoảng dừng ấy không giải quyết tất cả, nhưng giúp ta tránh thêm một lời mà sau đó phải mất nhiều ngày để hàn gắn.
Sau khoảng dừng, ta cần trở lại vấn đề. Nếu cứ rút lui mà không trao đổi, mâu thuẫn sẽ còn nguyên. Một cuộc nói chuyện có thể bắt đầu từ sự việc cụ thể: “Trong cuộc họp sáng nay, khi nghe câu ấy, tôi đã cảm thấy bị xem nhẹ.” Rồi ta nói điều mình cần hiểu: “Tôi muốn biết anh chị em có ý gì, vì có thể tôi đã hiểu chưa đúng.” Cách mở lời ấy để chỗ cho sự thật của người khác. Nó khác với một lời kết án như: “Anh chị em lúc nào cũng coi thường tôi.” Những từ “lúc nào cũng”, “chẳng bao giờ”, “ai cũng” thường khiến cuộc trao đổi đóng lại trước khi người kia được nói.
Ta cũng cần học phân biệt điều đã xảy ra với điều mình suy ra. Điều đã xảy ra là một người chưa trả lời lời chào. Điều ta suy ra có thể là họ khinh mình. Điều đã xảy ra là mình không được giao một nhiệm vụ. Điều ta suy ra có thể là không còn ai tin mình. Những suy nghĩ ấy có thể đúng, cũng có thể chưa đúng. Khi đang mang vết thương, ta dễ nhìn điều chưa rõ theo hướng đau nhất. Việc tự hỏi “Tôi còn biết cách giải thích nào khác không?” giúp lòng mình bớt bị cầm giữ bởi một kết luận vội vàng. Nếu sự việc quan trọng, ta có thể tìm hiểu trực tiếp thay vì nuôi nó bằng phỏng đoán.
Có một thực hành âm thầm nhưng hữu ích là ghi lại những lần phản ứng lặp lại. Ta không cần viết dài. Chỉ cần ghi hoàn cảnh, cảm xúc, suy nghĩ xuất hiện và cách mình đã hành xử. Chẳng hạn: “Khi người phụ trách sửa kế hoạch, tôi thấy xấu hổ. Tôi nghĩ công sức mình bị phủ nhận. Tôi đã nói lạnh và tránh gặp người ấy suốt buổi.” Sau đó, ta thêm một câu: “Lần tới, tôi muốn hỏi rõ điều cần sửa và xin thời gian trao đổi riêng.” Việc ghi chép giúp ta nhìn thấy những điều dễ bị quên khi cảm xúc qua đi. Nó cũng giúp cuộc gặp với người đồng hành đi vào sự việc thật, thay vì chỉ quanh quẩn ở nhận xét “dạo này tôi khó chịu quá”.
Tuy nhiên, đừng biến cuốn sổ ấy thành một bản kiểm điểm khắc nghiệt khiến mình lúc nào cũng bị soi xét. Hãy ghi cả những lần ta đã đáp lại tốt hơn. Một lần đã nghe hết lời góp ý. Một lần đã dám xin nghỉ. Một lần đã nhận lỗi mà không giải thích dài để giữ thể diện. Một lần đã thấy ganh tị nhưng không nói lời hạ thấp người khác. Những thay đổi nhỏ cần được nhận ra, vì chúng cho thấy ta có thể học cách sống khác. Lòng biết ơn đối với những tiến bộ âm thầm giúp ta tiếp tục khi tiến trình còn chậm.
Lời xin lỗi là một phần không thể thiếu của việc chịu trách nhiệm. Có những lời xin lỗi chỉ làm người nghe thêm mệt: “Nếu anh chị em thấy buồn thì tôi xin lỗi”, “Tôi nóng vậy thôi, chứ không có ý gì”, “Tại anh chị em làm tôi bực quá.” Những câu ấy để phần lớn trách nhiệm trở lại nơi người bị tổn thương. Một lời xin lỗi rõ ràng có thể ngắn hơn: “Trong bữa cơm hôm qua, tôi đã nói nặng và làm anh chị em mất mặt. Tôi đã sai. Xin lỗi anh chị em.” Nếu cần, ta nói thêm việc mình sẽ làm để tránh lặp lại. Rồi ta để người kia có quyền đón nhận theo nhịp của họ.
Không phải lúc nào lời xin lỗi cũng được đáp lại bằng sự nhẹ nhõm tức thì. Người bị đau có thể còn dè dặt vì đã nghe lời hứa nhiều lần. Ta cần kiên nhẫn chứng minh bằng cách sống. Nếu đã quen cắt lời, hãy tập nghe. Nếu đã tiết lộ chuyện riêng của người khác, hãy giữ kín điều được trao. Nếu đã đối xử bất công, hãy sửa điều có thể sửa. Sự hối lỗi trưởng thành chấp nhận rằng hậu quả không biến mất chỉ vì mình đã thấy ân hận. Ta có thể đau vì người kia chưa tin, nhưng không nên dùng nỗi đau ấy để ép họ mau chóng an ủi mình.
Bí tích Hòa giải là nơi ta đem những lỗi phạm thật đến với lòng thương xót của Chúa. Ở đó, ta không cần kể tội người khác để giải thích quá nhiều cho phần mình. Ta có thể xưng nhận sự ghen ghét đã được nuôi dưỡng, lời nói làm tổn thương, hành vi thiếu công bằng, việc cố tình lạnh nhạt để trừng phạt. Đồng thời, cần phân biệt cảm xúc xuất hiện với sự ưng thuận và hành động. Cảm thấy buồn, giận hay ganh tị không có nghĩa toàn bộ con người ta đã thất bại. Điều cần xét là ta đã nuôi điều gì, đã chọn điều gì, đã làm gì với người khác. Sự phân biệt ấy giúp lương tâm vừa ngay thẳng vừa bớt rơi vào tự kết án.
Linh hướng có thể giúp ta nhận ra cách mình đang sống trước mặt Chúa, những điều mình né tránh, những gì cần phân định trong ơn gọi. Khi những phản ứng kéo dài làm đời sống và tương quan bị ảnh hưởng nhiều, sự đồng hành của người có chuyên môn phù hợp cũng có thể cần thiết. Ta không phải đợi đến khi mọi thứ đổ vỡ mới tìm trợ giúp. Có những điều khó thấy khi chỉ một mình suy nghĩ. Một người được đào tạo để lắng nghe và đồng hành có thể giúp ta hiểu những khuôn mẫu đang lặp lại, tập những cách đáp lại phù hợp hơn và nhận ra những giới hạn cần được chăm sóc.
Việc tìm trợ giúp không làm giảm ý nghĩa của cầu nguyện. Ta vẫn đem toàn bộ đời mình đến với Chúa, và có thể đón nhận sự giúp đỡ qua những người có khả năng phục vụ trong lĩnh vực của họ. Cũng cần tôn trọng phạm vi của từng việc đồng hành. Không nên đòi người linh hướng giải quyết mọi khó khăn tâm lý, hoặc mong một cuộc trao đổi chuyên môn thay thế toàn bộ đời sống thiêng liêng. Con người cần được chăm sóc trong sự thống nhất của đời mình, với sự phối hợp thích hợp và lòng tôn trọng đối với tự do, sự kín đáo của người được giúp.
Nghỉ ngơi cũng là một phần của sự trung tín. Có người chỉ cho phép mình nghỉ khi đã kiệt sức. Có người thấy có lỗi nếu dành thời gian đi bộ, ngủ đủ hoặc làm một việc đơn giản giúp lòng bớt căng. Nhưng thân thể không thể bị yêu cầu gánh vô hạn. Khi mệt kéo dài, ta dễ nhìn một yêu cầu bình thường như một sự làm phiền, dễ nghe một câu góp ý như một cuộc tấn công. Không phải mọi khó khăn đều được giải quyết bằng nghỉ ngơi, nhưng ta cần thành thật xem sự cạn sức đang góp phần thế nào vào cách mình đối xử. Có lúc, điều cần làm trước một cuộc trao đổi quan trọng là ăn một bữa đàng hoàng và có một đêm ngủ đủ.
Cộng đoàn có thể giúp nhau ở điểm này bằng những điều rất thực tế. Đừng luôn giao thêm việc cho người ít than phiền chỉ vì họ vẫn nhận. Đừng khen sự hy sinh đến mức một người cảm thấy không được phép có giới hạn. Hãy hỏi người vừa trải qua một biến cố xem họ cần được hỗ trợ điều gì. Hãy để người đang bệnh nghỉ mà không phải liên tục chứng minh mình bệnh thật. Hãy nhận ra công việc âm thầm của người ít xuất hiện. Một lời ghi nhận cụ thể có thể giúp người đang mệt cảm thấy công sức của mình đã được thấy, dù lời ghi nhận ấy không thay thế việc phân chia trách nhiệm công bằng.
Trong những cuộc họp, cách góp ý cũng cần được chăm sóc. Một sai sót có thể được nêu rõ mà không cần nhắc đến toàn bộ tính cách của người làm sai. Ta có thể nói công việc chưa đạt ở đâu, cần điều chỉnh thế nào và ai sẽ hỗ trợ. Những nhận xét như “chị lúc nào cũng vậy”, “anh chẳng bao giờ thay đổi” khiến con người bị đóng lại trong một nhãn đã có sẵn. Khi một người cảm thấy mình chỉ còn là lỗi lầm của mình, họ khó đón nhận lời sửa dạy. Sự thật được nói bằng lòng tôn trọng có khả năng mở ra một lối sửa đổi mà lời miệt thị thường làm tắc lại.
Người đón nhận góp ý cũng cần học ở lại đủ lâu để nghe. Ta dễ chú ý đến giọng nói chưa khéo của người kia rồi bỏ qua toàn bộ điều họ muốn nói. Có khi lời góp ý thực sự vụng về, nhưng bên trong vẫn có một phần sự thật cần cho ta. Ta có thể xin họ diễn đạt lại cho rõ, có thể nói mình bị đau vì cách góp ý, đồng thời vẫn nhìn nhận phần đúng. Khả năng giữ được cả hai điều ấy là một dấu hiệu của sự lớn lên: tôi không phải phủ nhận tổn thương của mình để nghe sự thật, và cũng không dùng tổn thương để tránh mọi sự sửa đổi.
Có một nơi sâu hơn ta cần để Chúa chạm đến: hình ảnh về chính Thiên Chúa đang ở trong lòng mình. Nếu đã quen với việc chỉ được quý khi thành công, ta có thể tưởng Chúa cũng chỉ hài lòng khi mình luôn mạnh mẽ, luôn hữu ích, luôn đúng. Khi thất bại, ta trốn cầu nguyện vì xấu hổ. Khi yếu đuối, ta làm thêm việc đạo đức như một cách vội vàng bù đắp để được chấp nhận trở lại. Dần dần, đời sống thiêng liêng trở thành một sức ép. Ta ở trước mặt Chúa mà vẫn cố giữ thể diện, vẫn sợ Người thất vọng về con người thật của mình.
Cuộc gặp bên hồ Bếtdatha mời ta nhìn vào sự chủ động của Đức Giêsu. Người đến với người đang đau yếu trước khi người ấy có thể làm điều gì để chứng tỏ mình. Ta cần ở lại với sự thật này trong cầu nguyện: Chúa biết tôi cần được cứu chữa. Tôi không phải làm cho mình hết bệnh rồi mới đến gần Người. Tôi có thể mở trước mặt Người những gì còn vụng về, mâu thuẫn và chưa tốt. Lòng thương xót của Chúa cho tôi sự can đảm nhận lỗi, vì tôi biết mình không bị bỏ rơi trong chính lúc nhận ra lỗi mình.
Cầu nguyện như thế có thể rất ít lời. Ta ngồi trước Nhà Tạm, nhớ đến một lần vừa làm ai đó buồn, và thưa: “Lạy Chúa, con đã làm họ đau. Xin giúp con đừng trốn tránh.” Rồi nhớ đến phần mình đang mang: “Con đã sợ bị coi thường. Con đã nghĩ con không còn giá trị. Xin cho con biết ở lại với nỗi sợ này mà không trút nó lên người khác.” Ta không cần buộc mình lập tức cảm thấy bình an. Có thể buổi cầu nguyện vẫn khô khan. Nhưng nếu sau đó ta đứng dậy để nói lời xin lỗi cần nói, hoặc hẹn một cuộc trao đổi đã né tránh, lời cầu nguyện đã đi vào đời sống.
Trong tháng Ba, có lẽ một trong những việc khó nhất là chấp nhận mình vừa là người bị thương vừa có thể là người gây thương tích. Ta thường muốn chọn một phía cho dễ hiểu: hoặc tôi là người đau khổ đáng được bênh vực, hoặc tôi là người có lỗi đáng phải sửa. Đời sống thật phức tạp hơn. Tôi có thể đã bị bỏ quên nhiều năm và vẫn cần nhận lỗi vì cách mình làm người khác ngột ngạt. Tôi có thể bị góp ý thiếu tế nhị và vẫn có phần cần sửa trong công việc. Tôi có thể đang chịu một sự bất công và vẫn cần giữ mình khỏi việc trả đũa người vô can. Chúa giúp ta nhìn đủ sự thật ấy mà không tuyệt vọng.
Cũng cần tránh dùng những điều học được về vết thương để giải thích người khác quá dễ dàng. Sau một buổi tĩnh tâm, ta có thể bắt đầu nhìn ai cũng như một vấn đề tâm lý: người này sợ bị bỏ rơi, người kia thiếu được công nhận, người nọ có tổn thương tuổi thơ. Cách nhìn ấy có thể trở thành một kiểu xét đoán mới. Ta không biết toàn bộ lịch sử của người bên cạnh. Những gì ta học được trước hết dành cho việc hiểu và chịu trách nhiệm về chính mình. Đối với người khác, điều cần tăng thêm là sự lắng nghe, sự thận trọng khi kết luận và lòng tôn trọng những điều họ chưa sẵn sàng kể.
Ta có thể biết một người đã sống cùng mình nhiều năm mà vẫn chưa hiểu vì sao có những lúc họ co lại trước một lời nói bình thường. Nếu có cơ hội, hãy hỏi bằng lòng chân thành, không dò xét: “Tôi thấy chuyện này làm anh chị em buồn. Nếu muốn, anh chị em có thể nói thêm.” Rồi hãy nghe mà đừng lập tức giảng giải. Một người vừa mở lòng rất dễ khép lại nếu câu trả lời đầu tiên họ nhận được là “phải bỏ qua đi”, “đừng nghĩ nữa”, “ai mà chẳng khổ”. Có những lúc ta chưa có giải pháp nào, nhưng vẫn có thể giúp bằng việc không khiến người kia xấu hổ vì đã nói thật.
Lắng nghe cũng cần sự kín đáo. Nỗi đau được trao trong tin cậy không phải chất liệu để kể lại trong những cuộc trò chuyện khác, dù với danh nghĩa xin mọi người cầu nguyện. Ta có thể hỏi người ấy trước khi chia sẻ điều cần thiết với người có trách nhiệm phù hợp. Giữ gìn sự riêng tư là một cách yêu thương rất cụ thể. Trong cộng đoàn, chỉ một lần câu chuyện riêng bị truyền đi cũng có thể khiến một người không dám mở lòng suốt nhiều năm. Muốn xây dựng nơi chốn an toàn cho sự thành thật, chúng ta phải chăm sóc cách mình sử dụng những điều đã được người khác tin mà trao.
Có thể ta sẽ khám phá rằng mình đang chờ cộng đoàn trở thành gia đình hoàn hảo mà mình chưa từng có. Ta mong được hiểu mà không phải giải thích, được thương mà không gặp thất vọng, được nâng đỡ mà không bao giờ phải chịu thiếu thốn. Đời sống huynh đệ có thể đem đến những tương quan tốt lành và nhiều cơ hội lớn lên. Nhưng cộng đoàn gồm những con người cũng có giới hạn, cũng đang cần được chữa lành. Nếu đặt lên cộng đoàn trách nhiệm bù đắp trọn vẹn mọi điều đã thiếu trong đời mình, ta sẽ liên tục thất vọng và những người bên cạnh sẽ luôn cảm thấy mình không đủ.
Nhận ra giới hạn ấy không có nghĩa chấp nhận một đời sống chung lạnh lẽo. Ta vẫn có quyền mong đợi sự tôn trọng, công bằng, lắng nghe và những điều kiện sống phù hợp với ơn gọi. Ta vẫn cần lên tiếng khi có cách đối xử gây hại. Nhưng ta cũng học đón nhận tình thương đang được trao trong những hình thức chưa hoàn hảo. Có người không giỏi nói lời an ủi nhưng luôn âm thầm làm giúp phần việc khi ta bệnh. Có người ít gần gũi nhưng nhớ điều ta cần. Có người từng làm ta buồn và nay đang cố sửa. Nếu chỉ chấp nhận một kiểu yêu thương rất riêng do mình định sẵn, ta có thể bỏ sót nhiều điều tốt lành đã ở gần.
Sự chữa lành đôi khi diễn ra khi ta dám nhận một tình thương không giống điều mình từng tưởng. Ta để người khác giúp mà không vội nói “thôi, tôi tự làm được”. Ta nói cảm ơn mà không xem sự giúp đỡ là bằng chứng mình kém cỏi. Ta đón nhận một lời góp ý vì nhận ra người kia muốn mình bớt vấp ngã. Ta cho phép một người có giới hạn vẫn trở thành người đồng hành tốt trong phạm vi họ có thể. Những điều ấy giúp ta bớt sống trong tư thế luôn đề phòng, luôn chờ bị thất vọng.
Dẫu vậy, có những ngày vết thương cũ lại đau. Ta đã cầu nguyện, đã trao đổi, đã có thời gian sống khá hơn, rồi một sự việc mới khiến phản ứng cũ trở lại. Đừng vì thế vội kết luận mọi cố gắng trước đây đều vô ích. Hãy nhìn cụ thể hơn: lần này tôi có nhận ra sớm hơn không? Tôi có bớt một lời nặng không? Tôi có trở lại xin lỗi nhanh hơn không? Tôi có tìm trợ giúp thay vì tự cô lập không? Một tiến trình thay đổi thường có những bước chậm và những lần phải bắt đầu lại. Điều cần là giữ sự thành thật và tiếp tục thực hành, thay vì dùng một lần vấp ngã để buông xuôi.
Ta cũng đừng tự hứa những điều quá lớn trong một phút xúc động. “Từ nay tôi sẽ không bao giờ giận nữa” là điều khó giữ và dễ khiến mình nản. Có thể chọn một quyết tâm nhỏ hơn: khi nhận thấy giọng mình bắt đầu cao, tôi sẽ dừng lại; khi buồn vì một lời nói, tôi sẽ hỏi rõ trước khi kết luận; khi cần giúp đỡ, tôi sẽ nói với một người phù hợp; khi làm sai, tôi sẽ không kéo dài việc xin lỗi chỉ để giữ thể diện. Một việc đủ cụ thể cho phép ta thực sự bắt đầu.
Mỗi tối, ta có thể dành ít phút nhìn lại một tương quan trong ngày. Hôm nay tôi đã đem điều gì đến cho người sống bên mình? Có ai phải chịu sự mệt mỏi của tôi mà không hiểu vì sao? Tôi đã có lúc nào nghe được điều người khác cần? Tôi có chỗ nào đã chọn tử tế dù trong lòng còn khó chịu? Sau khi nhận ra, hãy thưa với Chúa bằng lời của mình. Nếu có điều phải sửa, ghi nhớ việc cần làm vào ngày mai. Rồi để ngày ấy được khép lại. Đừng biến giờ xét mình thành một đêm tự tra hỏi không có hồi kết.
Có khi điều cần làm trong ngày mai là rất nhỏ: trả lời lại một lời chào đã cố tình bỏ qua; ngồi vào bàn ăn với thái độ cởi mở hơn; nói rõ một khó khăn thay vì than phiền với người thứ ba; cám ơn người đã gánh việc giúp mình; hỏi thăm người mình đã làm buồn. Những việc ấy không khiến mọi tương quan lập tức trở nên dễ dàng. Nhưng chúng làm giảm phần đau mà ta có thể tránh cho nhau. Sự bình an của một cộng đoàn nhiều khi được xây từ những người chịu sửa một cách cư xử nhỏ của mình.
Đối với người đang mang nhiều thương tích, có lẽ hôm nay chỉ cần bắt đầu bằng việc chọn một người đáng tin để nói thật. Không phải kể hết mọi chuyện trong một lần. Chỉ cần nói: “Tôi nhận ra mình đang phản ứng như vậy nhiều lần, và tôi muốn được giúp.” Câu nói ấy đã đòi một sự can đảm lớn. Ta chấp nhận rằng mình không nhìn thấy tất cả. Ta cho phép một người khác hiện diện trong phần đời lâu nay chỉ tự mình xoay xở. Sự giúp đỡ có thể chưa đến theo cách mình mong ngay từ đầu, nhưng việc tìm kiếm nghiêm túc vẫn đáng được tiếp tục.
Đối với người có trách nhiệm trong cộng đoàn, có lẽ điều cần bắt đầu là tạo một cuộc gặp mà người đối diện không phải lo tự bảo vệ từng câu. Hãy nghe họ kể trọn sự việc. Hãy hỏi mình có phần nào cần nhận. Nếu chưa biết cách giúp, có thể thành thật nói chưa biết và cùng tìm người thích hợp. Đừng hứa giữ kín rồi lại tùy tiện kể. Đừng dùng điều họ đã mở lòng để chống lại họ trong lần bất đồng sau. Niềm tin được lớn lên nhờ những việc rất cụ thể như thế.
Đối với người đã làm ai đó đau, hôm nay có thể là lúc ngừng chờ họ quên. Hãy nhìn nhận điều đã xảy ra, nói lời xin lỗi và sửa phần mình có thể sửa. Ta không thể lấy sự khó chịu của mình trước lỗi đã gây ra làm lý do để né tránh người bị tổn thương. Có những cuộc gặp khiến ta xấu hổ, nhưng sự xấu hổ được chịu đựng cách ngay thẳng có thể giúp một tương quan có cơ hội được làm mới. Nếu người kia chưa muốn gặp, hãy tôn trọng và tìm cách thích hợp để bày tỏ trách nhiệm, không gây thêm áp lực.
Đối với người đã bị tổn thương, có lẽ lời mời hôm nay là đừng tiếp tục bỏ mặc mình. Ta có thể đã quen nhịn đến mức không còn nhận ra điều mình cần. Ta có thể đã nghĩ mình không được quyền buồn, không được quyền nói, không được quyền tìm giúp đỡ. Xin cho giờ tĩnh tâm này giúp ta nhận ra phẩm giá của mình trước mặt Chúa. Người đau yếu bên hồ được Đức Giêsu nhìn thấy. Nỗi khổ của ông không quá nhỏ để Người dừng lại. Nỗi đau của ta cũng đáng được lắng nghe và chăm sóc bằng những cách phù hợp.
Đời sống thánh hiến trưởng thành không đòi một con người không còn chỗ yếu. Nó cần những con người ngày càng biết đem chỗ yếu của mình ra trước ánh sáng của Chúa, biết tìm sự giúp đỡ và biết bảo vệ người khác khỏi những phản ứng thiếu trách nhiệm của mình. Một người có thể còn buồn nhưng không cố ý làm người khác buồn theo. Có thể còn bất an nhưng biết tôn trọng tự do của người mình thương. Có thể còn đau vì quá khứ nhưng đang học để người đến sau không phải chịu lại cùng một cách đối xử.
Đó là một công việc âm thầm. Người ngoài có thể chỉ thấy ta đang làm những việc quen thuộc. Nhưng bên trong, có một sự thay đổi đang được tập từng ngày: từ phản ứng ngay sang biết dừng; từ suy đoán sang biết hỏi; từ chờ được hiểu sang dám nói rõ; từ tự kết án sang nhận lỗi và sửa; từ dùng nỗi đau để biện minh sang chăm sóc nỗi đau với trách nhiệm. Những chuyển động ấy làm cho lời khấn đi sâu vào con người thật. Ta dâng cho Chúa cả cách mình yêu, cách mình giận, cách mình đón nhận khác biệt và cách mình bắt đầu lại sau một lần thất bại.
Hãy ở lại một lúc với câu hỏi Đức Giêsu dành cho người đau yếu. Khi nghe câu hỏi ấy trong cầu nguyện, ta không cần hiểu nó như một lời trách rằng tại sao mình chưa đổi thay. Hãy đón nhận như một lời mời mở ra điều mình đang cần trước mặt Người. Con muốn được tự do hơn trong tương quan. Con muốn bớt làm người khác sợ. Con muốn thôi lấy sự hữu dụng làm điều kiện để tin mình có giá trị. Con muốn có thể nghe lời góp ý mà không thấy cả cuộc đời mình bị phủ nhận. Con muốn yêu thương mà không luôn đòi người khác phải chữa mọi nỗi cô đơn của con.
Rồi hãy để ý xem bước tiếp theo là gì. Có thể là một lời xin lỗi. Có thể là một cuộc hẹn với người đồng hành. Có thể là việc trình bày lại lịch làm việc vì mình đã quá sức. Có thể là ngừng một cuộc nói chuyện đang làm tổn thương danh dự người khác. Có thể là tìm một cách bảo vệ thích hợp trước cách đối xử gây hại. Cũng có thể là ngồi yên trước Chúa, lần đầu tiên thành thật thưa rằng mình đang buồn, thay vì đọc thật nhiều lời để khỏi phải chạm vào nỗi buồn ấy.
Tháng Ba này, ta không cần sửa toàn bộ lịch sử đời mình. Ta được mời nhận trách nhiệm về một phần đời sống hôm nay. Một phản ứng thường lặp lại. Một tương quan đang căng thẳng. Một nhu cầu chưa từng được nói rõ. Một lời xin lỗi đã trì hoãn. Hãy bắt đầu ở đó, với sự giúp đỡ cần thiết và lòng tin rằng Chúa vẫn đang hiện diện. Đừng đòi mình phải đi hết con đường trong một ngày. Nhưng cũng đừng tiếp tục chờ đến khi mọi người thay đổi rồi mình mới chịu bước.
Người đau yếu đã đứng dậy và bước đi theo lời Đức Giêsu. Còn ta, sau giờ tĩnh tâm này, sẽ trở về với căn phòng cũ, bàn ăn cũ, công việc cũ và những người vẫn mang các giới hạn quen thuộc. Có thể hoàn cảnh chưa đổi nhiều. Nhưng ta có thể trở về với một lựa chọn mới: tôi sẽ chăm sóc điều còn đau trong mình, và tôi sẽ để ý hơn đến điều người khác phải chịu khi sống bên tôi. Lựa chọn ấy cần được nhắc lại ngày mai, rồi ngày kia. Chính trong những lần nhắc lại bằng hành động, đời sống chung dần có thêm chỗ cho sự thật và lòng thương.
Điều cần mang vào cầu nguyện
Hãy đem đến trước mặt Chúa một sự việc cụ thể gần đây đã khiến mình phản ứng mạnh. Đừng chọn một câu chuyện quá xa chỉ vì nó dễ kể hơn. Hãy trở lại lần mình vừa giận, vừa tủi, vừa thấy khó yêu thương. Tôi đã nghe điều gì? Tôi đã nghĩ điều gì về chính mình và về người kia? Điều gì khiến tôi đau nhất: nội dung của lời nói, cách nói, việc nói trước người khác, hay cảm giác mình không còn được coi trọng? Tôi có đủ dữ kiện để kết luận về ý định của họ không? Nếu được nói lại bằng một câu thành thật, tôi muốn thưa với Chúa điều gì?
Hãy nhìn vào điều mình đang mong cộng đoàn bù đắp. Tôi có đang chờ mọi người nhận ra nhu cầu mà mình chưa nói? Tôi có xem việc không được hỏi ý kiến là dấu hiệu mình không còn giá trị? Tôi có đòi một người phải luôn có mặt để mình khỏi cô đơn? Tôi có dùng sự hy sinh để âm thầm đòi một sự đáp trả? Tôi có thể đón nhận sự quan tâm đang được trao, dù nó không giống điều mình hình dung? Và điều gì tôi cần trình bày rõ, thay vì tiếp tục chờ trong thất vọng?
Hãy nhìn vào ảnh hưởng của mình trên người khác. Khi tôi buồn, người bên cạnh có được đối xử tử tế không? Khi tôi giận, họ có phải lo sợ không? Tôi có đang nhắc lại với người khác cách đối xử từng làm tôi đau? Có ai tôi cần xin lỗi mà lâu nay chỉ mong họ tự hiểu cho mình? Có điều bất công nào tôi cần lên tiếng hoặc tìm trợ giúp để chấm dứt? Xin Chúa cho ta nhận ra cả phần cần sửa lẫn phần cần được nâng đỡ, không che giấu và không vội kết án.
Thực hành trong tháng
Trong tháng này, hãy chọn một phản ứng thường lặp lại để theo dõi và tập thay đổi. Chỉ một phản ứng đủ cụ thể: nói gắt khi bị hỏi nhiều, im lặng để người khác đoán mình đang giận, vội nghĩ mình bị coi thường khi được góp ý, hoặc nhận thêm việc rồi trách mọi người không quan tâm. Ghi ngắn hoàn cảnh, cảm xúc, điều mình đã nghĩ và việc mình đã làm. Sau đó chọn một cách đáp lại khác có thể thực hiện trong lần tới. Mang những ghi nhận ấy đến trao đổi với người đồng hành phù hợp. Nếu có người đã bị tổn thương, hãy nhận lỗi và thực hiện một việc sửa đổi rõ ràng.
Mỗi tuần, nhìn lại cả điều chưa làm được và một bước tiến nhỏ. Đừng chỉ đếm số lần vấp ngã. Hãy nhận ra lần mình biết dừng, biết hỏi, biết nhờ giúp, biết nói điều cần nói bằng sự tôn trọng. Dành một khoảng nghỉ phù hợp và giữ một thời gian cầu nguyện trong đó mình có thể hiện diện thật trước Chúa. Nếu những khó khăn vượt quá khả năng tự giải quyết, hãy chủ động tìm sự trợ giúp thích hợp. Việc thực hành của tháng này được đo bằng những lựa chọn có thật trong tương quan hằng ngày.
Lời nguyện
Lạy Chúa Giêsu, hôm nay con đến trước mặt Chúa với những điều con thường cố giấu. Có những nỗi buồn con đã mang rất lâu mà chưa biết nói thành lời. Có những lần con bị tổn thương rồi tự nhủ phải quên, nhưng lòng con vẫn nhớ. Có những điều tưởng đã qua, đến khi gặp một câu nói, một quyết định, một sự thay đổi nhỏ, con mới nhận ra chúng vẫn còn ảnh hưởng đến cách con nhìn người khác. Xin Chúa ở lại với con trong những nơi ấy. Xin giúp con thôi giả vờ rằng mình luôn ổn chỉ vì con sợ làm người khác thất vọng.
Chúa đã nhìn thấy người đau yếu bên hồ Bếtdatha. Xin cho con tin Chúa cũng nhìn thấy con, giữa những công việc và trách nhiệm của đời dâng hiến. Chúa thấy điều con đã cố gắng, và cũng thấy điều con chưa làm được. Chúa biết có lúc con sợ đến mức trở nên khó chịu với người yêu thương mình. Chúa biết có lúc con cần được giúp nhưng lại nói rằng con không cần ai. Xin dạy con đón nhận sự thật về mình bằng lòng khiêm tốn. Xin cho con biết mở lời với người có thể đồng hành, thay vì tiếp tục tự xoay xở trong những điều con đã nhiều lần không giải quyết được.
Lạy Chúa, con xin nhận trách nhiệm về những lần đã làm người khác đau. Có những câu con nói để tự bảo vệ mà quên người nghe sẽ bị tổn thương. Có những ngày con im lặng để người khác phải đi tìm và dỗ dành. Có những lúc con đã lấy sự mệt mỏi, quá khứ hoặc tính khí làm lý do cho cách cư xử thiếu yêu thương. Xin tha thứ cho con. Xin giúp con nói lời xin lỗi rõ ràng, chịu khó sửa đổi và tôn trọng thời gian người khác cần để có thể tin con trở lại.
Xin Chúa chăm sóc những người con đã làm buồn. Có điều con đã quên nhưng họ còn nhớ. Có lời con nghĩ là nhẹ mà họ đã mang theo nhiều ngày. Xin cho con biết lắng nghe khi họ nói, đừng vội giải thích để giữ thể diện. Xin giúp con làm điều có thể làm để sửa lại, dù việc ấy khiến con phải nhận mình đã sai. Và khi con chưa được tha thứ ngay, xin giữ con khỏi trách móc người đang đau vì chính hành động của con.
Xin cũng nâng đỡ con trong những điều con đã phải chịu. Chúa biết có những lúc con không được lắng nghe, có những lần con bị hiểu sai, có những nỗi buồn con chưa thể buông xuống. Xin cho con biết tìm cách chăm sóc mình phù hợp. Xin ban sự sáng suốt để con nhận ra điều cần tha thứ, điều cần trình bày, điều cần đặt giới hạn và điều cần tìm người giúp. Xin đừng để con vì sợ hãi mà tiếp tục im lặng trước điều gây hại. Xin giữ lòng con khỏi ý muốn trả đũa những người không có lỗi với con.
Lạy Chúa, xin dạy con hiểu các nhu cầu của mình mà không bắt người khác phải gánh tất cả. Khi cần nghỉ, xin cho con biết nói mình mệt. Khi cần được nghe, xin cho con biết xin một cuộc gặp. Khi thấy cô đơn, xin giúp con tìm sự gắn bó lành mạnh và mở lòng với tình thương đang có quanh mình. Xin giải thoát con khỏi thói quen thử lòng người khác bằng sự lạnh nhạt. Xin cho con tôn trọng tự do của người con thương, đón nhận giới hạn của họ và nhớ rằng họ cũng đang cần được đối xử dịu dàng.
Xin giúp con trong những lúc được góp ý. Cho con đủ bình tĩnh để nghe phần sự thật, đủ can đảm để hỏi điều chưa rõ và đủ khiêm tốn để sửa điều cần sửa. Khi con có trách nhiệm góp ý cho người khác, xin giữ lời nói con khỏi khinh miệt. Xin cho con nhớ người trước mặt có một lịch sử con chưa biết hết, có những nỗ lực con chưa nhìn thấy, có một phẩm giá không mất đi vì lỗi lầm hôm nay.
Xin ở với con khi công việc thay đổi, khi chức vụ được trao cho người khác, khi sức khỏe không còn như trước. Xin cho con được buồn cách thành thật mà không làm khó người đến sau. Xin giúp con nhớ mình vẫn thuộc về Chúa trong những ngày ít được nhắc đến. Xin cho con nhận sự chăm sóc mà không xấu hổ, và biết góp phần bằng điều mình còn có thể làm, dù nhỏ bé.
Lạy Chúa Giêsu, xin dạy cộng đoàn chúng con biết lắng nghe nhau. Cho chúng con đủ kín đáo để giữ điều được trao trong tin cậy, đủ công bằng để sửa điều chưa đúng, đủ kiên nhẫn để không ép người đang đau phải mau chóng tỏ ra bình an. Xin cho những người có trách nhiệm biết sử dụng quyền bính với lòng kính trọng con người. Xin cho người đang yếu sức tìm được sự nâng đỡ cần thiết. Xin cho người đã làm sai có can đảm nhận lỗi và có cơ hội sửa đổi.
Tháng này, con xin dâng Chúa một phản ứng con muốn tập thay đổi. Chúa biết con còn dễ vấp ở đó. Xin nhắc con dừng lại khi cơn giận vừa lên, nhắc con hỏi trước khi kết luận, nhắc con trở lại khi đã lỡ làm ai buồn. Khi con thất bại, xin giúp con nhận lỗi và bắt đầu lại, đừng chìm trong tự trách cũng đừng dễ dàng bỏ qua. Xin cho con biết nhận ra những bước tiến nhỏ để cảm tạ Chúa và tiếp tục.
Giờ đây, xin Chúa dẫn con trở về với những người đang sống bên con. Con chưa hết mọi tổn thương, nhưng con muốn học yêu thương có trách nhiệm hơn. Xin cho họ được nhẹ lòng hơn vì cách con hiện diện. Xin cho lời con bớt làm đau, sự im lặng con bớt gây sợ hãi, sự phục vụ con bớt đòi được đáp trả. Xin chạm đến những nơi con còn đau, và dạy con chăm sóc những nơi ấy bằng sự thật, lòng kiên nhẫn cùng sự giúp đỡ cần thiết. Ngày mai, khi gặp lại điều vẫn thường khiến con phản ứng, xin giúp con nhớ lời cầu nguyện hôm nay và chọn một cách đáp lại dịu dàng hơn. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
THÁNG TƯ — KHI KHÔNG CÒN NẮM GIỮ, CON CÒN TIN CHÚA KHÔNG?
Canh tân lời khấn khó nghèo và sống trong tự do nội tâm.
Lời Chúa: Pl 2,5–11 — Đức Kitô tự hạ và vâng phục cho đến chết.
Có một ngày trong đời tu, người ta vẫn còn nguyên chiếc áo dòng, vẫn hiện diện trong nhà nguyện vào giờ quen thuộc, vẫn đọc những lời kinh đã đọc suốt nhiều năm, nhưng trong lòng lại thấy mình như vừa mất một chỗ đứng. Công việc từng gắn bó được trao cho người khác. Căn phòng đã ở lâu năm cần nhường lại. Một quyết định của cộng đoàn được đưa ra mà mình không còn là người được hỏi trước. Người ta vẫn chào mình với sự kính trọng, nhưng không còn tìm đến mình để xin ý kiến như trước. Bề ngoài, chẳng có biến cố nào quá lớn. Trong lòng, một điều gì đó lại chao đảo. Ta bắt đầu nhận ra rằng sự bình an của mình đã được buộc vào những điều rất cụ thể: một chìa khóa, một chức vụ, một lịch làm việc, một nhóm người quen cần đến mình, một lời giới thiệu có nhắc đến những năm tháng mình đã cống hiến.
Khi ấy, câu hỏi của tháng tĩnh tâm này không còn là câu hỏi để suy niệm cho hay. Nó chạm thẳng vào chỗ yếu của đời mình: khi không còn nắm giữ, con còn tin Chúa không? Khi không còn được quyết định như trước, con còn tin rằng đời mình đang được dẫn dắt không? Khi người khác làm công việc con từng làm, khi công sức của con không được nhắc tới, khi sức khỏe không cho phép con tiếp tục điều con yêu thích, con còn tin rằng Chúa vẫn yêu con với một tình yêu nguyên vẹn không? Hay từ lâu, con đã âm thầm đồng hóa việc được Chúa yêu với việc được người khác cần đến?
Lời khấn khó nghèo dẫn ta đến những câu hỏi ấy. Lúc mới bước vào đời tu, ta có thể nghĩ nhiều đến chuyện từ bỏ tiền bạc, không sở hữu tài sản riêng, sử dụng đồ dùng theo sự cho phép của cộng đoàn. Những điều đó cần thiết và phải được sống nghiêm túc. Nhưng càng đi lâu trong ơn gọi, ta càng khám phá rằng có những tài sản không nằm trong tủ, không ghi trong sổ, không thể đem ra kiểm kê. Ta có thể giữ chặt tiếng tốt của mình. Ta có thể xem một công việc là phần đất riêng. Ta có thể coi sự quý mến của người khác như bằng chứng bảo đảm rằng mình có giá trị. Ta có thể chẳng có tài khoản riêng, nhưng lại có một nhu cầu rất mạnh là mọi chuyện liên quan đến mình đều phải diễn ra theo ý mình. Đến lúc bị đụng vào những điều ấy, sự khó nghèo mới trở thành một kinh nghiệm thật.
Ngày tĩnh tâm không phải lúc để buộc mình thốt lên những lời quảng đại vượt quá điều lòng mình đang có. Chúa không cần ta giả vờ thanh thản. Người có thể đón nhận một lời thú nhận vụng về: “Lạy Chúa, con đang buồn vì không còn được giao việc ấy. Con đang sợ người khác quên con. Con biết công việc thuộc về sứ vụ chung, nhưng con vẫn muốn giữ. Con đã nói rằng con sẵn sàng, mà trong lòng con chưa sẵn sàng.” Một lời cầu nguyện như thế đã mở được cánh cửa mà nhiều lời sốt sắng có khi vẫn để đóng. Bởi từ đó, ta thôi nói về sự khó nghèo như chuyện của một người khác và bắt đầu để Chúa gặp mình ngay trong nỗi sợ mất mát.
Thánh Phaolô mời gọi các tín hữu mang lấy tâm tình của Đức Kitô. Trọng tâm của đoạn thư gửi tín hữu Philípphê là chính Đức Giêsu: Người vốn dĩ là Thiên Chúa, đã tự hạ, mang lấy thân phận tôi tớ, sống kiếp người và vâng phục cho đến chết trên thập giá. Khi suy niệm bản văn này, ta cần ở lại trước một con người cụ thể: Đức Giêsu đã sống giữa những giới hạn của đời người, đã mỏi mệt, đã bị khước từ, đã chịu hiểu lầm và đã trao chính mạng sống mình. Sự tự hạ của Người không phải một cách diễn đạt đẹp để trang trí cho lời giảng về từ bỏ. Đó là tình yêu được sống đến cùng bằng một thân xác có thể chịu đau, bằng một cuộc đời có thể bị người ta loại trừ.
Đức Kitô tự hạ mà không đánh mất căn tính của Người. Người mang thân phận tôi tớ mà không ngừng là Con yêu dấu. Điều này soi sáng tận gốc đời thánh hiến. Khi từ bỏ một điều, người tu sĩ không bị mời gọi trở thành kẻ vô giá trị. Khi sống khó nghèo, ta không được dạy phải khinh thường bản thân. Khi trao lại quyền quyết định, ta vẫn còn lương tâm, trách nhiệm và phẩm giá. Ta học nơi Đức Kitô cách sống từ mối tương quan với Chúa Cha, để giá trị của mình được đặt trên một nền tảng sâu hơn những gì mình đang có thể làm hoặc được phép nắm giữ.
Có lẽ nhiều nỗi bất an trong đời tu bắt đầu khi ta quên điều này. Ta biết mình là người đã khấn dòng, nhưng lại sống như thể mỗi ngày phải chứng minh rằng mình xứng đáng được ở trong cộng đoàn. Ta làm việc đến kiệt sức để không bị xem là vô ích. Ta khó nghỉ ngơi vì sợ người khác nghĩ mình lười. Ta không dám nói rằng mình đã quá tải vì sợ mất sự tín nhiệm. Ta sẵn sàng nhận thêm việc, rồi âm thầm mong người khác nhận ra sự hy sinh của mình. Khi không ai nhận ra, ta buồn và có thể trở nên cay đắng. Bên dưới vẻ tận tụy ấy là một người đang rất cần được bảo đảm rằng: tôi vẫn quan trọng, tôi vẫn có ích, xin đừng bỏ tôi sang một bên.
Nhu cầu được yêu thương và công nhận là điều rất người. Đời tu không xóa bỏ nhu cầu ấy bằng một nghi thức tuyên khấn. Có người đã bước vào ơn gọi với những thiếu thốn tình cảm từ nhỏ, với kinh nghiệm từng bị xem nhẹ, từng chỉ được khen khi làm tốt. Khi trưởng thành, họ tiếp tục tìm sự an toàn bằng cách trở thành người luôn hữu ích. Trong cộng đoàn, họ có thể rất siêng năng, rất chịu khó, rất đáng tin cậy. Nhưng chính họ cũng là người khó trao việc nhất, bởi trao việc khiến họ chạm vào một nỗi sợ cũ: nếu tôi không làm nữa, người ta còn muốn có tôi ở đây không?
Vì thế, canh tân lời khấn khó nghèo cần đi cùng lòng thương xót đối với chính mình. Ta phải nhìn thẳng sự bám víu, nhưng không cần sỉ nhục mình vì đang có nó. Một người bị kết án trong lòng thường chỉ tìm cách che giấu giỏi hơn. Một người được yêu thương đủ sẽ dần có can đảm nói thật. Trước mặt Chúa, ta có thể nhận ra: con đã dùng công việc để xin một chỗ trong lòng người khác; con đã biến sự tận tụy thành cách bảo vệ mình khỏi cảm giác bị bỏ rơi; con đã chờ lời khen nhiều đến mức không còn vui trọn vẹn với điều tốt mình được làm. Nhận ra như thế đau, nhưng nỗi đau ấy có thể đưa ta về gần Chúa hơn.
Sự khó nghèo của Đức Kitô giúp ta học lại việc làm con. Người tu sĩ cần một nơi trong lòng mà ở đó mình không phải trình bày thành tích. Giờ cầu nguyện phải dần trở thành nơi ấy. Ta đến với Chúa trong ngày làm được nhiều việc, và cũng đến trong ngày chẳng hoàn tất được gì. Ta ngồi trước Thánh Thể khi được quý mến, và vẫn ngồi đó khi vừa bị phê bình. Có lúc ta chỉ đủ sức thưa: “Hôm nay con không thấy mình tốt lành. Con đang ganh tị. Con đang tự ái. Con chưa muốn tha thứ.” Nếu có thể ở lại với Chúa bằng sự thật ấy, ta đang tập đặt sự an toàn của mình vào tình yêu của Người.
Một người sống tự do nội tâm vẫn có thể đau khi mất điều quý. Sự tự do không làm trái tim thành đá. Người ấy có thể khóc trong ngày rời cộng đoàn, có thể nhớ một sứ vụ đã gắn bó, có thể cần nhiều thời gian để quen với vai trò mới. Điểm đáng chú ý nằm ở cách người ấy đi qua mất mát: họ dần thôi bắt mọi người phải trả lại điều mình đã mất; họ học nói về nỗi buồn mà không biến nỗi buồn thành bản cáo trạng; họ vẫn để cho điều tốt tiếp tục phát triển, dù mình không còn đứng ở giữa. Đó là công trình của ân sủng được đón nhận từng ngày, thường rất âm thầm.
Trong đời sống chung, sự bám víu đôi khi hiện ra qua một câu rất nhỏ: “Sao chuyện này không ai hỏi tôi?” Có những trường hợp câu hỏi ấy hoàn toàn chính đáng. Một quyết định ảnh hưởng đến người khác cần được trao đổi cẩn trọng. Một cộng đoàn trưởng thành phải biết lắng nghe, tôn trọng chuyên môn và giúp các thành viên tham gia vào việc phân định. Nhưng cũng có lúc ta đòi được hỏi vì không chịu nổi cảm giác mình không còn là trung tâm. Vấn đề có thể rất nhỏ, người phụ trách mới đã có đủ thẩm quyền, thế mà trong lòng ta vẫn dậy lên một sự phản đối mạnh. Ngày tĩnh tâm mời ta phân biệt hai điều: tôi đang bảo vệ việc tham vấn cần thiết, hay đang bảo vệ vị trí của mình?
Sự phân biệt ấy đòi hỏi thành thật. Ta thường dễ tìm được một lý do nghe rất hợp đạo để giữ điều mình muốn giữ. Ta nói mình lo cho truyền thống, nhưng có thể ta đang sợ một cách làm mới. Ta nói người trẻ chưa đủ kinh nghiệm, nhưng có thể ta chưa chịu được việc họ có khả năng mà mình không có. Ta nói mình chỉ muốn bảo đảm chất lượng, nhưng lại không để ai có cơ hội tập làm. Ta nói “tôi chẳng cần chức vụ”, rồi buồn bực khi không được giới thiệu với chức vụ cũ. Chúa kiên nhẫn dẫn ta vào chỗ lẫn lộn ấy, để lòng yêu sứ vụ được thanh luyện khỏi nhu cầu chiếm hữu.
Một công việc được làm lâu năm dễ gắn với căn tính của người thực hiện. Người dạy học có thể thấy mình chỉ thật sự sống khi đứng lớp. Người phục vụ nhà nguyện cảm thấy mỗi đồ vật đều gắn với ký ức và công sức của mình. Người làm kinh tế cộng đoàn quen với việc mọi khoản thu chi đều đi qua tay mình. Người phụ trách một cơ sở biết từng góc tường, từng hoàn cảnh, từng người cộng tác. Tình yêu dành cho công việc ấy đáng được trân trọng. Sẽ là thiếu nhân bản nếu bảo họ rằng chỉ cần một quyết định là có thể lập tức hết lưu luyến. Nhưng chính vì đã yêu và đã trao nhiều năm tháng, họ càng cần được giúp để đi đến một hình thức yêu thương khác: chăm lo cho sự tiếp nối.
Trao lại một công việc có thể trở thành một việc phục vụ rất cụ thể. Ta sắp xếp hồ sơ để người sau không phải đoán. Ta nói rõ những khó khăn còn tồn tại, kể cả phần do mình xử lý chưa tốt. Ta bàn giao các khoản tiền, các cam kết và những trách nhiệm chưa hoàn tất. Ta giới thiệu người kế nhiệm với các cộng tác viên bằng thái độ chân thành. Ta không giữ riêng một thông tin quan trọng để người khác buộc phải tiếp tục tìm đến mình. Ta cũng không để lại những lời nhắn ngầm khiến người sau luôn bị so sánh. Đôi khi, sự khó nghèo nằm trong một việc giản dị như trao đủ mật khẩu, bàn giao đủ chứng từ, và để người mới có khoảng trống thực sự để làm việc.
Có một kiểu trao lại chỉ xảy ra trên giấy. Chức vụ đã đổi người, nhưng quyền quyết định vẫn nằm trong những cuộc điện thoại phía sau. Người cũ vẫn tiếp tục dặn dò nhân viên, tiếp tục đưa ra lời hứa với ân nhân, tiếp tục điều chỉnh công việc mà người mới đang chịu trách nhiệm. Ai cũng biết có người phụ trách mới, nhưng mọi người vẫn chờ xem người cũ đồng ý hay không. Nếu ta đang ở trong tình trạng ấy, cần can đảm nhìn nhận rằng mình chưa trao. Ta có thể thực lòng nghĩ mình đang giúp, nhưng sự giúp đỡ ấy cần được đặt trong giới hạn rõ ràng và theo sự thống nhất chung. Yêu cộng đoàn cũng bao gồm việc để cộng đoàn không còn phải xoay quanh mình.
Ở phía người đón nhận trách nhiệm, lời khấn khó nghèo cũng đặt ra một đòi hỏi. Được giao việc mới không có nghĩa là được quyền xóa sạch công sức người đi trước. Có người vừa nhận trách nhiệm đã muốn thay mọi thứ để chứng tỏ một thời kỳ mới bắt đầu. Có người tránh nhắc đến người cũ vì sợ mình bị lu mờ. Có người coi kinh nghiệm đã có như một trở ngại, thay vì một điều cần lắng nghe và phân định. Khi ấy, người mới cũng đang nắm giữ, chỉ là nắm giữ theo một cách khác. Sự tự do cần có ở cả hai phía: người trao không kiểm soát từ phía sau; người nhận đủ khiêm tốn để học hỏi mà không lệ thuộc.
Cộng đoàn cần biết chăm sóc những thời điểm chuyển giao. Một người đã phục vụ nhiều năm không nên chỉ nhận được một thông báo ngắn rồi tự xoay xở với khoảng trống của mình. Việc lắng nghe, chuẩn bị, giải thích và đồng hành giúp họ đi qua thay đổi trong sự thật. Có những khó khăn không đến từ sự thiếu quảng đại của cá nhân, nhưng từ cách cộng đoàn quyết định quá vội, giao tiếp quá lạnh, hoặc chỉ nhìn con người theo hiệu suất. Khó nghèo Tin Mừng phải được sống trong tình huynh đệ. Nếu cộng đoàn đòi một người buông bỏ mà không chịu ở lại với nỗi đau của họ, cộng đoàn cũng cần xét mình.
Tuy nhiên, việc được đối xử chưa khéo không làm cho mọi phản ứng của ta đều đúng. Ta có quyền nói về một sự thiếu công bằng, có quyền xin được lắng nghe và trình bày điều cần làm rõ. Đồng thời, ta cần giữ lòng mình khỏi ý muốn phá hỏng công việc chung để chứng minh người khác đã sai khi không tiếp tục chọn mình. Có những câu nói được thốt ra trong tự ái có thể làm người kế nhiệm mất uy tín trước khi họ bắt đầu. Có những lời than phiền kéo dài khiến cả cộng đoàn phải sống trong cảm giác mắc nợ. Chúa mời ta đưa nỗi đau đến nơi có thể được chữa lành, thay vì phân phát nó cho mọi người.
Một thước đo khó nhưng hữu ích là thái độ của ta khi người khác làm tốt công việc mình từng đảm nhận. Nếu họ làm chưa tốt, ta dễ thương cảm hoặc sốt sắng giúp đỡ. Nhưng khi họ làm tốt hơn, có sáng kiến được đón nhận hơn, được người khác quý mến hơn, lòng ta có thể bất ngờ co lại. Ta nhìn thấy thành công ấy mà chưa vui được. Ta bắt đầu tìm điểm thiếu sót để tự trấn an. Ta nhắc rằng ngày trước điều kiện khó hơn. Ta kể lại những gì mình đã xây dựng, như thể sự tiến bộ của người sau đang lấy bớt phần giá trị của mình. Đây là một chỗ rất thật để cầu nguyện, vì nó cho thấy ta còn đang xem điều tốt như tài sản riêng đến mức nào.
Có thể hôm nay ta chưa đủ sức vui ngay. Ta không cần nói một lời chúc mừng tràn đầy cảm xúc mà lòng mình không có. Nhưng ta có thể chọn một hành vi ngay thẳng: nhìn nhận công việc tốt đã được thực hiện, không nói lời hạ thấp, không lôi kéo người khác vào sự so sánh. Rồi ta đem phần ganh tị còn lại đến với Chúa: “Lạy Chúa, con muốn vui mà chưa vui được. Xin giúp con.” Từ sự chân thật đó, niềm vui sẽ có cơ hội lớn lên. Có khi sau một thời gian dài, ta mới nhận ra mình đã thật lòng cầu mong người sau thành công. Một phần tự do đã được trao lại cho trái tim.
Công sức đã cống hiến không mất đi chỉ vì người khác tiếp tục công việc. Những năm tháng ấy đã trở thành một phần của đời sống chung, của những con người đã được giúp đỡ, của chính con người ta trước mặt Chúa. Ta không cần giữ quyền sở hữu trên tương lai để bảo đảm rằng quá khứ mình có ý nghĩa. Một người đã chăm sóc cộng đoàn bằng tình yêu có thể tiếp tục yêu bằng cách đón nhận rằng cộng đoàn sẽ sống những điều mới. Những thay đổi phù hợp với sứ vụ không phản bội người đi trước. Chúng có thể là dấu hiệu cho thấy điều tốt họ góp phần gây dựng đang sinh hoa trái nơi những người khác.
Từ đó, ta trở về với những điều dễ thấy hơn của lời khấn khó nghèo: tiền bạc, tiện nghi và đồ dùng. Suy niệm về tự do nội tâm không thể trở thành cách né tránh trách nhiệm vật chất. Một người có thể nói rất hay về sự từ bỏ, nhưng vẫn sử dụng tài sản chung thiếu minh bạch. Có người không đòi hỏi món đồ đắt tiền, nhưng lại tùy tiện lấy khoản tiền nhỏ vì nghĩ mình có quyền. Có người coi quà tặng dành cho sứ vụ là phần riêng của mình. Có người nhận tiền mà không nói rõ mục đích, rồi sử dụng theo ý tốt chủ quan. Lòng tốt cần được đi cùng sự ngay thẳng và những quy định chung đã được cam kết.
Minh bạch trong đời tu không phải sống trong sự nghi ngờ nhau. Minh bạch giúp tình huynh đệ đỡ bị tổn thương bởi những điều mập mờ. Khi một khoản tiền được ghi nhận rõ, người quản lý không phải mang một gánh nặng riêng, người khác không phải suy đoán, và những người đã quảng đại đóng góp được tôn trọng. Một chứng từ được giữ lại, một khoản chi được trình bày đúng, một quà tặng được báo theo quy định có thể là những việc rất nhỏ, nhưng chúng bảo vệ sự thật trong cộng đoàn. Ta không thể nói mình đã dâng mọi sự cho Chúa mà lại khó chịu trước việc phải giải thích mình đã dùng của chung ra sao.
Người được giao quản lý tài sản cần một sự khó nghèo đặc biệt. Họ cầm giữ nhiều thứ nhưng phải luôn nhớ mình đang phục vụ. Quyền ký một khoản chi không làm họ trở thành chủ của người đang xin được đáp ứng nhu cầu. Biết tình hình kinh tế không cho phép họ dùng thông tin ấy để tạo ảnh hưởng riêng. Có thể phải từ chối một đề nghị chưa phù hợp, nhưng sự từ chối vẫn cần được giải thích bằng lý do, với sự tôn trọng. Người quản lý sống nghèo khi họ làm cho việc sử dụng của chung trở nên ngay thẳng, có trách nhiệm và dễ hiểu, thay vì khiến mọi người lệ thuộc vào thiện cảm cá nhân của mình.
Người sử dụng tài sản chung cũng cần tập trách nhiệm đến cùng. Được phép dùng không có nghĩa là được phép bỏ mặc. Một chiếc xe cần được bảo dưỡng, một thiết bị cần được giữ gìn, một căn phòng cần được sử dụng cẩn thận. Ta có thể dễ tiết kiệm với đồ của riêng gia đình, nhưng lại vô tâm với đồ cộng đoàn vì nghĩ hư thì đã có người thay. Thói quen ấy làm lộ một khoảng cách giữa lời khấn và đời sống. Của chung được trao cho ta sử dụng bằng công sức của nhiều người, đôi khi bằng những khoản đóng góp rất nhỏ của người có đời sống khó khăn. Lòng biết ơn phải đi vào cách cầm một món đồ, cách tắt điện, cách đặt lại một dụng cụ để người sau còn dùng được.
Nhưng tiết kiệm cũng cần sự khôn ngoan. Một thiết bị cũ gây mất an toàn không nên được giữ chỉ để có vẻ nghèo. Một người bệnh không nên phải chịu đau thêm vì cộng đoàn ngại một khoản chi cần thiết. Một người làm việc nhiều giờ có thể cần dụng cụ phù hợp để tránh tổn hại sức khỏe. Mua một món đồ rẻ nhưng nhanh hỏng chưa chắc là sử dụng của chung có trách nhiệm. Sự đơn sơ đòi hỏi ta nhìn vào nhu cầu thực, độ bền, khả năng sửa chữa và ảnh hưởng đến người sử dụng. Ta tập chọn điều đủ và phù hợp, thay vì chạy theo cái mới hoặc giữ cái cũ một cách cứng nhắc.
Có những sự tiện nghi được ta tiếp nhận rất nhanh rồi xem như quyền đương nhiên. Ban đầu, ta biết ơn vì được có một phương tiện thuận lợi. Một thời gian sau, chỉ cần phương tiện ấy không sẵn sàng là ta bực bội. Ta từng thấy một căn phòng là đủ, rồi dần khó chịu vì người khác có nơi ở tốt hơn. Ta từng sử dụng điện thoại cho công việc, rồi bắt đầu cảm thấy không thể chịu được khi chưa được đổi sang loại mới. Các nhu cầu có thể lớn lên âm thầm đến mức ta không còn nhận ra. Vì vậy, xét mình về khó nghèo cần hỏi: điều này phục vụ nhu cầu nào, và từ khi nào tôi đã coi nó là điều không thể thiếu?
Sống giản dị không có nghĩa là thường xuyên nhìn sang người khác để kết án. Có những nhu cầu ta không biết, những bệnh tật ta không thấy, những trách nhiệm đòi hỏi phương tiện khác nhau. Một người cần chế độ ăn riêng không vì thế mà thiếu tinh thần khó nghèo. Một người được sử dụng thiết bị tốt hơn có thể đang làm công việc mà thiết bị ấy thực sự cần thiết. Cộng đoàn cần những tiêu chí rõ và công bằng, đồng thời các thành viên cần tránh biến việc quan sát đồ dùng của nhau thành một hình thức kiểm soát. Khó nghèo chỉ trưởng thành khi ta vừa có trách nhiệm chung vừa tôn trọng sự thật riêng của mỗi người.
Ngược lại, ta cũng không nên dùng sự khác biệt nhu cầu để biện minh vô hạn cho sở thích. Một người có thể luôn tìm được lý do sứ vụ cho điều mình muốn. Mua thêm một thiết bị vì “sẽ có lúc cần”, nhận thêm một phương tiện vì “để thuận tiện”, giữ lại nhiều đồ không dùng vì “biết đâu sau này hữu ích”. Dần dần, căn phòng chật mà lòng vẫn chưa thấy đủ. Trong tháng này, ta có thể xem lại những gì đã lâu không đụng đến. Có thứ nên được sửa để dùng lại, có thứ nên trao cho nơi đang cần, có thứ cần loại bỏ đúng cách. Mỗi món đồ được đặt lại đúng chỗ cũng giúp ta nhìn rõ hơn cách mình tìm sự an toàn.
Khó nghèo còn liên quan đến việc đón nhận. Có người rất sẵn sàng cho đi nhưng lại khó xin giúp đỡ. Họ thấy xấu hổ khi phải trình bày mình cần một đôi kính tốt hơn, một lần khám bệnh, một khoảng nghỉ hay một sự hỗ trợ trong công việc. Họ đã quen với vai trò người có thể chăm sóc người khác đến mức không chấp nhận mình cũng có giới hạn. Trong trường hợp ấy, sống nghèo bao gồm việc khiêm tốn nhận điều cần thiết. Ta thuộc về một cộng đoàn, và cộng đoàn có trách nhiệm chăm sóc ta. Chấp nhận được chăm sóc giúp ta thoát khỏi ảo tưởng rằng mình chỉ đáng quý khi còn có thể trao ban.
Đối với người cao tuổi, điều này có thể trở thành một cuộc thanh luyện rất sâu. Sau nhiều năm phục vụ, họ cần người đưa đi khám, nhắc thuốc, giúp những việc trước kia làm rất dễ dàng. Bàn tay từng chăm sóc bao người nay run khi cầm một ly nước. Người từng nhớ mọi chi tiết của công việc nay phải hỏi lại điều vừa được nói. Nếu cộng đoàn chỉ biết ca ngợi những năm tháng quá khứ mà thiếu kiên nhẫn với nhu cầu hiện tại, người cao tuổi sẽ cảm thấy mình đang làm phiền. Lời khấn khó nghèo của cả cộng đoàn được thử thách ở đây: ta có sẵn sàng dành thời gian, nhân lực và tài chính để một người yếu đi vẫn được sống trong sự kính trọng không?
Một cộng đoàn có thể có nhà nguyện đẹp và những chương trình phục vụ tốt, nhưng sự thật của tình huynh đệ còn nằm ở cách đáp lại tiếng gọi của người đau yếu vào một giờ bất tiện. Người bệnh không phải lúc nào cũng dễ chịu. Đau đớn, mất ngủ và nỗi sợ lệ thuộc có thể làm họ khó tính hơn. Chăm sóc họ cần tổ chức, chuyên môn và sự nâng đỡ cho cả người chăm sóc. Không nên giao mãi gánh nặng cho một thành viên rồi xem sự kiệt sức của người ấy như chuyện phải chấp nhận. Sử dụng của chung vì con người bao gồm cả việc tìm sự trợ giúp thích hợp khi cộng đoàn không đủ khả năng tự lo.
Trong khi đó, người được chăm sóc cũng được mời sống khó nghèo bằng sự chân thành. Có thể xin điều mình cần mà không biến mọi mong muốn thành yêu cầu bắt buộc. Có thể nói về cơn đau, đồng thời nhìn nhận giới hạn của người đang giúp mình. Có thể đau buồn vì mất khả năng, nhưng dần học rằng đời mình vẫn có thể góp phần vào cộng đoàn bằng sự hiện diện, lời cầu nguyện và lòng biết ơn. Điều ấy không xảy ra nhờ một lời nhắc “phải hy sinh”. Nó cần được lớn lên trong sự đồng hành dịu dàng, qua nhiều ngày người bệnh được cảm thấy mình vẫn thuộc về.
Một nơi khác rất cần xét mình là cách ta đối xử với người lao động. Người làm bếp, người quét dọn, người bảo trì, người chăm sóc vườn hay người cộng tác tại cơ sở đều có gia đình, sức khỏe và những lo toan của họ. Ta có thể nói nhiều về sự khó nghèo của tu sĩ, nhưng lại ít nghĩ đến việc một người làm công có được trả đúng hạn, được nghỉ ngơi hợp lý, được đối xử tử tế hay không. Những khoản tiết kiệm lấy từ sự thiệt thòi của người lao động không làm cho cộng đoàn sống Tin Mừng hơn. Tài sản chung cần được quản lý sao cho người phục vụ cộng đoàn cũng được tôn trọng.
Thái độ hằng ngày thường bộc lộ rõ hơn những lời tuyên bố. Ta gọi người lao động bằng giọng nào? Khi họ làm sai, ta sửa trong sự tôn trọng hay làm họ xấu hổ trước mặt người khác? Ta có báo trước những thay đổi khiến họ phải ở lại thêm giờ không? Ta có coi việc họ giúp thêm là điều đương nhiên vì “đây là nhà dòng” không? Một cộng đoàn sống đơn sơ vẫn phải thực hiện trách nhiệm công bằng với người làm việc cho mình. Việc được phục vụ không cho ta một địa vị cao hơn về phẩm giá. Trước Chúa, những người ấy cũng là người được yêu và cần được chăm sóc.
Sự khó nghèo cũng mở mắt ta trước người nghèo ở ngoài cổng. Có thể ta không đáp ứng được mọi lời xin, và có những trường hợp cần tìm hiểu cẩn thận để giúp đúng cách. Nhưng ta vẫn cần giữ khả năng nhìn thấy một con người cụ thể. Người nghèo dễ làm đảo lộn lịch trình, có thể nói dài, có thể trở lại nhiều lần, có thể không biết trình bày nhu cầu theo cách ta muốn. Nếu chỉ quen tiếp những người mang đến sự thuận lợi, ta sẽ dần mất kiên nhẫn với người chẳng có gì để đáp lại. Đời tu được mời giữ một khoảng mở cho những cuộc gặp không mang lợi ích về cho mình.
Điều này cần được thực hiện bằng sự khôn ngoan của cộng đoàn. Một người tự ý hứa giúp vượt quá khả năng rồi để người khác lo hậu quả cũng chưa phải sống khó nghèo trưởng thành. Lòng thương xót cần biết phối hợp, tìm nguồn trợ giúp, giữ lời hứa trong phạm vi có thể và trình bày rõ giới hạn. Đôi khi điều một người cần nhất là được hướng dẫn đến nơi có thể giúp thực sự. Đôi khi ta chỉ có thể trao một phần nhỏ. Nhưng dù giúp theo cách nào, ta đừng làm người nhận cảm thấy họ phải trả bằng sự lệ thuộc, sự tôn vinh hay việc để lộ đời tư của mình.
Ở đây, ta cần xét đến việc sử dụng hình ảnh trong hoạt động bác ái. Có những báo cáo cần hình ảnh để bảo đảm trách nhiệm với người đóng góp. Tuy vậy, sự cần thiết ấy phải đi cùng việc tôn trọng người được giúp, sự đồng ý phù hợp và cách trình bày giữ gìn phẩm giá. Nỗi khổ của người khác không phải chất liệu để ta xây dựng hình ảnh quảng đại cho mình. Có những điều tốt nên được làm mà không cần ai biết tên người thực hiện. Tập chấp nhận một việc lành không đem lại sự chú ý cũng là một cách sống khó nghèo trong thời đại mà mọi việc đều dễ được đưa lên màn hình.
Thiết bị số mở ra nhiều khả năng cho sứ vụ, đồng thời có thể làm nhu cầu được nhìn nhận lớn lên rất nhanh. Một bài chia sẻ được đón nhận khiến ta vui; điều đó dễ hiểu. Nhưng nếu lòng bình an bắt đầu phụ thuộc vào số người xem, những phản hồi hoặc việc có ai nhắc đến mình, ta cần dừng lại. Một ngày ít tương tác không làm lời phục vụ chân thành mất giá trị. Một người khác được chú ý hơn không lấy đi ơn gọi của ta. Ta có thể đang sử dụng phương tiện của cộng đoàn, làm công việc mang tên sứ vụ, mà bên trong lại nuôi một sự lệ thuộc ngày càng lớn vào hình ảnh cá nhân.
Khó nghèo trong việc sử dụng thiết bị còn nằm ở thời gian và sự chú ý. Có thể ta không tiêu nhiều tiền, nhưng dành quá nhiều giờ cho việc xem những điều không cần thiết. Ta đang ở phòng chung mà tâm trí không còn ở đó. Một người bên cạnh muốn nói vài lời, còn ta liên tục nhìn xuống màn hình. Giờ nghỉ vốn để phục hồi lại trở thành lúc tiếp nhận thêm quá nhiều thông tin. Thời gian của ta là một phần đời sống đã dâng hiến, cần được sử dụng có trách nhiệm. Giản dị trong tháng này có thể bắt đầu bằng việc đặt thiết bị xuống trong bữa ăn, giữ một khoảng yên trước giờ cầu nguyện và trả lại sự chú ý cho người đang hiện diện.
Thời gian cũng là thứ người tận tụy có thể nắm giữ rất chặt. Ta sẵn sàng cho người khác công sức, miễn là họ cần đến ta theo lịch ta định. Một lời nhờ vào lúc bất tiện có thể làm ta nổi giận, trong khi chính ta lại khó chấp nhận khi người khác không sẵn sàng. Tự do nội tâm giúp ta học sự mềm dẻo, đồng thời biết nói rõ giới hạn. Có lúc cần dừng công việc để ở bên một người đang đau khổ. Có lúc phải xin hẹn lại để hoàn tất trách nhiệm đã nhận. Sự quảng đại trưởng thành không đòi ta luôn đáp ứng mọi yêu cầu; nó đòi ta đừng coi thời gian và sức lực của mình như một lãnh thổ mà người khác tuyệt đối không được chạm tới.
Trong đời sống cộng đoàn, tài năng cũng cần được sống trong tinh thần khó nghèo. Người có khả năng thường được giao nhiều việc và dễ quen với việc mình làm nhanh, làm tốt hơn. Khi phải hướng dẫn người mới, họ thấy mất thời gian. Cuối cùng họ làm luôn, rồi than rằng không có ai chia sẻ trách nhiệm. Có thể thật sự thiếu người, nhưng cũng có thể ta chưa chịu trả cái giá của việc đào tạo. Để người khác học, ta phải chấp nhận một thời gian công việc chưa trôi chảy như mình mong. Ta phải giải thích điều đối với mình đã quá rõ. Ta phải cho phép một cách làm khác, miễn là vẫn đáp ứng trách nhiệm chung.
Chia sẻ trách nhiệm vì thế là một thực hành khó nghèo rất thật. Ta trao một phần công việc với phạm vi rõ ràng, cung cấp thông tin cần thiết, thống nhất thời điểm trao đổi và không can thiệp vào mọi chi tiết. Nếu có sai sót, ta cùng sửa thay vì lập tức giành lại. Người được trao cần chịu trách nhiệm, nhưng người trao cũng cần chịu trách nhiệm về cách hướng dẫn. Một cộng đoàn sẽ yếu đi nếu mọi khả năng đều bị giữ trong một vài người. Khi kiến thức được chia sẻ, khi người trẻ có cơ hội học, khi một thành viên vắng mặt mà công việc vẫn tiếp tục được, sự phục vụ đã bớt lệ thuộc vào quyền sở hữu cá nhân.
Khó nghèo còn chạm đến cách ta giữ ý kiến. Kinh nghiệm nhiều năm giúp ta thấy những nguy cơ người khác chưa thấy; cộng đoàn cần lắng nghe điều ấy. Nhưng kinh nghiệm không bảo đảm ta luôn đúng. Có thể cách làm từng phù hợp nay cần thay đổi. Có thể một người ít tuổi hơn nhìn thấy điều ta bỏ sót. Có thể ta đã đánh giá ai đó qua một sai lầm cũ và chưa cho họ cơ hội lớn lên. Người tự do nội tâm có thể nói: “Tôi đã nghĩ như vậy, nhưng sau khi nghe thêm, tôi thấy cần điều chỉnh.” Đó là một sự mất mát nhỏ đối với lòng kiêu hãnh, nhưng là một điều tốt cho đời sống chung.
