
TĨNH TÂM THÁNG 11 NĂM 2026 DÀNH CHO GIỚI TU SĨ
KHI MỘT NGÀY CHÚNG TA CŨNG TRỞ THÀNH NGƯỜI ĐƯỢC CẦU NGUYỆN
Tháng các linh hồn – Một lời mời gọi trở về với căn tính đời thánh hiến, sống lại tình yêu thuở ban đầu và chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ cuối cùng với Thiên Chúa.
“Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống.” (Ga 11,25).
Lời Chúa suy niệm: Kn 3,1-9; Tv 89(90),12; Ga 12,24-26; Ga 14,1-6; 2 Tm 4,6-8.
MỘT NGÀY NÀO ĐÓ, CĂN PHÒNG CỦA CHÚNG TA SẼ CÓ NGƯỜI KHÁC Ở
Kính thưa quý cha, quý thầy, quý sơ và tất cả những người đang sống đời tận hiến thân mến trong Chúa Kitô.
Tháng Mười Một lại về. Một tháng rất đặc biệt trong đời sống đức tin của Hội Thánh. Một tháng mà những tiếng chuông nhà thờ dường như ngân lên trầm hơn, những lời kinh dường như chậm hơn, những bước chân đi vào nghĩa trang dường như nặng hơn và lòng người cũng dễ lắng xuống hơn trước những điều mà suốt cả năm chúng ta thường vô tình quên lãng. Tháng Mười Một đưa chúng ta đến gần những nấm mồ, những hàng bia lạnh, những di ảnh đã ngả màu, những cái tên từng rất thân quen nhưng giờ đây chỉ còn được nhắc lại trong lời cầu nguyện. Đối với người tín hữu, đó là tháng cầu cho những người đã khuất. Nhưng đối với người sống đời thánh hiến, có lẽ tháng này còn mang một ý nghĩa sâu xa hơn nữa. Bởi vì khi cầu nguyện cho người đã chết, chúng ta cũng đang được mời gọi nhìn lại chính cuộc đời của mình. Khi đứng trước một nấm mồ, chúng ta không chỉ nhìn về người đang nằm xuống, nhưng còn nhìn thấy hình ảnh của chính mình trong một ngày chưa biết trước. Khi đọc kinh cầu cho một người anh em đã ra đi, chúng ta không chỉ xin Chúa thương xót người ấy, nhưng cũng đang âm thầm chuẩn bị cho ngày chính tên mình được xướng lên trong lời nguyện của cộng đoàn.
Có một sự thật rất đơn sơ mà đôi khi chúng ta không muốn nghĩ đến: một ngày nào đó, chúng ta cũng sẽ chết. Không phải chỉ những người cao tuổi mới chết. Không phải chỉ những người bệnh nặng mới chết. Không phải chỉ những người đã hoàn thành mọi công việc mới được Chúa gọi về. Cái chết không chờ chúng ta nghỉ hưu, không chờ chúng ta kết thúc nhiệm kỳ, không chờ chúng ta hoàn thành một dự án mục vụ, không chờ chúng ta viết xong cuốn sách đang dang dở, không chờ chúng ta giải quyết xong những bất đồng trong cộng đoàn, cũng không chờ chúng ta có đủ thời gian để nói một lời xin lỗi. Cái chết có thể đến khi một tu sĩ vừa tuyên khấn, khi một linh mục vừa nhận bài sai, khi một nữ tu đang chăm sóc bệnh nhân, khi một thầy đang học hành, khi một người đang còn rất nhiều dự định tốt đẹp cho tương lai. Và khi giờ ấy đến, tất cả những gì chúng ta từng nghĩ là quan trọng sẽ phải nhường chỗ cho một điều quan trọng duy nhất: cuộc gặp gỡ của linh hồn mình với Thiên Chúa.
Có bao giờ chúng ta ngồi thật lâu trong căn phòng của mình và tự hỏi: một ngày nào đó, khi tôi không còn sống ở đây nữa, chuyện gì sẽ xảy ra? Chiếc giường này sẽ có người khác nằm. Chiếc bàn này sẽ có người khác sử dụng. Những cuốn sách tôi nâng niu có thể được đem vào thư viện hoặc chuyển cho một người anh em khác. Bộ áo dòng tôi mặc suốt bao năm có thể được cất đi. Những vật dụng tôi từng giữ gìn như những kỷ vật quý giá rồi cũng sẽ được người khác sắp xếp lại. Chiếc điện thoại tôi từng sử dụng mỗi ngày sẽ không còn những cuộc gọi dành cho tôi. Địa chỉ thư điện tử của tôi sẽ không còn được tôi trả lời. Những công việc mà hôm nay tôi lo lắng đến mất ăn mất ngủ, ngày mai sẽ có người tiếp tục. Những trách nhiệm mà tôi tưởng không ai có thể thay thế mình, cuối cùng vẫn có người đảm nhận. Những chương trình tôi dày công xây dựng có thể được tiếp nối, thay đổi, hoặc âm thầm kết thúc. Và cuộc sống của cộng đoàn vẫn sẽ diễn ra. Chuông vẫn reo đúng giờ. Nhà nguyện vẫn sáng đèn. Bàn ăn vẫn có người ngồi. Thánh lễ vẫn được cử hành. Kinh thần vụ vẫn được đọc. Thế giới vẫn tiếp tục chuyển động, ngay cả khi tôi đã không còn hiện diện.
Nghĩ đến điều ấy, không phải để buồn. Càng không phải để thất vọng. Nhưng để nhận ra một sự thật giải thoát vô cùng lớn lao: chúng ta không phải là trung tâm của thế giới, cũng không phải là chủ nhân của Hội Thánh. Chúng ta chỉ là những người được Chúa thương cho đi ngang qua cuộc đời này, được Ngài trao phó một phần công việc trong vườn nho của Ngài, rồi đến lúc phải trao lại tất cả để trở về với Đấng đã gọi mình.
Có lẽ điều đáng sợ nhất không phải là một ngày nào đó chúng ta phải rời khỏi căn phòng của mình. Điều đáng sợ hơn là đã sống trong căn phòng ấy suốt mấy chục năm mà chưa thực sự dành đủ chỗ cho Chúa. Không đáng sợ bằng việc người khác sẽ mặc chiếc áo dòng của mình, nhưng đáng sợ hơn là đã mặc chiếc áo dòng ấy suốt một đời mà trái tim chưa thật sự trở nên giống trái tim Đức Kitô. Không đáng sợ bằng việc người khác sẽ tiếp tục công việc của mình, nhưng đáng sợ hơn là chúng ta đã làm rất nhiều công việc cho Chúa mà lại không có đủ thời gian sống với Chúa. Không đáng sợ bằng việc tên mình dần dần bị quên lãng, nhưng đáng sợ hơn là giữa bao nhiêu tiếng gọi của cuộc đời, chúng ta đã quên mất tiếng gọi ban đầu của Đấng từng khiến mình can đảm bỏ mọi sự để bước theo.
Tháng các linh hồn mời chúng ta nhìn thật sâu vào sự thật ấy. Không phải để cuộc đời trở nên nặng nề, nhưng để những ngày còn lại trở nên có ý nghĩa hơn. Không phải để chúng ta sợ chết, nhưng để chúng ta biết sống. Không phải để chúng ta đếm những năm tháng đã qua với sự tiếc nuối, nhưng để biết trân trọng từng ngày còn được Chúa ban. Và trên hết, không phải để chúng ta chỉ nghĩ đến nấm mồ của mình, nhưng để tự hỏi: trước khi nằm xuống, tôi đã thực sự sống như một người thuộc về Chúa hay chưa?
- NGÀY CHÚNG TA RA ĐI, CHÚA KHÔNG HỎI CHÚNG TA ĐÃ NỔI TIẾNG ĐẾN ĐÂU
Kính thưa cộng đoàn, một trong những cám dỗ âm thầm nhất của đời tu là chúng ta có thể dần dần đánh đồng sự thành công của công việc với sự thánh thiện của bản thân. Chúng ta có thể nghĩ mình đang sống tốt vì mình đang làm được nhiều việc. Chúng ta có thể cảm thấy đời tận hiến của mình có giá trị vì mình được nhiều người biết đến, vì những chương trình mục vụ mình thực hiện đem lại kết quả, vì những bài giảng mình được nhiều người lắng nghe, vì những công trình mình xây dựng được nhiều người khen ngợi, vì những trách nhiệm mình đảm nhận được cộng đoàn tín nhiệm. Những điều ấy tự nó không xấu. Một công việc được thực hiện tốt có thể là hoa trái của lòng yêu mến Chúa và sự tận tụy với tha nhân. Nhưng vấn đề bắt đầu khi chúng ta lấy những thành quả ấy làm thước đo sau cùng cho giá trị con người mình, thay vì lấy tình yêu và lòng trung thành với Thiên Chúa.
Chúng ta hãy thử tưởng tượng một ngày nào đó, sau khi mình qua đời, cộng đoàn tổ chức thánh lễ an táng. Có thể sẽ có một bản tiểu sử được đọc lên. Người ta kể rằng chúng ta đã sinh năm nào, gia nhập hội dòng năm nào, tuyên khấn lần đầu khi nào, tuyên khấn trọn đời khi nào, lãnh nhận chức thánh khi nào, từng phục vụ ở những nơi nào, từng đảm nhận những chức vụ gì, đã có những đóng góp nào cho Giáo hội và cộng đoàn. Tất cả những điều ấy đều đáng được trân trọng. Đó là những dấu mốc của một hành trình tận hiến. Nhưng bản tiểu sử ấy, dù dài đến đâu, cũng không thể kể hết sự thật về một đời người. Nó có thể ghi lại những chức vụ chúng ta đã nắm giữ, nhưng không thể đo được mức độ khiêm nhường của trái tim. Nó có thể kể những công trình chúng ta đã xây dựng, nhưng không thể nói hết những lần chúng ta đã âm thầm tha thứ. Nó có thể ghi nhận những bài giảng chúng ta đã thực hiện, nhưng không thể cho biết chúng ta có thực sự sống điều mình giảng hay không. Nó có thể liệt kê những nơi chúng ta từng phục vụ, nhưng không thể tự nó chứng minh rằng chúng ta đã phục vụ với tình yêu chân thành. Nó có thể kể những thành công được nhìn thấy, nhưng không thể ghi lại tất cả những cuộc chiến nội tâm mà chỉ một mình Thiên Chúa biết.
Điều ấy đặt ra cho chúng ta một câu hỏi rất nghiêm túc: nếu hôm nay Chúa gọi tôi về, tôi sẽ mang theo điều gì?
Tôi sẽ không mang theo chức vụ. Tôi sẽ không mang theo danh tiếng. Tôi sẽ không mang theo số người theo dõi mình trên mạng xã hội. Tôi sẽ không mang theo những lời khen. Tôi sẽ không mang theo những bảng thành tích. Tôi cũng không mang theo được những lời giải thích để tự biện hộ cho tất cả những lần mình đã làm tổn thương người khác. Tôi sẽ đi về với Chúa trong sự thật của con người mình, với tình yêu mình đã sống, với những điều tốt đẹp mình đã làm, với những yếu đuối cần đến lòng thương xót, với những vết thương mình đã gây ra hoặc đã kiên nhẫn chịu đựng, với những ân sủng mình đã đón nhận và với cách mình đã đáp lại những ân sủng ấy.
Thánh Phaolô đã viết trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô: “Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi” (1 Cr 13,3). Lời ấy đáng để mỗi người sống đời thánh hiến suy đi nghĩ lại. Bởi vì người ta vẫn có thể làm những công việc rất lớn mà trái tim lại thiếu tình yêu. Người ta vẫn có thể hy sinh rất nhiều nhưng lại mong được công nhận. Người ta vẫn có thể sống khó nghèo bên ngoài mà bên trong lại đầy ham muốn chiếm hữu. Người ta vẫn có thể giữ những quy định rất nghiêm túc nhưng lại đối xử với anh em bằng thái độ khắc nghiệt. Người ta vẫn có thể giảng rất hay về lòng thương xót nhưng lại không có lòng thương xót đối với một người sống cùng nhà. Người ta vẫn có thể tổ chức những buổi cầu nguyện rất cảm động nhưng chính mình lại ít khi thực sự ở lại một mình với Chúa.
Đến giờ cuối cùng, điều còn lại không phải là chúng ta đã làm cho người khác thán phục đến đâu, mà là chúng ta đã để cho tình yêu của Đức Kitô biến đổi mình đến mức nào.
