Kỹ năng sống

TỪ BỎ CHÍNH MÌNH ĐỂ THANH THẢN THEO CHÚA Một tác phẩm suy niệm dài về con đường buông bỏ của người Kitô hữu – Lm. Anmai, CSsR

TỪ BỎ CHÍNH MÌNH ĐỂ THANH THẢN THEO CHÚA
Một tác phẩm suy niệm dài về con đường buông bỏ của người Kitô hữu

Có những lúc con người ta tưởng rằng hạnh phúc nằm ở chỗ nắm cho thật chặt. Nắm lấy người mình yêu, nắm lấy điều mình thích, nắm lấy danh dự của mình, nắm lấy quan điểm của mình, nắm lấy thành công của mình, nắm lấy cả những nỗi đau của mình như thể nếu buông ra thì mình sẽ không còn là mình nữa. Người đời lớn lên giữa vô vàn nỗi sợ nên tự nhiên học cách bám víu. Sợ mất tình yêu nên bám. Sợ thua kém nên bám. Sợ bị quên lãng nên bám. Sợ nghèo nên bám. Sợ cô đơn nên bám. Sợ bị tổn thương lần nữa nên bám. Cứ thế, cả một đời người trở thành một hành trình nắm giữ không ngừng. Tay thì nắm, lòng thì gồng, mắt thì căng, tim thì mệt. Người ta sống như thể chỉ cần thả lỏng một chút thôi là mọi sự sẽ sụp đổ.

Nhưng lạ thay, càng lớn, càng đi qua nhiều đoạn đường của đời sống, con người lại càng thấy một sự thật âm thầm mà nhức nhối: chính những điều mình cố nắm chặt nhất nhiều khi lại làm mình mất bình an nhiều nhất. Có những người giữ tiền mà mất ngủ. Có những người giữ danh mà sống hồi hộp. Có những người giữ cái tôi mà đánh mất gia đình. Có những người giữ sự tự ái mà bỏ lỡ những cuộc hòa giải đẹp nhất đời mình. Có những người giữ những vết thương cũ như giữ một chứng cứ để biện hộ cho mình, nhưng càng giữ càng đau, càng ôm càng nặng, càng nhớ càng cạn sức sống. Đến một lúc nào đó, khi đêm xuống, khi lòng người lắng lại, người ta mới thấy mình chẳng thanh thản như mình tưởng. Bên ngoài có thể đủ đầy, nhưng bên trong thì ngổn ngang. Bên ngoài có thể mỉm cười, nhưng bên trong lại chưa bao giờ thực sự nghỉ ngơi.

Ở giữa thế giới ấy, Chúa Giêsu đến và nói một lời vừa đẹp vừa khó, vừa giải thoát vừa làm người ta chùn bước: “Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.” Lời ấy không vuốt ve cái tôi của con người. Lời ấy không hứa một thứ hạnh phúc rẻ tiền. Lời ấy không chiều theo bản năng tự nhiên thích giữ, thích hơn, thích thắng, thích được phục vụ, thích được hiểu, thích được tôn trọng của con người. Lời ấy đi thẳng vào tận gốc của đời sống thiêng liêng: muốn theo Chúa thì phải từ bỏ chính mình.

Chính mình. Không phải chỉ từ bỏ một vài thứ bên ngoài. Không phải chỉ là bỏ một thú vui nào đó, bỏ một thói quen nào đó, bỏ một vài giờ hưởng thụ nào đó. Nhưng là từ bỏ chính mình. Từ bỏ cái tôi luôn đòi đứng ở trung tâm. Từ bỏ cái ý riêng luôn muốn mọi chuyện xảy ra theo ý mình. Từ bỏ sự kiêu hãnh luôn muốn mình đúng. Từ bỏ thói quen đòi người khác phải đối xử với mình theo khuôn mình muốn. Từ bỏ lòng tham vi tế muốn gom về cho mình nhiều hơn. Từ bỏ cơn đói được khen, được nhìn nhận, được ngưỡng mộ. Từ bỏ nhu cầu phải kiểm soát. Từ bỏ cả việc cứ mãi ôm lấy mình, nghĩ về mình, bênh mình, thương mình theo cách khiến mình xa Chúa và xa tha nhân.

Nghe như thế, nhiều người sợ. Bởi con người thường tưởng rằng từ bỏ là mất. Từ bỏ là thiệt. Từ bỏ là bị lấy đi. Từ bỏ là bị chèn ép. Từ bỏ là sống buồn. Từ bỏ là không còn niềm vui. Nhưng Tin Mừng lại cho thấy một nghịch lý kỳ diệu: người nào càng biết buông bỏ vì Chúa, người đó càng nhẹ. Càng nhẹ thì càng tự do. Càng tự do thì càng bình an. Càng bình an thì càng hạnh phúc. Hạnh phúc của người Kitô hữu không sinh ra từ việc sở hữu thật nhiều, nhưng từ việc thuộc trọn về Chúa. Và khi một con người bắt đầu thuộc về Chúa, họ sẽ dần nhận ra rằng những thứ mình từng tưởng không thể thiếu thật ra không phải là nguồn sống của mình. Nguồn sống của mình là Thiên Chúa. Nguồn bình an của mình là Thiên Chúa. Nguồn căn tính sâu nhất của mình là Thiên Chúa. Nguồn hạnh phúc thật của mình là Thiên Chúa.

Có những người cả đời đi tìm thanh thản mà không biết thanh thản không đến từ việc mọi chuyện đều theo ý mình. Thanh thản cũng không đến từ việc mình giải quyết xong hết mọi vấn đề. Thanh thản không đến từ việc ai cũng hiểu mình. Thanh thản không đến từ việc mình giữ được tất cả. Thanh thản đến từ chỗ mình đặt đời mình vào tay Chúa và chấp nhận rằng mình không phải là trung tâm của vũ trụ này. Có một sự nghỉ ngơi rất sâu chỉ xuất hiện khi con người thôi tự đóng vai cứu tinh cho chính đời mình. Có một sự bình an rất lạ chỉ nảy sinh khi mình không còn gồng lên để giữ mọi thứ trong tầm kiểm soát nữa. Có một niềm vui rất sạch chỉ xuất hiện khi mình không còn sống để chứng minh giá trị của mình với người đời, nhưng chỉ sống để làm đẹp lòng Chúa.

Người Kitô hữu trưởng thành không phải là người không còn đau, không còn mất mát, không còn thử thách. Nhưng là người ngay giữa đau đớn vẫn biết buông mình cho Chúa. Ngay giữa hiểu lầm vẫn không nhất thiết phải thắng. Ngay giữa thiếu thốn vẫn không đánh mất lòng tín thác. Ngay giữa bị đối xử bất công vẫn không để hận thù làm chủ tâm hồn. Ngay giữa những va chạm trong gia đình, trong cộng đoàn, trong đời sống thường ngày, vẫn học được bài học khó nhất: không phải lúc nào mình cũng phải hơn, không phải lúc nào mình cũng phải được chiều, không phải lúc nào mình cũng phải giữ bằng được điều mình muốn.