Nhận lỗi cũng là buông một tài sản vô hình: hình ảnh mình luôn đúng. Ta có thể nói rất lâu để giải thích hoàn cảnh, nhắc đến ý tốt, trình bày áp lực, mà vẫn chưa nói được rằng mình đã làm người khác đau. Hoàn cảnh cần được hiểu, nhưng không thay cho trách nhiệm. Một lời xin lỗi rõ ràng có thể làm ta thấy nhỏ đi trong chốc lát, rồi giúp mối tương quan có cơ hội được chữa lành. Người đã khấn khó nghèo được mời đón nhận sự thật về giới hạn mình, kể cả giới hạn đạo đức. Ta không thể dâng cho Chúa một con người tưởng tượng luôn tốt lành; ta chỉ có thể dâng con người thật đang cần được tha thứ.
Cũng có lúc ta phải sống nghèo trước sự hiểu lầm. Không phải lời hiểu lầm nào cũng có thể giải thích ngay, và không phải lời giải thích nào cũng được đón nhận. Ta cần làm rõ những gì liên quan đến trách nhiệm, bảo vệ danh dự theo cách chính đáng và tìm sự trợ giúp khi cần. Nhưng sau khi đã làm điều phải làm, có thể vẫn còn một phần nằm ngoài khả năng kiểm soát. Ta không thể buộc mọi người nhìn mình đúng như mình mong. Khi ấy, cầu nguyện giúp ta không để cả đời sống bị cuốn vào việc quản lý dư luận. Ta vẫn được mời sống ngay thẳng trong ngày hôm nay, dù chưa lấy lại được sự nhìn nhận mình mong đợi.
Điều này tuyệt nhiên không có nghĩa là phải im lặng trước hành vi gây hại hoặc chấp nhận mọi cách đối xử như một bài tập từ bỏ. Lời khấn khó nghèo không tước quyền được bảo vệ, được chăm sóc và được nói sự thật. Một người đang bị lạm dụng quyền lực cần được lắng nghe và được giúp đỡ. Một quyết định thiếu công bằng cần có nơi để xem xét. Tự hạ theo Đức Kitô không cho phép ta làm nhục người khác, cũng không buộc người yếu thế phải mang lấy lỗi của người mạnh. Sự thật và phẩm giá con người thuộc về chính đời sống Tin Mừng mà cộng đoàn đã cam kết.
Trong đời tu, có những người rất quảng đại nhưng chưa biết đặt giới hạn. Họ cho đi đến khi kiệt sức, rồi cảm thấy bị bỏ rơi vì không ai nhận ra. Ngày tĩnh tâm cần giúp họ nhìn lại cách sống ấy với lòng thương. Có thể họ cần học trình bày khối lượng công việc, xin chia sẻ trách nhiệm, đón nhận việc nghỉ ngơi và chăm sóc sức khỏe. Khó nghèo bao gồm việc chấp nhận mình có một thân xác giới hạn. Ta không được trao vô hạn sức lực, và sứ vụ chung cần được tổ chức sao cho không dựa trên sự hao mòn âm thầm của một người luôn ngại nói “con không còn đủ sức”.
Nhìn lên Đức Kitô tự hạ, ta cũng phải nhớ đến sự tự do của tình yêu nơi Người. Sự hiến dâng của Người không cho ta lý do để thờ ơ trước đau khổ có thể phòng tránh. Khi một thành viên quá tải, việc cần làm có thể là điều chỉnh công việc. Khi một người bệnh, việc cần làm là tìm sự chăm sóc. Khi một người bị tổn thương, việc cần làm là lắng nghe và bảo vệ. Ta cần rất cẩn trọng để không dùng ngôn ngữ hy sinh che đi trách nhiệm phải thực hiện. Một cộng đoàn càng yêu mến thập giá càng phải biết cúi xuống trước người đang đau thật.
Có những sự bám víu kín đáo hơn nữa: bám vào hình ảnh mình là người hy sinh. Ta đã quen là người chịu thiệt, người không đòi hỏi, người luôn ở lại làm phần cuối. Đến khi có ai muốn giúp, ta từ chối; đến khi có người làm tốt, ta lại thấy mình không còn chỗ. Ta có thể kể sự vất vả bằng giọng khiêm nhường nhưng chờ người nghe xác nhận rằng mình đã chịu đựng hơn mọi người. Cần nhiều ánh sáng để nhận ra điều này mà không tự ghét mình. Chúa muốn giải thoát ta khỏi việc phải mang một vai diễn đạo đức suốt đời. Ta được phép là một người đang học yêu, có quảng đại và cũng có yếu đuối.
Nỗi sợ đứng sau việc nắm giữ thường cần được gọi tên cụ thể. Có người sợ thiếu thốn vì đã từng sống trong cảnh nghèo. Có người sợ không còn được hỏi ý kiến vì từng bị xem thường. Có người giữ đồ đạc vì ký ức mất mát trong gia đình. Có người kiểm soát tiền bạc quá mức vì đã trải qua những giai đoạn bất ổn. Cầu nguyện không đòi ta bỏ qua lịch sử của mình. Trái lại, ta có thể đem lịch sử ấy đến với Chúa, và khi cần, trao đổi với người có khả năng đồng hành. Một nỗi sợ được hiểu sẽ dễ được chăm sóc hơn một nỗi sợ chỉ bị gọi là thiếu đức tin.
Tin vào Chúa không có nghĩa là hết cần kế hoạch, ngân sách hay sự chuẩn bị cho tương lai. Cộng đoàn phải lo cho người cao tuổi, bảo trì cơ sở, dự trù những nhu cầu của sứ vụ và tính đến các tình huống khó khăn. Đó là trách nhiệm. Nhưng sự dự liệu có thể chuyển thành tích trữ vì sợ hãi nếu ta không còn nhận ra mức đủ, không còn dành chỗ cho chia sẻ, và luôn thấy mọi khoản dành cho người khác là đe dọa đến mình. Khó nghèo mời cộng đoàn thường xuyên xem lại: tài sản này đang phục vụ ai, có phù hợp với ơn gọi của chúng ta không, và liệu chúng ta có đang để nỗi sợ quyết định quá nhiều?
Một cộng đoàn cũng có thể bám vào danh tiếng, quy mô hoặc những thành tựu quá khứ. Có cơ sở đã từng rất có ý nghĩa, nhưng hoàn cảnh thay đổi, nhân sự không còn đủ, nhu cầu thực tế đã khác. Việc tiếp tục bằng mọi giá có thể làm các thành viên kiệt sức và thu hẹp khả năng đáp lại điều đang cần hơn. Phân định việc thu nhỏ, chuyển giao hay kết thúc một hoạt động thường rất đau, vì liên quan đến ký ức của nhiều thế hệ. Tuy nhiên, khó nghèo cộng đoàn bao gồm khả năng xét lại điều mình đang giữ, với lòng biết ơn quá khứ và sự trung thành với sứ vụ hiện tại.
Đời thánh hiến không được bảo đảm bởi việc mọi công trình đều tiếp tục tồn tại như trước. Có những giai đoạn chứng tá rõ nhất nằm ở cách cộng đoàn thay đổi: trung thực với khả năng của mình, chu toàn trách nhiệm với người liên quan, chăm sóc thành viên và không che giấu khó khăn chỉ vì sợ mất hình ảnh. Tình yêu dành cho ơn gọi giúp ta đi vào sự thật ấy. Nếu Chúa đang mời một cộng đoàn sống nhỏ hơn, đơn sơ hơn, gần người khác hơn, thì việc đón nhận cần được thực hiện bằng phân định nghiêm túc, chứ không bằng mặc cảm thất bại.
Đối với từng người, tuổi tác cũng đặt ra những cuộc chuyển giao không thể tránh. Sẽ có ngày ta không thể tự mình đi mọi nơi, không còn nhớ hết tên người quen, không còn đủ sức hoàn tất điều trước kia làm trong một buổi. Sự chuẩn bị cho ngày ấy bắt đầu từ bây giờ. Mỗi lần chấp nhận một người khác cùng làm, mỗi lần thôi giữ riêng thông tin, mỗi lần để mình được giúp, ta đang tập sống với một sự thật: đời mình được nhận từ Chúa và sẽ được trao lại cho Người. Ta không làm chủ hoàn toàn thời gian, sức khỏe hay khả năng của mình.
Cái chết làm sáng tỏ giới hạn ấy. Một ngày nào đó, người khác sẽ sắp xếp đồ dùng của ta. Những giấy tờ ta từng cẩn thận giữ sẽ được xem lại. Chiếc bàn sẽ được dọn để có người khác sử dụng. Công việc, nếu còn cần, sẽ được tiếp tục bằng một cách nào đó. Nghĩ đến điều này không nhằm làm ta buồn chán hay coi nhẹ những gì đang làm. Nó giúp ta sử dụng những gì được trao với lòng biết ơn và một sự tỉnh táo hiền hòa. Ta có thời gian để yêu, để làm điều phải làm, để sửa một sai sót, để nói một lời cảm ơn. Ta không có thời gian vô hạn để chờ mọi sự phải hoàn toàn theo ý mình mới chịu bình an.
Khi còn trẻ, ta dễ nghĩ sự khó nghèo nằm ở những điều lớn lao sẽ từ bỏ trong tương lai. Khi đi qua nhiều năm, ta thấy Chúa thường gặp mình trong những chuyện rất nhỏ của hiện tại. Một người khác được khen. Một kế hoạch của mình không được chọn. Một món đồ mình thích cần được dùng chung. Một giờ rảnh bị thay đổi bởi nhu cầu chính đáng của cộng đoàn. Một công việc được làm theo cách khác mà vẫn tốt. Những điều ấy không gây tiếng động lớn, nhưng đủ cho ta biết lòng mình đang mở hay đang co lại.
Ta không cần biến cả ngày thành cuộc tự kiểm tra căng thẳng. Khó nghèo Tin Mừng cần có niềm vui. Khi không còn phải giữ quá nhiều, người ta có thể nghỉ ngơi hơn. Khi thôi so sánh đồ dùng, ta có thể biết ơn điều đang có. Khi không cần được nhắc tên trong mọi việc tốt, ta có thể vui với kết quả chung. Khi để người khác chia sẻ trách nhiệm, ta có thêm chỗ cho tình huynh đệ. Khi không còn coi mọi lời góp ý là nguy cơ mất giá trị, ta có thể học điều mới. Sự tự do ấy đem lại một niềm vui bình dị, có thể cảm được ngay trong bữa cơm, giờ làm việc và cuộc trò chuyện hằng ngày.
Niềm vui cũng lớn lên khi ta tập nhận ra mình đã được chăm sóc. Có người chuẩn bị bữa ăn. Có người lo hóa đơn. Có người sửa một chỗ hỏng. Có người âm thầm thay ca để mình đi khám bệnh. Có những khoản đóng góp đã giúp cộng đoàn tồn tại mà ta chưa từng biết tên người cho. Càng nhận ra đời mình đang được nâng đỡ bởi nhiều người, ta càng khó xem mọi sự là quyền đương nhiên. Lòng biết ơn khiến cách sử dụng tài sản trở nên cẩn thận, và cách đối xử với con người trở nên mềm hơn.
Trong Thánh Thể, ta được ở lại trước Đức Kitô đã hiến mình. Sự hiện diện của Người mời ta dâng đời sống thật của mình vào tình yêu ấy: một ngày làm việc, một quyết định khó, một nỗi buồn chưa yên, một điều đang muốn giữ. Ta không cần chờ đến khi đã quảng đại hoàn toàn mới đến với Người. Chính trong việc ở lại và để Người yêu, ta mới có khả năng trao. Có hôm sự dâng hiến chỉ là không nói thêm một lời chua chát. Có hôm là gửi đủ hồ sơ cho người kế nhiệm. Có hôm là xin lỗi vì đã dùng của chung tùy tiện. Những việc ấy có thể nhỏ đối với người ngoài, nhưng là nơi lời khấn được sống bằng thân phận cụ thể của ta.
Đoạn thư Philípphê còn đưa ta từ sự tự hạ của Đức Kitô đến việc Người được Thiên Chúa siêu tôn. Ta cần đón nhận điều ấy như niềm hy vọng vào sự trung tín của Thiên Chúa, chứ không biến nó thành một cách tính toán: hôm nay chịu thiệt để ngày mai được trả lại địa vị lớn hơn. Có những hy sinh sẽ không được người đời biết đến. Có những lời giải thích sẽ không kịp được nghe. Có những người kết thúc đời tu trong sự âm thầm của phòng bệnh. Sự sống của họ vẫn được giữ trong tình yêu Thiên Chúa. Ta tin rằng trao mình cho Người không đưa cuộc đời đến chỗ vô nghĩa, dù ta không nhìn thấy kết quả theo cách mình chờ đợi.
Đức tin ấy có thể rất yếu vào những ngày mệt mỏi. Ta đã trao việc, nhưng vẫn muốn hỏi xem người mới làm đến đâu. Ta đã đồng ý chuyển cộng đoàn, nhưng lòng vẫn quay về nơi cũ. Ta đã chọn giản dị, rồi lại bị hấp dẫn bởi một món đồ. Ta đã cầu nguyện cho người khác, rồi vẫn buồn khi nghe họ được khen. Những trở lại ấy cho thấy ta cần tiếp tục để Chúa huấn luyện. Ta có thể bắt đầu lại mà không phủ nhận những bước đã đi. Sự trung thành thường được sống qua nhiều lần nhận ra mình đang giữ, rồi nhẹ nhàng mở tay thêm một chút.
Tháng tĩnh tâm này vì thế cần dẫn đến một cuộc xét mình đủ cụ thể. Ta hãy dành một khoảng yên để nhìn vào một tuần sống bình thường. Điều gì làm mình bực bội nhất? Khi nào mình thấy bị đe dọa? Mình nói nhiều nhất về món đồ nào, công việc nào, sự thiếu công nhận nào? Có ai mà chỉ cần nghe tên họ là lòng mình bắt đầu so sánh? Có việc gì mình đã nói “tùy cộng đoàn” nhưng thực tế chỉ bình an khi cộng đoàn chọn đúng ý mình? Những phản ứng ấy có thể chỉ cho ta nơi sự an toàn đang bị đặt quá chặt vào một điều hữu hạn.
Rồi ta xem lại việc sử dụng tiền của. Có khoản nào cần giải trình cho rõ? Có quà tặng nào đang ở tình trạng mập mờ giữa cá nhân và sứ vụ? Có một thói quen chi tiêu mà ta né tránh khi bị hỏi tới? Có khoản nợ, lời hứa hoặc nghĩa vụ nào người có trách nhiệm chưa được biết? Việc cần làm có thể đơn giản là hoàn tất sổ sách, báo một khoản còn thiếu, trả lại tiền chưa dùng hoặc xin hướng dẫn để giải quyết. Một giờ cầu nguyện chân thành cần có thể dẫn ta đến hành vi ngay thẳng ấy.
Ta cũng nhìn lại những đồ dùng quanh mình. Có món nào thuộc về cộng đoàn nhưng từ lâu chỉ mình giữ, dù người khác đang cần? Có vật dụng hỏng vì mình bất cẩn mà chưa nhận trách nhiệm? Có thứ đang được cất quá lâu trong khi có thể chuyển đến nơi hữu ích hơn? Có nhu cầu thật của bản thân mà mình cứ giấu, để rồi âm thầm trách cộng đoàn không chăm sóc? Khó nghèo trưởng thành cần cả hai sự thật: thôi giữ điều không cần và dám nói điều mình thực sự cần.
Về thời gian, ta có thể hỏi mình đang tiêu hao ở đâu. Có bao nhiêu giờ dành cho công việc thật, bao nhiêu giờ cho việc theo dõi xem người khác đánh giá mình thế nào? Ta có đang bận đến mức không còn gặp cộng đoàn, hay phần nào sự bận rộn giúp ta tránh những tương quan khó? Có lúc nào ta lấy danh nghĩa sứ vụ để liên tục vắng mặt trong những trách nhiệm chung? Ngược lại, ta có đang bị giao quá nhiều đến mức không còn đủ thời gian cầu nguyện và nghỉ ngơi cần thiết? Các câu trả lời cần được đưa vào một cuộc trao đổi chân thành, để thời gian được sử dụng trong sự trung tín và khả năng thật của con người.
Về quyền quyết định, hãy chọn một việc mình đang nắm. Người khác có thể học làm việc đó không? Điều gì khiến mình ngại trao? Ta có thể chia sẻ phần nào ngay trong tháng này? Một bước phù hợp có thể là mời một thành viên cùng tham gia, giải thích cách làm, trao một phần trách nhiệm và thống nhất việc lượng giá. Điều cần chú ý là thái độ sau khi trao: ta có thực sự cho họ làm, hay theo sát đến mức họ chỉ còn thực hiện ý mình? Trao quyền cần sự tin tưởng có trách nhiệm, và sự tin tưởng ấy thường phải được tập.
Nếu đang chuẩn bị rời một sứ vụ, ta có thể làm một việc khó hơn: viết ra những gì cần bàn giao và những gì mình cần buông trong lòng. Hồ sơ, tài chính và phương tiện có thể được bàn giao theo danh mục. Còn việc buông mong muốn được tiếp tục kiểm soát cần được đưa vào cầu nguyện. Ta có thể xin một cuộc trò chuyện để nói về nỗi buồn, xin người đồng hành giúp phân biệt điều gì còn là trách nhiệm của mình và điều gì đã thuộc về người sau. Khi giới hạn được rõ, ta sẽ dễ yêu mến công việc trong sự tự do hơn.
Nếu đang nhận trách nhiệm mới, ta hãy dành thời gian nghe người đi trước. Hỏi điều họ đã học được, điều đang khó, điều họ lo cho cộng đoàn. Trân trọng công sức của họ mà vẫn làm công việc được giao với lương tâm và sự phân định của mình. Đừng đòi họ phải hoàn toàn thanh thản mới đối xử dịu dàng với họ. Đồng thời, cũng cần những ranh giới rõ để việc phục vụ không bị chia thành những trung tâm quyền lực khác nhau. Lòng bác ái và sự rõ ràng có thể cùng hiện diện; chính sự rõ ràng nhiều khi bảo vệ lòng bác ái.
Một thực hành khác là làm một việc tốt mà không chủ động kể lại. Không phải để thử xem mình có đủ thánh thiện không, nhưng để tập cho lòng bớt cần được xác nhận. Có thể sửa lại vật dụng dùng chung, dành thời gian giúp một người, chuẩn bị điều cần cho cộng đoàn rồi để việc ấy hoàn tất trong âm thầm. Nếu sau đó trong lòng nổi lên mong muốn người khác biết, ta chỉ cần nhận ra và đem đến Chúa. Ta đang học, và Chúa không khinh thường những bước học nhỏ như vậy.
Trong tháng này, cũng nên chọn một sự giản dị phù hợp và có ích. Có thể ngừng một khoản mua sắm chưa cần. Có thể sửa một món đồ thay vì thay mới. Có thể giảm thời gian sử dụng màn hình để có mặt hơn với cộng đoàn. Có thể dùng phương tiện chung theo cách hợp lý hơn, phối hợp công việc để tránh lãng phí. Sự giản dị ấy cần được chọn trong sự tự do, không dùng để so sánh hoặc làm người khác mặc cảm. Hoa trái của nó phải là lòng biết ơn, sự sẵn sàng và khả năng yêu thương lớn hơn.
Với người đang mang nhiều trách nhiệm, thực hành có khi là chấp nhận nghỉ. Hãy giao một phần việc với sự chuẩn bị đàng hoàng, rồi thực sự để người khác đảm nhận. Trong khoảng thời gian ấy, ta có thể nghe rõ những lo lắng của mình: sợ công việc hỏng, sợ người khác làm tốt mà không cần mình, sợ bị quên. Đừng vội lấp sự bất an bằng việc quay lại kiểm tra liên tục. Hãy đem nó vào cầu nguyện và để sự thật dần hiện ra. Ta cần được nghỉ như một con người, và cộng đoàn cần có khả năng sống mà không làm một thành viên trở thành người không thể vắng mặt.
Với cộng đoàn, có thể dành một buổi trao đổi về cách sử dụng tài sản và chăm sóc con người. Cuộc trao đổi ấy nên bắt đầu từ nhu cầu thật, với những thông tin cần thiết và thái độ tôn trọng. Chỗ nào đang lãng phí? Chỗ nào lại tiết kiệm đến mức gây hại? Người bệnh có được chăm sóc đủ không? Người lao động có được đối xử công bằng không? Có công việc nào đang đặt quá nặng lên một người? Có tài sản nào cần được sử dụng khác để đáp ứng sứ vụ tốt hơn? Một cộng đoàn dám nhìn những điều ấy đang đưa lời khấn ra khỏi phạm vi cảm xúc để đi vào trách nhiệm chung.
Sau mọi xét mình, ta cần trở về với câu hỏi căn bản về tình yêu. Nếu hôm nay Chúa không trao lại điều ta vừa mất, ta có còn ở lại với Người không? Nếu công việc yêu thích không còn thuộc phần mình, ta có còn muốn sống trọn ơn gọi không? Nếu không có lời cảm ơn như mong đợi, ta có thể để điều tốt đã làm tiếp tục là điều tốt không? Có lẽ ta chưa trả lời được bằng một lời xác quyết mạnh mẽ. Ta chỉ có thể thưa: “Lạy Chúa, con muốn tin. Xin ở lại với con trong chỗ con còn sợ.”
Lời thưa ấy đủ để bắt đầu. Chúa không đứng xa chờ ta tự làm cho mình hoàn hảo rồi mới đón nhận. Người gặp ta trong cuộc giằng co của lòng mình. Người biết vì sao ta giữ chặt, biết điều gì trong quá khứ làm ta khó tin, biết những lần ta quảng đại và cả những lần ta âm thầm tính toán. Trước mặt Người, ta không cần chứng minh rằng mình đã sống khó nghèo tốt đẹp suốt bao năm. Ta cần để Người tiếp tục dạy mình yêu bằng những gì đang có, và tin trong những điều đang mất.
Rồi có thể một ngày, ta nghe người khác được khen mà lòng thấy vui thật. Ta đi ngang căn phòng cũ và có thể chúc lành cho người đang ở. Ta nhìn công việc được thực hiện theo một cách mới mà không thấy mình bị xóa đi. Ta xin điều cần thiết mà không xấu hổ, nhận sự giúp đỡ mà không thấy mình kém giá trị. Ta sử dụng của chung cẩn thận vì biết đó là điều đã được trao. Ta có thể hiện diện trong cộng đoàn cả khi hôm ấy chẳng làm được việc gì nổi bật. Những thay đổi ấy nhỏ, nhưng cho biết lòng ta đang có thêm chỗ cho Chúa và cho người khác.
Ta vẫn còn nhiều điều chưa buông được. Nhưng hôm nay, trước Đức Kitô tự hạ, ta có thể đặt xuống một điều đang làm mình mệt. Một yêu cầu phải được nhắc tên. Một sự can thiệp không còn thuộc trách nhiệm mình. Một khoản sử dụng cần được nói rõ. Một nỗi ganh tị cần được thú nhận. Một món đồ không cần giữ nữa. Ta đặt xuống với tất cả sự ngập ngừng của mình, và ở lại trong ánh nhìn của Đấng đã yêu ta trước khi ta có bất cứ điều gì để dâng cho Người.
Lời nguyện
Lạy Chúa Giêsu, hôm nay con đến trước mặt Chúa với đôi tay còn nắm chặt. Có những điều con đã gọi là trách nhiệm, nhưng trong đó vẫn có nỗi sợ mất quyền quyết định. Có những điều con đã gọi là tận tụy, nhưng trong đó vẫn có mong muốn được người khác cần đến. Có những điều con đã nói rằng mình sẵn sàng trao, nhưng lòng con vẫn âm thầm chờ được giữ lại. Xin cho con đủ thật thà để nhận ra con người mình, và đủ tin tưởng để không trốn khỏi Chúa khi thấy mình nghèo nàn như thế.
Chúa biết con sợ bị quên. Con sợ một ngày không còn được hỏi ý kiến, không còn được giao việc quan trọng, không còn đủ sức làm điều đã gắn bó lâu năm. Con sợ người khác làm tốt hơn con, rồi những năm tháng con đã trao đi chẳng còn được ai nhắc tới. Xin Chúa ở lại với con trong những nỗi sợ ấy. Xin dạy con nhận biết rằng đời con vẫn quý trước mặt Chúa trong ngày được tin dùng và trong ngày phải nghỉ ngơi, trong lúc con khỏe mạnh và khi con cần người khác chăm sóc.
Lạy Chúa, xin thanh luyện lòng yêu sứ vụ nơi con. Xin cho con làm việc với tất cả trách nhiệm, biết chuẩn bị cho người tiếp nối và sẵn sàng chia sẻ điều mình đã học được. Khi đến lúc trao lại, xin giúp con bàn giao cho trọn, nói điều cần nói cho thật và chúc lành cho người đón nhận. Nếu lòng con còn buồn, xin cho con biết đem nỗi buồn đến với Chúa, tìm sự nâng đỡ phù hợp và không làm người khác phải gánh lấy sự cay đắng của mình.
Xin cho con biết vui với điều tốt Chúa thực hiện qua anh chị em. Khi con chưa vui được, xin giữ miệng con khỏi những lời hạ thấp, giữ lòng con khỏi việc tìm lỗi để tự an ủi. Xin giúp con nhìn nhận khả năng của người khác mà không thấy giá trị của mình bị đe dọa. Xin cho con biết cảm ơn người đi trước, tôn trọng người đang cùng làm và mở đường cho người sẽ đến sau.
Xin cho con trung thực trong việc sử dụng tài sản chung. Xin nhắc con hoàn tất điều cần trình bày, sửa lại điều đã sử dụng sai và nhận trách nhiệm về những bất cẩn của mình. Xin cho con biết giữ gìn những gì được trao, biết cân nhắc trước khi mua sắm và biết phân biệt nhu cầu thật với điều con chỉ muốn có vì so sánh. Xin cho con đủ đơn sơ để nhận điều cần thiết, đủ tự do để thôi giữ điều không còn cần, và đủ biết ơn để không coi sự chăm sóc của cộng đoàn là chuyện đương nhiên.
Xin thương những người đang quản lý tiền của và tài sản trong cộng đoàn chúng con. Xin ban cho họ sự ngay thẳng, khôn ngoan và kiên nhẫn. Xin cho những quyết định của chúng con bảo vệ con người, chăm sóc người đau yếu và cao tuổi, tôn trọng người lao động và dành chỗ cho người nghèo. Xin cho chúng con đừng nhân danh tiết kiệm mà để ai phải thiếu điều cần thiết, cũng đừng nhân danh sứ vụ mà chiều theo những đòi hỏi không có giới hạn của mình.
Lạy Chúa, xin giúp con đón nhận thân phận có giới hạn. Khi mệt, xin cho con biết nghỉ. Khi không đủ khả năng, xin cho con biết hỏi. Khi cần được nâng đỡ, xin cho con dám xin giúp đỡ. Khi có lỗi, xin cho con biết nhận lỗi. Xin giải thoát con khỏi việc phải luôn tỏ ra mạnh mẽ, hữu ích và đúng đắn để được yêu thương. Xin cho con học sống như người con đang được Chúa yêu, ngay giữa những điều còn yếu đuối.
Khi một công việc kết thúc, một khả năng giảm đi, một chỗ quen thuộc không còn thuộc về con, xin đừng để con khép lòng. Xin giúp con nhận ra việc yêu thương vẫn còn ở trước mặt, dù hình thức đã đổi khác. Có thể hôm nay con phục vụ bằng đôi tay. Ngày mai con phục vụ bằng việc hướng dẫn. Một ngày khác, con chỉ còn có thể hiện diện, cầu nguyện và đón nhận sự chăm sóc. Xin cho con biết trao cho Chúa điều con có thể trao trong từng ngày ấy.
Lạy Chúa Giêsu đã tự hạ và vâng phục cho đến chết, xin cho con mang lấy tâm tình của Chúa trong những việc rất nhỏ của đời sống hôm nay. Xin cho lời khấn khó nghèo đi vào cách con sử dụng tiền bạc, đồ dùng, thiết bị và thời gian; đi vào cách con lắng nghe, nhận lỗi, chia sẻ trách nhiệm và trao lại công việc. Xin cho đời sống đơn sơ của con đem lại thêm sự công bằng và dịu dàng cho những người sống bên con.
Hôm nay con chưa buông được mọi điều. Con xin trao Chúa một điều con đang giữ vì sợ hãi. Xin đón nhận sự quảng đại còn yếu ớt ấy. Khi con muốn nắm lại, xin kiên nhẫn dạy con. Khi con thấy trống trải, xin cho con biết ở lại với Chúa. Và khi con không còn điều gì để dựa vào như trước, xin giúp con thưa bằng chính đời mình: lạy Chúa, con vẫn muốn tin nơi Chúa; xin giữ con trong tình yêu của Ngài. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
THÁNG NĂM — MỘT TRÁI TIM DÂNG HIẾN VẪN CẦN HỌC YÊU
Sống đức khiết tịnh với tình cảm trưởng thành và những tương quan ngay lành.
Lời Chúa: Ga 15,9–17 — Đức Giêsu mời các môn đệ ở lại trong tình yêu của Người.
Có những buổi tối, khi công việc đã xong, cánh cửa phòng đã khép và tiếng sinh hoạt trong cộng đoàn cũng lắng xuống, người tu sĩ mới nhận ra lòng mình đang chờ một điều gì đó. Có thể chỉ là một lời hỏi thăm. Có thể là một người đủ kiên nhẫn nghe mình kể về một ngày mệt nhọc. Có thể là cảm giác được ai đó nhớ đến giữa biết bao bổn phận mà mình đã chu toàn cho người khác. Suốt ngày, ta có thể đứng trước nhiều người, trả lời nhiều câu hỏi, giải quyết nhiều nhu cầu, nhưng đến cuối ngày vẫn thấy có một phần đời mình chưa được ai chạm tới. Người ta biết công việc của ta, biết trách nhiệm của ta, biết giờ giấc của ta, nhưng chưa chắc đã biết ta đang buồn vì điều gì. Ta hiện diện trong đời sống của nhiều người, mà đôi khi lại không biết phải mang nỗi cô đơn của mình đến với ai.
Ngày tĩnh tâm tháng này mời chúng ta dừng lại ở nơi rất thật ấy. Trước mặt Chúa, người tu sĩ không cần chứng minh rằng mình không còn nhu cầu tình cảm. Ta không cần thưa với Chúa bằng một con người mạnh mẽ hơn con người thật của mình. Trái tim đã được dâng hiến vẫn là trái tim biết vui khi được đón nhận, biết đau khi bị hiểu lầm, biết ấm áp trước một lời quan tâm và biết hụt hẫng khi một tương quan thay đổi. Lời khấn khiết tịnh không làm những điều ấy tự động biến mất. Đời tu cũng không đưa chúng ta ra ngoài thân phận con người. Chính trong thân phận ấy, với những khả năng yêu thương và những giới hạn còn nguyên đó, chúng ta được mời gọi bước theo Đức Kitô.
Điều cần được đem ra ánh sáng hôm nay là cách chúng ta sống với trái tim của mình. Ta có hiểu nó không? Ta có nhận ra điều nó đang tìm kiếm không? Ta có biết khi nào mình đang yêu thương một người vì thiện ích của họ, và khi nào mình đang cần họ để thấy bản thân có giá trị? Ta có đủ thành thật để nhìn nhận rằng có những sự quan tâm ban đầu rất đẹp, nhưng dần dần đã mang theo một đòi hỏi âm thầm: người ấy phải nghĩ đến tôi, phải dành thời gian cho tôi, phải đối xử với tôi khác với mọi người? Những câu hỏi này không nhằm làm chúng ta sợ tình cảm. Chúng giúp chúng ta sống tình cảm cách có trách nhiệm, để điều được khởi đầu bằng lòng tốt không trở thành nguyên nhân khiến một người khác mất tự do.
Trong Tin Mừng, Đức Giêsu mời các môn đệ ở lại trong tình yêu của Người. Lời mời ấy đến trước những điều chúng ta có thể làm cho Chúa. Người đưa chúng ta về với một tình yêu đã có trước công việc, trước chức vụ, trước những thành công hay thất bại trong đời dâng hiến. Ta được yêu trước khi trở thành người hữu ích. Ta được Chúa gọi đến với Người trước khi có khả năng nâng đỡ một ai. Khi điều này chỉ còn là một ý tưởng quen thuộc trong bài giảng, đời sống tình cảm của ta dễ bị cuốn theo những nơi đang cho mình cảm giác được cần đến. Nhưng khi ta thực sự để mình được Chúa yêu, dù còn nhiều bất toàn, ta bắt đầu có một khoảng tự do để gặp người khác mà không buộc họ phải gánh trách nhiệm xác nhận giá trị của mình.
Ở lại trong tình yêu của Đức Kitô là một việc phải học suốt đời. Có ngày ta cầu nguyện trong bình an. Có ngày ta ngồi trước Nhà Tạm mà lòng cứ quay về một cuộc trò chuyện chưa kết thúc, một tin nhắn chưa được trả lời, một sự lạnh nhạt làm mình đau. Chúa không xa lạ với những điều ấy. Ta có thể mang tất cả vào giờ cầu nguyện, kể cả những điều khiến mình xấu hổ. Có lẽ một lời cầu nguyện chân thật trong tháng này sẽ bắt đầu rất đơn sơ: Lạy Chúa, con đang cần được thương. Con đang sợ bị quên. Con đang bám vào một người nhiều hơn con muốn thừa nhận. Con không biết phải sống những cảm xúc này thế nào. Xin ở với con và dạy con.
Một lời thưa như thế đòi hỏi sự khiêm nhường. Người đã sống đời tu lâu năm đôi khi khó chấp nhận rằng mình vẫn có thể bị một lời khen làm xao động, vẫn có thể buồn vì không được ưu tiên, vẫn có thể ghen khi thấy người mình quý dành sự quan tâm cho người khác. Ta tưởng những chuyện ấy chỉ thuộc về thời mới lớn, thời tập viện hoặc những năm đầu khấn dòng. Nhưng tuổi đời và số năm khấn không tự chúng bảo đảm sự trưởng thành. Mỗi giai đoạn lại đặt trái tim trước những thử thách khác nhau. Người trẻ có thể bối rối trước những cảm xúc mới. Người đã làm việc lâu năm có thể thấy trống trải khi không còn được tín nhiệm như trước. Người lớn tuổi có thể khát một sự hiện diện đều đặn vì sức khỏe suy giảm và những người thân thiết dần vắng bóng. Ở mỗi chặng đường, lời khấn vẫn cần được sống bằng một sự tự hiến mới.
Có những người đã quen nghiêm khắc với cảm xúc của mình đến mức vừa nhận ra một chút rung động đã lập tức kết án bản thân. Họ sợ rằng chỉ cần thấy quý một người là mình đã phản bội ơn gọi. Nỗi sợ ấy có thể khiến họ thu mình, cư xử lạnh lùng hoặc cố đè nén mọi cảm xúc cho đến khi không còn hiểu chính mình. Nhưng việc một cảm xúc xuất hiện không đồng nghĩa với việc ta đã lựa chọn hành động theo nó. Giữa điều ta cảm thấy và điều ta quyết định làm có một khoảng cần được soi sáng. Trong khoảng ấy, ta có thể cầu nguyện, suy xét, tìm người đồng hành và lựa chọn cách cư xử phù hợp với lời khấn. Trưởng thành là biết chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình, đồng thời đủ bình tĩnh để nhìn nhận những gì đang xảy ra trong lòng.
Cũng có người đi theo hướng ngược lại. Họ cho rằng một tình cảm chân thành thì tự nó đã đủ để biện minh cho mọi cách gần gũi. Vì mình không có ý xấu nên những cuộc trò chuyện riêng kéo dài đều được xem là vô hại. Vì mình chỉ muốn giúp nên việc dành sự quan tâm đặc biệt cho một người được xem là cần thiết. Vì mình tin tưởng nhau nên những giới hạn bình thường dần bị coi là cứng nhắc. Chính ở đây, người tu sĩ cần học một sự thành thật khó hơn việc xét ý hướng ban đầu: phải nhìn vào điều tương quan ấy đang thực sự tạo ra. Nó đang giúp người kia lớn lên, hay làm họ ngày càng lệ thuộc vào mình? Nó đang làm mình bình an trong ơn gọi, hay khiến mình bắt đầu sống hai nhịp đời khác nhau, một nhịp trước cộng đoàn và một nhịp chỉ dành cho người ấy?
Đức khiết tịnh chạm đến toàn bộ cách ta yêu thương. Nó liên quan đến thân xác, trí tưởng tượng, ánh nhìn, lời nói, thời gian và cách sử dụng ảnh hưởng của mình. Một người có thể giữ khoảng cách bên ngoài mà trong lòng vẫn nuôi ý muốn chiếm hữu. Một người có thể không có những hành vi vượt giới hạn rõ rệt, nhưng lại để cả ngày sống bị điều khiển bởi phản ứng của một người khác. Ngược lại, có những tình bạn chân thành giúp người tu sĩ sống vững vàng hơn, bớt khép kín hơn, biết đón nhận góp ý và phục vụ quảng đại hơn. Bởi vậy, việc phân định cần đi vào hoa trái cụ thể của tương quan, thay vì chỉ dựa vào vẻ bên ngoài hoặc một lời tự trấn an rằng giữa chúng tôi không có gì.
Thử hình dung một người tu sĩ bắt đầu ngày mới bằng việc tìm điện thoại. Chưa kịp thưa với Chúa một lời, người ấy đã muốn biết đêm qua có ai nhắn cho mình hay không. Nếu thấy tin nhắn từ người mình chờ đợi, cả buổi sáng trở nên nhẹ nhàng. Nếu không thấy, lòng lập tức chùng xuống. Người ấy vẫn đi đọc kinh, vẫn dự lễ, vẫn chu toàn công việc, nhưng ở phía sau mọi hoạt động là một sự chờ đợi âm thầm. Đến trưa, họ tìm một lý do để hỏi thăm. Đến chiều, họ đọc lại cuộc trò chuyện. Buổi tối, họ tự hỏi vì sao hôm nay người kia trả lời ngắn hơn mọi ngày. Tình huống ấy chưa cho phép chúng ta kết luận về toàn bộ tương quan, nhưng đủ để đặt một câu hỏi nghiêm túc: điều gì đang giữ quyền quyết định sự bình an của tôi?
Chúng ta không cần đợi đến khi một gắn bó trở nên rối ren mới tìm sự trợ giúp. Có những dấu hiệu nhỏ cần được nhìn nhận sớm: sự bồn chồn khi không được liên lạc, nhu cầu phải biết người kia đang ở đâu, cảm giác khó chịu khi họ thân thiết với người khác, thói quen dành cho họ những ưu tiên mà mình không thể giải thích cách bình thản. Có khi ta bắt đầu sửa lịch làm việc để có thêm thời gian gặp họ. Có khi ta giữ lại những câu chuyện chỉ để kể với họ. Có khi ta không còn muốn chia sẻ điều gì với người đồng hành thiêng liêng vì sợ bị đề nghị xem lại tương quan ấy. Khi sự thật bị trì hoãn nhiều lần, lòng người cũng dần tìm được những cách lý luận rất khéo để bảo vệ điều mình đang bám giữ.
Tuy nhiên, cần phân biệt giữa sự kín đáo chính đáng và việc che giấu vì biết mình đang đi quá giới hạn. Mỗi người có đời sống nội tâm riêng. Người tu sĩ không có bổn phận công khai mọi cảm xúc, mọi cuộc trò chuyện hoặc những tâm sự được trao gửi trong tin cậy. Tôn trọng sự riêng tư là một phần của việc tôn trọng phẩm giá con người. Nhưng nếu ta phải xóa dấu vết, nói dối về thời gian gặp gỡ, thay đổi cách xưng hô tùy theo có người khác hiện diện hay không, hoặc cố bảo đảm rằng không ai biết mức độ gắn bó của mình, thì cần dừng lại. Điều cần xem xét lúc ấy là sự chia cắt đang hình thành trong chính đời sống của ta. Một trái tim phải liên tục che chắn sẽ ngày càng khó cầu nguyện trong sự đơn sơ.
Tình yêu trưởng thành biết dành chỗ cho tự do của người khác. Người tôi quý có quyền không trả lời ngay. Họ có quyền cần nghỉ ngơi. Họ có quyền có những tình bạn khác, những trách nhiệm khác và những khoảng đời không có tôi trong đó. Điều này nghe rất hiển nhiên khi nói về người khác, nhưng có thể trở nên khó chịu khi chính mình phải sống. Ta có thể tán thành tự do bằng lời, rồi lại làm người kia áy náy bằng sự im lặng, bằng giọng nói lạnh đi hoặc bằng những câu hỏi mang vẻ quan tâm nhưng thực chất là dò xét. Có những đòi hỏi không bao giờ được nói thẳng mà vẫn làm người khác cảm thấy mắc nợ. Người tu sĩ cần xin Chúa cho mình nhận ra những cách gây áp lực kín đáo ấy.
Một tình bạn lành mạnh cho phép cả hai trở về với bổn phận của mình cách bình an. Sau cuộc gặp, mỗi người có thêm sức sống để cầu nguyện, làm việc và quan tâm đến những người khác. Ta có thể vui vì bạn mình được nhiều người yêu quý. Ta có thể nghe họ nói một điều trái ý mà không xem đó là phản bội. Ta có thể chấp nhận những thay đổi của tương quan khi hoàn cảnh sống thay đổi. Tình bạn ấy cũng có khả năng chịu được ánh sáng của sự phân định. Nếu một người đồng hành đáng tin cậy đặt câu hỏi, ta có thể lắng nghe, dù chưa hiểu ngay hoặc chưa đồng ý hoàn toàn. Còn khi một tương quan chỉ được duy trì bằng việc cả hai cùng tránh mọi câu hỏi, sự mong manh đã hiện diện ngay trong điều ta đang gọi là thân thiết.
Chúng ta cũng cần phân biệt giữa được yêu và được cần đến. Có người rất quảng đại trong phục vụ, nhưng sâu bên trong lại sợ ngày người khác không còn cần mình. Họ luôn sẵn sàng nghe điện thoại, nhận thêm việc, can thiệp vào mọi khó khăn và xuất hiện bất cứ khi nào được gọi. Người ngoài có thể thấy một sự tận tụy đáng quý. Tuy nhiên, chính người ấy cần tự hỏi liệu mình có cho phép người được giúp trưởng thành đến mức không còn lệ thuộc vào mình hay không. Nếu người kia tìm được một người đồng hành phù hợp hơn, một cộng đoàn nâng đỡ hơn hoặc một cách tự giải quyết vấn đề, tôi có thật sự vui không? Hay tôi thấy mình bị bỏ rơi, bị thay thế, thậm chí cảm thấy lòng tốt của mình đã không được biết ơn?
Trong đời sống dâng hiến, có một thử thách rất kín: ta có thể dùng việc phục vụ để xin tình yêu mà không nhận ra. Ta làm nhiều, hy sinh nhiều, có mặt nhiều, rồi âm thầm chờ một chỗ đứng đặc biệt trong lòng người được giúp. Khi không nhận được điều ấy, ta trở nên cay đắng. Ta kể lại công lao. Ta buồn vì họ không hỏi thăm. Ta khó chịu vì họ đến với người khác. Ngày tĩnh tâm giúp ta đem chính nỗi buồn ấy đến với Chúa. Có thể trong lòng tốt của ta vẫn đang có một người rất đói tình thương. Chúa không khinh chê người ấy. Nhưng Người mời ta chăm sóc sự thiếu thốn của mình bằng con đường chân thật, để những người đang cần giúp đỡ không phải trả giá cho nhu cầu được yêu của ta.
Lời Đức Giêsu mời ở lại trong tình yêu của Người đưa chúng ta về với nguồn nuôi dưỡng ấy. Nếu giờ cầu nguyện chỉ còn là thời gian chuẩn bị bài giảng, tìm ý cho buổi chia sẻ hoặc đọc cho xong một bổn phận, phần sâu kín của đời mình có thể vẫn chưa được đặt trước mặt Chúa. Ta nói với người khác nhiều điều về tình yêu Thiên Chúa, nhưng bản thân lại sống như người phải tự tìm cách bảo đảm rằng mình xứng đáng được thương. Vì thế, trong tháng này, hãy dành những giờ cầu nguyện không nhằm tạo ra một sản phẩm mục vụ nào. Hãy đến với Chúa bằng chính tên gọi, tuổi đời, sự mệt mỏi và những điều đang làm mình xao động. Hãy để có những phút ta không cần trở thành người hướng dẫn ai, không cần trả lời ai, chỉ cần hiện diện trước Đấng đã gọi mình.
Ở lại với Chúa cũng đòi hỏi chấp nhận rằng không phải giờ cầu nguyện nào cũng đem đến cảm giác được an ủi. Có lúc ta chỉ thấy khô khan. Có lúc tâm trí tản mạn. Có lúc sự vắng lặng khiến nỗi cô đơn hiện ra rõ hơn. Chính lúc ấy, ta dễ tìm điện thoại, tìm thêm việc hoặc tìm một cuộc trò chuyện để khỏi phải ở với lòng mình. Nhưng nếu đủ kiên nhẫn, ta có thể bắt đầu hiểu điều mình vẫn né tránh. Ta nhớ ai? Ta tiếc điều gì? Ta giận ai mà chưa dám nói? Ta đang sợ một đời sống không có người nào dành riêng cho mình? Những điều ấy cần được cầu nguyện và phân định, từng chút một. Chúa không đòi ta phải hiểu hết bản thân trong một ngày tĩnh tâm.
Có một nỗi cô đơn gắn với việc người tu sĩ tự nguyện sống độc thân vì Nước Trời. Ta không xây dựng đời sống vợ chồng, không có một người phối ngẫu cùng chia sẻ mọi sinh hoạt gia đình, không sống mối thuộc về theo cách một đôi vợ chồng được mời gọi sống. Đôi lúc sự từ bỏ ấy hiện ra rất cụ thể: khi đau bệnh, khi mệt mỏi, khi chứng kiến một gia đình quây quần, khi nhìn thấy người cùng tuổi được con cái chăm sóc. Ta có thể cảm thấy một chút buồn mà vẫn trung thành với ơn gọi. Ta có thể trân trọng vẻ đẹp của hôn nhân mà không phủ nhận giá trị đời dâng hiến. Sự trưởng thành cho phép chúng ta nhìn nhận điều mình đã từ bỏ bằng lòng biết ơn đối với điều tốt đẹp ấy, thay vì phải hạ thấp nó để tự làm mình yên tâm.
Nhưng cũng có những nỗi cô đơn đến từ cách tổ chức đời sống cộng đoàn, từ việc thiếu quan tâm, từ những xung đột kéo dài hoặc từ thói quen không ai được nói thật về sự mệt mỏi của mình. Không nên gom tất cả vào một lời giải thích rằng đó là thập giá của đời tu. Một người ăn cơm nhiều ngày mà không ai hỏi thăm, đau bệnh mà sợ làm phiền, gặp khó khăn mà chỉ nhận được lời trách thì đang thiếu một sự nâng đỡ rất cụ thể. Cộng đoàn cần nhìn nhận trách nhiệm của mình. Tình huynh đệ không tự xuất hiện chỉ vì chúng ta sống chung một mái nhà, đọc chung giờ kinh và làm chung công việc. Nó cần được nuôi bằng cách đối xử hằng ngày.
Có thể trong cùng một cộng đoàn, ai cũng nghĩ mình đang hy sinh cho người khác, nhưng ít ai cảm thấy mình được lắng nghe. Người phụ trách mệt vì phải lo quá nhiều việc. Người trẻ mệt vì thấy ý kiến của mình không được coi trọng. Người lớn tuổi buồn vì cảm giác không còn hữu ích. Người đang gặp khủng hoảng thì cố giữ vẻ bình thường vì sợ trở thành đề tài bàn tán. Nếu mỗi người đều chờ người khác bắt đầu, bầu khí sẽ ngày càng lạnh. Trong tháng này, một hành động nhỏ có thể mở ra một điều mới: ngồi lại với một thành viên lâu nay ít được chú ý, hỏi họ một câu thật lòng và dành đủ thời gian để nghe câu trả lời. Đừng vội biến câu chuyện của họ thành bài học. Đừng dùng điều họ vừa nói để nhận xét họ trước người khác.
Một cộng đoàn ấm áp vẫn cần có giới hạn, kỷ luật và những đòi hỏi của đời sống chung. Sự quan tâm trưởng thành có thể nói lời góp ý, có thể sửa một thói quen làm người khác mệt, có thể yêu cầu một thành viên chịu trách nhiệm về công việc. Nhưng cách nói cần giữ được phẩm giá người nghe. Một người sẽ khó thành thật nếu mỗi lần bộc lộ sự yếu đuối đều bị gắn nhãn là thiếu trưởng thành, thiếu đức tin hoặc không có ơn gọi. Chúng ta có thể vô tình dạy nhau cách che giấu bằng chính phản ứng của mình. Khi người đang bối rối được nghe cách bình tĩnh, họ có thêm cơ hội tìm sự giúp đỡ trước khi vấn đề lớn hơn.
Về phía mỗi thành viên, cũng cần tránh đòi cộng đoàn phải đáp ứng trọn vẹn mọi nhu cầu tình cảm của mình. Những người sống với ta đều có giới hạn, những mệt mỏi và những thiếu thốn riêng. Họ có thể yêu thương mà vẫn vụng về. Họ có thể quan tâm nhưng không nhận ra điều ta chưa nói. Nếu ta giữ im lặng rồi chờ người khác tự hiểu, sự thất vọng sẽ tích tụ. Trưởng thành bao gồm khả năng diễn tả nhu cầu cách rõ ràng và khiêm tốn: hôm nay tôi đang buồn, tôi cần có người nghe một chút; công việc này đang vượt sức tôi; tôi muốn xin một cuộc gặp để nói về điều đang làm mình khó sống. Nói như thế có thể khiến ta cảm thấy mong manh, nhưng cũng giúp người khác biết cách đến gần.
Đức khiết tịnh cần một đời sống có nhịp điệu đủ quân bình. Một người liên tục thiếu ngủ, bỏ bữa, làm việc quá sức và không có thời gian hồi phục sẽ dễ mất khả năng kiên nhẫn, phân định và tự chủ. Chúng ta không nên dùng lòng quảng đại để biện minh cho việc bỏ mặc những giới hạn của thân thể. Có khi một sự gắn bó trở nên quá mạnh vào đúng giai đoạn người tu sĩ kiệt sức và không còn nơi nào khác để được chăm sóc. Một người hỏi thăm đúng lúc, nhớ một điều nhỏ, nhắc mình ăn uống, rồi dần trở thành chỗ dựa duy nhất. Điều đáng xét ở đây là cả cách ta đã tổ chức đời sống của mình: vì sao một nhu cầu căn bản như được nghỉ, được nghe, được quan tâm lại phải dồn hết vào một tương quan riêng?
Nghỉ ngơi cần được đón nhận như một phần của trách nhiệm đối với ơn gọi. Người tu sĩ có thể đi bộ, chăm cây, đọc một cuốn sách, tập một môn vận động phù hợp, nghe nhạc hoặc trò chuyện trong cộng đoàn. Những niềm vui đơn sơ ấy giúp ta sống với thân thể và cảm xúc cách bình thường. Nếu đời sống chỉ còn công việc và những bổn phận được hoàn tất trong căng thẳng, ta dễ tìm một nguồn an ủi quá tập trung. Khi đó, một người có thể vô tình bị đặt vào vị trí phải bù lại tất cả những gì đời sống của ta đang thiếu. Không tương quan con người nào chịu nổi đòi hỏi ấy lâu dài mà không bị tổn thương.
Thân xác cũng cần được nhìn bằng lòng kính trọng. Người tu sĩ sống lời khấn trong một con người có sức khỏe, có những biến đổi theo tuổi tác, có cảm giác mệt và có những phản ứng tự nhiên. Việc chăm sóc thân thể, khám chữa bệnh khi cần và hiểu những giới hạn của mình thuộc về trách nhiệm sống trưởng thành. Ta không cần khinh ghét thân xác để trung thành với lời khấn. Điều cần học là cách sống với thân xác trong sự tự chủ, biết chọn điều nuôi dưỡng ơn gọi và biết tránh những hoàn cảnh đang làm mình dễ mất tự do. Một đời sống thiêng liêng tách khỏi con người cụ thể sẽ khó nâng đỡ ta trong những ngày thử thách.
Thời gian riêng và điện thoại là nơi rất thích hợp để bắt đầu xét mình trong tháng này. Chúng ta có thể sử dụng điện thoại cho những công việc cần thiết, cho việc học hỏi, liên lạc gia đình và duy trì tình bạn lành mạnh. Nhưng cũng chính ở đó, những khoảng thiếu thốn dễ tìm được sự bù đắp nhanh chóng. Một cuộc trò chuyện kéo dài thêm ít phút. Một lời chúc ngủ ngon dần trở thành điều cả hai chờ đợi. Những tâm sự ngày càng riêng tư. Những lần than phiền về cộng đoàn khiến một người ở bên ngoài trở thành người duy nhất hiểu mình. Nếu không để ý, ta có thể đã xây dựng một sự thân mật riêng bằng những thói quen rất nhỏ, trong khi vẫn nghĩ rằng mình chỉ đang hỏi thăm bình thường.
Không phải tin nhắn gửi muộn nào cũng mang ý nghĩa sai lệch. Có những nhu cầu mục vụ thật, những hoàn cảnh khẩn cấp, những người cần được trợ giúp đúng lúc. Tuy nhiên, chúng ta cần phân biệt trường hợp cụ thể với một thói quen thường xuyên. Tôi có tạo cho người kia cảm giác họ được quyền tiếp cận tôi bất cứ giờ nào không? Tôi có đang tự xem mình là người duy nhất có thể nâng đỡ họ không? Tôi có nói rõ thời gian và cách liên lạc phù hợp không? Khi một cuộc trò chuyện đang đi vào mức độ thân mật vượt quá vai trò của mình, tôi có đủ bình tĩnh để điều chỉnh không? Sự rõ ràng từ đầu thường tử tế hơn nhiều so với việc để cả hai gắn bó sâu rồi đột ngột cắt đứt trong hoảng sợ.
Một giới hạn tốt có thể được diễn tả bằng lời đơn giản và tôn trọng. Tôi sẽ trả lời vào giờ phù hợp. Chuyện này cần một cuộc gặp trong bối cảnh thích hợp hơn. Tôi nhận ra mình không phải là người có thể giúp anh chị tốt nhất trong vấn đề này. Chúng ta cần có thêm một người đủ chuyên môn hoặc một người đồng hành khác. Những lời ấy không làm giảm lòng quan tâm. Chúng đặt sự quan tâm vào một hình thức có trách nhiệm. Người tu sĩ cần học cách nói những lời rõ ràng mà không lạnh lùng, đồng thời chịu được nỗi khó chịu khi người kia chưa đón nhận ngay. Nếu sợ làm họ buồn đến mức không dám đặt bất cứ giới hạn nào, ta đang trao cho phản ứng của họ quá nhiều quyền trên lựa chọn của mình.
Điều này trở nên đặc biệt quan trọng khi chúng ta đồng hành với người đang yếu thế, đau khổ hoặc lệ thuộc. Một người đang chịu tang, một người có hôn nhân đổ vỡ, một người trẻ bối rối về bản thân, một người vừa trải qua biến cố có thể dành nhiều tin tưởng cho người tu sĩ đang lắng nghe họ. Sự tin tưởng ấy phải được gìn giữ bằng tinh thần trách nhiệm. Họ có thể cảm nhận sự nâng đỡ rất sâu vì ta xuất hiện đúng lúc họ cô đơn nhất. Nhưng người được trao vai trò đồng hành không được dùng hoàn cảnh ấy để tìm sự gần gũi riêng, để nuôi cảm giác mình đặc biệt hoặc để nhận lại tình cảm mà bản thân đang thiếu.
Trong những tương quan có sự chênh lệch về vai trò, kinh nghiệm hay quyền quyết định, người có trách nhiệm lớn hơn phải giữ giới hạn rõ hơn. Một người trẻ có thể ngại từ chối. Một người đang được giúp đỡ có thể sợ làm người giúp mình buồn. Một thành viên đang được đào tạo có thể nghĩ mình phải chấp nhận mọi cách quan tâm của người hướng dẫn để không bị đánh giá. Vì vậy, sự im lặng hoặc sự thuận theo bên ngoài chưa đủ để cho rằng họ hoàn toàn tự do. Ta cần tự hỏi cách hiện diện của mình có làm họ dễ nói không, dễ nêu bất đồng và dễ xin một người đồng hành khác hay không. Quyền ảnh hưởng thiêng liêng đòi hỏi sự tự chủ và thái độ khiêm tốn rất cụ thể.
Không ai được dùng danh nghĩa tình yêu Thiên Chúa để khiến một người cảm thấy họ phải dành cho mình một mối gắn bó đặc biệt. Những câu nói như chỉ có tôi hiểu anh chị, đừng nói chuyện này với ai, nếu anh chị rời đi tôi sẽ rất đau có thể đặt một gánh nặng lên người đang yếu thế. Càng nguy hiểm hơn khi sự gần gũi được gắn với bổn phận vâng phục hoặc được trình bày như điều Chúa muốn mà người kia không được phép chất vấn. Người tu sĩ cần xin ơn biết run sợ trước khả năng làm tổn thương người khác bằng chính điều thiêng liêng họ đang tin tưởng. Lời nói về Chúa phải giúp lương tâm được sáng hơn và tự do hơn.
Cũng cần giữ sự trong sáng trong cách tiếp xúc, trong lời khen và trong việc trao tặng. Một lời nhận xét về ngoại hình, một món quà riêng, một cách đụng chạm hoặc một lời đùa có thể được người nói xem là bình thường, nhưng người nhận lại thấy bối rối và không biết phản ứng thế nào. Ta không thể chỉ lấy sự thoải mái của bản thân làm thước đo. Sự tế nhị đòi hỏi quan tâm đến tuổi tác, vai trò, hoàn cảnh và mức độ tự do của người kia. Nếu họ tỏ ra ngại, tránh né hoặc lúng túng, ta cần tôn trọng điều đó ngay, không chế giễu họ là quá nhạy cảm và cũng không đòi họ phải giải thích để chứng minh rằng cảm giác của họ có lý.
Trong cộng đoàn, đức khiết tịnh còn được thể hiện qua cách sống tình huynh đệ mà không tạo phe nhóm hoặc những sự lệ thuộc riêng. Chúng ta có thể có người hợp tính hơn, dễ trò chuyện hơn, cùng chia sẻ một mối quan tâm. Điều ấy bình thường. Nhưng nếu sự gần gũi của một nhóm làm người khác bị loại ra, nếu mọi quyết định đều bị chi phối bởi việc bảo vệ người thân với mình, nếu ta chỉ tin điều người ấy nói và luôn nghi ngờ những người khác, thì cần xem lại. Một trái tim dâng hiến được mời gọi mở rộng khả năng đón nhận, kể cả với những người không đem đến cho mình cảm giác dễ chịu. Đây là việc phải tập trong bữa ăn, trong phân chia công việc, trong cách kể lại một câu chuyện và trong thái độ khi có bất đồng.
Yêu thương người khó sống với mình là một phần rất thật của lời khấn. Có người không bao giờ nói đúng điều ta muốn nghe. Có người có thói quen khiến ta mệt. Có người được bề trên tín nhiệm trong khi ta thấy mình bị bỏ qua. Nếu ta chỉ tìm những tương quan luôn xác nhận mình, đời sống tình cảm sẽ khó trưởng thành. Người khác có thể giúp ta nhận ra tính nóng nảy, nhu cầu kiểm soát hoặc lòng tự ái mà ta đã che giấu dưới vẻ tận tâm. Tuy nhiên, yêu thương cũng cần sự thật. Ta có thể tôn trọng một người và đồng thời nói rõ hành vi nào đang gây khó khăn. Ta có thể tha thứ mà vẫn cần khoảng cách phù hợp. Tình huynh đệ cần cả lòng thương lẫn khả năng trao đổi thẳng thắn.
Một điều khó học trong đời dâng hiến là chấp nhận mình không thể trở thành người quan trọng nhất đối với mọi người. Có những người ta đã giúp rất nhiều nhưng rồi họ đi tiếp mà ít liên lạc. Có những người từng tìm đến mỗi ngày, sau đó có gia đình, công việc hoặc một cộng đoàn mới. Có những thành viên ta từng đào tạo nay trưởng thành và không còn hỏi ý ta như trước. Nếu yêu thương có tự do, ta có thể buồn vì xa cách mà vẫn vui vì họ đang sống. Ta không cần kéo họ trở lại để xác nhận rằng những năm tháng mình dành cho họ có ý nghĩa. Điều tốt đã trao có giá trị ngay cả khi người nhận không tiếp tục giữ ta ở vị trí cũ trong đời họ.
Chính Đức Giêsu đưa các môn đệ đến chỗ sinh hoa trái. Ở lại trong tình yêu Người làm cho đời sống mở ra với người khác. Người tu sĩ càng được nuôi dưỡng trong tương quan với Chúa càng được mời gọi hiện diện cách rộng rãi, không đóng kín quanh một vài người đem đến cho mình sự an ủi. Nhưng sự rộng rãi ấy cũng cần phân định để không biến thành lối sống phân tán. Ta không thể có mặt cho mọi người, trả lời mọi tin nhắn, nghe mọi câu chuyện và nhận mọi trách nhiệm. Lòng yêu thương trưởng thành biết lựa chọn theo ơn gọi, khả năng và sứ vụ được trao. Nó chấp nhận giới hạn của bản thân mà không xem giới hạn ấy là một thất bại đạo đức.
Có người tu sĩ sợ làm người khác thất vọng đến mức luôn nói có. Họ nhận lời gặp khi đã quá mệt, trả lời khi đang cần nghỉ, tiếp tục đồng hành dù biết mình không đủ khả năng. Sau một thời gian, họ trở nên cáu gắt và thấy mọi người đang lấy mất cuộc đời mình. Ngày tĩnh tâm có thể giúp họ nhận ra rằng cần học cách từ chối sớm, rõ và tử tế. Người khác không có lỗi chỉ vì họ có nhu cầu. Nhưng ta cũng có trách nhiệm không tạo ra những mong đợi mà mình không thể giữ. Một sự hiện diện có giới hạn, trung thực và đáng tin cậy thường giúp người khác nhiều hơn một sự sẵn sàng ban đầu rất lớn rồi sau đó biến thành khó chịu, tránh né hoặc biến mất.
Những vết thương cũ cũng có thể ảnh hưởng đến cách chúng ta yêu. Ai từng thường xuyên bị so sánh có thể rất cần được ưu tiên. Ai từng bị bỏ rơi có thể hoảng hốt trước một sự im lặng. Ai từng chỉ được khen khi làm tốt có thể tin rằng mình phải liên tục phục vụ mới xứng đáng được thương. Đời tu không xóa sạch lịch sử ấy. Việc nhận ra nó giúp ta có trách nhiệm hơn với phản ứng của mình. Nếu một người không trả lời tin nhắn khiến ta đau quá mức, có thể cần nhìn rộng hơn chính tin nhắn đó. Điều gì trong ký ức đang được đánh thức? Tôi đang phản ứng với người trước mặt hay với một nỗi mất mát từ lâu chưa được gọi tên?
Hiểu hoàn cảnh của mình không có nghĩa là cho phép mình gây áp lực lên người khác. Ta có thể nói tôi đang sợ bị bỏ rơi, nhưng vẫn cần học cách không kiểm soát. Ta có thể nhận ra mình thiếu sự quan tâm, nhưng vẫn phải tôn trọng ranh giới của người đang giúp mình. Chính ở đây, việc đồng hành trở nên quý giá. Có những điều ta khó nhìn rõ khi ở một mình, vì cảm xúc vừa làm mình đau vừa thúc mình tự bảo vệ. Một người đồng hành chín chắn có thể giúp ta phân biệt giữa nhu cầu chính đáng và cách đáp ứng đang gây hại, giữa một tình bạn nâng đỡ và một sự lệ thuộc đang lớn dần. Khi cần, việc tìm sự trợ giúp chuyên môn phù hợp cũng là một cách nghiêm túc chăm sóc con người được Chúa trao cho mình.
Đừng đợi đến khi mọi chuyện không thể che giấu mới nói thật. Sự thành thật sớm thường còn nhiều lối để điều chỉnh. Ta có thể thay đổi nhịp liên lạc, xem lại vai trò đồng hành, phục hồi giờ nghỉ, mở rộng những tương quan lành mạnh hoặc trao đổi với người có trách nhiệm. Nhưng khi đã quen bảo vệ một gắn bó bằng nhiều lời giải thích, việc bước ra sẽ khó hơn. Nỗi sợ mất người ấy có thể khiến ta không còn nghe được những điều rất rõ. Vì vậy, xin hãy xem việc nói ra sự bối rối như một hành vi trưởng thành. Người tu sĩ không cần phải một mình giải quyết mọi điều mới xứng đáng với lời khấn đã tuyên.
Nếu trong ngày tĩnh tâm này, ai đó nhận ra mình đang ở trong một tương quan thiếu tự do, xin đừng vội tuyệt vọng về bản thân. Việc nhận ra sự thật là một cơ hội để trở về. Hãy dừng những cách liên lạc hoặc gặp gỡ đang nuôi thêm sự rối ren. Hãy tìm một người đủ khả năng để trao đổi thành thật. Hãy xem xét điều chỉnh vai trò nếu chính vai trò ấy đang làm tương quan khó trong sáng. Nếu đã gây tổn thương, cần nhận trách nhiệm và tìm cách sửa chữa phù hợp, không ép người bị tổn thương phải im lặng, tha thứ ngay hoặc bảo vệ danh dự cho mình. Lòng thương xót của Chúa nâng ta dậy để sống trong sự thật và chịu trách nhiệm về những gì đã làm.
Có những gắn bó cần được điều chỉnh từ từ và có hướng dẫn; cũng có những hoàn cảnh đòi hỏi dừng lại rõ ràng. Điều cốt yếu là đừng tự mình duy trì một vùng mập mờ chỉ vì sợ đau. Một lời nói nước đôi có thể kéo dài hy vọng của người kia. Một lần liên lạc với lý do hỏi thăm có thể làm mọi quyết tâm trước đó trở nên mong manh. Khi cần thay đổi, hãy thay đổi với sự tôn trọng, nhất quán và có trợ giúp thích hợp. Đừng đặt lên người kia trách nhiệm cứu sự bình an của mình. Cũng đừng dùng sự tự kết án để khiến họ phải quay lại an ủi mình. Sự trưởng thành được nhận ra ở khả năng chấp nhận hậu quả của lựa chọn mà vẫn tiếp tục bước về phía điều đúng.
Có lẽ một trong những việc khó nhất là chịu được khoảng trống sau khi đã buông một sự lệ thuộc. Trước đây, giờ ấy có tin nhắn, bây giờ im lặng. Trước đây, chuyện gì cũng có người để kể ngay, bây giờ phải học chờ. Trước đây, một lời đáp đủ làm mình yên, bây giờ nỗi bồn chồn xuất hiện rõ rệt. Khoảng trống ấy cần được đón nhận và chăm sóc, không vội lấp bằng một tương quan mới có cùng kiểu gắn bó. Hãy trở lại với nhịp sống chung, với cầu nguyện, với công việc vừa sức, với những người bạn lành mạnh và sự đồng hành. Có những tự do được học bằng những ngày bình thường như thế, khi ta buồn nhưng không hành động theo mọi thúc bách của nỗi buồn.
Đức khiết tịnh còn cần được nuôi bằng lòng biết ơn. Khi chỉ nhìn vào điều mình thiếu, ta dễ quên biết bao tình thương đang hiện diện dưới những hình thức ít gây xúc động. Một người đã âm thầm làm thay phần việc khi ta bệnh. Một thành viên nhắc ta mang áo vì trời trở lạnh. Người phụ trách đã dành thời gian nghe điều ta nói dù họ cũng mệt. Một người thân vẫn cầu nguyện cho ta. Có thể những người ấy không có cách diễn tả khiến ta cảm thấy đặc biệt, nhưng họ đang thật sự góp phần giữ đời sống của ta. Tập nhận ra và đón nhận những tình thương ấy giúp trái tim bớt dồn tất cả sự mong đợi vào một người duy nhất.
Trong tháng Năm, chúng ta có thể đến với Đức Maria bằng chính bài học yêu thương này. Mẹ biết đón nhận một người Con được trao cho mình và đi theo đường lối của Thiên Chúa vượt quá những điều Mẹ có thể hiểu ngay. Sự hiện diện của Mẹ trong đời Đức Giêsu cho chúng ta chiêm ngắm một tình yêu bền bỉ, biết lắng nghe và biết đứng vững trong những giờ đau đớn. Người tu sĩ có thể xin Mẹ giúp mình giữ lòng dịu dàng mà không yếu đuối trước những đòi hỏi thiếu tự do, biết quan tâm mà không chiếm chỗ trong đời người khác, biết buông điều mình không được giữ mà không trở nên cay đắng.
Hãy đem vào giờ cầu nguyện một tương quan cụ thể, thay vì chỉ xét mình cách chung chung rằng tôi có yêu thương hay không. Có thể đó là người ta đang chờ tin nhắn. Có thể là một người trong cộng đoàn mà ta luôn muốn họ đứng về phía mình. Có thể là người đang được mình đồng hành, người khiến mình cảm thấy được cần đến. Hãy nhìn tương quan ấy dưới ánh mắt Chúa. Khi người ấy không làm theo điều tôi mong, tôi phản ứng ra sao? Khi họ có niềm vui ngoài sự hiện diện của tôi, tôi có vui cùng không? Tôi có từng dùng sự hy sinh của mình để đòi họ đáp lại? Tôi có tôn trọng quyền được giữ khoảng cách của họ không? Tôi có đang yêu con người thật của họ, hay chỉ yêu cảm giác họ đem lại cho mình?
Rồi hãy nhìn về phía bản thân với cùng sự thành thật ấy. Tôi đang thiếu điều gì trong đời sống hiện nay? Tôi có ngủ đủ, có nghỉ, có ai để trò chuyện thành thật không? Tôi có đang cầu nguyện bằng những điều thật của mình, hay chỉ dùng những lời quen thuộc? Tôi có dám nói với người đồng hành điều mà mình sợ họ biết nhất? Tôi có đang làm việc quá mức để tránh đối diện một nỗi buồn? Tôi có giữ một vẻ ngoài ổn định trong khi bên trong ngày càng xa cách cộng đoàn? Những câu hỏi này cần thời gian. Đừng biến giờ tĩnh tâm thành một cuộc tra xét khiến lòng thêm hoảng loạn. Hãy để từng điều được gọi tên trong sự hiện diện của Chúa.
Trong việc thực hành tháng này, mỗi người có thể chọn một thay đổi cụ thể và giữ cho bền. Có người cần đặt lại giờ sử dụng điện thoại, nhất là trước khi ngủ và ngay sau khi thức dậy. Có người cần ngưng một cuộc trò chuyện thường kéo dài vào đêm khuya. Có người cần xin một cuộc gặp với vị đồng hành và nói rõ điều mình đã né tránh. Có người cần trở lại với bữa ăn chung, với giờ giải trí cộng đoàn, với việc chăm sóc sức khỏe. Cũng có người cần tập đón nhận tình thương: nhận lời mời đi dạo, nói ra một nhu cầu, để người khác giúp mà không xấu hổ vì mình không luôn mạnh mẽ.
Hãy dành sự quan tâm cụ thể cho một thành viên ít được chú ý trong cộng đoàn. Có thể người ấy khó trò chuyện, không có công việc nổi bật, sức khỏe yếu hoặc không quen bày tỏ nhu cầu. Đừng đến với họ như người đang hoàn thành một bài tập đạo đức. Hãy đến để gặp một con người. Hỏi điều gì đang làm họ bận lòng. Nhớ một việc họ đã kể. Nếu có thể giúp một điều thực tế, hãy làm cách kín đáo và tôn trọng. Tình yêu được mở rộng qua những việc như vậy. Ta dần nhận ra rằng trái tim mình có thể sống phong phú mà không cần mọi tương quan đều đem đến cảm giác được ưu tiên.
Với những ai có trách nhiệm trong cộng đoàn, tháng này cũng là dịp nhìn lại bầu khí mình đang góp phần tạo nên. Thành viên có thể nói thật mà không sợ bị nhục mạ không? Người đang gặp khó khăn tình cảm có biết tìm ai không? Những dấu hiệu kiệt sức có được chú ý không? Các cuộc góp ý có giữ được sự kín đáo cần thiết không? Chúng ta có dành thời gian cho nhau như những con người, hay chỉ gặp nhau khi cần phân việc và kiểm điểm? Một cộng đoàn biết chăm sóc đời sống tình cảm của thành viên sẽ tạo thêm điều kiện cho lòng trung thành được nuôi dưỡng mỗi ngày. Trách nhiệm ấy không thể chỉ được nhớ đến sau khi đã có một đổ vỡ.