Đời tu có một nghịch lý rất đẹp. Người ta bước vào đời tu để từ bỏ chính mình, nhưng nếu không tỉnh thức, người ta có thể dành cả đời tu để xây dựng một cái tôi mới, chỉ khác là cái tôi ấy được khoác lên những danh xưng đạo đức. Ngày xưa, khi chưa vào tu, chúng ta có thể mong được thành công theo cách của thế gian. Khi đã vào tu, chúng ta có thể lại mong được thành công theo cách của đời tu. Ngày xưa, chúng ta muốn được người khác khen vì tài năng. Ngày nay, chúng ta có thể muốn được khen vì sự thánh thiện. Ngày xưa, chúng ta thích được người khác chú ý. Ngày nay, chúng ta có thể muốn người khác chú ý đến sự hy sinh của mình. Ngày xưa, chúng ta muốn có một chỗ đứng trong xã hội. Ngày nay, chúng ta có thể muốn có một chỗ đứng đặc biệt trong cộng đoàn. Bề ngoài mọi sự đã thay đổi, nhưng nếu không có cuộc hoán cải nội tâm, cái tôi vẫn có thể tiếp tục ngự trị.
Tháng Mười Một nhắc chúng ta rằng tất cả những chỗ đứng ấy đều tạm bợ. Chiếc ghế hôm nay chúng ta ngồi rồi sẽ có người khác ngồi. Chức vụ hôm nay chúng ta đảm nhận rồi sẽ có người khác đảm nhận. Không một chức vụ nào là vĩnh cửu. Không một sự tín nhiệm nào thay thế được sự trung thành với Tin Mừng. Không một thành công mục vụ nào có thể bù đắp cho một tâm hồn đã đánh mất đời sống cầu nguyện.
Và biết đâu, khi bước vào cõi vĩnh hằng, chúng ta sẽ ngạc nhiên vì những điều mà Thiên Chúa trân trọng lại không giống những điều chúng ta từng xem là lớn lao. Có thể một lời an ủi âm thầm dành cho người anh em đang đau khổ lại quý giá hơn một bài diễn thuyết được nhiều người tán thưởng. Có thể một lần nhẫn nhịn trước sự xúc phạm lại đẹp lòng Chúa hơn một công trình được ghi danh. Có thể một lời xin lỗi chân thành trong cộng đoàn lại là bước tiến thiêng liêng lớn hơn nhiều năm giữ một hình ảnh đạo đức bên ngoài. Có thể một nữ tu già yếu âm thầm lần chuỗi trong căn phòng nhỏ, không còn khả năng tham gia công việc, lại đang sống một sự kết hợp sâu xa với Chúa mà những người bận rộn nhất chưa chắc đã đạt được.
Chúng ta đừng đánh giá đời mình chỉ bằng những gì mình làm được. Hãy nhìn sâu hơn vào điều mình đã trở thành. Bởi vì điều Thiên Chúa muốn không chỉ là đôi tay chúng ta làm việc cho Ngài, nhưng là trái tim chúng ta thuộc trọn về Ngài.
- ĐIỀU ĐÁNG BUỒN NHẤT KHÔNG PHẢI LÀ CHẾT SỚM, NHƯNG LÀ SỐNG LÂU MÀ ĐÁNH MẤT TÌNH YÊU BAN ĐẦU
Có những người được Chúa gọi về rất sớm. Có những tu sĩ mới tuyên khấn được ít năm đã ra đi. Có những linh mục chưa kịp cử hành bao nhiêu thánh lễ đã kết thúc cuộc đời. Có những nữ tu vừa bắt đầu sứ vụ đã phải nằm xuống. Đối với những người ở lại, những cuộc ra đi ấy thường để lại một khoảng trống rất lớn. Chúng ta tiếc vì người ấy còn trẻ. Tiếc vì người ấy còn nhiều khả năng. Tiếc vì người ấy còn nhiều dự định. Tiếc vì cộng đoàn đang cần đến người ấy. Và có những lúc trong sâu thẳm, chúng ta muốn hỏi Chúa tại sao.
Nhưng tháng các linh hồn cũng mời chúng ta nhìn cuộc đời từ một chiều kích khác. Giá trị của một đời người không chỉ được đo bằng số năm đã sống. Một cuộc đời ngắn ngủi vẫn có thể đầy tràn tình yêu. Một đời tận hiến chỉ kéo dài ít năm vẫn có thể trở thành chứng tá rực sáng về lòng trung thành. Ngược lại, một người có thể sống rất lâu trong nhà dòng nhưng để cho ngọn lửa yêu mến thuở ban đầu dần dần tắt lịm. Người ấy vẫn sống trong cộng đoàn, vẫn tham dự những sinh hoạt, vẫn giữ nề nếp bên ngoài, vẫn được gọi là tu sĩ, nhưng bên trong có thể đang tồn tại một sự mệt mỏi sâu xa, một sự nguội lạnh kéo dài, một thói quen sống đạo mà không còn niềm vui, một sự trung thành mang dáng vẻ bổn phận nhưng thiếu mất sự thân mật với Đức Kitô.
Có lẽ nhiều người trong chúng ta còn nhớ ngày đầu tiên mình bước vào nhà dòng. Ngày ấy, mọi sự dường như rất đẹp. Tiếng chuông nhà nguyện làm lòng mình rung động. Giờ kinh chung đem lại một niềm vui rất lạ. Chiếc áo dòng đầu tiên khiến mình vừa xúc động vừa thấy mình bất xứng. Một lời chia sẻ của cha linh hướng có thể theo mình suốt nhiều ngày. Một đoạn Tin Mừng được nghe trong thánh lễ có thể khiến mình thao thức cả đêm. Mình sẵn sàng làm những công việc nhỏ nhất. Mình vui khi được phục vụ. Mình dễ dàng tha thứ. Mình ít đòi hỏi. Mình không quan tâm nhiều đến việc ai được giao công việc quan trọng hơn. Mình chỉ biết rằng Chúa đã gọi mình, và được thuộc về Chúa đã là một hạnh phúc rất lớn.
Nhưng rồi năm tháng đi qua. Chúng ta lớn lên trong đời tu, học thêm nhiều điều, biết thêm nhiều việc, đảm nhận thêm nhiều trách nhiệm. Chúng ta hiểu rõ cơ cấu tổ chức, biết những khó khăn của cộng đoàn, nhìn thấy những giới hạn của người khác và cả những phức tạp trong đời sống Hội Thánh. Những kinh nghiệm ấy có thể giúp chúng ta trưởng thành. Nhưng cũng có thể, nếu không được thanh luyện trong cầu nguyện, chúng làm trái tim mình trở nên khép kín. Chúng ta bắt đầu dễ thất vọng. Dễ so sánh. Dễ phàn nàn. Dễ nghi ngờ thiện chí của người khác. Dễ cảm thấy mình bị đối xử bất công. Dễ xem một công việc là gánh nặng. Dễ coi giờ kinh như nghĩa vụ. Dễ bước vào thánh lễ với tâm trí đầy lo lắng. Dễ đọc Lời Chúa như một bản văn quen thuộc mà không còn cảm thấy đó là lời Thiên Chúa đang nói với chính mình.
Và có một điều rất buồn: đôi khi chúng ta vẫn tiếp tục làm những việc của người thánh hiến, nhưng đã không còn sống bằng trái tim của người thánh hiến.
Trong sách Khải Huyền, Chúa nói với Hội Thánh Êphêsô: “Ta trách ngươi điều này: ngươi đã để mất tình yêu thuở ban đầu” (Kh 2,4). Đó là một lời rất nghiêm khắc, nhưng cũng đầy tình thương. Chúa không nói rằng họ đã ngưng hoạt động. Chúa không nói rằng họ đã từ bỏ mọi nỗ lực. Trước đó, Người còn nhìn nhận những công việc, sự vất vả và lòng kiên nhẫn của họ. Nhưng giữa những điều tốt đẹp ấy, Người vẫn nhận ra một điều gì đó đã mất. Họ vẫn còn những việc làm, nhưng tình yêu thuở ban đầu đã phai nhạt.
Phải chăng lời ấy cũng đang dành cho chúng ta hôm nay?
Chúng ta có thể đã phục vụ Chúa suốt nhiều năm, nhưng đã bao lâu rồi mình không thật sự ngồi trước Nhà Tạm mà không cần làm gì khác ngoài việc ở bên Người? Đã bao lâu rồi mình không đọc Tin Mừng với sự đơn sơ của một người học trò? Đã bao lâu rồi mình không cảm thấy lòng mình xúc động khi nghe lời truyền phép? Đã bao lâu rồi mình không khóc vì nhận ra Chúa vẫn yêu thương mình bất chấp những yếu đuối? Đã bao lâu rồi mình không có một cuộc trò chuyện chân thành với Chúa về những điều sâu kín nhất trong lòng? Đã bao lâu rồi mình không còn cảm thấy bình an chỉ vì biết rằng mình được thuộc về Người?
Điều đáng sợ trong đời tu không nhất thiết là một biến cố sa ngã lớn lao. Đôi khi điều đáng sợ hơn là sự nguội lạnh diễn ra rất chậm, đến mức chúng ta không nhận ra. Một ngày bỏ bớt vài phút cầu nguyện. Một ngày đọc kinh cho xong. Một ngày không còn muốn xét mình. Một ngày tự cho phép mình nói xấu một người anh em. Một ngày giữ trong lòng một chút cay đắng. Một ngày để sự ganh tị lớn lên. Một ngày đặt công việc lên trên tương quan với Chúa. Rồi ngày này qua ngày khác, những điều nhỏ ấy có thể làm cho trái tim trở nên xa lạ với chính ơn gọi của mình.
Chúng ta không đánh mất tình yêu ban đầu chỉ trong một buổi chiều. Thường thì nó phai nhạt qua rất nhiều lần chúng ta không còn chọn Chúa là điều quan trọng nhất.
Nhưng tin vui là Chúa không bao giờ ngừng mời gọi chúng ta trở về. Ngay cả khi chúng ta đã sống đời tu hai mươi năm, ba mươi năm, bốn mươi năm hay lâu hơn nữa, lời mời gọi ấy vẫn còn nguyên vẹn. Không ai quá già để bắt đầu yêu Chúa lại từ đầu. Không ai đã sống quá lâu trong thói quen để không còn có thể hoán cải. Không ai đã thất bại quá nhiều lần để không còn được Chúa chờ đợi. Và không ai còn quá ít ngày sống đến mức không thể dùng những ngày ấy để đáp lại tình yêu của Ngài.
Nếu tháng Mười Một năm 2026 này là cơ hội cuối cùng chúng ta được tham dự một kỳ tĩnh tâm, chúng ta muốn mang theo điều gì khi trở về cộng đoàn? Một vài ý tưởng hay để ghi vào sổ tay? Một vài cảm xúc sốt sắng rồi nhanh chóng qua đi? Hay một quyết định thật sự: từ hôm nay, tôi muốn sống lại tình yêu thuở ban đầu, không nhất thiết bằng những việc lớn lao, nhưng bằng một trái tim chân thành hơn, khiêm nhường hơn, cầu nguyện sâu hơn, tha thứ nhiều hơn và yêu mến Chúa hơn?
III. TRƯỚC NẤM MỒ CỦA NGƯỜI ANH EM, CHÚNG TA CÓ DÁM NHÌN LẠI CÁCH MÌNH ĐÃ SỐNG VỚI NHAU?
Kính thưa quý cha, quý thầy và quý sơ, trong những điều khiến lòng người day dứt sau một cuộc ra đi, có lẽ không gì đau bằng những lời chưa kịp nói. Một người anh em qua đời, và bỗng nhiên chúng ta nhớ lại lần cuối cùng mình gặp người ấy. Có thể hôm ấy chúng ta đã nói một lời thiếu tế nhị. Có thể chúng ta đã lạnh nhạt. Có thể chúng ta đã cố tình tránh mặt. Có thể chúng ta đã không chịu lắng nghe. Có thể chúng ta đã giữ một sự hiểu lầm suốt nhiều năm. Có thể chúng ta đã có cơ hội để làm hòa nhưng lại nghĩ rằng vẫn còn thời gian. Và rồi người ấy ra đi.