Từ bỏ chính mình không phải là ghét bỏ bản thân. Cũng không phải là chà đạp phẩm giá mình. Lại càng không phải là để người khác muốn làm gì mình thì làm. Từ bỏ chính mình là đặt cái tôi sai lệch xuống để con người thật trong Chúa được lớn lên. Từ bỏ chính mình là để Chúa thanh tẩy nơi ta những gì ích kỷ, cứng cỏi, tự tôn, giả tạo, kiểm soát, nặng tính chiếm hữu. Từ bỏ chính mình là thôi sống theo xác thịt để bắt đầu sống theo Thần Khí. Từ bỏ chính mình là không còn coi ý riêng là luật tuyệt đối. Từ bỏ chính mình là biết nói với Chúa câu này bằng cả đời sống: xin đừng theo ý con, một xin theo ý Chúa.

Câu nói ấy nghe thì đạo đức, nhưng sống thì đau. Đau bởi vì ý riêng của con người bám rất chặt. Có khi ta tưởng mình sống đạo lắm rồi, cầu nguyện lắm rồi, phục vụ lắm rồi, nhưng chỉ cần một chuyện không vừa ý xảy ra là sự bám víu của cái tôi lộ ra ngay. Chỉ cần bị góp ý một chút là tự ái nổi lên. Chỉ cần công sức mình không được nhìn nhận là buồn giận. Chỉ cần người khác được ưu ái hơn là lòng so đo bắt đầu cựa quậy. Chỉ cần lời mình không được nghe theo là thấy khó chịu. Chỉ cần mất một chút quyền, một chút vai trò, một chút tiếng nói là lòng mình đã xáo trộn. Lúc ấy mình mới biết mình còn nắm mình ghê gớm đến mức nào.

Chúa không kết án sự yếu đuối ấy của con người, nhưng Chúa không để con người ở mãi trong đó. Chúa yêu con người quá nên Chúa không muốn con người sống cả đời trong nhà tù của cái tôi. Vì thế, hành trình theo Chúa bao giờ cũng là hành trình bị bứng khỏi trung tâm. Có khi Chúa dùng những điều trái ý. Có khi Chúa dùng những lần thất bại. Có khi Chúa dùng những cuộc chia tay. Có khi Chúa dùng bệnh tật. Có khi Chúa dùng những con người rất khó chịu bên cạnh ta. Có khi Chúa dùng sự im lặng kéo dài. Có khi Chúa dùng những ngày cầu nguyện không cảm xúc. Có khi Chúa dùng những cánh cửa đóng lại. Có khi Chúa để ta trải qua cảm giác bất lực để ta thôi nghĩ rằng mình tự làm được mọi sự.

Rất nhiều người chỉ thật sự bắt đầu nên thánh từ lúc bị bẻ gãy ở chỗ mình tưởng mình mạnh nhất. Có người nghĩ mình giỏi, đến khi thất bại mới học được khiêm nhường. Có người nghĩ mình yêu nhiều, đến khi bị từ chối mới biết tình yêu của mình còn lẫn chiếm hữu. Có người nghĩ mình đạo đức, đến khi bị hiểu lầm mới biết mình vẫn còn đói khát danh dự. Có người nghĩ mình phó thác, đến khi mất một điều quý giá mới biết mình vẫn chưa trao điều đó thật cho Chúa. Đời sống thiêng liêng không lớn lên trong những câu nói đẹp, nhưng trong những lần mình đau thật, khó thật, mà vẫn chọn buông mình vào tay Chúa.

Càng buông bỏ càng hạnh phúc. Câu ấy không phải khẩu hiệu dễ thương để treo lên đâu đó cho đẹp. Câu ấy là một chân lý có giá phải trả. Bởi buông bỏ không hề dễ. Buông bỏ ý kiến của mình khi mình nghĩ mình đúng, rất khó. Buông bỏ nhu cầu được hiểu khi người khác đang hiểu sai mình, rất khó. Buông bỏ cơn giận khi mình có đủ lý do để giận, rất khó. Buông bỏ một tương lai mình đã vẽ ra rất đẹp để đón nhận con đường Chúa mở, rất khó. Buông bỏ một mối tương quan mà mình biết không dẫn tới ơn cứu độ, rất khó. Buông bỏ sự nghiện ngập lời khen, nghiện vai trò, nghiện thành công, nghiện kiểm soát, rất khó. Buông bỏ hình ảnh mình muốn người khác nhìn thấy, rất khó. Buông bỏ cả những tiếc nuối, những câu hỏi không có lời giải, những vết thương cũ, những “giá như”, rất khó.

Nhưng càng khó, càng đáng sống. Vì sau mỗi lần buông bỏ đúng nghĩa, lòng người nhẹ đi một chút. Nhẹ khỏi cái gì? Nhẹ khỏi gánh nặng phải chứng minh mình. Nhẹ khỏi gánh nặng phải nắm mọi thứ. Nhẹ khỏi cơn nghiện được công nhận. Nhẹ khỏi nỗi ám ảnh mình phải luôn thắng. Nhẹ khỏi cơn đói phải được yêu đúng như mình muốn. Nhẹ khỏi nỗi cay đắng khi đời không theo kịch bản mình viết. Nhẹ khỏi thói quen đọc mọi sự qua lăng kính cái tôi. Và khi lòng nhẹ dần, Chúa bắt đầu có chỗ để ở. Một tâm hồn đầy chật cái tôi thì rất khó nghe được tiếng Chúa. Một trái tim lúc nào cũng ồn bởi những đòi hỏi bên trong thì rất khó nếm được sự bình an của Nước Trời.

Có những người sống nghèo mà bình an hơn người dư dả. Có những người bị quên lãng ngoài xã hội mà lòng sáng hơn những người nổi tiếng. Có những người phục vụ âm thầm mà vui hơn những người suốt ngày được ngợi khen. Có những bà mẹ hy sinh cả đời trong lặng lẽ mà đêm ngủ rất sâu vì lòng không còn đòi cho riêng mình nữa. Có những linh mục, tu sĩ, giáo dân chẳng có gì nổi bật trước mắt người đời, nhưng đi đến đâu cũng mang theo một sự hiền lành khiến người khác thấy dịu lòng. Vì sao? Vì họ đã học buông bỏ. Họ không còn đặt mình ở trung tâm nữa. Họ không còn sống với tâm thế mọi người phải xoay quanh mình nữa. Họ biết lùi để Chúa tiến lên. Họ biết im để Chúa nói. Họ biết mất một chút để người khác được sống. Họ biết chịu thiệt một chút để tình yêu được giữ lại. Họ biết bỏ đi cái hơn thua để bình an ở lại trong nhà.