Rồi cũng cần đón nhận rằng suốt đời, trái tim dâng hiến vẫn còn những điều phải học. Có thể hôm nay ta đã tự do hơn trước, nhưng một biến cố mới lại bộc lộ điều ta chưa hiểu về mình. Một cuộc thuyên chuyển, một giai đoạn bệnh tật, sự ra đi của người thân, một thất bại trong sứ vụ đều có thể làm sống dậy những nhu cầu tưởng đã yên. Đừng vì thế mà xem mọi nỗ lực trước đây là vô ích. Mỗi lần nhận ra giới hạn và biết tìm sự nâng đỡ, ta đang tiếp tục sống lời khấn bằng một sự trưởng thành cụ thể hơn. Lòng trung thành được nuôi trong những lần quay về, trong việc chọn điều đúng dù cảm xúc chưa hoàn toàn yên ổn.
Chúa đã gọi những con người có khả năng yêu thương, và Người tiếp tục giáo dục khả năng ấy. Người muốn trái tim ta đủ ấm để nhận ra nỗi đau của người khác, đủ ngay thẳng để không lợi dụng sự tin tưởng, đủ khiêm nhường để xin giúp đỡ và đủ tự do để trao đi mà không đòi sở hữu. Có những người sẽ được an ủi chỉ vì khi ở bên ta, họ không phải đề phòng một đòi hỏi kín đáo nào. Họ có thể nói thật, có thể từ chối, có thể lớn lên và có thể bước tiếp. Sự hiện diện như thế là một hoa trái đẹp của đời dâng hiến.
Trong thinh lặng cuối ngày tĩnh tâm, có thể chúng ta chưa giải quyết được mọi điều. Một tình cảm vẫn còn đó. Một khoảng trống vẫn còn đau. Một cuộc gặp cần thiết vẫn đang chờ mình can đảm thực hiện. Nhưng ta có thể bắt đầu bằng việc thôi che giấu trước mặt Chúa. Hãy đặt điện thoại xuống một lúc. Hãy để lòng mình yên trước ánh mắt Người. Hãy gọi đúng tên điều đang diễn ra, không tô đẹp, không phóng đại, không vội tìm lý do bảo vệ. Rồi xin một ơn cụ thể cho ngày mai: biết giữ một giới hạn, biết nói một sự thật, biết tìm một người giúp đỡ, biết dành cho ai đó một sự quan tâm không kèm theo đòi hỏi.
Lạy Chúa Giêsu, trong ngày tĩnh tâm tháng này, con đến với Chúa bằng một trái tim đã dâng hiến nhưng vẫn còn nhiều điều chưa hiểu về chính mình. Con đã nói về tình yêu của Chúa nhiều lần, nhưng có những lúc con vẫn sống trong nỗi sợ không được thương. Con đã khuyên người khác tín thác, nhưng chính con có thể bất an chỉ vì một sự im lặng. Con đã dâng đời mình cho Chúa, mà vẫn có những chỗ con muốn giữ riêng, những tương quan con ngại đem ra phân định, những đòi hỏi con không dám gọi đúng tên. Xin cho con đủ tin tưởng để không phải che chắn điều gì trước mặt Chúa.
Xin dạy con ở lại trong tình yêu Chúa khi con được an ủi cũng như khi lòng khô khan. Xin giúp con nhận ra rằng giá trị của đời con không tùy thuộc vào số người đang cần con, những lời cảm ơn con nhận được hoặc vị trí con đang có trong lòng một người. Khi con thấy mình bị quên, xin giữ con khỏi vội tìm sự bù đắp bằng những gắn bó thiếu tự do. Khi con khao khát được hiểu, xin dẫn con đến những tương quan chân thật, nơi con có thể nói điều mình đang sống và cũng biết lắng nghe điều người khác cần nói.
Xin chữa lành trong con thói quen muốn chiếm hữu bằng sự quan tâm. Có những lúc con đã cho đi mà âm thầm chờ người khác thuộc về mình. Có những lúc con đã giúp đỡ rồi buồn giận vì họ không đáp lại theo cách con mong. Xin cho con biết nhận trách nhiệm về những đòi hỏi ấy. Xin dạy con vui khi người khác trưởng thành, bình an khi họ có những tương quan lành mạnh ngoài con và quảng đại khi họ không còn cần sự hiện diện của con như trước.
Xin gìn giữ những người Chúa trao cho con đồng hành. Đừng để sự thiếu thốn của con trở thành gánh nặng cho họ. Xin giúp con tôn trọng sự tự do, sự riêng tư và những giới hạn của họ. Khi con không đủ khả năng nâng đỡ, xin cho con khiêm tốn tìm sự giúp đỡ thích hợp. Khi cần điều chỉnh một tương quan, xin cho con rõ ràng và tử tế. Nếu con đã làm ai tổn thương, xin cho con biết lắng nghe, nhận trách nhiệm và sửa đổi, không tìm cách bảo vệ mình bằng sự im lặng của người khác.
Xin cho cộng đoàn chúng con có những bữa ăn thật sự gặp nhau, những cuộc trò chuyện không làm ai sợ hãi, những lời góp ý giữ được lòng kính trọng. Xin cho chúng con nhận ra người đang lặng lẽ buồn, người đang kiệt sức, người đang thấy mình không còn hữu ích. Xin giúp chúng con biết hỏi thăm trước khi một người phải kêu cứu, biết lắng nghe trước khi vội khuyên bảo và biết gìn giữ điều được trao gửi trong tin cậy.
Lạy Chúa, xin dạy con yêu bằng một trái tim có thể chịu được sự thật. Xin cho con đừng sợ tìm người đồng hành, đừng xấu hổ khi cần được nâng đỡ và đừng trì hoãn một quyết định cần thiết chỉ vì ngại đau. Mỗi ngày, xin cho con biết sống lời khấn bằng những lựa chọn nhỏ: một ánh nhìn tôn trọng, một lời nói trong sáng, một giới hạn được giữ, một giờ nghỉ được đón nhận, một sự quan tâm không đòi đáp trả.
Đêm nay, con trao cho Chúa những người con thương, cả người con đang khó buông khỏi sự mong đợi của mình. Xin chăm sóc họ theo cách Chúa biết là tốt cho họ. Xin cho con được góp phần vào điều tốt ấy bằng một sự hiện diện chân thành và tự do. Và khi con không phải là người cần ở gần, xin cho con đủ yêu thương để bước lùi lại trong bình an. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
THÁNG SÁU — XIN CHO CON BIẾT LẮNG NGHE TRƯỚC KHI QUYẾT ĐỊNH
Canh tân đức vâng phục và cách thi hành quyền bính.
Lời Chúa: Lc 22,39–46 — Đức Giêsu cầu nguyện trong vườn Cây Dầu.
Có những quyết định được đưa ra rất nhanh, nhưng người nhận phải mang sức nặng của chúng suốt nhiều năm. Một lời thuyên chuyển, một nhiệm vụ mới, một sự thay đổi trong công việc, một yêu cầu tưởng chừng đơn giản đối với người nói, lại có thể làm người nghe mất ngủ nhiều đêm. Phía sau sự im lặng của họ có khi là một sức khỏe đang suy giảm mà chưa ai biết, một nỗi sợ chưa tìm được lời diễn tả, một giới hạn đã cố vượt qua nhiều lần, hoặc một tổn thương cũ vừa bị đánh thức. Người có trách nhiệm có thể nghĩ rằng mình chỉ đang sắp xếp công việc. Người nhận quyết định lại cảm thấy cả cuộc sống mình vừa bị đặt vào một hướng khác. Nếu hai người không thực sự gặp nhau trong lắng nghe, một quyết định cần thiết vẫn có thể để lại một vết thương không cần có.
Cũng có những lần người được trao trách nhiệm đã dành nhiều thời gian cầu nguyện, cân nhắc nhu cầu sứ vụ, tìm người thích hợp, nhưng khi ngỏ lời thì chỉ nhận lại sự khép kín. Người được mời cộng tác lập tức kể ra mọi lý do để từ chối, trước khi hiểu điều cộng đoàn đang cần. Họ nói về phân định, nhưng trong lòng đã có sẵn kết luận. Họ xin được lắng nghe, nhưng không muốn nghe hoàn cảnh của người phải lo cho cả cộng đoàn. Họ mong người khác tôn trọng tự do của mình, trong khi chưa quan tâm đến những anh chị em đang gánh công việc vì mình luôn đứng ngoài. Sự khó khăn của đức vâng phục nằm ở đó: mỗi người đều có thể nhìn thấy rất rõ giới hạn của người kia, còn ý riêng của mình thì thường được che chở bằng những lý lẽ nghe rất hợp tình.
Bởi vậy, tháng tĩnh tâm này mời chúng ta bước chậm lại. Trước khi xét xem ai đã nghe mình, hãy ở lại với câu hỏi: tôi có thực sự biết nghe không? Tôi đã nghe một con người, hay chỉ nghe vài câu để chuẩn bị trả lời? Tôi đã tìm hiểu một hoàn cảnh, hay vừa nhận ra điều trái ý mình thì đã vội kết luận? Tôi có để cho Lời Chúa sửa lại cách nhìn của tôi, hay chỉ tìm trong Lời Chúa một câu đủ mạnh để bênh vực quyết định mình đã chọn?
Trong đời sống thánh hiến, người thi hành quyền bính và người đón nhận một quyết định cùng đứng trước những câu hỏi ấy. Chức vụ không làm cho ai tự nhiên thoát khỏi tính nóng nảy, thành kiến và nhu cầu được nhìn nhận. Lời khấn cũng không làm cho người tu sĩ tự nhiên hết sợ thay đổi, hết quyến luyến công việc quen thuộc hoặc hết nhu cầu kiểm soát đời mình. Chúng ta đem vào cộng đoàn tất cả con người thật của mình. Chính con người ấy cần được Tin Mừng giáo dục từng ngày, qua những cuộc gặp gỡ rất cụ thể, những lần phải nhường ý, những lúc cần lên tiếng, những quyết định khiến ta biết mình còn phải học yêu thương nhiều đến đâu.
Để học điều ấy, chúng ta đi với Đức Giêsu vào vườn Cây Dầu. Ở đó, ta gặp Người trong giờ phút đau đớn, khi điều sắp xảy đến chạm đến tận thân phận con người của Người. Không có bầu khí dễ dàng của một buổi họp đã thống nhất mọi ý kiến. Không có cảm giác an tâm vì tương lai đã được bảo đảm. Trước mặt Người là cuộc thương khó. Những người thân tín ở gần, nhưng rồi lại thiếp ngủ vì buồn sầu. Đức Giêsu cầu nguyện trong sự cô đơn, trong cơn xao xuyến, với tất cả sự thật của một trái tim đang chịu thử thách.
Chính ở đó, lời xin cho ý Cha được thực hiện trở nên gần với những giằng co của chúng ta. Có những điều ta chỉ hiểu khi chính mình phải buông một điều rất quý. Có những lời kinh ta đã đọc suốt nhiều năm, nhưng phải đến một ngày bị chạm vào nơi sâu nhất của lòng mình, ta mới biết lời ấy đòi hỏi điều gì. Người tu sĩ có thể đã nhiều lần hát về hiến dâng, đã nói rất hay về sự từ bỏ, đã khuyên người khác tín thác. Nhưng khi quyết định liên quan đến nơi ở của mình, công việc của mình, người mình gắn bó, khả năng mình đang có, ta mới thấy hai chữ “xin vâng” không nhẹ như lúc còn nằm trên trang giấy.
Đức Giêsu không che giấu nỗi đau trước Chúa Cha. Người cầu xin cho chén đắng được cất đi nếu Cha muốn. Người diễn tả điều mình đang trải qua, rồi đặt chính ước muốn ấy trong tương quan với Cha. Điều này giúp chúng ta hiểu rằng sự thành thật không làm hỏng đức vâng phục. Một người trình bày nỗi sợ, nói rõ giới hạn, thưa lên điều mình chưa hiểu, vẫn có thể đang sống một sự vâng phục sâu xa. Đức vâng phục trở nên nghèo nàn khi người ta chỉ còn quan tâm đến câu trả lời bên ngoài mà không muốn biết điều đang xảy ra trong lòng người nhận lệnh.
Có người nghe một anh chị em nói: “Con thấy mình chưa đủ sức”, liền nghĩ rằng người ấy thiếu quảng đại. Có người nghe: “Xin cho con được trình bày thêm”, liền cho rằng người ấy đang tìm cách thoái thác. Nếu phản ứng quá nhanh như thế, ta dễ làm người khác hiểu rằng chỉ những tâm tình thuận ý mình mới được quyền xuất hiện. Từ đó, họ bắt đầu học cách nói điều người có trách nhiệm muốn nghe. Những cuộc trao đổi vẫn diễn ra, nhưng sự thật rút lui dần. Ai cũng giữ vẻ bình an, còn điều cần được cùng nhau phân định thì nằm lại trong lòng từng người.
Trong vườn Cây Dầu, Đức Giêsu cho chúng ta thấy một sự thật khác: có thể đau đớn mà vẫn yêu mến, có thể xin được tránh một thử thách mà vẫn sẵn sàng bước tới, có thể run sợ mà vẫn trung thành. Người không đòi chúng ta phải trở thành những con người không còn cảm xúc. Người dẫn chúng ta đến chỗ đem cảm xúc vào cầu nguyện, để nỗi sợ được soi sáng, để ước muốn được thanh luyện, để sự tự do lớn lên trong tình con thảo.
Vì thế, khi một quyết định khiến lòng mình bất an, điều đầu tiên cần làm có thể là ngồi lại trước Chúa và gọi đúng tên điều đang xảy ra. Tôi sợ điều gì? Sợ mình không làm nổi, hay sợ không còn được người khác quý trọng như trước? Tôi buồn vì công việc bị gián đoạn, hay vì người ta đã không hỏi đến tôi? Tôi lo cho sứ vụ, hay đang tiếc vị trí trong sứ vụ ấy? Tôi phản đối vì có một nguy cơ thật sự, hay vì cách làm mới khiến tôi không còn giữ vai trò quen thuộc? Những câu hỏi ấy cần thời gian. Ta khó trả lời trung thực nếu chỉ muốn mau chóng chứng minh rằng mình hoàn toàn đúng.
Một người đã phục vụ lâu năm tại một nơi có thể mang trong lòng những gắn bó rất đẹp. Họ biết tên từng gia đình, hiểu những khó khăn của người nghèo, đã đi cùng nhiều người qua những biến cố buồn vui. Khi được đề nghị chuyển đến nơi khác, nỗi buồn của họ đáng được tôn trọng. Không thể gọi mọi quyến luyến là ích kỷ. Tình yêu có lịch sử, có ký ức, có những khuôn mặt cụ thể. Nhưng cũng chính tình yêu ấy cần được mở ra. Người tu sĩ được mời tự hỏi: tôi có tin rằng Chúa vẫn tiếp tục chăm sóc những người này qua người khác không? Tôi có thể trao lại công việc bằng lòng biết ơn, hay chỉ an tâm nếu mọi sự vẫn phải đi qua mình? Tôi đã yêu con người, hay dần dần cần họ để xác nhận giá trị của tôi?
Đối với người có trách nhiệm, việc phân định cũng phải đi sâu như thế. Tôi muốn thay đổi nhân sự vì nhu cầu thực sự, hay vì khó chịu với một người hay góp ý? Tôi nói mình đang tìm ích chung, nhưng có dành đủ thời gian tìm hiểu ích chung ấy không? Tôi có đang dùng sự thuyên chuyển để giải quyết một bất đồng mà mình chưa đủ kiên nhẫn đối thoại? Tôi có giao một công việc quá sức cho ai đó chỉ vì biết người ấy ít phản đối? Trước khi mong người khác thanh luyện ý riêng, người lãnh đạo cần để Chúa chạm đến ý riêng của mình.
Quyền bính trong cộng đoàn đặt một người vào vị trí có thể ảnh hưởng sâu đến đời sống người khác. Một lời động viên đúng lúc có thể giúp một thành viên tìm lại sự tin tưởng. Một nhận xét thiếu cân nhắc có thể khiến họ mang mặc cảm rất lâu. Một cuộc gặp riêng được chuẩn bị bằng sự quan tâm có thể tháo gỡ điều đã bế tắc nhiều tháng. Một lời trách trước mặt nhiều người có thể làm họ sợ mọi cuộc họp về sau. Cùng là thi hành trách nhiệm, nhưng cách thực hiện quyết định người khác có cảm thấy mình còn được đối xử như một người anh chị em hay chỉ như một người phải làm cho xong việc.
Có lẽ nhiều người trong chúng ta chưa từng muốn làm ai tổn thương. Tuy nhiên, ý tốt không giúp ta khỏi phải xét lại cách hành xử. Một người có thể thật lòng lo cho cộng đoàn mà vẫn giao việc thiếu thực tế. Một người có thể quý trọng lời khấn mà vẫn nói những lời khiến người khác không dám trình bày bệnh tật. Một người có thể tin rằng mình đang bảo vệ sự hiệp nhất mà lại dập tắt mọi câu hỏi. Khi hậu quả xuất hiện, ta cần đủ khiêm nhường để nhìn nhận. Câu nói “Tôi chỉ muốn điều tốt” không thể thay thế cho việc tìm hiểu người khác đã phải chịu điều gì.
Lắng nghe đòi chúng ta từ bỏ thói quen trả lời quá sớm. Trong một cuộc trao đổi, có khi người nói chưa đi hết câu, ta đã đoán họ định nói gì. Một ký ức cũ về họ lập tức xuất hiện: người này hay lo, người kia hay chống, người nọ lúc nào cũng than. Thế là con người đang ngồi trước mặt ta bị phủ bởi một nhãn hiệu. Ta không còn nghe hoàn cảnh hôm nay, bởi nghĩ rằng mình đã biết họ từ lâu. Nhưng một người đã từng thiếu quảng đại vẫn có thể đang thực sự kiệt sức. Một người hay lo lắng vẫn có thể nhìn thấy một nguy cơ mà ta bỏ sót. Một người đã từng phản ứng vụng về vẫn có thể đang cố gắng trình bày điều đúng bằng tất cả thiện chí.
Lắng nghe trưởng thành cho người khác cơ hội được hiện diện trong sự thật hiện tại của họ. Điều đó không có nghĩa ta phải đồng ý với mọi điều họ nói. Ta có thể nghe hết, hiểu đúng, rồi vẫn đi đến một quyết định khác. Tuy nhiên, quyết định sau khi đã hiểu con người thường khác với quyết định chỉ dựa trên ấn tượng. Có khi nội dung không thay đổi, nhưng thời gian thực hiện được điều chỉnh. Có khi nhiệm vụ vẫn được trao, nhưng có thêm một người hỗ trợ. Có khi ta nhận ra người mình định chọn thực sự không phù hợp. Có khi chính người nêu khó khăn, sau khi cảm thấy được hiểu, lại có đủ tự do để quảng đại bước tới.
Một câu hỏi được đặt bằng lòng tôn trọng có thể thay đổi cả cuộc gặp: “Điều gì làm anh chị lo nhất trong việc này?” Câu hỏi ấy mở ra một hoàn cảnh. Còn lời nói “Có gì đâu mà phải lo” thường đóng nó lại. Khi một người đang cố nói về sự bất lực của mình, họ cần được hiểu trước khi được khuyên. Nếu vừa mở lời đã nhận một bài giảng về hy sinh, lần sau họ có thể giữ im lặng. Sự im lặng ấy khiến người có trách nhiệm tưởng rằng mọi sự đã ổn, trong khi thực tế chỉ là người kia không còn hy vọng được lắng nghe.
Trong cộng đoàn, có những người chịu đựng rất giỏi. Họ không đòi hỏi, ít phàn nàn, luôn có mặt khi cần. Chính vì vậy, họ dễ nhận thêm việc hết lần này đến lần khác. Người khác từ chối thì công việc chuyển đến họ. Có việc đột xuất thì lại gọi họ. Lâu dần, sự quảng đại của họ trở thành điều cộng đoàn mặc nhiên sử dụng. Cho đến một ngày họ ngã bệnh, mất nhiệt tình hoặc bật khóc vì một chuyện rất nhỏ, mọi người mới ngạc nhiên. Người có trách nhiệm cần biết quan tâm đến cả người không lên tiếng. Một thành viên ít than phiền vẫn cần được hỏi về sức khỏe, nhịp nghỉ ngơi và khả năng tiếp tục công việc.
Người luôn sẵn sàng cũng cần học nói thật. Có những lời “vâng” được thưa quá nhanh vì sợ làm người khác thất vọng. Có những công việc được nhận vì muốn giữ hình ảnh người tận tụy. Có những lúc ta không dám thừa nhận giới hạn vì nghĩ rằng mình sẽ mất giá trị. Rồi sau đó, ta âm thầm oán trách người đã giao việc. Ta nói rằng không ai hiểu mình, nhưng chưa từng giúp ai biết điều đang xảy ra. Sự trưởng thành đòi một lời trình bày rõ ràng: con có thể đảm nhận việc này trong khả năng hiện tại, nhưng nếu thêm việc kia, con cần được giảm một trách nhiệm khác. Nói như thế giúp việc phân định có cơ sở và giúp cộng đoàn chăm sóc nhau thực tế hơn.
Thân thể là một phần của đời dâng hiến. Giấc ngủ, tuổi tác, bệnh tật, sức chịu đựng tinh thần đều liên quan đến cách ta phục vụ. Không thể nhìn một người chỉ qua công việc họ đã làm được mười năm trước. Cũng không thể cho rằng ai trẻ thì đương nhiên đủ sức làm mọi việc. Có những mệt mỏi người khác không nhìn thấy. Có những giới hạn mà chính đương sự cũng đang học cách chấp nhận. Việc trình bày trung thực về sức khỏe cần được đón nhận bằng sự kín đáo và tôn trọng; những thông tin riêng tư không nên bị đem ra trong các cuộc trò chuyện để giải thích hoặc bình phẩm về một thành viên.
Đối với người nhận quyết định, thành thật còn có nghĩa là không phóng đại khó khăn để bảo vệ điều mình muốn giữ. Có lúc ta liệt kê rất nhiều trở ngại, nhưng chỉ nêu những điều có lợi cho kết luận mình đã chọn. Ta nói về bệnh tật khi được mời đến một nơi không thích, nhưng lại sẵn sàng làm việc nặng hơn ở nơi mình muốn ở. Ta nói về nhu cầu đào tạo khi chưa muốn nhận trách nhiệm, nhưng không thực sự dành thời gian học hỏi. Những mâu thuẫn ấy cần được đem vào cầu nguyện với sự thẳng thắn. Thiên Chúa không cần ta kể một câu chuyện đẹp về mình. Người gặp ta ngay nơi ta còn quanh co, để giúp ta sống tự do hơn.
Đức vâng phục có thể làm lộ ra một nỗi sợ rất sâu: nếu tôi không còn được quyết định, tôi có còn là tôi không? Người đã trải qua những kinh nghiệm bị xem nhẹ dễ cảm thấy mọi yêu cầu đều là một sự xâm phạm. Người lớn lên trong bầu khí khắt khe có thể nghe một lời góp ý bình thường như thể mình đang bị kết án. Người từng bị bỏ quên có thể đọc một quyết định thuyên chuyển như dấu hiệu mình không còn được yêu thương. Những cảm nhận ấy cần được nhìn nhận, nhưng cũng cần được phân định. Không phải mọi cảm giác bị từ chối đều có nghĩa là người khác đang từ chối ta. Hiểu lịch sử của mình giúp ta bớt đặt lên quyết định hôm nay tất cả sức nặng của những ngày đã qua.
Người có trách nhiệm cũng mang theo lịch sử riêng. Có người từng bị chống đối nên dần dần trở nên phòng thủ. Có người sợ mất uy tín nên khó thừa nhận mình chưa biết. Có người đã hy sinh quá nhiều, trong lòng âm thầm chờ người khác phải vâng lời như một cách đáp lại. Có người sống lâu trong môi trường ra lệnh nên chưa từng học một cách đối thoại khác. Chức vụ cho họ thẩm quyền, nhưng khả năng lắng nghe vẫn cần được rèn luyện. Ngày tĩnh tâm là dịp để người lãnh đạo thưa thật với Chúa: con có trách nhiệm, nhưng con còn nhiều điều chưa hiểu; xin đừng để con lấy sự cứng rắn che đi nỗi sợ của mình.
Một dấu hiệu đáng quý của người trưởng thành là có thể nghe ý kiến khác mà chưa vội coi đó là sự chống đối. Trong một cuộc họp, người góp ý có thể nói chưa khéo, giọng có thể căng, cách diễn tả có thể thiếu mềm mại. Ta vẫn cần phân biệt giữa cách nói và điều họ đang cố chuyển đạt. Nếu chỉ tập trung vào việc họ đã làm mình khó chịu, ta có thể bỏ lỡ một vấn đề thật. Dĩ nhiên, người góp ý cũng có trách nhiệm sửa cách diễn tả. Sự chân thành không miễn cho ai bổn phận tôn trọng người khác. Nhưng sự vụng về của người nói không làm cho nội dung họ nêu tự nhiên trở thành sai.
Một cộng đoàn biết lắng nghe cần tạo được chỗ cho những ý kiến chưa hoàn chỉnh. Không phải ai cũng trình bày rõ ngay lần đầu. Có người cần thời gian mới đủ bình tĩnh để nói điều khó. Có người diễn tả bằng nước mắt trước khi tìm được lời. Có người chỉ nói được một phần vì còn sợ hậu quả. Nếu bầu khí đòi mọi người phải phát biểu thật khéo mới được nghe, những người yếu thế hơn sẽ lại im lặng. Người chủ tọa một cuộc họp có thể giúp bằng cách nhắc lại điều vừa nghe, hỏi xem mình hiểu có đúng không, rồi dành thời gian cho những người chưa lên tiếng.
Ở đây, chúng ta cũng cần xét lại thói quen ngắt lời. Đôi khi ta ngắt lời vì nghĩ mình đã hiểu. Đôi khi vì sợ điều người kia nói sẽ làm quyết định của mình khó thực hiện hơn. Có khi ta dùng một lời đùa để làm nhẹ bầu khí, nhưng người đang cố trình bày điều nghiêm túc lại cảm thấy bị xem thường. Có khi ta chuyển ngay sang một vấn đề khác vì không biết xử lý sự căng thẳng. Lắng nghe đòi sự kiên nhẫn ở lại với điều chưa dễ chịu. Ta để người khác nói hết, rồi mới hỏi, mới làm rõ, mới trả lời.
Sự thinh lặng trong cộng đoàn có nhiều ý nghĩa khác nhau. Có sự thinh lặng của người đang cầu nguyện và suy nghĩ. Có sự thinh lặng của người biết nhường chỗ cho người khác. Nhưng cũng có sự thinh lặng vì sợ bị quy chụp, sợ bị nhắc lại chuyện cũ, sợ sau cuộc họp sẽ phải chịu những thái độ lạnh nhạt. Vì vậy, một cuộc họp không có ý kiến trái chiều chưa đủ để chứng tỏ cộng đoàn hiệp nhất. Người có trách nhiệm cần tự hỏi: anh chị em yên tâm khi nói với tôi đến mức nào? Sau lần một người góp ý, tôi có còn đối xử với họ tự nhiên như trước không? Tôi có vô tình khiến họ phải trả giá vì đã thành thật không?
Người dưới quyền cũng cần xem lại một kiểu im lặng khác: không trình bày trong cuộc gặp chính thức, nhưng sau đó nói với nhiều người; không góp ý lúc còn có thể điều chỉnh, nhưng khi có khó khăn lại khẳng định mình đã thấy từ đầu. Cách ấy làm sự tin tưởng suy yếu. Nếu có điều cần nói và có điều kiện an toàn để nói, ta được mời gọi can đảm trình bày với đúng người, đúng việc, bằng những chi tiết có thể kiểm chứng. Việc tìm sự nâng đỡ nơi một người đáng tin là điều cần thiết trong nhiều hoàn cảnh; tuy nhiên, ta cũng cần phân biệt sự nâng đỡ ấy với việc lôi kéo người khác đứng về phía mình.
Nói sự thật trong lòng kính trọng là một việc khó. Muốn nói đúng, ta cần biết mình đang tìm điều gì. Tôi muốn người kia hiểu một vấn đề, hay muốn họ cảm thấy xấu hổ? Tôi muốn bảo vệ cộng đoàn, hay đang trả lại một tổn thương? Tôi chọn thời điểm này vì thích hợp, hay vì đang giận nên không muốn chờ? Một nội dung đúng có thể bị làm yếu đi bởi cách nói đầy ác cảm. Trước khi góp ý, ta có thể dành một khoảng thinh lặng để cầu nguyện cho người sắp nghe mình. Khi còn có thể chân thành xin điều tốt cho họ, lời nói của ta thường bớt sắc cạnh và chính xác hơn.
Tuy nhiên, cũng đừng đòi người bị tổn thương phải bình thản hoàn toàn rồi mới công nhận điều họ trình bày. Có những sự thật được nói ra trong run rẩy. Có những người đã cố chịu đựng quá lâu nên khi lên tiếng, họ không thể giữ giọng bình thường. Trách nhiệm của người nghe là tìm hiểu sự việc, đồng thời giúp cuộc trao đổi diễn ra trong sự tôn trọng. Lấy sự xúc động của một người làm lý do bỏ qua toàn bộ nội dung họ nêu là một cách tránh né điều cần được xem xét.
Trong vườn Cây Dầu, Đức Giêsu hướng về Chúa Cha. Điều ấy giúp cả người lãnh đạo lẫn người vâng phục nhớ rằng chúng ta đều phải tìm kiếm một ý muốn lớn hơn ý mình. Không ai trong cộng đoàn là nguồn mạch cuối cùng của chân lý. Người có trách nhiệm cần cầu nguyện để nhận ra điều phải làm; người nhận quyết định cũng cần cầu nguyện để hiểu cách đáp lại. Cả hai đều có thể thiếu thông tin, bị chi phối bởi cảm xúc hoặc hiểu chưa đúng về người kia. Sự khiêm nhường bắt đầu khi ta chấp nhận khả năng mình cần được bổ túc.
Lời Chúa cần có chỗ thật trong việc phân định. Có thể một cuộc họp mở đầu bằng kinh nguyện, nhưng sau đó cách nói năng và quyết định vẫn hoàn toàn bị dẫn dắt bởi nóng giận, thiên vị hoặc nỗi sợ. Có thể ta nhắc đến Thánh Thần rất nhiều mà không dành thời gian nghe người đang ở trước mặt. Cầu nguyện đòi một sự liên tục giữa điều ta thưa với Chúa và cách ta đối xử với anh chị em. Nếu đã xin ơn khôn ngoan, ta cần sẵn sàng tiếp nhận một thông tin khiến mình phải thay đổi dự tính. Nếu đã xin ơn hiệp nhất, ta cần chú ý đến người đang bị bỏ ngoài cuộc trao đổi.
Linh đạo và sứ mạng của hội dòng cũng giúp chúng ta bước ra khỏi ý thích cá nhân. Một công việc có thể hấp dẫn, đem lại sự nhìn nhận, nhưng chưa chắc phù hợp với điều cộng đoàn được mời gọi thực hiện. Một sự lựa chọn có thể thuận tiện cho một vài người, nhưng đặt gánh nặng quá lớn lên những người khác. Một hoạt động đã tồn tại lâu năm có thể cần được xem lại vì hoàn cảnh và sức lực thực tế đã thay đổi. Việc phân định trung thành đòi hỏi ta dám hỏi: điều này còn phục vụ sứ mạng không? Chúng ta có đang tiếp tục chỉ vì đã quen, vì sợ mang tiếng thất bại, hoặc vì không ai muốn đụng vào một điều từng được coi là thành công?
Thực tế sứ vụ phải được lắng nghe bằng những dữ kiện cụ thể. Có bao nhiêu người đang làm việc? Công việc đòi bao nhiêu thời gian? Ai đang phải đảm nhận phần việc âm thầm mà cuộc họp không nhắc đến? Một kế hoạch có vẻ tốt trên giấy có thể đẩy cộng đoàn vào kiệt sức nếu không tính đến những việc hằng ngày. Người đang trực tiếp phục vụ thường biết những điều người ở xa không thấy. Lắng nghe họ giúp quyết định gần với đời sống hơn. Khi cần chọn một hướng khác với đề nghị của họ, việc giải thích trong mức có thể cũng cho thấy công sức và kinh nghiệm của họ đã được tôn trọng.
Dĩ nhiên, không phải mọi quyết định đều có thể chờ đến lúc ai cũng đồng ý. Có những nhu cầu cấp bách, có những lựa chọn phải được thực hiện giữa các khả năng đều có giới hạn. Người có trách nhiệm không thể trốn tránh quyết định bằng cách kéo dài tham khảo vô tận. Lắng nghe bao gồm cả việc đón nhận trách nhiệm phải kết luận khi đã có đủ cơ sở. Điều cần giữ là sự ngay thẳng: đã nghe những người liên quan, đã cân nhắc những hệ quả, đã xem xét khả năng thực hiện, và sẵn sàng nhìn lại khi có dữ kiện mới. Quyết đoán có thể đi cùng sự khiêm nhường.
Người nhận quyết định cũng cần phân biệt giữa việc được lắng nghe và việc ý kiến của mình phải được chọn. Có thể ta đã được trao đủ thời gian trình bày, điều mình nói đã được cân nhắc, nhưng kết quả vẫn khác điều ta mong. Khi ấy, đức vâng phục đi vào một giai đoạn khó hơn: cộng tác dù còn tiếc nuối. Ta không cần giả vờ vui ngay. Ta có thể xin thời gian để sắp xếp lòng mình, để trao lại công việc, để hiểu nhiệm vụ mới. Nhưng thiện chí mời ta tránh kéo dài sự phản đối qua thái độ lạnh nhạt, làm việc qua loa hoặc mong quyết định thất bại để chứng minh mình đúng.
Có một thứ chống đối rất kín: ngoài miệng nhận lời, nhưng bên trong đã rút khỏi trách nhiệm. Người ấy vẫn làm, song làm với ý nghĩ rằng mọi hậu quả đều là chuyện của người ra quyết định. Họ không chia sẻ thông tin cần thiết, không chủ động tháo gỡ khó khăn, không giúp người mới tiếp nhận công việc. Khi sự việc trục trặc, họ cảm thấy được xác nhận. Đức vâng phục mời chúng ta nhận ra thái độ ấy trước khi nó làm tổn hại cộng đoàn. Nếu đã đón nhận một nhiệm vụ chính đáng, ta cần tìm cách thực hiện bằng năng lực và lương tâm của mình, đồng thời tiếp tục báo cáo trung thực những điều cần điều chỉnh.
Cũng có trường hợp người có trách nhiệm đòi sự cộng tác nhưng không trao những điều cần thiết để cộng tác. Giao việc mà không nói rõ phạm vi, mong kết quả mà không cho đủ thời gian, yêu cầu chịu trách nhiệm nhưng giữ lại mọi quyền quyết định, những điều ấy dễ tạo nên bế tắc. Một người được sai đi cần biết mình được mong đợi điều gì, có thể chủ động đến đâu, khi gặp khó khăn thì trao đổi với ai. Sự rõ ràng là một hình thức tôn trọng. Nó giúp người nhận việc phục vụ với lòng an tâm hơn và giúp việc đánh giá sau này công bằng hơn.
Sau khi giao việc, người có trách nhiệm vẫn cần đồng hành. Một cuộc gặp ngắn để hỏi công việc đang diễn ra thế nào có thể ngăn được một khó khăn lớn. Tuy nhiên, đồng hành cần tránh biến thành kiểm soát mọi chi tiết. Nếu một người luôn bị sửa từng việc nhỏ, họ dần mất khả năng chủ động. Nếu mọi sáng kiến đều bị hiểu là vượt quyền, họ sẽ chỉ chờ lệnh. Cộng đoàn cần những người có thể trưởng thành trong trách nhiệm. Muốn vậy, người lãnh đạo phải chấp nhận rằng người khác có thể làm khác cách mình quen mà vẫn làm tốt.
Nhu cầu kiểm soát thường xuất hiện dưới một lý do rất dễ được chấp nhận: tôi lo công việc không đạt yêu cầu. Nỗi lo ấy có thể có cơ sở. Nhưng nếu không được phân định, nó khiến người có trách nhiệm ôm giữ quá nhiều, khó giao việc và khó tin ai. Họ mệt mỏi vì chuyện gì cũng phải qua mình, rồi lại buồn vì anh chị em thiếu sáng kiến. Có khi điều cần thay đổi là cách trao quyền và cách hướng dẫn. Người chưa có kinh nghiệm cần được chỉ dẫn rõ, được góp ý cụ thể và có cơ hội sửa. Không ai học được trách nhiệm nếu mọi sai sót nhỏ đều bị biến thành bằng chứng rằng họ không đáng tin.
Người được giao việc cũng phải nuôi dưỡng lòng tin bằng sự trung thực. Có khó khăn thì báo sớm. Có sai sót thì nhận và tìm cách sửa. Có điều chưa biết thì hỏi. Một người luôn giấu vấn đề đến lúc không thể cứu vãn sẽ khiến việc cộng tác trở nên rất khó. Đôi khi ta giấu vì sợ bị trách, nhưng cũng có lúc vì muốn bảo vệ hình ảnh mình làm được mọi sự. Lòng khiêm nhường giúp ta nói: con đã ước lượng chưa đúng; con cần thêm sự hỗ trợ; con đã làm sai phần này. Những lời ấy có thể gây ngượng trong chốc lát, nhưng giữ được sự tin tưởng lâu dài.
Trong tháng này, chúng ta cũng cần ở lại với giới hạn của quyền bính. Lời khấn không trao cho bất cứ ai quyền đòi người khác làm điều sai trái. Không thể nhân danh sự vâng phục để buộc một thành viên nói dối, làm hại người khác, che giấu hành vi gây hại hoặc từ bỏ phẩm giá của mình. Khi có dấu hiệu nghiêm trọng như thế, điều cần làm là tìm sự trợ giúp qua những người và cơ cấu có thẩm quyền phù hợp, để sự việc được xem xét và người bị ảnh hưởng được bảo vệ. Sự trung thành với cộng đoàn gắn với trách nhiệm gìn giữ sự thật và con người.
Cần nói điều này cách bình tĩnh và rõ ràng, bởi có những người đã mang một sự nhầm lẫn đau đớn: họ nghĩ rằng nếu lên tiếng trước điều sai, họ đang phản bội ơn gọi. Họ sợ gây tai tiếng, sợ làm người khác mất uy tín, sợ bị đánh giá là thiếu tinh thần hy sinh. Vì thế, họ tiếp tục chịu đựng hoặc giữ kín điều cần được đưa ra ánh sáng. Một cộng đoàn có trách nhiệm phải giúp thành viên hiểu rằng việc trình bày một nguy cơ hay một hành vi gây hại có chỗ đứng chính đáng. Người tiếp nhận thông tin cần xử lý nghiêm túc, kín đáo, công bằng, tránh gây áp lực khiến người trình bày phải rút lại lời nói chỉ để giữ vẻ yên ổn.
Đồng thời, trong những bất đồng thường ngày, ta cần tránh vội dùng những từ nặng nề để gọi mọi quyết định không vừa ý. Một yêu cầu khó chưa đương nhiên là lạm quyền. Một sự thuyên chuyển gây buồn chưa tự nó chứng minh có ý trừng phạt. Một lời góp ý khiến ta khó chịu vẫn có thể cần thiết. Phân định đòi ta nhìn vào nội dung, cách thức, hoàn cảnh và hậu quả cụ thể. Ta được mời vừa tỉnh thức trước điều gây hại, vừa công bằng với người đang thi hành một trách nhiệm khó khăn. Sự thật cần cả lòng can đảm lẫn sự chính xác.
Có những giới hạn khác liên quan đến đời sống nội tâm và sự riêng tư. Người có trách nhiệm cần biết điều có liên quan đến nhiệm vụ và khả năng phục vụ của một thành viên, nhưng không vì thế mà có thể đòi họ kể hết mọi chuyển động sâu kín của tâm hồn. Việc đồng hành thiêng liêng cần được sống trong lòng tôn trọng tự do và sự tín nhiệm. Một người mở lòng không có nghĩa là họ trao cho người khác quyền sử dụng mọi điều riêng tư ấy trong việc điều hành hoặc trong những cuộc trao đổi không cần thiết. Càng biết điều sâu kín của ai, ta càng có trách nhiệm giữ gìn họ.
Ngôn ngữ thiêng liêng cũng cần được sử dụng với lòng kính sợ Thiên Chúa. Những lời như “ý Chúa”, “hy sinh”, “thập giá”, “vâng phục” có thể nâng đỡ một người trong thử thách. Nhưng nếu được dùng để chặn mọi câu hỏi, chúng làm người nghe khó phân định. Một người đang đau cần được chăm sóc; một sai sót cần được sửa; một quyết định thiếu thực tế cần được xem lại. Việc gọi mọi khó khăn là thập giá không giúp ta hoàn thành những trách nhiệm ấy. Trước khi khuyên ai đón nhận đau khổ, ta cần hỏi phần đau khổ nào có thể được giảm bớt bằng sự công bằng, việc sắp xếp hợp lý và lòng quan tâm của chính mình.
Vườn Cây Dầu không cho phép ta sử dụng lời xin vâng của Đức Giêsu để làm cho ý riêng của một con người trở thành tuyệt đối. Nơi đó, Người hướng về Chúa Cha bằng tình yêu và sự tín thác. Khi suy niệm mầu nhiệm ấy, ta được mời thanh luyện cách sử dụng quyền, để người khác được dẫn gần đến Thiên Chúa trong sự thật. Người lãnh đạo cần đặc biệt cẩn trọng khi giải thích một quyết định bằng ngôn ngữ tôn giáo. Có thể khiêm nhường nói rằng mình đã cầu nguyện và cân nhắc, đồng thời vẫn nhìn nhận quyết định ấy cần sự cộng tác, kiểm chứng và đôi khi cả điều chỉnh.
Nhận mình đã quyết định chưa đúng là một việc khó, nhất là trước những người đang được mình hướng dẫn. Ta sợ mất uy tín. Ta nghĩ nếu thay đổi, người khác sẽ không còn tin. Nhưng một lời nhìn nhận thẳng thắn có thể làm lòng tin trở nên vững hơn: sau khi nghe thêm hoàn cảnh, tôi thấy cần điều chỉnh; tôi đã chưa cân nhắc đủ sức khỏe của anh chị; cách tôi nói hôm trước đã làm cuộc trao đổi trở nên nặng nề. Những lời ấy cho thấy người có trách nhiệm biết đặt con người và sự thật lên trên việc bảo vệ hình ảnh bản thân.
Lời xin lỗi cần có việc làm đi cùng. Nếu đã giao việc quá sức, cần xem lại khối lượng công việc. Nếu đã trách oan trước mặt người khác, cần có cách sửa lại sự hiểu lầm trong phạm vi thích hợp. Nếu đã bỏ qua một thông tin quan trọng, cần thay đổi cách tiếp nhận để điều ấy không lặp lại. Người bị tổn thương cũng có thể cần thời gian mới tin trở lại. Đừng đòi họ phải lập tức vui vẻ để chứng minh rằng họ đã tha thứ. Sự tin tưởng thường được xây lại bằng nhiều lần đối xử nhất quán.
Ở phía người vâng phục, nhận lỗi cũng là một phần của việc canh tân. Có thể tôi đã trình bày một khó khăn có thật, nhưng bằng thái độ gây tổn thương. Có thể tôi đã nói đúng một vấn đề, rồi sau đó kể thêm những nhận xét không công bằng. Có thể tôi đã để nỗi thất vọng biến thành sự bất hợp tác. Tôi cần xin lỗi về phần của mình mà không vì thế phải phủ nhận mọi điều đúng đã nêu. Một cuộc hòa giải trưởng thành cho phép mỗi người chịu trách nhiệm về hành vi của mình, đồng thời tiếp tục giải quyết vấn đề thực tế còn tồn tại.
Đôi khi sự bất đồng kéo dài vì hai người đang nói về hai điều khác nhau. Người có trách nhiệm nói về nhu cầu nhân sự, người nhận quyết định lại cố diễn tả nỗi sợ bị bỏ rơi. Người này giải thích thời gian biểu, người kia đang đau vì cảm thấy công sức nhiều năm không được nhìn nhận. Muốn gặp nhau, cần làm rõ cả nội dung lẫn cảm nhận. Có thể quyết định vẫn phải thực hiện, nhưng một lời cảm ơn chân thành, một thời gian bàn giao hợp lý, một sự hiện diện trong giai đoạn đầu sẽ giúp người được sai đi không cảm thấy mình bị đẩy ra khỏi một nơi từng gắn bó.
Người được sai đi cũng cần học phân biệt giữa lời cảm ơn mình mong đợi và giá trị thật của những gì đã sống. Có thể cộng đoàn đã vụng về, có thể người khác chưa nhìn thấy hết hy sinh của ta. Nỗi buồn ấy có thật. Nhưng nếu đời dâng hiến chỉ có thể tiếp tục khi ta được ghi nhận đủ, lòng ta sẽ luôn bị giữ bởi sự đánh giá của người khác. Trong cầu nguyện, ta xin Chúa đón nhận những điều không được nhắc tên, những công việc không ai còn nhớ, những cố gắng đã bị hiểu sai. Được Chúa biết đến giúp ta bớt phải buộc một cộng đoàn giới hạn trả lại cho mình tất cả sự nhìn nhận ta khao khát.
Tháng Sáu mời chúng ta đến gần Trái Tim Đức Giêsu để học cách yêu trong trách nhiệm. Có người cho rằng thương thì phải nhẹ nhàng trong mọi quyết định. Nhưng tình thương cũng có lúc phải yêu cầu một người thay đổi, dừng một việc không phù hợp, chấp nhận một trách nhiệm khó. Điều làm nên sự khác biệt là người ấy có được đối xử với lòng tôn trọng không, có được hiểu đúng không, có được giúp đỡ để thực hiện điều được yêu cầu không. Một quyết định nghiêm túc vẫn có thể được nói bằng giọng bình tĩnh. Sự rõ ràng không cần đến những lời làm nhục.
Người có trách nhiệm có thể phải nói một điều khiến anh chị em thất vọng. Trong trường hợp ấy, cần tránh hai cám dỗ. Một là quá sợ phản ứng nên nói mập mờ, hứa những điều mình không thể giữ, để người khác tiếp tục chờ đợi. Hai là muốn kết thúc nhanh nên dùng giọng cứng rắn, khiến người nghe không còn cơ hội hỏi lại. Lòng bác ái giúp ta nói điều thật với mức rõ ràng cần thiết, giải thích trong phạm vi có thể, thừa nhận điều mình chưa giải quyết được, và dành chỗ cho cảm xúc của người nghe. Không phải mọi nỗi buồn sau một quyết định đều cần được dập tắt ngay.
Cũng cần nhớ người lãnh đạo có thể rất cô đơn. Họ biết một số hoàn cảnh không thể công khai. Họ phải cân nhắc những nhu cầu xung đột. Có khi họ bị hiểu lầm mà chưa thể giải thích đầy đủ. Cộng đoàn cần nâng đỡ họ bằng lời cầu nguyện, sự góp ý ngay thẳng và lòng cộng tác. Người thi hành trách nhiệm cũng cần có nơi thích hợp để được đồng hành, được phản tỉnh và nhận góp ý. Gánh nặng lâu ngày mà không được chia sẻ có thể làm một người vốn hiền hòa trở nên khô cứng. Biết tìm sự giúp đỡ là một cách bảo vệ những người mình đang phục vụ.
Chúng ta hãy thử hình dung một cộng đoàn đang thiếu người cho một công việc quan trọng. Người có trách nhiệm nghĩ đến một thành viên đã có kinh nghiệm. Thành viên ấy vừa nghe đề nghị thì phản ứng: “Lúc nào cũng là con.” Nếu cả hai lập tức bảo vệ mình, cuộc gặp sẽ nhanh chóng căng thẳng. Người có trách nhiệm có thể kể ra những lần mình đã nâng đỡ người ấy; người kia lại kể mọi công việc đã nhận. Nhưng nếu chịu dừng lại, họ có thể khám phá rằng câu nói ấy diễn tả sự mệt mỏi tích tụ nhiều tháng. Khi đó, vấn đề cần giải quyết gồm cả nhu cầu nhân sự và sự phân chia công việc. Một cuộc gặp biết lắng nghe có thể mở đường cho một phương án mà lúc đầu chưa ai nghĩ đến.
Trong một tình huống khác, một thành viên luôn phản đối những nhiệm vụ có tính cộng đoàn nhưng lại dành nhiều sức cho công việc riêng mình yêu thích. Nếu chỉ sợ làm họ buồn mà không nói rõ, người có trách nhiệm sẽ để sự bất công kéo dài. Cần một cuộc trao đổi cụ thể, có dữ kiện, cho họ thấy ảnh hưởng của cách lựa chọn ấy đối với anh chị em. Người được góp ý cần can đảm nhìn nhận rằng sở thích cá nhân đã chiếm phần quá lớn. Đức vâng phục lúc ấy là tập sắp xếp lại thời gian và chấp nhận góp phần vào những việc ít hấp dẫn nhưng cần thiết. Cộng đoàn sống được nhờ cả những việc không ai hào hứng nhận.
Những việc nhỏ thường bộc lộ con người thật của ta rõ hơn những lời tuyên bố lớn. Ta có thể sẵn sàng nói về sứ vụ xa xôi, nhưng lại khó chịu khi phải thay người khác một công việc trong nhà. Ta có thể mong được trao trách nhiệm quan trọng, nhưng không chấp nhận việc mình đang làm cần được kiểm tra. Ta có thể nói rất hay về hiệp hành, nhưng không để một người ít tuổi hơn hoàn tất ý kiến. Ngày tĩnh tâm đưa ta về những điều ấy. Sự canh tân bắt đầu khi ta thôi nghĩ bài suy niệm này chủ yếu dành cho một người khác trong cộng đoàn.
Một người ít tuổi có thể có điều cần thiết để người lớn tuổi học. Một người không giữ chức vụ có thể hiểu rõ một góc của sứ vụ mà người lãnh đạo chưa biết. Một thành viên vốn ít nói có thể đã quan sát rất lâu trước khi phát biểu. Kinh nghiệm đáng được trân trọng, và kinh nghiệm cũng cần tiếp tục học. Khi lấy số năm sống trong cộng đoàn làm lý do để không còn nghe ai, ta dễ đóng lại một khả năng được Chúa sửa dạy qua người khác. Lòng khiêm nhường cho phép ta nhận một điều đúng dù nó đến từ người mình chưa từng đánh giá cao.
Ở chiều ngược lại, người trẻ cần tránh xem mọi kinh nghiệm trước mình như một trở ngại. Có những điều chỉ hiểu được sau nhiều năm cùng cộng đoàn đi qua thất bại. Một thói quen có thể cần đổi, nhưng trước khi đổi, hãy tìm hiểu vì sao nó xuất hiện và đang bảo vệ điều gì. Có thể ta sẽ nhận ra lý do ấy không còn phù hợp; cũng có thể ta khám phá một sự khôn ngoan mình chưa thấy. Đối thoại giữa các thế hệ cần cả lòng cởi mở lẫn sự kiên nhẫn. Ai cũng có phần để trao và phần cần nhận.
Trong việc lắng nghe, thời gian là một cách bày tỏ lòng tôn trọng. Nếu luôn gặp người khác khi mình đang vội, vừa nghe vừa xem điện thoại, vừa trả lời tin nhắn vừa hỏi chuyện quan trọng, ta gửi đến họ một thông điệp dù không cố ý: điều anh chị đang mang chưa đủ đáng để tôi hiện diện trọn vẹn. Không phải lúc nào ta cũng có nhiều giờ. Nhưng có thể nói thật: lúc này tôi chưa nghe kỹ được, chúng ta sẽ gặp vào một thời điểm cụ thể. Một cuộc hẹn được giữ đúng nhiều khi tạo lòng tin hơn những lời hứa quan tâm rất đẹp nhưng không thành hiện thực.
Việc ghi nhớ điều đã nghe cũng quan trọng. Một thành viên đã nhiều lần trình bày một khó khăn, nhưng lần nào gặp cũng phải kể lại từ đầu, sẽ dễ cảm thấy mình chưa được quan tâm. Người có trách nhiệm cần có cách theo dõi những điều liên quan đến công việc và sự nâng đỡ, đồng thời bảo vệ thông tin riêng tư. Sau một cuộc gặp, có thể thống nhất một vài điều rõ ràng: việc gì được điều chỉnh, ai cần thực hiện, khi nào sẽ nhìn lại. Lắng nghe có kết quả khi điều đã hiểu đi vào cách sống và cách tổ chức.
Người trình bày khó khăn cũng cần giúp cuộc trao đổi đi đến điều cụ thể. Thay vì chỉ nói “Con mệt quá”, có thể cho biết công việc nào đang vượt sức, thời gian nào không còn đủ, sự hỗ trợ nào cần thiết. Thay vì nói “Không ai hiểu con”, có thể kể lại một tình huống và điều mình đã mong được đón nhận. Không phải ai cũng làm được điều này ngay; đôi khi cần người nghe giúp đặt câu hỏi. Nhưng càng rõ ràng, hai bên càng có cơ hội cùng giải quyết thay vì chỉ đứng trước một nỗi buồn rộng lớn không biết bắt đầu từ đâu.
Sau những bất đồng, chúng ta thường muốn mau chóng trở lại sinh hoạt bình thường. Điều ấy cần thiết, nhưng cũng cần một khoảng thời gian nhìn lại cách đã đối thoại. Trong cuộc gặp vừa qua, ai đã bị ngắt lời? Điều gì đã được hiểu sai? Có thông tin nào xuất hiện quá muộn? Cách nào giúp lần sau bớt tổn thương? Một cộng đoàn học được từ những cuộc trao đổi khó sẽ dần trưởng thành. Còn nếu chỉ cho qua rồi để mọi thứ lặp lại, các thành viên sẽ tích lũy sự dè chừng.
Đức Giêsu nhắc các môn đệ cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ. Trong những cuộc trao đổi về quyền bính và vâng phục, cám dỗ có thể đến rất âm thầm. Người có quyền bị cám dỗ muốn kết thúc tranh luận bằng vị trí của mình. Người nhận quyết định bị cám dỗ làm cho mọi người thấy mình là người chịu thiệt. Có người muốn thắng bằng sự im lặng kéo dài; có người muốn thắng bằng những lời đạo đức. Có người chỉ nhớ phần lỗi của người khác. Cầu nguyện giúp ta dừng trước khi biến một vấn đề cần giải quyết thành một cuộc đối đầu về giá trị con người.
Có thể điều cần xin trong tháng này rất đơn sơ: xin cho con đừng trả lời ngay lúc đang bị chạm tự ái. Chỉ một khoảng dừng ngắn cũng có thể cứu một cuộc gặp. Ta hít thở, nghe lại điều vừa được nói, xin Chúa giữ gìn lời mình, rồi mới trả lời. Nếu quá xúc động, có thể đề nghị tạm dừng và hẹn tiếp tục. Điều quan trọng là thực sự quay lại, không dùng việc tạm dừng để bỏ mặc vấn đề. Sự bình tĩnh cần được học bằng những thực hành nhỏ, nhất là khi ta vốn quen nói nhanh và quyết định nhanh.
Cũng có lúc ta cần xin ơn nghe lại một người mà mình đã mất kiên nhẫn từ lâu. Chỉ cần họ mở lời, trong lòng ta đã thấy mệt. Mọi điều họ nói đều bị lọc qua những lần bất đồng trước. Việc canh tân khi ấy bắt đầu từ một lời nguyện rất thật: lạy Chúa, con đang khó chịu với người này; xin giúp con nghe điều họ nói hôm nay cho đúng. Ta chưa cần cảm thấy gần gũi ngay. Chỉ cần thôi xử họ theo toàn bộ quá khứ mỗi lần gặp mặt, một cánh cửa nhỏ đã được mở.
Tha thứ trong cộng đoàn còn là cho nhau cơ hội thay đổi cách nhìn. Người từng thiếu trách nhiệm có thể đang tập sống nghiêm túc hơn. Người từng nóng nảy có thể đang cố sửa. Người từng phản đối có thể nay thật lòng muốn cộng tác. Nếu ta luôn nhắc lại họ như trước, sự cố gắng của họ không có nơi được nhìn nhận. Dĩ nhiên, lòng tin cần được xây dựng bằng hành vi thực tế và sự thận trọng phù hợp. Nhưng trong khi kiểm chứng, ta vẫn có thể giữ cho người kia một chỗ của hy vọng.
Một trong những niềm vui kín đáo của đời sống cộng đoàn là nhận ra mình đã có thể sống khác đi. Trước kia, vừa nghe góp ý là phản bác; hôm nay, ta nghe hết. Trước kia, vừa gặp khó khăn là tìm cách rút lui; hôm nay, ta trình bày rồi cùng tìm phương án. Trước kia, cứ nghĩ nhận lỗi là mất uy; hôm nay, ta có thể xin lỗi. Những thay đổi ấy ít khi gây chú ý, nhưng giúp cộng đoàn dễ thở hơn. Người khác bắt đầu bớt dè chừng, và chính ta cũng không còn phải gồng lên để bảo vệ mình trong mọi cuộc gặp.
Trong ngày tĩnh tâm này, hãy trở lại một quyết định cụ thể đang làm lòng mình xao động. Có thể là điều vừa được thông báo. Có thể là một việc đã qua nhiều năm mà ta vẫn nhắc lại trong lòng. Hãy nhớ lại sự việc trong mức có thể: điều gì đã xảy ra, ai đã nói gì, ta đã hiểu ra sao, phần nào là dữ kiện, phần nào là suy đoán. Rồi đặt trước Chúa cảm xúc còn lại. Ta có thể nhận ra mình đã bị đối xử thiếu tế nhị. Cũng có thể thấy mình đã không trình bày đủ hoặc đã chống đối bằng những cách làm người khác đau. Đừng vội ép mọi điều vào một kết luận đơn giản. Hãy để Chúa dẫn ta đến một sự thật có khả năng mở đường.
Nếu còn một việc có thể làm để chữa lành, hãy xin ơn can đảm thực hiện. Có thể là xin một cuộc gặp. Có thể là viết ra điều cần trình bày để nói cho rõ. Có thể là nhận lại trách nhiệm mình đã bỏ bê. Có thể là nhờ một người có trách nhiệm phù hợp giúp cuộc trao đổi diễn ra. Có những điều không thể giải quyết trọn trong một lần, nhưng một bước đúng vẫn có giá trị. Cầu nguyện không miễn cho ta khỏi bước ấy; cầu nguyện giúp ta bước với lòng ngay thẳng hơn.
Nếu hôm nay đang giữ trách nhiệm, hãy nhớ đến một người mà ta thấy khó hiểu nhất. Thay vì lập tức xét xem họ cần sửa điều gì, hãy tự hỏi mình còn thiếu thông tin nào về họ. Lần cuối cùng ta gặp riêng để nghe họ là khi nào? Ta biết công việc của họ đến đâu? Ta có hiểu họ đang phải lo điều gì trong gia đình, sức khỏe hoặc đời sống cộng đoàn, trong phạm vi họ có thể chia sẻ không? Có khi ta biết rất rõ họ đã làm chưa đúng điều gì, nhưng lại biết quá ít về những gì họ đang âm thầm gánh chịu.
Nếu hôm nay là người đang đón nhận một quyết định khó, hãy nhớ đến người phải đưa ra quyết định ấy như một con người. Họ có thể có những giới hạn, cũng có những gánh nặng ta chưa biết. Ta vẫn có quyền và trách nhiệm trình bày điều cần thiết. Nhưng khi nhìn họ với lòng thương, cách nói của ta có thể bớt chất buộc tội. Ta có thể hỏi thay vì đoán, trình bày thay vì kết án, và giữ cho cuộc đối thoại một cơ hội. Lòng thương không xóa sự thật; lòng thương giúp ta đủ kiên nhẫn tìm sự thật với nhau.
Thực hành trong tháng có thể bắt đầu ngay từ cuộc họp gần nhất. Mỗi người tập nghe trọn một ý kiến khác mình mà không ngắt lời. Khi người kia nói xong, thử nhắc lại điều mình đã hiểu trước khi đưa ra ý kiến. Nếu chưa rõ, hỏi thêm bằng một câu không hàm ý kết tội. Người chủ tọa chú ý đến người ít nói, giữ thời gian để họ có cơ hội phát biểu, và không đòi họ phải trả lời ngay nếu họ cần suy nghĩ. Cuộc họp sẽ có thể chậm hơn đôi chút, nhưng những điều quan trọng có cơ hội được nghe đúng.
Người có trách nhiệm có thể chọn gặp riêng một thành viên trước khi giao một nhiệm vụ đáng kể. Cuộc gặp ấy cần đủ cụ thể để hiểu khả năng, sức khỏe, những trách nhiệm hiện có và sự hỗ trợ cần thiết. Nếu cuối cùng vẫn giao việc dù người ấy còn lo, hãy nói rõ cách sẽ đồng hành và thời điểm cùng nhìn lại. Người nhận nhiệm vụ cũng cố gắng chuẩn bị một lời trình bày trung thực, không che giấu điều liên quan, không thêm những lý do chỉ để bảo vệ ý thích. Cả hai cùng tập sống sự tin tưởng qua những điều có thể làm được.
Trong xét mình mỗi tối, ta có thể dừng lại ở một cuộc trao đổi trong ngày. Hôm nay tôi đã nghe ai cho đến hết? Tôi đã làm ai phải ngừng lại vì giọng nói hoặc nét mặt của mình? Tôi có nói một lời “vâng” rồi đem sự bực bội trút lên người khác không? Tôi có dùng trách nhiệm của mình để tránh trả lời một câu hỏi chính đáng không? Và cũng hãy nhận ra điều tốt: đã có lúc tôi kiềm được một lời sắc; đã có lúc tôi nhận ra mình hiểu lầm; đã có lúc tôi sửa một quyết định sau khi nghe thêm. Tạ ơn giúp ta tiếp tục lớn lên mà không chìm trong tự trách.
Đời sống thánh hiến cần những người có thể vâng phục bằng một trái tim còn sống: biết suy nghĩ, biết yêu mến, biết nói thật và biết trao mình. Cộng đoàn cũng cần những người thi hành quyền bính mà vẫn còn dễ được gặp, dễ được góp ý, còn biết ngồi xuống trước nỗi khó của một thành viên. Khi hai phía cùng để Chúa thanh luyện, sự vâng phục bớt mang dáng vẻ của một cuộc giằng co. Người ta có thể cùng tìm điều phải làm, dù chưa hiểu hết nhau và chưa hết những khác biệt.
Một ngày kia, nhiệm kỳ sẽ kết thúc, công việc sẽ được trao lại, vị trí hôm nay sẽ thuộc về người khác. Điều còn ở trong ký ức anh chị em có thể là cách ta đã đối xử với họ khi họ yếu đuối nhất. Họ có nhớ rằng mình từng được nghe không? Họ có thể nói thật mà vẫn giữ được phẩm giá không? Về phía người được sai đi, điều còn lại cũng có thể là cách ta đã cộng tác trong một hoàn cảnh khó: ta có đem khả năng của mình phục vụ, có trao lại công việc bằng lòng quảng đại, có giữ cho người đến sau một khởi đầu bình an không? Đó là những câu hỏi âm thầm nhưng rất gần với sự thật của đời dâng hiến.
Giờ đây, hãy ở lại bên Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu. Ta đem đến cho Người quyết định mình chưa đón nhận được, người mình còn khó nghe, chức vụ đang làm mình nặng lòng, nỗi sợ mất quyền kiểm soát, và cả những lời đã khiến người khác tổn thương. Ta không cần sửa xong mọi sự rồi mới đến. Cứ đến với điều đang có, như một người con cần được dạy cầu nguyện.
Có lẽ hôm nay lời xin vâng của ta còn nhỏ lắm. Ta chưa sẵn sàng cho mọi thay đổi. Ta vẫn thấy đau khi nhớ một lời nói. Ta vẫn muốn người khác nhận ra rằng mình đã hy sinh nhiều. Hãy thưa thật với Chúa. Rồi xin một ơn cụ thể cho ngày mai: khi người ấy nói, con sẽ cố nghe hết; khi thấy mình chưa đủ sức, con sẽ trình bày trung thực; khi cần quyết định, con sẽ hỏi thêm trước khi kết luận; khi biết mình sai, con sẽ tìm cách sửa. Một lời xin vâng như thế đã bắt đầu đi vào đời sống.
Lạy Chúa Giêsu, trong giờ cầu nguyện tại vườn Cây Dầu, Chúa đã đem đến trước mặt Chúa Cha tất cả nỗi xao xuyến của mình. Xin dạy con cầu nguyện bằng sự thật. Xin đừng để con chỉ thưa những lời đẹp, còn những nỗi sợ, sự bực bội và ý muốn kiểm soát thì vẫn giữ kín. Có những điều con đã nhận lời mà lòng chưa đón nhận. Có những trách nhiệm con đã thi hành bằng sức ép hơn là tình thương. Có những người con chưa chịu nghe vì nghĩ rằng mình đã biết họ. Xin cho con đủ khiêm nhường để nhìn nhận những điều ấy trước mặt Chúa.
Lạy Chúa, khi con được mời gọi vâng phục, xin cho con có một tâm hồn tự do. Xin giúp con trình bày điều cần thiết bằng lòng ngay thẳng, biết phân biệt giữa giới hạn thật với sự ngại khó, giữa một nguy cơ cần lên tiếng với điều chỉ làm con mất thuận tiện. Nếu điều được yêu cầu là chính đáng, xin giúp con cộng tác bằng thiện chí, dù cần thời gian để sắp xếp lại lòng mình. Xin giữ con khỏi thái độ làm qua loa, khỏi những lời gieo chán nản và khỏi ý muốn thấy công việc thất bại chỉ để chứng minh mình đúng.
Khi con được trao quyền, xin cho con nhớ người trước mặt là một người anh chị em Chúa yêu thương. Xin giữ con khỏi những quyết định do nóng giận, khỏi sự thiên vị mà con chưa muốn nhận, khỏi thói quen giao thêm việc cho người ít phản đối. Xin cho con biết hỏi về sức khỏe, biết quan tâm đến người đang kiệt sức, biết giải thích trong mức có thể và biết tìm sự hỗ trợ cho người được sai đi. Xin cho con đủ vững vàng để quyết định điều cần thiết, và đủ khiêm nhường để điều chỉnh khi nhận ra mình chưa cân nhắc đúng.
Xin thanh luyện lời nói của con. Đừng để con dùng những điều thánh thiêng làm người khác sợ nói thật. Xin cho con biết giữ sự kín đáo đối với những gì được chia sẻ trong lòng tín nhiệm. Khi phải góp ý, xin giúp con nói điều cụ thể, tránh làm nhục, tránh nhắc lại những điều không liên quan. Khi được góp ý, xin cho con biết nghe nội dung trước khi bảo vệ hình ảnh mình.
Xin gìn giữ những người đang sợ hãi trong cộng đoàn. Xin cho họ gặp được người biết lắng nghe và sự nâng đỡ thích hợp. Xin giúp chúng con nhận ra điều gây hại, can đảm thực hiện trách nhiệm cần thiết và chăm sóc người bị tổn thương. Xin cũng nâng đỡ những người đang lãnh đạo trong cô đơn, đang cố gắng phục vụ giữa nhiều giới hạn, để họ được đồng hành và không phải mang mọi sự một mình.
Lạy Chúa, xin giúp cộng đoàn chúng con tập lại những điều đơn sơ: nghe hết một câu, hỏi trước khi đoán, cảm ơn một sự góp ý, nhận một lỗi lầm, giữ một cuộc hẹn và quan tâm đến điều anh chị em đang gánh. Khi bất đồng, xin cho chúng con còn muốn hiểu nhau. Khi quyết định đã được đưa ra, xin cho chúng con biết tìm cách cùng thực hiện điều tốt. Khi cần sửa lại, xin cho chúng con đừng để tự ái giữ chân mình.
Xin cho con biết lắng nghe trước khi quyết định. Xin cho con biết cầu nguyện trước khi nói lời sau cùng. Và khi con chưa thể hiểu hết con đường phía trước, xin cho con vẫn ở lại với Chúa, để học thưa lời xin vâng bằng cả sự thật của đời mình. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
THÁNG BẢY — SAU MỘT NGÀY MỆT, TÔI CÓ MUỐN TRỞ VỀ CỘNG ĐOÀN?
Xây dựng tình huynh đệ từ những sinh hoạt thường ngày.
Lời Chúa: Ga 13,1–15 — Đức Giêsu rửa chân cho các môn đệ.
Có những câu hỏi người tu sĩ có thể trả lời rất đẹp trong một buổi chia sẻ, nhưng lại khó trả lời thành thật khi đứng trước cửa nhà mình vào cuối ngày. Cộng đoàn là gì? Có lẽ chúng ta đã nghe nhiều định nghĩa, đã đọc nhiều bản văn, đã có những lần xúc động khi nói về tình huynh đệ. Chúng ta biết cộng đoàn là nơi những người được Chúa gọi cùng sống một ơn gọi, cùng chia sẻ một sứ mạng, cùng nâng đỡ nhau trên đường theo Đức Kitô. Nhưng sau những lời ấy, vẫn còn một câu hỏi rất gần, rất thật: sau một ngày mệt, tôi có muốn trở về cộng đoàn không? Khi công việc bên ngoài đã lấy đi gần hết sức lực, khi những cuộc gặp gỡ đã làm đầu óc căng lên, khi lòng đang có một nỗi buồn chưa biết nói với ai, ý nghĩ trở về nhà có làm tôi nhẹ đi không? Hay tôi chỉ muốn đi chậm thêm một chút, nán lại đâu đó thêm một lúc, vì biết rằng bước qua cánh cửa ấy, mình còn phải bắt đầu một sự mệt mỏi khác?
Câu hỏi này có thể làm chúng ta chạnh lòng. Người sống đời thánh hiến đã rời gia đình để thuộc về một gia đình rộng hơn. Có người đã sống trong cộng đoàn mười năm, hai mươi năm, gần trọn một đời. Căn nhà ấy lưu giữ những ngày đầu bỡ ngỡ, những lời kinh sáng còn ngái ngủ, những bữa cơm sau giờ lao động, những lần được anh chị em giúp qua bệnh tật. Nhưng cũng chính trong căn nhà ấy, có thể đã xảy ra những chuyện khiến lòng mình khép lại: một lần tâm sự rồi bị kể cho người khác, một sơ suất bị nhắc đi nhắc lại, một ý kiến vừa nói ra đã bị quy chụp, một nỗ lực âm thầm chẳng ai nhìn thấy, trong khi lỗi nhỏ lại được nhớ rất lâu. Bởi vậy, khi hỏi mình có muốn trở về cộng đoàn không, chúng ta đang chạm đến chất lượng thật của đời sống chung, đến điều mà những bản báo cáo sinh hoạt đôi khi chưa diễn tả hết.
Thử hình dung một người trở về sau một ngày phục vụ. Người ấy vừa trải qua một cuộc gặp khó khăn, có thể đã bị hiểu lầm, có thể đã cố hết sức mà công việc vẫn không như mong muốn. Bước vào nhà, người ấy gặp một lời chào bình thường: hôm nay về trễ, chắc mệt lắm; phần cơm còn trong bếp. Chỉ có vậy thôi. Không cần một bài khuyên nhủ, cũng chưa cần kể hết câu chuyện. Nhưng người ấy biết mình đã được nhìn thấy. Bây giờ hãy hình dung cũng người ấy, cũng một ngày như vậy, vừa bước vào đã nghe một câu châm chọc về chuyện đi sớm về khuya, rồi thêm một nhận xét trước mặt nhiều người. Người nói có thể chỉ nghĩ mình đùa. Người nghe phải gom chút sức cuối cùng để giữ nét mặt bình thường. Hai cánh cửa giống nhau, hai căn nhà có thể cùng sạch đẹp, nhưng cảm giác được trở về lại rất khác.