Một chiếc quan tài có thể khép lại rất nhiều điều, nhưng nó không tự động làm cho những day dứt trong lòng người ở lại biến mất. Có những người đứng trước linh cữu của một người anh em mà nước mắt chảy không chỉ vì thương tiếc, nhưng còn vì hối hận. Hối hận vì đã không đối xử tốt hơn. Hối hận vì đã không đến thăm khi người ấy đau bệnh. Hối hận vì đã quá bận rộn với công việc của mình. Hối hận vì đã nghe những lời đồn mà không tìm hiểu sự thật. Hối hận vì đã nhìn người ấy bằng những định kiến cố hữu. Hối hận vì đã để một bất đồng nhỏ trở thành khoảng cách lớn. Hối hận vì một lời xin lỗi mà mình cứ trì hoãn cho đến khi không còn cơ hội nói trực tiếp nữa.
Đời sống cộng đoàn là một trong những ân huệ lớn lao của đời tận hiến, nhưng cũng là nơi bộc lộ rõ nhất những giới hạn của tình yêu chúng ta. Chúng ta không được chọn tất cả những người sẽ sống cùng mình. Chúng ta đến từ những gia đình khác nhau, vùng miền khác nhau, nền giáo dục khác nhau, tính khí khác nhau, kinh nghiệm sống khác nhau. Có những người dễ gần. Có những người khó hiểu. Có những người nói nhiều. Có những người ít nói. Có những người rất nguyên tắc. Có những người nhạy cảm. Có những người làm việc nhanh. Có những người chậm chạp. Có những người khiến chúng ta cảm thấy được nâng đỡ. Cũng có những người mà chỉ cần nghe tiếng bước chân đã khiến lòng mình căng thẳng.
Chính trong hoàn cảnh ấy, Chúa mời gọi chúng ta sống tình huynh đệ. Không phải một tình huynh đệ chỉ tồn tại trên những văn bản đẹp đẽ, những khẩu hiệu về hiệp thông, những lời phát biểu trong các cuộc họp, nhưng là một tình huynh đệ được thử luyện mỗi ngày bằng những va chạm rất thật.
Thật dễ nói về tình yêu phổ quát đối với nhân loại, nhưng không dễ yêu một người anh em có thói quen làm mình khó chịu. Thật dễ nói về lòng thương xót đối với những người ở xa, nhưng không dễ thương xót một người đang sống cùng mình mà mình cho là đã nhiều lần làm mình tổn thương. Thật dễ cảm động trước cảnh nghèo khổ trên thế giới, nhưng không dễ nhận ra sự cô đơn của một người đang ngồi cùng bàn ăn với mình. Thật dễ tổ chức một chương trình bác ái cho hàng trăm người, nhưng không dễ dành một giờ để lắng nghe một người anh em đang cần được sẻ chia. Thật dễ giảng về sự tha thứ, nhưng không dễ bước đến trước cửa phòng của người mình đang giận để nói: “Anh em mình làm hòa nhé.”
Chúng ta cần thành thật nhìn nhận rằng có những cộng đoàn rất đầy đủ về cơ sở vật chất nhưng lại thiếu sự ấm áp trong tương quan. Có những ngôi nhà được xây dựng khang trang nhưng người sống trong đó lại cảm thấy cô đơn. Có những bàn ăn có đủ món nhưng thiếu tiếng cười. Có những giờ kinh chung được cử hành rất nghiêm trang nhưng sau đó người ta lại không muốn nhìn mặt nhau. Có những cuộc họp bàn rất nhiều về sứ vụ nhưng lại rất ít khi hỏi xem người anh em bên cạnh mình đang đau khổ điều gì. Có những người sống cùng một mái nhà suốt mấy chục năm mà gần như chưa bao giờ thật sự được người khác lắng nghe.
Và rồi khi một người qua đời, chúng ta đọc những lời rất đẹp trong thánh lễ an táng. Chúng ta nói về tình huynh đệ. Chúng ta ca ngợi sự hy sinh. Chúng ta nhớ lại những kỷ niệm. Chúng ta cầu xin Chúa ban cho người ấy được nghỉ yên. Tất cả những điều ấy đều tốt. Nhưng có lẽ tháng các linh hồn còn đặt ra một câu hỏi sâu xa hơn: tại sao chúng ta thường dễ dành cho người đã chết những lời tốt đẹp mà khi họ còn sống lại quá dè sẻn trong việc bày tỏ tình thương?
Tại sao có những người khi còn sống phải chịu đựng sự lạnh nhạt, nhưng khi chết lại được nhắc đến bằng những lời rất cảm động? Tại sao chúng ta dễ mang hoa đến một nấm mồ, nhưng lại khó mang một chút dịu dàng đến cho người đang sống? Tại sao chúng ta có thể dành hàng giờ chuẩn bị lễ an táng cho người anh em, nhưng khi người ấy đau bệnh lại không dành được ít phút đến thăm? Tại sao chúng ta thường nói rằng mọi sự rồi sẽ qua đi, nhưng vẫn giữ mãi một chuyện buồn đã xảy ra nhiều năm trước?
Tháng Mười Một không chỉ là tháng để cầu nguyện cho những người anh em đã qua đời. Đây còn phải là tháng để chúng ta học cách yêu thương những người anh em đang còn sống. Bởi vì một ngày nào đó, người đang ngồi bên cạnh chúng ta trong nhà nguyện có thể sẽ không còn nữa. Người đang cùng chúng ta dùng bữa hôm nay có thể là người mà năm sau chúng ta sẽ phải cầu nguyện trước di ảnh. Người mà chúng ta đang khó chịu hôm nay có thể sẽ là người mà một ngày nào đó chúng ta ước ao được gặp lại chỉ để nói một lời tử tế.
Chúng ta không biết mình còn bao nhiêu thời gian. Vì thế, đừng để đến lúc một người nằm xuống mới bắt đầu nói tốt về họ. Đừng đợi đến khi một người không còn nghe được nữa mới nói lời cảm ơn. Đừng đợi đến khi không còn cơ hội mới quyết định tha thứ. Đừng chờ đến lúc người khác ra đi mới nhận ra những hy sinh âm thầm của họ.
Có những lời nói có thể cứu một người khỏi cảm giác bị bỏ rơi. Có những sự quan tâm rất nhỏ có thể nâng đỡ một tu sĩ đang đứng trước cơn khủng hoảng ơn gọi. Có những cuộc trò chuyện chân thành có thể giúp một người đang tuyệt vọng tìm lại hy vọng. Có những lời xin lỗi có thể làm tan chảy sự lạnh lẽo của nhiều năm. Và có những lần chúng ta chọn im lặng thay vì trả đũa, chọn cầu nguyện thay vì nói xấu, chọn cảm thông thay vì kết án, đã trở thành những chiến thắng rất lớn của ân sủng.
Tuy nhiên, tha thứ không có nghĩa là phủ nhận tổn thương, bỏ qua bất công hay buộc một người phải tiếp tục chịu đựng sự lạm dụng. Tình huynh đệ chân thật cũng đòi hỏi sự thật, công lý, trách nhiệm và những ranh giới cần thiết. Có những vết thương cần thời gian, sự đồng hành và những bước sửa chữa cụ thể. Điều quan trọng là đừng biến đau khổ thành lý do để nuôi dưỡng hận thù, cũng đừng lấy danh nghĩa tình yêu để che giấu những điều cần được chữa lành.
Nếu hôm nay chúng ta có thể trở về cộng đoàn với một trái tim dịu dàng hơn, biết nói lời cảm ơn dễ dàng hơn, biết nhận lỗi can đảm hơn, biết cầu nguyện cho người mình không thích, biết đến gần những người cô đơn, thì tháng các linh hồn này đã bắt đầu sinh hoa trái.
Bởi vì lời cầu nguyện đẹp nhất dành cho những người đã khuất có thể được nối dài bằng một đời sống biết yêu thương những người đang hiện diện bên cạnh chúng ta.
- CHÚNG TA ĐÃ KHẤN TỪ BỎ MỌI SỰ, NHƯNG CÓ THẬT SỰ HỌC ĐƯỢC CÁCH BUÔNG BỎ?
Đời thánh hiến là một hành trình của sự từ bỏ. Ngày chúng ta bước vào đời tu, chúng ta đã chấp nhận rời bỏ nhiều điều mà thế gian xem là đáng quý. Chúng ta từ bỏ khả năng xây dựng một gia đình riêng theo nghĩa hôn nhân. Chúng ta từ bỏ quyền tự quyết hoàn toàn về cuộc sống của mình. Chúng ta từ bỏ việc sở hữu và sử dụng của cải theo ý riêng, trong tinh thần lời khấn khó nghèo. Chúng ta chấp nhận đặt cuộc đời dưới sự hướng dẫn của Thiên Chúa qua Giáo hội, hội dòng, cộng đoàn và những người có trách nhiệm. Nhưng có một điều mà chúng ta phải tiếp tục học hỏi suốt đời: từ bỏ bên ngoài chưa chắc đã đồng nghĩa với buông bỏ bên trong.
Người ta có thể không có tài sản riêng nhưng vẫn rất gắn bó với những tiện nghi mình đang hưởng. Người ta có thể không có gia đình riêng nhưng lại muốn chiếm hữu tình cảm của người khác. Người ta có thể sống đức vâng phục bên ngoài nhưng trong lòng luôn chống đối, cay đắng hoặc tìm cách khẳng định ý riêng. Người ta có thể không nắm giữ một chức vụ nào nhưng lại rất khao khát được nhìn nhận. Người ta có thể sống trong một căn phòng nhỏ nhưng lại mang trong lòng một cái tôi rất lớn.
Có những thứ chúng ta không thể cầm trên tay nhưng lại giữ chặt trong tim. Một sự tự ái bị tổn thương. Một lời phê bình đã nghe từ nhiều năm trước. Một chức vụ mình từng mong muốn nhưng không được trao. Một công việc mình đã làm mà người khác không ghi nhận. Một quyết định của bề trên khiến mình thất vọng. Một người anh em được ưu ái hơn mình. Một thành công của người khác khiến mình khó chịu. Một ký ức cũ mà mình cứ nhắc đi nhắc lại để chứng minh rằng mình đã từng bị đối xử bất công.
Và chúng ta mang tất cả những điều ấy đi qua đời tu, đôi khi suốt mấy chục năm, như thể chúng là những hành lý không thể bỏ xuống.
Tháng Mười Một đến để nhắc chúng ta rằng một ngày nào đó, tất cả đều phải được buông ra. Không ai có thể mang sự tự ái xuống mồ để tiếp tục bảo vệ nó. Không ai có thể mang chức vụ vào cõi vĩnh hằng để tiếp tục giữ quyền hành. Không ai có thể giữ mãi một cuộc tranh luận chưa ngã ngũ. Không ai có thể mang theo những sự so sánh, những lời khen, những chuyện hơn thua mà mình từng xem là quan trọng.
Vậy tại sao chúng ta không học buông bỏ từ hôm nay?
Tại sao phải đợi đến khi đôi tay không còn đủ sức nắm giữ mới chịu mở tay ra? Tại sao phải đợi đến khi nằm trên giường bệnh mới nhận ra rằng nhiều chuyện mình từng tranh cãi thực ra chẳng đáng là bao? Tại sao phải đợi đến lúc hơi thở yếu dần mới thấy những điều mình từng giận hờn quá nhỏ bé? Tại sao phải đến cuối đời mới hiểu rằng bình an quý hơn thắng thua, tình huynh đệ quý hơn thể diện, và sự kết hợp với Chúa quý hơn tất cả những thành công bên ngoài?
Có một hình ảnh rất đẹp trong đời sống thiêng liêng: đôi tay mở ra. Khi chúng ta bước vào đời tu, Chúa mời gọi chúng ta mở tay để đón nhận Ngài. Trong suốt hành trình tận hiến, Chúa tiếp tục dạy chúng ta mở tay để trao ban. Và đến giờ cuối cùng, Chúa mời gọi chúng ta mở tay lần cuối để trao lại cho Ngài tất cả những gì Ngài đã trao phó.
Có lẽ người tu sĩ trưởng thành không phải là người không còn điều gì để mất, nhưng là người đã học được cách không để bất cứ điều gì trở thành quan trọng hơn Thiên Chúa.
Một người có thể rất yêu công việc của mình, nhưng vẫn bình an khi được chuyển sang một sứ vụ khác. Một người có thể hết lòng xây dựng cộng đoàn, nhưng vẫn vui khi người khác tiếp tục công trình ấy theo một cách khác. Một người có thể có nhiều khả năng, nhưng không đau khổ vì mình không được giao công việc nổi bật. Một người có thể từng có vị trí quan trọng, nhưng vẫn đón nhận tuổi già với lòng biết ơn. Một người có thể phải nằm bệnh, không còn làm được những điều mình từng làm, nhưng vẫn nhận ra rằng sự hiện diện âm thầm và lời cầu nguyện của mình có giá trị trước mặt Chúa.