Nhiều gia đình không hạnh phúc không phải vì thiếu tiền, mà vì quá nhiều cái tôi. Chồng giữ cái tôi của chồng. Vợ giữ cái tôi của vợ. Con giữ cái tôi của con. Ai cũng muốn được hiểu trước. Ai cũng muốn người kia xuống nước trước. Ai cũng muốn lời mình là lời cuối cùng. Ai cũng muốn đúng. Ai cũng muốn được ưu tiên. Thế là một mái nhà trở thành nơi nhiều cái tôi va vào nhau đến mệt mỏi. Chỉ cần một người bắt đầu từ bỏ chính mình theo Tin Mừng, không khí đã khác. Một người biết im đi đúng lúc. Một người biết xin lỗi trước. Một người biết không khơi lại lỗi cũ. Một người biết bỏ nhu cầu phải thắng tranh cãi. Một người biết chọn tình yêu hơn lý lẽ. Một người biết nhường một bước để giữ gia đình. Một người biết cầu nguyện thay vì chỉ trách móc. Những từ bỏ nhỏ bé ấy không ồn ào, nhưng chính chúng cứu nhiều mái ấm.

Trong đời sống cộng đoàn cũng vậy. Biết bao vết rạn không đến từ chuyện lớn, mà từ những cái tôi không được thánh hóa. Người này buồn vì không được hỏi ý. Người kia khó chịu vì không được ghi nhận. Người nọ tổn thương vì mình không còn ở vị trí cũ. Người khác khó chịu vì người kia làm khác ý mình. Nếu ai cũng sống bằng bản năng tự vệ, cộng đoàn sẽ nhanh chóng trở thành nơi lạnh lẽo. Nhưng nếu có những con người biết từ bỏ chính mình vì Chúa, cộng đoàn sẽ thành nơi chữa lành. Người biết từ bỏ chính mình không phải là người không có cá tính, nhưng là người không để cá tính của mình làm đứt gãy tình hiệp thông. Người ấy có thể góp ý mà không kiêu. Có thể chịu lép mà không cay. Có thể làm nhiều mà không kể công. Có thể bị quên mà không tối sầm lại. Có thể lùi xuống mà lòng vẫn sáng.

Trong đời cầu nguyện, buông bỏ lại càng là điều cốt lõi. Nhiều người đến với Chúa nhưng vẫn mang tâm thế muốn Chúa phục vụ kế hoạch của mình. Con cầu nguyện để Chúa làm điều con muốn. Con giữ đạo để Chúa ban điều con chờ. Con đi lễ, đọc kinh, làm việc lành, nhưng sâu thẳm vẫn là để đổi lấy một kịch bản đời sống thuận lợi hơn. Thế nên khi Chúa im lặng, họ khựng lại. Khi Chúa không trả lời theo cách họ mong, họ buồn. Khi biến cố xảy ra trái hẳn điều họ xin, họ hụt hẫng. Nhưng trưởng thành trong đức tin là đi từ chỗ dùng Chúa để bảo vệ ý mình sang chỗ để Chúa bẻ ý mình ra theo ý Người. Cầu nguyện sâu không phải là bắt Chúa nghe con, mà là để con nghe Chúa. Cầu nguyện thật không phải là thao túng trời cao, mà là để trái tim mình được đổi hướng. Cầu nguyện sâu dần sẽ dẫn người ta đến một câu rất ngắn mà rất thánh: lạy Chúa, con thuộc về Chúa, xin làm nơi con điều đẹp ý Ngài.

Thật ra, con người chỉ thanh thản khi biết mình thuộc về ai. Nếu ta thuộc về lời khen, ta sẽ lo khi không còn được khen. Nếu ta thuộc về thành công, ta sẽ sụp khi thất bại. Nếu ta thuộc về một người, ta sẽ bất an khủng khiếp khi người ấy thay đổi. Nếu ta thuộc về tiền bạc, ta sẽ mất ngủ khi kinh tế chao đảo. Nếu ta thuộc về cái tôi, ta sẽ liên tục phải bảo vệ mình trước mọi va chạm nhỏ bé của đời. Nhưng nếu ta thuộc về Chúa, ta bắt đầu có một nền đá dưới chân. Không phải vì từ nay cuộc đời không còn sóng gió, nhưng vì ta không còn phải đặt căn tính của mình trên những điều chóng qua nữa. Người thuộc về Chúa có thể đau, nhưng không tuyệt vọng. Có thể mất, nhưng không tan. Có thể bị hiểu lầm, nhưng không bị nghiền nát. Có thể đi qua đêm tối, nhưng sâu thẳm vẫn biết ai đang cầm tay mình.

Có lẽ một trong những nỗi khổ lớn nhất của con người là cứ phải ôm lấy một phiên bản của mình mà mình muốn người khác công nhận. Mình muốn người khác thấy mình tốt. Thấy mình đáng quý. Thấy mình thành công. Thấy mình quan trọng. Thấy mình hy sinh. Thấy mình sâu sắc. Thấy mình đạo đức. Thế là cả đời mệt mỏi dựng nên một hình ảnh, rồi sợ hình ảnh ấy bị trầy xước. Chỉ cần ai đó không nhìn mình như mình muốn là đau. Chỉ cần ai đó không công nhận nỗ lực của mình là chao đảo. Chỉ cần ai đó đánh giá khác đi là mình khó chịu. Tâm hồn ấy sao thanh thản được. Thanh thản không thể ở chung với nhu cầu phô bày mình quá lớn. Chỉ khi nào con người chấp nhận sống thật trước mặt Chúa, chấp nhận nhỏ đi, chấp nhận mờ đi, chấp nhận bị lãng quên mà không đánh mất niềm vui, lúc ấy mới có sự tự do rất đẹp của con cái Thiên Chúa.

Thánh giá của người Kitô hữu nhiều khi không nằm ở những điều quá ghê gớm, mà nằm ở những từ bỏ hằng ngày. Từ bỏ một lời cay nghiệt sắp bật ra. Từ bỏ một tin nhắn muốn hơn thua. Từ bỏ một lần kể công. Từ bỏ một suy nghĩ tự tôn. Từ bỏ một sự tò mò vô ích. Từ bỏ một đòi hỏi được ưu tiên. Từ bỏ một ý muốn muốn kiểm soát người thân. Từ bỏ một cuộc nói xấu. Từ bỏ một cơn bực mình vô cớ. Từ bỏ một lối tiêu xài chiều theo lòng tham. Từ bỏ một giờ giải trí để dành thời gian cầu nguyện. Từ bỏ một ham muốn ích kỷ để phục vụ ai đó. Từ bỏ việc cứ mãi nghĩ mình là nạn nhân. Từ bỏ việc so sánh đời mình với đời người khác. Những hy sinh ấy nhìn nhỏ, nhưng làm nên hình hài của một đời môn đệ.