Chúng ta không thể làm cho mọi ngày trong cộng đoàn đều dễ chịu. Mỗi người mang một tính khí, một lịch sử, một cách phản ứng. Có những giai đoạn ai cũng bận, ai cũng có nỗi lo. Tuy nhiên, chúng ta có trách nhiệm về cách mình hiện diện trong sự mệt mỏi chung ấy. Tôi có thể không giải quyết được vấn đề của anh chị em, nhưng tôi có thể đừng làm họ thêm tổn thương. Tôi có thể chưa biết phải nói gì trước một nỗi buồn, nhưng tôi có thể ngồi lại và nghe. Tôi có thể đang rất mệt, nhưng vẫn có thể báo một lời khi mình chưa đủ sức trò chuyện, để sự im lặng của mình không bị hiểu thành lạnh nhạt hay khinh thường. Đời sống chung có nhiều điều vượt ngoài khả năng kiểm soát của từng người; cách tôi chào, cách tôi trả lời, cách tôi giữ lời và cách tôi đối xử với người yếu hơn mình vẫn thuộc phần trách nhiệm của tôi.
Tin Mừng về việc Đức Giêsu rửa chân cho các môn đệ đưa chúng ta vào một bữa ăn như thế: những con người ở gần nhau, mang theo những giới hạn rất thật, ngồi chung quanh một bàn ăn với những điều còn chưa được hiểu, chưa được nói hết. Đức Giêsu biết giờ của Người đã đến. Người biết mình sẽ đi qua cuộc thương khó. Trong bối cảnh ấy, Người đứng dậy, rời bàn ăn, lấy khăn thắt lưng, đổ nước vào chậu và bắt đầu rửa chân cho các môn đệ. Người đi vào một việc cụ thể, một việc thấp hèn theo cách nhìn của xã hội đương thời, một việc đòi phải cúi xuống trước người khác. Bàn tay sẽ bị đóng đinh đã chạm vào những bàn chân bụi bặm. Tình yêu của Người có hình dáng, có cử chỉ, có nước và khăn, có sự kiên nhẫn dành cho từng người.
Chúng ta dễ xúc động trước hình ảnh ấy trong phụng vụ. Nhưng khi trở về đời thường, việc cúi xuống thường ít đẹp đẽ hơn điều ta tưởng. Nó có thể là lau lại một mặt bàn người khác vừa làm bẩn, nghe một câu chuyện mình đã nghe nhiều lần, sửa một sai sót mà không làm người mắc lỗi phải xấu hổ, nhường cho người khác nói hết ý trước khi trả lời. Có khi nó là đứng dậy làm một việc chẳng ai muốn làm vì ai cũng cho rằng mình đã làm đủ. Có khi nó là chấp nhận đi bước đầu đến với một người mà lâu nay mình cố tránh. Chậu nước trong Tin Mừng đặt giữa đời sống chúng ta một câu hỏi khó: tôi sẵn lòng yêu anh chị em ở mức nào khi tình yêu ấy đòi đến thời giờ, sự thuận tiện, lòng tự ái và những quyền lợi tôi đã quen giữ?
Đức Giêsu rửa chân cho những môn đệ cụ thể, với tương lai và những yếu đuối của họ. Phêrô sẽ chối Người. Những người khác sẽ bỏ chạy. Trong bữa ăn ấy còn có sự hiện diện của Giuđa. Tin Mừng không cho chúng ta một hình ảnh lãng mạn về nhóm môn đệ, như thể họ đã hoàn toàn hiểu nhau và yêu nhau. Chính giữa một cộng đoàn còn đầy mong manh, Đức Giêsu thực hiện cử chỉ trao ban. Điều này giúp chúng ta nhìn cộng đoàn của mình thực tế hơn. Chúng ta cùng sống vì được Chúa gọi, và vẫn phải học cách sống xứng đáng với lời gọi ấy từng ngày. Lời khấn không tự động làm một người hết tự ái. Tuổi đời không tự động đem lại sự chín chắn. Nhiều năm phục vụ không bảo đảm rằng ta đã biết lắng nghe. Chúng ta cần để Chúa tiếp tục dạy mình yêu, ngay trong căn nhà đã quen đến mức có khi ta không còn để ý mình đang cư xử ra sao.
Phêrô bối rối trước việc Thầy cúi xuống. Ông không dễ để Đức Giêsu rửa chân cho mình. Phản ứng ấy cũng có thể ở trong mỗi chúng ta. Có người quen làm việc cho người khác đến mức không còn biết nhận sự chăm sóc. Có người có thể nói rất hay về tình huynh đệ, nhưng khi đau yếu lại giấu, khi buồn lại lánh đi, khi cần giúp lại từ chối rồi âm thầm tủi thân vì nghĩ chẳng ai quan tâm. Có người chỉ thấy mình có giá trị khi còn hữu ích, còn lo được mọi chuyện, còn là người nâng đỡ. Để một anh chị em giúp mình, đối với họ, gần như thú nhận một thất bại. Nhưng cộng đoàn cũng cần sự khiêm nhường của người biết nhận. Khi tôi cho phép người khác chăm sóc mình cách thích hợp, tôi nhìn nhận rằng họ cũng có khả năng yêu thương và tôi cũng cần được nâng đỡ. Tôi thôi đứng mãi trong vị trí người cho, để cùng anh chị em sống sự trao nhận bình thường của một gia đình.
Có lẽ trong ngày tĩnh tâm này, mỗi người cần ngồi yên một lúc trước Đức Giêsu đang cúi xuống. Đừng vội nghĩ đến chuyện mình phải sửa ai. Đừng lập ngay một danh sách những người sống khó chịu. Hãy để Chúa nhìn thấy sự mệt mỏi của mình trước đã. Có thể tôi đang mang một nỗi thất vọng về cộng đoàn. Có thể tôi đã thử mở lòng nhiều lần rồi lại bị đau. Có thể tôi vẫn làm đủ công việc, vẫn giữ giờ kinh, vẫn ngồi đúng chỗ trong nhà cơm, nhưng lòng đã rút lui từ lâu. Tôi chỉ còn sống bên cạnh anh chị em, giữ một khoảng cách đủ an toàn để không ai chạm đến điều thật nhất trong mình. Chúa biết. Người không cần tôi che giấu bằng một câu trả lời đạo đức. Tôi có thể thưa rằng con đang khó sống với người này, con không còn muốn dự giờ giải trí, con bước vào nhà cơm mà đã thấy căng thẳng. Sự thành thật ấy có thể là nơi bắt đầu của một thay đổi mà lâu nay chúng ta chỉ cố thực hiện bằng ý chí.
Tuy vậy, đem nỗi đau vào cầu nguyện cũng là chấp nhận để Chúa hỏi lại: con đã góp phần nào vào bầu khí đang làm con mệt? Đây là câu hỏi khó, vì khi bị tổn thương, ta thường nhớ rất rõ điều người khác đã làm, còn ảnh hưởng của mình thì mờ hơn. Ta biết ai hay nói nặng, nhưng ít khi nghe lại giọng mình lúc bực. Ta thấy người khác khép kín, nhưng không nhớ những lần mình cắt ngang khi họ định tâm sự. Ta buồn vì không ai hỏi thăm, nhưng nhiều ngày liền mình cũng không hỏi ai một lời thật lòng. Có thể tôi đang chịu một điều bất công thực sự; điều đó cần được nhìn nhận. Đồng thời, tôi vẫn có một phần tự do để xét lại cách mình phản ứng, những lời mình đã nói, những thói quen mình đang giữ. Nhận phần trách nhiệm ấy giúp tôi có một nơi cụ thể để bắt đầu, thay vì chờ mọi người thay đổi rồi mình mới có thể sống khác.
Cộng đoàn được cảm nhận từ những việc nhỏ đến mức chúng ta thường bỏ qua. Một người bước vào phòng, có ai ngẩng lên chào không? Một người trở về sau chuyến đi dài, có ai nhớ hỏi họ đã ăn chưa? Một người vắng mặt trong bữa cơm, có ai nhận ra trước khi kết luận rằng họ thiếu tinh thần chung? Một người bệnh nhiều ngày, có ai đến thăm mà không làm họ cảm thấy mình đang gây phiền? Có những căn nhà sinh hoạt rất đúng giờ, công việc được sắp xếp chu đáo, nhưng sự quan tâm lại ít đến mức mỗi người phải tự lo lấy cảm xúc của mình. Sự ngăn nắp ấy đáng quý, song một người mệt còn cần biết rằng nếu hôm nay mình không khỏe, nếu hôm nay mình không đủ tươi cười, mình vẫn được đối xử bằng lòng tôn trọng.
Lời chào là một việc nhỏ có thể bị xem nhẹ. Chúng ta chào khách rất niềm nở, chào ân nhân rất chu đáo, chào người đến nhờ giúp đỡ bằng thái độ ân cần. Còn với người ở cùng nhà, vì gặp nhau mỗi ngày, có khi ta đi ngang như thể không có ai. Quen nhau lâu quá có thể làm ta quên rằng mỗi buổi sáng người kia vẫn cần được nhìn nhận. Một lời chào có tên, một cái nhìn, một câu hỏi vừa phải có thể giúp người khác cảm thấy mình thuộc về căn nhà này. Không cần buộc mọi người phải hồ hởi giống nhau. Người ít nói vẫn có thể chào bằng một cử chỉ chân thành. Người đang buồn vẫn có thể nói mình hơi mệt. Điều cần xét là tôi có để sự quen thuộc biến thành thái độ coi sự hiện diện của anh chị em như điều chẳng đáng bận tâm hay không.
Bữa ăn chung cũng nói nhiều về cộng đoàn. Có người chỉ thật sự thở ra được khi ngồi xuống bàn ăn. Sau một ngày phải lo cho người khác, họ mong được ăn một bữa cơm bình thường, nghe vài câu chuyện nhẹ nhàng, không phải gồng mình. Nhưng nếu bàn ăn trở thành nơi tra hỏi, sửa lỗi công khai, bình phẩm người vắng mặt hoặc nói bóng gió về một chuyện chưa được giải quyết, thì người ta sẽ tìm lý do để đến trễ, ăn nhanh hoặc vắng mặt. Rồi cộng đoàn lại buồn vì ít người tham dự. Trước khi kết luận ai đó thiếu tình huynh đệ, có lẽ cần hỏi bữa cơm của chúng ta đang đem lại cảm giác gì. Người ta có được ngồi đó với sự vụng về và mệt mỏi của mình không? Có thể nói một câu chưa tròn ý mà không bị chế giễu không? Có thể im lặng ăn cơm mà không bị cho là chống đối không?
Không phải chuyện khó nào cũng nên tránh trong bữa ăn, nhưng những chuyện liên quan đến lỗi lầm, xung đột hoặc danh dự một người cần được chọn lúc và chọn cách. Một lời sửa dạy trước đông người có thể khiến người nói thấy mình đã làm tròn trách nhiệm, trong khi người nghe chỉ còn nhớ sự nhục nhã. Sau đó, dù nội dung góp ý có đúng, họ cũng khó đón nhận. Có những điều nói riêng mười phút sẽ giải quyết tốt hơn việc đem ra giữa bàn ăn trong một phút. Cộng đoàn trưởng thành biết giữ cho bàn ăn có sự an ổn cần thiết, và dành một chỗ thích hợp cho những trao đổi nghiêm túc. Nhờ vậy, bình an trong bữa cơm có nền tảng, vì các vấn đề vẫn được giải quyết ở nơi chúng có thể được lắng nghe đầy đủ.
Một căn nhà dễ sống còn nhờ những người biết dọn dẹp sau mình. Điều này nghe có vẻ quá tầm thường để đưa vào một bài tĩnh tâm. Nhưng có người trong cộng đoàn đã mệt nhiều năm vì những điều tầm thường ấy. Một chiếc ly dùng xong để lại, một đồ vật mượn rồi không trả đúng chỗ, một căn phòng chung sử dụng xong mà không thu xếp, một phần việc bị bỏ dở vì tin rằng rồi sẽ có người làm. Mỗi lần như vậy có thể chỉ lấy của người khác vài phút. Lặp lại mỗi ngày, nó trở thành một gánh nặng và một thông điệp: sự thuận tiện của tôi đáng ưu tiên hơn thời giờ của anh chị em. Người dọn dẹp có thể không nói, nhưng sự im lặng ấy không có nghĩa họ chẳng mệt. Có khi họ thôi nói vì đã nhắc nhiều lần mà không được coi trọng.
Tinh thần rửa chân đi vào chính chỗ ấy. Tôi rửa chiếc ly của mình vì biết có người sẽ phải rửa nếu tôi bỏ lại. Tôi giữ nhà vệ sinh sạch vì người dùng sau có cùng phẩm giá với tôi. Tôi báo khi làm hỏng một vật chung vì sự thành thật giúp mọi người thu xếp. Tôi hỏi trước khi sử dụng một món đồ thuộc phần việc của người khác. Tôi trả lại chỗ chung trong tình trạng người tiếp theo có thể dùng được. Những cử chỉ này giúp tình bác ái trở thành điều người khác thực sự được hưởng. Có thể không ai nhắc tên tôi vì đã làm chúng. Nhưng anh chị em sẽ bớt phải chịu những bất tiện do tôi để lại. Căn nhà được chăm sóc cũng nhờ từng người chịu làm phần việc nhỏ của mình như vậy.
Giờ giấc là một nơi khác bộc lộ cách ta nhìn người bên cạnh. Ai cũng có lúc đến trễ vì công việc, bệnh tật hay một chuyện ngoài dự tính. Cộng đoàn cần đủ hiểu biết để không biến một lần chậm trễ thành lời kết án. Nhưng thường xuyên trễ hẹn, để cả nhóm chờ mà không báo, nhận một công việc rồi mặc nhiên giao sự chậm trễ của mình cho người khác gánh, là điều cần được sửa. Đằng sau một lịch sinh hoạt chung có thời giờ và sức lực của nhiều người. Khi tôi không giữ lời, người khác phải điều chỉnh, chờ đợi, làm thay hoặc chịu hậu quả. Sự đúng giờ có tình người là biết chuẩn bị, biết báo sớm và biết xin lỗi khi đã làm phiền. Nó giúp anh chị em tin rằng lời tôi nói có thể dựa vào được.
Trong cộng đoàn, lòng tin được bồi đắp rất chậm. Người ta tin một người vì đã nhiều lần thấy người ấy giữ lời, biết giữ kín điều cần giữ, dám nhận sai và không thay đổi cách cư xử chỉ vì có hay không có người chứng kiến. Một người có thể nói rất cảm động về sự hiệp nhất, nhưng nếu thường xuyên kể lại chuyện riêng của người khác, sự cảm động ấy khó đem lại cảm giác an toàn. Một người có thể rất giỏi khuyên bảo, nhưng nếu phản ứng gay gắt mỗi khi được góp ý, anh chị em sẽ dần chỉ nói với họ những gì họ muốn nghe. Khi đó, bề ngoài có vẻ thuận hòa, bên trong nhiều điều thật đã bị giữ lại. Cộng đoàn cần những con người đáng tin hơn là những cuộc nói chuyện đẹp về lòng tin.
Có một nỗi cô đơn đặc biệt: sống giữa nhiều người nhưng không biết có thể nói thật với ai. Người ấy vẫn có bạn làm việc, vẫn có người cùng đọc kinh, vẫn có những cuộc trao đổi về bổn phận. Tuy nhiên, khi lòng có điều khó, họ không tìm được một người có thể nghe mà không vội phán đoán hoặc thuật lại. Có thể chúng ta đã làm điều ấy với anh chị em mà không nhận ra. Một người vừa nói mình đang buồn, ta đã bảo phải cầu nguyện nhiều hơn. Họ chưa kể hết, ta đã giải thích họ buồn vì tự ái. Họ nói mình đuối sức, ta nhắc rằng ai cũng mệt. Những lời ấy có thể chứa một phần đúng, nhưng được nói quá sớm thì người nghe cảm thấy câu chuyện của mình vừa bị đóng lại. Lần sau họ sẽ ít nói hơn.
Lắng nghe đòi một sự kiềm chế. Tôi phải chịu được việc chưa hiểu hết, chưa có câu trả lời, chưa biết ai đúng ai sai. Tôi nghe người kia nói về kinh nghiệm của họ mà không lập tức biến câu chuyện thành dịp kể kinh nghiệm của mình. Tôi có thể hỏi cho rõ, có thể giúp họ nhìn thêm một phía khác, nhưng trước hết cần cho họ biết tôi đã hiểu điều đang làm họ đau. Có khi chỉ một câu: chuyện ấy chắc làm chị buồn lắm; hoặc: anh cứ nói hết đi, tôi đang nghe. Một người được nghe cách tử tế sẽ có thêm sức để nhìn lại chính mình. Khi không phải bảo vệ mình từng câu, họ dễ nhận ra cả phần sai của họ. Lắng nghe như thế phục vụ sự thật, vì nó giúp sự thật được nói ra trong một bầu khí đủ bình tĩnh.
Sự kín đáo có liên hệ trực tiếp đến khả năng lắng nghe. Nếu anh chị em trao cho tôi một tâm sự, tôi đang được tin cậy. Tôi cần hiểu điều nào thuộc phạm vi riêng tư, điều nào họ cho phép chia sẻ, điều nào cần tìm người có trách nhiệm để hỗ trợ. Tôi không có quyền dùng câu chuyện ấy làm chất liệu cho một cuộc trò chuyện vui, một lời nhận xét trong nhóm hoặc một ví dụ khiến người khác đoán ra danh tính. Cũng không nên gắn thêm lời “tôi nói để cùng cầu nguyện” rồi kể những chi tiết không cần thiết. Cầu nguyện cho một người không đòi mọi người phải biết hết nỗi yếu đuối của họ. Có những bí mật phải được tôn trọng; nếu liên quan đến nguy cơ gây hại hay một sự việc cần được xử lý, chúng ta tìm sự trợ giúp đúng nơi và giới hạn việc chia sẻ trong những người cần biết.
Bảo vệ danh dự người vắng mặt là một cách phục vụ cộng đoàn rất cụ thể. Khi câu chuyện bắt đầu chuyển sang bình phẩm một người không có mặt, ta có thể không hùa theo. Nếu chưa biết rõ, ta đừng thêm suy đoán. Nếu có một vấn đề thật, ta có thể nhắc rằng cần nói trực tiếp với người liên quan hoặc đưa đến người có trách nhiệm. Không phải lúc nào cũng dễ lên tiếng; có khi ta sợ mất vui, sợ bị cho là làm ra vẻ đạo đức. Nhưng mỗi lần ta tiếp tục một câu chuyện thiếu công bằng, người đang ngồi nghe cũng nhận được một điều: ở đây, khi tôi vắng mặt, người ta có thể nói về tôi như vậy. Một cuộc nói xấu làm tổn thương người bị nói và làm tất cả những người tham dự khó tin nhau hơn.
Lời châm chọc cũng cần được xét lại. Trong một cộng đoàn thân thiết, tiếng cười là một món quà. Chúng ta cần những giờ phút vui, cần biết cười về sự vụng về của đời sống. Nhưng có tiếng cười khiến mọi người gần nhau, và có tiếng cười bắt một người phải trả giá. Đem ngoại hình, tuổi tác, giọng nói, hoàn cảnh gia đình, sự chậm chạp hay lỗi lầm cũ của một người ra làm trò vui có thể khiến họ cười theo vì không muốn bị xem là khó tính. Đừng vội lấy nụ cười ấy làm bằng chứng rằng họ không đau. Người ấy có được tự do nói mình không thích kiểu đùa đó không? Nếu họ góp ý, tôi có chịu dừng hay lại trách họ nhạy cảm? Khi anh chị em đã nói rằng một lời đùa làm họ tổn thương, tình huynh đệ đòi tôi nghiêm túc nghe và thay đổi.
Một người có quyền nói: xin đừng nói với tôi bằng giọng ấy. Một người có quyền xin được trao đổi riêng thay vì bị sửa lỗi trước đám đông. Một người có quyền cần giờ nghỉ sau công việc, cần không gian riêng để hồi phục, cần sự tôn trọng đối với những đồ dùng và thư từ của mình. Đời sống chung có những giới hạn bảo vệ phẩm giá từng người. Biết tôn trọng những giới hạn ấy giúp tình thân bền hơn. Có khi chúng ta lầm tưởng càng thân càng có thể tự tiện, càng sống lâu với nhau càng không cần giữ ý. Thực ra, sống gần nhau làm ảnh hưởng của mỗi người lớn hơn; vì thế càng cần sự tế nhị. Người ở cùng tôi mỗi ngày có thể bị một thói quen thiếu ý thức của tôi làm mệt nhiều hơn bất cứ ai khác.
Sự khác biệt thường là nơi sự tế nhị ấy được thử thách. Người thích yên lặng sống cùng người thích trò chuyện. Người làm nhanh sống cùng người cẩn thận và chậm. Người lớn tuổi quen một cách tổ chức, người trẻ nhìn thấy những khả năng khác. Nếu mỗi người lấy thói quen của mình làm thước đo duy nhất, căn nhà sẽ đầy những lời trách: sao họ kỳ vậy, sao họ chẳng biết điều, sao chuyện đơn giản thế mà cũng không hiểu. Nhưng điều đơn giản với tôi có thể khó với người khác. Cách tôi diễn tả sự quan tâm có thể không phải cách họ dễ đón nhận. Có người cần được hỏi thăm, có người cần được để yên một lúc rồi mới nói. Có người suy nghĩ bằng cách nói ra, có người phải im lặng mới sắp xếp được ý. Hiểu nhau đòi quan sát, hỏi và điều chỉnh, thay vì gắn một nhãn rồi sống nhiều năm theo nhãn ấy.
Dẫu vậy, tôn trọng khác biệt vẫn đi cùng những thỏa thuận chung. Một người thích trò chuyện không thể vì thế mở âm thanh lớn vào giờ nghỉ. Một người cần yên tĩnh không thể đòi cả cộng đoàn lúc nào cũng theo nhịp riêng của mình. Người nhanh cần tập chờ ở những việc có thể chờ; người chậm cần chuẩn bị để không làm mọi người phải chờ trong những việc có giờ rõ ràng. Chúng ta cùng tìm một cách sống cho phép nhiều người hiện diện mà không ai phải luôn nhường đến kiệt sức. Việc trao đổi cụ thể giúp giải quyết những điều này tốt hơn lời kêu gọi chung chung rằng mọi người hãy yêu thương nhau. Có những căng thẳng giảm đi rõ rệt khi cộng đoàn thống nhất giờ yên lặng, cách dùng phòng chung, lịch làm việc và cách báo khi có thay đổi.
Đời sống chung dễ mệt khi những điều cần nói cứ bị giữ lại. Ban đầu, một người nghĩ chuyện nhỏ thôi, mình nhịn được. Lần sau họ vẫn nhịn, nhưng bắt đầu nhớ. Sau nhiều lần, chuyện hôm nay mang theo cả những chuyện chưa được giải quyết của nhiều tháng trước. Đến lúc phản ứng, lời nói trở nên nặng hơn mức sự việc trước mắt. Người kia ngạc nhiên, cho rằng họ quá đáng. Cả hai đều khó nhìn thấy phần lịch sử đã tích tụ. Vì vậy, nói sớm một điều chưa ổn bằng thái độ tôn trọng là một việc có ích. Tôi có thể nói về sự việc cụ thể, ảnh hưởng của nó và điều tôi mong được điều chỉnh. Cách nói ấy cho người kia cơ hội hiểu và đáp lại, thay vì buộc họ phải chống đỡ một lời kết luận về toàn bộ con người mình.
Chẳng hạn, thay vì nói một người chẳng bao giờ có trách nhiệm, ta có thể chỉ rõ rằng hai lần vừa rồi phần việc chưa hoàn tất và người khác phải làm thay vào cuối ngày. Thay vì kết luận ai đó coi thường cộng đoàn, ta có thể hỏi vì sao gần đây họ thường vắng sinh hoạt chung, rồi nghe câu trả lời trước khi đề nghị điều chỉnh. Những từ như “luôn luôn”, “chẳng bao giờ”, “ai cũng biết” làm cuộc trao đổi nhanh chóng trở nên bế tắc, vì chúng biến một việc cần giải quyết thành sự xét xử con người. Khi góp ý, chúng ta cần sự chính xác và lòng khiêm nhường: điều tôi thấy có thể đúng, nhưng tôi chưa chắc đã biết hết nguyên nhân. Người kia vẫn phải chịu trách nhiệm về hành vi của họ, và họ cũng cần cơ hội để trình bày.
Người nghe góp ý cũng có phần khó của mình. Có những lời nghe chưa xong ta đã muốn phản bác. Một phần vì người góp ý nói thiếu khéo; một phần vì họ đã chạm đúng điều ta không muốn nhận. Nếu chỉ chấp nhận lời sửa dạy khi người nói hoàn toàn dịu dàng, hoàn toàn hiểu mình, ta có thể chờ rất lâu. Sự trưởng thành cho phép ta tách dần điều cần sửa khỏi sự vụng về trong cách người khác nói. Ta có thể nhìn nhận: phần này đúng, tôi sẽ sửa; còn cách nói vừa rồi làm tôi khó đón nhận, xin chúng ta trao đổi lại bình tĩnh hơn. Một cộng đoàn có thể tiến bộ khi người ta vừa chịu trách nhiệm về lỗi của mình, vừa được quyền xin một cách đối thoại tôn trọng.
Lời xin lỗi vì thế rất cần được học cho tử tế. Có những lời xin lỗi làm người bị tổn thương thêm cô đơn: nếu chị nghĩ vậy thì tôi xin lỗi; tôi chỉ đùa mà chị buồn thì thôi; tôi nóng nên nói vậy, có gì đâu. Người nói muốn khép chuyện lại, nhưng chưa thật sự nhìn nhận điều mình đã gây ra. Một lời xin lỗi chân thành gọi đúng hành vi: tôi đã ngắt lời anh trước mặt mọi người; tôi đã kể điều chị tâm sự; tôi đã bỏ phần việc khiến chị phải làm đến tối. Rồi người ấy nhận trách nhiệm, hỏi cách sửa chữa nếu cần và thực hiện sự thay đổi. Không phải mọi điều đều sửa được ngay, nhưng sự thành thật có thể bắt đầu phục hồi lòng tin. Người nghe không phải lập tức trở lại thân thiết như trước để chứng minh mình biết tha thứ. Có những vết thương cần thời gian và những dấu chỉ bền bỉ của sự thay đổi.
Tha thứ trong cộng đoàn cũng cần được hiểu trong sự thật ấy. Chúng ta xin Chúa giải thoát mình khỏi thù hận, khỏi ý muốn làm người kia đau lại. Chúng ta tập nhìn họ như một con người vẫn có thể hoán cải. Đồng thời, những việc sai cần được chấm dứt và hậu quả cần được giải quyết. Nếu một cách cư xử cứ lặp lại, cộng đoàn phải có biện pháp thích hợp. Nếu có người bị làm nhục, bị đe dọa hoặc bị lạm dụng quyền lực, họ cần được bảo vệ và được tiếp cận sự trợ giúp. Không thể đòi người đang chịu tổn thương tiếp tục im lặng để giữ một vẻ bình an bên ngoài. Cử chỉ rửa chân của Đức Giêsu mời người có sức mạnh dùng sức mạnh ấy để phục vụ; vì vậy, nó cũng đòi chúng ta nghiêm túc trước mọi cách cư xử làm người khác mất phẩm giá.
Người có trách nhiệm trong cộng đoàn ảnh hưởng rất nhiều đến việc anh chị em có dám nói thật hay không. Có những căn nhà mọi người im lặng vì tin rằng nói ra cũng chẳng thay đổi gì. Có nơi họ sợ ý kiến khác sẽ bị ghi nhớ như một biểu hiện thiếu vâng phục. Lâu dần, người phụ trách chỉ còn nghe những điều thuận tai, trong khi sự mệt mỏi lan ra ở những cuộc trò chuyện kín. Một người lãnh đạo biết lắng nghe cần tạo cơ hội để anh chị em trình bày khó khăn mà không phải lo bị hạ thấp. Khi được góp ý, người ấy có thể cần thời gian suy nghĩ, nhưng cách phản ứng đầu tiên đã nói rất nhiều. Nếu mọi lời góp ý đều được đáp bằng sự biện minh hoặc quy lỗi, cánh cửa đối thoại sẽ hẹp lại.
Việc phục vụ quyền bính còn có những đòi hỏi cụ thể: phân chia công việc có xét đến sức khỏe và khả năng, không thiên vị người hợp tính, không dùng thông tin riêng tư để gây sức ép, giải thích những quyết định trong mức có thể và nhìn nhận khi mình đã xét đoán thiếu sót. Một cộng đoàn sẽ khó tin lời mời gọi hy sinh nếu sự hy sinh cứ rơi vào cùng một số người, còn người có vị thế lại được miễn trừ. Tinh thần Tin Mừng đòi người đứng đầu cũng sẵn lòng làm những việc nhỏ, nhận phần trách nhiệm và cho phép mình được sửa. Cử chỉ ấy đem lại sức thuyết phục mà nhiều lời nhắc nhở không có được. Anh chị em có thể chấp nhận một quyết định khó hơn khi họ biết người hướng dẫn mình đang thực lòng tìm điều tốt chung và tôn trọng những người phải chịu ảnh hưởng.
Nhưng phần trách nhiệm của mỗi thành viên vẫn còn nguyên. Có khi chúng ta đòi người phụ trách phải tế nhị với mọi người, còn mình lại cho phép bản thân nói bất cứ điều gì khi không hài lòng. Có khi một quyết định chưa được giải thích đã bị diễn dịch theo hướng xấu nhất. Có người nhận việc rồi phản đối bằng cách làm chậm, làm qua loa hoặc kéo người khác vào sự bất mãn của mình. Cách ấy làm cộng đoàn thêm rối và khiến vấn đề thật khó được nhìn thấy. Nếu có khó khăn, chúng ta cần can đảm trình bày. Nếu chưa đồng ý, ta có thể nói rõ lý do và đề nghị được xem xét. Sự trưởng thành trong vâng phục có sự thật, có đối thoại và có trách nhiệm với cách mình hành động trong khi chờ một giải pháp.
Một trong những điều làm cộng đoàn mệt là công việc âm thầm bị coi như tự nhiên phải có. Cơm đến giờ có, nhà nguyện sạch, khăn được giặt, người bệnh có thuốc, khách được đón, các vật dụng được sửa. Chúng ta sử dụng những điều ấy rồi dễ quên có ai đó đã dành thời giờ để chuẩn bị. Người ấy có thể chẳng cần được tuyên dương, nhưng vẫn cần được đối xử như một con người có giới hạn. Nếu họ đau, phải có người thay. Nếu công việc quá nhiều, cần được san sẻ. Nếu một sự việc ngoài dự tính làm họ vất vả hơn, một lời hỏi thăm và một bàn tay giúp thật sự có giá trị. Tình huynh đệ đòi chúng ta nhìn thấy cả những người ít xuất hiện trong những công việc được biết đến bên ngoài.
Cũng cần để ý người luôn sẵn lòng. Trong mỗi cộng đoàn có thể có một người khó nói lời từ chối. Nhờ gì họ cũng nhận, bận vẫn cố, mệt vẫn cười. Vì họ ít than, người khác tưởng họ còn sức. Rồi càng lúc họ càng được giao thêm, cho đến khi kiệt sức hoặc bất ngờ phản ứng gay gắt. Lúc ấy, cộng đoàn ngạc nhiên vì trước giờ họ rất dễ chịu. Có thể họ đã báo bằng những dấu hiệu nhỏ mà không ai nhận ra: ít nói hơn, hay quên, dễ khóc, tránh gặp người khác, không còn niềm vui với những việc từng yêu thích. Chúng ta không vội gán nhãn cho những dấu hiệu ấy, nhưng có thể hỏi thăm và xem lại gánh nặng thực tế. Người phục vụ lâu dài cũng cần được nghỉ, được giúp, được phép có lúc không làm nổi.
Bản thân người ấy cũng cần tập nói sự thật về khả năng của mình. Sẵn lòng phục vụ không có nghĩa phải nhận mọi việc. Nếu tôi nhận quá sức rồi trở nên cay đắng vì nghĩ không ai hiểu, cộng đoàn khó biết phải giúp từ đâu. Tôi có thể trình bày: tuần này tôi đang có những việc này, nếu nhận thêm thì cần đổi phần nào hoặc có người cùng làm. Nói như thế đòi một sự khiêm nhường, vì ta phải chấp nhận mình hữu hạn. Nhưng nhờ đó, công việc chung được sắp xếp thực tế hơn. Có khi điều cộng đoàn cần nơi tôi hôm nay là một lời báo thành thật, để mọi người cùng chịu trách nhiệm, thay vì một sự hy sinh âm thầm rồi biến thành lời trách trong lòng.
Người lớn tuổi trong cộng đoàn cũng cần được nhìn bằng một sự kiên nhẫn có hiểu biết. Khi sức khỏe giảm, công việc thu hẹp, một người có thể bắt đầu lo rằng mình không còn cần thiết. Họ kể chuyện cũ, nhắc tên những nơi đã phục vụ, nhớ những công việc mình từng đảm nhận. Nghe nhiều lần, người trẻ có thể sốt ruột. Nhưng đằng sau câu chuyện ấy đôi khi là một nhu cầu rất người: xin hãy nhớ rằng tôi đã sống, đã yêu, đã cố gắng, và hôm nay tôi vẫn thuộc về nơi này. Chúng ta không cần giả vờ ngạc nhiên trước mọi chuyện đã nghe. Ta có thể dành một thời gian thích hợp để lắng nghe, hỏi thêm về điều có ý nghĩa, mời các ngài góp ý trong những việc phù hợp và gìn giữ những kỷ niệm quý của cộng đoàn. Một người được nhìn nhận sẽ dễ chấp nhận những giới hạn của tuổi già hơn.
Người trẻ cũng cần có chỗ để lớn lên. Họ có thể mang nhiều nhiệt tình và cũng có sự vụng về. Nếu cứ mỗi đề nghị mới đều được đáp bằng chuyện ngày xưa, hoặc mỗi sai sót đều bị so sánh với một thế hệ được kể như hoàn hảo, họ sẽ dần ngại đóng góp. Người trẻ cần học kinh nghiệm của người đi trước; người đi trước cũng cần nghe những khó khăn mới mà mình chưa từng đối diện. Hai phía có thể bắt đầu bằng sự tò mò tử tế: vì sao em nghĩ cách ấy hữu ích, vì sao chị thấy điều này cần giữ? Khi một người được hỏi để hiểu, họ sẽ nói khác với khi bị hỏi để bắt lỗi. Cộng đoàn có thể đón nhận cả ký ức lẫn sức sáng tạo nếu chúng ta đừng dùng tuổi tác làm lý do để coi nhẹ nhau.
Có người trong cộng đoàn ít nói đến mức dễ bị quên. Họ không giành phần, không chen vào cuộc trò chuyện, không thường xin giúp. Ta tưởng họ thích ở một mình nên để họ một mình mãi. Sự tế nhị đòi phân biệt giữa tôn trọng khoảng riêng và bỏ mặc. Có thể hỏi họ có muốn cùng đi dạo, cùng làm một việc, hoặc có điều gì cần cộng đoàn hỗ trợ. Nếu họ chưa muốn chia sẻ, ta vẫn có thể giữ một sự hiện diện đều đặn và không ép buộc. Đừng chỉ quan tâm đến những người dễ đáp lại, nói chuyện vui hoặc làm mình cảm thấy được quý mến. Tình huynh đệ rộng đến cả người không biết diễn tả nhu cầu và người có cách hiện diện khác với sở thích của ta.
Còn người hay nóng nảy thì sao? Sự cảm thông có thể giúp ta nhận ra họ đang quá tải, đau bệnh hoặc mang một nỗi lo lâu ngày. Nhận ra điều ấy giúp chúng ta bớt vội kết án. Tuy nhiên, sự mệt mỏi của một người không cho phép họ liên tục trút lên người khác. Ta có thể hỏi thăm sức khỏe, đề nghị giảm bớt việc, đồng thời nói rõ rằng những lời quát mắng đang làm anh chị em sợ và cần được dừng lại. Người đang khó khăn cần được giúp bằng cả sự nâng đỡ lẫn lời góp ý thật. Nếu cộng đoàn chỉ tránh họ để mọi chuyện yên, thói quen ấy có thể kéo dài. Nếu chỉ trách họ mà không nhìn hoàn cảnh, ta cũng bỏ lỡ cơ hội giúp họ thay đổi từ gốc của vấn đề.
Chúng ta cần tập từ bỏ thói quen đoán động cơ. Một người im lặng, ta cho là kiêu. Một người hỏi lại, ta cho là chống. Một người mệt không tham gia được, ta cho là thiếu tinh thần. Có khi sự thật đơn giản hơn nhiều. Đời sống chung có thể giảm rất nhiều đau đớn nếu ta chịu hỏi trước khi kết luận. Câu hỏi phải thật sự mở, để chấp nhận một câu trả lời khác với suy nghĩ sẵn có của mình. Tôi có thể đã hiểu sai người ấy nhiều năm. Thừa nhận điều đó khiến lòng tự ái khó chịu, nhưng trả lại cho anh chị em một cơ hội được nhìn đúng. Và chính tôi cũng mong người khác dành cho mình cơ hội tương tự khi họ chỉ biết một phần câu chuyện.
Các phương tiện liên lạc hôm nay thêm một nơi cần sự tỉnh thức. Người ta có thể sống cùng một nhà mà chỉ trao đổi qua những dòng tin nhắn ngắn. Một thông báo thiếu ngữ cảnh dễ bị hiểu như lời ra lệnh; một câu trả lời cụt dễ bị nghĩ là bực bội. Có những chuyện nhắn tin rất tiện, nhưng chuyện đang căng thẳng thường cần một cuộc nói chuyện trực tiếp khi cả hai đủ bình tĩnh. Nhóm chung cũng cần được sử dụng có trách nhiệm. Đừng biến nó thành nơi nhắc lỗi có tên người, phê bình bóng gió hoặc gửi những lời đạo đức nhắm vào một thành viên. Trước khi gửi, có thể tự hỏi người nhận sẽ hiểu điều này ra sao, và liệu một cuộc trao đổi riêng có tử tế, rõ ràng hơn không.
Ngay trong giờ giải trí, điện thoại cũng có thể làm chúng ta vắng mặt. Cả nhóm ngồi với nhau nhưng mỗi người chăm chú vào màn hình. Có người đang kể, chẳng biết ai nghe. Sự hiện diện thật cần một chút chủ ý: đặt máy xuống khi người khác nói, nhìn họ, hỏi một câu liên quan, góp vào cuộc trò chuyện. Chúng ta không cần biến giờ chung thành một nghĩa vụ căng thẳng, bắt mọi người phải luôn nói cười. Nhưng nếu đã dành thời gian ở với nhau, hãy thử thật sự ở đó. Có những tình thân lớn lên nhờ những câu chuyện rất bình thường, vì qua chúng người ta dần biết nếp nghĩ, nỗi lo và niềm vui của nhau. Khi một chuyện khó xảy đến, sự hiểu biết ấy giúp cộng đoàn đỡ vội phán đoán.
Tình bạn trong cộng đoàn là điều đáng quý. Mỗi người có thể thân với một vài người hơn, vì hợp tính hoặc có những điều dễ chia sẻ. Sự thân thiết ấy cần được sống rộng lòng để không làm người khác cảm thấy bị loại trừ. Khi một nhóm chỉ nói với nhau, giữ thông tin cho nhau, bênh nhau bất kể đúng sai hoặc làm người ngoài nhóm khó tham gia, cộng đoàn sẽ chia thành những khoảng riêng đầy dè chừng. Ta có thể giữ tình bạn mà vẫn chào hỏi mọi người, làm việc công bằng, không dùng những điều tâm sự làm thành liên minh chống người khác. Tình bạn trưởng thành giúp ta yêu cộng đoàn tốt hơn và có thêm sức để đến với người khó gần mình.
Đôi khi điều làm căn nhà nặng nề là sự so sánh. Ai được giao việc có tiếng hơn, ai được nhắc tên, ai có nhiều người đến thăm, ai được ưu tiên học hành, ai được người phụ trách tin cậy. Những câu hỏi ấy có thể có phần chính đáng nếu liên quan đến sự công bằng. Nhưng nếu để lòng mình sống triền miên trong việc đo vị trí, ta khó vui trước điều tốt nơi anh chị em. Thành công của họ thành một lời đe dọa đối với mình; sự ghi nhận dành cho họ bị cảm nhận như phần bị lấy mất của ta. Trong cầu nguyện, cần dám gọi tên sự ghen tị ấy. Nó thường gắn với một nỗi sợ: nếu người kia được quý, liệu tôi còn đáng quý không? Chúng ta cần trở về với tình yêu Chúa dành cho mình, rồi tập nhìn nhận khả năng của anh chị em bằng một lời chân thành, không kèm một nhận xét làm giảm giá trị của họ.
Một lời cảm ơn có thể làm nhiều điều dịu lại. Cảm ơn vì bữa ăn, vì chuyến xe, vì đã trực thay, vì đã ở bên trong lúc khó khăn. Có người ngại cảm ơn vì nghĩ đó là bổn phận người kia phải làm. Nhưng bổn phận vẫn được thực hiện bởi một con người đã dành sức lực và thời giờ. Lời cảm ơn giúp họ biết sự cố gắng ấy được nhìn thấy. Nó cũng sửa cái nhìn của chính người nói, vì khiến ta thôi coi mọi điều mình được hưởng là đương nhiên. Tuy nhiên, lời cảm ơn cần đi cùng cách đối xử: khi người ấy quá tải, phải giúp san sẻ; khi họ cần nghỉ, phải tôn trọng. Một người không thể sống mãi bằng lời khen trong khi công việc cứ chất lên vai.
Cầu nguyện chung giữ cộng đoàn trở về với Đấng đã quy tụ mình. Chúng ta cùng đứng trước Chúa, cùng nghe một Lời, cùng xin ơn tha thứ. Nhưng sau giờ cầu nguyện, có những bước phải được thực hiện bằng đôi chân của chúng ta. Nếu tôi biết mình đã làm ai buồn, tôi cần đến nói chuyện. Nếu một phần việc bất công, cần được sắp xếp lại. Nếu có xung đột, phải có thời gian lắng nghe. Ta có thể cầu xin Chúa ban sự hiệp nhất, rồi chính mình tiếp tục nuôi những lời nói làm chia rẽ; lúc ấy cần để Lời Chúa chất vấn đời sống. Những giờ kinh sẽ dần đổi cách ta sống khi ta chịu đem vào đó một con người thật và mang ra một quyết định cụ thể.
Trong nhà nguyện, hãy thử nhớ đến người mình đang khó chịu nhất bằng tên của họ. Đừng vội xin Chúa làm họ thay đổi theo ý mình. Hãy xin được thấy họ đầy đủ hơn: những điều họ đang gánh, những cố gắng mình ít để ý, những giới hạn mình đã phán đoán quá nhanh. Cũng xin được nhìn rõ điều sai nếu có, để tìm cách đối diện ngay lành. Cầu nguyện cho một người như vậy có thể làm giọng nói của tôi bớt sắc khi gặp họ, làm tôi chịu nghe thêm một câu, làm tôi bớt kể chuyện về họ với người thứ ba. Đó đã là những hoa trái rất thực. Có những mối quan hệ chưa thể trở nên thân thiết, nhưng vẫn có thể được sống với sự công bằng, tôn trọng và thiện chí.
Sự hiện diện của những người đau yếu thường cho thấy chiều sâu của tình huynh đệ. Khi một người còn làm được nhiều việc, cộng đoàn dễ nhận thấy giá trị của họ. Đến lúc họ cần giúp trong những việc đơn giản, cách chúng ta đối xử sẽ bộc lộ mình đã quý con người họ đến đâu. Chăm sóc một người bệnh có thể vất vả, nhất là kéo dài; người chăm sóc cũng cần được thay phiên và nâng đỡ. Nhưng hãy giữ cho người đau yếu khỏi cảm giác mình là một món nợ cả nhà đang phải chịu. Một tiếng thở dài, một lời trách vô tình, một câu nói về chi phí có thể ở lại rất lâu trong lòng họ. Chúng ta có thể trao đổi thẳng thắn về khả năng chăm sóc và tìm hỗ trợ thích hợp, đồng thời gìn giữ phẩm giá của người cần giúp.
Khi một thành viên qua đời, cộng đoàn thường nhớ rất nhiều điều nhỏ: chỗ ngồi, cách đọc kinh, tiếng bước chân, món ăn người ấy thích. Lúc ấy có thể ta nhận ra những gì trước đây từng làm mình khó chịu lại nằm trong toàn bộ một đời người đáng quý. Sự nhớ thương ấy nhắc chúng ta cư xử với nhau khi còn kịp. Có những lời cảm ơn nên nói lúc người kia còn nghe được. Có một cuộc hòa giải không nên hoãn mãi. Có người đang sống cạnh mình cần một buổi thăm hỏi hôm nay hơn là một lời tiễn biệt rất đẹp sau này. Nghĩ đến sự hữu hạn của đời người có thể giúp ta bớt cố chấp trong những chuyện nhỏ và nghiêm túc hơn với điều thật sự làm anh chị em đau.
Câu hỏi “sau một ngày mệt, tôi có muốn trở về cộng đoàn không?” còn mở sang một câu hỏi khác: khi biết tôi đang có mặt ở nhà, anh chị em có cảm thấy dễ trở về hơn không? Đây có lẽ là điều ta ít hỏi. Ta mong có một người hiền để gặp, một bàn ăn yên để ngồi, một bầu khí không xét nét để nghỉ ngơi. Nhưng tôi đang đem điều gì vào căn nhà? Có phải mỗi lần tôi bước vào, mọi người phải dè chừng vì không biết hôm nay tôi vui hay giận? Có phải người khác phải liên tục đoán ý tôi, tránh những đề tài tôi không thích, nhường những điều tôi muốn, còn tôi vẫn nghĩ mình dễ sống? Chúa có thể dùng chính phản ứng âm thầm của anh chị em để giúp tôi hiểu một phần con người mà mình chưa từng nhìn thấy.
Người khác phải chịu đựng điều gì nơi tôi? Hãy để câu hỏi này ở lại đủ lâu. Có thể họ chịu sự bừa bộn của tôi. Có thể là thói quen nói mãi không cho ai góp lời. Có thể là sự lạnh nhạt mỗi khi tôi không hài lòng. Có thể tôi cứ nhắc chuyện cũ sau khi đã nói là tha thứ. Có thể tôi thường đến với họ khi cần giúp, rồi biến mất khi họ cần mình. Có thể tôi có tài làm cho mọi câu chuyện quay về công lao của bản thân. Cũng có thể tôi quá khắt khe với lỗi của người khác trong khi luôn tìm được lý do cho lỗi mình. Nhìn nhận những điều này có thể đau, nhưng đó là một nỗi đau có ích nếu dẫn đến việc thay đổi, thay vì chỉ khiến ta tự trách rồi tiếp tục sống như cũ.
Không ai nhìn rõ mình hoàn toàn bằng việc tự suy nghĩ. Có khi cần hỏi một người đáng tin: sống với tôi, điều gì làm anh chị em mệt? Hỏi rồi cần nghe mà không vội giải thích. Ta có thể chưa đồng ý hết và cần thời gian suy xét. Nhưng nếu vừa được trả lời đã phản bác từng ý, người kia khó còn dám nói thật. Một lời góp ý trung thực là một sự giúp đỡ quý. Đừng bắt người nói phải trả giá bằng thái độ lạnh nhạt sau đó. Nếu tôi xin được hiểu mình, tôi cũng phải tập chịu được việc hình ảnh mình không đẹp như mình nghĩ. Chính ở chỗ ấy, sự khiêm nhường bắt đầu có hình dáng cụ thể.
Trong tháng này, mỗi ngày có thể chọn một việc nhỏ giúp đời sống chung nhẹ hơn. Việc ấy nên thật đến mức có thể thực hiện ngay trong lịch sống đang có. Tôi rửa phần chén còn lại khi biết người phụ trách bếp đang mệt. Tôi báo giờ về để người ở nhà khỏi chờ. Tôi trả một món đồ đúng chỗ. Tôi dừng câu chuyện bình phẩm. Tôi hỏi người ít nói xem hôm nay họ thế nào, rồi dành thời gian nghe câu trả lời. Tôi xin lỗi sớm về một giọng nói thiếu kiên nhẫn. Tôi tham dự bữa cơm với sự chú ý dành cho người đang ngồi bên cạnh. Sự đều đặn của những việc ấy làm người khác dần nhận thấy: có điều gì đang dễ chịu hơn khi sống với tôi.
Hãy chọn việc theo nhu cầu thật của anh chị em, vì có khi ta thích giúp theo cách làm mình dễ thấy tốt hơn là theo điều người khác cần. Một người đang cần nghỉ có thể chưa cần một cuộc trò chuyện dài. Người đang gánh nhiều việc có thể cần ta làm giúp một phần hơn là nghe ta khuyên họ giữ sức. Người bị hiểu lầm có thể cần ta đính chính điều sai trước đúng những người đã nghe. Người vừa mắc lỗi có thể cần một hướng dẫn rõ ràng và cơ hội làm lại. Để biết phải yêu thế nào, ta cần nhìn, nghe và hỏi. Đức Giêsu đến trước những bàn chân cần được rửa; tình yêu của chúng ta cũng cần tìm đúng điều đang làm anh chị em khó bước.
Cộng đoàn có thể dành một buổi trao đổi về một khó khăn cụ thể đang ảnh hưởng đến nhiều người. Chỉ một việc thôi cũng được: giờ giấc, sự phân công, cách sử dụng không gian chung, lời nói trong bữa ăn, việc thăm hỏi người bệnh. Đừng để buổi gặp trở thành dịp kể hết những bất mãn tích tụ hoặc xét xử một cá nhân. Mỗi người trình bày điều mình thấy, ảnh hưởng mình đang chịu và một đề nghị có thể làm được. Người khác được nghe, được giải thích, được góp ý. Sau đó cùng thống nhất một thay đổi rõ ràng, biết ai thực hiện và khi nào sẽ xem lại. Những cuộc trao đổi như thế cần sự kiên nhẫn. Ban đầu có thể vụng, có người còn sợ nói. Nhưng khi lời nói được tôn trọng và điều đã thống nhất được thực hiện, niềm tin có thể lớn dần.
Cũng cần chấp nhận rằng một thay đổi nhỏ chưa làm mọi cảm xúc lành lại ngay. Người đã bị tổn thương nhiều lần có thể còn dè dặt. Đừng trách họ vì chưa nhanh chóng vui vẻ. Hãy tiếp tục sống đáng tin. Người đang tập sửa thói quen có thể còn sơ suất; cần được nhắc rõ ràng mà không bị coi như mọi cố gắng đều vô ích. Đời sống chung đòi sự bền bỉ ấy. Có khi điều tốt nhất ta làm hôm nay là không lặp lại một lời nặng nề đã quen nói, rồi ngày mai tiếp tục tập. Một cộng đoàn biết nhìn nhận tiến bộ sẽ giúp người ta có can đảm thay đổi. Một cộng đoàn chỉ ghi nhớ lỗi cũ dễ khiến thành viên cảm thấy dù mình cố đến đâu cũng không được nhìn khác.
Có những người vẫn chưa muốn trở về cộng đoàn dù đã cố gắng nhiều. Nếu đó là tình trạng của mình, hãy đem nó đến cầu nguyện và tìm một người có khả năng lắng nghe để cùng phân định. Đừng vội kết án bản thân là thiếu ơn gọi; cũng đừng vội kết luận mọi người đều không thể sống cùng. Cần nhìn rõ điều gì đang xảy ra: công việc quá sức, một xung đột chưa được giải quyết, nỗi buồn riêng, hay cách cư xử gây tổn thương kéo dài trong nhà. Mỗi điều cần một cách đáp lại thích hợp. Có khi cần nghỉ, có khi cần đối thoại có người hỗ trợ, có khi cần thay đổi cách tổ chức. Việc tìm sự giúp đỡ đúng lúc là một hành vi có trách nhiệm với đời mình và với cộng đoàn.
Và nếu hôm nay cộng đoàn đang ấm áp, đừng xem đó là điều tự nhiên sẽ còn mãi. Bầu khí ấy được giữ nhờ những con người cụ thể đã chịu lắng nghe, làm phần việc, nhường nhịn đúng lúc và nói thật khi cần. Hãy cảm ơn họ, học nơi họ và cùng gánh phần trách nhiệm. Một căn nhà có thể trở nên lạnh dần khi mỗi người bắt đầu nghĩ người khác sẽ lo. Nó cũng có thể ấm lên khi một vài người kiên nhẫn thực hiện điều tốt, rồi người khác được khích lệ để tham gia. Chúng ta không điều khiển được lòng mọi người, nhưng có thể chăm sóc phần đời sống đang được trao cho mình. Hôm nay, người ăn cùng bàn với tôi, làm cùng việc với tôi, đi ngang hành lang với tôi là những người tôi được mời gọi yêu bằng một cử chỉ thực tế.
Trở lại bữa ăn trong Tin Mừng, hãy nhìn Đức Giêsu đứng dậy giữa các môn đệ. Người biết những giới hạn của họ mà vẫn đến gần. Người cúi xuống từng người. Cử chỉ ấy để lại cho cộng đoàn một cách sống: ai cũng có bàn chân cần được rửa và ai cũng được mời gọi cầm lấy khăn. Tôi có điều cần được tha thứ, có phần cần người khác nâng đỡ. Anh chị em cũng vậy. Khi nhận ra điều đó, ta sẽ bớt đứng trên cao để xét, bớt đòi người khác phải hoàn hảo mới xứng đáng được mình đối xử tử tế. Ta vẫn góp ý, vẫn phân định, vẫn giải quyết điều sai, nhưng làm với ý thức mình cũng đang sống nhờ lòng thương xót.
Sau một ngày mệt, có lẽ điều ta mong không quá lớn. Một lời chào không gượng. Một bữa cơm được ăn trong yên ổn. Một người nghe mà không biến nỗi buồn của mình thành câu chuyện cho người khác. Một căn phòng chung nơi mình có thể ngồi mà không phải đóng vai luôn mạnh mẽ. Một cộng đoàn nhớ rằng hôm nay mình cũng đã cố gắng. Những điều ấy rất đáng để mỗi người bắt đầu làm cho nhau. Có thể tối nay tôi chưa giải quyết được một mối bất hòa lâu năm, nhưng tôi có thể thay đổi cách đón người vừa trở về. Có thể tôi chưa biết mở lời về tất cả những gì đang vướng, nhưng có thể ngừng một câu châm chọc và để lại cho cuộc gặp một chút bình an.
Ngày tĩnh tâm sẽ kết thúc. Chúng ta lại trở về với lịch làm việc, với những gương mặt quen, với các giới hạn chưa biến mất. Xin cho điều đã cầu nguyện đi cùng mình đến bàn ăn, nhà bếp, phòng làm việc và hành lang. Khi gặp một người đang mệt, xin nhớ rằng họ không cần phải chứng minh mình xứng đáng mới được nhận một sự tử tế. Khi chính mình mệt, xin biết nói một lời thành thật và đón nhận sự giúp đỡ. Và trước khi ngủ, thay vì chỉ đếm những điều cộng đoàn chưa làm cho tôi, hãy thử nhớ xem hôm nay có ai đã bớt một chút gánh nặng nhờ sự hiện diện của tôi hay chưa.
Lạy Chúa Giêsu, con ngồi lại trước Chúa đang cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Con nhìn bàn tay Chúa và nhớ đến những lần con đã ngại làm một việc nhỏ vì nghĩ đó không phải phần mình. Con nhớ những người đã dọn dẹp sau con, đã chờ con, đã nghe con, đã chịu sự khó chịu của con trong những ngày con mệt. Có những điều con nhận quá lâu đến mức quên cảm ơn. Có những nỗi buồn con gây ra mà chưa chịu nhìn nhận. Xin Chúa cho con đủ khiêm nhường để thấy rõ, đủ can đảm để xin lỗi và đủ kiên trì để sửa đổi bằng việc làm.
Lạy Chúa, có những lúc con không muốn trở về cộng đoàn. Con sợ một lời nói, một ánh mắt, một câu chuyện sẽ lại làm mình đau. Con đã có những ngày hiện diện mà lòng đóng kín. Xin Chúa đón nhận sự thật ấy nơi con. Xin dẫn con đến những cuộc trao đổi cần thiết, những người có thể giúp và những quyết định giúp đời sống chung được lành mạnh hơn. Xin giữ lòng con khỏi trở nên cay đắng. Xin cho con biết bảo vệ phẩm giá của mình bằng cách ngay lành, đồng thời không lấy vết thương của mình làm lý do để gây thương tích cho người khác.
Xin Chúa dạy con nhìn anh chị em kỹ hơn. Người ít nói có thể đang cần một người kiên nhẫn hỏi thăm. Người hay cáu có có thể đang cần được giúp bớt một phần việc và được nhắc để thay đổi cách cư xử. Người cao tuổi có thể đang mong được biết rằng đời mình vẫn được trân trọng. Người trẻ có thể đang chờ một cơ hội được tin. Xin cho con biết hỏi trước khi kết luận, nghe trước khi khuyên, và giữ kín những gì đã được trao cho con trong tin tưởng.
Xin Chúa sửa lời nói của con. Khi con vui, đừng để niềm vui của con làm ai xấu hổ. Khi con giận, xin giúp con biết dừng lại trước một lời có thể để lại vết đau lâu dài. Khi cần góp ý, xin cho con nói rõ sự việc và tôn trọng người nghe. Khi được sửa dạy, xin cho con chịu nghe điều đúng, dù lòng tự ái chưa dễ chấp nhận. Xin cho con biết xin lỗi mà không đổ phần trách nhiệm trở lại cho người đã bị mình làm buồn.
Xin Chúa nhớ đến những người đang lặng lẽ giữ cho căn nhà chung được vận hành mỗi ngày. Xin cho cộng đoàn chúng con biết nhìn thấy họ, biết chia sẻ công việc và bảo vệ giờ nghỉ của nhau. Xin gìn giữ người đang đau yếu khỏi cảm giác bị bỏ quên. Xin nâng đỡ người phục vụ đã lâu mà đang cạn sức. Xin ban sự khôn ngoan và lòng khiêm nhường cho những người có trách nhiệm, để mỗi quyết định giúp anh chị em được tôn trọng và được lớn lên trong ơn gọi.
Lạy Chúa, ngày mai khi trở lại những việc thường ngày, xin nhắc con nhớ chiếc khăn Chúa đã thắt lưng. Xin cho con nhận ra việc nhỏ đang cần bàn tay mình, người đang cần một lời đón nhận, cuộc trò chuyện đang cần sự thành thật. Con xin bắt đầu từ điều con có thể làm hôm nay: giữ một lời hẹn, dọn phần con đã dùng, hỏi thăm một người, nhận một lỗi, ngừng một câu chuyện thiếu bác ái. Xin giúp con làm những việc ấy với lòng yêu mến và tiếp tục làm ngay cả khi không ai nhắc đến.
Xin cho căn nhà chung của chúng con có chỗ cho người đang vui và người đang buồn, cho người còn nhiều sức và người đã yếu, cho người đang thành công và người cần được giúp để bắt đầu lại. Khi một anh chị em bước qua cửa sau ngày dài mệt nhọc, xin cho họ gặp nơi chúng con một sự đón nhận thật. Và khi chính con trở về, xin cho con cũng biết mang vào nhà chút bình an con đã nhận từ Chúa. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
THÁNG TÁM — CÙNG MỘT MÁI NHÀ, XIN ĐỪNG ĐỂ LÒNG XA NHAU
Tha thứ, sửa lỗi và xây lại niềm tin.
Lời Chúa: Cl 3,12–15 — Sống nhân hậu, khiêm nhu, nhẫn nại và tha thứ.
Có một nỗi buồn rất khó diễn tả trong đời sống cộng đoàn: vẫn gặp nhau mỗi ngày mà không còn biết phải nói với nhau điều gì. Buổi sáng cùng bước vào nhà nguyện, buổi trưa cùng ngồi quanh bàn ăn, buổi chiều cùng làm việc trong một khuôn viên, nhưng bên trong mỗi người lại có một khoảng cách mà không ai muốn chạm tới. Những công việc vẫn chạy đều. Giờ giấc vẫn được giữ. Các lời chào vẫn đủ phép lịch sự. Người ngoài nhìn vào có thể thấy mọi sự yên ổn. Chỉ người trong cuộc mới biết có những cái tên vừa được nhắc lên đã làm lòng mình nặng xuống, có những bước chân ngoài hành lang khiến mình muốn khép cửa, có những bữa cơm mình ăn nhanh hơn vì không muốn ngồi lâu trước mặt một người.
Sống chung lâu năm, chúng ta có thể biết rất rõ giờ giấc, thói quen và cả những điều vụn vặt của nhau, nhưng lại không biết người đang ngồi bên cạnh đã buồn đến mức nào. Ta biết người ấy thích uống trà nhạt hay trà đậm, thường để đồ ở đâu, hay quên điều gì, nhưng không biết họ đã nhiều lần trở về phòng với cảm giác bị coi thường. Ta biết một chị em thường đến nhà nguyện sớm, nhưng không biết chị đến sớm vì đang tìm một nơi có thể khóc mà không cần giải thích. Ta thấy một anh em ít nói hơn trước, rồi nghĩ rằng người ấy khó tính, khép kín hoặc thiếu tinh thần cộng đoàn. Có khi sự im lặng ấy đã bắt đầu từ một lần họ lấy hết can đảm để nói thật và bị đáp lại bằng một câu khiến họ không còn muốn nói nữa.
Tháng tĩnh tâm này mời chúng ta dừng lại trước những điều ấy. Đừng vội tìm một lời khuyên để trao cho người khác. Đừng lập tức nghĩ đến người mà mình cho là cần học bài học tha thứ. Hãy ngồi xuống trước mặt Chúa với chính đời sống chung của mình: những người đang ở cùng nhà, những điều còn dang dở giữa chúng ta, những cuộc đối thoại đã bị bỏ ngang, những lời xin lỗi chưa thành lời, những lời xin lỗi đã nói nhưng chưa được nối tiếp bằng sự sửa đổi. Có thể cộng đoàn chúng ta vẫn làm được nhiều việc tốt cho người nghèo, cho giáo xứ, cho những ai tìm đến. Nhưng hôm nay, Chúa muốn hỏi về người ở gần nhất: người cùng dùng một nhà bếp, cùng chia một công việc, cùng cầu nguyện trong một nhà nguyện. Người ấy có được sống bình an bên cạnh tôi không?
Câu hỏi ấy có thể khiến ta khó chịu, bởi chúng ta thường đánh giá mình qua ý định. Tôi đâu có muốn làm ai đau. Tôi chỉ nói thẳng. Tôi chỉ muốn công việc tốt hơn. Tôi đã hy sinh rất nhiều cho cộng đoàn. Những điều ấy có thể đúng một phần. Nhưng người khác phải sống với cách ta nói, cách ta quyết định, cách ta nổi giận, cách ta giữ im lặng và cách ta đối xử với họ khi họ không làm theo điều ta mong muốn. Ý định tốt cần được thể hiện bằng những hành vi có thể đón nhận. Một người có thể yêu cộng đoàn thật lòng mà vẫn làm cộng đoàn mệt mỏi vì chưa chịu nhìn nhận những cách cư xử gây tổn thương của mình.
Trong đoạn thư gửi tín hữu Côlôxê, thánh Phaolô đặt lời mời gọi sống nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa, nhẫn nại và tha thứ trong tương quan với Thiên Chúa. Chúng ta được yêu thương, được gọi sống thuộc về Chúa, rồi từ đó học cách đối xử với nhau. Điều này giúp ta trở về đúng chỗ khi xét mình. Tôi không cần bảo vệ hình ảnh một người chưa bao giờ sai để chứng minh mình xứng đáng được yêu. Tôi có thể nhận lỗi vì tình yêu của Chúa vẫn nâng đỡ tôi trong lúc tôi nhìn thấy sự thật về mình. Tôi cũng không được phép coi người anh em chỉ còn là lỗi lầm họ đã phạm, vì người ấy vẫn là một con người đang được Chúa yêu thương và mời gọi hoán cải.
Tuy vậy, đón nhận nhau như những người được Chúa yêu không có nghĩa là làm cho mọi điều trở nên nhẹ tênh. Có những câu nói vô tình trong một ngày mệt mỏi. Có những hiểu lầm vì chưa nghe hết câu chuyện. Có những va chạm do khác biệt tính tình. Nhưng cũng có những nỗi đau bắt nguồn từ việc một người bị hạ thấp nhiều lần, bị đối xử bất công, bị gạt ra ngoài những quyết định liên quan đến mình, bị đem chuyện riêng ra làm đề tài bàn tán, hoặc bị buộc phải chịu đựng một cách cư xử gây sợ hãi. Muốn nói về tha thứ cách nghiêm túc, chúng ta phải đủ thành thật để nhận ra sự khác nhau ấy. Không thể dùng cùng một lời khuyên cho một lần lỡ lời và cho một sự xúc phạm kéo dài.
Khi mọi tổn thương đều bị gọi chung là “chuyện nhỏ”, người chịu đau có thể bị tổn thương thêm. Họ đã khó nhọc để nói ra, rồi lại phải nghe rằng mình nhạy cảm quá, nghĩ nhiều quá, thiếu quảng đại quá. Từ đó, họ bắt đầu nghi ngờ chính mình. Có lẽ tôi không nên buồn. Có lẽ tôi đã làm lớn chuyện. Có lẽ sống đời tu thì phải chịu như thế. Một cộng đoàn muốn chữa lành cần hết sức cẩn trọng trước những kết luận vội vàng này. Có những người thực sự cần học cách bớt tự ái; cũng có những người đã nhịn quá lâu và cần được giúp để nói rõ điều đang xảy ra. Phân định đòi ta lắng nghe, tìm hiểu hoàn cảnh và xem xét các hành vi cụ thể.
Ngay cả khi sự việc chưa đến mức nghiêm trọng, một câu nói vẫn có thể lưu lại rất lâu. Thử hình dung trong một cuộc họp, một thành viên vừa trình bày ý kiến thì có người cười và nói: “Chuyện này em biết gì mà góp ý.” Người nói có thể quên ngay sau đó. Cuộc họp tiếp tục. Mọi người chuyển sang nội dung khác. Nhưng người bị nói như thế có thể không còn đủ bình tĩnh để nghe phần còn lại. Lần họp sau, họ im lặng. Người khác lại trách họ thiếu tinh thần đóng góp. Nếu không ai nhìn lại điều đã xảy ra, cộng đoàn sẽ yêu cầu một người cởi mở trong khi chính cách đối xử của mình đang làm họ khép lại.
Một câu nói còn đau hơn khi được nói bởi người mình tin. Người xa lạ có thể làm ta khó chịu. Người gần gũi có thể chạm vào chỗ ta từng nghĩ là an toàn. Trong đời thánh hiến, anh chị em không chỉ cùng làm việc; chúng ta đã trao cho nhau một phần đáng kể của đời mình. Có những người đã rời gia đình, từ bỏ những dự định riêng và bước vào cộng đoàn với niềm tin rằng ở đây mình sẽ được nâng đỡ để sống ơn gọi. Vì thế, sự lạnh nhạt trong cộng đoàn có thể làm họ đau sâu hơn một va chạm thông thường. Họ không chỉ buồn vì một việc xảy ra; họ còn bối rối vì nơi mình tìm đến để học yêu thương lại trở thành nơi khiến mình dè chừng.
Nhưng nhìn nhận nỗi đau không phải để nuôi một bản cáo trạng trong lòng. Tĩnh tâm là lúc đưa những gì đang có vào ánh sáng của Chúa, để chúng không tiếp tục điều khiển ta trong âm thầm. Có những người đã nhiều năm không nhắc lại một chuyện cũ, nhưng chuyện ấy vẫn hiện diện trong từng phản ứng. Mỗi khi người kia đề nghị điều gì, ta lập tức chống lại. Mỗi khi họ được tín nhiệm, ta khó vui. Mỗi khi họ gặp thất bại, lòng ta nhẹ đi một chút rồi lại thấy xấu hổ vì sự nhẹ nhõm ấy. Ta không cần giả vờ rằng mình chưa từng có những cảm xúc như vậy. Ta cần thành thật thưa với Chúa: “Lạy Chúa, con vẫn còn đau. Và nỗi đau này đang làm cách con nhìn người ấy trở nên khắc nghiệt.”
Có một bước rất cần thiết trước khi nói đến hòa giải: gọi đúng tên điều đã làm mình tổn thương. “Tôi buồn về cộng đoàn” là một lời nói thật, nhưng còn quá rộng để người khác có thể hiểu và giúp. Tôi buồn vì điều gì? Vì ý kiến của tôi không được chọn, hay vì tôi bị chế giễu khi trình bày? Vì tôi nhận một nhiệm vụ khó, hay vì sự phân công thiếu công bằng và không ai chịu giải thích? Vì người khác góp ý về công việc, hay vì họ đem một giới hạn cá nhân ra nói trước nhiều người? Khi phân biệt được như thế, ta có thể bớt đổ lỗi cho toàn bộ cộng đoàn và cũng bớt tự trách mình cách mơ hồ. Một nỗi đau được diễn tả cụ thể có cơ hội được giải quyết cụ thể.
Việc gọi tên ấy cũng giúp chúng ta nhận ra phần mình. Có khi điều tôi cho là bị khước từ chỉ là việc cộng đoàn không thể làm theo điều tôi muốn. Có khi tôi mong được người khác hiểu mà chưa từng nói rõ nhu cầu. Có khi một lời góp ý đúng đã chạm vào lòng tự ái, và tôi biến sự khó chịu của mình thành bằng chứng rằng người góp ý thiếu bác ái. Thành thật với nỗi đau cần đi cùng thành thật với cách mình diễn giải sự việc. Cầu nguyện giúp ta có khoảng lặng để hỏi: điều gì thực sự đã xảy ra, điều gì tôi đang suy đoán, và điều gì trong lịch sử riêng khiến phản ứng của tôi mạnh đến vậy? Ta có thể nhận trách nhiệm về phản ứng của mình mà vẫn nói rõ trách nhiệm của người khác đối với hành vi họ đã làm.
Sự khiêm nhường trong đời sống chung bắt đầu từ khả năng chấp nhận rằng cách nhìn của tôi chưa bao giờ là toàn bộ câu chuyện. Người gây tổn thương cần điều ấy; người bị tổn thương cũng cần. Nhưng khiêm nhường không buộc ai phải phủ nhận điều mình biết rõ đã xảy ra. Nếu một lời xúc phạm đã được nói, sự khiêm nhường không đòi người nghe phải gọi nó là một lời dạy dỗ. Nếu một lời hứa liên tục bị phá vỡ, sự khiêm nhường không bắt người chờ đợi phải coi mọi thất vọng là lỗi của mình. Ta khiêm nhường để tìm sự thật, đón nhận sự thật và sửa mình theo sự thật. Càng nhân danh nhân đức để làm mờ sự thật, chúng ta càng khiến đời sống thiêng liêng trở nên khó tin đối với người đang đau.
Tha thứ đi vào chính hoàn cảnh ấy. Có người muốn tha thứ nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu. Họ cầu nguyện, tham dự Thánh lễ, cố gắng làm việc bình thường, vậy mà chỉ cần gặp người đã làm mình đau là những điều cũ trở lại. Họ lo lắng rằng mình chưa thực sự sống Tin Mừng. Chúng ta cần dịu dàng với những tâm hồn đang chiến đấu như thế. Cảm xúc đau đớn còn trở lại không tự nó chứng minh rằng một người đã từ chối tha thứ. Có những vết thương cần thời gian. Có những ký ức cần được nhìn lại nhiều lần trong một hoàn cảnh an toàn hơn. Ý muốn tha thứ có thể đã nảy sinh, trong khi lòng người vẫn chưa bình an.
Bước đầu của tha thứ đôi khi rất nhỏ: hôm nay tôi không trả đũa bằng một câu chuyện xấu. Hôm nay tôi không cố tình làm người ấy mất mặt. Hôm nay tôi thưa với Chúa rằng tôi chưa cầu chúc được điều tốt đẹp cho họ, nhưng tôi muốn học. Có người chỉ có thể cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin giữ con khỏi làm thêm điều sai trong lúc con đang đau.” Lời nguyện ấy khiêm tốn mà thật. Nó cho thấy một người đang cố gắng để tổn thương mình đã chịu không tiếp tục lan sang người khác. Chúng ta đừng khinh thường những bước nhỏ ấy chỉ vì chúng chưa giống một cuộc hòa giải trọn vẹn.