Đó là tự do nội tâm. Đó là một trong những hoa trái đẹp nhất của đời tận hiến.
Thánh Phaolô đã có thể nói: “Đối với tôi, sống là Đức Kitô, và chết là một mối lợi” (Pl 1,21). Câu nói ấy không phải lời của một người chán sống, cũng không phải lời của một người coi thường cuộc đời. Đó là lời của một người đã tìm thấy trung tâm của đời mình. Khi Đức Kitô là tất cả, sống cũng là cơ hội để yêu mến và phục vụ Người, còn chết là được hoàn tất cuộc hành trình trở về với Người.
Chúng ta có thể đọc câu ấy rất nhiều lần. Nhưng để thực sự sống được câu ấy, chúng ta phải trải qua một cuộc thanh luyện dài lâu. Chúng ta phải để Chúa dần dần giải thoát mình khỏi những thứ chiếm chỗ của Ngài. Chúng ta phải học mất đi mà không tuyệt vọng, học bị hiểu lầm mà không đánh mất bình an, học không được ghi nhận mà vẫn tiếp tục làm điều tốt, học trao lại công việc mà không cay đắng, học bước vào tuổi già mà không oán trách, học đón nhận bệnh tật mà không cảm thấy cuộc đời mình trở nên vô nghĩa.
Tháng các linh hồn nhắc chúng ta rằng mọi sự trên đời đều có thời hạn, nhưng tình yêu đích thực thì không mất đi. Vì thế, đừng giữ chặt những điều rồi sẽ phải buông. Hãy giữ chặt Đức Kitô, Đấng sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng ta.
- CÓ NHỮNG TU SĨ ĐÃ CHẾT TRONG LÒNG TỪ RẤT LÂU, DÙ VẪN ĐANG SỐNG GIỮA CỘNG ĐOÀN
Kính thưa cộng đoàn, nói đến cái chết, chúng ta thường nghĩ đến sự chấm dứt của nhịp tim và hơi thở. Nhưng trong đời sống thiêng liêng, còn có một sự chết khác cần được cảnh giác: đó là sự tê liệt của trái tim trước tình yêu Thiên Chúa và trước nỗi đau của con người.
Có những người vẫn đang sống, vẫn đi lại, vẫn làm việc, vẫn hoàn thành các bổn phận bên ngoài, nhưng niềm vui ơn gọi dường như đã biến mất. Họ không còn hy vọng điều gì tốt đẹp nơi người khác. Họ không còn mong đợi sự biến đổi nơi bản thân. Họ nhìn đâu cũng thấy điều đáng trách. Họ nghe đâu cũng thấy chuyện đáng phàn nàn. Họ bắt đầu ngày mới bằng sự mệt mỏi và kết thúc ngày cũ bằng những bực bội. Họ không còn dễ rung động trước Lời Chúa. Họ cũng không còn dễ xúc động trước nỗi đau của tha nhân. Họ sống như thể chỉ còn phải cố gắng đi cho hết những năm tháng còn lại.
Cần phân biệt tình trạng nguội lạnh thiêng liêng với những đau khổ tâm lý, sự kiệt sức hay bệnh tật. Một tu sĩ đang trầm cảm, suy kiệt hoặc trải qua khủng hoảng không phải vì thế mà thiếu đức tin hay thiếu lòng yêu mến Chúa. Người ấy cần được lắng nghe, chăm sóc và đồng hành thích hợp, chứ không phải bị kết án. Nhưng cũng có những lúc, chính chúng ta cần thành thật nhận ra mình đã để sự cay đắng, thói quen xét đoán hoặc lối sống thiếu cầu nguyện làm nghèo đi tâm hồn.
Đôi khi chúng ta không còn nhận ra sự nguy hiểm của tình trạng ấy bởi vì bề ngoài mọi sự vẫn diễn ra bình thường. Chúng ta vẫn có mặt trong các giờ chung. Vẫn làm việc. Vẫn trả lời khi được hỏi. Vẫn thực hiện những điều được giao. Nhưng bên trong, sự sống thiêng liêng đang yếu dần.
Đây là điều tháng các linh hồn mời gọi chúng ta suy xét: có phải chúng ta đang chuẩn bị cho cái chết thể lý mà lại quên chăm sóc sự sống của linh hồn?
Một người có thể rất cẩn thận giữ gìn sức khỏe, nhưng lại không chăm sóc đời sống nội tâm. Một người có thể lo lắng cho tương lai của cộng đoàn, nhưng lại không quan tâm đến tình trạng linh hồn mình. Một người có thể biết rất rõ những sai lầm của người khác, nhưng lại không còn đủ khiêm nhường để nhìn nhận lỗi của bản thân. Một người có thể sửa soạn rất kỹ cho các cử hành phụng vụ, nhưng lại ít khi chuẩn bị trái tim mình để gặp Chúa.
Chúa Giêsu nói: “Thầy đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). Ơn gọi của chúng ta không phải là tồn tại trong một khuôn khổ tôn giáo cho đến ngày chết. Ơn gọi của chúng ta là sống sự sống của Đức Kitô, để cho sự sống ấy lớn lên trong mình, và để người khác có thể gặp được sự sống ấy qua cách chúng ta hiện diện.
Một tu sĩ có Chúa không nhất thiết là người lúc nào cũng vui vẻ bên ngoài. Người ấy vẫn có thể buồn. Vẫn có thể mệt. Vẫn có thể đau khổ. Vẫn có thể trải qua những đêm tối của đức tin. Nhưng giữa những điều ấy, người ấy vẫn cố gắng mở lòng cho ân sủng, vẫn không muốn đóng cửa trái tim trước tha nhân, vẫn biết tìm về với Chúa, vẫn khao khát sống trong sự thật và tình yêu.
Điều làm nên vẻ đẹp của một người thánh hiến không chỉ là sự nghiêm trang của chiếc áo dòng, nhưng là sự dịu dàng của một trái tim đã được Chúa thanh luyện. Không chỉ là khả năng nói về Thiên Chúa, nhưng là khả năng làm cho người khác cảm nhận được một chút lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Không chỉ là sự thông thạo những quy định, nhưng là sự khôn ngoan biết đặt con người trước mặt mình trong ánh sáng của Tin Mừng.
Có những người tu sĩ rất ít nói, không có tài giảng thuyết, không có chức vụ quan trọng, không có khả năng nổi bật. Nhưng chỉ cần đến gần họ, chúng ta thấy bình an. Họ không vội xét đoán. Họ không thích kể chuyện xấu của người khác. Họ lắng nghe bằng sự hiện diện chân thành. Họ không làm cho người yếu đuối cảm thấy mình bị khinh thường. Họ không dùng sự đạo đức để nâng mình lên trên người khác. Họ không cần phải chứng minh mình thánh thiện. Họ chỉ âm thầm sống với Chúa, và vì thế, sự hiện diện của họ trở thành một lời an ủi.
Đó là điều chúng ta cần xin trong tháng Mười Một này: xin Chúa làm cho trái tim mình sống lại.
Nếu trái tim đã trở nên khô cằn, xin Chúa tưới gội bằng lòng thương xót. Nếu trái tim đã trở nên cứng cỏi, xin Chúa làm cho mềm mại. Nếu trái tim đã quá mệt mỏi, xin Chúa cho được nghỉ ngơi trong Ngài. Nếu trái tim đang nuôi dưỡng oán giận, xin Chúa giúp chúng ta can đảm bước vào hành trình tha thứ. Nếu trái tim đã đánh mất niềm vui ơn gọi, xin Chúa dẫn chúng ta trở lại nơi bắt đầu của tình yêu.
Bởi vì điều Chúa mong đợi không phải là chúng ta cố gắng tỏ ra hoàn hảo, nhưng là chúng ta để cho Ngài tiếp tục cứu độ mình.
- NGƯỜI TU SĨ GIÀ YẾU KHÔNG PHẢI LÀ NGƯỜI ĐÃ HẾT GIÁ TRỊ
Một trong những suy tư cần thiết nhất trong tháng các linh hồn là suy tư về tuổi già, bệnh tật và sự lệ thuộc trong đời thánh hiến.
Khi còn trẻ, chúng ta thường được đánh giá qua những gì mình có thể làm. Người này giảng hay. Người kia dạy giỏi. Người nọ có khả năng tổ chức. Người khác có tài điều hành. Có người đi truyền giáo ở những vùng xa xôi. Có người chăm sóc bệnh nhân. Có người làm công việc giáo dục. Có người nghiên cứu thần học. Có người phục vụ tại giáo xứ. Có người gánh vác những trách nhiệm nặng nề của hội dòng. Chúng ta quen nhìn nhau qua khả năng, công việc và hiệu quả phục vụ.
Nhưng rồi tuổi già đến. Đôi chân từng đi rất xa bắt đầu yếu. Đôi tay từng làm việc không biết mệt bắt đầu run. Trí nhớ không còn nhanh nhạy. Những cuộc hành trình dài trở nên khó khăn. Một người từng đứng giảng trước đông đảo cộng đoàn nay có thể không còn đủ sức nói một bài giảng dài. Một nữ tu từng chăm sóc biết bao bệnh nhân nay phải để người khác chăm sóc mình. Một người từng điều hành những công việc quan trọng nay cần người khác giúp đỡ trong những sinh hoạt đơn giản nhất.
Và chính lúc ấy, một câu hỏi rất đau có thể xuất hiện trong lòng người già yếu: “Tôi còn có ích gì nữa không?”
Câu hỏi ấy không phải lúc nào cũng được nói ra. Có khi nó nằm trong ánh mắt của một người đang ngồi lặng lẽ ở hành lang. Có khi nó nằm trong tiếng thở dài của một tu sĩ không còn được giao nhiệm vụ. Có khi nó hiện diện trong sự bối rối của một người phải nhờ người khác giúp mình thay quần áo, đi lại hoặc dùng bữa. Có khi nó nằm trong nỗi buồn của một người từng được nhiều người tìm đến, nay căn phòng trở nên vắng vẻ. Có khi nó trở thành cảm giác mình là gánh nặng cho cộng đoàn.
Nếu cộng đoàn chỉ nhìn con người qua năng suất làm việc, người già yếu sẽ dễ cảm thấy mình bị bỏ lại. Nhưng nếu cộng đoàn thực sự sống Tin Mừng, người già yếu phải được nhìn nhận bằng phẩm giá bất khả thay thế của họ, chứ không phải bằng khả năng còn lại.
Một tu sĩ không mất phẩm giá khi không còn làm việc được. Một linh mục không mất giá trị con người khi không còn đủ sức đảm nhận sứ vụ như trước. Một nữ tu không trở nên kém quý giá khi phải nằm trên giường bệnh. Đời sống thánh hiến không chỉ có ý nghĩa khi người ta còn khỏe mạnh, còn hoạt động, còn có thể đem lại những thành quả nhìn thấy được.
Có những giai đoạn của đời tận hiến mà sứ vụ quan trọng nhất không còn là đi ra, nhưng là ở lại. Không còn là tổ chức, nhưng là cầu nguyện. Không còn là làm thật nhiều, nhưng là tín thác thật sâu. Không còn là dùng sức lực để phục vụ, nhưng là đón nhận sự chăm sóc của người khác với lòng khiêm nhường và biết ơn. Điều này không có nghĩa đau khổ tự nó là điều tốt, càng không có nghĩa người bệnh phải chịu đựng trong im lặng. Đau khổ cần được chăm sóc và giảm nhẹ hết mức có thể. Nhưng ngay giữa những giới hạn không thể tránh khỏi, đời người vẫn có thể mang một ý nghĩa thiêng liêng sâu xa.
Và ở đây, chúng ta cũng phải xét lại cách mình đối xử với những người cao tuổi trong cộng đoàn.
Có bao giờ chúng ta vô tình xem họ như những người thuộc về quá khứ? Có bao giờ chúng ta thấy họ nói chậm nên không muốn lắng nghe? Có bao giờ chúng ta thiếu kiên nhẫn khi họ kể lại một câu chuyện nhiều lần? Có bao giờ chúng ta nghĩ những kinh nghiệm của họ đã lỗi thời nên không cần quan tâm? Có bao giờ chúng ta quá bận với những chương trình mới mà quên ghé thăm một người đang nằm bệnh? Có bao giờ chúng ta nói về lòng biết ơn đối với các thế hệ đi trước nhưng trong thực tế lại để họ sống những ngày cuối đời trong cô đơn?