Nhiều người muốn bình an nhưng không muốn từ bỏ. Muốn thanh thản nhưng không muốn chết đi cho cái tôi. Muốn theo Chúa nhưng vẫn muốn giữ nguyên mọi đam mê lệch hướng. Muốn sống Tin Mừng nhưng vẫn muốn cái tôi được ngồi trên ngai. Điều ấy không thể. Không ai có thể vừa ôm chặt mình vừa theo Chúa đến cùng. Bởi Chúa không đi con đường của cái tôi. Chúa đi con đường tự hủy. Chúa là Con Thiên Chúa mà đã bỏ vinh quang để xuống làm người. Chúa có quyền mà đã chọn phục vụ. Chúa bị xúc phạm mà không lấy bạo lực đáp lại. Chúa bị từ chối mà vẫn yêu đến cùng. Chúa đi vào cái chết không phải như kẻ thất bại, mà như Đấng hiến mình. Ai muốn theo Chúa mà không chịu cho cái tôi bị đóng đinh thì chỉ đứng ngoài ngắm Chúa chứ chưa thực sự bước theo Người.

Thế nhưng đây lại là tin mừng lớn: mỗi lần cái tôi bị đóng đinh vì tình yêu, một sự sống mới sinh ra. Mỗi lần mình không nói lời ác dù có thể nói, lòng mình sáng hơn. Mỗi lần mình chọn tha thứ dù còn đau, tim mình rộng hơn. Mỗi lần mình nhường một bước vì Chúa, mình giống Chúa hơn. Mỗi lần mình dâng cho Chúa một kế hoạch dang dở, một ước mơ phải bỏ, một điều không thể giữ, mình bước vào tự do hơn. Mỗi lần mình chấp nhận không được nhìn nhận mà vẫn làm điều đúng, hạnh phúc của Nước Trời lớn dần trong lòng mình. Mỗi lần mình thôi làm trung tâm, Chúa trở thành trung tâm, và đó là lúc đời mình bắt đầu có trật tự.

Có người tưởng hạnh phúc là được làm điều mình thích. Nhưng người Kitô hữu dần khám phá ra một điều sâu hơn: hạnh phúc là được làm điều Chúa muốn, dù đôi khi không dễ. Bởi điều mình thích chưa chắc cứu mình. Điều mình thích chưa chắc làm mình lớn lên. Điều mình thích có thể rất ngọt lúc đầu nhưng để lại đổ vỡ sau này. Còn điều Chúa muốn có khi làm mình đi qua một mùa tỉa cành, nhưng sau đó trái ngọt rất sâu. Có những sự từ bỏ ban đầu giống như mất, nhưng về sau mới thấy đó là ơn cứu mình khỏi những ràng buộc âm thầm. Có những cánh cửa Chúa đóng lại làm mình khóc, nhưng nếu Chúa không đóng, mình đã đi lạc rất xa. Có những mối tương quan mình tiếc đứt ruột, nhưng chính khi buông được, mình mới biết Chúa đã giữ lòng mình khỏi một con đường không đưa đến bình an. Có những vai trò mình mất đi, nhưng chính khi không còn vai trò ấy, mình mới biết giá trị thật của mình không nằm ở đó.

Người biết buông bỏ thường hiền hơn. Vì họ không cần cắn chặt mọi thứ cho riêng mình nữa. Họ dễ cảm thông hơn, vì họ không còn quá bận bảo vệ cái tôi. Họ bớt phán xét hơn, vì họ biết chính mình cũng mong manh. Họ bớt ồn ào hơn, vì họ không còn phải quảng bá bản thân mãi. Họ có thể hiện diện rất dịu giữa đời, như một khoảng trời không khí lành cho người khác thở. Người ấy không phải không có đau khổ. Nhưng đau khổ không còn biến họ thành gai góc như trước, mà thành chiều sâu. Không phải họ không có nhu cầu. Nhưng nhu cầu không còn cầm lái cuộc đời họ. Không phải họ không có ước mơ. Nhưng ước mơ của họ đã đi qua bàn tay Chúa nên bớt tính chiếm hữu, bớt tính phô trương, bớt tính tự tôn.

Càng buông bỏ càng hạnh phúc, bởi hạnh phúc Kitô giáo không phải là cơn phấn khích do được thỏa mãn, mà là sự no đầy do được thuộc về. Thuộc về Chúa. Mà đã thuộc về Chúa thì không cần chiếm hữu quá nhiều. Không cần giữ mọi thứ quá chặt. Không cần khẳng định mình quá mạnh. Không cần được tất cả hiểu. Không cần lúc nào cũng thuận lợi. Trong lòng người ấy có một khoảng lặng mà thế gian không dễ lấy đi. Khoảng lặng ấy không tự nhiên mà có. Nó được trả giá bằng những lần khóc trong cầu nguyện. Bằng những lần cắn môi không nói lời làm đau thêm. Bằng những lần nuốt tự ái vào trong. Bằng những lần âm thầm làm điều đúng mà không ai biết. Bằng những lần quỳ xuống khi lòng rất bất phục. Bằng những lần nói với Chúa: con không hiểu, nhưng con xin tin. Con đau, nhưng con không bỏ Chúa. Con mất, nhưng con vẫn thuộc về Ngài.

Có một vẻ đẹp rất lớn nơi người không còn nắm mình quá chặt. Đó là vẻ đẹp của sự mềm. Người ấy không gồng nữa. Không phải vì yếu, nhưng vì đã tín thác. Không phải vì bất lực, nhưng vì biết quyền lực thật nằm nơi Chúa. Người ấy có thể sống rất bình thường: đi làm, chăm con, phục vụ giáo xứ, lo cơm áo, chiến đấu với bệnh tật, đi qua bao thử thách như bao người khác. Nhưng trong tâm hồn họ có một trật tự khác. Họ không tôn thờ chính mình. Họ không tôn thờ thành quả. Họ không tôn thờ cảm xúc. Họ không tôn thờ dư luận. Họ chỉ muốn trung thành. Và chính lòng trung thành nhỏ bé ấy làm nên một niềm vui bền bỉ.

Đôi khi, từ bỏ chính mình còn là từ bỏ việc cứ mãi quay quanh nỗi buồn của mình. Có những người không buông được quá khứ nên hiện tại luôn mờ tối. Họ cứ ôm một lời xúc phạm cũ, một lần bị phản bội cũ, một thất bại cũ, một tiếc nuối cũ. Họ lấy nỗi đau ấy làm tên gọi cho mình. Nhưng Chúa không muốn con cái Người sống như những kẻ bị quá khứ khóa lại. Theo Chúa là đi tới. Đi tới không có nghĩa là quên sạch. Đi tới là mang tất cả qua thập giá để Chúa biến đổi. Đi tới là không cho vết thương quyền định nghĩa toàn bộ đời mình. Đi tới là nói với Chúa: con không phủ nhận mình đã đau, nhưng con không muốn cả đời sống như một người chỉ biết ôm đau khổ. Xin dạy con buông để lòng con lại có chỗ cho sự sống.