Tha thứ đòi ta dần từ bỏ ý muốn dùng nỗi đau của mình để trừng phạt người kia. Ta không còn muốn đời họ bị giam mãi trong điều họ đã làm. Nhưng điều đó không xóa nhu cầu sửa chữa hậu quả. Một người có thể tha thứ mà vẫn cần một sự việc được xem xét nghiêm túc. Có thể họ đã thôi mong trả đũa, nhưng vẫn cần giữ khoảng cách thích hợp, cần người hỗ trợ trong cuộc đối thoại hoặc cần thay đổi cách tổ chức công việc để việc gây hại không tiếp diễn. Những điều ấy có thể giúp họ tiếp tục sống trong sự thật và bác ái. Đừng đòi một người chứng minh lòng tha thứ bằng cách trở lại ngay hoàn cảnh đã làm họ tổn thương.
Trong cộng đoàn, đôi khi chúng ta rất mong có một kết thúc nhanh. Một cuộc gặp, một lời xin lỗi, một cái bắt tay, một buổi cầu nguyện chung, rồi ai nấy trở về công việc. Những dấu chỉ ấy có thể đẹp và cần thiết. Tuy nhiên, người bị tổn thương có thể vẫn chưa thấy an tâm. Nếu sau buổi cầu nguyện, cách cư xử cũ tiếp tục; nếu sau lời xin lỗi, những lời bóng gió lại xuất hiện; nếu sau cái bắt tay, họ vẫn bị cô lập trong công việc, thì việc hòa giải còn rất nhiều điều phải làm. Cộng đoàn cần đủ kiên nhẫn để nhìn vào những ngày sau cuộc gặp, chứ không chỉ ghi nhận rằng một nghi thức đã diễn ra tốt đẹp.
Hòa giải cần sự tham gia của những người liên quan. Một người có thể cầu nguyện, tha thứ và chuẩn bị lòng mình, nhưng họ không thể một mình tạo nên sự trung tín của người kia. Họ không thể chịu trách nhiệm thay cho một sự sửa đổi mà người khác chưa muốn thực hiện. Nhận ra giới hạn này giúp người bị tổn thương bớt tự kết án. Đôi khi họ đã được khuyên phải cố gắng thêm mãi, trong khi người gây tổn thương hầu như không được yêu cầu thay đổi. Một tiến trình như thế dễ khiến lòng quảng đại của người yếu thế trở thành nơi cộng đoàn dựa vào để tránh giải quyết phần khó nhất.
Phía người đã làm sai, con đường trở về bắt đầu bằng việc ngừng giải thích quá sớm. Ta thường rất nhanh trong việc kể hoàn cảnh của mình: hôm ấy tôi mệt, tôi chịu nhiều áp lực, tôi có ý tốt, tôi nói vậy vì công việc chung. Hoàn cảnh có thể giúp người khác hiểu hành vi của ta, nhưng không làm hậu quả biến mất. Trước khi mong được thông cảm, hãy để người kia được nghe rằng ta đã hiểu điều mình làm. Có những lời xin lỗi thất bại vì toàn bộ thời gian được dùng để bảo vệ người xin lỗi. Người bị đau rời cuộc gặp với cảm giác họ lại phải chăm sóc sự khó chịu của người đã làm mình tổn thương.
Một lời xin lỗi rõ ràng có thể bắt đầu rất đơn sơ: “Trong cuộc họp hôm ấy, tôi đã ngắt lời và nói câu làm anh chị mất mặt trước mọi người. Tôi đã cư xử thiếu tôn trọng. Tôi xin lỗi.” Khi đã làm sai, ta có thể nói như vậy mà không thêm một chữ “nhưng” ngay phía sau. Hãy để lời nhận lỗi được đứng vững. Đừng vội đòi người kia nhìn thấy thiện chí của mình trước khi chính ta nhìn nhận điều đã xảy ra. Có những người chỉ cần nghe một lời nhận trách nhiệm rõ ràng như thế đã có thể thở nhẹ hơn, vì cuối cùng điều họ trải qua cũng được công nhận.
Câu “nếu anh chị cảm thấy buồn thì tôi xin lỗi” có thể không chạm được vào điều cần sửa. Người nghe vẫn chưa biết ta có nhận mình đã làm sai hay chỉ tiếc rằng họ phản ứng như vậy. Khi biết hành vi của mình không đúng, hãy nói rõ hành vi ấy. Nếu chưa hiểu đầy đủ, hãy hỏi và lắng nghe: “Tôi muốn hiểu việc tôi làm đã ảnh hưởng đến anh chị thế nào.” Hỏi để hiểu đòi ta chấp nhận có thể nghe những điều không dễ chịu. Ta có thể phát hiện rằng một câu mình tưởng là nhẹ đã nối vào nhiều lần tương tự; rằng một sự im lặng mình cho là vô hại đã khiến người khác phải chịu một lời quy lỗi suốt thời gian dài.
Xin lỗi cũng bao gồm việc chấp nhận người kia chưa thể bình thường ngay. Có những người vừa xin lỗi xong đã bực vì đối phương còn dè dặt. Họ nghĩ mình đã hạ mình đủ rồi, tại sao người kia vẫn chưa vui vẻ? Nhưng lời xin lỗi không trao cho ta quyền quyết định thời điểm lòng người khác hồi phục. Nếu đã làm họ mất niềm tin, ta cần để họ có thời gian quan sát. Nếu đã thất hứa nhiều lần, ta cần hiểu vì sao lời hứa mới chưa đủ thuyết phục. Sự khiêm nhường được thử thách chính ở đây: tôi có sẵn sàng sửa đổi ngay cả khi chưa nhận được sự đón nhận mà tôi mong muốn không?
Có những hậu quả cần được sửa ở đúng nơi chúng đã xảy ra. Nếu tôi nói sai về một người trước nhóm, việc nhận lỗi riêng với họ chưa giải quyết được hình ảnh sai đang còn trong nhóm. Nếu tôi đã làm cộng đoàn hiểu rằng một thành viên thiếu trách nhiệm, trong khi thực tế họ không có đủ thông tin hoặc chưa được giao việc rõ ràng, tôi cần nói lại sự thật. Sửa chữa có thể khiến tôi mất mặt. Nhưng người kia đã mang một sự mất mặt không thuộc về họ. Tôi không thể đòi giữ nguyên uy tín của mình bằng cách để họ tiếp tục chịu thiệt.
Điều ấy đòi can đảm, nhất là nơi người có trách nhiệm. Một vị phụ trách có thể sợ rằng thừa nhận sai lầm sẽ làm anh chị em bớt kính trọng. Thực tế, sự cứng cỏi bảo vệ một quyết định sai thường gây hao mòn niềm tin hơn một lời nhận lỗi thành thật. Người trong cộng đoàn không mong người có trách nhiệm biết hết, làm đúng hết và không bao giờ lầm. Họ cần thấy rằng khi một sự việc được trình bày rõ, người ấy chịu nghe; khi có sai sót, người ấy chịu sửa; khi ai đó bị thiệt vì quyết định của mình, người ấy không tránh né. Một cộng đoàn có thể chịu được nhiều khó khăn nếu còn tin rằng sự thật có chỗ để được nói ra.
Người giữ trách nhiệm cần xét mình về bầu khí do mình tạo nên. Khi tôi bước vào phòng, anh chị em có trở nên căng thẳng vì sợ một cơn giận bất ngờ không? Khi ai đó báo một sai sót, tôi có làm họ hối hận vì đã thành thật không? Tôi có lắng nghe những người nói khác ý mình với cùng sự tôn trọng dành cho người thường đồng thuận không? Tôi có dùng sự gần gũi và tín nhiệm để thưởng cho sự thuận theo, rồi lạnh nhạt với người góp ý không? Những câu hỏi này chạm vào đời sống rất cụ thể. Chúng cần được mang vào cầu nguyện, vì quyền hạn trong cộng đoàn luôn đi kèm trách nhiệm về con người đang sống dưới ảnh hưởng của mình.
Anh chị em trong cộng đoàn cũng cần nhìn lại cách mình đối xử với người có trách nhiệm. Có khi chúng ta đòi người ấy phải hiểu mọi nhu cầu nhưng lại không nói thật. Chúng ta đồng ý trong cuộc họp rồi phàn nàn ở nơi khác, im lặng trước một quyết định rồi trách rằng mình không được hỏi ý kiến, mong được lắng nghe nhưng không sẵn lòng nghe những khó khăn của người đang phải quyết định. Sống hiệp thông cần sự trưởng thành ở mọi phía. Tôi có thể không đồng ý mà vẫn trình bày rõ ràng, có thể góp ý mà vẫn tôn trọng, có thể yêu cầu một điều được xem xét lại mà không hạ nhục người đang chịu trách nhiệm.
Việc sửa lỗi vì thế là một phần không thể thiếu của tình huynh đệ. Một cộng đoàn không bao giờ góp ý cho nhau có thể dần trở thành nơi mọi người giữ phép lịch sự để tránh phiền phức. Người sai tiếp tục sai, người đau tiếp tục đau, người chứng kiến học cách quay đi. Bác ái cần đủ chân thành để nói một điều khó khi điều ấy giúp người anh em sống tốt hơn và giúp cộng đoàn bớt tổn thương. Nhưng nói điều khó đòi ta chuẩn bị lòng mình. Nếu ta đang muốn người kia phải xấu hổ, cuộc góp ý rất dễ trở thành một lần trả đũa được khoác lên bằng ngôn ngữ đạo đức.
Trước khi sửa lỗi, hãy tự hỏi tôi muốn điều gì sau cuộc nói chuyện này. Tôi mong người ấy hiểu và có thể thay đổi, hay chỉ muốn trút cho hết những bực tức đã dồn lại? Tôi có sẵn sàng nghe phần họ trình bày không? Tôi có phân biệt hành vi cần sửa với toàn bộ con người của họ không? Một câu như “trong ba lần phân công gần đây, anh chị không báo khi không thể hoàn thành, nên người khác không kịp sắp xếp” mở ra khả năng đối thoại rõ hơn câu “anh chị lúc nào cũng vô trách nhiệm”. Hành vi cụ thể có thể được kiểm chứng và sửa. Một lời quy kết toàn bộ con người thường chỉ khiến người nghe phải tự vệ.
Thời điểm và cách thức cũng ảnh hưởng rất nhiều. Góp ý giữa lúc người kia đang bối rối trước nhiều người có thể khiến họ chỉ còn nhớ sự xấu hổ. Một lời nói riêng, bình tĩnh, đủ thời gian có thể giúp họ nghe được điều vốn rất khó nghe. Tuy nhiên, sự kín đáo không được dùng để che giấu những hành vi cần người có trách nhiệm can thiệp. Khi có chênh lệch quyền hạn, khi một người sợ bị trả đũa, hoặc khi nhiều lần đối thoại riêng không đem lại thay đổi, việc có người hỗ trợ phù hợp là điều cần thiết. Sự tế nhị phục vụ phẩm giá; nó không buộc người đang bị tổn thương phải ở một mình với vấn đề.
Người đón nhận sửa lỗi cũng có một cuộc chiến riêng. Khi nghe nhắc đến sai lầm, ta có thể lập tức nhớ ra mười điều không tốt của người đang góp ý. Ta muốn phản bác, tìm chỗ họ diễn đạt chưa chính xác, nhắc lại một lần họ cũng làm như thế. Những phản ứng ấy rất quen thuộc. Nhưng nếu cứ đi theo chúng, ta sẽ không còn nghe điều có thể giúp mình thay đổi. Ta có thể xin thêm thời gian để suy nghĩ. Có thể nói: “Điều này khó nghe đối với tôi, nhưng tôi sẽ nhìn lại.” Không phải mọi góp ý đều đúng hoàn toàn. Dẫu vậy, người góp ý diễn đạt chưa khéo vẫn có thể đang nói đến một điều có thật mà tôi cần đối diện.
Một dấu hiệu trưởng thành là dần bớt cần phải thắng trong mọi cuộc đối thoại. Có những lần tôi bảo vệ được lý lẽ của mình nhưng làm người anh em không còn muốn đến gần. Có những lần tôi chứng minh rằng câu mình nói không sai từng chữ, nhưng vẫn chưa chịu nhìn nhận cách nói đã làm người khác bị hạ thấp. Có những lần tôi nhận mình có một phần lỗi, rồi dành phần còn lại của cuộc gặp để chứng minh lỗi của họ lớn hơn. Cách tính toán ấy khiến việc hòa giải trở nên kiệt sức. Trước mặt Chúa, tôi có thể nhận phần trách nhiệm của tôi một cách trọn vẹn, ngay cả khi phần trách nhiệm của người khác còn phải được làm rõ.
Lời mời gọi nhân hậu trong thư Côlôxê đi vào những chỗ rất đời thường này. Nhân hậu giúp tôi nhớ người trước mặt có một nội tâm mà tôi không nhìn thấy hết. Họ có thể đang mang nỗi lo cho gia đình, một sự mệt mỏi kéo dài, cảm giác thất bại trong sứ vụ hoặc một nỗi cô đơn chưa nói được với ai. Nhớ như thế không làm điều sai trở thành đúng, nhưng giúp tôi bớt tàn nhẫn khi đối diện điều sai. Tôi vẫn có thể yêu cầu một công việc được hoàn thành, một lời nói được đính chính, một cách cư xử được thay đổi. Tôi làm điều ấy với mong muốn người anh em có thể đứng dậy, chứ không phải để họ phải cúi đầu trước tôi.
Sự hiền hòa đặc biệt cần thiết trong những gia đình tu trì có người khác nhau về tuổi tác, cách được đào tạo và lối diễn đạt. Người lớn tuổi có thể thấy người trẻ quá vội, người trẻ có thể thấy người lớn quá cứng. Người quen giữ im lặng nghĩ người hay trình bày là thích chống đối. Người quen trao đổi trực tiếp lại cho rằng người ít nói đang giấu điều gì. Nếu chúng ta chỉ đọc nhau qua thói quen của mình, nhiều khác biệt sẽ bị biến thành lỗi luân lý. Có những người cần được sửa tính nóng; cũng có những người chỉ cần được hiểu rằng họ diễn đạt vụng về. Đời sống chung cần sự phân định đủ kỹ để không làm nặng thêm những gì vốn có thể giải quyết bằng một cuộc trò chuyện tử tế.
Nhẫn nại giúp chúng ta chịu được tốc độ trưởng thành không đều của nhau. Một người nhận ra lỗi hôm nay chưa chắc ngày mai đã hoàn toàn khác. Thói quen lâu năm thường cần được sửa qua nhiều lần tỉnh thức, thực hành và được nhắc nhở. Nhưng nhẫn nại cần đi cùng sự trung thực về tiến bộ. Nếu sau mỗi lần xin lỗi, người ấy bắt đầu chịu dừng lại, biết hỏi lại, biết nhận trách nhiệm sớm hơn, chúng ta có thể ghi nhận những thay đổi ấy dù còn vụng về. Nếu hành vi gây hại lặp lại mà người ấy luôn phủ nhận, quy lỗi hoặc đòi được bỏ qua, cộng đoàn cần nhìn thẳng rằng lời hứa chưa đi vào đời sống. Kiên nhẫn không làm cho việc theo dõi và yêu cầu sửa đổi trở nên thừa.
Niềm tin thường trở lại qua những việc nhỏ đến mức không ai vỗ tay. Người từng đến trễ bắt đầu có mặt đúng giờ. Người thường hứa rồi quên bắt đầu ghi lại điều đã nhận và báo trước khi không làm kịp. Người từng nóng giận biết dừng cuộc nói chuyện khi thấy mình mất bình tĩnh, rồi trở lại để tiếp tục trong sự tôn trọng. Người từng kể chuyện riêng của người khác biết giữ kín điều được trao. Người từng quyết định một mình bắt đầu hỏi ý kiến những người có liên quan. Những thay đổi như vậy có thể không đem lại cảm xúc mạnh, nhưng chúng giúp người chung quanh bớt phải đề phòng.
Một người xây lại niềm tin cần chấp nhận sự trung tín diễn ra cả khi không ai ghi nhận. Nếu tôi chỉ sửa đổi để được khen là đã sửa, tôi sẽ dễ nản khi người kia còn dè dặt. Nếu tôi thật sự hiểu điều mình làm đã gây hậu quả, tôi sẽ tiếp tục vì biết đó là điều phải làm. Có thể mất một thời gian dài người kia mới dám nói thật trước mặt tôi. Có thể họ vẫn cần người khác có mặt trong cuộc trao đổi. Tôi không nên coi mọi sự thận trọng là một lời xúc phạm đến thiện chí hiện tại của mình. Chính quá khứ đã tạo nên sự thận trọng ấy; phần việc của tôi là làm cho hiện tại ngày càng đáng tin hơn.
Phía cộng đoàn, chúng ta cần tránh biến một người thành người mang lỗi suốt đời. Có những thành viên đã nhận trách nhiệm, đã đền bù điều có thể đền bù, đã thay đổi bằng những hành vi có thể thấy, nhưng mỗi khi tên họ được nhắc, người khác vẫn chỉ nhớ câu chuyện cũ. Họ được bảo phải hoán cải, rồi lại không được phép có một đời sống sau hoán cải. Điều đó làm cộng đoàn trở nên khắc nghiệt. Nếu chúng ta tin ân sủng có thể biến đổi con người, niềm tin ấy phải được diễn tả bằng một con đường phục hồi thích hợp, có trách nhiệm và có sự phân định.
Phục hồi không nhất thiết có nghĩa là trao lại ngay mọi nhiệm vụ cũ. Có những trách nhiệm cần thời gian, sự lượng giá hoặc những điều kiện cụ thể. Có những vị trí không còn phù hợp sau những gì đã xảy ra. Nhưng dù việc phân công được quyết định thế nào, phẩm giá con người vẫn phải được tôn trọng. Ta có thể thận trọng mà không khinh miệt, có thể duy trì giới hạn mà không bêu xấu, có thể chưa trao một nhiệm vụ mà vẫn giúp người ấy sống có ý nghĩa trong cộng đoàn. Một người đang sửa mình cần biết họ còn có thể làm điều tốt và được nhìn nhận cách công bằng.
Dẫu vậy, cộng đoàn không nên dùng việc phục hồi người sai để ép người đã bị tổn thương phải gần gũi họ. Người bị đau không có trách nhiệm trở thành dấu hiệu chứng minh rằng mọi chuyện đã tốt đẹp. Họ có thể cần một khoảng cách lâu hơn. Họ có thể vui vì người kia thay đổi mà vẫn chưa sẵn sàng cộng tác trực tiếp. Tôn trọng điều ấy giúp việc phục hồi bền vững hơn. Lòng thương xót dành cho người gây lỗi và sự quan tâm dành cho người chịu hậu quả phải được thực hiện cùng nhau. Khi một phía luôn phải hy sinh để phía kia thấy dễ chịu, sự bất công rất dễ tiếp diễn dưới một tên gọi mới.
Có một điều âm thầm phá hỏng nhiều nỗ lực hòa giải: lời nói sau lưng. Một thành viên vừa bắt đầu thay đổi, nhưng những câu chuyện cũ vẫn được truyền từ bàn ăn sang phòng làm việc. Một cuộc đối thoại vừa diễn ra, nhưng người nghe chưa kịp sống một ngày bình an thì đã biết nội dung riêng tư bị kể lại. Có người nói mình chỉ chia sẻ để xin ý kiến, nhưng câu chuyện đi qua quá nhiều người chẳng có khả năng giúp giải quyết. Cộng đoàn dần đầy những thông tin mà không ai chịu trách nhiệm về tính chính xác, trong khi người bị nhắc tên không biết phải nói với ai.
Trước khi kể chuyện về một người vắng mặt, chúng ta có thể dừng lại và hỏi: người tôi sắp nói có cần biết điều này để giúp giải quyết không? Tôi đang tìm sự trợ giúp hay tìm người đứng về phía mình? Tôi có kể đủ những điều khiến câu chuyện công bằng hơn, hay chỉ chọn phần làm mình có lý? Việc tìm người đáng tin để xin hướng dẫn là cần thiết. Nhưng kể đi kể lại với nhiều người có thể làm vết thương được nuôi thêm, làm danh dự người khác bị tổn hại và khiến một vấn đề riêng trở thành chia rẽ của cả cộng đoàn. Giữ miệng trong lúc bức xúc là một việc khổ chế rất cụ thể.
Cũng cần xét mình về những cuộc kết nhóm vì cùng không thích một người. Ban đầu chỉ là vài lời than phiền. Sau đó, mỗi hành vi của người ấy đều được giải thích theo hướng xấu. Họ nói thì bị coi là muốn gây chú ý; họ im thì bị coi là chống đối; họ làm tốt thì bị nghi đang lấy lòng; họ làm chưa tốt thì trở thành bằng chứng cho mọi nhận xét trước đó. Một khi đã nhìn một người bằng cách ấy, cộng đoàn hầu như không còn cho họ cơ hội được hiểu đúng. Có thể chính chúng ta từng chịu nỗi đau bị gán nhãn. Hãy nhớ nỗi đau ấy trước khi cùng nhau gán nhãn cho người khác.
Người đứng ngoài một mâu thuẫn cũng có trách nhiệm. Im lặng có thể là sự thận trọng khi chưa biết đủ, nhưng có lúc im lặng khiến một người phải chịu đựng đơn độc. Ta không cần vội làm quan tòa. Ta có thể bắt đầu bằng một câu hỏi riêng, một lời xác nhận rằng đã nghe thấy điều không thích hợp, hoặc một sự hỗ trợ để vấn đề được trình bày đúng nơi. Khi thấy ai đó bị cắt lời nhiều lần, ta có thể giúp họ nói hết. Khi nghe một lời quy kết thiếu căn cứ, ta có thể xin mọi người dừng lại để kiểm chứng. Những việc nhỏ ấy góp phần làm cho cộng đoàn trở nên nơi người yếu thế hơn vẫn có chỗ đứng.
Trong nhiều hoàn cảnh, người bị tổn thương đau thêm vì không ai thừa nhận điều đã xảy ra. Họ không mong cả cộng đoàn đứng lên chống một người. Họ chỉ mong có ai đó nói: “Tôi đã nghe câu ấy. Anh chị có lý do để buồn. Chúng ta cần tìm cách giải quyết.” Được nhìn nhận như vậy có thể giúp họ bớt cô độc. Chúng ta nên cẩn trọng với thói quen giữ yên bằng cách yêu cầu người đang đau phải bớt lên tiếng. Sự yên lặng có thể thuận tiện cho những người không trực tiếp chịu hậu quả, nhưng không vì thế mà trở thành bình an.
Bình an của Đức Kitô cần được đón nhận trong những tương quan thật. Bình an ấy cho phép chúng ta thành thật mà vẫn tìm điều tốt cho nhau. Nó không lệ thuộc hoàn toàn vào việc mọi người có cùng ý kiến hay không. Một cộng đoàn có thể có những cuộc trao đổi khó, có những khác biệt chưa giải quyết hết, nhưng vẫn bình an khi thành viên tin rằng họ được tôn trọng và không bị làm nhục vì đã nói thật. Ngược lại, một cộng đoàn ít tranh luận vẫn có thể đầy lo sợ, nếu ai cũng biết có những điều không được phép nhắc đến.
Muốn xây lại sự tin cậy, đời sống cộng đoàn cần những cách thực hành rõ ràng. Công việc nên được phân chia để mọi người hiểu trách nhiệm của mình. Những thay đổi có ảnh hưởng đến người khác cần được thông báo trong thời gian thích hợp. Người nhận góp ý cần biết họ có cơ hội trình bày. Những thông tin riêng cần được giữ đúng phạm vi. Khi một xung đột vượt quá khả năng giải quyết trực tiếp, phải có nơi để xin trợ giúp. Những điều ấy có vẻ thuộc về tổ chức, nhưng chúng giúp giảm nhiều nỗi đau vốn không cần phải xảy ra. Bác ái cũng được thể hiện bằng việc sắp xếp đời sống sao cho người ta bớt bị bỏ quên, bị quy lỗi oan hoặc bị đặt trước việc đã rồi.
Đời sống cầu nguyện vẫn giữ một chỗ không ai thay thế được. Có những điều ta hiểu bằng lý trí nhưng lòng chưa theo kịp. Ta biết phải ngừng kể chuyện xấu mà vẫn muốn kể. Ta biết người kia đã sửa mà vẫn khó nhìn họ công bằng. Ta biết mình cần xin lỗi mà chỉ nghĩ đến việc ấy đã thấy ngượng và chống cưỡng. Hãy đem chính sự chống cưỡng ấy vào cầu nguyện. Đừng đợi đến khi lòng đẹp đẽ mới đến với Chúa. Có thể hôm nay lời cầu nguyện thật nhất chỉ là: “Lạy Chúa, con chưa muốn thay đổi như điều con biết là phải. Xin giúp con bắt đầu muốn.”
Ở lại trước Thánh Thể, chúng ta có thể để những khuôn mặt cụ thể hiện diện trong lòng mình. Không cần tưởng tượng một cuộc đối thoại hoàn hảo. Chỉ cần nhìn nhận: người ấy cũng đang có một đời sống trước mặt Chúa; tôi không biết hết những gì Chúa đang làm nơi họ. Có khi điều cần xin đầu tiên là được nhìn họ bớt khắc nghiệt. Có khi điều cần xin là lòng can đảm để ngừng tránh né một cuộc gặp. Có khi điều cần xin lại là sự sáng suốt để tìm trợ giúp, vì tôi đã cố giải quyết một mình quá lâu. Cầu nguyện giúp ta bước tới điều đúng, dù bước ấy không giống điều người khác mong đợi.
Đừng dùng cầu nguyện để trì hoãn trách nhiệm. Nếu tôi biết mình đã nói sai, tôi cần đính chính. Nếu tôi đã giữ một điều không thuộc về mình, tôi cần trả lại. Nếu tôi đã hứa một việc rồi bỏ mặc người khác gánh hậu quả, tôi cần sửa phần việc còn sửa được. Tôi có thể cầu nguyện rất sốt sắng cho sự hiệp nhất mà vẫn đang tránh người mình cần xin lỗi. Tôi có thể xin Chúa ban bình an cho cộng đoàn trong khi tiếp tục đem chuyện riêng của một người ra kể. Lời cầu nguyện trở nên chân thật hơn khi nó đi cùng một hành vi cụ thể sau khi tôi rời nhà nguyện.
Thánh lễ cũng đặt chúng ta trước một câu hỏi không dễ tránh: tôi đang đến gần Chúa với tâm tình nào đối với người anh em? Chúng ta cùng được nuôi dưỡng bởi một tình yêu đã trao hiến đến cùng. Điều ấy mời mỗi người bớt khép kín trong quyền lợi và lý lẽ của mình. Nhưng tham dự Thánh lễ không làm chúng ta tự động trở thành người biết hòa giải. Ta cần để điều đã lãnh nhận chạm đến cách mình ngồi xuống nghe một lời phàn nàn, cách mình trả lời một người vừa làm sai, cách mình đối xử với người chẳng đem lại lợi ích nào cho công việc của mình. Sự hiệp thông được vun đắp trong những lúc ấy.
Bí tích Hòa giải giúp ta tập nói bằng ngôi thứ nhất. Con đã nói điều không đúng. Con đã nuôi ác cảm. Con đã làm ngơ khi người khác bị xúc phạm. Con đã xin lỗi cho xong chuyện mà chưa sửa. Khi xét mình, ta rất dễ dành phần lớn thời gian để trình bày những gì người khác đã làm khiến mình phản ứng như vậy. Hoàn cảnh có thể cần được nói để được hướng dẫn, nhưng ta vẫn cần nhìn phần trách nhiệm của mình. Nhận ra phần ấy không làm ta chịu mọi lỗi. Nó giúp ta tìm thấy nơi mình có thể bắt đầu hoán cải ngay, thay vì chờ người khác thay đổi trước.
Có những người trong cộng đoàn đã xin lỗi nhưng lại không chịu tha thứ cho chính mình. Họ sống trong nỗi xấu hổ kéo dài, tin rằng mình đã làm hỏng mọi sự và không còn xứng đáng được tín nhiệm. Sự hối hận có thể dẫn đến sửa đổi, nhưng việc tự kết án không ngừng có thể làm họ mất khả năng sống điều tốt đang ở trước mặt. Nếu đã nhận trách nhiệm, đang sửa chữa và chấp nhận những điều kiện cần thiết, họ cũng cần học cách đón nhận lòng thương xót của Chúa. Họ không thể thay đổi quá khứ, nhưng có thể sống ngày hôm nay trung thực hơn. Người hướng dẫn và cộng đoàn có thể giúp họ giữ cả hai điều: không lảng tránh hậu quả và không tuyệt vọng về chính mình.
Với người đang mang nỗi đau, chúng ta hãy nói bằng sự kính trọng: anh chị không cần biến ngày tĩnh tâm thành một cuộc ép buộc nội tâm. Hãy đến với Chúa trong tình trạng hiện có. Nếu chưa thể nói lời tha thứ, có thể xin được muốn tha thứ. Nếu chưa thể đối thoại trực tiếp, có thể tìm một người đáng tin để giúp chuẩn bị. Nếu sự việc vẫn đang tiếp diễn, hãy tìm cách làm cho nó được giải quyết, thay vì chỉ cố chịu thêm. Tình yêu đối với cộng đoàn cũng bao gồm lòng can đảm mong cho cộng đoàn được lành mạnh hơn. Việc nói lên một điều đau đớn với đúng người, đúng mục đích và cách thức phù hợp có thể là một sự phục vụ.
Với người đã làm người khác đau, ngày tĩnh tâm này cũng không nhằm đẩy anh chị vào chỗ tuyệt vọng. Chúa đang cho ta cơ hội sống thật và sửa đổi. Đừng bỏ lỡ cơ hội ấy bằng việc chỉ lo bảo vệ danh dự. Có thể một lời xin lỗi rõ ràng sẽ làm ta bối rối trong vài phút, nhưng sự tránh né có thể giữ người khác trong nỗi đau nhiều tháng, nhiều năm. Hãy nhận phần mình. Hãy hỏi điều gì cần được sửa. Hãy chấp nhận được hướng dẫn. Hãy để người khác nhìn thấy sự thay đổi bằng đời sống thường ngày. Một người dám chịu trách nhiệm đang làm cho cộng đoàn có thêm lý do để tin vào sức mạnh của hoán cải.
Với những ai đang mệt vì cố giữ cộng đoàn lại với nhau, xin đừng nghĩ mình phải giải quyết mọi sự một mình. Có thể anh chị là người phụ trách, người lớn tuổi, người thường được hai bên tìm đến. Trách nhiệm ấy dễ khiến ta kiệt sức và muốn kết thúc vấn đề thật nhanh. Nhưng một tiến trình hòa giải cần thời gian, những giới hạn rõ ràng và đôi khi sự hỗ trợ vượt quá khả năng của mình. Biết xin giúp đỡ là một phần của trách nhiệm. Hãy tránh hứa điều mình không thể làm, giữ những gì cần được giữ kín và nói rõ những bước tiếp theo để người liên quan không phải chờ trong mơ hồ.
Trong tháng này, cộng đoàn có thể bắt đầu từ những việc rất vừa sức. Có người cần ngừng một câu đùa đã nhiều lần làm người khác khó chịu. Có người cần đến đúng giờ để người khác không phải chờ. Có người cần trả lại một đồ dùng, hoàn thành một việc đã nhận hoặc báo rõ rằng mình không thể tiếp tục. Có người cần thôi nhắc một chuyện cũ trong mỗi lần tranh luận. Có người cần sửa một thông tin mình đã kể sai. Có người cần xin một cuộc nói chuyện có người hỗ trợ. Những bước ấy không thay thế tất cả những gì phải làm, nhưng chúng đưa lòng sám hối ra khỏi sự mơ hồ.
Có lẽ điều khó nhất là bắt đầu khi chưa chắc sẽ được đón nhận. Tôi có thể xin lỗi và người kia chưa muốn trả lời. Tôi có thể chủ động chào và họ vẫn dè dặt. Tôi có thể trình bày một nỗi đau và người có trách nhiệm cần thời gian tìm hiểu. Ta cần kiên nhẫn với những gì chưa thể giải quyết ngay, đồng thời tiếp tục sống điều mình biết là đúng. Đừng biến một nỗ lực không được đáp lại như mong muốn thành lý do để trở về cách cư xử cũ. Nếu thiện chí chỉ tồn tại khi được đáp ứng, nó sẽ rất mong manh trong đời sống chung.
Cũng đừng đặt mục tiêu mọi tương quan phải trở lại giống hệt trước kia. Có những cuộc hòa giải dẫn đến một cách gần gũi mới, thận trọng hơn nhưng thật hơn. Có những người từng cộng tác sát cánh nay cần chia việc khác đi. Có những câu chuyện sau khi được giải quyết vẫn để lại một nỗi buồn. Ta có thể đón nhận những giới hạn ấy mà không coi mọi cố gắng là thất bại. Điều đáng tìm là một đời sống trong đó người ta được tôn trọng, có thể làm điều tốt và không tiếp tục gây hại cho nhau. Từ chỗ ấy, sự thân tình có thể lớn lên theo thời gian; nó không thể bị ra lệnh.
Một mái nhà chung được gìn giữ bằng nhiều điều âm thầm. Một người chịu nghe hết câu. Một người gõ cửa trước khi bước vào. Một người không đem sự vụng về của anh chị em ra mua vui. Một người nhớ hỏi thăm sau một ngày khó. Một người biết nói: “Việc hôm qua tôi đã cư xử không đúng.” Một người đáp lại: “Tôi cần thêm thời gian, nhưng tôi ghi nhận điều anh chị vừa nói.” Không có gì lớn lao trong những câu ấy, nhưng chúng làm đời sống bớt lạnh. Chúng cho người khác biết rằng mình vẫn có chỗ trong căn nhà này, ngay cả khi đang yếu đuối hoặc chưa làm được mọi điều như mong muốn.
Chúng ta thường nghĩ cộng đoàn được xây bằng những người quảng đại, có năng lực và cùng chung lý tưởng. Điều đó đúng. Nhưng đời sống chung còn cần những người chịu để mình được sửa, chịu nhận rằng anh chị em có thể đau vì mình, chịu học một cách nói khác, chịu làm lại điều mình đã làm hỏng. Một cộng đoàn quy tụ những người giỏi mà không ai có thể nhận lỗi sẽ rất khó sống. Trái lại, giữa những con người còn nhiều giới hạn, sự thành thật và khả năng sửa đổi có thể giữ cho tình huynh đệ tiếp tục lớn lên.
Ngày tĩnh tâm này, chúng ta đừng chỉ xin Chúa làm cho người khác dễ sống hơn. Hãy xin cho mình trở nên một người mà anh chị em có thể đến gần mà không quá lo sợ. Một người biết giữ điều được trao. Một người có thể nghe lời góp ý. Một người không lợi dụng điểm yếu đã biết của người khác trong lúc nóng giận. Một người đủ khiêm tốn để hỏi: “Có điều gì trong cách tôi sống đang làm anh chị khó chịu hoặc tổn thương không?” Câu hỏi ấy chỉ nên được nói khi ta thực sự sẵn lòng lắng nghe. Người khác có thể cần nhiều thời gian mới tin rằng họ được phép trả lời thật.
Và nếu hôm nay tôi nhận ra mình vẫn còn dùng chuyện cũ để trừng phạt một người, xin đừng vội biện hộ. Có thể tôi chưa kể lại bằng lời, nhưng tôi nhắc lại bằng một thái độ, một lời mỉa mai, một sự loại trừ. Tôi muốn họ luôn nhớ mình đã mắc nợ tôi. Lòng tôi có thể nghĩ rằng buông điều ấy sẽ làm quá khứ bị xem nhẹ. Nhưng tôi có thể ghi nhớ sự thật, giữ điều cần giữ và vẫn xin Chúa giải thoát mình khỏi nhu cầu phải thấy người kia khổ. Tôi không cần phủ nhận vết thương để ngừng nuôi ý muốn trả đũa. Đây có thể là một lời cầu nguyện phải lặp lại lâu dài.
Nếu tôi nhận ra mình đã nhiều lần xin lỗi mà chưa thay đổi, hãy chọn một điều có thể kiểm chứng. Đừng chỉ hứa sẽ sống tốt hơn. Nếu tôi hay cắt lời, hãy tập để người kia nói xong và hỏi lại điều mình chưa hiểu. Nếu tôi thường thất hứa, hãy giảm những lời nhận việc quá sức và báo sớm khi có trở ngại. Nếu tôi dễ nổi nóng, hãy nhận biết lúc cần dừng, xin thời gian bình tĩnh và trở lại cuộc nói chuyện như đã hẹn. Nếu tôi có thói quen nói xấu, hãy ngừng ngay một cuộc kể chuyện không cần thiết và sửa điều mình đã nói sai. Sự hoán cải cần một chỗ cụ thể để bắt đầu.
Nếu tôi đang giữ một nỗi đau không biết giải quyết thế nào, xin hãy tìm sự trợ giúp thích hợp. Không cần đợi đến khi không còn chịu nổi mới nói. Có thể bắt đầu bằng việc trình bày những sự việc cụ thể, điều đã thử làm và điều mình đang cần. Người hỗ trợ tốt sẽ không quyết định quá nhanh ai hoàn toàn đúng, ai hoàn toàn sai; họ giúp làm rõ sự thật, nhìn trách nhiệm và tìm bước tiếp theo phù hợp. Việc nhờ giúp không làm lời khấn của ta kém chân thành. Nó có thể giúp ta sống ơn gọi với sự sáng suốt và tự do hơn.
Trước khi rời ngày tĩnh tâm, mỗi người có thể giữ lại một khuôn mặt trong lời cầu nguyện. Đó có thể là người mình cần xin lỗi, người mình chưa thể tha thứ, người mình đã vô tình bỏ quên, hoặc người đang mang một lỗi lầm mà cộng đoàn cứ nhắc mãi. Hãy xin Chúa chỉ cho mình một bước phù hợp đối với người ấy. Có thể chưa phải một cuộc gặp ngay hôm nay. Có thể là viết lại điều cần nói cho rõ, xin một cuộc hẹn, tìm người hỗ trợ, hoặc dừng một thói quen đang tiếp tục gây đau. Đừng để ngày tĩnh tâm kết thúc chỉ bằng cảm giác xúc động. Hãy để có một điều khác đi trong cách ta sống.
Một ngày nào đó, khi nhìn lại những năm sống đời thánh hiến, có thể chúng ta sẽ không nhớ hết các chương trình đã tổ chức, các cuộc họp đã tham dự hoặc những công việc đã hoàn thành. Nhưng ta có thể nhớ rất rõ một người đã ngồi nghe mình trong lúc khó khăn, một lời xin lỗi đã làm nhẹ đi nhiều năm buồn tủi, một cộng đoàn đã không bỏ rơi mình khi mình thành thật nhận lỗi. Những điều ấy ở lại trong ký ức vì chúng giúp ta tiếp tục tin rằng tình yêu mình tuyên khấn có thể được sống giữa những con người thật.
Xin cho mái nhà của chúng ta có được những ký ức như thế. Xin cho người mới bước vào không phải học quá sớm cách giấu lòng mình để được yên. Xin cho người đã sống lâu năm không phải chịu đựng nỗi buồn một mình vì nghĩ chẳng ai còn muốn nghe. Xin cho người làm sai có đủ can đảm nhận trách nhiệm, và người đang đau có đủ sự nâng đỡ để không bị thúc ép. Xin cho những ai có trách nhiệm biết nhìn một con người trước khi nhìn một vấn đề cần xử lý. Xin cho mỗi thành viên hiểu rằng bầu khí cộng đoàn được tạo nên cả bằng lời nói và những im lặng của mình.
Chúng ta vẫn còn có thể bắt đầu lại, dù có những điều không thể trở về nguyên vẹn như trước. Một lời nói đã thốt ra không thể thu hồi như chưa từng có, nhưng người đã nói vẫn có thể nhận lỗi và học cách dùng lời khác. Những năm tháng dè chừng không thể được bù lại bằng một buổi chiều, nhưng từ hôm nay người ta có thể thôi phải dè chừng thêm. Một niềm tin đã mất không thể được yêu cầu trở lại ngay, nhưng những hành vi trung tín vẫn có thể được thực hiện từ bữa cơm kế tiếp, cuộc họp kế tiếp, lần gặp kế tiếp.
Hôm nay, trong cùng mái nhà này, có lẽ Chúa đang chờ tôi làm một điều rất cụ thể. Đặt điện thoại xuống để nghe người anh em nói. Ngừng kể một chuyện không thuộc quyền mình kể. Đến gõ cửa và nhận lỗi mà không tự bào chữa. Đưa một vấn đề đến đúng người có trách nhiệm. Hoặc lặng lẽ thực hiện điều mình đã hứa từ lâu. Xin cho tôi đừng bỏ qua điều ấy chỉ vì nó nhỏ, vì tôi ngượng, vì tôi sợ chưa được đáp lại. Tình huynh đệ cần chính sự trung tín ấy của tôi, ngay trong ngày hôm nay.
Lời nguyện
Lạy Chúa Giêsu, con đến trước mặt Chúa với những tương quan chưa được bình an. Có người con vẫn chào nhưng trong lòng còn tránh. Có chuyện con nói rằng đã qua nhưng mỗi khi nhớ lại vẫn thấy đau. Có lời con chưa chịu xin lỗi vì sợ mất mặt. Có lỗi con đã nhận nhiều lần mà chưa thực sự sửa. Xin Chúa đón nhận con trong sự thật nghèo nàn ấy và dạy con bắt đầu lại.
Xin cho con biết nhìn nhận điều mình đã làm mà không đổ hết trách nhiệm cho hoàn cảnh. Khi con dùng lời nói làm người khác xấu hổ, xin giúp con nhận lỗi rõ ràng. Khi con đã làm sai hình ảnh của một người trước cộng đoàn, xin cho con can đảm đính chính. Khi con đã hứa rồi bỏ quên, xin nhắc con trở lại với trách nhiệm. Xin cho lời xin lỗi của con được nối dài bằng sự sửa đổi trong những ngày bình thường, kể cả khi không ai khen và người kia còn cần thời gian.
Lạy Chúa, Chúa biết những điều con chưa thể tha thứ. Xin đừng để nỗi đau dần làm lòng con cay nghiệt. Xin giữ con khỏi sự trả đũa bằng lời nói, khỏi niềm vui kín đáo khi thấy người đã làm mình đau gặp khó khăn, khỏi thói quen chỉ nhớ điều xấu nơi họ. Khi con chưa thể cầu nguyện dễ dàng cho người ấy, xin nhận lấy ước muốn bé nhỏ của con. Xin giúp con bước từng bước trong tự do, không giả vờ bình an và cũng không buông mình cho cay đắng.
Xin cho con hiểu giới hạn của mình và biết tìm sự trợ giúp khi cần. Xin ban sự sáng suốt để con phân biệt điều có thể nhẫn nại đón nhận với điều cần được nói rõ và giải quyết. Xin cho những người lắng nghe con có sự công bằng và lòng nhân hậu. Xin cho con cũng sẵn lòng nghe những điều giúp mình nhìn câu chuyện đầy đủ hơn.
Chúng con xin trao cộng đoàn cho Chúa: những người đang thân tình, những người đang xa cách, người giữ trách nhiệm, người cảm thấy mình không có tiếng nói, người đang cố sửa lỗi và người vẫn còn mang hậu quả của lỗi lầm ấy. Xin cho chúng con biết chăm sóc từng người với sự tôn trọng. Đừng để chúng con tìm sự yên ổn bằng cách buộc một người phải im lặng, hoặc tìm lòng thương xót bằng cách quên đi trách nhiệm cần thực hiện.
Xin dạy chúng con nói thật mà không làm nhục nhau, sửa lỗi mà vẫn gìn giữ phẩm giá, nhẫn nại mà không bỏ mặc điều sai. Xin cho chúng con biết giữ kín điều được trao, ngừng những lời đồn đoán và mở một con đường phục hồi cho người thành tâm hoán cải. Khi niềm tin còn mong manh, xin giúp chúng con trung tín trong những việc nhỏ.
Lạy Chúa, chiều nay khi chúng con lại gặp nhau trong nhà nguyện, ngoài hành lang hoặc quanh bàn ăn, xin cho có một điều được đổi mới. Có thể chỉ là một lời chào thành thật hơn, một câu nói dịu lại, một lần chịu lắng nghe, một quyết định không nhắc thêm chuyện cũ. Xin giúp chúng con thực hiện bước ấy. Chúng con đã được gọi để cùng nhau sống đời dâng hiến; xin cho người ở gần chúng con được cảm nhận tình yêu Chúa qua chính cách chúng con đối xử với họ. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
THÁNG CHÍN — NGƯỜI TA CẦN ĐƯỢC YÊU, VÀ TÔI CẦN HỌC PHỤC VỤ
Canh tân sứ vụ và thanh luyện nhu cầu được công nhận.
Lời Chúa: Mc 6,30–44 — Đức Giêsu quan tâm đến các môn đệ và chạnh lòng thương đám đông.
Có những buổi chiều, người tu sĩ trở về cộng đoàn với một thân xác mệt nhoài nhưng lòng rất bình an. Công việc hôm ấy có thể chưa xong, những khó khăn vẫn còn đó, người mình giúp chưa thay đổi được bao nhiêu, nhưng tận sâu bên trong, ta biết mình đã hiện diện với một con người bằng tất cả sự chân thành. Ta đã chịu khó nghe một người nói hết câu. Ta đã bớt một lời trách để hiểu thêm một nỗi khổ. Ta đã làm điều cần làm dù chẳng ai nhìn thấy. Sự mệt mỏi ấy có chỗ để nghỉ, bởi lòng ta không phải mang thêm gánh nặng chứng minh mình đáng quý. Nhưng cũng có những buổi chiều, công việc thành công, chương trình diễn ra tốt đẹp, mọi người ra về hài lòng, mà người phục vụ vẫn thấy lòng mình trống rỗng. Chỉ vì lời cảm ơn cuối buổi không nhắc đến tên mình. Chỉ vì một người khác được khen nhiều hơn. Chỉ vì người phụ trách không hỏi ý kiến mình trước khi đưa ra một quyết định. Công việc đã kết thúc, nhưng trong lòng ta, một cuộc đối thoại âm thầm vẫn tiếp tục: người ta có biết tôi đã làm gì không, có hiểu tôi đã vất vả đến mức nào không, có còn cần đến tôi không?
Chính ở chỗ ấy, ngày tĩnh tâm tháng Chín mời chúng ta dừng lại. Chúng ta dừng để nhìn vào điều đang nuôi dưỡng việc mình làm. Bàn tay vẫn có thể trao đi trong khi lòng đang âm thầm đòi lại. Đôi chân vẫn có thể đi đến với người nghèo trong khi tâm trí mong được nhìn nhận là người giàu lòng bác ái. Một người vẫn có thể làm việc từ sáng đến tối, hy sinh thật nhiều, chịu cực thật nhiều, mà chưa đủ tự do để chấp nhận người khác làm tốt hơn mình. Những điều ấy không khiến cả đời dâng hiến trở thành giả dối. Chúng cho thấy lòng người cần được Chúa tiếp tục thanh luyện, ngay giữa những việc rất tốt đẹp.
Người ta cần được yêu. Người học sinh cần được nhìn nhận cả khi em học chậm và không đem lại thành tích cho lớp. Người bệnh cần được chăm sóc cả khi họ khó chịu, không nhớ tên người phục vụ và chẳng biết nói một lời cảm ơn dễ nghe. Người nghèo cần được tôn trọng cả khi họ lúng túng, diễn đạt vụng về, hoặc có những lựa chọn khiến ta không hiểu. Người giáo dân cần được lắng nghe ngay cả khi câu chuyện của họ dài, công việc của ta nhiều, và vấn đề họ mang đến không thể giải quyết trong một cuộc gặp. Họ bước vào sứ vụ của chúng ta với một cuộc đời riêng. Có người đã bị bỏ qua nhiều lần. Có người đã phải gom hết can đảm mới dám đến xin giúp đỡ. Có người chỉ mong sau cuộc gặp, mình không thấy xấu hổ hơn về hoàn cảnh của mình.
Và tôi, người đang phục vụ họ, vẫn cần học. Học cách nhìn cho rõ, nghe cho đủ, làm cho chu đáo. Học để nhận ra khi nào mình đang yêu thương và khi nào mình đang dùng sự tận tụy để xin một sự bảo đảm về giá trị bản thân. Học để trao điều người khác cần, thay vì chỉ trao điều khiến mình cảm thấy hữu ích. Có thể chúng ta đã sống đời thánh hiến nhiều năm, đã đảm nhận nhiều công việc, đã được tín nhiệm ở nhiều nơi. Tuy vậy, mỗi con người mới đến với ta vẫn có thể dạy ta một bài học về phục vụ mà trước đó ta chưa học được.
Đoạn Tin Mừng theo thánh Máccô mở ra bằng hình ảnh các Tông đồ trở về bên Đức Giêsu và kể lại những việc mình đã làm, những điều mình đã dạy. Đó là một cuộc trở về rất đẹp. Sau những ngày được sai đi, các ông có chuyện để kể với Thầy. Có lẽ trong những câu chuyện ấy có niềm vui, sự ngỡ ngàng, những điều chưa hiểu và cả những mệt nhọc chưa kịp nói thành lời. Đức Giêsu đón các ông. Người quan tâm đến tình trạng của những người vừa thi hành sứ vụ, đến mức nhận ra rằng họ cần được nghỉ. Trong hoàn cảnh người đến kẻ đi đông đúc, các ông không có thì giờ ăn uống, Người mời các ông đi riêng đến một nơi thanh vắng.
Trước khi đi sâu vào chuyện phục vụ đám đông, chúng ta cần ở lại với ánh nhìn ấy của Đức Giêsu. Người nhìn thấy sự mệt mỏi của môn đệ. Người không xem thân xác các ông như một thứ công cụ có thể sử dụng liên tục. Người không đòi các ông chứng minh tình yêu bằng cách làm đến mức chẳng còn biết mình đang kiệt sức. Trong ánh nhìn của Thầy, những người được sai đi vẫn là những người cần được chăm sóc. Họ có thể trở về, có thể kể chuyện, có thể nhận một lời mời nghỉ ngơi. Tình yêu của Chúa dành cho người môn đệ không tùy thuộc vào số việc người ấy còn đủ sức làm trong ngày.
Điều này có thể chạm đến một nỗi sợ kín đáo trong chúng ta. Nhiều khi ta chỉ thấy yên tâm khi mình đang bận. Lúc có việc để làm, có người tìm đến, có điện thoại cần trả lời, ta cảm thấy mình còn quan trọng. Đến khi lịch trống đi, công việc được giao cho người khác, hoặc sức khỏe buộc mình phải nghỉ, ta bỗng không biết đặt bản thân ở đâu. Một khoảng thời gian yên tĩnh đáng lẽ giúp ta hồi sức lại khiến ta bất an. Bởi trong sự yên tĩnh ấy, câu hỏi mà ta tránh né lâu nay bắt đầu hiện rõ: nếu hôm nay tôi không làm được điều gì đáng kể, tôi có còn thấy mình được yêu không?
Đời sống cầu nguyện sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi ta chỉ biết đến với Chúa trong tư thế một người báo cáo công việc. Ta kể mình đã làm gì, đang làm gì, sắp phải làm gì, rồi tiếp tục tính toán ngay trong giờ nguyện gẫm. Những người cần giúp đỡ vẫn xuất hiện trong tâm trí, nhưng ta không đưa họ đến với Chúa bằng sự phó thác; ta chỉ tiếp tục điều hành mọi chuyện trong đầu. Có những giờ chầu, thân mình ngồi trước Nhà Tạm mà lòng vẫn đứng giữa một cuộc họp chưa kết thúc. Ta cần tập trở về như một người môn đệ được Thầy đón nhận. Có những ngày, lời cầu nguyện chân thành nhất chỉ là: “Lạy Chúa, con mệt. Con đã cố gắng, nhưng lòng con đang rối. Xin cho con được ở đây với Chúa.”
Được Chúa chăm sóc không làm người môn đệ khép lòng trước nhu cầu của người khác. Trong Tin Mừng, khi thuyền đến nơi, Đức Giêsu thấy đám đông đã có mặt. Người chạnh lòng thương họ, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt, và Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều. Kế hoạch nghỉ ngơi đã gặp một hoàn cảnh bất ngờ. Ở đây, chúng ta thấy một trái tim đủ tự do để nhận ra con người đang hiện diện trước mặt mình. Tuy nhiên, cũng cần đọc trình thuật với sự ngay thẳng: sự kiện Đức Giêsu đáp lại đám đông hôm ấy không cho phép chúng ta biến tình trạng quá tải kéo dài thành lý tưởng của đời tu. Chính Người đã chủ động quan tâm đến nhu cầu nghỉ ngơi của các môn đệ. Cả sự chăm sóc người phục vụ lẫn lòng thương người đang cần giúp đều nằm trong cái nhìn của Người.
Có những lúc phải hoãn một cuộc nghỉ để đáp lại một nhu cầu thực sự cấp bách. Cũng có những lúc phải bảo vệ giờ nghỉ để ngày mai còn đủ tỉnh táo mà chăm sóc người khác. Phân định là nhận ra điều nào đang cần trong hoàn cảnh cụ thể. Người đang gặp nguy hiểm không thể chờ vì lịch của ta đã kín. Nhưng một yêu cầu có thể hẹn lại cũng không nhất thiết phải khiến cả cộng đoàn bỏ giờ ăn, mất giấc ngủ và sống trong căng thẳng. Lòng thương cần có sự chú ý đến thực tế. Khi mọi việc đều được gọi là khẩn cấp, dần dần ta mất khả năng nhận ra điều thật sự khẩn cấp.
Đức Giêsu nhìn đám đông và chạnh lòng thương. Cái nhìn ấy là nơi chúng ta cần trở về mỗi khi sứ vụ bắt đầu trở thành một chuỗi thao tác. Người thấy sự thiếu thốn của họ, tình trạng bơ vơ của họ, nhu cầu được hướng dẫn và được nuôi dưỡng của họ. Chúng ta cũng có thể đứng trước một đám đông, nhưng chỉ nhìn thấy sự phiền hà: thêm người đến, thêm việc phải giải quyết, thêm câu hỏi phải trả lời, thêm những đòi hỏi ngoài kế hoạch. Khi mệt, phản ứng ấy dễ hiểu. Điều đáng lo là khi ta quen với nó đến mức không còn nhận ra. Một người bước đến chưa kịp mở lời, ta đã thở dài. Một người gõ cửa, trong đầu ta đã có lời kết luận: chắc lại nhờ vả, chắc lại than thở, chắc lại làm mất thời giờ.
Lòng thương bắt đầu bằng việc cho người trước mặt một cơ hội được nhìn nhận đúng. Người ấy có thể từng làm ta thất vọng. Người ấy có thể đã xin giúp nhiều lần. Người ấy có thể mang theo những vấn đề mà ta chưa biết giải quyết ra sao. Nhưng họ vẫn là một con người, với phẩm giá không giảm đi vì sự yếu đuối hay hoàn cảnh khó khăn. Sứ vụ dễ trở nên nặng nề khi ta chỉ còn gặp những “trường hợp”. Trường hợp này khó, trường hợp kia phiền, trường hợp nọ đã xử lý rồi mà còn quay lại. Ngôn ngữ ấy có lúc cần trong công việc chuyên môn, nhưng nếu đi sâu vào cách nhìn của tâm hồn, nó có thể làm ta quên mất khuôn mặt.
Thử hình dung một nữ tu phụ trách lớp học. Trong lớp có một em thường xuyên không hoàn thành bài, hay ngủ gật và ít nói. Nếu chỉ nhìn bằng yêu cầu của công việc, em là một trở ngại đối với tiến độ chung. Em khiến người dạy phải nhắc nhiều hơn, sửa nhiều hơn, giải thích lại nhiều hơn. Nhưng nếu có một cuộc gặp đủ kiên nhẫn, có thể người nữ tu sẽ biết thêm rằng em sống trong một gia đình đang xáo trộn, buổi tối phải phụ việc, hoặc đang chịu một nỗi sợ không biết nói với ai. Biết hoàn cảnh không có nghĩa là bỏ hết yêu cầu học tập. Nó giúp cách hướng dẫn trở nên phù hợp hơn. Cùng một lời nhắc, nếu phát xuất từ sự hiểu biết, có thể giúp em đứng lên; nếu phát xuất từ bực bội và định kiến, có thể khiến em tin rằng mình chẳng bao giờ làm được điều gì tốt.
Một người bệnh thường xuyên bấm chuông gọi cũng có thể khiến người chăm sóc mệt mỏi. Có lúc họ thực sự cần trợ giúp. Có lúc họ sợ hãi khi phải ở một mình. Có lúc họ không hiểu điều đang xảy ra với thân thể mình. Người phục vụ vẫn cần đặt giới hạn hợp lý và phối hợp với người có trách nhiệm, nhưng thái độ bên trong sẽ khác khi nhận ra phía sau hành vi khó chịu là một nỗi bất an. Ta không phải đáp ứng mọi yêu cầu để chứng minh lòng tốt. Ta cần cố gắng hiểu yêu cầu ấy, trả lời rõ ràng, và giúp trong khả năng thực sự của mình.
Ngày tĩnh tâm tháng này mời chúng ta đưa vào giờ cầu nguyện những khuôn mặt cụ thể. Đừng chỉ cầu nguyện chung cho “những người con phục vụ”. Hãy nhớ đến một người mà gần đây ta dễ mất kiên nhẫn. Một người làm ta thấy công việc chậm lại. Một người không tiến bộ như ta mong. Một người đã được giúp nhiều mà vẫn chưa biết sống khác. Ta có thể thưa với Chúa thật lòng về sự mệt mỏi của mình, rồi xin Người cho mình hiểu thêm điều còn khuất trong cuộc đời họ. Có khi sự thay đổi đầu tiên của sứ vụ nằm ở chỗ ấy: người đang cầu nguyện bắt đầu thôi coi sự khó khăn của người khác như một sự xúc phạm đến công sức của mình.
Bởi quả thật, chúng ta có thể vô tình nghĩ rằng người được giúp phải tiến bộ để sự hy sinh của ta có ý nghĩa. Ta đã dạy như thế, đã nhắc như thế, đã cầu nguyện như thế, tại sao họ còn yếu đuối? Ta bắt đầu giận vì kết quả không tương xứng với công sức. Nỗi giận ấy có phần phát xuất từ lòng lo lắng thật, nhưng cũng có thể mang theo một sự đòi hỏi kín đáo: cuộc đời người này phải cho thấy tôi là người đồng hành giỏi. Khi ấy, thất bại của họ trở thành vết thương đối với hình ảnh của ta. Ta khó còn đủ bình tĩnh để hỏi họ đang gặp trở ngại nào, bởi trong lòng ta đang bận tự bảo vệ mình.
Người phục vụ trưởng thành phải học cách chịu đựng khoảng cách giữa điều mình mong và nhịp lớn lên thực tế của người khác. Có người thay đổi rất chậm. Có người hiểu được điều tốt nhưng chưa đủ sức thực hiện. Có người đã cố gắng rồi lại trở về thói quen cũ. Sự kiên nhẫn ấy không đồng nghĩa với việc bỏ qua trách nhiệm hay dung túng hành vi gây hại. Nó đòi hỏi ta phân biệt điều cần sửa, cách sửa, thời điểm sửa và khả năng đón nhận của người trước mặt. Nếu cứ lấy sự sốt ruột của mình làm thước đo, ta sẽ khiến người yếu trở nên sợ hãi hơn là mạnh mẽ hơn.
Trong trình thuật Tin Mừng, khi trời đã muộn, các môn đệ nhận ra vấn đề lương thực. Các ông đề nghị giải tán đám đông để họ đi mua thức ăn. Đề nghị ấy có lý trong cái nhìn thực tế của các ông. Nhưng Đức Giêsu mời các ông đi xa hơn: chính các ông hãy lo cho đám đông ăn. Người đưa các môn đệ vào trách nhiệm đối với nhu cầu cụ thể của những người đang ở đó. Đám đông đã nghe giảng, và giờ đây họ đói. Việc chăm sóc con người phải chạm đến hoàn cảnh thật của họ. Một lời nói về tình thương sẽ khó được đón nhận nếu người đang nghe bị bỏ mặc trong một nhu cầu mà ta có khả năng đáp ứng.
Đối với chúng ta, lời mời gọi ấy có thể rất cụ thể. Người đến xin một lời khuyên có thể đang cần được hướng dẫn đến một nơi hỗ trợ thích hợp. Một gia đình gặp khó khăn có thể cần ai đó cùng họ nhìn lại cách chi tiêu, tìm việc, hoặc kết nối với nguồn trợ giúp. Một em học sinh có thể cần được bảo vệ khỏi sự làm nhục trong lớp trước khi có thể nghe thêm một bài học về lòng tự trọng. Một nhân viên đang bị trả công không công bằng khó có thể cảm thấy được tôn trọng chỉ nhờ những lời nhắc nhở về tinh thần hy sinh. Sứ vụ có trách nhiệm phải quan tâm đến những điều ấy.
Đức Giêsu hỏi các môn đệ xem họ có bao nhiêu bánh. Các ông đi xem và trở lại với số lương thực ít ỏi: năm chiếc bánh và hai con cá. Chi tiết ấy giúp chúng ta giữ đôi chân trên mặt đất. Trước một nhu cầu lớn, người phục vụ cần biết mình thực sự có gì. Có bao nhiêu thời giờ, bao nhiêu sức khỏe, bao nhiêu người cộng tác, nguồn lực nào có thể sử dụng, khả năng nào đã được đào tạo, giới hạn nào phải nhìn nhận. Lòng nhiệt thành không thể thay thế việc tìm hiểu thực tế. Nếu không biết mình có gì, ta dễ hứa điều không làm được, nhận trách nhiệm vượt khả năng, rồi để người đang cần giúp chịu hậu quả của sự thiếu chuẩn bị.
Có những lời hứa được nói ra rất nhanh vì lúc ấy ta xúc động. “Cứ để tôi lo.” “Có gì tôi cũng giúp.” “Bất cứ lúc nào cũng gọi cho tôi.” Những câu nói ấy có thể đem lại an ủi tức thời, nhưng nếu không thực hiện nổi, chúng sẽ trở thành một lần thất vọng khác trong đời người vốn đã nhiều tổn thương. Một người phục vụ đáng tin biết nói rõ khả năng của mình. Hôm nay tôi có thể giúp việc này. Việc kia tôi cần trao đổi thêm. Trường hợp này cần một người có chuyên môn. Tôi chưa có câu trả lời, nhưng tôi sẽ cùng anh chị tìm nơi thích hợp. Sự chân thật ấy có vẻ ít gây xúc động hơn một lời hứa lớn, nhưng nó giúp người khác biết mình đang đứng ở đâu.
Cũng trong việc nhận ra năm chiếc bánh và hai con cá, chúng ta học cách đưa phần ít ỏi của mình đến với Chúa. Có những sứ vụ khiến ta thấy bất lực. Nhu cầu quá nhiều, người cộng tác quá ít, hoàn cảnh quá phức tạp. Ta không thể chữa lành mọi vết thương, giải quyết mọi cảnh nghèo, giữ mọi người khỏi sai lầm. Nếu vì thế mà đóng cửa lòng, ta sẽ bỏ qua những việc nhỏ mình thực sự có thể làm. Nhưng nếu vì sợ bất lực mà nhận mình có thể làm tất cả, ta sẽ sớm kiệt sức. Người môn đệ dâng điều mình có, làm phần việc được trao, và học phó thác phần vượt quá mình cho Thiên Chúa.
Phó thác cần đi cùng sự chu đáo. Trong trình thuật, Đức Giêsu cho dân chúng ngồi thành từng nhóm, rồi các môn đệ phân phát bánh cho họ. Giữa một nhu cầu lớn vẫn có sự sắp xếp để việc chăm sóc đến được với từng người. Điều này nhắc chúng ta rằng tổ chức tốt cũng là một cách yêu thương. Một danh sách được kiểm tra cẩn thận có thể giúp một gia đình không bị bỏ sót. Một lịch hẹn rõ ràng có thể giúp người bệnh không phải chờ đợi vô ích. Một lời hướng dẫn dễ hiểu có thể giúp người lớn tuổi bớt lo. Một quy trình minh bạch có thể bảo vệ người yếu thế khỏi việc phải tìm quan hệ riêng để được giúp.
Đôi khi ta xem những việc chuẩn bị ấy là chuyện phụ, còn điều chính yếu là tấm lòng. Nhưng người đang cần được giúp thường phải chịu hậu quả trực tiếp khi công việc làm qua loa. Họ đi một quãng đường xa rồi mới biết người phụ trách không có mặt. Họ kể lại câu chuyện đau buồn nhiều lần vì không ai bàn giao thông tin cần thiết. Họ nhận những chỉ dẫn trái ngược nhau vì những người phục vụ chưa trao đổi với nhau. Có những nỗi khổ không đến từ ác ý, mà từ sự thiếu chu đáo kéo dài. Vì thế, canh tân sứ vụ cũng bao gồm việc chịu khó học lại cách làm việc.
Một người tu sĩ có thể rất chân thành nhưng vẫn cần được đào tạo thêm. Người dạy học cần học cách dạy. Người chăm sóc cần được hướng dẫn đúng công việc mình đảm nhận. Người quản lý cần hiểu trách nhiệm, cách sử dụng nguồn lực và cách đối xử với người cộng tác. Người đồng hành cần biết giới hạn của sự hiểu biết mình. Không ai mất phẩm giá vì phải học. Trái lại, người sẵn sàng học cho thấy mình coi trọng những người sẽ chịu ảnh hưởng bởi việc mình làm. Khi ta nói “tôi làm việc này bao nhiêu năm rồi” để khước từ mọi góp ý, có thể chính kinh nghiệm đang trở thành điều khiến ta khó đổi mới.
Những năm phục vụ có thể làm một người thêm hiểu đời, nhưng cũng có thể khiến người ấy quen phán đoán quá nhanh. Vừa nghe vài câu đã biết phải khuyên gì. Vừa thấy một hoàn cảnh đã xếp vào một loại người. Vừa gặp một người trẻ đã nghĩ mình hiểu hết sự bồng bột của họ. Kinh nghiệm thực sự trưởng thành giúp ta nhận ra những điểm quen thuộc mà vẫn dành chỗ cho điều chưa biết. Mỗi cuộc đời có những chi tiết không thể suy ra từ cuộc đời khác. Người ta thường cảm nhận được khi mình đang được lắng nghe, và cũng cảm nhận được khi người đối diện chỉ chờ đến lượt đưa ra lời dạy bảo.
Để học phục vụ, nhiều khi chúng ta cần học im lặng trong cuộc gặp. Đừng vội lấp mọi khoảng ngừng bằng lời khuyên. Đừng vội kể câu chuyện tương tự của mình để chứng tỏ mình hiểu. Đừng vội dùng một lời đạo đức để kết thúc một điều người kia đang rất khó nói. Có người cần vài phút mới đủ can đảm chạm đến phần đau nhất của câu chuyện. Nếu ta cứ liên tục chen vào, họ sẽ ra về với cảm giác đã nói rất nhiều mà chưa được nói điều thực sự muốn nói. Sự lắng nghe đòi ta tạm gác nhu cầu tỏ ra có ích bằng lời nói.
Nhưng học im lặng cũng không có nghĩa là đồng ý với mọi điều được kể. Người phục vụ có thể lắng nghe với sự tôn trọng và sau đó nói một điều khó nghe bằng thái độ rõ ràng, điềm tĩnh. Lòng thương đôi khi đòi phải ngăn một hành vi sai, đặt một giới hạn, từ chối một yêu cầu không phù hợp, hoặc mời người kia nhận trách nhiệm về quyết định của mình. Khi nói điều ấy, ta cần xét lòng mình: tôi đang giúp họ nhìn sự thật, hay đang trút sự bực bội? Tôi đang bảo vệ người dễ bị tổn thương, hay đang bảo vệ sự thuận tiện của bản thân? Cùng một lời từ chối, động cơ và cách nói có thể khiến nó trở thành sự hướng dẫn hoặc thành một sự làm nhục.
Điều đáng sợ trong sứ vụ là khi quyền được giúp đỡ của một người tùy thuộc vào mức độ họ làm ta hài lòng. Người dễ thương được quan tâm hơn. Người biết khen được ưu tiên hơn. Người có quan hệ được linh động hơn. Người ít nói, vụng về, không biết diễn đạt lòng biết ơn thì bị coi là lạnh lùng. Chúng ta có thể không chủ ý phân biệt, nhưng sự thiên vị vẫn len vào những quyết định nhỏ. Ta gọi lại cho ai trước, dành thêm thời gian cho ai, kiên nhẫn giải thích với ai, nhớ đến hoàn cảnh của ai khi có một cơ hội trợ giúp. Ngày tĩnh tâm là lúc xin Chúa soi vào những lựa chọn rất bình thường ấy.
Nhu cầu được công nhận có thể làm sự thiên vị ấy sâu thêm. Ai khiến ta thấy mình quan trọng, ta dễ muốn gần. Ai không đáp lại sự tận tâm bằng thái độ như ta mong, ta dễ lạnh đi. Khi ấy, người đang cần giúp phải làm thêm một việc nặng nề: chăm sóc cảm xúc của người phục vụ. Họ phải nhớ cảm ơn đủ, phải hỏi thăm đủ, phải tỏ ra gắn bó đủ, phải tránh làm người giúp mình buồn. Một mối tương quan như thế dần mất tự do. Người nhận sự giúp đỡ có thể mang ơn, nhưng không được vì thế mà mất quyền sống cuộc đời của họ.
Chúng ta cần nói thật với nhau rằng muốn được biết ơn là một nhu cầu con người dễ hiểu. Một lời cảm ơn đúng lúc có thể giúp người đang mệt được nâng đỡ. Sự vô tâm kéo dài có thể làm tổn thương cả người tận tụy nhất. Đời sống cộng đoàn cần có văn hóa nhìn nhận công sức của nhau. Người phụ trách cần biết nói lời cảm ơn, phân chia công việc công bằng và quan tâm đến những phần việc âm thầm. Việc thanh luyện nhu cầu được công nhận không cho phép bất cứ ai coi sự hy sinh của người khác là chuyện đương nhiên.
Tuy nhiên, vẫn có một công việc nội tâm mà mỗi người phải làm. Tôi có thể cần được nhìn nhận, nhưng tôi cần học để nhu cầu ấy không điều khiển cách mình đối xử với người khác. Tôi có thể buồn vì bị quên, nhưng nỗi buồn ấy không trao cho tôi quyền làm cả cộng đoàn mất bình an. Tôi có thể nói về sự thiếu công bằng với người có trách nhiệm, nhưng không cần dùng thái độ lạnh nhạt để bắt mọi người đoán điều mình muốn. Trưởng thành là có thể gọi tên điều đau, tìm cách trao đổi thích hợp, rồi tiếp tục hành động với trách nhiệm.
Có khi điều ta gọi là “không được trân trọng” thực ra là việc không được đáp ứng đúng hình thức mình mong. Người ta có thể quý trọng công sức của ta nhưng không giỏi bày tỏ. Một người trẻ có thể biết ơn mà không biết nói thế nào. Một cộng đoàn có thể đang bận giải quyết nhiều việc nên sơ suất trong một lời cảm ơn. Điều ấy không xóa cảm giác buồn, nhưng giúp ta tránh kết luận quá nhanh rằng không ai hiểu mình, không ai cần mình, mọi người đều vô tình. Những kết luận tuyệt đối thường khiến một thiếu sót có thể trao đổi trở thành khoảng cách khó hàn gắn.
Cũng có khi sự bị quên là có thật. Công sức của ta bị dùng mà không được nhìn nhận. Trách nhiệm được đặt lên vai nhưng tiếng nói không được lắng nghe. Người khác nhận lời khen cho phần việc mình làm. Trong hoàn cảnh ấy, lời mời gọi thanh luyện vẫn cần đi cùng sự thật và công bằng. Ta có thể trình bày rõ phần việc, nêu điều cần điều chỉnh, đề nghị một cách cộng tác minh bạch hơn. Lòng khiêm nhường cho phép ta nói sự thật mà không phải phóng đại bản thân. Sự tự do nội tâm giúp ta tìm điều đúng cho công việc, ngay cả khi không thể sửa hết cách người khác đánh giá mình.