Một cộng đoàn không thể được đánh giá chỉ bằng số lượng ơn gọi mới, những công trình đang xây dựng hay những chương trình mục vụ đang phát triển. Còn phải nhìn vào cách cộng đoàn chăm sóc những thành viên yếu đuối nhất, những người đã dành tuổi trẻ cho hội dòng và nay không còn khả năng đóng góp theo cách trước kia.
Đối với những người đang sống tuổi già và bệnh tật, tháng Mười Một cũng mang đến một lời an ủi. Thiên Chúa không yêu chúng ta ít đi khi sức khỏe suy giảm. Người không rút lại lời mời gọi chỉ vì chúng ta không còn làm việc như trước. Tình yêu của Người không dựa trên hiệu suất phục vụ. Trước khi chúng ta làm bất cứ điều gì cho Chúa, chúng ta đã được Người yêu thương. Và khi không còn làm được nhiều điều nữa, chúng ta vẫn là những người con được Người yêu thương.
Nếu một ngày nào đó chúng ta phải nằm trên giường bệnh, không còn được tham dự đầy đủ các sinh hoạt, không còn đủ sức phục vụ như trước, xin đừng nghĩ rằng đời tận hiến đã kết thúc. Có thể hình thức phục vụ đã thay đổi, nhưng lời mời gọi sống kết hợp với Đức Kitô vẫn còn đó.
Một người già yếu âm thầm dâng những giới hạn của mình cho Chúa, cầu nguyện cho các anh chị em đang thi hành sứ vụ, đón nhận sự chăm sóc với lòng biết ơn, kiên nhẫn sống từng ngày trong ân sủng, vẫn có thể là một chứng tá vô cùng quý giá.
Và đối với người trẻ trong cộng đoàn, xin hãy nhớ rằng người già hôm nay chính là hình ảnh có thể của mình ngày mai. Cách chúng ta đối xử với những người già yếu hôm nay không chỉ nói lên lòng biết ơn đối với quá khứ, mà còn bộc lộ chúng ta hiểu Tin Mừng sâu đến mức nào.
VII. CÁI CHẾT LÀ LÚC CHÚNG TA KHÔNG CÒN CẦN PHẢI CHỨNG MINH MÌNH LÀ AI
Trong đời sống con người, có một nhu cầu rất mạnh: nhu cầu được nhìn nhận. Chúng ta muốn người khác hiểu mình. Muốn người khác công nhận những cố gắng. Muốn người khác biết những hy sinh âm thầm. Muốn được đánh giá công bằng. Muốn không bị hiểu lầm. Muốn được bảo vệ danh dự. Những mong muốn ấy tự chúng không sai. Con người cần được tôn trọng và đối xử công bằng.
Nhưng khi nhu cầu ấy trở nên quá lớn, chúng ta dễ đánh mất bình an.
Có những người sống nhiều năm trong nỗi khổ vì cảm thấy mình không được ghi nhận. Có những người vẫn mang trong lòng một lời phê bình đã nghe từ lâu. Có những người không thể vui với thành công của người khác vì sợ mình bị lu mờ. Có những người phải liên tục kể lại những điều mình đã làm để khẳng định giá trị bản thân. Có những người quá sợ bị hiểu lầm đến mức luôn tìm cách giải thích, biện hộ và bảo vệ hình ảnh của mình.
Đời tu cũng không hoàn toàn miễn nhiễm trước những điều ấy. Có khi chúng ta nói rằng mình làm mọi sự vì Chúa, nhưng lại rất đau khổ khi không ai biết việc mình làm. Có khi chúng ta khẳng định mình không cần danh dự, nhưng lại khó chịu khi người khác được khen. Có khi chúng ta nói rằng mình sẵn sàng hy sinh, nhưng lại mong mọi người nhận ra mình đang hy sinh.
Tháng Mười Một mời gọi chúng ta đến trước một sự thật rất sâu sắc: cuối cùng, chúng ta không cần phải chứng minh đời mình trước tất cả mọi người, vì Thiên Chúa biết sự thật về chúng ta.
Người biết những điều tốt đẹp mà không ai nhìn thấy. Người biết những nước mắt chúng ta đã giấu kín. Người biết những lần chúng ta muốn bỏ cuộc nhưng vẫn tiếp tục. Người biết những đêm chúng ta thao thức vì một người đang đau khổ. Người biết những hy sinh không được ghi nhận. Người biết cả những lỗi lầm mà chúng ta cố che đậy. Người biết những động cơ chưa trong sáng, những vết thương chưa được chữa lành, những nỗi sợ không dám nói ra. Và Người biết chúng ta không chỉ bằng một cái nhìn xét xử từ bên ngoài, nhưng bằng cái nhìn thấu suốt của Đấng đã tạo dựng và yêu thương chúng ta.
Trước cái nhìn ấy, mọi mặt nạ đều trở nên vô ích. Chúng ta không thể dùng áo dòng để che giấu sự thật của tâm hồn. Không thể lấy chức vụ làm bằng chứng thay thế cho tình yêu. Không thể dùng thành tích để che lấp những điều cần hoán cải. Nhưng chúng ta cũng không cần tuyệt vọng vì những yếu đuối của mình, bởi vì Đấng biết rõ sự thật về chúng ta cũng chính là Đấng đã chết và sống lại để cứu độ chúng ta.
Đó là lý do người Kitô hữu không nhìn cái chết như một cuộc đi vào hư vô. Chúng ta tin vào Đức Kitô phục sinh. Chúng ta tin sự chết không có tiếng nói cuối cùng. Chúng ta tin Thiên Chúa là Đấng công chính và giàu lòng thương xót. Chúng ta tin rằng những người đã chết trong ân sủng và tình nghĩa với Chúa, dù còn cần được thanh luyện, vẫn được bảo đảm ơn cứu độ đời đời. Vì thế, việc cầu nguyện cho các linh hồn là một hành vi của tình yêu và hy vọng, chứ không phải một nỗ lực tuyệt vọng trước một số phận vô định.
Đời sống thiêng liêng trưởng thành là học sống trong sự thật trước mặt Chúa. Không tự tôn mình lên, nhưng cũng không tự khinh miệt bản thân. Không che giấu tội lỗi, nhưng cũng không phủ nhận lòng thương xót. Không ảo tưởng rằng mình đã hoàn hảo, nhưng cũng không tuyệt vọng vì mình vẫn còn yếu đuối.
Khi nghĩ đến giờ chết, chúng ta không cần cố tưởng tượng mình sẽ nói những lời thật cao siêu. Có thể lúc ấy chúng ta chẳng còn đủ sức để nói nhiều. Có thể trí nhớ đã suy giảm. Có thể hơi thở rất yếu. Có thể chúng ta chỉ còn khả năng thầm thĩ một lời ngắn ngủi. Nhưng nếu suốt cuộc đời, chúng ta đã tập sống trong sự thật và tín thác vào Chúa, thì chính sự tín thác ấy sẽ trở thành hành trang quý giá.
Có lẽ một trong những lời cầu nguyện đẹp nhất của người tu sĩ trước giờ chết là: “Lạy Chúa, con không có gì để khoe với Chúa. Những điều tốt đẹp con làm được đều nhờ ơn Chúa. Những gì con đã làm sai, xin Chúa thương tha thứ. Những điều con chưa hoàn thành, xin Chúa đón nhận thiện chí của con và trao cho người khác tiếp tục. Con không còn muốn giữ gì cho riêng mình. Con chỉ xin được thuộc về Chúa.”
VIII. CẦU CHO CÁC LINH HỒN LÀ HỌC SỐNG MỘT TÌNH YÊU KHÔNG ĐÒI ĐƯỢC ĐÁP TRẢ
Tháng Mười Một không chỉ là một cuộc suy niệm về cái chết của bản thân. Đây trước hết là thời gian Hội Thánh đặc biệt mời gọi con cái mình cầu nguyện cho những người đã qua đời. Và đối với người sống đời thánh hiến, lời cầu nguyện ấy có một vẻ đẹp rất riêng.
Chúng ta đã chọn một đời sống không chỉ cho mình. Chúng ta được mời gọi mang trong trái tim niềm vui, nỗi đau, những thao thức và cả những nhu cầu thiêng liêng của tha nhân. Vì thế, khi cầu nguyện cho các linh hồn, chúng ta đang thực hiện một hành vi bác ái vượt qua những giới hạn của thế giới hữu hình.
Những người đã qua đời không thể đến cảm ơn chúng ta theo cách thông thường. Họ không thể gửi một lá thư bày tỏ lòng biết ơn. Họ không thể công khai ghi nhận những lời kinh chúng ta đã dâng. Chúng ta cũng không thể nhìn thấy bằng mắt thường hoa trái của từng lời cầu nguyện. Nhưng chính vì thế, lời cầu cho các linh hồn trở thành một trường học của tình yêu vô vị lợi.
Chúng ta cầu nguyện không phải để được khen. Không phải để nhận lại một ân huệ vật chất. Không phải để chứng minh mình đạo đức. Chúng ta cầu nguyện vì tin vào mầu nhiệm các thánh thông công, tin rằng trong Đức Kitô, tình yêu liên kết những người đang lữ hành trên trần gian với những người đã được cứu độ và những người còn đang được thanh luyện.
Trong tháng này, chúng ta nhớ đến những linh mục đã từng cử hành thánh lễ cho mình. Những tu sĩ đã từng dạy dỗ mình. Những người đã hướng dẫn mình trong những năm đầu ơn gọi. Những bề trên đã từng nâng đỡ mình. Những anh chị em đã cùng mình chia sẻ một mái nhà, một bàn ăn, một nhà nguyện, một sứ vụ. Có những người đã ra đi khi tuổi còn trẻ. Có những người đã sống một đời âm thầm. Có những người để lại nhiều công trình. Có những người không để lại gì ngoài một ký ức rất đơn sơ. Có những người được nhiều người biết đến. Có những người gần như không còn ai nhớ tên.
Nhưng trước mặt Thiên Chúa, không một cuộc đời nào là vô nghĩa.
Có lẽ trong các nghĩa trang của những hội dòng, những ngôi mộ nằm cạnh nhau là một bài giảng rất sâu sắc về đời sống cộng đoàn. Những người khi còn sống có thể từng giữ những trách nhiệm khác nhau, từng có những quan điểm khác nhau, từng trải qua những vui buồn khác nhau, nay cùng nằm xuống trong niềm hy vọng phục sinh. Những danh xưng từng làm nên sự khác biệt không còn là điều quan trọng nhất. Điều còn lại là họ đã thuộc về Chúa, đã bước theo Đức Kitô trong một hành trình có cả ân sủng lẫn giới hạn, và giờ đây được phó thác cho lòng thương xót của Người.
Khi đi viếng nghĩa trang cộng đoàn, chúng ta đừng chỉ đọc kinh cho xong một bổn phận. Hãy dừng lại trước từng cái tên, nếu có thể. Hãy nhớ rằng đằng sau mỗi cái tên là cả một cuộc đời. Có những năm tháng trẻ trung. Có những hy sinh không ai biết. Có những niềm vui. Có những nước mắt. Có những thất bại. Có những lần đứng dậy. Có những cuộc chiến thiêng liêng. Có một tiếng gọi ban đầu. Có một hành trình theo Chúa. Và có một giờ phút cuối cùng khi người ấy phải trao lại tất cả.
Chúng ta cũng đừng quên cầu nguyện cho những người đã từng làm mình tổn thương, những người mình chưa hiểu hết, những người mình từng có bất đồng. Lời cầu cho họ có thể trở thành một phần của hành trình chữa lành trong chính tâm hồn mình. Khi đặt một người trước lòng thương xót Chúa, chúng ta được mời gọi từ bỏ thái độ muốn mình có tiếng nói cuối cùng về cuộc đời người ấy.
Và xin đặc biệt nhớ đến những linh hồn không còn ai cầu nguyện cho. Những người đã sống trong cô đơn. Những người đã chết vì chiến tranh, thiên tai, bệnh tật hoặc tai nạn. Những người nghèo qua đời mà không có một tang lễ đông người. Những người chết xa quê hương. Những người từng sống bên lề xã hội. Những người mà tên tuổi dường như đã biến mất khỏi ký ức nhân gian.
Người tu sĩ được mời gọi có một trái tim đủ rộng để nhớ đến cả những người mình chưa từng gặp. Bởi vì trong tình yêu của Đức Kitô, không ai hoàn toàn là người xa lạ.