Người buông bỏ thật sự sẽ biết ơn nhiều hơn. Vì họ không coi mọi thứ là đương nhiên. Họ biết những gì mình có chỉ là được trao. Họ không bấu víu vào ơn lành, nên khi nhận được họ biết tạ ơn; khi bị lấy đi họ biết cúi đầu. Họ yêu người thân nhưng không biến tình yêu thành gông cùm. Họ làm việc hăng say nhưng không để công việc nuốt chửng linh hồn. Họ tận hưởng những niềm vui nhỏ nhưng không thần tượng hóa chúng. Họ đi qua những mùa rực rỡ mà không tự mãn, đi qua những mùa khô khan mà không tuyệt vọng. Bởi trong sâu thẳm, điều họ giữ không phải là những tặng phẩm chóng qua, mà là chính Đấng ban tặng.

Đây là điều rất lạ của đời Kitô hữu: càng mất vì Chúa lại càng được. Mất cái tôi, được bình an. Mất sự kiêu hãnh, được hiền lành. Mất nhu cầu thắng, được sự hiệp nhất. Mất tính chiếm hữu, được tự do yêu thương. Mất ảo tưởng kiểm soát, được lòng tín thác. Mất cơn nghiện lời khen, được niềm vui âm thầm. Mất những bám víu lệch lạc, được chỗ cho Chúa cư ngụ. Mất những điều hữu hạn, được nếm cái vô hạn. Thế gian nhìn vào có thể không hiểu. Nhưng người nào đã thực sự sống thì biết: không có gì làm lòng thanh thản bằng việc không còn phải ôm mình quá chặt nữa.

Có lẽ một trong những dấu chỉ đẹp nhất của một người thật sự theo Chúa là họ làm cho người khác thấy nhẹ lòng khi ở gần. Không phải vì họ nói gì cũng hay. Không phải vì họ không có giới hạn. Nhưng vì nơi họ có một sự buông bỏ khiến họ không biến mọi cuộc gặp gỡ thành sân khấu của cái tôi. Họ biết lắng nghe. Biết nhường chỗ. Biết hiện diện mà không áp đặt. Biết giúp mà không khiến người khác mắc nợ. Biết yêu mà không chiếm hữu. Biết góp ý mà không nghiền nát. Biết giữ sự thật mà vẫn giữ được lòng thương xót. Một con người như thế không tự nhiên mà thành. Họ được Chúa gọt đẽo qua rất nhiều lần từ bỏ chính mình.

Nếu hôm nay lòng ai đó đang mệt, có khi không phải vì việc quá nhiều, mà vì cái tôi đang nặng. Nếu hôm nay ai đó đang bất an, có khi không phải vì đời quá khó, mà vì mình đang giữ quá chặt một điều nào đó. Nếu hôm nay ai đó cầu nguyện mãi mà chưa bình an, có khi không phải vì Chúa xa, mà vì lòng mình còn quá đầy ý riêng. Có những nỗi mệt không thể chữa bằng ngủ thêm. Có những lo lắng không thể giải bằng tính toán thêm. Có những bế tắc không thể tháo bằng tranh luận thêm. Chúng chỉ được chữa khi con người quỳ xuống thật và nói: lạy Chúa, con xin trao lại. Con không giữ nữa. Con không cố làm chủ nữa. Con không cố bắt đời phải như con muốn nữa. Xin lấy khỏi con điều gì làm con nặng mà không thuộc về Ngài. Xin dạy con buông bỏ để lòng con được sống.

Buông bỏ không phải một lần là xong. Nó là công việc của mỗi ngày. Sáng thức dậy lại phải buông. Gặp chuyện trái ý lại phải buông. Bị hiểu lầm lại phải buông. Bị quên lại phải buông. Bị lấy mất điều mình thích lại phải buông. Bị mời gọi đi một con đường khác lại phải buông. Có ngày buông được nhiều. Có ngày buông được rất ít. Có ngày đang tưởng đã trao rồi, hóa ra vẫn còn giữ một góc kín nào đó. Nhưng không sao. Chúa không đòi con người thành thánh trong một đêm. Chúa chỉ mời gọi mình chân thành bước đi. Mỗi ngày nhích thêm một chút ra khỏi cái tôi. Mỗi ngày nhường thêm một chỗ trong lòng cho Chúa. Mỗi ngày chọn yêu hơn giữ. Mỗi ngày chọn tín thác hơn kiểm soát. Mỗi ngày chọn bình an hơn hơn thua.

Rồi sẽ đến một ngày, khi nhìn lại, người môn đệ ấy sẽ thấy đời mình đã khác. Không phải vì họ có tất cả, nhưng vì họ không còn lệ thuộc vào việc phải có tất cả nữa. Không phải vì mọi người đều tử tế với họ, nhưng vì lòng họ không còn bị điều đó chi phối hoàn toàn. Không phải vì không còn nước mắt, nhưng vì nước mắt không còn làm họ xa Chúa. Không phải vì thập giá biến mất, nhưng vì thập giá trở thành nơi họ tựa vào Chúa nhiều hơn. Không phải vì cuộc đời hết bão, nhưng vì bão không còn đủ sức nhấn chìm linh hồn họ như trước.

Và khi đi thật sâu vào con đường ấy, người Kitô hữu sẽ hiểu một điều rất cảm động: từ bỏ chính mình không phải là làm nghèo đời mình, mà là trả lại đời mình đúng trật tự của nó. Khi cái tôi không còn ngồi trên ngai, Chúa được ngồi vào chỗ của Người. Khi Chúa ở trung tâm, mọi sự bắt đầu sáng ra. Những đau khổ vẫn còn đó nhưng không còn vô nghĩa. Những mất mát vẫn làm mình khóc nhưng không còn làm mình tuyệt vọng. Những niềm vui trở nên tinh sạch hơn vì không còn pha quá nhiều chiếm hữu. Những tương quan trở nên đẹp hơn vì không còn đòi hỏi quá đáng. Những phục vụ trở nên nhẹ hơn vì không còn làm để xây tượng đài cho mình. Những lời cầu nguyện trở nên sâu hơn vì không còn chỉ là danh sách ước muốn của bản ngã.

Từ bỏ chính mình để thanh thản theo Chúa, rốt cuộc, là học sống như Chúa đã sống. Một đời không giữ cho mình. Một đời hiến ra. Một đời không bám lấy vinh quang. Một đời đi vào tự hủy vì yêu. Một đời bị nghiền nát mà vẫn tỏa hương tha thứ. Một đời đi qua thập giá để mở ra phục sinh. Người Kitô hữu càng gần Chúa Giêsu thật thì càng bớt nặng nề vì chính mình. Họ bớt nói về mình hơn, bớt đòi về mình hơn, bớt xây quanh mình hơn. Họ bắt đầu sống vì điều lớn hơn mình. Họ bắt đầu thấy hạnh phúc khi người khác được nâng lên. Họ bắt đầu thấy bình an khi chỉ cần biết Chúa vui. Họ bắt đầu thấy lòng dịu lại khi không còn phải thắng trước mặt người đời nữa.