Muốn biết nhu cầu được công nhận đang ở mức nào, hãy nhìn phản ứng của mình khi một người khác được tín nhiệm. Ta có thực lòng mừng không? Ta có sẵn sàng chia sẻ điều mình biết không? Hay ngay lập tức trong lòng xuất hiện nhu cầu nhắc lại những thiếu sót của người ấy? Có những lời góp ý rất đúng về nội dung nhưng được nói ra vào đúng lúc người khác vừa được khen, với mục đích kéo họ xuống một chút. Chúng ta thường nhận ra điều này nơi người khác nhanh hơn nơi mình. Trong giờ cầu nguyện, xin Chúa cho ta đủ ngay thẳng để nhìn nhận những chuyển động ấy mà không vội bào chữa.
Một người mới được giao công việc có thể làm theo cách khác. Cách mới ấy có thể cần điều chỉnh, nhưng cũng có thể phù hợp hơn cách của ta. Nếu lòng mình gắn quá chặt với vai trò, ta sẽ coi mọi khác biệt là một sự phủ nhận quá khứ. Người ta thay đổi một cách tổ chức, ta nghe như họ đang bảo những năm tháng của mình vô ích. Người ta sử dụng một phương tiện mới, ta cảm thấy mình bị bỏ lại. Khi ấy, điều cần được chữa lành nằm sâu hơn tranh luận về phương pháp. Ta cần được nhắc rằng giá trị của đời mình không biến mất khi cách làm việc của mình được thay đổi.
Trao việc cho người khác cũng là một hình thức dâng hiến. Ta trao cả kiến thức đã tích lũy, những kinh nghiệm phải trả giá mới có, các mối liên hệ đã xây dựng và niềm vui từng gắn với vai trò ấy. Ta chấp nhận rằng người tiếp nhận sẽ có những lựa chọn riêng trong phạm vi trách nhiệm của họ. Bàn giao chỉ hoàn tất về mặt nội tâm khi ta thôi âm thầm đòi người kế nhiệm phải tiếp tục làm theo ý mình để chứng tỏ rằng họ biết ơn. Có người đã rời nhiệm vụ nhưng lòng vẫn giữ quyền quyết định, khiến người đang phụ trách luôn cảm thấy mình chỉ là người đứng tên.
Tất nhiên, người đi trước có trách nhiệm chia sẻ những điều cần thiết và cảnh báo những nguy cơ thực sự. Nhưng chia sẻ khác với kiểm soát. Có thể nhận ra sự khác biệt qua cách ta phản ứng sau khi ý kiến của mình không được chọn. Ta còn bình an để cộng tác không? Ta có tiếp tục mong công việc được tốt không? Hay trong lòng bắt đầu chờ một sai sót để nói rằng: “Tôi đã biết trước”? Một người có thể rút khỏi công việc bên ngoài mà vẫn bám rất chặt vào quyền được chứng minh mình đúng. Sự bám víu ấy làm đau cả người cũ lẫn người mới.
Đời thánh hiến sẽ có những giai đoạn chúng ta được mời bước sang một vị trí khác. Có khi là nhận việc mới. Có khi là làm một phần việc ít ai chú ý. Có khi là nghỉ dưỡng bệnh. Có khi là bước vào tuổi già, khi khả năng không còn như trước. Nếu suốt nhiều năm ta chỉ biết quý mình qua hiệu quả công việc, những giai đoạn ấy sẽ rất khó sống. Bởi vậy, việc canh tân sứ vụ hôm nay cũng chuẩn bị cho ngày mai. Ta tập tin rằng mình thuộc về Chúa trước khi có một nhiệm vụ, và vẫn thuộc về Người khi nhiệm vụ ấy khép lại.
Một thành viên cao tuổi trong cộng đoàn không phải chứng minh mình còn hữu ích mới xứng đáng được yêu thương. Người đau yếu không phải xin lỗi vì cần người khác giúp. Người đang được nghỉ để phục hồi không phải mang mặc cảm vì người khác còn làm việc. Cộng đoàn sống Tin Mừng phải làm cho sự thật ấy trở nên có thể cảm nhận được trong cách phân công, thăm hỏi, chăm sóc và trò chuyện. Nếu chỉ những người đang làm được nhiều mới có tiếng nói và được quan tâm, chúng ta sẽ vô tình dạy nhau rằng giá trị con người có thể đo bằng năng suất.
Từ đó, ta cũng hiểu vì sao một lịch trình luôn quá tải cần được xem xét bằng trách nhiệm chung. Không thể giải quyết mọi sự mệt mỏi bằng câu nhắc “chịu khó thêm một chút”. Có những lúc chịu khó là điều cần. Nhưng nếu ngày nào cũng phải gắng thêm để duy trì một khối lượng công việc vượt sức, cộng đoàn cần đặt lại câu hỏi về cách tổ chức. Sứ vụ nào thật sự thuộc về lời mời gọi và khả năng hiện tại? Việc nào đang được duy trì chỉ vì sợ người khác thất vọng? Có thể cộng tác với ai? Có thể thu hẹp điều gì để làm phần còn lại cho chu đáo hơn?
Đôi khi chúng ta không dám giảm việc vì đã quen được nhìn nhận là một cộng đoàn làm rất nhiều. Danh tiếng ấy có thể tạo nên áp lực âm thầm. Một chương trình từng thành công thì năm sau phải lớn hơn. Một cơ sở đã mở thì phải cố duy trì bằng mọi giá, dù nhân sự ngày càng ít và sức khỏe ngày càng yếu. Những người trực tiếp gánh việc không dám nói thật vì sợ bị xem là thiếu nhiệt thành. Trong hoàn cảnh ấy, lòng can đảm của người có trách nhiệm có thể nằm ở quyết định điều chỉnh quy mô, giải thích rõ lý do và bảo vệ điều kiện sống cần thiết cho các thành viên.
Giảm một hoạt động chưa chắc là giảm lòng yêu thương. Có khi đó là cách giữ cho những việc còn lại được thực hiện tử tế. Người đang cần giúp không được hưởng lợi nhiều từ một công việc mang danh nghĩa tốt đẹp nhưng thiếu người, thiếu chuẩn bị và liên tục sai sót. Cộng đoàn cũng không thể sống hiệp thông nếu các thành viên chỉ gặp nhau trong lúc vội vàng, ăn uống thất thường, cầu nguyện với tâm trí kiệt quệ và trò chuyện bằng sự cáu gắt. Sứ vụ được trao cho một cộng đoàn có đời sống. Khi đời sống ấy bị rút cạn quá lâu, cách phục vụ sẽ sớm mang dấu vết của sự cạn kiệt.
Một dấu hiệu cần chú ý là khi ta bắt đầu coi mọi nhu cầu của người khác như một sự quấy rầy. Tiếng chuông điện thoại khiến ta bực ngay cả trước khi biết ai gọi. Một lời hỏi thăm của chị em cũng làm ta khó chịu. Một thay đổi nhỏ trong lịch trình khiến ta nổi nóng. Có thể lúc ấy ta cần nhìn lại sự nghỉ ngơi, cách phân chia việc và những điều đang tích tụ trong lòng. Đừng vội kết luận mình đã mất ơn gọi. Cũng đừng dùng lý do mệt để bỏ qua cách cư xử làm người khác tổn thương. Ta có thể vừa nhận trách nhiệm về lời nói của mình, vừa nghiêm túc tìm cách điều chỉnh những điều khiến mình thường xuyên mất quân bình.
Có những lời xin lỗi rất cần trong cộng đoàn: “Hôm nay tôi đã nói quá nặng. Chị không đáng bị đối xử như vậy.” Sau lời xin lỗi, cần có một bước cụ thể để tránh lặp lại: trao đổi lại khối lượng công việc, xin người hỗ trợ, tạm hoãn điều chưa cấp thiết, hoặc tìm sự đồng hành thích hợp. Nếu chỉ xin lỗi rồi tiếp tục sống trong cùng một nhịp quá tải, sự tổn thương sẽ trở thành vòng lặp. Lòng chân thành cần được đưa vào những thay đổi có thể thực hiện.
Nghỉ ngơi cũng cần có chất lượng. Có khi ta đã ngưng công việc nhưng vẫn tiếp tục theo dõi mọi chuyện, kiểm tra mọi tin nhắn, can thiệp mọi quyết định. Thân xác ở một nơi, tâm trí vẫn bị kéo đi. Có khi ta dùng thời gian nghỉ để lấp đầy mình bằng những kích thích khác, rồi trở lại công việc với sự mệt mỏi không kém. Người tu sĩ cần học điều gì thực sự giúp mình hồi sức: một giấc ngủ đủ, một cuộc đi bộ, một bữa ăn không vội, một cuộc trò chuyện thành thật, thời gian thinh lặng, một sinh hoạt đơn giản đem lại niềm vui. Những điều ấy thuộc về trách nhiệm chăm sóc đời sống được Chúa trao.
Ở đây, cầu nguyện giúp ta nhận ra giới hạn sâu xa của mình. Khi quỳ trước Chúa, ta tập chấp nhận rằng thế giới vẫn tiếp tục ngay cả khi mình dừng lại. Những người mình yêu thương ở trong sự chăm sóc của Thiên Chúa cả khi mình không thể có mặt. Công việc có thể được người khác tiếp nối. Một tin nhắn có thể chờ. Một vấn đề có thể cần thời gian. Ta không phải hiện diện trong mọi nơi để tình yêu của Chúa được hiện diện. Sự nhận biết ấy giải thoát ta khỏi một gánh nặng mà nhiều khi chính mình đã nhận lấy.
Tuy vậy, có những người rất khó nghỉ vì nỗi sợ mất chỗ đứng. Họ tự đặt mình vào trung tâm mọi việc, nắm thông tin, giữ các liên hệ, quyết định cả những chi tiết người khác có thể làm. Ban đầu, mọi người biết ơn vì sự tận tụy ấy. Nhưng dần dần, cả công việc trở nên lệ thuộc vào một người. Khi người ấy vắng, không ai biết xử lý. Khi có ý kiến khác, người ấy cảm thấy bị chống đối. Khi có người đủ khả năng nhận trách nhiệm, người ấy lại lo mình không còn cần thiết. Một công việc như thế có thể chạy được, nhưng khó giúp cộng đoàn lớn lên.
Phục vụ với tinh thần Tin Mừng đòi ta xây dựng khả năng nơi người khác. Dạy để người khác hiểu. Bàn giao để người khác có thể tiếp tục. Chia sẻ thông tin đúng mức để công việc không bị giữ làm của riêng. Khích lệ người cộng tác thử sức và cho họ cơ hội sửa sai trong phạm vi an toàn. Việc này có thể chậm hơn trong giai đoạn đầu. Ta tự làm có khi nhanh hơn. Nhưng nếu cứ vì nhanh mà làm hết, những người chung quanh sẽ mãi chỉ biết chờ. Sau một thời gian, ta lại than rằng chẳng ai có trách nhiệm, trong khi chính mình chưa thực sự trao cho họ trách nhiệm.
Trao trách nhiệm đòi sự rõ ràng. Người được giao việc cần biết mình được quyết định đến đâu, cần báo cáo điều gì, có thể tìm ai khi gặp khó. Nếu giao một việc rồi liên tục sửa từng chi tiết mà không giải thích nguyên tắc, ta sẽ làm người khác mất tự tin. Nếu bỏ mặc họ hoàn toàn rồi trách khi sai, ta cũng chưa hoàn thành phần hướng dẫn của mình. Người phục vụ trưởng thành học cách nâng đỡ vừa đủ để người khác đứng được trên đôi chân của họ. Thành quả của sự nâng đỡ ấy có thể là một ngày họ không còn cần hỏi ta nhiều như trước.
Đó là một niềm vui cần được tập luyện. Người học trò biết tự học. Người được đồng hành biết tự phân định trong trách nhiệm của mình. Gia đình từng cần trợ giúp đã có thể ổn định đời sống. Người cộng tác có thể đảm nhận phần việc mà trước đây chỉ ta làm. Khi ấy, mối tương quan sẽ thay đổi. Họ ít tìm đến hơn. Họ có thêm các liên hệ khác. Họ không còn kể mọi chuyện với ta. Nếu lòng còn nhu cầu chiếm giữ, ta có thể thấy hụt hẫng và gọi sự trưởng thành ấy là vô ơn. Nhưng điều ta đã cầu mong cho họ chính là khả năng sống vững vàng hơn. Ta cần học đón nhận hoa trái ấy, kể cả khi nó làm vai trò của mình nhỏ lại.
Người được giúp không mắc nợ ta bằng sự lệ thuộc suốt đời. Họ có thể biết ơn, cầu nguyện cho ta, nhớ điều tốt mình đã nhận. Đồng thời, họ có quyền đưa ra những quyết định mà ta không hoàn toàn đồng ý, tìm một người đồng hành khác phù hợp hơn, hoặc bước sang một giai đoạn mới. Nếu có những vấn đề cần trao đổi, ta có thể nói rõ. Nhưng lòng thương không giữ người khác trong cảm giác mắc nợ để bảo đảm rằng mình luôn còn một chỗ đặc biệt.
Ngay cả lời nhắc “tôi đã hy sinh cho anh chị như thế nào” cũng cần được xét lại. Có những hoàn cảnh phải nói rõ sự thật về nguồn lực và công sức để công việc được tôn trọng. Tuy nhiên, nếu cứ nhắc lại những gì mình đã cho mỗi khi người kia muốn sống khác ý mình, sự giúp đỡ đã bắt đầu mang điều kiện. Người nhận sẽ không còn biết đâu là lòng tốt và đâu là yêu cầu phải phục tùng. Ngày tĩnh tâm mời chúng ta đặt trước Chúa cả những điều tốt đã làm, để Người giúp ta thôi dùng chúng như lý do đòi quyền trên cuộc đời người khác.
Trong đời sống thánh hiến, việc giữ ranh giới ngay lành cũng là một phần của sứ vụ. Sự gần gũi cần phù hợp với trách nhiệm, hoàn cảnh và phẩm giá của đôi bên. Người đang yếu đuối có thể dễ gắn bó với người đã kiên nhẫn nghe mình. Người phục vụ cũng có thể cảm thấy được cần đến theo một cách rất riêng. Nếu không tỉnh thức, cả hai dần bước vào một tương quan khó tự do: chỉ muốn nói với nhau, khó đón nhận sự hướng dẫn từ người khác, giữ những điều đáng lẽ cần được trao đổi với người có trách nhiệm. Lúc ấy, cần có sự thành thật và một cách điều chỉnh phù hợp trước khi sự gắn bó gây tổn thương.
Ranh giới tốt giúp sự quan tâm được bền vững và rõ ràng. Ta có thể dành một thời gian thích hợp để lắng nghe, thay vì hứa luôn sẵn sàng mọi lúc. Ta có thể khuyến khích người được đồng hành xây dựng những tương quan lành mạnh khác, thay vì trở thành chỗ dựa duy nhất. Ta có thể nhờ người có chuyên môn hỗ trợ những vấn đề vượt khả năng, thay vì sợ rằng giới thiệu đi nơi khác sẽ khiến mình mất vai trò. Biết giới hạn của mình là một cách bảo vệ người đang tin tưởng mình.
Có những hoàn cảnh, việc cần làm nhất là chuyển người cần giúp đến đúng nơi. Một vấn đề sức khỏe cần được người có chuyên môn đánh giá. Một nỗi khổ tâm kéo dài có thể cần sự hỗ trợ thích hợp ngoài cuộc trò chuyện mục vụ. Một hoàn cảnh bị xâm hại cần được bảo vệ và xử lý theo trách nhiệm liên quan, chứ không thể chỉ dừng ở lời khuyên cố gắng chịu đựng. Người tu sĩ không cần có câu trả lời cho mọi vấn đề. Điều cần là đủ khiêm nhường để nhận ra mình chưa biết, đủ trách nhiệm để không đưa lời khuyên vượt khả năng, và đủ tận tâm để giúp người kia đến được nơi có thể hỗ trợ.
Sự khiêm nhường ấy cũng giúp chúng ta biết cộng tác. Có những người không sống đời thánh hiến nhưng có chuyên môn, kinh nghiệm và sự hiểu biết mà sứ vụ rất cần. Khi lắng nghe họ, ta không mất vai trò của mình. Ta đang làm cho người được phục vụ có thêm cơ hội nhận sự trợ giúp tốt. Nếu chỉ muốn cộng tác với những người luôn đồng ý, ta sẽ thu hẹp sứ vụ vào giới hạn hiểu biết của bản thân. Một ý kiến khác có thể làm ta khó chịu lúc đầu, nhưng cũng có thể giúp tránh một quyết định thiếu chín chắn.
Trong cộng tác, cách ta đối xử với những người làm các phần việc ít được chú ý nói rất nhiều về tinh thần phục vụ. Ta có lịch sự với người lao động như với ân nhân không? Ta có lắng nghe người dọn dẹp khi họ nói một cách sắp xếp đang làm công việc của họ khó hơn không? Ta có trả lời người phụ giúp bằng sự tôn trọng, hay chỉ nhớ đến họ khi cần giao việc? Ta có quan tâm điều kiện làm việc, giờ nghỉ và quyền lợi chính đáng của họ không? Một công trình mang danh bác ái cần được xây dựng bằng những tương quan công bằng ngay trong cách vận hành hằng ngày.
Có thể chúng ta rất dịu dàng trên bục giảng, trong lớp học hoặc trước khách đến thăm, nhưng lại thiếu kiên nhẫn với người cùng làm việc. Điều ấy cần được nhìn nhận nghiêm túc. Những người sống gần ta không phải chịu một phiên bản cộc cằn của ta chỉ vì ta đã dùng hết sự tử tế cho người bên ngoài. Cộng đoàn là nơi lòng thương được kiểm chứng trong những chuyện không có tiếng vỗ tay: nhờ một việc cho đàng hoàng, trả lời một câu hỏi mà không hạ thấp người hỏi, dọn phần mình đã sử dụng, giữ lời hẹn, nhận lỗi khi làm người khác phải chờ.
Đôi khi ta chăm sóc người ở xa dễ hơn người ở gần, vì người ở xa nhìn thấy phần tốt đẹp nhất của ta trong một khoảng thời gian ngắn. Người ở gần biết cả sự khó tính, thói quen và những giới hạn của ta. Họ cũng có những giới hạn làm ta khó chịu. Vì thế, phục vụ trong cộng đoàn đòi một sự thật thà khác. Ta không thể chỉ dựa vào hình ảnh mình đã gây dựng. Ta cần sống tình yêu bằng những lựa chọn lặp lại mỗi ngày, trong một hoàn cảnh không thể lúc nào cũng thuận ý.
Canh tân sứ vụ cũng cần nhìn lại cách chúng ta kể về những người được phục vụ. Một báo cáo có thể cần con số để trách nhiệm được rõ ràng, nhưng con số không nói hết một cuộc đời. Một hình ảnh có thể giúp trình bày công việc, nhưng người trong hình vẫn có quyền được tôn trọng. Trước khi chia sẻ câu chuyện của ai, ta cần nghĩ đến sự riêng tư, sự đồng thuận phù hợp và ảnh hưởng có thể có đối với họ. Một người đang nhận trợ giúp không vì thế mà phải để nỗi khổ của mình trở thành điều công khai cho người khác đánh giá.
Có những câu chuyện rất dễ làm người nghe xúc động, nhưng việc kể lại có thể khiến người trong cuộc xấu hổ, bị nhận ra hoặc bị tổn thương thêm. Người phục vụ cần có sự tiết chế. Không phải điều gì có thể tạo ấn tượng tốt cho công việc cũng nên được đưa ra. Có những việc bác ái sẽ chỉ có Chúa và người liên quan biết. Chúng vẫn có giá trị. Nếu lòng ta quá cần bằng chứng cho thấy mình đã làm nhiều, ta sẽ khó giữ được sự kín đáo cần thiết cho phẩm giá của người khác.
Báo cáo trung thực cũng là một cách thanh luyện. Ta ghi điều đã làm, nhìn nhận điều chưa đạt, nói rõ những khó khăn, không phóng đại hoa trái và không giấu các thiếu sót đáng lẽ phải được sửa. Một cộng đoàn có thể học được nhiều từ một việc chưa thành nếu mọi người được nói thật. Ngược lại, khi ai cũng sợ hình ảnh tốt đẹp bị ảnh hưởng, các vấn đề sẽ bị đẩy xuống dưới những lời lẽ tròn trịa. Đến lúc hậu quả rõ ràng, người chịu thiệt thường là những người ít có tiếng nói nhất.
Trong Tin Mừng, mọi người được ăn và được no. Người môn đệ được mời góp phần vào sự no đủ ấy. Điều này giúp ta xét lại tiêu chuẩn thành công của mình. Sau một cuộc gặp, người kia có hiểu rõ hơn việc cần làm không? Sau một thời gian được đồng hành, họ có thêm khả năng nhận trách nhiệm không? Sau một buổi học, người yếu có được hướng dẫn để tiến thêm không? Sau một lần xin giúp đỡ, họ có còn giữ được lòng tự trọng không? Những câu hỏi ấy đưa ta về gần mục đích của sứ vụ hơn là chỉ hỏi chương trình có đông người, có được khen, có tạo ấn tượng hay không.
Cũng có những thành quả không thể nhìn thấy ngay. Một lời nói kiên nhẫn hôm nay có thể giúp người trẻ nhiều tháng sau mới dám trở lại. Một lần được tôn trọng có thể ở lại lâu trong ký ức người từng quen bị coi thường. Một cách xử sự công bằng có thể làm người lao động bớt sợ khi trình bày điều chính đáng. Ta không thể luôn biết điều tốt mình làm sẽ đi xa đến đâu. Vì thế, đừng vội xem những ngày âm thầm là vô ích. Sứ vụ có những phần việc chỉ đòi ta trung thành với điều tốt có thể làm trong hôm nay.
Nhưng sự âm thầm cũng cần được phân biệt với một công việc không chịu nhìn lại hiệu quả. Ta không đòi phải thấy mọi hoa trái, song vẫn có trách nhiệm xét xem cách phục vụ có đang đáp ứng nhu cầu thật không. Một hoạt động được duy trì nhiều năm có thể đã không còn phù hợp. Người mình phục vụ có thể đã đổi khác. Cách liên lạc, giờ giấc, nội dung, phương pháp có thể cần điều chỉnh. Trung thành với sứ vụ bao gồm sự sẵn sàng sửa cách làm khi hoàn cảnh đòi hỏi.
Muốn biết điều ấy, tháng này chúng ta hãy thực hiện một cuộc gặp với người đang được mình phục vụ. Chọn một người cụ thể và dành cho họ thời gian đủ yên. Có thể hỏi điều gì trong cách làm việc của chúng ta đã giúp họ, điều gì khiến họ khó nói, điều gì họ đang cần mà ta chưa hiểu. Hãy cho họ biết họ có thể góp ý thành thật. Rồi cố gắng nghe mà không lập tức giải thích cho mình. Nếu mọi nhận xét đều bị ta sửa lại ngay, người kia sẽ sớm hiểu rằng lời mời góp ý chỉ là hình thức.
Có thể điều ta nghe sẽ nhỏ thôi: giờ hẹn không phù hợp với người phải đi làm; lời hướng dẫn quá khó hiểu; cách xưng hô khiến họ ngại; một thủ tục buộc họ phải đi lại nhiều lần; một lời nói hôm trước làm họ tưởng mình đang bị trách. Chính những điều nhỏ ấy thường quyết định một người có dám trở lại hay không. Ta không nhất thiết đáp ứng mọi mong muốn. Có những giới hạn cần được giải thích. Nhưng trước hết, hãy cho người ấy cảm nhận rằng kinh nghiệm của họ đáng được nghe.
Một thực hành khác là nhìn lại lịch làm việc trong một tuần bình thường. Hãy nhìn bằng sự trung thực, không tô đậm để thấy mình hy sinh nhiều, cũng không xem nhẹ những phần việc âm thầm. Giờ cầu nguyện có thường bị việc khác lấn vào không? Bữa ăn có đủ bình an để thực sự ăn không? Ta có thời gian chuẩn bị cho công việc hay chỉ chạy theo điều đến trước mắt? Những cuộc gặp có được sắp xếp hợp lý không? Việc nào có thể chia sẻ? Việc nào cần nói không? Việc nào đang tiếp tục chỉ vì không ai dám đặt lại câu hỏi?
Sau khi nhìn, hãy chọn một điều để điều chỉnh thật. Có thể là thống nhất một khung giờ tiếp khách. Có thể là bàn giao một phần việc cho người đủ khả năng. Có thể là dành thời gian chuẩn bị thay vì làm vội vào phút cuối. Có thể là ngưng nhận thêm một nhiệm vụ khi trách nhiệm hiện tại đã quá sức. Có thể là xin một cuộc trao đổi với người phụ trách để trình bày rõ tình trạng của mình. Một thay đổi nhỏ được giữ đều có thể giúp ta hiện diện tử tế hơn trong rất nhiều cuộc gặp.
Cộng đoàn cũng có thể dành một thời gian nhìn lại sứ vụ bằng những câu hỏi thẳng thắn. Ai đang gánh quá nhiều? Ai chưa được hướng dẫn đủ? Có thành viên nào đang âm thầm chịu đựng vì sợ làm phiền? Có công việc nào cần sự hỗ trợ chuyên môn mà chúng ta cứ tiếp tục tự xoay xở? Người yếu thế có dễ trình bày điều họ gặp không? Khi có góp ý, cộng đoàn lắng nghe hay vội bảo vệ cách làm quen thuộc? Một cuộc nhìn lại như thế cần bầu khí an toàn để người nói thật không bị coi là gây khó khăn.
Trong mọi điều ấy, ta cần giữ cho lòng mình có chỗ trở về với Đức Giêsu. Các Tông đồ đã trở về kể chuyện với Người. Chúng ta cũng hãy đem đến Người một ngày làm việc của mình, kể cả những điều không đẹp. Hôm nay con đã buồn vì không được cảm ơn. Con đã ghen khi thấy người khác được tín nhiệm. Con đã nói một câu khiến người đang cần giúp phải im đi. Con đã hứa quá khả năng vì muốn được quý. Con đã làm một việc tốt, nhưng sau đó cứ mong có người nhắc đến. Những lời thú nhận ấy có thể làm ta xấu hổ, nhưng chúng mở ra một chỗ cho ân sủng đi vào.
Đừng biến việc xét mình thành một cuộc kết án kéo dài. Khi thấy động cơ còn pha trộn, hãy đem nó đến với Chúa và tiếp tục học yêu. Lòng người được thanh luyện qua nhiều lần nhận ra, xin tha thứ và sửa lại. Có khi hôm nay ta đã biết im lặng khi bị quên, nhưng trong lòng vẫn còn buồn. Hãy mang nỗi buồn ấy vào cầu nguyện. Có khi ta đã bàn giao công việc, nhưng vẫn muốn hỏi mọi chi tiết. Hãy tập lùi thêm một bước. Có khi ta đã vui được một chút trước sự trưởng thành của người khác. Hãy tạ ơn vì chút tự do đang lớn lên ấy.
Người ta cần được yêu, và tôi cần học phục vụ. Câu này có thể trở thành một lời nhắc trước mỗi ngày làm việc. Người tôi sắp gặp không đến để lấp đầy nỗi thiếu thốn được công nhận của tôi. Họ có một cuộc đời cần được tôn trọng. Tôi có thể giúp một phần, trong trách nhiệm và khả năng Chúa trao. Tôi sẽ chuẩn bị cho chu đáo, lắng nghe cho thành thật, nói cho rõ ràng, và khi cần sẽ nhờ người khác cùng giúp. Nếu họ lớn lên, tôi xin được vui. Nếu họ chưa thay đổi, tôi xin đủ kiên nhẫn để phân định bước tiếp theo. Nếu tôi phải dừng lại, xin cho tôi tin rằng Chúa vẫn đang chăm sóc họ.
Rồi sẽ có những ngày ta làm một việc tốt mà chẳng ai biết. Có những quyết định đúng không đem lại lời khen. Có những lời từ chối cần thiết khiến người khác chưa hiểu. Có những sự trao lại làm lòng ta đau vì phải rời một điều rất thân thuộc. Trong tất cả những lúc ấy, ta được mời ở gần Đức Giêsu hơn. Người biết sự thật của lòng ta. Người cũng thấy những người đang cần được chăm sóc. Ở bên Người, ta học cách để cả hai sự thật ấy được gặp nhau: bản thân mình là người được yêu, và người trước mặt cũng là người được yêu.
Tháng Chín này, xin cho chúng ta trở về với một khuôn mặt đã bị bỏ quên giữa quá nhiều công việc. Có thể đó là khuôn mặt một người đang được mình phục vụ. Có thể là một chị em trong cộng đoàn đã lâu chưa được hỏi thăm thật lòng. Có thể là người cộng tác vẫn âm thầm gánh phần việc nặng mà ít ai nhắc đến. Cũng có thể là chính mình, đang mệt và cần dám nói thật. Hãy bắt đầu bằng một cuộc gặp tử tế. Ngồi xuống, dành thời gian, nghe cho hết. Từ một sự hiện diện như thế, sứ vụ có thể được canh tân ngay trong ngày hôm nay.
Lạy Chúa Giêsu, hôm nay con trở về bên Chúa với những công việc đã làm, những điều còn dang dở và cả lòng con chưa được tự do. Có những lúc con phục vụ với niềm vui đơn sơ. Nhưng cũng có những lúc con làm rất nhiều chỉ để khỏi phải đối diện với nỗi sợ mình không còn quan trọng. Con muốn được cần đến, muốn được nhớ tên, muốn người khác hiểu những hy sinh của con. Khi không nhận được điều ấy, con dễ buồn, dễ trách, dễ khép lòng với chính những người con đã từng hết sức chăm sóc. Xin Chúa đón nhận sự thật còn yếu đuối này của con.
Xin cho con tin rằng con được Chúa yêu cả trong những ngày làm việc hiệu quả lẫn những ngày sức lực cạn đi. Khi con còn đứng giữa công việc và khi con phải trao việc lại cho người khác, xin giúp con ở yên trong tình yêu của Chúa. Xin dạy con đón nhận sự chăm sóc mà không mặc cảm, nhận một lời góp ý mà không vội tự vệ, và nói về giới hạn của mình bằng sự chân thành.
Lạy Chúa, xin cho con nhìn thấy con người trước khi nhìn thấy phần việc cần hoàn thành. Khi một người đến với câu chuyện dài, xin giữ con khỏi thái độ nóng lòng cho xong. Khi một người chậm thay đổi, xin giúp con hiểu điều đang cản trở họ. Khi một người làm con thất vọng, xin đừng để nỗi thất vọng xóa mất phẩm giá của họ trong mắt con. Xin cho lời nói của con đủ rõ để hướng dẫn và đủ hiền để người yếu vẫn dám đến gần.
Xin thanh luyện những gì con mong đợi sau mỗi lần trao đi. Khi con không được cảm ơn, xin giúp con đem nỗi buồn đến với Chúa. Khi người khác được tín nhiệm, xin cho con biết vui và sẵn sàng cộng tác. Khi một người không còn cần con như trước, xin cho con nhận ra điều tốt đang lớn lên trong cuộc đời họ. Xin đừng để con dùng công sức đã bỏ ra để giữ người khác trong sự lệ thuộc hay cảm giác mắc nợ.
Xin dạy con phục vụ có trách nhiệm. Cho con chịu khó học điều chưa biết, chuẩn bị điều cần làm, nhận lỗi khi sai và tìm người hỗ trợ khi việc vượt quá khả năng. Xin gìn giữ con khỏi những lời hứa vội vàng, những lời khuyên thiếu hiểu biết và những cách làm khiến người yếu phải chịu thiệt. Xin cho con biết tôn trọng sự riêng tư, tự do và những chọn lựa có trách nhiệm của người mình đồng hành.
Xin thương cộng đoàn chúng con. Xin giúp chúng con nhìn thấy người đang gánh quá nhiều, người không dám nói mình mệt, người đang thấy mình bị bỏ quên. Cho chúng con can đảm điều chỉnh công việc, chia sẻ trách nhiệm và chăm sóc nhau bằng những việc cụ thể. Xin để giờ cầu nguyện, bữa ăn và thời gian nghỉ trở thành những lúc chúng con thực sự được trở về, được nâng đỡ, rồi lại lên đường với một tâm hồn còn khả năng yêu thương.
Lạy Chúa Giêsu, xin nhận lấy phần ít ỏi con có hôm nay. Có thể con chưa khéo léo, chưa đủ kiên nhẫn, chưa hoàn toàn tự do trước lời khen và sự quên lãng. Nhưng con muốn tiếp tục học ở bên Chúa. Xin cho đôi tay con làm việc chu đáo, đôi tai con biết lắng nghe, và lòng con biết vui khi người khác được lớn lên. Đến cuối ngày, xin cho con có thể trở về, ngồi bên Chúa và thưa thật: hôm nay con đã cố gắng yêu người Chúa trao cho con. Điều gì còn thiếu, xin Chúa tha thứ và dạy con làm lại ngày mai. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
THÁNG MƯỜI — GIỮ MỘT CHỖ THINH LẶNG ĐỂ CÒN NGHE ĐƯỢC CHÚA
Canh tân đời sống cầu nguyện giữa nhịp sống số.
Lời Chúa: Mc 1,35–39 — Đức Giêsu tìm nơi thanh vắng để cầu nguyện rồi tiếp tục sứ vụ.
Có những buổi sáng, ta đã nghe rất nhiều tiếng nói trước khi kịp thưa với Chúa một lời. Vừa tỉnh dậy, bàn tay đã tìm điện thoại. Một tin nhắn từ tối qua chưa trả lời, một thông báo của cộng đoàn, một công việc cần giải quyết, một hình ảnh được gửi trong nhóm, một bản tin khiến lòng bất an. Ta chỉ định xem một chút để biết có việc gì khẩn cấp. Nhưng từ điều cần biết, ta đi sang điều muốn biết; từ một thông báo, ta mở thêm một nội dung; từ vài phút, ta bước vào cả một chuỗi những chuyện không có trong dự định ban đầu. Khi tiếng chuông nhà nguyện vang lên, thân thể đã ra khỏi giường, nhưng tâm trí cũng đã đi rất xa. Ta mang vào giờ kinh những cuộc đối thoại chưa có hồi kết, những điều vừa đọc khiến mình bực bội, những lo lắng mà mới vài phút trước chưa hề xuất hiện. Ngày sống bắt đầu như thế, bằng một sự phân tán mà ta hầu như không nhận ra.
Có những buổi tối cũng kết thúc theo cách ấy. Ta đã hoàn thành công việc, đã dự giờ kinh, đã trở về phòng. Lẽ ra đây là lúc lòng được chậm lại để nhìn ngày sống trước mặt Chúa. Nhưng ta lại cầm điện thoại. Có thể vì còn việc thật sự cần làm. Có thể vì muốn nghỉ ngơi sau một ngày mệt. Cũng có thể vì ta không biết làm gì với khoảng trống vừa mở ra khi công việc ngừng lại. Ta xem đến khi mắt mỏi, rồi đặt máy xuống với cảm giác vừa bận rộn thêm mà chưa được nghỉ ngơi. Lời cầu nguyện cuối ngày trở thành vài câu thưa vội giữa cơn buồn ngủ. Ta khép mắt, nhưng những hình ảnh vẫn tiếp tục chạy trong đầu. Căn phòng đã tắt đèn, còn lòng ta chưa tìm được chỗ dừng.
Ngày tĩnh tâm tháng Mười mời người tu sĩ nhìn lại chính những điều rất nhỏ ấy. Chúng không có vẻ nghiêm trọng như một lần bỏ bổn phận rõ ràng. Chúng diễn ra âm thầm, được giải thích bằng những lý do hợp lý, được lặp lại đến mức trở thành nếp sống. Nhưng qua thời gian, chúng có thể làm thay đổi cách ta hiện diện trước Chúa, cách ta lắng nghe anh chị em, cách ta đón nhận công việc và cả cách ta hiểu về chính mình. Một người vẫn có thể giữ đủ các giờ chung mà dần mất khả năng ở lại với Chúa bằng một tâm hồn chú ý. Một cộng đoàn vẫn có thể duy trì thời khóa biểu đều đặn mà mỗi thành viên lại sống trong một dòng thông tin riêng, ít gặp nhau hơn trong những điều thật sự làm nên đời sống chung.
Điều đáng buồn là đôi khi ta chỉ nhận ra sự xa cách ấy khi lòng đã mỏi. Ta vẫn nói về cầu nguyện, vẫn chuẩn bị những bài suy niệm, vẫn khuyên người khác tín thác, nhưng bản thân lại khó ngồi yên vài phút mà không muốn tìm một điều gì đó để xem. Ta có thể nghe hàng giờ những câu chuyện bên ngoài, nhưng vừa bước vào thinh lặng đã thấy ngột ngạt. Ta biết nhiều chuyện đang xảy ra ở những nơi rất xa, nhưng không biết người sống cùng nhà đang buồn vì điều gì. Ta có thể giải thích một đoạn Tin Mừng khá mạch lạc, nhưng không nhớ lần gần nhất mình để đoạn Tin Mừng ấy chạm đến một lựa chọn riêng là khi nào.
Chính trong hoàn cảnh đó, hình ảnh Đức Giêsu trong Tin Mừng hôm nay trở nên gần gũi. Sau những hoạt động chữa lành và phục vụ tại Caphácnaum, Người thức dậy khi trời còn tối, đi ra một nơi thanh vắng và cầu nguyện. Thánh Máccô kể điều ấy rất giản dị. Không có mô tả về một cảm xúc đặc biệt, không thuật lại những lời cầu nguyện dài, cũng không trình bày cho chúng ta một phương pháp. Chỉ có một Đức Giêsu rời nơi đang ở, tìm chỗ thanh vắng và ở đó trước mặt Chúa Cha. Giữa một sứ vụ có rất nhiều người tìm đến, Người dành thời gian cho cuộc gặp gỡ mà đám đông không nhìn thấy.
Ta hãy dừng lại ở hành động ấy. Đức Giêsu vừa trải qua những giờ phục vụ con người. Nhu cầu chung quanh còn rất nhiều. Những người đau yếu vẫn còn đó. Các môn đệ chưa hiểu hết con đường Người đang đi. Một ngày mới sẽ lại đem đến những lời thỉnh cầu. Trong hoàn cảnh ấy, Người vẫn cầu nguyện. Sự hiện diện của những công việc chưa xong không làm cho cuộc gặp gỡ với Chúa Cha trở thành điều có thể tùy tiện bỏ qua. Người dành cho Cha thời gian ngay giữa sứ vụ đang mở rộng. Nhờ đó, chúng ta hiểu rằng đời cầu nguyện cần được đặt vào chính nhịp sống thật, nơi có mệt mỏi, có bổn phận, có những điều chưa giải quyết xong.
Người tu sĩ thường dễ chờ một hoàn cảnh thuận lợi hơn để cầu nguyện sâu hơn. Khi hết đợt công tác này, khi xong công trình kia, khi bớt trách nhiệm, khi cộng đoàn ổn định, khi sức khỏe khá hơn, khi không còn ai gọi đến, ta sẽ dành nhiều thời gian cho Chúa. Nhưng cuộc sống hiếm khi trao cho ta một khoảng hoàn toàn không có việc. Công việc này kết thúc thì công việc khác xuất hiện. Một nhu cầu được đáp ứng lại mở ra một nhu cầu mới. Nếu đời cầu nguyện chỉ được nhận phần thời gian còn dư, nhiều ngày nó sẽ chẳng được nhận gì ngoài sự mệt mỏi cuối cùng của ta.
Tuy vậy, nhìn Đức Giêsu thức dậy sớm để cầu nguyện không có nghĩa ta phải biến thiếu ngủ thành một tiêu chuẩn thiêng liêng. Một người đã phải chăm bệnh nhân suốt đêm cần được nghỉ. Một người đang điều trị cần tôn trọng giới hạn của thân thể. Điều Tin Mừng giúp ta nhận ra là vị trí của cuộc gặp gỡ với Chúa Cha trong đời sống Đức Giêsu. Người thực sự dành chỗ cho Cha. Còn ta, trong hoàn cảnh và sức lực của mình, có thực sự dành chỗ cho Chúa không? Ta có lựa chọn cụ thể nào để bảo vệ cuộc gặp gỡ ấy, hay chỉ mong nó tự xảy ra khi mọi chuyện khác đã yên?
Nơi thanh vắng của Đức Giêsu cũng làm ta nghĩ đến sự khác biệt giữa một chỗ yên và một lòng yên. Có thể nhà nguyện rất tĩnh, tiếng xe bên ngoài rất nhỏ, mọi người đều giữ im lặng, nhưng trong ta vẫn diễn ra một cuộc họp chưa kết thúc. Ta nhớ lời một người vừa nói, tưởng tượng điều mình nên đáp lại, lo cho việc chiều nay, tính chuyện ngày mai, rồi bất chợt nhớ đến chiếc điện thoại đang để ngoài cửa. Sự thinh lặng bên ngoài là một trợ giúp quý giá, nhưng lòng cần thời gian để theo kịp thân thể. Ta đã đến nhà nguyện, còn tâm trí đang trở về từng chút.
Vì thế, đừng vội kết luận rằng mình không biết cầu nguyện chỉ vì những phút đầu đầy phân tâm. Cũng đừng nổi giận với bản thân đến mức giờ cầu nguyện trở thành một cuộc kiểm tra căng thẳng. Sau nhiều giờ phải phản ứng liên tục, tâm trí cần được dẫn về một cách kiên nhẫn. Có khi việc đầu tiên ta cần làm chỉ là ngồi ngay ngắn, thả lỏng đôi vai, ý thức mình đang ở đâu và thưa với Chúa điều rất thật: hôm nay lòng con đang tản mác; con còn lo chuyện này; con đang khó chịu với người kia; con chưa biết phải làm gì với nỗi mệt của mình. Sự thật ấy đã có thể trở thành lời cầu nguyện.
Ta không cần đợi đến khi tâm hồn hoàn toàn ổn định mới trình diện trước Chúa. Nếu chỉ đem đến cho Người một con người đã thu xếp xong mọi sự, ta sẽ ít có dịp cầu nguyện chân thành. Chính con người còn ngổn ngang này cần được ở trước mặt Người. Nhưng việc mang những ngổn ngang đến với Chúa khác với việc để chúng kéo mình đi suốt giờ cầu nguyện. Ta nhận biết chúng, trao chúng cho Người, rồi trở lại với Lời Chúa đang đọc. Khi lại phân tâm, ta lại trở về. Một lần trở về có thể rất nhỏ, nhỏ đến mức không đem lại cảm giác gì rõ rệt, nhưng nó diễn tả lòng muốn ở lại.
Đôi khi ta tưởng một giờ cầu nguyện tốt phải là giờ không có bất cứ ý nghĩ lạc hướng nào. Mong muốn ấy có thể làm ta chỉ chú ý đến thành tích của mình: hôm nay tập trung được bao lâu, có cảm thấy sốt sắng không, có ý tưởng đẹp không, có điều gì để ghi lại không. Trong khi đó, cuộc gặp gỡ với Chúa có thể diễn ra rất âm thầm giữa những lần ta khiêm tốn quay về. Ta không làm chủ hoàn toàn những ý nghĩ xuất hiện, nhưng có thể tập lựa chọn điều mình tiếp tục nuôi dưỡng. Khi nhận ra lòng đã đi xa và nhẹ nhàng đưa lòng trở lại, ta đang học sự trung tín.
Cũng cần thành thật nhìn nhận những phân tâm do chính nếp sống của mình gây nên. Nếu trước giờ chầu ta dành một khoảng dài để theo dõi những cuộc tranh luận, những hình ảnh kích thích, những chuyện khiến lòng giận dữ, rồi bước ngay vào nhà nguyện và mong tâm trí lập tức lắng xuống, ta đang đòi một điều vượt quá cách mình đã chuẩn bị. Ân sủng không miễn cho ta trách nhiệm thu xếp đời sống. Một giờ cầu nguyện cần được nâng đỡ bởi những lựa chọn trước đó: lúc nào dừng công việc, điều gì nên để lại đến sau, có cần mở thêm một nội dung nữa không, có thể tắt những thông báo không cần thiết không.
Chuẩn bị cầu nguyện có thể bắt đầu bằng một hành động rất thực tế: đóng phần việc đang làm, ghi lại điều cần nhớ để khỏi phải giữ nó trong đầu, đặt thiết bị ở một nơi đã định, rồi dành vài phút chuyển nhịp. Người phải đi từ một cuộc họp căng thẳng sang giờ kinh có thể cần dừng lại ở hành lang để ý thức cơn bực của mình. Người vừa chăm một bệnh nhân có thể cần thưa với Chúa về nỗi bất lực đang mang. Người vừa đọc một tin buồn có thể cần đem người đang đau khổ ấy vào lời nguyện. Khi được đón nhận trước mặt Chúa, những điều ấy có thể trở thành chất liệu của cuộc gặp gỡ, thay vì tiếp tục lôi ta ra khỏi đó.
Có một câu hỏi tưởng đơn giản nhưng thường làm ta lúng túng: tôi có thể ở yên mà không tìm điện thoại không? Ở yên trong vài phút chờ người khác đến, ngồi một mình sau bữa cơm, đi một quãng ngắn trong sân, chờ đến giờ kinh, hay vừa tỉnh dậy mà chưa mở máy. Nếu khoảng trống nào cũng phải được lấp đầy ngay, ta nên dừng lại để hiểu điều gì đang thúc đẩy mình. Có thể đó là thói quen. Có thể là nỗi sợ bỏ lỡ công việc. Có thể là sự cô đơn. Có khi chỉ vì ta đã lâu không tập sống một khoảng thời gian mà không nhận thêm điều gì.
Không phải mọi lần cầm điện thoại đều mang cùng một ý nghĩa. Có lần đó là hành vi trách nhiệm: trả lời người cần trợ giúp, xác nhận công việc, liên lạc với gia đình, chuẩn bị bài dạy. Có lần đó là sự nghỉ ngơi vừa phải và lành mạnh. Nhưng cũng có những lần bàn tay đi trước quyết định. Ta mở máy mà chưa biết mình tìm gì. Đến khi đặt xuống, ta cũng không nhớ mình vừa nhận được điều gì đáng giữ. Nhìn ra điều này giúp ta bắt đầu lấy lại quyền lựa chọn. Trước khi mở máy, ta có thể tập hỏi rất ngắn: mình mở để làm gì? Khi đã làm xong việc ấy, mình có thể dừng không?
Sự tự do trong sử dụng phương tiện số không được đo bằng việc ta có thiết bị mới hay cũ, dùng ít hay nhiều hơn người khác. Một người làm công tác truyền thông có thể cần nhiều giờ trước màn hình. Một người phụ trách liên lạc cần trả lời nhiều tin nhắn. Một người dạy học có thể phải chuẩn bị tài liệu trực tuyến mỗi ngày. Điều cần xét là cách những việc ấy được thực hiện và vị trí chúng đang chiếm trong đời sống. Ta có còn khả năng dừng khi cần dừng không? Có thể chú ý trọn vẹn đến người đang nói chuyện với mình không? Có giữ được lời hẹn với Chúa và với cộng đoàn không?
Đôi khi ta lấy lý do sứ vụ để giải thích cho mọi sự gián đoạn. Điện thoại rung trong bữa ăn, ta nhìn ngay. Có thông báo giữa cuộc trò chuyện, ta trả lời ngay. Đang đọc Lời Chúa, ta nhớ ra một điều cần kiểm tra và mở máy ngay. Không phải lần nào cũng sai, vì có những trách nhiệm thực sự khẩn cấp. Nhưng nếu mọi điều đều trở thành khẩn cấp, ta cần nhìn lại cách mình đang sống trách nhiệm. Người có bổn phận trực cần một cách tổ chức thích hợp. Người không trực cũng cần được phép vắng mặt trong một khoảng đã định. Cộng đoàn có thể cùng thỏa thuận cách liên lạc khi có việc cấp bách, để sự sẵn sàng phục vụ không biến thành tình trạng mọi người đều phải phản ứng suốt ngày đêm.
Một tin nhắn chưa được trả lời ngay không luôn có nghĩa người kia thiếu quan tâm. Họ có thể đang cầu nguyện, chăm sóc một người khác, nghỉ ngơi hoặc làm phần việc cần sự tập trung. Nếu ta đòi mọi người hiện diện với mình tức khắc, ta góp phần tạo ra thứ áp lực mà chính mình cũng đang khổ vì nó. Đời sống huynh đệ cần sự tôn trọng đối với thời gian và giới hạn của nhau. Người lãnh trách nhiệm càng cần lưu ý: một yêu cầu gửi rất muộn có thể khiến người nhận nghĩ rằng mình phải làm ngay, dù người gửi chỉ định nhắc cho ngày mai. Sự tế nhị trong liên lạc có thể bảo vệ giấc ngủ, giờ cầu nguyện và sự bình an của cả cộng đoàn.
Tuy nhiên, những giới hạn bên ngoài chỉ bền khi ta hiểu điều gì đang diễn ra bên trong. Vì có thể ta đã đặt điện thoại ra xa mà lòng vẫn chờ nó. Ta ngồi trước Nhà Tạm nhưng nhớ một bài mình vừa đăng, muốn biết có ai phản hồi, có ai khen, có ai phản đối. Ta cố đọc tiếp đoạn Tin Mừng nhưng trong đầu lại tự hỏi những lời mình viết có được đón nhận không. Chính lúc ấy, thinh lặng làm lộ ra một nhu cầu sâu hơn: ta đang cần được nhìn thấy, cần được xác nhận rằng mình có giá trị, cần biết việc mình làm đang được người khác chú ý.
Nhu cầu được công nhận không làm ta trở thành người xấu. Người tu sĩ cũng cần được khích lệ, cần biết công việc mình có ích, cần được cộng đoàn nhìn nhận những cố gắng chân thành. Nhưng khi giá trị bản thân bị buộc chặt vào phản ứng bên ngoài, lòng sẽ khó yên. Một lời khen làm ta vui quá mức, một sự im lặng khiến ta buồn quá lâu, một ý kiến trái chiều có thể chiếm cả giờ cầu nguyện. Khi ấy, việc trở về với Chúa giúp ta trình bày đúng nỗi thiếu thốn của mình: con đang sợ bị quên; con thấy mình kém giá trị khi người khác được chú ý hơn; con đã để những con số làm thay đổi cách nhìn về ơn gọi của con.
Có những sự thật chỉ được nhận ra khi ta thôi vội vàng tìm một điều khác để xem. Ta tưởng mình đang cần thông tin, nhưng thật ra đang cần được an ủi. Ta tưởng mình đang làm việc, nhưng đã chuyển sang né tránh một cuộc gặp khó khăn. Ta tưởng mình đang giải trí, nhưng cứ kéo dài mãi vì ngại đối diện với căn phòng vắng và nỗi buồn chưa nói với ai. Thinh lặng không tạo ra những điều ấy. Nó cho ta cơ hội nhận biết những gì vốn đã có, để đem chúng vào một tương quan có thể nâng đỡ mình.
Bởi vậy, có người sợ thinh lặng. Khi còn bận, họ có thể quên một nỗi đau. Khi công việc dừng, nỗi đau lại xuất hiện. Khi còn tiếng nói bên ngoài, họ chưa phải nghe lời trách móc đang lặp trong lòng. Khi không còn gì để theo dõi, họ nhớ đến một quyết định đang né tránh, một lỗi lầm chưa nhận, một sự ganh tị mình không muốn gọi tên. Có những người đã dành nhiều năm phục vụ người khác nhưng chưa từng có nơi an toàn để nói rằng chính mình cũng đang tổn thương. Với họ, lời mời thinh lặng cần đi cùng lòng dịu dàng và sự đồng hành, để việc ở lại trước Chúa không trở thành một đòi hỏi lạnh lùng.
Ta không cần dùng thinh lặng để ép mình chịu đựng mọi điều một mình. Nếu có nỗi buồn kéo dài, những ký ức gây khổ sở hoặc tình trạng kiệt sức khiến sinh hoạt bị ảnh hưởng, việc tìm sự trợ giúp thích hợp là một phần của trách nhiệm với đời mình. Một cuộc trò chuyện chân thành với người đồng hành có thể giúp ta cầu nguyện thật hơn. Một khoảng nghỉ cần thiết có thể giúp ta hiện diện trở lại. Người tu sĩ không phải chứng minh lòng tin bằng cách che giấu mọi giới hạn. Ta có thể đem chính nhu cầu được giúp đỡ ấy đến với Chúa và đón nhận sự nâng đỡ qua những người Người đặt bên cạnh.
Trong nơi thanh vắng, ta cũng dễ gặp sự trống rỗng của mình. Ta ngồi đó và không biết nói gì. Những lời quen thuộc dường như không chạm đến lòng. Đoạn Tin Mừng đã đọc nhiều lần mà hôm nay chẳng gợi được suy nghĩ nào. Có khi ta cảm thấy xấu hổ vì đã sống đời tu lâu mà vẫn cầu nguyện nghèo nàn như thế. Nhưng sự nghèo nàn được nhìn nhận có thể mở ra một cách hiện diện bớt tự mãn. Ta không có bài nói hay để dâng Chúa. Ta chỉ có chính mình, với lòng muốn ở lại dù chưa cảm thấy gì.
Không nên vội xem mọi khô khan là dấu hiệu mình đang tiến sâu trong đời thiêng liêng. Cũng không nên coi mọi khô khan là bằng chứng Chúa đã xa. Có lúc ta mệt vì thiếu nghỉ ngơi. Có lúc giờ cầu nguyện bị ảnh hưởng bởi nếp sống phân tán. Có lúc ta đang tránh một lời mời hoán cải nên khó ở yên trước Chúa. Và cũng có những giai đoạn ta vẫn trung tín nhưng không cảm được sự an ủi như trước. Việc phân định cần thời gian và sự thành thật. Điều ta có thể làm hôm nay là trở lại với những điều căn bản: sống có trật tự hơn, đọc Lời Chúa chậm hơn, trình bày điều đang xảy ra và giữ cuộc hẹn trong khả năng thực tế của mình.
Sự trung thành đôi khi rất ít vẻ đẹp bên ngoài. Đó là một người ngồi trước Chúa sau ngày làm việc mệt, không tìm được lời nào ngoài lời xin nâng đỡ. Đó là người nhận ra mình đã phân tâm suốt mấy phút, khép lại ý nghĩ ấy và đọc lại một câu Tin Mừng. Đó là người đã bỏ lỡ giờ cầu nguyện riêng buổi sáng, đến tối vẫn tìm một khoảng thích hợp để trở về, không vì hụt một lần mà buông cả ngày. Đó là người dám thưa rằng mình đang giận Chúa, đang thất vọng, đang không hiểu, và vẫn tiếp tục ở đó. Những điều ấy cần được trân trọng, bởi chúng giữ cho tương quan được sống trong sự thật.
Ngược lại, ta cũng cần dè dặt với cảm giác sốt sắng dễ dàng có được khi liên tục tiếp nhận những nội dung đạo đức. Một đoạn nhạc làm ta xúc động, một bài nói khiến ta thấy được nâng đỡ, một câu trích dẫn làm ta muốn thay đổi. Đó có thể là những trợ giúp tốt. Nhưng sau cảm xúc ấy, ta có dành thời gian để ở lại với điều vừa nhận không? Có một hành vi cụ thể nào được đổi khác không? Nếu ta cứ tiếp tục tìm nội dung mới để duy trì cảm xúc, lòng có thể đầy những lời thiêng liêng mà việc sống lại ít chuyển biến.
Một câu Lời Chúa được đọc chậm và đem ra thực hành có thể ở lại với ta lâu hơn rất nhiều nội dung chỉ vừa lướt qua. Có người đọc về sự hiền lành rồi quyết định hạ giọng trong cuộc họp chiều. Có người dừng trước thái độ Đức Giêsu dành cho người đau yếu và nhớ đến một chị em lâu nay mình vẫn tránh. Có người nhận ra mình đã sống quá lệ thuộc vào đánh giá của người khác, nên hôm ấy làm một việc tốt mà không tìm cách cho ai biết. Khi Lời Chúa đi vào lựa chọn như thế, giờ cầu nguyện tiếp tục sống trong những việc rất thường.
Vì thế, câu hỏi “Lời Chúa gần đây đã thay đổi một lựa chọn nào của tôi?” cần được giữ lại trong ngày tĩnh tâm này. Ta có thể nhớ nhiều điều đã đọc, đã nghe, đã soạn cho người khác. Nhưng có điều nào khiến ta xin lỗi một người? Có lời nào làm ta trả lại sự công bằng trong cách phân chia công việc? Có điều nào khiến ta ngừng một cuộc nói xấu, dành thêm thời gian cho người bệnh, sử dụng tiền bạc cẩn thận hơn hoặc chịu khó nghe hết một ý kiến trái với mình? Nếu ta chưa nhớ được một lựa chọn như thế, đừng vội kết án bản thân. Hãy lấy đó làm điểm khởi đầu cho lời xin: Chúa hãy dạy con đón nhận Lời Ngài vào chính nơi con còn khép kín.
Đọc Lời Chúa để cầu nguyện cần một thái độ khác với việc đọc để tìm chất liệu cho bài giảng. Cả hai đều cần thiết đối với người có trách nhiệm giảng dạy, nhưng cần biết lúc nào mình đang làm việc gì. Khi chuẩn bị bài, ta tìm hiểu bản văn, suy nghĩ về người nghe, tìm cách diễn đạt. Trong cầu nguyện riêng, ta để chính mình được chất vấn. Câu hỏi chuyển từ “đoạn này giúp tôi nói gì với cộng đoàn?” sang “trong đoạn này, tôi đang được mời sống điều gì?”. Sự chuyển ấy có thể làm ta bớt dễ chịu, vì ta không còn đứng ở vị trí người giải thích cho người khác.
Người thường xuyên giảng dạy có thể rơi vào một thói quen rất kín: vừa đọc một câu Tin Mừng đã nghĩ ngay nó phù hợp để nhắc nhở ai. Ta nhớ một chị em nóng tính khi đọc về hiền lành, nhớ người có trách nhiệm khi đọc về phục vụ, nhớ một người mình không thích khi đọc về giả hình. Trong khi đó, lời đang được đọc cũng được gửi đến chính ta. Giờ cầu nguyện trở nên thật hơn khi ta đủ can đảm thôi lập danh sách những người cần nghe, để hỏi xem mình đang sống thế nào trước lời ấy.
Đối với người làm truyền thông Công giáo, nhu cầu này càng rõ. Ta có thể dành nhiều giờ mỗi ngày bên những nội dung thiêng liêng: biên tập bài suy niệm, dựng video, chọn hình, sửa phụ đề, chuẩn bị chương trình, trả lời những thắc mắc về đức tin. Công việc ấy có giá trị và cần nhiều tận tụy. Nhưng vì nội dung liên quan đến Chúa, ta dễ nghĩ rằng mình đã ở với Chúa suốt ngày. Có khi thật như thế, khi công việc được làm trong tương quan sống động với Người. Có khi ta chỉ đang rất bận với những điều nói về Người, còn cuộc gặp gỡ riêng đã bị bỏ lại từ lâu.
Một người có thể hoàn thành nhiều nội dung cầu nguyện cho người khác mà không còn biết cầu nguyện với nỗi buồn của mình. Có thể tìm được hình ảnh đẹp cho sự tín thác nhưng lại không dám trao một thất bại riêng cho Chúa. Có thể viết rất hay về tha thứ nhưng trong lòng vẫn lặp đi lặp lại một lời kết tội. Nhìn nhận khoảng cách ấy giúp ta tránh sống hai nhịp tách rời: một nhịp thiêng liêng trong sản phẩm mình đưa ra, một nhịp cay đắng trong những tương quan gần gũi nhất. Ta cần được Lời Chúa nuôi dưỡng ngay tại những nơi chưa đẹp ấy.
Cũng vì thế, cần giữ một khoảng riêng tư với Chúa. Không phải điều gì nhận được trong cầu nguyện cũng cần chia sẻ ngay. Có những câu Lời Chúa cần được giữ trong lòng để soi một quyết định. Có những nhận ra mới chỉ là khởi đầu, cần được thử lại qua đời sống và sự phân định. Có những cảm xúc sâu đậm rồi sẽ thay đổi, nên cần thời gian trước khi diễn tả như một xác tín. Có những điều rất riêng thuộc về tương quan với Chúa, chỉ nên trao đổi với người đồng hành. Giữ lại như thế giúp kinh nghiệm thiêng liêng có thời gian bén rễ.
Một lần xúc động trong giờ chầu có thể đem lại một ý tưởng rất đẹp. Nhưng ý tưởng ấy cần đi cùng việc sống. Nếu ta vừa nói về tình huynh đệ đã quay sang cáu gắt với người làm chậm tiến độ của mình, điều cần làm tiếp theo có lẽ là dừng lại xin lỗi. Có thể bài viết chưa cần xuất hiện hôm nay. Điều cần được hoàn thành trước là sự hòa giải đang chờ ngoài cửa phòng. Khi biết để Lời Chúa đi vào đời mình như vậy, việc chia sẻ sau này sẽ bớt dễ dãi và có trách nhiệm hơn.
Sự kín đáo còn bảo vệ tự do của ta. Khi mọi việc lành đều được ghi lại, mọi chuyến phục vụ đều phải có hình, mọi giờ cầu nguyện đều cần trở thành một dấu vết công khai, ta có thể dần quen sống trong ánh nhìn của người khác. Đến lúc làm một điều mà chẳng ai biết, ta thấy thiếu một phần tưởng như cần thiết. Khi ấy, nên tập giữ lại một vài việc hoàn toàn âm thầm: một lời chuyển cầu không kể lại, một sự giúp đỡ không chụp hình, một lần chịu khó ngồi với người đang buồn mà không biến câu chuyện của họ thành nội dung. Những việc ấy giúp ta nhớ người trước mặt có giá trị tự thân, và cuộc gặp gỡ không cần một khán giả mới trở nên ý nghĩa.
Công việc truyền thông cũng đòi một sự thinh lặng trước khi phát ngôn. Có khi điều ta vừa đọc làm mình bức xúc, và ta muốn phản hồi ngay. Cơn giận khiến câu chữ sắc hơn, làm ta thấy mình đang bảo vệ điều đúng. Nhưng sau vài giờ, ta có thể nhận ra mình đã gán ý cho người khác, nói quá điều mình biết hoặc làm một người bị tổn thương không cần thiết. Một khoảng dừng để kiểm tra sự thật, xem lại ý định và cầu nguyện có thể thay đổi cả cách ta viết. Người làm việc cho Tin Mừng cần quan tâm đến sự thật trong nội dung và đến phẩm giá của con người trong cách diễn đạt.
Đôi lúc sự im lặng phù hợp là chưa đăng một điều mình chưa biết rõ. Có lúc đó là không tiếp tục một cuộc tranh cãi đã trở nên công kích. Có lúc đó là trả lời riêng thay vì đưa một người ra trước đám đông. Cũng có khi cần lên tiếng rõ ràng và có trách nhiệm, nhất là để bảo vệ người bị đối xử bất công. Đời cầu nguyện giúp ta xét lại động lực: tôi muốn phục vụ sự thật, hay đang muốn thắng? Tôi muốn người đọc được giúp đỡ, hay đang muốn người khác nhìn thấy sự sắc sảo của mình? Những câu hỏi ấy cần sự thành thật hơn là một câu trả lời nhanh.
Trong Tin Mừng hôm nay, khi các môn đệ tìm được Đức Giêsu, họ cho Người biết mọi người đang tìm Người. Đó là một lời báo có thật về nhu cầu của đám đông. Nhưng Đức Giêsu không để nhu cầu trước mắt quyết định toàn bộ hướng đi. Người nói đến việc đi tới những nơi khác để rao giảng. Sau giờ cầu nguyện, Người tiếp tục sứ vụ với một hướng đi rõ ràng. Chi tiết ấy đặt trước người tu sĩ một câu hỏi khó: giữa rất nhiều người đang tìm mình, mình có còn tìm điều Chúa muốn không?
Có những lời mời tốt nhưng ta không thể nhận hết. Có những người cần giúp nhưng ta không phải người duy nhất có thể giúp. Có những công việc đang thành công nhưng đã đến lúc trao lại. Có những nơi ta rất được quý mến, và chính sự quý mến ấy làm ta ngại bước sang một nhiệm vụ âm thầm hơn. Khi thiếu cầu nguyện, ta có thể để sự thuận lợi, những lời khen hoặc nỗi sợ mất ảnh hưởng quyết định đường đi. Ta vẫn gọi đó là nhiệt thành, nhưng trong lòng đã có phần muốn giữ lại một vị trí đem đến cảm giác an toàn.
Thinh lặng cho ta cơ hội hỏi lại: điều gì đang giữ chân tôi? Tôi đang ở đây vì được sai đến, vì nhu cầu thật của sứ vụ, hay vì tôi khó chấp nhận chuyện người khác có thể thay mình? Tôi nhận thêm công việc vì có khả năng và trách nhiệm, hay vì sợ nói lời từ chối sẽ làm mình bớt được coi trọng? Tôi tiếp tục một hoạt động vì nó còn giúp ích, hay vì không muốn nhìn nhận rằng cách làm ấy cần được đổi? Những câu hỏi này không thể trả lời chỉ bằng lòng hăng hái. Chúng cần một tâm hồn chịu để Chúa xem xét cả những động lực pha trộn.
Cầu nguyện có thể dẫn đến việc tiếp tục một công việc khó khăn với lòng bền bỉ hơn. Cũng có thể dẫn đến quyết định thu hẹp, xin trợ giúp hoặc trao lại một phần trách nhiệm. Không phải sau mỗi giờ cầu nguyện ta đều nhận được một chỉ dẫn rõ ràng. Nhiều lúc điều ta nhận chỉ là đủ bình tĩnh để nghe thêm, đủ khiêm tốn để hỏi ý kiến, đủ thật thà để thừa nhận sức mình. Nhưng những thay đổi nhỏ ấy giúp việc phân định bớt bị điều khiển bởi cơn nóng ruột.
Người tu sĩ cần nhớ rằng việc giữ thinh lặng còn liên quan đến cách ta sử dụng quyền bính. Một người có trách nhiệm có thể quen phải quyết định, giải thích và hướng dẫn đến mức khó nghe những điều không nằm trong dự đoán của mình. Nếu lòng luôn đầy những câu trả lời sẵn có, người ấy sẽ khó nhận được sự thật từ anh chị em. Giờ cầu nguyện là lúc ta đặt quyền quyết định của mình trước Chúa, thừa nhận rằng mình có thể chưa hiểu đủ. Từ đó, ta học để người khác nói hết, hỏi cho rõ, chấp nhận sửa một quyết định khi có lý do chính đáng.
Người thi hành bổn phận cũng cần thinh lặng để nhận biết phản ứng của mình. Sau khi nhận một công việc không mong muốn, ta có thể tìm ngay những người đồng ý với mình để kể nỗi bực. Một cuộc trao đổi cần thiết có thể nhanh chóng biến thành nhiều ngày nuôi giận. Có lúc điều nên làm trước là đem phản ứng ấy vào cầu nguyện, nhận ra phần nào do khó khăn thật, phần nào do tự ái, rồi trình bày với người có trách nhiệm bằng lời rõ ràng. Thinh lặng như thế giúp lời nói sau đó trung thực hơn và bớt gây tổn thương.
Sự thinh lặng được nuôi dưỡng trước Chúa sẽ dần chạm đến cách ta sống trong cộng đoàn. Ta bắt đầu thấy người đang nói chuyện với mình cần một ánh mắt chú ý. Ta nhận ra việc vừa nghe vừa nhìn màn hình làm cuộc đối thoại đứt đoạn. Ta biết có những câu chuyện không thể hiểu trong lúc vội. Một chị em bảo rằng mình mệt có thể đang nói về công việc, nhưng cũng có thể đang thử xem nơi này có đủ an toàn để nói thêm điều khó hơn. Nếu ta đáp vội rồi quay lại thiết bị, có thể cuộc trò chuyện sẽ dừng ở đó.
Lắng nghe cần thời gian để người khác tìm được lời diễn tả. Người đang buồn có thể kể không mạch lạc. Người bị tổn thương có thể lặp lại một chuyện. Người trẻ có thể chưa biết nói đúng điều mình cần. Người lớn tuổi có thể chậm hơn nhịp ta quen. Một tâm trí đã quen đổi nội dung sau vài giây dễ cảm thấy những cuộc trò chuyện ấy quá dài. Bởi vậy, việc tập chú ý trong cầu nguyện cũng giúp ta tập một sự kiên nhẫn cần thiết trong đời sống chung. Ta học ở lại với một con người mà không đòi họ phải lập tức làm mình thấy thú vị.
Tuy nhiên, cũng cần phân biệt thinh lặng với sự rút lui lạnh nhạt. Có người không nói vì muốn giữ bình an, nhưng thực tế đang để một hiểu lầm kéo dài. Có người tránh cuộc trao đổi cần thiết rồi nghĩ rằng mình đang nhẫn nhịn. Có cộng đoàn giữ không khí rất yên nhưng các thành viên không dám trình bày sự thật. Sự thinh lặng có sức nuôi dưỡng khi nó giúp con người nghe rõ hơn và nói có trách nhiệm hơn. Nếu ta dùng nó để trừng phạt, gây áp lực hoặc né tránh việc phải sửa chữa, cần đem chính cách im lặng ấy vào xét mình.
Một ngày tĩnh tâm tốt có thể dẫn ta đến một cuộc trò chuyện đã trì hoãn lâu. Sau khi cầu nguyện, ta đủ bình tĩnh để nói: hôm đó lời ấy làm tôi buồn; tôi cần giải thích điều mình đã làm; tôi đã phản ứng không đúng và muốn xin lỗi; tôi chưa thể nhận thêm công việc này vì sức khỏe hiện tại. Những lời đơn sơ ấy có thể mở ra sự gần gũi mà nhiều bài suy niệm chưa làm được. Cầu nguyện tiếp tục sinh hoa trái khi ta bước ra và chịu trách nhiệm về phần đời đang thuộc về mình.
Đối với đời sống cộng đoàn, một khoảng không màn hình trong bữa ăn có thể là thực hành rất có ý nghĩa, nếu phù hợp với bổn phận thực tế. Nhưng điều quan trọng tiếp theo là ta làm gì với khoảng được trả lại ấy. Nếu không có điện thoại mà ta chỉ phê bình người vắng mặt, bầu khí chưa được đổi mới. Nếu ta dùng thời gian ấy để hỏi thăm, chia sẻ một điều đang lo, nghe câu chuyện của người ít nói, sự hiện diện bắt đầu có chiều sâu hơn. Thiết bị được đặt xuống mở ra cơ hội; lòng quan tâm giúp cơ hội ấy thành một cuộc gặp.
Cộng đoàn cũng nên tránh dùng việc giới hạn thiết bị như một cách so sánh đạo đức. Người cần làm việc trực tuyến nhiều không vì thế mà kém cầu nguyện hơn người khác. Người lớn tuổi ít dùng thiết bị cũng có thể bị phân tán bởi những nỗi lo hoặc những cuộc chuyện trò kéo dài. Mỗi người có những điểm cần canh giữ khác nhau. Điều chung là cùng nhau bảo vệ đời cầu nguyện và sự hiện diện, với những thỏa thuận rõ ràng, có thể thực hiện, biết lưu ý đến trách nhiệm riêng. Một quy định thiếu thực tế sẽ dễ sinh đối phó; một sự dễ dãi không giới hạn cũng làm suy yếu điều cộng đoàn đang muốn gìn giữ.
Cần có chỗ cho cuộc trao đổi thành thật về công việc số. Người phụ trách một trang thông tin có thể đang chịu áp lực mà cộng đoàn không biết. Người thường phải liên lạc với nhiều nhóm có thể không có giờ nghỉ rõ ràng. Người được nhờ làm hình ảnh, video, tài liệu có thể liên tục nhận thêm yêu cầu ngoài thời gian đã dự tính. Khi mọi người chỉ nhìn thấy chiếc điện thoại trên tay, họ có thể hiểu lầm đó là giải trí. Ngược lại, chính người làm việc cũng có thể không nhận ra lúc nào mình đã chuyển từ bổn phận sang lướt xem theo thói quen. Sự minh bạch về công việc giúp việc phân định công bằng hơn.
Tháng Mười này, mỗi người có thể chọn một khoảng thời gian hằng ngày không màn hình để cầu nguyện và đọc Lời Chúa. Khoảng ấy cần đủ cụ thể để khỏi bị trôi đi trong ý định chung chung. Chọn lúc nào phù hợp với thời khóa biểu, đặt thiết bị ở đâu, nếu có việc khẩn thì ai sẽ báo, mình sẽ đọc đoạn nào, tất cả đều có thể được thu xếp đơn sơ. Người có trách nhiệm cần dùng bản văn trên thiết bị vẫn có thể giảm những nguồn gây gián đoạn trong giờ ấy. Điều đáng quan tâm là khả năng thật sự chú ý, chứ không phải vẻ bề ngoài của phương tiện đang dùng.