- NẾU THÁNG MƯỜI MỘT NÀY LÀ THÁNG CUỐI CÙNG CỦA ĐỜI TÔI
Giờ đây, kính thưa cộng đoàn, chúng ta hãy đi vào câu hỏi có lẽ cần được giữ lại lâu nhất sau buổi tĩnh tâm hôm nay.
Nếu tháng Mười Một năm 2026 này là tháng cuối cùng của đời tôi, tôi sẽ sống khác đi như thế nào?
Không ai trong chúng ta biết câu trả lời về thời điểm mình sẽ chết. Nhưng chính sự không biết ấy làm cho hiện tại trở nên quý giá. Chúng ta không được mời gọi sống trong nỗi lo âu về ngày tận cùng, nhưng được mời gọi tỉnh thức, để mỗi ngày có thể trở thành một lời đáp trả đầy đủ hơn đối với tình yêu Chúa.
Nếu biết mình không còn nhiều thời gian, có lẽ chúng ta sẽ không dành quá nhiều sức lực để tranh cãi những chuyện nhỏ nhặt. Chúng ta sẽ không còn muốn chứng minh mình đúng trong mọi cuộc bất đồng. Chúng ta sẽ không còn quá bận tâm đến việc người khác nghĩ gì về mình. Chúng ta sẽ không còn giữ mãi những lời xúc phạm. Chúng ta sẽ muốn nói lời cảm ơn với những người đã nâng đỡ mình. Muốn xin lỗi những người mình đã làm tổn thương. Muốn dành thêm thời gian cho cầu nguyện. Muốn cử hành thánh lễ với lòng sốt mến sâu xa hơn. Muốn sống những giờ kinh cách ý thức hơn. Muốn đến thăm những người đau bệnh. Muốn sống dịu dàng hơn với những người cùng cộng đoàn.
Vậy tại sao chúng ta không bắt đầu ngay hôm nay?
Tại sao phải cần một chẩn đoán bệnh nặng mới bắt đầu sống chân thành? Tại sao phải đợi một biến cố đau buồn mới trân trọng tình huynh đệ? Tại sao phải đợi đến lúc không còn khả năng phục vụ mới nhận ra rằng cầu nguyện là nền tảng của sứ vụ? Tại sao phải đợi đến giờ cuối cùng mới buông bỏ những tham vọng không cần thiết? Tại sao phải đợi đến khi một người ra đi mới nói lời yêu thương?
Có những người khi nằm trên giường bệnh chỉ ước ao được sống thêm một ngày bình thường. Một ngày có thể tự mình đi đến nhà nguyện. Một ngày có thể ăn cơm cùng cộng đoàn. Một ngày có thể nghe tiếng chuông và bước đến thánh lễ. Một ngày có thể đi dạo trong sân. Một ngày có thể ngồi trò chuyện với người anh em. Một ngày có thể làm một công việc nhỏ. Những điều mà khi khỏe mạnh chúng ta xem là hết sức bình thường, đến lúc bệnh tật lại có thể trở thành những ân huệ lớn lao.
Vì thế, đừng coi thường ngày hôm nay.
Hôm nay chúng ta còn có thể cầu nguyện. Hôm nay chúng ta còn có thể tha thứ. Hôm nay chúng ta còn có thể làm hòa. Hôm nay chúng ta còn có thể đến gần người cô đơn. Hôm nay chúng ta còn có thể thay đổi một thói quen xấu. Hôm nay chúng ta còn có thể bắt đầu lại một kỷ luật thiêng liêng đã bỏ quên. Hôm nay chúng ta còn có thể mở lòng cho Chúa.
Đừng nói rằng mình đã quá già để thay đổi. Đừng nói rằng tính mình vốn như vậy. Đừng nói rằng người khác cũng có lỗi nên mình không cần bước trước. Đừng nói rằng đã quá muộn để trở nên tốt hơn. Đừng nói rằng đời tu của mình chỉ còn là những ngày tháng phải đi cho hết.
Chừng nào còn sống, chừng ấy vẫn còn lời mời gọi yêu thương.
Có lẽ một trong những điều đẹp nhất của đời tận hiến là khả năng bắt đầu lại, ngay cả khi chúng ta đã đi qua rất nhiều thất bại. Thiên Chúa không mời gọi chúng ta quay ngược thời gian để sửa tất cả những điều đã xảy ra. Người mời gọi chúng ta sống giây phút hiện tại trong ân sủng. Quá khứ cần được nhìn nhận, những sai lầm cần được sửa chữa trong mức độ có thể, những hậu quả cần được chịu trách nhiệm, nhưng không ai bị buộc phải sống mãi trong bóng tối của quá khứ.
Tháng Mười Một không chỉ nhắc rằng cuộc đời sẽ kết thúc. Tháng Mười Một còn nhắc rằng trước khi kết thúc, chúng ta vẫn có thể sống đẹp hơn.
Một linh mục có thể bắt đầu cử hành thánh lễ với trái tim biết ơn hơn. Một tu sĩ có thể bắt đầu sống ba lời khấn với sự tự do nội tâm sâu sắc hơn. Một nữ tu có thể bắt đầu tìm lại niềm vui trong những công việc nhỏ. Một bề trên có thể bắt đầu lắng nghe anh chị em với sự khiêm nhường hơn. Một người trẻ có thể bắt đầu nhìn đời tu không phải như con đường tìm kiếm địa vị, nhưng như hành trình trở nên giống Đức Kitô. Một người già yếu có thể bắt đầu đón nhận từng ngày như một cơ hội phó thác. Một người đang mang vết thương có thể bắt đầu hành trình chữa lành với sự nâng đỡ thích hợp.
Không ai có thể bảo đảm ngày mai sẽ đến. Nhưng hôm nay vẫn đang được trao cho chúng ta.
Và hôm nay là đủ để bắt đầu một cuộc hoán cải chân thành.
- HẠT LÚA MÌ PHẢI CHẾT ĐI: ĐỜI THÁNH HIẾN LÀ MỘT CUỘC TỰ HIẾN KÉO DÀI ĐẾN HƠI THỞ CUỐI CÙNG
Chúa Giêsu nói: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24).
Đây là một trong những lời Tin Mừng có sức soi sáng sâu sắc nhất cho đời tận hiến. Hạt lúa không chết vì sự chết là mục đích của nó. Hạt lúa đi vào lòng đất để sự sống mới có thể trổ sinh. Chúa Giêsu dùng hình ảnh ấy để nói về mầu nhiệm cuộc Vượt Qua của Người. Chính Người đã tự hiến trong tình yêu, đi qua cái chết và mở đường cho sự sống mới nhờ quyền năng phục sinh.
Đời thánh hiến được mời gọi tham dự vào mầu nhiệm ấy. Không phải bằng việc tìm kiếm đau khổ hay coi thường sự sống, nhưng bằng sự tự hiến trong tình yêu, bằng việc để cho những gì ích kỷ nơi bản thân được biến đổi, để sự sống của Đức Kitô ngày càng được biểu lộ rõ hơn.
Có những cái chết nhỏ mà người tu sĩ được mời gọi trải qua mỗi ngày. Chết đi đối với một lời nói thiếu bác ái mà mình đang muốn thốt ra. Chết đi đối với ý muốn luôn được phần hơn. Chết đi đối với nhu cầu phải được khen ngợi. Chết đi đối với thói quen xét đoán. Chết đi đối với sự ganh tị khi người khác thành công. Chết đi đối với lòng tự ái khi bị góp ý chính đáng. Chết đi đối với sự lười biếng trong đời sống thiêng liêng. Chết đi đối với cách cư xử làm tổn thương người khác. Chết đi đối với ảo tưởng rằng mọi sự phải diễn ra đúng như ý mình.
Những cái chết ấy không làm con người chúng ta nghèo đi. Trái lại, chúng mở ra không gian cho sự sống mới.
Một người biết từ bỏ sự nóng giận sẽ có thêm chỗ cho lòng hiền hòa. Một người biết từ bỏ ganh tị sẽ có thêm khả năng vui với niềm vui của anh em. Một người biết từ bỏ nhu cầu kiểm soát sẽ có thêm sự tự do để cộng tác. Một người biết từ bỏ lòng kiêu ngạo sẽ có thêm khả năng học hỏi. Một người biết từ bỏ sự thù hận sẽ có thêm khả năng đón nhận bình an.
Nhưng không ai có thể tự mình thực hiện tất cả những điều ấy chỉ bằng sức riêng. Đời thánh hiến không phải là dự án tự hoàn thiện của một con người muốn trở nên đáng ngưỡng mộ. Đây là hành trình để ân sủng Đức Kitô biến đổi chúng ta. Chúng ta cộng tác bằng sự tỉnh thức, cầu nguyện, thực hành nhân đức, đón nhận những lời sửa dạy chính đáng, thường xuyên lãnh nhận các bí tích và trung thành với những chọn lựa nhỏ hằng ngày.
Trong cái nhìn ấy, giờ chết thể lý của người tu sĩ không phải là một biến cố hoàn toàn tách rời khỏi cuộc đời đã sống. Đó là giây phút cuối cùng của một hành trình tự hiến đã bắt đầu từ ngày đáp lại tiếng Chúa gọi.
Ngày tuyên khấn, chúng ta đã thưa lời tận hiến. Những năm sống đời tu là thời gian học để lời tận hiến ấy trở thành sự thật. Và đến giờ chết, chúng ta được mời gọi trao lại cho Chúa toàn bộ cuộc đời mình.
Sẽ đẹp biết bao nếu trong giờ phút ấy, dù còn nhiều giới hạn, chúng ta có thể nói với Chúa bằng sự khiêm nhường: “Lạy Chúa, con đã cố gắng đi theo Chúa. Có những ngày con bước đi với lòng hăng say. Có những ngày con mệt mỏi. Có những lần con trung thành. Có những lần con sa ngã. Có những lúc con yêu Chúa thật lòng. Có những lúc con đã đặt mình lên trước Chúa. Nhưng hôm nay, con xin trao lại tất cả. Xin Chúa thanh luyện những gì chưa tinh tuyền. Xin Chúa hoàn tất những gì con còn dang dở. Xin Chúa đón nhận con trong lòng thương xót của Ngài.”
Chúng ta không cần phải có một cái chết được nhiều người biết đến. Không cần có những lời cuối cùng làm người khác xúc động. Không cần một tang lễ thật lớn. Không cần một bản tiểu sử thật dài. Điều đáng ước mong là được ra đi trong ân sủng Chúa, được giao hòa với Người và với tha nhân trong khả năng có thể, được phó thác trong niềm hy vọng phục sinh.
Bởi vì đối với người Kitô hữu, sự chết không phải là đích đến cuối cùng. Đức Kitô phục sinh mới là niềm hy vọng sau cùng của chúng ta.
- MỘT NGÀY NÀO ĐÓ, CỘNG ĐOÀN SẼ ĐỌC KINH CẦU CHO CHÍNH CHÚNG TA
Kính thưa cộng đoàn, xin cho phép chúng ta dừng lại thật lâu với một hình ảnh.
Hãy tưởng tượng một ngày nào đó, vào một buổi sáng tháng Mười Một của một năm xa xôi, cộng đoàn chúng ta quy tụ trong nhà nguyện để cầu nguyện cho các thành viên đã qua đời. Một người mở cuốn sổ ghi tên những anh chị em đã được Chúa gọi về. Từng cái tên được đọc lên. Có những tên người lớn tuổi. Có những tên người trẻ. Có những người mà cộng đoàn hiện tại còn nhớ rõ. Có những người mà phần lớn các thành viên mới chưa từng gặp.
Và rồi đến tên chúng ta.
Tên chúng ta được đọc lên như tên của một người đã đi hết hành trình dương thế. Không còn những trách nhiệm. Không còn những cuộc họp. Không còn những dự định. Không còn những lo toan. Không còn những điều phải giải thích. Không còn những chuyện để tranh luận. Chỉ còn tên của một người được cộng đoàn phó thác cho lòng thương xót Chúa.
Có thể người đọc tên chúng ta chưa từng sống cùng chúng ta. Có thể người ấy không biết chúng ta từng có những ước mơ gì, từng đau khổ điều gì, từng cố gắng ra sao. Có thể một người trẻ trong cộng đoàn chỉ biết rằng trước đây đã có một người mang tên ấy, từng sống đời tận hiến trong hội dòng này.