Đến cuối cùng, có lẽ hạnh phúc sâu nhất của người Kitô hữu là được thưa với Chúa: con không còn sợ mất vì con biết mình không bao giờ mất Chúa nếu con còn bám lấy Ngài. Con không còn sợ nhỏ bé vì chính trong nhỏ bé con được Chúa ôm. Con không còn sợ bị quên vì Cha trên trời biết tên con. Con không còn sợ phải buông vì càng buông những gì không phải Chúa, con càng được đầy Chúa hơn. Con không còn sợ chết đi cho mình vì chính nơi đó sự sống mới bắt đầu.

Và như thế, giữa một thế giới ai cũng cố gom thật nhiều cho mình, người môn đệ của Chúa âm thầm đi một con đường khác. Con đường của buông. Buông để nhẹ. Buông để tự do. Buông để yêu. Buông để bình an. Buông để thuộc trọn về Chúa. Buông để không gì cản trở dòng ân sủng chảy trong lòng mình nữa. Buông để nghe rõ hơn tiếng Chúa gọi trong sâu thẳm. Buông để biết rằng mình không sống bởi những gì mình nắm, nhưng bởi Đấng đang nắm lấy đời mình.

Ai càng buông bỏ trong Chúa, người ấy càng hạnh phúc. Không phải thứ hạnh phúc ồn ào, nhưng là hạnh phúc sâu. Không phải thứ hạnh phúc khoe được, nhưng là hạnh phúc thở được. Không phải thứ hạnh phúc làm người ta bay lên khỏi mặt đất, nhưng là hạnh phúc giúp người ta đứng vững giữa mặt đất này mà lòng vẫn ngước về trời. Đó là hạnh phúc của một tâm hồn không còn bị xé nát bởi quá nhiều đòi hỏi. Hạnh phúc của một người biết mình thuộc về Chúa. Hạnh phúc của một trái tim đã học được điều rất khó mà rất đẹp: đánh mất mình vì Chúa, để cuối cùng tìm lại được chính mình trong bình an.

 

 

PHẦN II
BUÔNG BỎ ĐỂ BƯỚC VÀO TỰ DO CỦA CON CÁI CHÚA

Có những người đọc đến chuyện từ bỏ chính mình thì thấy đẹp, thấy đúng, thấy đáng sống, nhưng khi bước vào đời thường lại chợt thấy điều ấy không còn là một ý niệm thiêng liêng dễ rung động nữa, mà trở thành một cuộc chiến rất thật, rất sát, rất đau. Bởi vì từ bỏ chính mình không diễn ra ở những câu nói lớn trước bàn thờ mà chủ yếu diễn ra ở những va chạm nhỏ mỗi ngày. Nó diễn ra trong bữa cơm gia đình khi ai đó nói một câu làm mình chạnh lòng. Nó diễn ra trong đời sống vợ chồng khi một người không chịu lùi một bước. Nó diễn ra trong cách cha mẹ đối xử với con cái, trong cách con cái phản ứng với cha mẹ, trong cách anh chị em ruột nhìn nhau, trong cách con người yêu nhau, đòi hỏi nhau, làm đau nhau, tha thứ cho nhau hay không tha thứ cho nhau. Nó diễn ra trong những lần mình bị bỏ rơi, bị hiểu lầm, bị thất vọng, bị lấy đi điều mình quý. Nó diễn ra trong cách mình đối diện với ký ức cũ, với nỗi đau cũ, với những điều đã vỡ. Và nó diễn ra sâu nhất ở chỗ này: mình có dám để Chúa cầm lấy đời mình thay vì cứ bấu víu vào chính mình hay không.

Người Kitô hữu chỉ thật sự lớn lên khi đức tin đi xuống tận những vùng rất người ấy. Không phải chỉ ở nhà thờ. Không phải chỉ trong giờ kinh. Không phải chỉ ở những câu trả lời đạo đức. Nhưng đi vào trong giận dữ, trong tổn thương, trong ghen tương, trong thất vọng, trong nhu cầu được yêu, trong nỗi sợ bị bỏ rơi, trong mặc cảm thua kém, trong những tiếc nuối quá khứ, trong những chấp niệm sâu kín mà mình không muốn ai đụng tới. Theo Chúa không phải là khoác lên mình một lớp thánh thiện bề ngoài. Theo Chúa là để ánh sáng của Người chiếu vào tận những căn phòng lộn xộn nhất trong linh hồn mình. Và ở đó, Chúa không chỉ an ủi. Chúa còn mời gọi. Chúa nói với từng vùng ấy của lòng ta: con có dám buông chỗ này không. Con có dám trao chỗ này cho Ta không. Con có dám để Ta lấy khỏi con điều mà con vẫn tưởng là một phần của chính mình không.

Buông bỏ cái tôi trong gia đình là một trong những điều khó nhất. Vì gia đình là nơi người ta dễ sống thật nhất, nhưng cũng là nơi cái tôi lộ ra rõ nhất. Ở ngoài đời, con người còn biết giữ ý. Còn biết nhịn. Còn biết chỉnh lời ăn tiếng nói vì ngại đánh mất hình ảnh. Nhưng về đến nhà, rất nhiều người trút bỏ mọi lớp vỏ xã hội và để mặc những góc thô ráp nhất của mình tràn ra. Có những người rất dịu dàng với người ngoài nhưng lại cộc cằn với người thân. Có những người rất lịch sự ở cơ quan nhưng về nhà thì lạnh lùng, khó tính, ít kiên nhẫn. Có những người làm được bao điều lớn lao cho xã hội nhưng không thể nói một câu tử tế với người nhà. Và có những mái ấm nhìn bề ngoài không thiếu điều gì, nhưng bên trong là vô số những vết xước âm thầm do cái tôi của từng người cứ va vào nhau ngày này qua ngày khác.

Trong gia đình, buông bỏ cái tôi không có nghĩa là mình không còn cảm xúc, không còn ý kiến, không còn nỗi đau. Nhưng là mình không để cái tôi làm chủ mọi phản ứng. Có những lúc mình muốn hơn thua cho bằng được, nhưng Chúa mời mình buông. Có những lúc mình muốn lôi ra hết lỗi cũ của người kia để trả đũa cho hả, nhưng Chúa mời mình buông. Có những lúc mình thấy mình đúng mười phần và thật sự cũng đúng, nhưng điều gia đình cần lúc ấy không phải là một phiên tòa mà là một trái tim biết lùi lại đúng lúc. Có những lúc người ta không cần thêm lý lẽ, mà cần thêm lòng thương. Có những lúc sự thật cần được nói, nhưng phải được nói bởi một người đã buông cái tôi, nếu không sự thật sẽ trở thành lưỡi dao. Có những lúc im lặng là hèn nhát, nhưng cũng có những lúc im lặng là hy sinh. Chỉ người cầu nguyện sâu mới phân định được lúc nào phải nói, lúc nào phải im, lúc nào phải đứng ra bảo vệ điều đúng, lúc nào phải lùi lại để bình an được cứu.