Đừng vội đưa ra một quyết tâm quá lớn trong ngày sốt sắng rồi bỏ cuộc sau vài hôm. Nếu lâu nay ta gần như không có giờ riêng, hãy chọn một khoảng vừa sức và giữ cách trung thành. Nếu đang có giờ cầu nguyện nhưng thường bị gián đoạn, hãy thay đổi một điều cụ thể trong cách chuẩn bị. Nếu bữa ăn bị phân tán, hãy cùng cộng đoàn chọn một thực hành thích hợp. Nếu ta hay mở máy lúc vừa thức dậy, hãy để buổi sáng bắt đầu bằng một lời dâng ngày trước khi kiểm tra công việc. Mỗi lựa chọn nhỏ cần được làm đủ lâu để trở thành một nếp sống có thể nâng đỡ mình.
Đối với một số người, việc cần làm là tắt bớt thông báo không phục vụ trách nhiệm. Với người khác, đó là định những lúc kiểm tra tin nhắn thay vì liên tục ngắt công việc. Có người cần ngừng mang thiết bị vào giường để bảo vệ giấc ngủ. Có người cần xin cộng đoàn phân chia lại phần việc trực tuyến. Có người phải thành thật thừa nhận rằng mình đang sử dụng thiết bị để tránh sự cô đơn, rồi tìm một cách gặp gỡ lành mạnh hơn. Cùng một chủ đề tĩnh tâm, nhưng ơn gọi hoán cải đi vào những việc rất riêng.
Khi bắt đầu thay đổi, có thể ta thấy bứt rứt. Khoảng thinh lặng chưa đem lại bình an ngay. Ta nhớ điện thoại, lo có việc cần, thấy thời gian trôi chậm, muốn đứng lên làm một việc khác. Đừng vì thế mà cho rằng thực hành này không phù hợp. Cũng đừng biến sự bứt rứt thành lý do để khinh thường bản thân. Hãy quan sát nó trước mặt Chúa. Ta đang học lại một khả năng đã ít được sử dụng. Như một người lâu ngày mới ngồi xuống trò chuyện thật lâu với người thân, ban đầu có thể vụng về, nhưng sự vụng về không làm cuộc gặp mất ý nghĩa.
Trong khoảng ấy, hãy đọc Tin Mừng chậm. Có thể đọc hết đoạn một lần, rồi trở lại một chi tiết đang giữ sự chú ý của mình. Đức Giêsu thức dậy khi trời còn tối. Người đi ra nơi thanh vắng. Các môn đệ tìm Người. Người nói đến những nơi khác đang chờ lời rao giảng. Đừng vội ép mình phải tìm được một ý mới. Hãy để bản văn ở đó cùng với đời sống hiện tại. Hôm nay tôi đang ở đâu trong những điều này? Tôi đang mệt vì nhu cầu nào? Tôi đang bị giữ lại bởi điều gì? Tôi cần xin ơn nào để sống bổn phận kế tiếp cho đúng?
Có thể sau một lúc, điều ta cần thưa chỉ là: con đã lâu không dành cho Chúa một thời gian mà lòng không chờ làm việc khác. Lời ấy có thể làm ta buồn, nhưng đó là nỗi buồn có lối mở. Ta đã nhận biết điều thiếu và đang trở về. Đừng dùng quá khứ để làm mình tuyệt vọng ngay trong cuộc gặp gỡ hiện tại. Những tháng ngày phân tán cần được nhìn nhận, nhưng hôm nay vẫn có thể là một ngày bắt đầu lại. Chúa đón nhận con người đang trở về, với tất cả sự chậm chạp và những giới hạn chưa được giải quyết xong.
Một thực hành khác là dành ít phút cuối ngày để nhìn lại việc sử dụng sự chú ý. Hôm nay điều gì đã giữ lòng tôi lâu nhất? Tôi đã có lúc nào thật sự nghe Chúa, nghe người khác, nghe điều đang xảy ra trong mình? Có nội dung nào sau khi xem khiến tôi khó sống bác ái hơn? Có cuộc trò chuyện nào tôi đã hiện diện cách hời hợt? Có lần nào tôi dừng đúng lúc và nhờ đó giữ được một điều quý? Việc nhìn lại này giúp ta nhận ra cả ơn lành lẫn điều cần sửa, tránh chỉ đếm lỗi rồi đi ngủ trong chán nản.
Ta có thể biết ơn một khoảnh khắc rất nhỏ: đã không mở máy trong lúc người chị em đang kể chuyện, đã dành thời gian đọc hết một đoạn Tin Mừng, đã ngừng viết một phản hồi trong cơn giận, đã chấp nhận để một công việc chờ đến sáng. Những lựa chọn ấy ít khi được ai khen, nhưng góp phần tạo nên sự tự do nội tâm. Ngày mai có thể ta lại vấp, song điều đã tập hôm nay không vì thế trở nên vô ích. Sự trưởng thành thường được xây bằng nhiều lần trở lại như vậy.
Cũng nên nhìn đến những điều đẹp mà phương tiện số có thể phục vụ, để lòng biết ơn giúp ta sử dụng chúng có trách nhiệm. Nhờ một cuộc gọi, người tu sĩ có thể thăm hỏi cha mẹ già ở xa. Nhờ một bài giảng được chia sẻ, người bệnh có thể được nâng đỡ. Nhờ liên lạc thuận tiện, một nhu cầu cấp thiết có thể đến được với người sẵn lòng giúp. Những khả năng ấy đáng quý. Chính vì quý, chúng cần được đặt trong một đời sống có phân định, để phương tiện tiếp tục phục vụ con người và sứ vụ.
Ta không cần sống trong thái độ sợ hãi mọi điều mới. Điều cần là giữ được một câu hỏi bình tĩnh: cách sử dụng này đang giúp tôi sống ơn gọi ra sao? Nó có làm tôi hiện diện tốt hơn với người được trao phó không? Có giúp tôi học hỏi, cộng tác, phục vụ chính xác hơn không? Hay nó đang chiếm thời gian cần cho nghỉ ngơi, cầu nguyện và đời sống chung? Câu trả lời có thể khác nhau giữa các giai đoạn. Vì thế, việc xét lại cần diễn ra đều đặn, thay vì chỉ đặt một giới hạn rồi nghĩ mình đã giải quyết xong.
Sự thinh lặng còn giúp ta chịu được việc không biết hết. Có những tin ta không cần đọc ngay. Có những cuộc tranh luận ta không có trách nhiệm tham gia. Có những chuyện riêng của người khác ta không cần tìm hiểu. Đời sống hữu hạn đòi những lựa chọn hữu hạn. Người tu sĩ không mất giá trị vì không theo kịp mọi nội dung đang được nhắc đến. Ngược lại, việc chấp nhận không biết một số điều có thể giúp ta biết rõ hơn những điều đã được giao: người đang cần chăm sóc, bài cần chuẩn bị cẩn thận, cộng đoàn đang cần sự góp sức, giờ cầu nguyện đang chờ.
Ta cũng học chịu được việc người khác không biết hết về mình. Không phải sự cố gắng nào cũng được giải thích, không phải thiện chí nào cũng được nhìn nhận ngay, không phải hiểu lầm nào cũng có thể giải quyết bằng một bài viết công khai. Có lúc cần trình bày sự thật với đúng người và bằng cách thích hợp. Có lúc phải kiên nhẫn để đời sống trung tín dần làm rõ điều chưa được hiểu. Trong những khoảng chờ ấy, cầu nguyện giúp ta đem nỗi oan, sự bực bội và nhu cầu được bênh vực đến với Chúa, để chúng không điều khiển mọi phản ứng.
Thinh lặng trước Chúa cũng không làm lòng khép lại với những đau khổ ngoài cộng đoàn. Khi thôi bị cuốn từ tin này sang tin khác, ta có thể dành đủ thời gian để một nỗi khổ thật sự chạm đến mình. Một gia đình đang thiếu thốn cần được nhớ trong lời cầu và, nếu có thể, trong sự trợ giúp. Một người bệnh cần một cuộc thăm hỏi. Một người đang mất phương hướng cần được nghe bằng sự tôn trọng. Ta không thể đáp ứng mọi nhu cầu, nhưng có thể chọn một việc thuộc khả năng mình và làm đến nơi đến chốn. Cầu nguyện giúp lòng thương có thời gian trở thành trách nhiệm.
Nhìn lại Tin Mừng, ta thấy Đức Giêsu rời nơi thanh vắng để tiếp tục đi. Cuộc gặp gỡ với Chúa Cha không giữ Người xa con người. Từ đó, Người bước vào các nơi đang cần lời rao giảng. Người tu sĩ cũng được mời gọi sống nhịp ấy: đến trước Chúa với những gương mặt mình đã gặp, rồi trở lại với họ bằng một lòng được thanh luyện. Giờ cầu nguyện có thể làm ta bớt cáu với người đến không đúng lúc, bớt nóng vội khi công việc chậm, bớt buồn vì không được cảm ơn, và biết nhận lỗi sớm hơn khi đã cư xử thiếu bác ái.
Dĩ nhiên, hoa trái không phải lúc nào cũng rõ ngay sau một giờ ngồi yên. Có ngày ta ra khỏi nhà nguyện vẫn mệt, việc khó vẫn còn nguyên, người làm mình đau chưa thay đổi. Nhưng có thể ta nhận được một chút tự do để không nói lời gây tổn thương. Có thể ta đủ sức làm phần việc cần làm mà không tiếp tục trách móc. Có thể ta dám xin người khác giúp. Có thể ta nhìn một người bằng ánh mắt bớt khắt khe hơn. Những điều ấy nhỏ, nhưng đi vào chính nơi đời sống cần được đổi mới.
Một cộng đoàn được nâng đỡ bởi những con người biết cầu nguyện sẽ có thêm khả năng ở lại với nhau trong khó khăn. Mỗi người vẫn có tính khí, giới hạn và những ngày mệt mỏi. Nhưng khi có một nơi để thành thật trước Chúa, ta bớt đòi người khác phải gánh hết những gì đang diễn ra trong mình. Ta biết mình đang buồn nên thận trọng hơn với lời nói. Ta nhận ra lòng ganh tị nên không vội biến nó thành một nhận xét bất công. Ta thấy nhu cầu được công nhận nên tập xin điều cần cách trưởng thành, thay vì gây áp lực để được chú ý.
Đó là lý do giữ một chỗ thinh lặng là việc liên quan đến cả cộng đoàn. Giờ cầu nguyện riêng của một người có thể đem lại sự nhẹ nhàng cho những người sống bên cạnh. Việc một người học dừng lại trước khi phản ứng có thể tránh cho cả nhà một cuộc căng thẳng. Việc một người dám nhìn nhận lỗi mình trước Chúa có thể mở đường cho hòa giải. Không ai nhìn thấy đầy đủ những hoa trái âm thầm ấy, nhưng cộng đoàn được hưởng từ đó.
Trong ngày tĩnh tâm này, ta có thể ngồi trước Chúa và nhìn lại căn phòng riêng của mình. Ở đó có chỗ nào thật sự dành cho sự gặp gỡ không? Một quyển Kinh Thánh có được mở thường xuyên không? Thiết bị có luôn nằm trong tầm tay đến mức mọi ý định cầu nguyện đều dễ bị đổi hướng không? Ta không cần biến căn phòng thành một nơi khác hẳn. Chỉ cần thu xếp vài điều để lựa chọn tốt trở nên dễ thực hiện hơn: có chỗ ngồi thích hợp, có bản văn sẵn, có giờ đã định, có một cách đặt công việc xuống.
Rồi hãy nhìn vào lịch làm việc. Nếu cả ngày kín đến mức không còn thời gian cầu nguyện riêng, cần bình tĩnh xem điều gì có thể thay đổi. Có việc nên làm ngắn hơn, có việc cần chia sẻ, có việc chưa cần nhận, có khoảng thời gian đang bị tiêu đi mà không đem lại ích lợi thật. Cũng có những giai đoạn đặc biệt khó khăn cần sự linh động. Nhưng tình trạng quá tải kéo dài không nên được mặc nhiên xem là nếp sống lý tưởng. Ta cần can đảm trao đổi về nó, vì đời thánh hiến cần được nuôi dưỡng để có thể tiếp tục trao ban.
Cuối cùng, hãy nhìn vào chính lòng mình. Tôi có còn muốn gặp Chúa không? Câu hỏi ấy có thể khiến ta chậm lại. Có người nhận ra mình rất muốn, nhưng đã sống thiếu trật tự. Có người thấy lòng nguội đi vì thất vọng chưa được nói ra. Có người sợ cuộc gặp vì biết mình đang né một điều cần thay đổi. Có người quá mệt nên mong muốn ấy chỉ còn rất yếu. Dù ở đâu, ta vẫn có thể bắt đầu bằng sự thật đang có. Lời cầu nguyện có thể khởi đi từ một lời xin nhỏ: xin Chúa gìn giữ trong con lòng muốn trở về.
Ta không phải tạo cho mình một đời sống thiêng liêng thật đẹp để trình bày trong ngày tĩnh tâm. Hãy đem đến chính ngày sống đã qua: những lần vội vàng, những giờ cầm điện thoại vô thức, những lời chưa nghe hết, một cuộc tranh luận còn đọng lại, một người mình đã bỏ quên. Cùng với đó, hãy đem đến những điều tốt đã nhận: một câu Lời Chúa còn nhớ, một lần được tha thứ, một cuộc gặp làm lòng ấm lại, một người kiên nhẫn đợi mình nói. Đời sống thật ấy là nơi ta gặp Chúa và học đáp lại Người.
Tháng Mười sẽ đi qua với những công việc riêng của nó. Sẽ có ngày yên hơn và ngày rất bận. Có lúc ta giữ được thực hành đã chọn, có lúc lại phân tán. Điều cần gìn giữ là sự sẵn lòng trở về, cùng với những quyết định đủ cụ thể để nâng đỡ lòng sẵn sàng ấy. Một khoảng không màn hình mỗi ngày. Một đoạn Lời Chúa được đọc bằng sự chú ý. Một giới hạn sử dụng thiết bị phù hợp bổn phận. Một lần xét lại vào cuối ngày. Từ những việc vừa sức ấy, ta cho cuộc gặp gỡ với Chúa một chỗ có thật trong thời gian mình sống.
Rồi khi bước ra khỏi nhà nguyện, hãy để sự chú ý tiếp tục đi cùng ta. Nhìn người mình chào. Nghe người đang nói. Làm công việc đang ở trước mặt. Đặt điện thoại xuống khi cuộc gặp cần điều đó. Nhận ra lúc lòng bắt đầu bị kéo đi và kiên nhẫn trở lại. Có thể ta chưa sống được như mình mong, nhưng mỗi lần trở lại là một lần giữ lấy điều đang muốn được nuôi dưỡng trong ơn gọi.
Một ngày nào đó, ta có thể nhận ra mình đã bớt cần lấp đầy mọi khoảng trống. Có thể ngồi trong sân vài phút mà không thấy phải làm gì ngay. Có thể đọc một câu Tin Mừng và để câu ấy ở lại. Có thể nghe hết một câu chuyện dù trong túi đang có thiết bị. Có thể làm một việc tốt rồi để nó qua đi trong bình an. Những thay đổi ấy không gây chú ý, nhưng giúp người tu sĩ hiện diện sâu hơn với đời sống đã được trao.
Và trong một buổi sáng còn tối, khi mọi công việc chưa bắt đầu, ta lại đến trước Chúa. Hôm nay có thể lòng vẫn còn tản mác. Ta còn những điều phải giải quyết, còn những người đang đợi, còn giới hạn chưa vượt qua. Nhưng ta đã có mặt. Ta mở đoạn Tin Mừng, đọc chậm, rồi thưa với Người bằng con người thật của mình. Từ cuộc gặp gỡ ấy, ta xin được đi vào ngày mới với một lòng biết nghe hơn.
Lạy Chúa Giêsu, hôm nay con đến trước mặt Chúa với một tâm trí đã quen bận rộn. Có những lúc vừa thức dậy, con đã tìm tiếng nói của nhiều người mà chưa nhớ thưa với Chúa một lời. Có những buổi tối con còn đủ sức xem thêm nhiều điều, nhưng lại không dành nổi một khoảng tỉnh táo để nhìn ngày sống cùng Chúa. Xin giúp con nhìn nhận nếp sống ấy trong sự thật, và đủ can đảm bắt đầu thay đổi từ những việc con có thể làm hôm nay.
Chúa biết những lý do con vẫn dùng để giải thích cho sự phân tán của mình. Có những trách nhiệm thật, nhưng cũng có những lần con viện đến trách nhiệm để khỏi phải dừng lại. Có những cuộc liên lạc cần thiết, nhưng cũng có những lần con chỉ muốn quên nỗi buồn hoặc tìm một lời khen. Xin giúp con phân biệt, để con sử dụng thời gian và những phương tiện được trao cách có trách nhiệm.
Xin dạy con chuẩn bị cho giờ cầu nguyện bằng sự chăm sóc cụ thể. Cho con biết dừng công việc đúng lúc, đặt thiết bị sang một bên, nhận biết điều đang làm mình lo và kiên nhẫn thu lòng về. Khi tâm trí lại đi xa, xin giúp con trở lại mà không chán nản. Khi con khô khan, xin gìn giữ lòng trung tín. Khi con nhận ra một điều cần sửa, xin cho con đừng vội tìm chuyện khác để quên đi.
Có những nỗi buồn con đã giấu sau công việc. Có những tổn thương khiến con dễ phản ứng quá mức. Có những sự ganh tị con ngại gọi tên. Xin cho con đủ tin tưởng để đem tất cả đến trước Chúa. Xin giúp con biết đón nhận sự đồng hành và trợ giúp cần thiết, để những gì chưa được chữa lành trong con không tiếp tục làm đau người khác.
Xin cho Lời Chúa có chỗ trong đời sống riêng của con. Khi đọc, xin giúp con biết lắng nghe điều mình được mời sống. Khi giảng dạy, xin giữ con trong sự khiêm tốn của một người cũng đang cần được hoán cải. Khi chia sẻ những điều thiêng liêng, xin cho con biết tôn trọng sự thật, sự riêng tư của người khác và những điều cần được giữ lại để sống trước mặt Chúa.
Xin thanh luyện nhu cầu được công nhận trong con. Khi được khen, xin cho con biết cảm ơn và tiếp tục làm việc. Khi ít được chú ý, xin đừng để con vì buồn mà đánh mất lòng tận tụy. Khi gặp phản đối, xin giúp con đủ bình tĩnh để nhận phần đúng, sửa điều sai và không dùng lời nói làm tổn thương phẩm giá người khác.
Xin cho sự thinh lặng con giữ trước Chúa trở thành sự chú ý trong đời sống cộng đoàn. Cho con biết nghe hết một lời tâm sự, nhìn thấy sự mệt mỏi của người bên cạnh, hỏi thăm người lâu nay con ít để ý. Xin giúp con biết nói khi cần nói, xin lỗi khi đã sai, và đừng dùng sự im lặng để gây thêm khoảng cách.
Xin nâng đỡ những anh chị em đang phục vụ qua các phương tiện truyền thông. Giữa công việc liên tục và nhiều đòi hỏi, xin cho họ có thời gian nghỉ ngơi, có sự cộng tác và có khoảng riêng để ở với Chúa. Xin cho những gì họ làm giúp con người đến gần sự thật, được nâng đỡ trong đức tin và được đối xử bằng lòng tôn trọng.
Lạy Chúa, xin giúp cộng đoàn chúng con bảo vệ đời cầu nguyện của nhau. Cho chúng con biết tổ chức công việc hợp lý, tôn trọng giờ nghỉ, liên lạc tế nhị và chia sẻ gánh nặng. Xin cho những khoảng thinh lặng trong nhà được nuôi dưỡng bằng tình huynh đệ, để mỗi người có thể trở về với Chúa và trở về với nhau trong bình an.
Sáng mai, khi ngày sống lại bắt đầu, xin nhắc con nhớ đến cuộc hẹn với Chúa. Giữa những việc còn dang dở và những người đang cần con, xin cho con biết dành một chỗ có thật để lắng nghe. Rồi từ nơi ấy, xin sai con đi làm bổn phận của mình bằng một lòng bớt vội, một lời nói có trách nhiệm và một sự hiện diện biết yêu thương. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
THÁNG MƯỜI MỘT — KHI ĐÔI TAY YẾU ĐI, ĐỜI DÂNG HIẾN VẪN CÒN NGUYÊN GIÁ TRỊ
Đón nhận tuổi già, bệnh tật, sự chết và sống niềm hy vọng phục sinh.
Lời Chúa: Ga 11,17–27 — Đức Giêsu gặp cô Mácta trong nỗi đau mất người em.
Có những thay đổi trong cộng đoàn diễn ra rất khẽ. Một người trước đây luôn đến nhà nguyện sớm, nay phải đợi có người dìu mới bước xuống được. Một người từng đứng bếp cho cả nhà, nay cầm chiếc muỗng cũng khó. Một người từng đi xe hàng chục cây số đến các điểm truyền giáo, nay chỉ đi từ phòng ngủ ra hành lang đã phải dừng lại lấy hơi. Có người trước kia nhớ tên từng em học sinh, từng gia đình nghèo, từng ân nhân của cộng đoàn, bây giờ lại quên tên người vừa mang cơm đến cho mình. Những thay đổi ấy có thể được ghi trong sổ khám bệnh bằng vài dòng ngắn ngủi, nhưng người đang sống với chúng phải trải qua biết bao điều không dễ nói thành lời. Họ đang học cách ở trong chính thân thể từng rất quen thuộc mà nay mỗi ngày một khác. Họ đang tập đón nhận một nhịp sống chậm hơn, trong khi ký ức vẫn còn nguyên những năm tháng mình có thể làm mọi việc mau lẹ và tự chủ.
Tháng Mười Một đưa chúng ta đến gần những điều ấy. Trong nhà nguyện, cộng đoàn đọc tên những thành viên đã qua đời. Ngoài nghĩa trang, những ngôi mộ được lau dọn, những bó hoa được đặt xuống, những ngọn nến được thắp lên. Có cái tên vừa được đọc lên đã làm nhiều người nhớ đến một giọng nói, một dáng đi, một thói quen rất riêng. Có người được nhớ vì đã mở một cơ sở mới. Có người được nhớ vì suốt mấy chục năm âm thầm lo từng bữa cơm. Có người đã dạy biết bao thế hệ. Có người gần như cả đời chỉ ở một nơi, làm những việc ít ai nhắc tới. Họ từng ăn cùng bàn với chúng ta, cầu nguyện cùng một nhà nguyện, có lúc vui, có lúc mệt, có khi bất đồng với chúng ta. Rồi một ngày, chiếc ghế ấy để trống. Cánh cửa phòng ấy không còn mở ra vào giờ quen thuộc. Trong một buổi đọc kinh, chúng ta chợt nhận ra mình sẽ không còn nghe lại tiếng đáp ấy nữa.
Đứng trước những mất mát đó, người tu sĩ có thể thấy đời mình rõ hơn. Những điều từng khiến ta mất ngủ nhiều đêm bỗng mang một kích thước khác. Chức vụ mình đang giữ sẽ có người khác đảm nhận. Công việc mình đang làm sẽ được tiếp tục theo một cách có thể khác với cách của mình. Những đồ dùng mình nâng niu rồi cũng được phân chia, cất lại hoặc bỏ đi. Căn phòng mang dấu vết của mình sẽ được dọn cho một người khác. Điều ấy có thể làm ta buồn, nhưng cũng có thể giúp ta sống nhẹ hơn. Ta được nhắc rằng thời gian ở bên nhau có giới hạn; bởi vậy, một lời tử tế hôm nay đáng quý hơn nhiều lời thương tiếc mai sau. Một sự hòa giải khi cả hai còn có thể nghe nhau quý hơn một lời xin lỗi chỉ còn nói được trước tấm di ảnh.
Tuy nhiên, ngày tĩnh tâm này không nhằm làm cho chúng ta sợ hãi trước tuổi già hay cái chết. Chúng ta đến với Chúa để học sống phần đời đang được trao, kể cả khi phần đời ấy có nhiều yếu đuối. Có người đang còn trẻ nhưng đã mang bệnh lâu năm. Có người lớn tuổi mà vẫn khỏe mạnh và hoạt động nhiều. Có người thân thể còn làm việc được, nhưng lòng đã mỏi vì thất bại, vì cô đơn, vì cảm giác mình không còn được tin tưởng. Lời Chúa hôm nay đi vào tất cả những hoàn cảnh ấy. Đức Giêsu đến Bêtania, nơi một gia đình đang chịu tang. Người gặp Mácta giữa nỗi đau chưa nguôi. Người để chị nói, để chị bộc lộ điều đang đè nặng trong lòng. Trong cuộc gặp gỡ ấy, chúng ta được học cách đem sự mong manh của mình đến trước mặt Chúa.
Khi Đức Giêsu đến, Ladarô đã ở trong mồ bốn ngày. Với Mácta, sự mất mát đã trở thành điều không thể tự mình thay đổi. Những việc phải làm sau cái chết của một người thân có thể vẫn đang tiếp diễn, nhưng người em thì không còn ngồi đó nữa. Căn nhà vẫn là căn nhà ấy, mà mọi sinh hoạt đều có một khoảng trống. Trong hoàn cảnh ấy, Mácta ra đón Đức Giêsu và thưa rằng nếu Thầy có mặt, em chị đã không chết. Lời thưa ấy mang cả lòng tin lẫn nỗi đau. Chị tin vào Đức Giêsu, nên chị mới nói với Người điều mình đã mong đợi. Chị đau vì Người đã không hiện diện theo cách và vào lúc chị cần nhất.
Có lẽ nhiều người trong chúng ta hiểu lời thưa ấy từ chính đời mình. Lạy Chúa, nếu Chúa giúp con sớm hơn, có lẽ căn bệnh đã không nặng đến thế. Nếu Chúa gìn giữ, có lẽ người anh em ấy đã không ra đi quá đột ngột. Nếu Chúa nhận lời cộng đoàn, có lẽ chúng con đã không phải trải qua những ngày bất lực như vậy. Có người không dám nói những điều này vì sợ mình thiếu đức tin. Họ cố đọc những lời đạo đức trong khi lòng còn đầy thắc mắc. Nhưng cuộc gặp giữa Đức Giêsu và Mácta cho thấy ta có thể đứng trước Chúa bằng một lời cầu nguyện chưa được sắp xếp gọn gàng. Ta có thể vừa tin vừa khóc, vừa phó thác vừa cảm thấy lòng mình run rẩy. Chúa đón nhận con người đang đau khổ với những gì họ thực sự mang trong lòng.
Đức Giêsu không trách Mácta vì chị đau buồn. Người cũng không đòi chị phải lập tức có một thái độ bình thản. Người dẫn chị đi sâu hơn trong tương quan với Người. Mácta đã tin vào sự sống lại ngày sau hết. Niềm tin ấy rất quý. Nhưng trước mặt chị lúc này là Đức Giêsu, Đấng nói với chị về chính mình: Người là sự sống lại và là sự sống. Niềm hy vọng của chị được gắn với một Đấng đang hiện diện, đang nghe chị và yêu thương gia đình chị. Vì thế, khi chúng ta nghĩ đến tuổi già và sự chết, câu hỏi sâu xa là: tôi đang đặt đời mình trong tay ai? Tôi có tin rằng Đức Kitô vẫn giữ lấy tôi khi những khả năng quen thuộc lần lượt rời khỏi tôi hay không?
Ta có thể đã nhiều lần tuyên xưng đức tin ấy trong phụng vụ, đã giảng giải cho người khác, đã đọc bên giường bệnh của anh chị em mình. Nhưng một ngày nào đó, lời tuyên xưng ấy cần được nói từ chính chiếc giường của ta. Khi ấy, người đọc kinh giỏi có thể không còn đọc được trọn một kinh. Người từng an ủi người hấp hối có thể bối rối trước nỗi sợ của mình. Người từng khuyên người khác phó thác có thể nhận ra việc buông tay khó hơn mình tưởng. Đó là lúc đức tin chạm đến đời sống rất cụ thể. Ta không còn chỉ nói về sự mong manh của con người; ta đang sống sự mong manh ấy. Và ngay ở đó, lời Đức Giêsu nói với Mácta vẫn hướng về ta: con có tin vào Thầy không?
Câu trả lời có thể rất nhỏ. Có ngày ta thưa được bằng cả tâm hồn. Có ngày ta chỉ đủ sức nói: lạy Chúa, xin giúp con tin. Có ngày người bên cạnh phải cầu nguyện thay ta, vì ta quá đau, quá mệt, hoặc tâm trí đã không còn sáng suốt. Sự thuộc về Chúa không bị cắt đứt bởi những giới hạn ấy. Một người không còn diễn đạt được đức tin vẫn là người được Chúa yêu. Một người không nhận ra cộng đoàn vẫn được cộng đoàn mang trong lời cầu nguyện. Một người nằm bất động vẫn có trọn phẩm giá của người đã được Thiên Chúa gọi vào sự sống và được thánh hiến cho Người. Chúa không quên người ấy khi trí nhớ của họ đã suy giảm.
Điều này cần được khắc sâu trong lòng mỗi cộng đoàn: giá trị của một người tu sĩ không giảm đi theo khả năng làm việc của người ấy. Chúng ta có thể đồng ý với điều đó rất nhanh, nhưng cách tổ chức đời sống đôi khi lại kể một câu chuyện khác. Người đang đảm nhiệm công việc lớn được hỏi han nhiều. Người có khả năng đem lại nguồn lực được đón tiếp nồng nhiệt. Người có tiếng nói, có ảnh hưởng, có nhiều người tìm đến thường được lưu tâm. Trong khi đó, một người đã nghỉ công tác có thể ngồi rất lâu mà chẳng ai hỏi hôm nay họ thế nào. Không ai chủ ý làm tổn thương họ. Mỗi người đều bận. Chính sự bận rộn kéo dài ấy khiến một thành viên dần bị đặt ngoài những câu chuyện đang diễn ra trong chính ngôi nhà của mình.
Thử hình dung một tu sĩ cao tuổi ngồi ở cuối hành lang. Người ấy nghe tiếng xe trở về, nghe anh chị em trao đổi về công việc mới, nghe những dự định sắp thực hiện. Họ muốn hỏi đôi điều nhưng sợ làm mất thời gian. Họ muốn kể một kinh nghiệm nhưng lại nhớ lần trước mình vừa nói đã có người nhẹ nhàng ngắt lời vì phải đi họp. Dần dần, họ chọn im lặng. Người khác thấy họ ít nói thì nghĩ họ thích yên tĩnh. Có khi sự yên tĩnh ấy là điều họ cần thật. Nhưng cũng có khi đó là sự rút lui của một người đã nhiều lần cảm thấy lời mình không còn chỗ để được nghe. Muốn hiểu, chúng ta phải đến gần và hỏi, rồi ở lại đủ lâu để nghe câu trả lời.
Một lời thăm hỏi vội vàng có thể giúp người bệnh biết mình được nhớ đến. Nhưng có những điều chỉ được nói ra khi người thăm không liên tục nhìn đồng hồ. Người cao tuổi có thể cần vài phút mới nhớ ra điều định kể. Người đang bệnh có thể chưa muốn nói ngay rằng họ sợ đêm xuống, sợ một cơn đau trở lại, hay sợ mình chết mà không có ai bên cạnh. Nếu ta vừa bước vào đã vội đưa ra lời khuyên, họ có thể lại cất nỗi lo đi. Sự hiện diện đôi khi bắt đầu bằng một câu đơn sơ: hôm nay con ngồi đây với cha, với thầy, với sơ một lát. Rồi ta để cho cuộc gặp có nhịp độ của người đang yếu.
Có một nỗi đau rất kín trong tuổi già: mình vẫn còn sống, nhưng cảm thấy mọi người đã bắt đầu sống như thể mình không còn ở đó. Các quyết định liên quan đến sinh hoạt của mình được bàn mà không hỏi mình. Đồ dùng trong phòng được di chuyển mà không ai báo. Người khác nói về bệnh tình của mình ngay trước mặt mình, nhưng chỉ quay sang hỏi người chăm sóc. Có người còn đủ khả năng lựa chọn, nhưng bị đối xử như thể mọi lựa chọn đều phải do người khác làm thay. Những việc ấy có thể xuất phát từ ý muốn giúp đỡ. Dẫu vậy, người được giúp vẫn cần được tôn trọng. Hỏi họ muốn mặc chiếc áo nào, muốn ngồi ở đâu, muốn được thăm vào lúc nào là những cách rất cụ thể để nhìn nhận rằng họ vẫn có đời sống riêng, vẫn có ý muốn và tiếng nói.
Đời sống cộng đoàn càng thân tình càng cần giữ sự tế nhị ấy. Sự thân quen không cho phép ta tự ý kể bệnh tình, những khó khăn trong vệ sinh cá nhân, sự lú lẫn hoặc những lời nói lúc yếu mệt của người khác như chuyện vui trong bàn ăn. Người bệnh có thể không phản ứng, nhưng điều đó không có nghĩa họ không bị tổn thương. Có người nghe được nhiều hơn chúng ta tưởng. Có người không hiểu hết lời nói nhưng vẫn nhận ra giọng chế giễu, sự sốt ruột, nét mặt khó chịu. Một người đã trao cả đời cho cộng đoàn xứng đáng được chăm sóc trong bầu khí tôn trọng. Và ngay cả một người mới đến, chưa có công trạng nào để kể, cũng xứng đáng được đối xử như thế. Phẩm giá không phải phần thưởng dành riêng cho người đã làm được nhiều việc.
Chúng ta thường nói với người cao tuổi rằng họ đã có nhiều công lao. Lời ấy có thể chân thành và cần thiết. Nhưng nếu chỉ nhắc công lao quá khứ, ta có thể vô tình để họ hiểu rằng lý do họ được quý trọng đều nằm ở những năm đã qua. Hôm nay, khi không còn làm được những việc ấy, họ còn được yêu vì điều gì? Cộng đoàn cần giúp họ cảm nhận rằng họ được yêu trong chính hiện tại. Người ấy đang ở đây, đang cần một chiếc gối được sửa lại, một chén nước trong tầm tay, một người đủ kiên nhẫn nghe cùng một câu chuyện thêm lần nữa. Sự hiện diện của họ có giá trị ngay cả trong ngày họ chẳng thể kể một câu chuyện, chẳng thể nở một nụ cười, chẳng thể đáp lại sự chăm sóc bằng một lời cảm ơn.
Đây là chỗ tình yêu của chúng ta được thanh luyện. Yêu người có thể đáp lại mình thường dễ hơn. Chăm một người vui tính, biết ơn, hợp tác cũng nhẹ lòng hơn chăm một người khó ngủ, lo âu hoặc thường xuyên bực bội. Nhưng tuổi già và bệnh tật không đến với tất cả mọi người theo cùng một cách. Có người trở nên hiền hòa. Có người bị những nỗi sợ chưa giải quyết làm cho khép kín. Có người thay đổi tính tình vì bệnh. Chúng ta cần tìm hiểu điều đang xảy ra, tránh vội gán mọi phản ứng cho sự thiếu đạo đức. Một người nhăn nhó có thể đang đau. Một người cáu gắt có thể đã mất ngủ nhiều đêm. Một người liên tục gọi có thể đang hoảng sợ vì cảm thấy mình bị bỏ lại.
Tìm hiểu như thế không có nghĩa người chăm sóc phải chịu đựng mọi hành vi gây tổn thương mà không được nâng đỡ. Người phục vụ cũng có thân thể, có giới hạn và cần được nghỉ. Có những anh chị em ngày ngày chăm bệnh, làm những công việc ít được nhìn thấy, đến mức sức lực và lòng kiên nhẫn đều cạn dần. Nếu cộng đoàn chỉ ca ngợi sự hy sinh mà không chia sẻ trách nhiệm, lời ca ngợi ấy sẽ trở nên nặng nề. Chúng ta cần hỏi người chăm sóc có đang quá tải không, có ai thay phiên không, có được hướng dẫn phù hợp không, có được nghe và hỗ trợ khi mệt mỏi không. Người bệnh và người chăm bệnh đều cần được cộng đoàn ôm lấy bằng những sắp xếp thực tế.
Có lúc việc bác ái của một nhà dòng được thể hiện rõ trong thời khóa biểu. Ai sẽ ở lại khi người bệnh cần được đưa đi khám? Ai thay cho người đã thức nhiều đêm? Ai nhớ rằng người phụ trách phòng bệnh cũng cần có giờ cầu nguyện, có bữa ăn không bị bỏ dở, có ngày nghỉ? Những câu hỏi ấy thuộc về đời sống thiêng liêng, vì chúng liên quan trực tiếp đến cách chúng ta yêu nhau. Ta không thể yêu một cộng đoàn chỉ bằng ý tưởng đẹp về cộng đoàn. Ta yêu qua việc nhận một ca trực, dọn một phần việc, đến đúng giờ để người khác được nghỉ, và báo trước khi mình không thể làm điều đã nhận.
Về phía người đang yếu dần, đón nhận sự chăm sóc cũng là một việc khó. Người đã quen tự làm, quen nâng đỡ người khác, thường rất đau khi phải nhờ đến những việc riêng tư nhất. Có người thà chịu khát hơn gọi thêm một lần. Có người cố đi một mình dù không còn vững, vì không muốn làm phiền. Có người nói mình không cần gì, rồi buồn vì không ai nhận ra mình đang cần. Đằng sau những phản ứng ấy có thể là lòng thương người phục vụ, nhưng cũng có thể có sự xấu hổ, sợ bị xem là bất lực, sợ không còn được kính trọng. Ngày tĩnh tâm mời ta đưa cả nỗi sợ ấy vào cầu nguyện. Lạy Chúa, con đã quen được biết đến như người có thể giúp đỡ. Bây giờ con cần học cách sống khi chính mình phải nhờ người khác.
Nhận sự giúp đỡ không làm cho lời dâng hiến trước đây mất ý nghĩa. Trong đời sống huynh đệ, có những mùa ta trao đi nhiều bằng lao động; có những mùa ta đón nhận nhiều bằng sự tín nhiệm. Người chăm sóc được mời yêu bằng đôi tay, người được chăm sóc có thể đáp lại bằng sự chân thành, bằng việc nói rõ nhu cầu và bằng lòng biết ơn khi còn khả năng. Tuy nhiên, tình yêu cộng đoàn vẫn phải tiếp tục khi người bệnh không còn làm được cả những điều ấy. Chúng ta không đặt lên người yếu một nghĩa vụ phải luôn dễ thương để xứng đáng được chăm. Sự biết ơn là điều đẹp; quyền được đối xử tử tế của họ không phụ thuộc vào việc hôm nay họ có bày tỏ được điều đẹp ấy hay không.
Khi còn sức lực, ta có thể chuẩn bị cho tuổi già bằng cách tập sống thật về giới hạn của mình. Tập nói rằng mình cần nghỉ. Tập nhờ người khác làm điều mình chưa biết. Tập nhận một lời góp ý mà không coi đó là sự phủ nhận cả đời mình. Tập để người khác có cơ hội hoàn thành công việc theo cách của họ. Một người luôn phải kiểm soát mọi chuyện sẽ rất khó đón nhận những năm tháng mình không còn tự quyết nhiều điều. Nếu hôm nay ta học cộng tác, học trao việc, học tin tưởng, thì mai này việc nhận chăm sóc có thể bớt cô độc hơn. Ta đã có kinh nghiệm rằng để người khác bước vào đời mình cũng là một hình thức hiệp thông.
Dẫu chuẩn bị đến đâu, ta vẫn có thể đau khi đến lúc phải rời công việc yêu thích. Một người đã dạy học nhiều năm sẽ nhớ lớp học. Một người đã làm mục vụ lâu dài sẽ nhớ những gia đình mình từng thăm. Một người quen chăm vườn có thể đứng nhìn người khác cắt tỉa mà trong lòng vừa biết ơn vừa buồn. Chúng ta không cần vội khuyên họ quên đi. Công việc ấy đã chứa biết bao tình yêu, bao quyết định, bao ngày vất vả của họ. Để mất một vai trò có khi cũng cần thời gian để thương tiếc. Hãy cho họ được kể về điều mình nhớ, được nói rằng mình buồn, được tham dự trong mức độ thích hợp. Đừng biến lời mời gọi buông bỏ thành yêu cầu phải mau chóng hết đau.
Người bàn giao cũng được mời nhận ra rằng điều mình yêu có thể tiếp tục lớn lên trong bàn tay người khác. Người kế nhiệm có thể trẻ hơn, khác tính, có những phương pháp mình chưa quen. Họ có thể mắc sai sót, như chính mình cũng từng mắc. Nếu còn khả năng góp ý, ta góp ý bằng kinh nghiệm và lòng tôn trọng. Nếu đã hết trách nhiệm, ta tập không theo dõi từng việc để xác nhận rằng thiếu mình thì mọi thứ kém đi. Đôi khi, sự dâng hiến cuối cùng đối với một công việc là cho phép công việc ấy không còn mang dấu ấn của mình ở mọi chi tiết. Điều ta đã trao cho Chúa cần được tự do thuộc về Chúa, kể cả khi Chúa để người khác tiếp tục theo một hướng ta không dự tính.
Một nỗi khó khác xuất hiện khi sức khỏe suy giảm: đời sống cầu nguyện thay đổi. Có người từng quỳ lâu trước Thánh Thể, nay không thể quỳ. Có người từng sốt sắng lần chuỗi, nay đọc vài kinh đã ngủ gật. Có người nghe phụng vụ mà không theo kịp, nhìn sách mà chữ nhòe đi, muốn suy niệm nhưng đầu óc mỏi mệt. Họ có thể tự trách rằng mình nguội lạnh. Nhưng ta cần phân biệt sự khô khan vì sức lực suy yếu với thái độ cố tình bỏ bê tương quan với Chúa. Thân thể mệt thì khả năng tập trung cũng giảm. Đôi mắt yếu thì việc đọc trở nên khó. Điều đó không biến cả một đời cầu nguyện thành thất bại.
Có khi lời cầu nguyện của tuổi già chỉ còn là một lần nhìn lên thánh giá. Có khi là gọi tên Đức Giêsu rất khẽ. Có khi là nằm yên và để một người khác đọc kinh bên cạnh. Những hình thức đơn sơ ấy có thể chứa một sự phó thác mà chính người cầu nguyện cũng không biết diễn tả. Chúng ta không đo đời sống nội tâm của người bệnh bằng số kinh họ đọc được. Cộng đoàn có thể giúp bằng cách chọn giờ thích hợp, đọc chậm hơn, nói đủ nghe, tạo điều kiện để họ tham dự phụng vụ theo sức khỏe. Đồng thời, cần để họ được nghỉ khi cần. Một người đang mệt không phải chứng minh lòng sốt sắng bằng cách cố chịu một sinh hoạt vượt quá khả năng.
Cũng cần thận trọng khi nói rằng người bệnh phải dâng đau khổ để sinh ích cho cộng đoàn. Trong đức tin, ta có thể kết hợp những đau khổ không tránh khỏi với Đức Kitô, và sự kết hợp ấy có ý nghĩa. Nhưng lời mời gọi đó cần được nói bằng lòng thương, trong sự tôn trọng tự do và hoàn cảnh của người bệnh. Ta vẫn phải tìm cách làm họ bớt đau, bớt cô đơn, bớt sợ hãi. Không được dùng một ý nghĩa thiêng liêng để làm nhẹ trách nhiệm chăm sóc. Người đang đau không cần nghe quá nhiều lời giải thích trước khi có người sửa lại tư thế nằm cho họ. Có lúc việc giúp họ uống được một ngụm nước là cách chúng ta diễn tả đức tin đúng đắn nhất vào giờ phút ấy.
Người bệnh cũng không cần phải luôn tỏ ra bình an để bảo vệ sự bình an của cộng đoàn. Có ngày họ có thể rất sốt sắng. Có ngày họ buồn, sợ và chẳng muốn nói chuyện. Đức Giêsu đã đón Mácta trong nỗi đau của chị; chúng ta cũng cần dành chỗ cho những ngày khó khăn của anh chị em mình. Khi ai đó nói rằng họ sợ chết, ta đừng vội kết luận họ thiếu phó thác. Hãy nghe xem họ đang sợ điều gì. Sợ đau đớn, sợ xa người thân, sợ chưa hòa giải được với ai, sợ những sai lỗi trong quá khứ, hay sợ phải đi vào điều mình chưa biết. Mỗi nỗi sợ cần một cách đồng hành khác nhau. Một câu trả lời chung có thể rất đúng mà vẫn chưa chạm đến điều người ấy đang cần.
Có người sợ tuổi già vì đã chứng kiến người già bị đối xử thiếu kiên nhẫn. Có người sợ bệnh tật vì từng thấy một người bệnh bị bỏ quên trong phòng. Có người sợ mình trở thành gánh nặng vì đã nhiều lần nghe trong cộng đoàn những lời than phiền về người yếu. Như vậy, cách chúng ta chăm sóc người già hôm nay cũng đang định hình cách những thành viên khác nghĩ về tương lai của mình. Một cộng đoàn biết chăm người yếu giúp người trẻ bớt sợ sự yếu đuối. Họ biết rằng nếu một ngày mình không còn làm được việc, mình vẫn có chỗ. Còn khi giá trị của mỗi người bị buộc quá chặt vào năng suất, ai cũng có thể phải cố tỏ ra khỏe mạnh lâu hơn sức mình.
Vì thế, hãy cẩn thận với những lời nói tưởng rất nhỏ: người này bây giờ chẳng còn làm được gì; người kia chỉ còn ăn rồi nằm; chăm người ấy mất bao nhiêu thời gian. Có thể chúng ta nói trong lúc mệt, không có ý phủ nhận phẩm giá của ai. Nhưng người nghe có thể mang những lời ấy rất lâu. Một tu sĩ cao tuổi có thể bắt đầu ăn ít hơn, gọi ít hơn, giấu cơn đau nhiều hơn vì sợ mình làm phiền. Những người đang còn khỏe cũng nghe thấy điều gì có thể chờ mình. Lời nói có thể khiến một ngôi nhà trở nên an toàn hơn, hoặc làm người yếu phải sống dè dặt ngay trong nơi đáng lẽ họ được an tâm nhất.
Tuổi già còn mang theo một nhu cầu sâu xa: được nhìn lại đời mình trong sự thật. Khi công việc bớt đi, những ký ức có thể trở về rõ hơn. Có niềm vui, có lòng biết ơn, nhưng cũng có những điều hối tiếc. Một quyết định quá cứng rắn. Một lần không có mặt khi người khác cần. Một lời nói khiến một thành viên bị tổn thương nhiều năm. Một người mình đã đối xử thiếu công bằng. Những chuyện từng được công việc che lấp nay lại xuất hiện vào những giờ đêm vắng. Người cao tuổi cần có người nghe những điều ấy mà không hoảng hốt, không vội bênh vực, cũng không kết án. Họ cần được giúp phân biệt điều mình thực sự có trách nhiệm với điều mình đã tự nhận quá mức.
Sự thật có thể đau nhưng cũng mở đường cho bình an. Nếu còn có thể sửa chữa, hãy giúp họ tìm một cách thích hợp. Một lời xin lỗi chân thành, một việc đính chính, một sự hoàn trả, một cuộc gặp được chuẩn bị cẩn thận có thể mang lại ý nghĩa lớn. Có những tổn thương liên quan đến trách nhiệm và công bằng, nên việc hòa giải cần tôn trọng người đã bị tổn thương, không ép họ phải gặp hoặc phải đáp lời ngay. Người già được mời hoán cải như mọi người khác; tuổi tác không làm các sai lỗi tự biến mất. Đồng thời, không ai cần bị đóng khung mãi trong sai lỗi của mình. Lòng thương xót của Chúa cho phép chúng ta nhận trách nhiệm mà vẫn hy vọng.
Có người lại mang mặc cảm rằng cả đời mình chưa làm được gì đáng kể. Họ so mình với những thành viên nổi bật, với người từng lãnh đạo, từng xây dựng, từng giảng dạy được nhiều người biết đến. Nhưng đời dâng hiến có biết bao công việc không để lại tên trên một công trình. Những lần thức dậy sớm để chuẩn bị bữa ăn. Những buổi ngồi với một người buồn. Những đồng tiền tiết kiệm từ việc chi tiêu đơn sơ. Những lần nhường phần thuận tiện cho người khác. Những ngày làm bổn phận trong lúc lòng chẳng có niềm vui nào rõ rệt. Không phải điều gì có giá trị cũng được cộng đoàn ghi nhận đầy đủ. Ta có thể tin rằng đời mình được Chúa biết trong toàn bộ sự thật ấy.
Điều đó cũng mời cộng đoàn học nhớ cho công bằng. Khi kể lịch sử một nhà, chúng ta thường dễ nhớ người quyết định xây dựng hơn người đã nhiều năm quét dọn, lo cơm nước, chăm người bệnh để ngôi nhà ấy thực sự có thể sống được. Chúng ta dễ ghi những chuyến đi mở mang sứ vụ hơn những người âm thầm ở lại làm phần việc thường ngày. Cả hai đều cần được nhìn nhận. Ký ức cộng đoàn trở nên phong phú khi có chỗ cho những đời sống ít được nhắc tên. Một cuốn sổ ghi chứng tá không cần chỉ chứa những việc phi thường. Có thể chỉ là câu chuyện một người luôn để dành thức ăn cho thành viên về trễ, hay một người biết giữ kín điều anh chị em đã tâm sự.
Tuy nhiên, nhớ người đã qua đời cũng cần sự trung thực. Ta có thể biết ơn một người mà vẫn nhìn nhận họ có giới hạn. Không cần biến mọi thành viên quá cố thành những con người chưa từng gây khó khăn cho ai. Làm như vậy có thể khiến người đang mang vết thương cảm thấy nỗi đau của mình bị phủ nhận. Một ký ức trưởng thành giữ được cả lòng thương lẫn sự thật. Chúng ta cầu nguyện cho người đã qua đời vì tin vào lòng thương xót của Thiên Chúa và ý thức rằng mỗi người đều cần được Người thanh luyện. Ta không phải tự mình đưa ra phán quyết cuối cùng về cuộc đời người khác. Ta có thể trao họ cho Chúa với lòng biết ơn, với những điều chưa hiểu và cả những điều còn đau.
Đối với một số thành viên, tháng cầu cho người qua đời có thể đánh thức nỗi buồn rất riêng. Người bạn cùng lớp khấn đã mất. Người từng đón mình vào nhà dòng đã mất. Người duy nhất hiểu một giai đoạn khó khăn của đời mình cũng không còn. Cộng đoàn vẫn có nhiều người, nhưng một tương quan không thể được thay thế chỉ bằng việc có thêm người ở bên. Ta cần tôn trọng nỗi buồn ấy. Đừng nghĩ đã qua nhiều tháng thì người còn sống phải hết nhớ. Có những ngày tưởng đã bình an, rồi một bài hát, một món ăn, một chỗ ngồi lại làm nước mắt trào ra. Người đang chịu tang có thể tiếp tục công việc và vẫn cần được đồng hành.
Chúng ta có thể hỏi họ muốn kể điều gì về người đã mất, muốn cộng đoàn cầu nguyện theo ý nào, có điều gì còn làm họ day dứt. Có người cần nói rất nhiều. Có người chỉ cần một người ngồi bên. Khi nhớ thương kéo dài và làm họ kiệt quệ, việc tìm sự trợ giúp thích hợp cũng là một cách chăm sóc. Đừng buộc người đau buồn phải chọn giữa đức tin và nhu cầu được nâng đỡ. Đời sống thiêng liêng giúp ta đi qua mất mát với Chúa; đời sống ấy không xóa mọi phản ứng của một trái tim đã yêu.
Đọc Ga 11,17–27 trong tháng này, chúng ta có thể dừng lâu ở chỗ Đức Giêsu gặp Mácta. Người bước vào một tương quan đã có tình thân, và ở đó chị được thưa điều mình mang. Cộng đoàn cũng được mời trở thành nơi một thành viên có thể nói: tôi đang sợ; tôi đang đau; tôi thấy mình vô ích; tôi nhớ người đã mất; tôi chưa sẵn sàng để ra đi. Nếu những lời ấy chỉ gặp một bài khuyên bảo, người ta sẽ học cách giấu lòng mình. Nếu chúng gặp sự lắng nghe và lời cầu nguyện chân thành, người ta có thể từng bước tìm lại lòng tin. Chúng ta không cần có câu trả lời cho tất cả. Có những giờ phút, sự hiện diện trung tín có giá trị hơn khả năng giải thích.
Niềm hy vọng phục sinh cũng cần được hiểu trong ánh sáng của Đức Kitô chịu chết và sống lại. Chúng ta vẫn phải đi qua cái chết; sự mất mát vẫn thật; thân thể vẫn có thể đau. Nhưng đức tin cho phép ta trao toàn bộ đời mình cho Đấng đã chiến thắng sự chết. Vì thuộc về Người, ta không nhìn những ngày cuối đời như một phần đời bị loại khỏi ơn gọi. Lời gọi của Chúa vẫn hướng đến ta trong phòng bệnh, trong những giờ chờ đợi, trong lúc không còn biết làm gì ngoài đón nhận một ngày mới. Ta vẫn có thể sống tương quan với Người, và khi bản thân không còn diễn tả được, Hội Thánh vẫn cầu nguyện cùng ta và cho ta.
Có người nghĩ rằng khi về già, mình chỉ còn nhiệm vụ chờ chết. Cách nghĩ ấy dễ làm những ngày còn lại mất hết ý nghĩa. Nhưng mỗi ngày vẫn có đời sống cần được chăm sóc: ánh sáng buổi sáng, bữa ăn vừa sức, một cuộc thăm viếng, một bản nhạc quen, một giờ ngồi ngoài vườn, một lần nhận ra người thân. Những điều bình thường ấy xứng đáng được nâng niu. Chăm người sắp qua đời không có nghĩa chỉ chuẩn bị cho giờ chết mà quên những ngày họ còn sống. Họ vẫn cần được dễ chịu, được nghe điều mình yêu thích, được gặp người mình muốn gặp, được nói chuyện trong khả năng của mình. Sự sống đang hiện diện trong họ vẫn là sự sống được trao phó cho chúng ta.
Bởi vậy, sự hiện diện bên người yếu cần có niềm vui vừa phải, phù hợp với họ. Không phải mọi cuộc gặp đều phải nói về bệnh và cái chết. Có thể kể cho họ nghe một tin vui của cộng đoàn, đưa họ xem vài tấm ảnh, hỏi về một kỷ niệm, cùng họ nhìn cây đang ra hoa. Ta không cần gồng mình tạo không khí vui vẻ, nhưng cũng đừng để căn phòng của họ chỉ còn những lời thở dài. Người cao tuổi có thể vẫn muốn biết đời sống đang tiếp tục như thế nào. Họ có thể vui khi nghe một thành viên trẻ hoàn thành việc học, một sứ vụ mới được đón nhận, một gia đình đã vượt qua khó khăn. Hãy để họ còn được chia sẻ đời sống chung trong mức độ họ mong muốn.
Những thành viên trẻ cũng cần cơ hội được gần người cao tuổi bằng một tương quan thật. Nếu chỉ gặp các ngài trong những dịp lễ mừng thọ, chúng ta dễ biết tuổi tác mà chưa biết con người. Có những câu chuyện chỉ xuất hiện khi cùng đi một đoạn hành lang, cùng ngồi bóc trái cây, cùng xem một cuốn ảnh cũ. Người trẻ có thể nhận ra rằng người mình gọi là “các cụ” đã từng có những năm tháng đầy nhiệt tình, những chọn lựa khó khăn, những thất bại và những ước mơ. Người già cũng có thể hiểu thêm những áp lực mà thế hệ sau đang sống. Sự gặp gỡ ấy giúp cộng đoàn bớt chia thành những nhóm tuổi chỉ nhìn nhau từ xa.
Dĩ nhiên, kinh nghiệm tuổi tác không có nghĩa lúc nào người lớn tuổi cũng đúng. Sự mới mẻ của người trẻ cũng không có nghĩa mọi điều trước kia đều lỗi thời. Tình huynh đệ đòi mỗi bên học nghe phần sự thật của người khác. Người cao tuổi có thể kể kinh nghiệm mà không buộc thế hệ sau lặp lại nguyên cách mình đã làm. Người trẻ có thể đề nghị thay đổi mà không giễu cợt những nếp sống đã nâng đỡ cả một thế hệ. Khi sự khác biệt được nói bằng lòng kính trọng, cộng đoàn có thể tiếp nhận điều tốt từ nhiều giai đoạn của lịch sử mình. Khi người ta chỉ muốn chứng tỏ bên kia đã sai, cả người trẻ lẫn người già đều trở nên cô độc.
Ngày tĩnh tâm này cũng chạm đến người đang có trách nhiệm. Khi một thành viên yếu đi, các quyết định về nơi ở, công việc, sinh hoạt và chăm sóc có thể rất khó. Có khi cộng đoàn hiện tại không còn đủ điều kiện đáp ứng. Có khi việc chuyển nơi ở là cần thiết. Nhưng cách thực hiện ảnh hưởng sâu đến người được chuyển. Họ cần được giải thích trong khả năng có thể, được nghe, được chuẩn bị, được mang theo những vật dụng thân thuộc thích hợp, được duy trì tương quan. Một thay đổi hợp lý về tổ chức vẫn có thể trở thành vết thương nếu người trong cuộc cảm thấy mình bị đưa đi cho nhẹ việc. Sự tế nhị không xóa hết nỗi buồn, nhưng giúp người ấy biết mình vẫn được trân trọng.
Người thi hành quyền bính cũng cần sớm tạo một văn hóa trong đó việc nghỉ công tác không bị xem là mất giá trị. Nếu cả cộng đoàn chỉ chú ý đến người đang giữ trách nhiệm, thì người mãn nhiệm sẽ khó bình an. Nếu mọi người hiểu rằng chức vụ là một giai đoạn phục vụ, còn tình huynh đệ kéo dài suốt đời, thì việc trao lại trách nhiệm có thể diễn ra trong sự tin cậy hơn. Một thành viên đã nghỉ vẫn được thăm hỏi, vẫn có chỗ trong bữa ăn, trong lời cầu nguyện, trong những cuộc trò chuyện thường ngày. Những điều đó không nên tùy thuộc vào việc người ấy từng giữ chức vụ cao hay thấp.
Có một sự chuẩn bị cho cái chết bắt đầu từ cách ta sống với nhau hôm nay. Người thường xuyên trì hoãn lời cảm ơn có thể một ngày không còn người để nói. Người luôn nghĩ mình sẽ xin lỗi sau có thể chỉ còn đứng trước một ngôi mộ. Người dành quá nhiều năm để bảo vệ sự đúng đắn của mình có thể cuối cùng nhận ra tương quan đã cạn. Tháng Mười Một mời ta làm một việc cụ thể khi còn thời gian. Viết một lá thư. Gọi một cuộc điện thoại. Đến thăm một người. Nói một lời đính chính. Trả lại điều chưa thuộc về mình. Không cần chờ đến khi biết mình mắc bệnh nặng mới sắp xếp lại cách sống.
Nhưng việc chuẩn bị ấy cần đi với sự tự do và khôn ngoan. Có những bất hòa có thể được giải quyết bằng một cuộc gặp. Có những tổn thương cần người đồng hành hoặc cần giới hạn rõ ràng. Hòa giải không đòi người bị hại phải chối bỏ điều đã xảy ra. Cũng không phải mọi tương quan đều có thể trở lại như trước. Điều mỗi người có thể làm là bước đi trong phần trách nhiệm của mình, tôn trọng sự thật và không nuôi ý muốn gây hại. Khi đã cố gắng mà vẫn còn điều chưa giải quyết được, ta có thể tiếp tục cầu nguyện và trao cho Chúa những giới hạn của mình. Bình an không luôn đến từ việc mọi chuyện đều đã trọn vẹn theo ý ta.
Một câu hỏi sâu hơn có thể được đặt ra: nếu hôm nay tôi không còn chức vụ, không còn công việc, không còn khả năng giúp ích theo cách quen thuộc, tôi sẽ nhìn mình như thế nào? Câu trả lời cho thấy tôi đang đặt căn tính đời dâng hiến ở đâu. Công việc là nơi ta sống ơn gọi, nhưng có những thời điểm ta không thể tiếp tục làm việc. Sự thuộc về Đức Kitô vẫn còn. Lời Người gọi vẫn có ý nghĩa. Giao ước yêu thương không bị hủy bỏ vì đôi chân đi chậm hoặc đôi tay run. Ta cần trở lại với điều này từ khi còn khỏe, để khỏi phải đợi đến lúc mọi chỗ dựa khác sụp xuống mới bắt đầu học tin mình được yêu.
Có thể trong nhiều năm, ta đã hiểu lời dâng hiến như một lời hứa làm được thật nhiều cho Chúa. Điều đó chứa sự quảng đại. Nhưng càng đi lâu, ta càng nhận ra Chúa đón nhận cả con người mình: khả năng và giới hạn, thành công và những điều dang dở, tuổi trẻ và tuổi già. Người không chỉ nhận phần đời rực rỡ nhất. Những ngày không còn hoàn thành được gì đáng kể vẫn thuộc về lời dâng hiến ấy. Ta có thể thưa với Chúa bằng tất cả sự nghèo nàn: hôm nay con chẳng có nhiều sức lực, con cũng chưa bình an, nhưng con xin ở với Chúa trong ngày này. Một lời thưa như thế có thể rất khó, và vì khó, ta cần được cộng đoàn cùng nâng đỡ.
Cũng xin đừng vội gán cho mọi suy yếu một vẻ đẹp mà người đang chịu chưa thể cảm nhận. Đau vẫn là đau. Mất tự chủ vẫn có thể làm người ta tủi thân. Phải nhờ người khác chăm sóc vẫn có những giờ ngượng ngùng. Chúng ta có thể tìm ý nghĩa trong những điều ấy mà vẫn nói thật rằng chúng rất nặng. Chính sự thật giúp lời cầu nguyện có chỗ đứng. Nếu ta chỉ cho phép mình nói những điều cao đẹp, phần đau đớn sẽ bị giữ lại bên ngoài. Còn khi thưa được với Chúa rằng con đang khó chịu, đang sợ, đang tiếc đời mình trước đây, ta bắt đầu để Người gặp mình ngay trong hoàn cảnh hiện tại.
Đối với người đồng hành thiêng liêng, đây là lúc cần nghe nhiều hơn áp đặt. Người cao tuổi không phải một nhóm có cùng tâm trạng và cùng nhu cầu. Có người muốn nói về cái chết. Có người cần thời gian trước khi nói. Có người mong được lãnh nhận các bí tích và cần được giúp chuẩn bị. Có người đang lo một chuyện gia đình chưa xong. Có người chỉ ước gặp lại một người bạn. Hãy hỏi điều gì đang làm họ nặng lòng, thay vì đoán rằng tuổi già tự nhiên sẽ đem lại khôn ngoan và bình an. Có những việc một người phải học rất muộn, và tình yêu có thể kiên nhẫn đi với họ trong bài học ấy.
Khi một thành viên tiến gần giờ chết, cộng đoàn được mời ở lại trong một sự hiện diện vừa cầu nguyện vừa tế nhị. Có thể người ấy cần thinh lặng hơn cần nhiều người nói. Có thể họ muốn một giọng đọc quen thuộc. Có thể một bàn tay được nắm nhẹ giúp họ bớt cô đơn. Chúng ta tôn trọng hoàn cảnh chăm sóc, sức khỏe và mong muốn của họ, tạo điều kiện cho sự trợ giúp mục vụ và y tế phù hợp. Không phải ai cũng ra đi với lời cuối cùng rõ ràng hoặc nét mặt mà người ở lại có thể giải thích. Đừng dùng những biểu hiện bên ngoài của giờ hấp hối để phán đoán đời sống đức tin của họ. Có những điều thuộc về mầu nhiệm giữa Thiên Chúa và một con người.
Sau cái chết, cộng đoàn còn trách nhiệm đối với nhau. Người đã chăm bệnh lâu ngày có thể đột nhiên thấy mình trống rỗng. Người từng bất hòa có thể mang mặc cảm. Người chứng kiến giờ chết có thể bị ám ảnh. Những việc tang lễ bận rộn đôi khi khiến ta chưa có thời gian nhận ra mình đang đau. Khi mọi người đã trở về với công việc, nỗi buồn mới trở nên rõ. Vì thế, sự chăm sóc cần tiếp tục sau ngày an táng. Một cuộc gặp để chia sẻ, một lời hỏi thăm vài tuần sau, một dịp cùng nhớ về người đã mất có thể giúp cộng đoàn chịu tang cách lành mạnh hơn. Chúng ta vẫn cần nhau khi nghi thức đã kết thúc.
Tháng cầu nguyện cho người đã qua đời cũng giúp ta nhận ra mình đang thừa hưởng một gia đình lớn hơn những người hiện có mặt. Có những người ta chưa từng gặp, nhưng đang sống trong ngôi nhà họ xây, đọc những cuốn sách họ giữ lại, tiếp tục sứ vụ họ đã khởi đầu. Có những hy sinh không ai còn nhớ chi tiết, nhưng kết quả của chúng vẫn nâng đỡ đời sống hôm nay. Lòng biết ơn làm ta bớt nghĩ mọi chuyện bắt đầu từ mình. Nó cũng nhắc rằng một ngày nào đó ta sẽ trao lại phần việc cho người khác. Điều cần lo là trao lại một cộng đoàn có khả năng yêu thương, một công việc được làm ngay thẳng, một ký ức đủ thật để người sau có thể học.
Nếu muốn ghi lại một chứng tá trong tháng này, hãy đến nghe khi người ấy còn sống. Hỏi về một giai đoạn họ thấy khó, về người đã nâng đỡ họ, về điều họ ước mình làm khác đi, về niềm vui đã giữ họ ở lại. Có thể xin phép ghi chép những điều phù hợp để cộng đoàn gìn giữ. Những câu chuyện ấy cần được trân trọng, không khai thác những chuyện riêng tư hoặc đưa ra công khai điều người kể chưa đồng ý. Khi được nghe với lòng kính trọng, người cao tuổi cảm thấy đời mình được tiếp nhận. Người trẻ cũng nhận ra sự trung tín đã đi qua nhiều ngày bình thường, nhiều lần phải bắt đầu lại, nhiều ơn trợ giúp mà người ngoài không nhìn thấy.
Và trong khi học nhớ người đã mất, hãy nhìn kỹ người đang ngồi cạnh. Có thể chính họ là người ta sẽ thương tiếc rất nhiều về sau, nhưng hôm nay lại thường bỏ qua. Ta có thể chuẩn bị một bài điếu văn dài mà lại không dành được mười phút cho một cuộc trò chuyện khi người ấy còn sống. Ta có thể kể về sự tận tụy của họ sau khi họ qua đời mà lúc họ còn làm việc chưa bao giờ nói lời cảm ơn. Tháng Mười Một đưa lòng biết ơn trở về hiện tại. Hãy nói điều tốt đẹp một cách cụ thể: con nhớ lần cha đã giúp con; em biết chị đã âm thầm làm việc ấy; cộng đoàn biết ơn thầy vì sự kiên nhẫn trong những năm khó khăn. Người nghe không cần được tâng bốc. Họ cần biết tình yêu mình đã trao từng được ai đó nhận ra.
Đối với bản thân, ta cũng có thể tập một cách xét mình mới. Hôm nay tôi đã khiến ai thấy mình là gánh nặng? Tôi có né tránh người bệnh vì không biết nói gì? Tôi có chỉ thăm người dễ nói chuyện? Tôi có nói về người già bằng sự tôn trọng khi họ không có mặt? Tôi có sẵn sàng nhận một phần việc chăm sóc hay luôn nghĩ đó là bổn phận của một vài người? Những câu hỏi ấy cần được đặt nhẹ nhàng nhưng thật thà. Không ai trong chúng ta có khả năng chăm sóc hoàn hảo. Tuy nhiên, sự thiếu hoàn hảo không ngăn ta bắt đầu bằng một thay đổi vừa sức và trung tín với thay đổi đó.
Cũng hãy hỏi: khi nghĩ đến tuổi già của mình, tôi sợ nhất điều gì? Sợ đau, sợ bị quên, sợ mất quyền quyết định, sợ không còn được kính trọng, hay sợ nhận ra mình đã sống nhiều năm mà vẫn chưa biết để người khác thương? Có khi nỗi sợ tuổi già cho ta thấy một công việc cần làm ngay từ bây giờ. Nếu tôi sợ bị quên, tôi có thể học xây dựng những tương quan chân thành hơn. Nếu tôi sợ mất quyền, tôi có thể tập trao trách nhiệm. Nếu tôi sợ phải nhờ vả, tôi có thể tập nhận một sự giúp đỡ nhỏ với lòng biết ơn. Nếu tôi sợ quá khứ của mình, tôi có thể tìm đến bí tích hòa giải và một cuộc đồng hành thích hợp. Mỗi nỗi sợ có thể trở thành một lời cầu nguyện cụ thể.
Đứng trước Đức Giêsu như Mácta, ta không cần có sẵn câu trả lời cho toàn bộ tương lai. Mácta vẫn đang đứng trong căn nhà có tang, và chị tuyên xưng lòng tin vào Người. Chúng ta cũng có thể tuyên xưng ngay giữa điều chưa hiểu. Con tin Chúa đang ở đây, dù bệnh chưa khỏi. Con tin mình còn thuộc về Chúa, dù công việc đã trao lại. Con tin người anh em đã qua đời đang được đặt trong lòng thương xót của Chúa, dù con vẫn nhớ và vẫn khóc. Con tin sự sống Chúa hứa lớn hơn điều mắt con đang thấy. Đức tin ấy cần được nuôi mỗi ngày bằng Lời Chúa, bằng các bí tích và bằng sự nâng đỡ có thật của cộng đoàn.
Một cộng đoàn sống niềm hy vọng phục sinh sẽ biết quý thân thể đang yếu của anh chị em mình. Chính con người này, với khuôn mặt, lịch sử, những vui buồn và giới hạn này, được Chúa yêu. Vì thế, ta chăm sóc họ cẩn thận. Ta sửa chiếc áo cho ngay ngắn, giữ căn phòng sạch sẽ, đặt vật dụng trong tầm tay, báo trước điều mình sắp làm, chờ họ trả lời. Những việc rất nhỏ ấy nói rằng người nằm đây vẫn đáng được kính trọng. Đức tin vào sự sống đời đời không khiến chúng ta xa rời những nhu cầu của thân thể; đức tin ấy giúp ta chăm con người cụ thể với lòng yêu mến sâu hơn.
Đến cuối ngày tĩnh tâm, có lẽ chúng ta không cần hứa những điều lớn lao. Hãy chọn một người để đến thăm và thật sự nghe. Hãy nhớ tên một thành viên đã qua đời trong lời cầu nguyện. Hãy ghi lại một việc tốt mà nếu không ghi, ít năm nữa có thể chẳng còn ai biết. Hãy nói lời cảm ơn đang bị trì hoãn. Hãy nhìn lại cách mình phản ứng khi người yếu gọi thêm một lần. Hãy sắp xếp để người chăm bệnh được nghỉ. Và với chính mình, hãy dành một lúc trước Chúa để thưa thật về nỗi sợ đang có. Những việc ấy giúp lời suy niệm đi vào căn nhà chúng ta đang sống.
Rồi sẽ có một ngày đôi tay ta yếu đi. Có thể ta vẫn muốn làm mà không còn làm nổi. Có thể một việc rất nhỏ cũng cần người giúp. Xin cho ngày ấy, ta được sống giữa những người biết kiên nhẫn. Và để điều đó có thể thành sự thật cho anh chị em hôm nay, xin cho chính ta bắt đầu sống kiên nhẫn từ bây giờ. Ước gì trong cộng đoàn, người yếu không phải xin lỗi vì mình còn sống, người già không phải cố chứng minh mình còn hữu ích, người bệnh không phải giấu nhu cầu để được yêu. Ước gì mỗi người đều có thể an tâm rằng khi sức lực rời đi, tình huynh đệ vẫn ở lại.