Và người ấy đọc: “Chúng ta cầu nguyện cho linh hồn người anh em, người chị em của chúng ta.”
Thật lạ lùng và cũng thật cảm động. Một đời người với bao nhiêu vui buồn, bao nhiêu nỗ lực, bao nhiêu ước mơ, bao nhiêu nước mắt, cuối cùng được gói lại trong một lời cầu nguyện.
Nhưng lời cầu ấy không hề nhỏ bé. Bởi vì đằng sau lời cầu là mầu nhiệm hiệp thông của Hội Thánh. Đằng sau lời cầu là niềm tin vào lòng thương xót Chúa. Đằng sau lời cầu là niềm hy vọng rằng cái chết không cắt đứt hoàn toàn mối dây yêu thương trong Đức Kitô.
Hôm nay chúng ta cầu cho người khác. Ngày mai có thể người khác sẽ cầu cho chúng ta.
Hôm nay chúng ta đứng trước một nấm mồ. Ngày mai có thể người khác sẽ đứng trước nấm mồ của chúng ta.
Hôm nay chúng ta thắp một ngọn nến. Ngày mai có thể người khác sẽ thắp một ngọn nến cho chúng ta.
Hôm nay chúng ta đọc một kinh Lạy Cha cho người đã khuất. Ngày mai có thể có một người âm thầm đọc một kinh Lạy Cha cho linh hồn chúng ta.
Ý nghĩ ấy không làm đời sống trở nên bi quan. Trái lại, nó có thể giải thoát chúng ta khỏi rất nhiều điều vô ích.
Nếu một ngày nào đó tên tôi chỉ còn được nhắc đến trong lời cầu nguyện, thì hôm nay tôi cần sống thế nào để tên ấy gắn với một cuộc đời đã cố gắng yêu thương?
Nếu một ngày nào đó căn phòng của tôi sẽ trống, thì hôm nay tôi có đang biến căn phòng ấy thành một nơi gặp gỡ Chúa?
Nếu một ngày nào đó chiếc áo dòng của tôi sẽ được cất đi, thì hôm nay tôi có đang mặc lấy Đức Kitô trong cách suy nghĩ, nói năng và hành động?
Nếu một ngày nào đó tôi không còn cử hành thánh lễ hay tham dự thánh lễ như hôm nay, thì tôi có đang trân trọng mỗi lần được đến bàn thờ?
Nếu một ngày nào đó tôi không còn được ngồi ăn với anh chị em, thì hôm nay tôi có đang dùng những bữa ăn chung như cơ hội để xây dựng tình huynh đệ?
Nếu một ngày nào đó tôi không còn có thể nói lời xin lỗi, thì tại sao hôm nay tôi vẫn trì hoãn?
Nếu một ngày nào đó mọi chức vụ tôi từng đảm nhận đều trở thành quá khứ, thì tại sao hôm nay tôi lại để chúng chi phối quá nhiều niềm vui và sự bình an của mình?
Nếu một ngày nào đó tôi phải trao lại tất cả, thì tại sao hôm nay tôi vẫn sống như thể mọi sự thuộc về tôi?
Và nếu một ngày nào đó tôi sẽ đứng trước Đức Kitô, thì tại sao ngay hôm nay tôi không dành nhiều thời gian hơn để sống thân mật với Người?
Có lẽ đó là hoa trái sâu xa nhất mà tháng các linh hồn có thể mang lại cho người sống đời thánh hiến: không phải chỉ làm cho chúng ta nghĩ nhiều hơn đến sự chết, nhưng làm cho chúng ta yêu sự sống đúng cách hơn.
XII. LỜI MỜI GỌI SAU KỲ TĨNH TÂM: ĐỪNG ĐỢI ĐẾN KHI NẰM XUỐNG MỚI TRỞ THÀNH NGƯỜI DỄ THƯƠNG
Kính thưa quý cha, quý thầy, quý sơ, khi kết thúc buổi tĩnh tâm này, có lẽ chúng ta không cần đưa ra quá nhiều quyết tâm. Một kỳ tĩnh tâm không trở nên có giá trị chỉ vì có nhiều ý tưởng hay, nhiều lời nói đẹp hoặc nhiều cảm xúc mạnh mẽ. Giá trị của kỳ tĩnh tâm nằm ở chỗ sau khi trở về cuộc sống thường ngày, chúng ta có để cho Lời Chúa biến đổi cách mình sống hay không.
Tháng các linh hồn có thể trở thành một điểm khởi đầu rất đẹp nếu chúng ta thật sự quyết định sống khác đi trong những điều nhỏ bé.
Xin hãy thử trở về nhà nguyện với một tâm tình mới. Đừng chỉ đến để hoàn thành giờ kinh. Hãy đến để gặp Đấng đã gọi mình. Đừng chỉ đọc những lời kinh quen thuộc. Hãy để những lời ấy đi qua trái tim. Đừng chỉ cử hành hoặc tham dự thánh lễ như một phần của thời khóa biểu. Hãy nhớ rằng mỗi thánh lễ là một cuộc gặp gỡ với hy tế tình yêu của Đức Kitô, Đấng đã chết và sống lại vì chúng ta.
Xin hãy trở về cộng đoàn với một ánh mắt mới. Đừng chỉ nhìn anh chị em qua những khuyết điểm đã quen thuộc. Hãy nhớ rằng mỗi người đang mang một lịch sử mà mình không biết hết. Có những nỗi đau người khác chưa từng kể. Có những cuộc chiến nội tâm không ai nhìn thấy. Có những giọt nước mắt chỉ rơi xuống khi căn phòng đã đóng cửa. Có những người bề ngoài rất mạnh mẽ nhưng bên trong đang kiệt sức. Có những người khó tính không phải vì họ không có trái tim, nhưng có thể vì họ đang mang những vết thương chưa được chữa lành. Điều ấy không xóa bỏ trách nhiệm của mỗi người đối với hành vi của mình, nhưng mời gọi chúng ta bớt vội vàng trong việc kết án.
Xin hãy trở về với công việc trong tinh thần tự do hơn. Hãy làm hết lòng những gì được trao phó, nhưng đừng đồng hóa giá trị bản thân với kết quả công việc. Hãy vui khi được phục vụ, nhưng cũng học bình an khi người khác được trao cơ hội. Hãy nhiệt thành, nhưng đừng để sự nhiệt thành trở thành lý do bỏ quên đời sống cầu nguyện hoặc làm tổn thương người khác. Hãy yêu sứ vụ, nhưng đừng quên rằng Đấng sai chúng ta đi còn quan trọng hơn công việc chúng ta thực hiện.
Xin hãy chăm sóc những người già yếu bằng tình yêu cụ thể. Đừng chỉ cầu nguyện cho các anh chị em đã qua đời mà quên những người đang sống những năm tháng cuối cùng. Đừng chỉ nhớ đến công lao của họ trong những dịp kỷ niệm, nhưng hãy dành thời gian hiện diện với họ. Một cuộc thăm viếng, một bữa ăn chung, một câu hỏi chân thành, một bàn tay nắm lấy bàn tay đang run rẩy có thể trở thành dấu chỉ của lòng thương xót Chúa.
Xin hãy tập hòa giải khi còn có thể. Có thể chúng ta chưa đủ sức giải quyết tất cả những xung đột trong một ngày. Có thể một số tương quan cần nhiều thời gian và sự giúp đỡ để chữa lành. Nhưng ít nhất, chúng ta có thể xin Chúa giải thoát mình khỏi ý muốn làm tổn thương người khác. Có thể bắt đầu bằng một lời cầu nguyện cho người mình đang giận. Có thể bắt đầu bằng quyết định không tiếp tục lan truyền những lời nói xấu. Có thể bắt đầu bằng việc thành thật nhận ra phần trách nhiệm của mình. Có thể bắt đầu bằng một lời xin lỗi khi điều ấy thích hợp và an toàn.
Và xin hãy sống với lòng biết ơn. Biết ơn vì mình còn được sống. Biết ơn vì vẫn còn cơ hội cầu nguyện. Biết ơn vì vẫn còn những người cùng bước đi. Biết ơn vì Chúa chưa ngừng kiên nhẫn với mình. Biết ơn vì ngay cả những năm tháng khó khăn cũng có thể trở thành nơi ân sủng hoạt động. Biết ơn vì những người đã đi trước, những người đã trao lại cho mình đức tin, truyền thống, linh đạo và những giá trị của đời thánh hiến.
Đừng đợi đến lúc nằm xuống mới để người khác nhận ra mình đã từng có một trái tim biết yêu. Đừng đợi đến ngày tang lễ mới để những lời tốt đẹp được nói ra. Đừng đợi đến tuổi già mới bắt đầu sống hiền hòa. Đừng đợi đến khi sức khỏe suy giảm mới học biết điều gì thật sự quan trọng.
Hãy sống sao để khi còn hiện diện, chúng ta đã là một ơn lành cho những người chung quanh. Không cần phải là một ơn lành lớn lao, nổi bật hay được nhiều người biết đến. Chỉ cần là một sự hiện diện có thể đem lại bình an. Một lời nói có thể nâng đỡ. Một thái độ có thể chữa lành. Một bàn tay biết giúp đỡ. Một trái tim biết cầu nguyện. Một con người mà khi ở gần, người khác không cảm thấy bị xét đoán, nhưng cảm thấy được tôn trọng và được khích lệ bước đến gần Chúa hơn.
Đó là một cách rất đẹp để chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ cuối cùng.
KẾT LUẬN: KHI CHIẾC ÁO DÒNG ĐƯỢC CẤT ĐI, XIN CHO TÌNH YÊU VẪN CÒN Ở LẠI
Kính thưa cộng đoàn rất thân mến trong Chúa Kitô.
Rồi một ngày nào đó, tất cả chúng ta sẽ phải rời khỏi cuộc đời này. Người đi trước. Người đi sau. Người được chuẩn bị lâu dài. Người ra đi bất ngờ. Người được nhiều người tiễn đưa. Người ra đi trong âm thầm. Không ai biết mình sẽ thuộc về trường hợp nào. Nhưng tất cả chúng ta đều biết rằng cuộc đời dương thế không kéo dài mãi mãi.
Một ngày nào đó, tiếng chuông nhà nguyện sẽ vang lên mà chúng ta không còn có thể bước đến. Một ngày nào đó, cộng đoàn sẽ dùng bữa mà chỗ ngồi của chúng ta vắng người. Một ngày nào đó, những người anh em sẽ nhắc lại tên chúng ta trong một cuộc trò chuyện. Một ngày nào đó, có thể sẽ có người mở lại một cuốn sách chúng ta từng đọc, nhìn thấy những dòng ghi chú cũ và chợt nhớ đến chúng ta. Một ngày nào đó, một người trẻ có thể hỏi: “Người ấy ngày xưa sống như thế nào?”
Chúng ta không thể kiểm soát tất cả những điều người khác sẽ nhớ về mình. Và cũng không cần phải sống chỉ để tạo ra một hình ảnh đẹp trong ký ức của họ. Nhưng chúng ta có thể lựa chọn cách sống hôm nay. Chúng ta có thể chọn trung thành thay vì buông xuôi. Chọn khiêm nhường thay vì kiêu ngạo. Chọn tha thứ thay vì nuôi dưỡng oán giận. Chọn cầu nguyện thay vì chỉ hoạt động. Chọn phục vụ thay vì tìm kiếm quyền lực. Chọn chân thành thay vì xây dựng vỏ bọc. Chọn yêu thương thay vì sống khép kín. Chọn Đức Kitô thay vì chính mình.
Có thể chúng ta sẽ không để lại một công trình lớn. Có thể chúng ta sẽ không được nhiều người biết đến. Có thể sau một thời gian, tên tuổi chúng ta chỉ còn được nhắc đến trong danh sách những thành viên đã qua đời. Nhưng điều ấy không làm cho một đời tận hiến chân thành trở nên vô nghĩa. Bởi vì giá trị sâu xa nhất của đời sống chúng ta không nằm ở mức độ được thế gian ghi nhớ, nhưng ở tình yêu của Thiên Chúa và ở cách chúng ta đã đáp lại tình yêu ấy.
Đời thánh hiến bắt đầu bằng một tiếng gọi. Được nuôi dưỡng bằng ân sủng. Được thử luyện qua những vui buồn. Được thanh luyện qua những mất mát. Và hướng về cuộc gặp gỡ viên mãn với Đức Kitô.