Có biết bao gia đình không đổ vỡ vì một biến cố quá lớn, mà tan dần vì không ai chịu buông mình. Mỗi ngày một câu nói cạnh khóe. Mỗi ngày một lần nhắc lỗi cũ. Mỗi ngày một chút khinh thường. Mỗi ngày một lần không chịu nhận sai. Mỗi ngày một cơn tự ái không được xử lý. Rồi dần dần, tình yêu nghẹt thở dưới đống hơn thua ấy. Nhà vẫn còn đó, bàn ăn vẫn còn đó, những sinh hoạt vẫn còn đó, nhưng lòng người xa nhau. Không phải vì không còn thương, mà vì ai cũng đòi thương theo cách của mình. Ai cũng đòi được hiểu trước. Ai cũng đòi được đón nhận trước. Ai cũng muốn người kia thay đổi trước. Ít ai chịu quỳ xuống trước mặt Chúa và hỏi: chính con phải từ bỏ điều gì để nhà này còn là nhà.

Người cha biết buông bỏ cái tôi sẽ không dùng quyền làm cha để áp đảo con cái. Người mẹ biết buông bỏ cái tôi sẽ không dùng nước mắt hay hy sinh của mình để buộc người khác phải mắc nợ. Người chồng biết buông bỏ cái tôi sẽ học cách xin lỗi, học cách lắng nghe, học cách dịu đi khi vợ đang đau. Người vợ biết buông bỏ cái tôi sẽ bớt dùng lời nói để xoáy vào lòng chồng, bớt lấy sự im lặng làm vũ khí, bớt đòi người kia phải đoán hết nỗi lòng mình. Người con biết buông bỏ cái tôi sẽ thôi lấy tuổi trẻ hay tổn thương của mình làm lý do để cư xử vô ơn với cha mẹ. Buông bỏ cái tôi trong gia đình nhiều khi không phải là làm những điều lớn lao. Chỉ là biết nói năng nhẹ hơn. Biết không cố thắng. Biết bỏ qua một chuyện không đáng. Biết nhận lỗi sớm hơn. Biết ôm lấy nhau trước khi khoảng cách thành thói quen.

Có những người cứ nghĩ mình yêu gia đình lắm, hy sinh cho gia đình lắm, nhưng thật ra điều mình yêu có khi không hẳn là gia đình, mà là cảm giác mình quan trọng trong gia đình. Nên khi không được công nhận, họ cay đắng. Khi không được nghe theo, họ nổi giận. Khi người thân lớn lên và không còn phụ thuộc vào mình nữa, họ thấy hụt hẫng. Đó không còn là yêu tinh sạch nữa, mà đã pha lẫn cái tôi. Tình yêu càng pha lẫn cái tôi càng dễ biến thành kiểm soát. Và kiểm soát thường khoác áo quan tâm. Người ta nói là vì thương nên mới giữ, nhưng thật ra là vì sợ mất vị trí của mình. Người ta nói là vì lo nên mới can thiệp mọi thứ, nhưng thật ra là vì không chịu nổi chuyện người khác có tự do riêng. Tình yêu như thế không đem lại bình an. Nó làm cả đôi bên mệt. Buông bỏ trong gia đình là học yêu mà không chiếm chỗ của Chúa trong đời nhau. Là học ở bên mà không bóp nghẹt. Là học nâng đỡ mà không sở hữu. Là học tôn trọng hành trình riêng của từng người dưới ánh nhìn của Thiên Chúa.

Buông bỏ trong tình yêu còn đau hơn nữa, bởi tình yêu là nơi con người dễ bộc lộ sự thiếu trưởng thành nhất của mình. Người ta nói yêu là hiến dâng, nhưng nhiều khi yêu lại là nơi cái tôi khoác áo dịu dàng nhất để rồi chiếm hữu mạnh nhất. Có những người bước vào tình yêu với một trái tim thật lòng, nhưng bên trong vẫn đầy những đói khát chưa được chữa lành. Họ cần được xác nhận, cần được bảo đảm, cần được lấp đầy những khoảng trống sâu kín nên bám rất chặt vào người mình yêu. Họ sợ mất đến mức trở nên nghi ngờ. Họ thương đến mức muốn kiểm soát. Họ hy sinh nhưng âm thầm đòi được đáp lại đúng kiểu mình mong. Họ nói là yêu, nhưng kỳ thực đang tìm một nơi để trốn nỗi cô đơn, trốn sự bất an, trốn cảm giác mình không đủ. Vì thế nên tình yêu ấy rất dễ mệt, dễ tủi, dễ ghen, dễ tổn thương, dễ nặng nề.

Chúa không muốn con người yêu nhau như những kẻ ăn xin đi tìm nơi người khác một thứ chỉ Thiên Chúa mới có thể lấp đầy trọn vẹn. Người muốn tình yêu con người trở thành con đường nên thánh, chứ không phải nơi cái tôi được nuôi béo. Yêu theo Tin Mừng là học buông bỏ trong chính tình yêu. Buông bỏ nhu cầu người kia phải luôn có mặt để mình yên. Buông bỏ đòi hỏi người kia phải hiểu mình tuyệt đối. Buông bỏ cơn ghen sở hữu tưởng là bằng chứng của tình sâu. Buông bỏ thói quen nắm chặt một người như thể người ấy là cứu cánh đời mình. Buông bỏ việc biến người mình yêu thành thần tượng hay thành nơi định nghĩa giá trị của mình. Một tình yêu lành mạnh là một tình yêu trong đó cả hai cùng hướng về Chúa hơn là nuốt chửng nhau. Cả hai cùng giúp nhau lớn lên, chứ không dùng nhau để vá những lỗ hổng mà đáng lẽ phải đem đến cho Chúa chữa lành.

Biết bao đau khổ trong tình yêu đến từ việc người ta không chịu buông điều không thuộc về mình. Có những mối tương quan Chúa không muốn, nhưng con người vẫn nắm vì sợ cô đơn. Có những người không còn yêu mình theo cách lành mạnh nữa, nhưng mình vẫn cố giữ vì tiếc. Có những mối tình từ đầu đã khiến mình xa Chúa, xa gia đình, xa sự thật, xa bình an, mà mình vẫn biện minh là vì yêu. Nhưng yêu thật không dẫn người ta rời khỏi ánh sáng. Cái gì bắt mình phải đánh đổi lương tâm, đánh đổi phẩm giá, đánh đổi sự bình an sâu nhất trong Chúa, thì dù có bao nhiêu cảm xúc đi nữa, cũng không phải con đường Chúa muốn. Từ bỏ trong tình yêu có khi là dám rời khỏi một điều lòng mình rất quyến luyến, vì mình biết ở lại sẽ làm hư đời mình và hư cả linh hồn mình. Có những lần buông một người không phải vì hết yêu, mà vì muốn yêu trong sự thật hơn cảm xúc. Có những cuộc chia tay là một cuộc vác thập giá. Không ai nhẹ dạ mới hiểu được giá của nó. Nhưng nhiều khi chính nhờ buông đúng lúc mà đời người được cứu khỏi một chuỗi ngày tăm tối.