Lạy Chúa Giêsu, hôm nay chúng con đến với Chúa như Mácta đã đến, mang theo lòng tin còn nhiều run rẩy và những điều chưa biết phải nói thế nào. Chúng con nhớ những anh chị em đã qua đời. Có người ra đi khi tuổi đã cao, có người ra đi giữa lúc còn nhiều dự định. Có người chúng con đã kịp nói lời từ biệt, có người chỉ để lại cho chúng con một khoảng trống bất ngờ. Xin đón nhận họ trong lòng thương xót của Chúa. Xin tha thứ những lỗi lầm, thanh luyện những điều chưa trọn vẹn và cho họ được hưởng sự sống Chúa đã hứa. Xin nâng đỡ chúng con khi nhớ đến họ; giúp chúng con biết ơn điều tốt đã nhận và can đảm sửa những điều cần sửa trong đời sống hôm nay.
Lạy Chúa, xin nhìn đến những anh chị em đang cao tuổi và đau yếu trong cộng đoàn chúng con. Chúa biết từng đêm họ khó ngủ, từng cử động khiến họ đau, từng lần họ ngại gọi vì sợ làm phiền. Chúa biết nỗi buồn khi họ không còn tự làm được điều trước kia rất dễ. Xin cho họ gặp được những bàn tay nhẹ nhàng, những lời nói kính trọng, những người sẵn sàng ở lại. Khi họ cảm thấy mình vô ích, xin giúp chúng con đến gần bằng sự hiện diện chân thành, để họ nhận ra mình vẫn được yêu trong chính ngày hôm nay.
Xin thương những người đang chăm sóc họ. Có người đã mệt mà không nói, đã nhiều lần giấu nước mắt rồi tiếp tục công việc. Xin cho họ được cộng đoàn chia sẻ trách nhiệm, được nghỉ ngơi và được nâng đỡ. Khi họ mất kiên nhẫn, xin giúp họ nhận ra giới hạn của mình và tìm sự trợ giúp. Xin dạy chúng con biết chăm sóc cả người bệnh lẫn người chăm bệnh, để không ai phải âm thầm kiệt sức trong chính việc phục vụ anh chị em.
Lạy Chúa, xin tha thứ cho những lần chúng con đã đo giá trị một người bằng việc họ còn làm được bao nhiêu. Xin tha thứ vì những câu nói khiến người già tủi thân, những lần vội vàng làm thay mà không hỏi, những chuyện riêng tư chúng con đã kể thiếu tế nhị, những cuộc thăm viếng cứ hẹn rồi quên. Xin cho chúng con đủ khiêm nhường để sửa lại cách sống. Xin giúp chúng con biết gọi tên anh chị em mình với lòng kính trọng, biết nghe câu trả lời chậm rãi, biết dành thời gian cho người không còn theo kịp nhịp sống của chúng con.
Khi đến lượt con yếu đi, xin giữ con trong tình yêu của Chúa. Khi con phải trao lại công việc, xin cho con biết ơn những năm tháng đã được phục vụ và học tin tưởng người tiếp nối. Khi con cần được chăm sóc, xin giúp con nói thật nhu cầu, biết nhận sự giúp đỡ và bớt sợ mình trở thành gánh nặng. Khi con buồn vì những điều đã mất, xin cho con được thưa nỗi buồn ấy với Chúa. Khi con không còn cầu nguyện như trước, xin đón nhận một tiếng gọi tên Chúa, một cái nhìn hướng về Chúa, cả sự thinh lặng mỏi mệt của con.
Xin đừng để con trì hoãn mãi lời cảm ơn và xin lỗi. Xin cho con can đảm làm hòa trong sự thật, biết sửa điều có thể sửa và trao cho Chúa những điều vượt quá khả năng mình. Xin giúp con sống ngày hôm nay ngay thẳng hơn, nhân hậu hơn, để những người ở cùng con bớt phải chịu đựng và có thêm một chút bình an. Xin cho con nhận ra người đang cần một cuộc thăm viếng ngay trong căn nhà này, người đang mong một lời hỏi han mà con đã đi ngang nhiều lần.
Và khi sự chết đến gần, lạy Chúa, nếu con sợ, xin ở với con. Nếu con đau đến mức không nói được, xin nghe lời cầu nguyện mà cộng đoàn dâng thay con. Nếu tâm trí con không còn nhận ra những khuôn mặt thân quen, xin gìn giữ con trong tình yêu Chúa vẫn dành cho con từ thuở đầu. Xin cho lời Chúa nói với Mácta nâng đỡ con trong giờ ấy. Con xin trao đời con cho Chúa, cả những gì đã làm được và những gì còn dang dở. Đôi tay con có thể không còn nắm được gì, nhưng xin cho con được nghỉ yên trong bàn tay Chúa.
Amen.
Lm. Anmai, CSsR
THÁNG MƯỜI HAI — XIN CHO NGƯỜI KHÁC GẶP ĐƯỢC LÒNG CHÚA KHI GẶP CON
Nhìn lại một năm và để đời thánh hiến trở nên sự hiện diện trao ban.
Lời Chúa: Lc 2,1–20 — Con Thiên Chúa đến với nhân loại trong sự bé nhỏ của Hài Nhi.
Tháng Mười Hai về, những trang lịch còn lại mỏng dần. Trong nhà nguyện, lời ca Mùa Vọng đưa chúng ta vào tâm tình chờ đợi. Ngoài sân, có thể anh chị em đang chuẩn bị hang đá, sửa lại những bóng đèn, tập những bài hát Giáng Sinh, sắp xếp chương trình bác ái và những cuộc thăm viếng cuối năm. Công việc vẫn nối tiếp công việc. Người phụ trách cộng đoàn còn những điều phải giải quyết. Người làm mục vụ còn những cuộc hẹn. Người coi nhà bếp vẫn phải nghĩ đến bữa ăn ngày mai. Người chăm bệnh nhân vẫn thức vào những giờ người khác đã ngủ. Người cao tuổi ngồi nhìn một năm nữa đi qua, có khi không nói gì, nhưng trong lòng mang theo nhiều điều hơn chúng ta tưởng. Giữa tất cả những bận rộn ấy, ngày tĩnh tâm cuối năm mở ra một khoảng dừng. Chúng ta cần ngồi lại trước mặt Chúa, đủ lâu để nghe được điều mà suốt nhiều tháng qua mình đã đi ngang.
Có lẽ chúng ta đã quen nhìn lại năm sống bằng những việc đã làm: bao nhiêu chương trình hoàn tất, bao nhiêu người được phục vụ, bao nhiêu trách nhiệm đã chu toàn, bao nhiêu khó khăn được vượt qua. Những điều ấy đáng được ghi nhận. Mồ hôi của người tận tụy có giá trị. Những giờ làm việc âm thầm không phải là điều nhỏ. Tuy nhiên, khi quỳ trước Hài Nhi Giêsu, chúng ta được mời nhìn sâu hơn vào chính cách mình đã sống trong những công việc ấy. Trong lúc thực hiện sứ vụ, tôi đã đối xử với con người thế nào? Khi mệt, tôi có để người khác phải gánh lấy sự cay đắng của mình không? Khi được tín nhiệm, tôi có còn biết lắng nghe không? Khi không được hỏi ý kiến, tôi có tiếp tục cộng tác với lòng ngay thẳng không? Khi một người yếu đuối tìm đến, họ gặp được nơi tôi một chỗ để nói thật hay một ánh mắt khiến họ muốn rút lại lời?
Một năm đi qua để lại nhiều dấu vết trong lòng người khác. Có những dấu vết chúng ta nhớ rất rõ, vì đó là điều mình đã cố gắng làm. Cũng có những dấu vết chúng ta gần như quên hẳn, trong khi người nhận vẫn mang theo. Một câu nói vào lúc nóng giận. Một lời hứa chưa được thực hiện. Một lần chúng ta gạt đi điều người khác đang cố trình bày. Một thái độ lạnh nhạt trong bữa cơm. Nhưng cũng có thể là một lần chúng ta chịu ngồi lại, một lời hỏi thăm đúng lúc, một sự bênh đỡ công bằng, một chén cháo đem đến khi người khác đau. Cuối năm, chúng ta xin Chúa cho mình đủ bình an để nhìn nhận cả hai. Điều tốt cần được tạ ơn. Điều sai cần được gọi đúng tên. Điều còn dang dở cần được đón nhận trong trách nhiệm và phó thác.
Lời nguyện của tháng này rất gần với ước muốn sâu xa của đời dâng hiến: “Xin cho người khác gặp được lòng Chúa khi gặp con.” Khi thưa như thế, chúng ta biết mình còn nhiều giới hạn. Chúng ta có thể thiếu kiên nhẫn, dễ tự ái, khó diễn tả tình thương, hoặc mang trong lòng những nỗi đau chưa được chăm sóc. Dẫu vậy, chính con người có giới hạn ấy đã được Chúa gọi. Người không chờ đến ngày chúng ta hoàn toàn dễ thương mới trao cho chúng ta anh chị em để cùng sống. Người đặt chúng ta bên nhau và tiếp tục dạy mỗi người học yêu trong những tương quan có thật. Bởi thế, lời nguyện này cần đi vào từng ngày, đến cả những lúc ta không được ai nhìn thấy: xin cho người khác gặp được một chút lòng nhân hậu của Chúa trong cách con trả lời, trong điều con lựa chọn, trong phản ứng của con trước một người đang làm con khó chịu.
Đến Bêlem với năm sống thật của mình
Trình thuật Giáng Sinh theo thánh Luca bắt đầu giữa những chuyển động lớn của xã hội: lệnh kiểm tra dân số, những cuộc lên đường, con người trở về quê quán để khai tên. Giữa dòng người ấy có Đức Maria và thánh Giuse. Con Thiên Chúa đi vào lịch sử trong hoàn cảnh cụ thể của một gia đình phải di chuyển, tìm chỗ ở và đón một trẻ sơ sinh. Tin Mừng kể việc Đức Maria sinh con, lấy tã bọc con và đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ. Những chi tiết ấy đưa chúng ta đến rất gần sự mong manh của phận người. Một người mẹ vừa sinh. Một người cha chăm lo. Một em bé cần được bọc trong tã, cần hơi ấm và sự bảo vệ.
Đứng trước cảnh ấy, người tu sĩ có thể thôi cố giữ dáng vẻ mạnh mẽ của mình. Ta được đến với Chúa bằng một năm sống thật: có những ngày sốt sắng và những ngày cầu nguyện khô khan; có những lần quảng đại và những lần tính toán; có những quyết định đúng, cũng có những lời nói khiến mình day dứt. Chúng ta mang đến cả sự mệt mỏi mà chưa biết kể với ai, nỗi buồn khi một tương quan không còn như trước, cảm giác bất lực trước một công việc kéo dài. Hài Nhi nằm trong máng cỏ cho phép chúng ta đến gần. Trước sự bé nhỏ của Người, chúng ta không cần dựng lên một bản tường trình đẹp để được chấp nhận.
Có những người đã sống đời tu lâu năm nhưng vẫn sợ phải hiện diện trước Chúa trong sự thật của mình. Họ biết dâng Chúa những công việc, biết đọc những lời kinh, biết lo cho giờ phụng vụ, nhưng khi chạm đến nỗi buồn riêng, họ vội chuyển sang điều khác. Có thể họ sợ sự yếu đuối ấy chứng tỏ mình chưa đủ trưởng thành. Có thể họ đã nhiều lần không được lắng nghe nên dần tin rằng tốt hơn là đừng nói. Ngày tĩnh tâm này, chúng ta có thể bắt đầu bằng một lời rất đơn sơ: “Lạy Chúa, đây là con của cuối năm nay. Có những điều con đã làm được, có những điều con vẫn chưa vượt qua. Có người con thương rất dễ, cũng có người con còn tránh mặt. Con muốn ở lại trước Chúa với tất cả những điều ấy.”
Khi thôi che giấu, chúng ta mới có thể nhận ra mình đang cần gì. Một người thiếu ngủ kéo dài có thể cần được điều chỉnh công việc. Một người mang mặc cảm thất bại có thể cần một cuộc đồng hành kiên nhẫn. Một người đang làm anh chị em khổ vì tính nóng cần nhìn nhận trách nhiệm, đồng thời học cách chăm sóc những điều đang khiến mình mất quân bình. Một người thấy đời cầu nguyện trống rỗng cần được giúp tìm lại cách hiện diện với Chúa phù hợp với tình trạng hiện tại. Những nhu cầu ấy không làm lời khấn mất giá trị. Chúng cho thấy lời khấn đang được sống trong một thân phận cần được nâng đỡ từng ngày.
Bêlem cũng giúp chúng ta sửa lại cách hiểu về sự bé nhỏ. Sống bé nhỏ không đòi người tu sĩ phải phủ nhận khả năng, coi nhẹ phẩm giá hay chấp nhận mọi điều người khác áp đặt. Sự khiêm nhường cho phép ta nhìn mình đúng hơn: có điều mình biết, có điều cần học; có việc mình làm được, có việc cần nhờ; có khi mình phải lên tiếng, có khi cần lặng lại để nghe. Người bé nhỏ trước Chúa có thể trình bày sự thật mà không phải làm cho mình trở thành trung tâm. Họ có thể đón nhận trách nhiệm và cũng có thể trao lại khi đến lúc. Họ không cần thắng mọi cuộc tranh luận để giữ lấy giá trị của đời mình.
Có lẽ trong năm qua, chúng ta đã mất nhiều sức vì bảo vệ một hình ảnh. Hình ảnh người luôn tận tụy, luôn hiểu biết, luôn hy sinh, luôn đúng. Một lời góp ý nhỏ cũng khiến ta thao thức nhiều đêm, vì nó chạm đến hình ảnh ấy. Một người mới được tín nhiệm làm ta buồn, vì ta sợ mình bị quên. Một thay đổi trong phân công khiến ta thấy mọi công lao trước kia bị xóa bỏ. Trước Hài Nhi Giêsu, chúng ta xin được nghỉ ngơi khỏi nhu cầu phải liên tục chứng minh. Giá trị của người được thánh hiến bắt đầu từ việc được Chúa yêu và được gọi. Khi tin điều ấy hơn, ta sẽ có thêm tự do để làm việc, để nhận lỗi và để vui vì điều tốt đang lớn lên nơi người khác.
Nhìn lại những gương mặt đã đi qua đời mình
Cuối năm, mỗi người có thể mở lại lịch công tác. Nhưng cũng cần mở lại ký ức về những gương mặt. Người ngồi bên cạnh tôi trong nhà nguyện suốt năm nay đang sống thế nào? Người cùng bàn ăn đã có lúc nào cố nói với tôi một điều mà tôi không chịu nghe? Người phụ giúp cộng đoàn có được đối xử với lòng kính trọng không? Người trẻ mới đến đã cảm thấy được hướng dẫn hay chỉ cảm thấy mình luôn làm sai? Người lớn tuổi có được hỏi ý kiến, được trò chuyện, được chăm sóc, hay chỉ được nhắc đến khi có điều bất tiện? Những câu hỏi ấy đưa chúng ta ra khỏi cách nhìn chỉ xoay quanh thành công và khó nhọc của bản thân.
Chúng ta có thể nhớ rất rõ ai đã làm mình buồn, nhưng lại ít nhớ ai đã phải nhẫn nại với mình. Ta nhớ một lời thiếu tế nhị mình nhận được, còn giọng nói gay gắt của mình trong một buổi chiều mệt mỏi thì đã quên. Ta biết mình phải chịu đựng ai, nhưng không tự hỏi có ai đang phải dè dặt khi sống bên mình. Một cuộc xét mình chân thành cần dành chỗ cho sự đổi vị trí ấy. Nếu tôi là người nghe câu nói đó, tôi sẽ cảm thấy thế nào? Nếu tôi là người trẻ vừa mắc lỗi, thái độ của tôi có giúp họ sửa hay làm họ sợ? Nếu tôi là người bệnh phải gọi thêm một lần, tiếng thở dài của người chăm sóc sẽ làm tôi nghĩ gì về chính mình?
Có những cộng đoàn rất chu đáo khi đón khách nhưng lại thiếu kiên nhẫn với người nhà. Khách đến được mời ngồi, được hỏi thăm, được nghe những lời dịu dàng. Người cùng sống bước vào đúng lúc ta bận thì nhận một câu trả lời cụt ngủn. Dĩ nhiên, đời sống gần gũi có những mệt mỏi mà các cuộc gặp ngắn không có. Chính vì thế, tình huynh đệ cần được chăm sóc có ý thức. Chúng ta không thể dành hết sự tử tế cho người ngoài rồi mong anh chị em hiểu rằng sự cộc cằn ở nhà chỉ là vì mình quá mệt. Người nhà cũng cần được tôn trọng. Họ cũng có một ngày dài, những lo lắng và những giới hạn mà ta chưa biết.
Thử hình dung một người sau giờ làm trở về cộng đoàn, trong lòng đang nặng vì một chuyện vừa xảy ra. Họ không cần cả nhà phải bỏ mọi việc để chăm chú vào mình. Có khi điều họ cần chỉ là một lời chào, một chỗ ngồi bình thường, một người hỏi và chịu nghe câu trả lời. Nếu ngày nào họ cũng gặp sự hờ hững, dần dần họ sẽ thôi kể. Sự im lặng ấy có thể bị hiểu lầm là bình an, là kín đáo, là không có vấn đề. Thật ra, một người có thể đã từ bỏ hy vọng được hiểu ngay trong căn nhà của mình. Khi nhìn lại năm sống, chúng ta cần can đảm nghĩ đến khả năng ấy.
Sự quan tâm bắt đầu từ việc nhận thấy một thay đổi. Một người trước đây hay trò chuyện nay lặng hơn. Một người vốn cẩn thận bỗng thường quên việc. Một người luôn nhận lời nay xin được nghỉ. Ta đừng vội giải thích bằng sự lười biếng, khó tính hay thiếu tinh thần. Có thể họ đang chịu một gánh nặng chưa biết diễn tả. Hỏi thăm không bảo đảm người ấy sẽ mở lòng ngay, nhưng một câu hỏi được đặt trong sự tôn trọng có thể cho họ biết rằng vẫn có người nhận ra họ. Và khi họ chưa sẵn sàng kể, chúng ta có thể giữ thái độ gần gũi mà không ép buộc, không dò xét, không đưa sự im lặng của họ thành đề tài bàn luận.
Mầu nhiệm Giáng Sinh mời chúng ta chăm sóc con người trong tình trạng họ đang có. Hài Nhi cần được bọc tã ngay lúc ấy. Người mẹ cần được nâng đỡ ngay lúc ấy. Trong cộng đoàn cũng vậy, tình thương cần đáp lại nhu cầu cụ thể. Người đang bệnh cần người đưa đi khám, người giúp việc thường ngày, người nhớ điều họ có thể ăn. Người mới nhận trách nhiệm cần một sự hướng dẫn rõ ràng. Người vừa thất bại cần được nghe điều cần sửa mà vẫn biết mình còn được tin tưởng. Một lời chúc tốt đẹp sẽ có sức nặng hơn khi đi cùng sự giúp đỡ có thật.
Xin cho lời nói của con đem lại chỗ để người khác thở
Trong một năm, chúng ta nói biết bao nhiêu lời. Lời trong giờ họp, trong nhà bếp, ngoài hành lang, qua điện thoại, trên những nhóm liên lạc. Có những lời được chuẩn bị kỹ trước cộng đoàn; có những lời buột ra vì sốt ruột. Đến cuối năm, điều đáng xét không chỉ là tôi có nói điều sai sự thật hay không, mà còn là tôi đã dùng sự thật thế nào. Tôi có chọn đúng lúc để góp ý? Có cần nói trước mặt nhiều người? Có để người bị nhắc được giải thích? Có lẫn vào đó ý muốn làm họ xấu hổ, dù tôi gọi việc ấy là thẳng thắn?
Một lời cay nghiệt thường sống lâu hơn người nói tưởng. Người nói có thể đã sang việc khác sau vài phút, nhưng người nghe vẫn nhớ giọng ấy, nét mặt ấy, sự bẽ bàng ấy. Đặc biệt khi lời nói đến từ người có trách nhiệm hoặc người được kính trọng, sức nặng của nó càng lớn. Có người không phản ứng vì sợ bị cho là chống đối. Có người cười cho qua, rồi về phòng khóc. Có người từ đó không còn dám hỏi. Chúng ta cần đem những khả năng ấy vào cầu nguyện, để không lấy sự im lặng của người khác làm bằng chứng rằng cách nói của mình chẳng gây hại.
Tuy nhiên, sự dịu dàng cũng cần có sự rõ ràng. Cộng đoàn vẫn phải trao đổi về lỗi lầm, trách nhiệm và những hành vi gây tổn thương. Nếu vì sợ mất lòng mà mọi người đều tránh nói, điều sai có thể kéo dài và làm khổ những người ít có tiếng nói hơn. Lòng nhân hậu giúp chúng ta nói điều cần nói trong sự tôn trọng: nêu việc đã xảy ra, cho biết ảnh hưởng, lắng nghe phần trình bày có liên quan và cùng xác định điều phải thay đổi. Khi phải xử lý một vấn đề nghiêm trọng, cần làm theo trách nhiệm và những cách thức thích hợp; không dùng lời khuyên chịu đựng để đẩy gánh nặng về phía người đang bị tổn thương.
Một thực hành nhỏ cho cuối năm là nhớ lại những cách nói mình thường dùng khi bực bội. Có người quen châm chọc. Có người nói bằng những câu tuyệt đối như thể người kia chưa bao giờ làm được điều tốt. Có người nhắc lại lỗi cũ trong mọi cuộc tranh luận. Có người dùng giọng lạnh để người khác tự hiểu rằng họ đang bị loại ra. Nhận ra một thói quen cụ thể sẽ giúp ta có chỗ bắt đầu. Ta có thể tập dừng trước khi trả lời, xin thêm thời gian khi quá nóng, hoặc nói lại điều mình muốn trình bày bằng một câu rõ ràng hơn. Sự đổi mới thường đến từ những lần tập như thế.
Chúng ta cũng cần nhìn lại cách nói về người vắng mặt. Người ấy có được bảo vệ phẩm giá trong những cuộc trò chuyện của chúng ta không? Những điều họ đã tin tưởng kể riêng có còn được giữ kín đúng mức không? Có chuyện nào được chuyền từ người này sang người khác chỉ vì nó làm cuộc nói chuyện thêm hấp dẫn? Đời tu cần sự tín nhiệm, và sự tín nhiệm bị hao mòn khi người ta không biết lời mình nói sẽ đi đến đâu. Một cộng đoàn biết giữ gìn chuyện riêng của nhau tạo điều kiện cho sự thành thật. Khi có vấn đề cần trình bày với người có trách nhiệm, chúng ta làm điều ấy vì việc cần được giải quyết, với nội dung cần thiết và người cần biết.
Có khi lời nói đem lại bình an chỉ là một câu rất bình thường: “Tôi nghe anh chị.” “Việc này mình cùng xem lại.” “Tôi đã hiểu sai.” “Hôm ấy tôi nói quá lời.” “Cảm ơn vì anh chị đã nhắc.” Những câu ấy không làm người nói mất đi uy tín. Chúng cho thấy người ấy có thể sống trong sự thật mà không cần liên tục tự vệ. Người sống gần một tu sĩ như thế sẽ bớt sợ phải nói điều khó. Và đó đã là một cách để lòng nhân hậu của Chúa được nhận ra trong đời thường.
Học nhận lỗi trước khi năm cũ qua đi
Có những việc chưa hoàn tất gây mệt mỏi, nhưng có những lỗi chưa được nhận làm một tương quan nặng hơn rất nhiều. Cả hai vẫn làm việc chung, vẫn chào nhau, vẫn đọc kinh bên nhau, nhưng một điều gì đó đã bị giữ lại. Người gây tổn thương hy vọng thời gian sẽ khiến người kia quên. Người bị tổn thương chờ một lời nhìn nhận. Ngày tháng trôi, khoảng cách trở thành thói quen. Cuối năm, có thể Chúa đang mời chúng ta trở lại một chỗ rất cụ thể như vậy.
Nhận lỗi đòi ta gọi đúng điều mình đã làm. “Tôi xin lỗi vì đã ngắt lời anh chị trong cuộc họp.” “Tôi đã hứa mà không thực hiện, khiến anh chị phải lo thay.” “Tôi đã kể chuyện riêng của anh chị cho người khác.” Khi lời xin lỗi rõ ràng, người bị tổn thương không phải tiếp tục gánh công việc giải thích cho chúng ta hiểu. Những cách nói mơ hồ, có điều kiện hoặc chỉ tập trung vào ý tốt của bản thân dễ khiến lời xin lỗi trở nên khó đón nhận. Chúng ta có thể đã không cố ý, nhưng ảnh hưởng vẫn cần được nhìn nhận. Thiện chí ban đầu không xóa hết trách nhiệm đối với điều đã xảy ra.
Sau lời xin lỗi, cần có sự kiên nhẫn. Ta không thể yêu cầu người kia lập tức vui vẻ để mình được nhẹ lòng. Có tổn thương cần thời gian. Có niềm tin phải được xây lại bằng những hành vi trung tín nhỏ. Nếu tôi đã nhiều lần thất hứa, sự thay đổi cần xuất hiện trong cách giữ lời. Nếu tôi thường nổi nóng, người khác cần thấy tôi chủ động học cách điều chỉnh phản ứng. Nếu tôi đã làm ai đó mất quyền lợi, việc sửa chữa phải chạm đến quyền lợi ấy trong mức có thể. Lời xin lỗi mở đầu cho việc trở lại; sự nhất quán giúp người khác dần dám tin.
Cũng có người cuối năm muốn hòa giải nhưng không thể liên hệ, vì người kia đã đi xa, đã qua đời hoặc việc gặp gỡ hiện tại không thích hợp. Trong những hoàn cảnh ấy, chúng ta vẫn có thể nhận trách nhiệm trước Chúa, tìm lời khuyên khôn ngoan và làm điều sửa chữa còn khả thi. Ta có thể trả lại điều đang giữ, đính chính một thông tin sai, thay đổi cách hành xử với những người khác. Sự bất khả của một cuộc gặp không khiến mọi trách nhiệm đều chấm dứt. Đồng thời, ta cũng cần chấp nhận rằng có những điều không còn thể sửa nguyên vẹn. Nỗi đau ấy được đem vào lời cầu nguyện với lòng sám hối và cậy trông, thay vì biến thành một bản án vô tận dành cho mình.
Với người đang mang vết thương, ngày tĩnh tâm không ép họ phải đi nhanh hơn khả năng. Có thể điều cần làm trước mắt là tìm một người đáng tin để kể lại, xin được bảo vệ, hoặc thiết lập một giới hạn rõ ràng. Tha thứ không đòi người bị tổn thương phải phủ nhận sự việc hay trở lại ngay một tương quan chưa an toàn. Hòa giải cần sự thật và trách nhiệm của những người liên quan. Trong lời cầu nguyện, chúng ta xin Chúa giữ lòng mình khỏi bị nỗi đau chiếm trọn, đồng thời xin ơn khôn ngoan để biết bước nào nên đi, bước nào cần chờ, sự trợ giúp nào cần được tìm kiếm.
Một cộng đoàn trưởng thành tạo điều kiện cho việc nhận lỗi. Nếu người thú nhận một sơ suất luôn bị nhắc lại lỗi ấy về sau, mọi người sẽ học cách che giấu. Nếu người trình bày khó khăn bị coi là thiếu tinh thần, họ sẽ im lặng đến lúc kiệt sức. Nếu mọi góp ý đều bị xem là chống đối, người có trách nhiệm sẽ dần mất cơ hội biết tình hình thật. Bởi vậy, khi nhìn lại năm sống, mỗi người cần xét cả phần mình trong bầu khí chung: tôi có đón nhận sự thành thật của người khác bằng sự tôn trọng không? Có biết phân biệt một lỗi có thể sửa với một nhãn hiệu gắn mãi lên cả con người không?
Tạ ơn những người đã kiên nhẫn với mình
Trước hang đá, chúng ta dễ nhớ đến những ơn lớn: một công việc được hoàn tất, một lần thoát khỏi nguy hiểm, một kết quả tốt đẹp ngoài mong đợi. Nhưng năm sống cũng được nâng đỡ bằng rất nhiều điều nhỏ mà khi đang nhận, ta coi như đương nhiên. Bữa ăn được chuẩn bị. Cánh cửa được mở. Một người nhớ mua giúp món cần dùng. Một công việc được âm thầm làm thay lúc ta đau. Một anh chị em không đáp lại lời nóng giận của ta bằng một lời nóng giận khác. Có những ngày chúng ta tiếp tục được chỉ vì một người đã không bỏ cuộc với mình.
Tạ ơn giúp ta nhìn lại đời mình công bằng hơn. Khi buồn, chúng ta có thể chỉ thấy điều chưa được đáp ứng. Khi tự hào, chúng ta có thể tưởng mọi thành quả đều do sức mình. Lòng biết ơn đưa những người bị bỏ quên trở lại trong ký ức. Tôi đã học nơi ai sự kiên trì? Ai đã nhắc một điều khó nghe nhưng cần thiết? Ai đã cho tôi cơ hội làm lại? Ai đã chịu thêm việc để tôi được nghỉ? Ai đã lắng nghe trong một giai đoạn mà ngay chính tôi cũng thấy mình khó chịu? Những gương mặt ấy thuộc về câu chuyện ơn gọi của chúng ta.
Lòng biết ơn cần được nói ra một cách cụ thể. Một lời cảm ơn chung trong buổi họp có giá trị, nhưng có người cần được nghe rằng công việc của họ đã giúp ta thế nào. “Cảm ơn chị đã kiên nhẫn hướng dẫn em khi em mới nhận việc.” “Cảm ơn anh đã đến thăm lúc tôi nằm bệnh.” “Cảm ơn vì hôm ấy chị đã chịu nghe tôi.” Khi được nói bằng sự chân thành, những lời ấy giúp người phục vụ âm thầm biết rằng điều họ làm đã đến được với một con người. Nhiều người không đòi được ca ngợi. Họ chỉ mệt vì lâu ngày cảm thấy mình hiện diện cũng được, vắng mặt cũng không ai nhận thấy.
Tạ ơn cũng có thể đi cùng nỗi buồn. Một người đã giúp ta nhiều nhưng cũng từng làm ta đau. Một cộng đoàn đã cưu mang ta nhưng có những thiếu sót thật. Một năm có những ơn quý giá và những mất mát không thể xem nhẹ. Chúng ta được phép nhìn cả hai. Biết ơn không buộc ta gọi điều gây hại là tốt. Nó giúp ta nhận điều tốt trong sự thật, không để nỗi đau xóa sạch mọi ân tình đã có. Cũng nhờ vậy, việc sửa chữa có thể được thực hiện với lòng công bằng hơn, bớt bị dẫn dắt bởi nhu cầu phủ nhận toàn bộ một con người hay một quãng đời.
Cuối năm, có thể chúng ta cần cảm ơn cả những người không còn hiện diện. Một bậc lớn tuổi đã qua đời. Một người hướng dẫn đã được thuyên chuyển. Một anh chị em đã rời công việc chung. Những gì tốt đẹp họ để lại vẫn đang nuôi đời sống của chúng ta. Ta có thể nhớ đến họ trong Thánh Lễ, trong giờ cầu nguyện, trong việc tiếp tục một điều tốt đã học được. Có những lời cảm ơn đến muộn khiến lòng ta đau, vì người ấy không còn nghe trực tiếp. Nỗi đau ấy có thể dạy ta đừng chờ quá lâu với những người đang còn ở bên mình.
Để người yếu được ở giữa cộng đoàn trong phẩm giá
Giáng Sinh đưa chúng ta đến trước một Hài Nhi không tự chăm sóc mình. Người cần đến bàn tay con người. Chiêm ngắm điều ấy, cộng đoàn được mời nhìn lại cách mình sống với sự yếu đuối. Chúng ta có chỗ cho người làm chậm hơn không? Có đủ kiên nhẫn với người phải hỏi lại? Có biết điều chỉnh công việc cho người đang giảm sức? Có để người bệnh được tham gia vào những quyết định liên quan đến họ trong mức có thể? Phẩm giá của một người không giảm theo khả năng làm việc. Người tu sĩ đã trao cả đời mình cho Chúa vẫn là anh chị em của chúng ta khi đôi chân yếu, trí nhớ kém và bàn tay không còn làm được những việc trước kia.
Một cộng đoàn có thể rất quý công lao của người lớn tuổi trong lời phát biểu, nhưng lại thiếu thời gian ngồi nghe họ nói. Sự quý trọng cần đi vào lịch sinh hoạt và cách phân công. Ai có thể ở lại trò chuyện? Ai đưa đi khám? Những nhu cầu riêng có được biết đến không? Khi người bệnh bực bội vì đau hoặc vì mất dần khả năng tự chủ, chúng ta có tìm hiểu điều đang xảy ra trước khi kết luận về tính tình họ không? Chăm sóc trong phẩm giá đòi sự tinh tế: giúp mà không làm người được giúp cảm thấy mình thành gánh nặng, giải thích thay vì ra lệnh, hỏi ý thay vì tự quyết mọi sự chỉ vì làm như vậy nhanh hơn.
Người trẻ cũng có những yếu đuối cần được đón nhận. Họ có thể nhiệt thành nhưng thiếu kinh nghiệm, nhiều khả năng nhưng dễ hoang mang, muốn cống hiến nhưng sợ làm sai. Nếu mỗi sơ suất đều trở thành một nhận định về cả ơn gọi, họ sẽ khó trưởng thành trong tự do. Người hướng dẫn cần biết yêu cầu, nhưng cũng cần cho phép quá trình học hỏi diễn ra. Có việc phải làm mẫu. Có điều phải giải thích lại. Có một thói quen cần được sửa qua nhiều lần. Sự kiên nhẫn không xóa tiêu chuẩn; nó giúp người đang học có điều kiện tiến đến điều được yêu cầu.
Và giữa người trẻ với người già là những người đang gánh nhiều trách nhiệm, có khi âm thầm cạn sức. Họ vẫn làm tốt nên ít ai hỏi. Họ ít than nên được giao thêm. Họ quen nhận lời nên mọi người tưởng họ không có giới hạn. Một ngày nào đó, họ trở nên cáu gắt, chán nản hoặc muốn rút khỏi mọi việc. Lúc ấy, chúng ta có thể bất ngờ, nhưng sự mệt mỏi có lẽ đã tích tụ từ lâu. Nhìn lại cuối năm cũng là xem lại cách sử dụng sức lực của nhau. Công việc cần được phân định theo khả năng và sức khỏe thực tế, thay vì dồn mãi vào người ít từ chối nhất.
Người phục vụ cũng có trách nhiệm nói thật về giới hạn của mình. Có khi chúng ta nhận quá sức vì sợ mất lòng, vì muốn được cần đến, hoặc vì nghĩ rằng chỉ mình mới làm được. Rồi khi kiệt sức, ta oán trách những người không hiểu. Sống trưởng thành đòi việc trình bày sớm hơn: tôi cần nghỉ, cần người cùng làm, cần được hướng dẫn, cần điều chỉnh điều này. Một lời nói thật đúng lúc có thể ngăn nhiều tổn thương về sau. Đời dâng hiến được nuôi bằng lòng quảng đại, và lòng quảng đại ấy cần được sống trong sự thật về con người mình.
Cầu nguyện để học lại cách ở bên con người
Đức Maria ghi nhớ những sự việc và suy niệm trong lòng. Hình ảnh ấy dạy chúng ta một cách hiện diện không vội vàng chiếm lấy ý nghĩa của mọi điều. Có những việc trong năm qua ta chưa hiểu hết. Một quyết định làm mình buồn. Một cuộc chia tay. Một thay đổi trong sức khỏe. Một lời cầu xin chưa được đáp lại theo điều mình mong. Ta có thể mang những điều ấy vào sự thinh lặng trước Chúa, để chúng không chỉ tiếp tục xoay vòng trong đầu qua những cuộc tự tranh luận. Cầu nguyện cho chúng ta một chỗ để nói, để nghe và để chờ.
Người tu sĩ rất cần khoảng lặng ấy. Khi lòng luôn bị kéo căng, chúng ta dễ nghe người khác bằng nỗi sợ của mình, giải thích ý họ theo vết thương của mình và trả lời từ sự mệt mỏi đang có. Một giờ cầu nguyện chân thành có thể giúp ta nhận ra: hôm nay tôi đang giận vì điều gì; tôi đang đòi nơi người này điều gì; tôi có đang trút lên họ một nỗi đau thuộc về chuyện khác không? Nhận ra như vậy chưa làm mọi chuyện ổn ngay, nhưng giúp ta chịu trách nhiệm về phản ứng. Ta có thể xin Chúa giúp mình dừng lại, rồi tìm một cuộc đối thoại cần thiết với con người thật ngoài kia.
Có những giờ cầu nguyện rất khô, chỉ đủ sức ngồi yên. Cuối năm, ta đừng vội kết luận rằng những giờ ấy vô ích. Một người đang trải qua đau bệnh, mất mát hoặc căng thẳng có thể khó tập trung hơn trước. Họ cần được nâng đỡ, cần tìm hiểu điều đang ảnh hưởng đến mình, và có thể cần một cách cầu nguyện đơn sơ hơn trong giai đoạn ấy. Ta có thể đọc chậm một đoạn Tin Mừng, ở lại với một câu, hoặc thưa với Chúa điều mình đang có. Sự trung thành có khi mang hình thức rất nghèo: hôm nay con vẫn đến, dù không thấy gì rõ ràng.
Tuy vậy, cầu nguyện cũng cần dẫn ta trở lại trách nhiệm. Nếu đã nhiều lần nhận ra một lỗi mà không chịu tìm cách sửa, chúng ta cần tự hỏi điều gì đang ngăn mình bước đi. Nếu lòng tràn đầy những lời yêu mến Chúa nhưng cách đối xử với người bên cạnh vẫn làm họ sợ, ta cần đem chính sự cách biệt ấy ra trước Người. Có thể bước tiếp theo là một lời xin lỗi. Có thể là gặp người đồng hành. Có thể là thôi một thói quen nói về người vắng mặt. Khi rời nhà nguyện, chúng ta mang theo một điều có thể thực hiện, dù rất nhỏ.
Những người chăn chiên sau khi gặp Hài Nhi đã trở về, tôn vinh và ca tụng Thiên Chúa về những điều đã nghe và thấy. Họ trở lại đời sống của mình với niềm vui được trao ban. Ngày tĩnh tâm cũng sẽ kết thúc. Chúng ta trở về nhà bếp, lớp học, phòng bệnh, văn phòng, vườn rau, bàn làm việc. Chính ở đó, điều đã cầu nguyện được thử bằng sự thực. Người đầu tiên làm gián đoạn kế hoạch của ta có thể là người giúp ta nhận ra mình còn phải học gì. Một việc bất ngờ có thể cho ta cơ hội sống lời phó thác vừa thưa. Một cuộc gặp khó có thể là nơi ta tập cách nói mới.
Khi tiến bộ rất chậm, xin đừng bỏ cuộc với ân sủng
Đến cuối năm, có người thấy buồn vì mình vẫn còn những lỗi quen thuộc. Đã nhiều lần quyết tâm bớt nóng mà vẫn có lúc mất bình tĩnh. Đã muốn cầu nguyện đều hơn mà vẫn dễ cuốn vào công việc. Đã cố sống gần cộng đoàn mà vẫn có ngày chỉ muốn đóng cửa. Nỗi buồn ấy cần được nhìn bằng sự thật và lòng cậy trông. Ta phải chịu trách nhiệm về điều sai, nhưng không nên dùng một lần thất bại để phủ nhận mọi cố gắng đã có. Có thể trước đây ta nóng giận suốt nhiều ngày, nay đã biết trở lại sớm hơn. Có thể trước đây ta luôn đổ lỗi, nay đã có lần nói được lời xin lỗi. Có thể ta vẫn buồn khi bị góp ý, nhưng đã bớt làm người khác khổ vì nỗi buồn ấy.
Sự trưởng thành có những dấu hiệu rất kín. Ta biết dừng một câu nói sắp gây đau. Ta chịu hỏi lại trước khi kết luận. Ta báo sớm khi không thể giữ một lời hẹn. Ta không còn kể một chuyện mà trước đây mình thường dùng để chê bai ai đó. Ta dám tìm sự trợ giúp thay vì cố tỏ ra ổn. Những thay đổi ấy có thể chưa được ai khen, nhưng chúng làm đời sống chung dễ thở hơn. Khi xét mình, hãy để Chúa cho ta thấy cả những mầm sống ấy. Lòng biết ơn đối với điều tốt đang lớn lên giúp ta có sức tiếp tục làm phần việc còn khó.
Có những vấn đề vẫn tồn tại vì chúng liên quan đến nhiều người và cần thời gian. Người khó sống bên cạnh ta có thể chưa thay đổi. Công việc còn nặng. Bệnh tật vẫn kéo dài. Một bất đồng chưa được giải quyết. Ta không nên đo cả năm sống chỉ bằng việc những hoàn cảnh ấy đã biến mất hay chưa. Điều cần nhìn là mình đang đáp lại thế nào, đã tìm sự giúp đỡ nào, có điều gì thuộc trách nhiệm mà mình vẫn tránh. Chúng ta có thể chưa thay đổi được hoàn cảnh, nhưng đã bớt tự cô lập, đã biết trình bày rõ hơn, đã không tiếp tục làm tổn thương người khác theo cách cũ. Đó là những bước có thật.
Sự kiên nhẫn với bản thân cũng cần được trao cho anh chị em. Một người vừa bắt đầu tập sống khác có thể còn vụng về. Nếu họ nói một lời tử tế mà ta lập tức nghi ngờ, nếu họ nhận lỗi mà ta chỉ nhắc rằng quá muộn, họ sẽ khó tìm được chỗ để tiếp tục. Điều này không có nghĩa là bỏ qua trách nhiệm hay vội trao lại niềm tin. Chúng ta vẫn có thể giữ sự thận trọng cần thiết và đồng thời nhìn nhận một thay đổi đang xảy ra. Một lời công bằng như “Tôi nhận thấy anh chị đã cố gắng điều này” có thể nâng đỡ một quyết tâm còn non.
Cuối năm cũng cần phân biệt lòng trung thành với sự cố chấp. Có việc nên tiếp tục vì còn đúng và cần, dù đang khó. Có cách làm cần điều chỉnh vì không còn phù hợp. Có trách nhiệm nên trao lại để người khác có thể phục vụ. Có một sự giúp đỡ cần tìm mà trước đây ta luôn từ chối. Phân định đòi ta lắng nghe Lời Chúa, những người có trách nhiệm, người cùng cộng tác và chính thực tế. Ta xin được thoát khỏi cả hai cám dỗ: bỏ cuộc chỉ vì bị chạm tự ái, hoặc giữ mãi một việc chỉ vì không chịu nổi ý nghĩ mình không còn ở đó.
Trao lại điều dang dở trong lòng tin
Một năm không thể chứa hết những gì ta muốn làm. Có những dự định còn trên giấy, những người chưa kịp thăm, những món nợ trách nhiệm chưa giải quyết xong. Có khi ta đi vào những ngày cuối năm với cảm giác thiếu sót nhiều hơn bình an. Trước hết, cần phân biệt điều còn có thể hoàn tất với điều thật sự phải chờ. Một cuộc hẹn cần được xác nhận, một khoản cần được minh bạch, một hồ sơ phải bàn giao, một lời đã hứa cần được trả lời. Chúng ta làm điều có thể làm, rồi trao lại phần vượt quá khả năng. Phó thác có sức nặng khi đi cùng sự trung thực về trách nhiệm.
Có những điều dang dở thuộc về lòng người. Ta đã cố gắng hòa giải nhưng người kia chưa muốn gặp. Ta đã đồng hành mà người được giúp vẫn còn vấp ngã. Ta đã chăm sóc nhưng bệnh tình chưa khá hơn. Ta đã tận tâm với một công việc mà kết quả không như mong. Trong những điều ấy, chúng ta học giới hạn của vai trò mình. Ta có thể yêu thương, góp ý, nâng đỡ và cầu nguyện; ta không thể sống thay sự tự do của người khác. Ta có thể làm việc có trách nhiệm; ta không kiểm soát được mọi kết quả. Chấp nhận điều đó giúp ta tiếp tục phục vụ mà bớt đè nặng lên người được phục vụ nhu cầu phải thành công của chính mình.
Trao lại cũng bao gồm việc chấp nhận một năm đã qua. Có những ngày mình đã lãng phí. Có những cơ hội đã bỏ lỡ. Có những lời đáng lẽ đừng nói. Chúng ta không thể quay ngược thời gian, nhưng có thể đem hiện tại đến với Chúa. Sám hối giúp ta thay đổi điều đang còn được trao. Nếu cứ dùng ngày hôm nay để tự kết án vì ngày hôm qua, ta có thể bỏ lỡ thêm một cơ hội yêu thương. Sau khi nhận lỗi và làm việc sửa chữa cần thiết, chúng ta xin ơn bước tiếp. Lòng thương xót của Chúa cho phép người có lỗi bắt đầu lại trong trách nhiệm.
Đời thánh hiến cần sự thanh thản ấy, đặc biệt khi phải rời một nhiệm sở, trao một chức vụ, hoặc nhận ra sức khỏe không còn cho phép làm như trước. Điều đã phục vụ có thể gắn bó sâu với căn tính của ta. Khi trao lại, ta thấy như một phần đời mình bị lấy đi. Cần thời gian để gọi tên nỗi buồn ấy và cầu nguyện với nó. Nhưng ta cũng có thể dần khám phá rằng mình vẫn còn khả năng yêu khi không còn quyền quyết định. Ta vẫn có thể nâng đỡ mà không can thiệp. Ta vẫn thuộc về cộng đoàn khi không còn giữ một vai trò nổi bật. Sự hiện diện bình an của một người biết trao lại có thể trở thành món quà lớn cho những người đang tiếp tục công việc.
Một năm nữa, xin cho con trở nên người dễ đến gần hơn
Khi nhìn về năm mới, chúng ta thường đặt những quyết tâm lớn. Muốn đổi mới cả đời cầu nguyện, sửa hết những tính xấu, làm việc hiệu quả hơn, sống cộng đoàn tốt hơn. Ước muốn ấy đáng quý, nhưng cần được đưa về một bước rõ ràng. Nếu muốn lắng nghe hơn, tôi sẽ dành một khoảng thời gian không làm việc khác khi người bên cạnh cần nói. Nếu muốn bớt nóng, tôi sẽ tập báo rằng mình cần ít phút bình tĩnh trước khi trao đổi tiếp. Nếu muốn chăm sóc người lớn tuổi, tôi sẽ có một việc đều đặn và phù hợp. Nếu muốn giữ lời, tôi sẽ bớt nhận điều vượt sức và trả lời sớm khi có thay đổi.
Một quyết tâm cũng cần có cách nhìn lại. Sau một tháng, tôi sẽ xem điều gì đã giúp, điều gì làm mình thất bại, có cần nhờ ai đồng hành không. Ta không cần biến đời thiêng liêng thành một bảng kiểm lạnh lùng, nhưng sự cụ thể giúp lời cầu nguyện đi vào thực tế. Một người có thể mang nhiều tâm tình đẹp trong ngày tĩnh tâm rồi trở về những thói quen cũ vì chẳng biết bắt đầu từ đâu. Hãy chọn một điều có liên quan trực tiếp đến cuộc sống hiện tại, một điều người sống gần mình thật sự cần, một điều đủ nhỏ để thực hiện và đủ thật để đòi mình thay đổi.
Trong tháng này, mỗi người được mời viết một trang nhìn lại năm sống với ba phần: ơn đã nhận, điều cần sửa và bước sẽ đi. Ở phần ơn đã nhận, hãy ghi những điều cụ thể và nhớ đến những con người. Ở phần điều cần sửa, hãy gọi tên trách nhiệm của mình, tránh viết thành bản liệt kê lỗi người khác. Ở phần bước sẽ đi, hãy chọn một việc có thể bắt đầu ngay, xác định lúc thực hiện và sự trợ giúp nếu cần. Một trang ấy không phải để đem so sánh, cũng không cần được viết cho đẹp. Nó dành cho cuộc đối thoại chân thành giữa mình với Chúa.
Rồi hãy bày tỏ lòng biết ơn với một người. Có thể đó là người rất gần mà ta ít cảm ơn nhất. Hãy hoàn thành một trách nhiệm còn trì hoãn, hoặc thực hiện một bước hòa giải thích hợp. Có khi bước ấy là xin một cuộc gặp. Có khi là trả lại điều đang nợ. Có khi là trình bày một sự thật với người có trách nhiệm. Có khi là xin được đồng hành trước khi quyết định liên hệ lại với người đã làm mình tổn thương. Điều được chọn cần phục vụ sự thật và thiện ích của những người liên quan, không chỉ giúp ta có cảm giác mình đã làm xong việc cuối năm.
Sau cùng, hãy dành một khoảng thinh lặng trước Chúa Giêsu. Ta có thể ở trước Thánh Thể, bên hang đá, hoặc trong một góc nhà nguyện quen thuộc. Hãy đưa vào lời cầu nguyện những gương mặt đã cùng sống với mình: người ta biết ơn, người ta còn khó chịu, người đang bệnh, người mới đến, người đã ra đi, người mình đang mắc nợ một lời xin lỗi. Đừng vội tìm một cảm xúc sốt sắng. Chỉ cần ở lại và thưa tên họ trước Chúa. Khi cầu nguyện cho một người bằng sự chân thành, ta có thể bắt đầu nhìn họ bớt chật hẹp hơn cách mình đã nhìn trong những tháng qua.
Xin cho sự hiện diện của con trở thành một món quà
Đời thánh hiến có một vẻ đẹp rất âm thầm: một người dần học cách sống sao cho người bên cạnh được nâng đỡ. Họ vẫn có cá tính, vẫn có giới hạn, vẫn có lúc mệt. Nhưng người khác biết rằng có thể nói thật với họ, có thể nhờ giúp mà không bị làm nhục, có thể nhận lời góp ý mà không bị mất phẩm giá. Khi họ có lỗi, họ biết trở lại. Khi được trao điều riêng tư, họ biết giữ gìn. Khi thấy người yếu, họ không vội coi là phiền phức. Một con người như vậy làm cho căn nhà chung ấm hơn bằng chính cách sống thường ngày.
Có thể năm mới chúng ta chưa làm được việc gì lớn hơn năm cũ. Sức khỏe có thể giảm. Nhiệm vụ có thể thay đổi. Có người sẽ được gọi vào một giai đoạn sống kín đáo hơn, ít được thấy hơn. Dù vậy, chúng ta vẫn có thể lớn lên trong khả năng yêu. Người đang khỏe có thể học làm việc mà không làm người khác kiệt sức. Người đang yếu có thể học nói nhu cầu với lòng tín nhiệm. Người lãnh đạo có thể học hỏi trước khi quyết định. Người cộng tác có thể học trình bày trung thực mà không rút lui trong giận dỗi. Mỗi hoàn cảnh đều có một lời mời cụ thể dành cho tình yêu.
Điều đáng mong vào cuối năm là người sống gần ta đã bớt cô đơn, bớt sợ, có thêm can đảm làm điều đúng. Có thể họ chưa bao giờ nói ra. Có thể ta sẽ không được biết. Nhưng nếu một người đã dám trở về sau một thất bại vì được ta đón nhận, nếu một người bệnh vẫn cảm thấy mình có chỗ trong cộng đoàn, nếu một người trẻ còn muốn học vì được sửa lỗi trong kính trọng, đời dâng hiến của ta đã chạm đến cuộc sống họ. Ta tạ ơn Chúa về điều ấy và xin được tiếp tục cộng tác, không chiếm lấy thành quả làm của riêng.
Trước Hài Nhi Giêsu, chúng ta đưa hai bàn tay của mình đến với Người. Hai bàn tay ấy đã làm việc, đã chăm sóc, đã có lúc khép lại vì buồn giận. Chúng ta xin Chúa tiếp tục dạy chúng biết trao ban. Ta đem đến giọng nói của mình, để giọng ấy bớt làm người khác đau. Ta đem đến đôi tai, để có thể nghe một người kể chậm mà không sốt ruột. Ta đem đến trí nhớ, để nhớ cả những ân tình thay vì chỉ giữ những điều bị xúc phạm. Ta đem đến quyền hạn, khả năng, sức khỏe và những điều còn thiếu, xin cho tất cả được đặt vào việc phục vụ con người mà Chúa đang trao.
Rồi chúng ta trở về căn nhà của mình. Có thể việc đầu tiên rất đơn sơ: chào một người lâu nay mình ít chào, hỏi thăm một anh chị em đang mệt, trả lời một điều đã để chờ, làm nốt phần việc để người khác được nghỉ. Hang đá vẫn ở đó trong mùa Giáng Sinh, nhưng cuộc gặp gỡ với Chúa tiếp tục trong những tương quan này. Hài Nhi đã đến gần nhân loại. Chúng ta xin được học nơi Người cách đến gần, để người đang bước vào đời mình gặp một sự hiện diện có chỗ cho họ.
Lời nguyện cuối năm
Lạy Chúa Giêsu Hài Đồng, con đến với Chúa vào cuối năm này, mang theo những ngày con đã sống và những người con đã gặp. Có điều con nhớ rõ, có điều đã trôi qua mà con không nhận ra hết ảnh hưởng. Có những việc con đã làm bằng lòng quảng đại, cũng có những điều con đã để nỗi sợ, tự ái và nhu cầu được công nhận dẫn dắt. Trước Chúa, con xin thôi che chắn. Xin giúp con nhìn đời mình trong sự thật, với lòng biết ơn và niềm cậy trông.
Con cảm ơn Chúa vì đã giữ con trong ơn gọi. Cảm ơn Chúa vì những buổi sáng con còn được thức dậy, được bước vào nhà nguyện, được nghe Lời Chúa và được trao một ngày để sống. Cảm ơn Chúa vì cộng đoàn, vì những người đã làm việc bên con, vì bàn tay chăm sóc lúc con đau, vì sự kiên nhẫn khi con khó chịu, vì những lời nhắc giúp con nhận ra điều cần sửa. Có những ân tình con đã đón nhận quá vội. Xin cho con biết nhớ và biết nói lời cảm ơn khi những người ấy còn ở bên con.
Xin tha thứ cho con vì những lần con làm người khác sợ. Con đã có lúc dùng giọng nói để tỏ quyền, dùng sự im lặng để làm người khác day dứt, dùng lời góp ý để trút điều bực bội. Có người cần được nghe mà con chỉ muốn nói. Có người cần thêm thời gian mà con chỉ nhìn vào kết quả. Có người đã cố gắng thay đổi nhưng con vẫn giữ họ trong hình ảnh của một lỗi cũ. Xin cho con đủ khiêm nhường để nhận trách nhiệm, đủ can đảm để xin lỗi và đủ bền lòng để sửa cách sống.
Lạy Chúa, xin nhớ đến những người con đã làm tổn thương. Có người con biết, có người con đã quên. Xin cho họ được nâng đỡ, được đối xử công bằng và tìm thấy những tương quan đáng tin. Nếu còn điều con có thể sửa, xin chỉ cho con thấy. Xin đừng để con dùng lời cầu nguyện để tránh một cuộc đối thoại cần thiết, cũng đừng để con vì muốn được nhẹ lòng mà đòi người khác phải tha thứ ngay cho mình. Xin dạy con kiên nhẫn với sự thật và tôn trọng thời gian của họ.
Con cũng trao cho Chúa những vết thương trong lòng con. Có những việc con đã cố quên nhưng vẫn đau. Có những người con còn tránh. Có lúc con kể đi kể lại một nỗi buồn vì chưa biết đặt nó ở đâu. Xin giúp con tìm sự nâng đỡ thích hợp, biết bảo vệ điều cần bảo vệ và không tiếp tục truyền nỗi đau ấy sang người khác. Xin giữ con khỏi sự cay đắng làm lòng mình khép lại. Khi con chưa thể đi xa, xin giúp con đi một bước nhỏ trong tự do.
Xin chăm sóc những anh chị em đang yếu trong cộng đoàn chúng con. Xin cho người bệnh được hỏi ý, được nghe giải thích và được chăm nom trong phẩm giá. Xin cho người cao tuổi biết rằng sự hiện diện của mình vẫn quý giá. Xin cho người trẻ có người hướng dẫn kiên nhẫn. Xin cho người đang gánh trách nhiệm biết nói thật về giới hạn, và cho cộng đoàn chúng con biết san sẻ trước khi một người kiệt sức. Xin đừng để ai phải âm thầm chịu đựng chỉ vì sợ mình trở thành gánh nặng.
Lạy Chúa Giêsu, có những điều cuối năm này con chưa thể hoàn tất. Con trao cho Chúa những trách nhiệm đang tiếp tục, những cuộc hòa giải còn chờ, những dự định phải điều chỉnh và những kết quả không thuộc quyền con quyết định. Xin cho con làm hết phần việc được trao, biết bàn giao rõ ràng, biết tìm sự giúp đỡ và biết dừng khi cần. Khi phải trao lại, xin cho con có lòng thanh thản. Khi được bắt đầu, xin giữ con khiêm nhường.
Xin ở lại trong lời nói của con. Xin giúp con nói cho rõ mà vẫn giữ lòng kính trọng. Xin ở lại trong sự thinh lặng của con, để người khác được nghỉ ngơi và không phải đoán xem con đang giận điều gì. Xin ở lại trong công việc của con, để người con phục vụ không bị biến thành phương tiện cho sự thành công của con. Xin ở lại trong những lúc con mệt, để con biết xin nghỉ và xin giúp trước khi làm ai đó đau.
Trong năm sắp tới, xin dạy con một điều con cần học nhất. Có thể đó là nghe lâu hơn, nói chậm hơn, nhận lỗi sớm hơn, hoặc giữ một lời hứa đến cùng. Xin cho con đừng khinh những việc nhỏ. Khi con thất bại, xin giúp con trở lại. Khi con tiến bộ, xin cho con biết tạ ơn. Khi chưa được ai hiểu, xin gìn giữ lòng con khỏi nhu cầu làm người khác khổ để chứng tỏ mình đang đau.
Lạy Chúa, xin cho người khác gặp được lòng Chúa khi gặp con. Xin cho người đang buồn có thể ngồi bên con mà không bị thúc phải vui. Xin cho người vừa vấp ngã có thể nói thật mà không bị hạ nhục. Xin cho người khác ý được trình bày mà không phải sợ. Xin cho người không còn giúp được gì cho con vẫn nhận được sự quan tâm chân thành. Xin làm cho đời dâng hiến của con có ích bằng chính cách con sống với những người được trao.
Và khi một năm nữa đi qua, xin cho con còn biết quỳ xuống, còn biết xin lỗi, còn biết cảm ơn và còn muốn học yêu. Amen.
LỜI NGUYỆN CHUNG CHO CẢ NĂM 2027
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã gọi chúng con đến ở với Chúa và sai chúng con đi. Chúng con cảm tạ Chúa vì tình yêu đã khởi đầu ơn gọi, vì những người đã nâng đỡ chúng con và vì bao lần Chúa cho chúng con được bắt đầu lại. Xin gìn giữ điều Chúa đã gieo trong lòng chúng con từ buổi đầu. Qua những đổi thay của tuổi tác, công việc và hoàn cảnh, xin cho chúng con vẫn còn muốn tìm Chúa, muốn nghe Chúa và muốn sống điều mình đã tự do đoan hứa.
Khi công việc nhiều, xin giúp chúng con biết dừng lại để cầu nguyện. Khi được tín nhiệm, xin dạy chúng con lắng nghe. Khi được khen, xin giữ chúng con biết ơn những người cùng góp sức. Khi bị quên, xin cho chúng con đừng đánh mất niềm vui phục vụ. Khi phải trao lại điều đã gắn bó, xin cho chúng con đủ thanh thản để nâng đỡ người tiếp nối. Xin giúp chúng con biết làm việc hết lòng và biết nghỉ ngơi trong sự tín thác.
Khi bị tổn thương, xin cho chúng con tìm được sự nâng đỡ và can đảm bước về phía chữa lành. Xin giúp chúng con nói sự thật về điều đã xảy ra, đón nhận sự trợ giúp thích hợp và không lấy nỗi đau làm lý do để làm khổ người khác. Khi chính chúng con gây tổn thương, xin đánh thức lương tâm chúng con. Xin cho chúng con biết nhận lỗi, sửa điều có thể sửa và tôn trọng thời gian của người đã bị mình làm đau.
Xin chúc lành cho cộng đoàn chúng con, cho những người đang nhiệt thành cũng như những người đang mệt mỏi; cho người trẻ còn nhiều thao thức và những anh chị em đang yếu dần theo năm tháng. Xin cho chúng con nhìn thấy nhau giữa những bổn phận hằng ngày. Xin giúp chúng con phân chia công việc công bằng, sử dụng của chung có trách nhiệm, giữ lời đã hứa và biết chăm sóc những người đang cần được giúp.
Xin cho người có trách nhiệm biết hỏi trước khi kết luận, biết giải thích trong mức có thể và biết bảo vệ người yếu thế. Xin cho người được trao việc biết cộng tác trung thực, trình bày khó khăn đúng lúc và đón nhận sự hướng dẫn với lòng tự do. Xin giúp chúng con nói điều cần nói trong sự kính trọng, tránh những cuộc bàn tán làm mất lòng tin và giữ gìn phẩm giá của người vắng mặt.
Trong năm 2027, xin cho mỗi lần trở về nhà nguyện, chúng con lại học được cách trở về với anh chị em. Xin cho lời kinh giúp chúng con sống thật hơn. Xin cho việc lắng nghe Lời Chúa làm chúng con biết lắng nghe con người. Xin cho sự hiệp thông trong bàn tiệc Thánh Thể tiếp tục được chăm sóc ở bàn ăn, trong giờ làm việc và trong những quyết định liên quan đến đời sống chung.
Xin cho người đang buồn tìm được một người chịu nghe; người vấp ngã tìm được sự trợ giúp để đứng dậy; người yếu đau được chăm sóc trong phẩm giá; người đang hoang mang được đồng hành mà không bị thúc ép. Xin cho người đến với cộng đoàn được đón nhận bằng lòng chân thành. Xin giúp chúng con phục vụ người nghèo với sự kính trọng, quan tâm đến nhu cầu thật và không làm họ mất tự do vì những điều chúng con trao.
Lạy Chúa Giêsu, xin ở lại với chúng con trong những ngày bình thường của năm này. Xin ở lại khi chúng con làm việc tốt, và kéo chúng con trở về khi lạc khỏi điều đã chọn. Xin cho chúng con biết cảm ơn sớm hơn, xin lỗi thật hơn và tìm sự giúp đỡ khi cần. Xin cho chúng con trung thành ở lại với Chúa, để người khác được bình an khi ở bên chúng con. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.
LỜI KẾT
GẤP SÁCH LẠI, XIN ĐỪNG GẤP LUÔN LÒNG MÌNH
Vậy là chúng ta đã đi đến những trang cuối.
Nếu đã đồng hành với cuốn sách qua mười hai tháng, có lẽ mỗi người đều có đôi điều muốn thưa với Chúa. Có điều để cảm ơn. Có điều vẫn cần xin tha thứ. Có một quyết tâm đã làm được và một quyết tâm khác đang nằm rất ngay ngắn trong sổ, chữ viết còn đẹp nguyên vì chưa phải đi ra đời sống bao nhiêu. Xin cứ mỉm cười. Ít ra, đến hôm nay chúng ta đã nhớ lại nó. Biết đâu lần bắt đầu này sẽ cụ thể hơn.
Sau một năm tĩnh tâm, chúng ta có thể vẫn chưa trở thành người hiền nhất cộng đoàn. Vẫn có hôm nghe một câu là tự ái. Vẫn có lúc đi cầu nguyện với lòng đầy chuyện. Vẫn nhận ra mình dễ thương khi được nghỉ đủ, còn lúc mệt thì anh chị em cần thêm đức nhẫn nại. Những điều ấy mời chúng ta tiếp tục học. Điều đáng mừng là mình có thể đã nhận ra sớm hơn, biết dừng lại và biết trở về sau khi lỡ lời.
Đừng xem nhẹ việc trở về ấy. Trước đây, có thể ta giận nhiều ngày và đợi người khác đến làm hòa. Nay ta biết chủ động nói một câu. Trước đây, ta giải thích rất lâu để chứng minh mình đúng. Nay ta có thể thừa nhận một phần sai. Trước đây, nghe ai kể khó khăn, ta vội đưa ra lời khuyên. Nay ta chịu hỏi: “Anh chị muốn tôi nghe thêm điều gì?” Một người sống bên ta sẽ cảm nhận được những thay đổi ấy, dù chúng chưa đủ nổi bật để viết vào bản tổng kết năm.
Có những tiến bộ còn âm thầm hơn. Ta đã không gửi một tin nhắn đang viết lúc tức giận. Ta đã để người khác trình bày hết ý. Ta nhận ra mình đang quá mệt và xin được giúp. Ta giữ kín một chuyện đã được tin tưởng trao. Ta không kể lại lỗi cũ của ai đó để làm cho câu chuyện hiện tại nặng thêm. Mỗi lần như vậy, một tương quan được gìn giữ. Có khi người kia chẳng biết mình vừa được tránh khỏi một lời cay nghiệt. Chúa biết phần cố gắng ấy.
Tất nhiên, cũng có những điều sau một năm vẫn còn dang dở. Một tương quan chưa gần lại. Một thói quen chưa sửa được nhiều. Một nỗi đau còn cần được chăm sóc. Một việc quan trọng vẫn phải tiếp tục. Chúng ta mang chúng đến với Chúa và xác định bước kế tiếp. Cần xin lỗi thì xin lỗi. Cần hoàn tất trách nhiệm thì sắp xếp để làm. Cần người đồng hành thì tìm gặp. Có những ngày, sự cộng tác với ân sủng mang hình thức rất thực tế: đặt một cuộc hẹn và đến đúng giờ.
Xin cũng dành một lời cảm ơn cho những người đã sống cùng mình trong năm qua. Có lẽ họ đã nhẫn nại nhiều hơn chúng ta biết. Họ chịu nghe những câu chuyện ta kể lần thứ ba mà vẫn giữ nét mặt khá mới. Họ nhắc một việc ta quên, làm thay một phần việc khi ta bệnh, để dành một phần ăn, hoặc đơn giản là không đáp lại sự khó chịu của ta bằng một cuộc khó chịu lớn hơn. Đời sống chung được giữ gìn bằng nhiều điều nhỏ như thế. Cảm ơn một người về điều cụ thể họ đã làm là một cách rất đẹp để khép lại năm sống.
Nếu trong năm qua có ai đã góp ý khiến mình khó chịu, ta cũng có thể nhìn lại lời ấy một lần nữa. Biết đâu, sau khi tự ái đã nghỉ bớt, ta nhận ra có điều đáng học. Dĩ nhiên, cách góp ý có thể chưa khéo, và tổn thương có thật vẫn cần được nói đến. Nhưng ta được tự do nhận lấy điều đúng, không nhất thiết phải chờ người nói trở nên hoàn hảo rồi mình mới chịu sửa. Chờ như thế thì có lẽ cuốn lịch năm sau cũng sớm hết.
Cuốn sách dừng ở đây, còn đời sống cộng đoàn vẫn tiếp tục vào sáng mai. Chuông vẫn reo. Công việc vẫn chờ. Vẫn có người nói nhiều, người nói ít, người làm nhanh, người cẩn thận đến mức người đứng bên phải tập thở đều. Có người thích mở cửa sổ, người vừa thấy gió đã đi tìm áo khoác. Những khác biệt ấy sẽ còn đòi chúng ta đối thoại, nhường nhịn và thống nhất những điều cụ thể. Một năm tĩnh tâm giúp ta có thêm cách sống với chúng, để không phải biến mọi khác biệt thành nhận định về nhân đức của nhau.
Nếu đã học được đôi chút, có lẽ ta sẽ bớt ngạc nhiên khi người khác không giống mình. Ta biết rằng điều mình thấy dễ có thể là điều họ đang phải cố gắng rất nhiều. Ta cũng bớt đòi mọi người phải hiểu những điều mình chưa từng nói rõ. Người cùng cộng đoàn có thể rất thương ta, nhưng không vì thế mà đọc được hết tâm trí ta. Một nhu cầu được trình bày tử tế thường dễ được đón nhận hơn một tiếng thở dài kéo dài qua ba bữa cơm.
Ước mong sau những trang này, chúng ta biết sống nhẹ hơn với nhu cầu phải được công nhận và có trách nhiệm hơn với ảnh hưởng của mình trên người khác. Khi được giao việc, ta làm hết lòng. Khi cần giúp, ta nói thật. Khi phải trao lại, ta tập tin. Khi gặp người yếu, ta nhớ mình cũng đã từng và vẫn còn cần được nâng đỡ. Những điều ấy giúp đời dâng hiến giữ được sự ấm áp giữa bao bổn phận.
Cũng xin đừng đợi đến lúc mình hoàn toàn ổn mới bắt đầu yêu thương. Có thể hôm nay ta vẫn đang buồn, nhưng vẫn giữ được một lời hẹn. Ta chưa giải quyết hết khó khăn, nhưng có thể thôi nói nặng với người không có lỗi. Ta còn mệt, nên xin nghỉ một chút rồi trở lại công việc. Ta chưa dễ hòa giải, nhưng có thể ngừng kể thêm những điều làm khoảng cách lớn hơn. Tình yêu được tập bằng chính khả năng đang có, trong lúc ta tiếp tục tìm sự trợ giúp cho điều còn khó.
Và xin giữ lại tiếng cười. Một cộng đoàn biết vui có thêm sức để cùng nhau đi qua những ngày nhiều việc. Có khi chỉ cần ai đó thành thật thú nhận một sơ suất nhỏ, cả nhà bật cười, rồi cùng sửa. Không ai bị hạ thấp. Không ai phải giữ dáng vẻ quá nghiêm trang để được coi trọng. Chúng ta vẫn kính trọng điều thiêng liêng, vẫn chu toàn bổn phận, đồng thời có thể vui vì mình là những con người đang học sống với Chúa và với nhau. Chúa đã trao chúng ta cho nhau trong thân phận ấy.
Trước khi gấp sách, hãy nghĩ đến một người. Một người cần được cảm ơn, một người đang chờ lời xin lỗi, một người lâu nay ta ít hỏi thăm. Hãy chọn một việc và làm trong thời gian rõ ràng. Đừng chỉ hẹn “khi nào thuận tiện”, vì đôi khi sự thuận tiện đi rất chậm, còn lý do trì hoãn thì đến đúng giờ lắm. Một lời nhắn chân thành, một cuộc gặp được sắp xếp, một trách nhiệm được hoàn tất có thể là hoa trái đầu tiên của trang sách cuối này.
Sau đó, chúng ta có thể thưa với Chúa bằng lời của chính mình: “Lạy Chúa, cảm ơn Chúa đã cùng con đi qua năm này. Xin tha thứ điều con đã làm sai. Xin giúp con sửa điều còn có thể sửa, trao lại điều vượt quá sức mình và tiếp tục sống với lòng tin. Con chưa biết hết năm tới sẽ ra sao, nhưng xin cho con biết trở về với Chúa và biết ở lại bên anh chị em bằng một tình yêu trưởng thành hơn.”
Cuốn sách có thể được đặt lên kệ. Một vài trang có thể được đánh dấu để đọc lại khi cần. Nhưng lời mời của Chúa sẽ còn gặp chúng ta ngoài trang giấy: trong người đang gõ cửa, trong công việc cần làm cho đến nơi, trong một lần phải nhịn câu nói sắc, trong sự can đảm xin giúp và trong niềm vui thấy người khác lớn lên.
Nếu một ngày nào đó, người sống bên cạnh nghĩ rằng: “Dạo này anh chị ấy dễ nói chuyện hơn,” thì đó là một niềm vui đáng tạ ơn. Ta không cần vội giải thích mình đã tĩnh tâm bao nhiêu tháng, đọc bao nhiêu bài. Cứ tiếp tục sống điều tốt ấy. Người khác được bình an khi ở bên mình đã là một món quà quý.
Xin Chúa chúc lành cho những cố gắng còn vụng về, cho lòng quảng đại có lúc mệt, cho những quyết tâm phải bắt đầu lại nhiều lần. Xin Người giữ chúng ta khỏi sự cay đắng, ban cho chúng ta những người đồng hành đáng tin và dạy chúng ta biết nâng đỡ nhau bằng những việc có thật.
Còn bây giờ, nếu đọc đến đây mà nhớ ra mình vẫn đang giận một người trong cộng đoàn, xin khoan vội buồn vì cuốn sách chưa có kết quả.
Có thể việc cần làm tiếp theo là đặt sách xuống, pha hai ly nước, rồi sang gõ cửa.
Nhớ pha hai ly nhé.
Lỡ người ấy cũng đang đợi mình.
Lm. Anmai, CSsR.