Ước gì khi tháng Mười Một năm 2026 khép lại, chúng ta không chỉ có thêm những lời kinh cầu cho các linh hồn, nhưng còn có một trái tim được đổi mới. Ước gì chúng ta biết nghĩ đến cái chết mà không đánh mất niềm vui sống. Biết nhìn về vĩnh cửu mà vẫn hết lòng yêu thương hiện tại. Biết cầu nguyện cho người đã khuất mà không quên chăm sóc người đang sống. Biết nhớ đến giờ cuối cùng mà không bỏ phí ngày hôm nay.
Và ước gì mỗi tối, trước khi đi ngủ, chúng ta có thể bình an thưa với Chúa: “Lạy Chúa, nếu đêm nay là đêm cuối cùng của đời con, con xin phó thác. Nhưng nếu ngày mai Chúa còn cho con thức dậy, xin giúp con sống ngày ấy tốt hơn hôm nay, yêu Chúa nhiều hơn hôm nay và yêu anh chị em chân thành hơn hôm nay.”
Bởi vì cuối cùng, điều chúng ta mong đợi không phải là được người đời nói rằng mình đã thành công, nhưng là được sống trong niềm vui của Chúa, Đấng đã yêu thương và gọi chúng ta từ thuở ban đầu.
Một ngày nào đó, chiếc áo dòng của chúng ta sẽ được cất đi. Nhưng xin cho tình yêu mà chiếc áo dòng ấy từng diễn tả không trở thành một điều giả dối. Một ngày nào đó, tiếng nói của chúng ta sẽ im lặng. Nhưng xin cho những lời chúng ta đã nói vẫn còn để lại sự nâng đỡ và bình an. Một ngày nào đó, đôi tay chúng ta sẽ không còn làm việc. Nhưng xin cho những việc đôi tay ấy đã thực hiện vì tình yêu tiếp tục sinh hoa trái. Một ngày nào đó, đôi chân chúng ta sẽ dừng lại. Nhưng xin cho con đường chúng ta đã đi trở thành một chứng tá khiêm nhường về lòng trung thành. Và một ngày nào đó, khi chúng ta không còn gì để giữ lại, xin cho chúng ta vẫn còn một điều quý giá nhất: được thuộc về Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chết và sống lại để chúng ta được sống muôn đời.
LỜI NGUYỆN KẾT THÚC BUỔI TĨNH TÂM
Lạy Chúa Giêsu Kitô, Đấng là sự sống lại và là sự sống, trong thinh lặng của tháng Mười Một này, chúng con đến trước mặt Chúa với tất cả những gì là thật nhất của cuộc đời mình. Chúng con không muốn che giấu những yếu đuối, cũng không muốn dùng những thành công bên ngoài để biện minh cho một trái tim còn nhiều thiếu sót. Chúng con chỉ muốn đứng trước Chúa như những người đã từng nghe tiếng Chúa gọi, đã từng xúc động vì tình yêu của Chúa, đã từng can đảm bỏ lại nhiều điều để bước theo Chúa, nhưng trên hành trình dài của đời tận hiến, đã không ít lần mệt mỏi, sa ngã, nguội lạnh và quên mất điều quan trọng nhất.
Lạy Chúa, xin tha thứ cho chúng con vì đã có những ngày sống trong nhà Chúa mà lòng lại xa Chúa. Có những lần chúng con đọc kinh nhưng tâm trí không ở bên Chúa. Có những lần chúng con cử hành hoặc tham dự thánh lễ mà trái tim thiếu sự chuẩn bị. Có những lần chúng con nói rất nhiều về tình yêu nhưng lại không đủ kiên nhẫn với người anh em. Có những lần chúng con giảng về lòng thương xót nhưng lại xét đoán quá nghiêm khắc. Có những lần chúng con tự hào về sự hy sinh của mình nhưng lại quên rằng tất cả đều là ân sủng.
Lạy Chúa, xin tha thứ vì những lời nói đã làm người khác đau lòng. Vì những sự im lặng thiếu tình thương. Vì những lần chúng con ngoảnh mặt trước nỗi cô đơn của một người anh em. Vì những khi chúng con đặt thể diện của mình cao hơn sự hiệp nhất. Vì những lần chúng con vui khi người khác thất bại hoặc buồn khi người khác được tín nhiệm. Vì những lần chúng con đã làm cho đời sống cộng đoàn trở nên nặng nề bằng sự nóng giận, tự ái và thiếu cảm thông.
Xin Chúa thương chữa lành những vết thương mà chúng con đang mang trong lòng. Có những vết thương đã kéo dài nhiều năm. Có những điều chúng con chưa đủ can đảm để nói ra. Có những ký ức khiến chúng con đau mỗi khi nhớ lại. Có những tương quan chưa được hòa giải. Có những nỗi buồn mà chúng con đã cố che giấu sau nụ cười. Xin Chúa đừng để những vết thương ấy làm trái tim chúng con khô cằn. Xin ban cho chúng con ánh sáng để nhận ra sự thật, lòng can đảm để tìm kiếm sự chữa lành và sự khiêm nhường để đón nhận sự giúp đỡ cần thiết.
Lạy Chúa, xin thương những anh chị em cao tuổi trong các cộng đoàn của chúng con. Những người đã dâng tuổi trẻ, sức khỏe và khả năng cho Chúa, nay đang đi vào những năm tháng cuối đời. Xin cho họ cảm nhận rằng mình vẫn được yêu thương, vẫn có một chỗ đứng quý giá trong gia đình tu trì, vẫn được Chúa nâng đỡ mỗi ngày. Xin cho những ai đang đau bệnh được chăm sóc chu đáo, được giảm bớt đau đớn, được an ủi trong cô đơn và được nâng đỡ bằng tình huynh đệ chân thành.
Xin Chúa cũng thương những người trẻ đang bước vào đời tận hiến. Xin đừng để họ đánh mất vẻ đẹp của tiếng gọi ban đầu. Xin giữ họ khỏi cám dỗ tìm kiếm địa vị, danh tiếng hoặc một đời sống dễ dãi. Xin giúp họ yêu mến đời sống cầu nguyện, biết quý trọng cộng đoàn, sống chân thành với chính mình và kiên trì bước theo Đức Kitô ngay cả khi con đường trở nên khó khăn.
Lạy Chúa, trong tháng các linh hồn này, chúng con đặc biệt cầu nguyện cho các linh mục, tu sĩ, chủng sinh, các bề trên, những nhà đào tạo, các ân nhân, thân nhân và tất cả những người đã ra đi trước chúng con. Xin nhớ đến những người đã từng hướng dẫn chúng con trong đời sống đức tin. Những người đã dạy chúng con cầu nguyện. Những người đã trao cho chúng con những bài học đầu tiên về đời tận hiến. Những người đã âm thầm nâng đỡ chúng con trong những lúc yếu đuối. Xin Chúa thương đón nhận họ vào ánh sáng và bình an của Ngài, thanh luyện những gì còn cần được thanh luyện, và cho họ được hưởng niềm vui viên mãn bên Chúa.
Xin nhớ đến cả những người đã qua đời mà không còn ai nhắc tên, những linh hồn không còn người thân cầu nguyện, những người đã chết trong cảnh nghèo khó, cô đơn hoặc đau đớn. Xin cho lời cầu nguyện nhỏ bé của chúng con được kết hợp với lời chuyển cầu của toàn thể Hội Thánh, để trở thành một hành vi yêu thương trong mầu nhiệm các thánh thông công.
Lạy Chúa, chúng con cũng xin phó thác giờ chết của chính mình. Chúng con không biết ngày ấy sẽ đến khi nào, ở đâu và trong hoàn cảnh nào. Chúng con không biết mình sẽ còn được sống bao nhiêu năm, bao nhiêu tháng, bao nhiêu ngày. Nhưng chúng con biết rằng Chúa là Đấng trung tín. Chúa đã yêu thương chúng con trước khi chúng con biết yêu Chúa. Chúa đã gọi chúng con khi chúng con còn đầy yếu đuối. Chúa đã kiên nhẫn với chúng con qua bao lần vấp ngã. Và chúng con tin rằng Chúa sẽ không ngừng yêu thương chúng con trong cuộc hành trình cuối cùng.
Xin cho chúng con đừng sợ sự thật về thân phận mong manh của mình. Xin cho chúng con biết sống từng ngày như một ân huệ. Xin cho chúng con đừng phí phạm thời gian vào những chuyện hơn thua vô ích. Xin cho chúng con biết nói lời xin lỗi khi còn có thể, biết cảm ơn khi còn có cơ hội, biết tha thứ khi trái tim còn đang được Chúa mời gọi, và biết yêu thương trước khi mọi điều trở nên quá muộn.
Xin cho chúng con có một đời sống chân thành hơn là một hình ảnh đẹp đẽ. Có một trái tim khiêm nhường hơn là một danh tiếng lớn lao. Có một tình yêu bền bỉ hơn là những cảm xúc chóng qua. Có một sự trung thành âm thầm hơn là những thành công rực rỡ. Có một tâm hồn thuộc về Chúa hơn là một cuộc đời chỉ bận rộn với những công việc mang danh Chúa.
Và lạy Chúa, khi giờ cuối cùng đến, khi đôi mắt chúng con không còn nhìn rõ những khuôn mặt thân quen, khi đôi tay không còn đủ sức nắm giữ, khi tiếng nói chỉ còn là một hơi thở yếu ớt, xin cho tâm hồn chúng con vẫn có thể thưa với Chúa lời cầu nguyện đơn sơ nhất:
Lạy Chúa, con xin trao lại tất cả.
Con trao lại tuổi trẻ đã qua.
Con trao lại những năm tháng tận hiến.
Con trao lại những niềm vui và nước mắt.
Con trao lại những thành công và thất bại.
Con trao lại những điều đã hoàn thành và những điều còn dang dở.
Con trao lại những người con yêu thương.
Con trao lại cộng đoàn mà Chúa đã cho con thuộc về.
Con trao lại cả những lỗi lầm mà con đã thống hối nhưng vẫn còn day dứt.
Con trao lại những vết thương chưa hoàn toàn được chữa lành.
Con trao lại tất cả những gì con đã nhận từ Chúa và tất cả những gì con đã cố gắng dâng lên Ngài.
Con không xin được giữ lại điều gì ngoài tình yêu của Chúa.
Con không xin được người đời nhớ đến mãi mãi.
Con chỉ xin Chúa đừng để con lìa xa Ngài.
Xin Chúa là nơi nghỉ ngơi cuối cùng của con.
Xin Chúa là ánh sáng khi đôi mắt con khép lại.
Xin Chúa là bình an khi những âm thanh của thế gian lặng xuống.
Xin Chúa là niềm hy vọng khi mọi sự thuộc về cuộc sống này đi đến hồi kết.
Và xin Chúa là sự sống đời đời của con.
Lạy Đức Maria, Mẹ Hằng Cứu Giúp, Mẹ đã đứng dưới chân thập giá và đã sống niềm hy vọng giữa những đau thương sâu thẳm nhất. Xin Mẹ đồng hành với chúng con trên con đường đời tận hiến. Xin dạy chúng con biết sống khiêm nhường, cầu nguyện, trung tín và phó thác. Xin Mẹ ở bên những anh chị em đang đau bệnh, an ủi những người đang cô đơn, nâng đỡ những người đang trải qua khủng hoảng ơn gọi và cầu bầu cho chúng con trong giờ lâm tử.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho tháng Mười Một này không trôi qua như bao tháng Mười Một khác. Xin cho chúng con trở về sau kỳ tĩnh tâm với một trái tim mới. Biết yêu Chúa hơn. Biết thương anh chị em hơn. Biết sống đơn sơ hơn. Biết buông bỏ nhiều hơn. Biết cầu nguyện sâu hơn. Và biết chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ cuối cùng bằng một đời sống yêu thương ngay từ hôm nay.
Để khi giờ ấy thực sự đến, chúng con không phải chỉ mang theo những lời khấn đã từng tuyên đọc, nhưng còn mang theo một cuộc đời đã cố gắng sống những lời khấn ấy trong ân sủng và lòng thương xót của Chúa.
Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết sống sao cho khi phải chết, chúng con không hối tiếc vì đã yêu thương quá ít. Xin dạy chúng con biết chết đi mỗi ngày cho tính ích kỷ, để sự sống của Chúa ngày càng lớn lên trong chúng con. Và xin cho khi hành trình dương thế khép lại, chúng con được gặp Đấng mà suốt cuộc đời tận hiến, chúng con đã tìm kiếm, yêu mến và cố gắng bước theo. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.