Ngay cả trong tình yêu vợ chồng đã thành hôn, buông bỏ cũng là bài học cả đời. Người ta không đau vì không còn yêu, mà nhiều khi đau vì yêu mà chưa đủ sạch. Từ lúc mới yêu đến lúc sống chung, từ lúc nồng nhiệt đến lúc đời sống gia đình đi vào thực tế, tình yêu phải trải qua một cuộc thanh luyện lớn. Nếu không buông cái tôi, yêu rất dễ biến thành bản hợp đồng ngầm: tôi đã làm cho anh những điều này, nên anh phải đáp lại như thế kia; tôi đã hy sinh thế này, nên em phải thấu hiểu thế nọ; tôi đã yêu anh nhiều như thế, nên anh không được phép làm tôi thất vọng. Những đòi hỏi ấy nghe có vẻ hợp lý, nhưng nếu không đi qua ân sủng, chúng sẽ sớm giết chết vẻ đẹp của hiến dâng. Tình yêu bền không phải vì hai người không bao giờ thất vọng về nhau, mà vì họ học được cách buông bỏ những ảo tưởng quá trẻ con về nhau, chấp nhận nhau trong sự thật, đồng thời không ngừng giúp nhau hướng về điều cao hơn chính mình.

Buông bỏ trong tình yêu không làm tình yêu nguội đi. Trái lại, nó làm tình yêu trưởng thành. Nó lấy khỏi tình yêu sự chiếm hữu để thay bằng tôn trọng. Nó lấy khỏi tình yêu cơn nghiện cảm xúc để thay bằng trung tín. Nó lấy khỏi tình yêu sự phô trương để thay bằng âm thầm gìn giữ nhau. Nó lấy khỏi tình yêu nỗi sợ mất để thay bằng lòng biết ơn vì được trao cho nhau trong một thời gian nào đó hay suốt đời, tùy ơn gọi. Một người biết yêu trong Chúa sẽ không giữ người kia bằng gọng kìm của lo sợ, mà giữ bằng sự hiện diện trung thành, bằng cầu nguyện, bằng hy sinh thật, bằng sự thật, bằng dịu dàng, bằng tôn trọng tự do thánh của người kia.

Nhưng có lẽ chỗ buông bỏ làm con người đau nhất là trong đau khổ. Vì khi đau khổ đến, con người không chỉ mất một điều gì đó bên ngoài, mà còn bị lung lay những điểm tựa bên trong. Người ta có thể chấp nhận hy sinh khi mình chủ động chọn nó. Nhưng những đau khổ không do mình chọn thì khác. Bệnh tật không xin phép. Cái chết không báo trước. Bị phản bội không có lịch hẹn. Hiểu lầm không chờ ta sẵn sàng. Mất mát không gõ cửa rồi mới bước vào. Có những đau khổ đến như một cơn bão, cuốn phăng những gì mình nghĩ là chắc chắn. Có những đau khổ không ồn ào, nhưng kéo dài, mài mòn từng ngày, như một cơn đau trong tim không ai thấy. Và chính ở đây, buông bỏ không còn là một khái niệm đẹp, mà là một lời mời thật khắc nghiệt: con có dám không giữ lấy sự oán trách nữa không. Con có dám buông câu hỏi “tại sao là con” xuống không. Con có dám tin rằng ngay cả trong đêm này, Chúa vẫn ở đây không.

Đau khổ có một sức mạnh rất lạ: nó phơi bày ra mình đang bám vào điều gì. Khi còn khỏe mạnh, người ta tưởng mình tín thác. Khi còn thuận lợi, người ta tưởng mình phó thác. Khi mọi chuyện còn đang trong tay, người ta nghĩ mình đã trao đời cho Chúa. Nhưng chỉ đến khi bị lấy mất một điều gì đó quý giá, mới biết lòng mình đang bám ở đâu. Có người khi đau khổ đến thì vỡ vụn vì cả căn tính của họ đặt trên sức khỏe, trên một mối tương quan, trên thành công, trên vai trò, trên tương lai mình tự vẽ. Không phải họ yếu đức tin hơn người khác, nhưng vì chỗ họ bám bị rút đi, nên họ mới biết mình chưa bám Chúa sâu như mình tưởng. Nhưng cũng chính ở đó, một hành trình mới có thể bắt đầu. Đau khổ, nếu đi cùng Chúa, có thể trở thành nơi con người học buông những gì không phải nền đá thật.

Buông bỏ trong đau khổ trước hết là buông ý nghĩ rằng mình phải hiểu hết. Nhiều nỗi đau không có lời giải ngay. Có những mất mát không thể giải thích hợp lý. Có những câu hỏi đi theo con người suốt một đoạn dài mà không có đáp án sáng rõ. Nếu cứ đòi phải hiểu rồi mới tin, có khi lòng sẽ không bao giờ yên. Đức tin trưởng thành không khinh thường lý trí, nhưng biết rằng lý trí không đủ ôm trọn mầu nhiệm của thập giá. Có những khi việc thánh nhất không phải là trả lời được mọi câu hỏi, mà là ở lại với Chúa trong đêm không câu trả lời. Ở lại mà không bỏ Người. Khóc mà không đóng cửa lòng. Đau mà không nguyền rủa. Có khi chỉ là thưa được một câu rất nhỏ: lạy Chúa, con không hiểu, nhưng xin đừng để con rời tay Ngài.

Buông bỏ trong đau khổ còn là buông nhu cầu phải giữ bộ mặt mạnh mẽ trước mặt mọi người. Có những người đau mà không cho phép mình yếu. Họ sợ khóc. Sợ thú nhận mình đang chao đảo. Sợ nhìn nhận rằng mình đang giận Chúa, đang mệt, đang cạn. Nhưng thật ra, sự thật luôn là nơi Chúa làm việc. Một tâm hồn dám thật với Chúa thì có thể được chữa lành. Người ta không nên tự nuôi mình trong oán trách, nhưng cũng không cần diễn vai kiên cường giả tạo. Có những lời cầu nguyện đẹp nhất không phải là những lời tròn trịa, mà là những tiếng nấc. “Chúa ơi, con đau quá.” “Chúa ơi, con mệt rồi.” “Chúa ơi, con không gồng nổi nữa.” Chính trong sự thật ấy, con người học buông sự tự đủ và để Chúa bước vào như Đấng Cứu Độ thật sự chứ không phải như một ý niệm đạo đức.

Có những đau khổ không chỉ làm mình đau, mà còn làm mình cay. Và buông bỏ trong đau khổ nhiều khi chính là buông sự cay ấy. Bởi nếu không, đau khổ sẽ đẻ ra một con người cứng lại. Họ không còn tin ai. Họ nghi ngờ mọi điều tốt đẹp. Họ khép lòng trước yêu thương. Họ lấy vết thương làm lăng kính nhìn toàn bộ đời sống. Từ đó, nỗi đau không chỉ là điều họ đã trải qua, mà trở thành điều họ đang trở thành. Đó là một bi kịch sâu hơn. Chúa không muốn nỗi đau chỉ dừng ở chỗ được chịu đựng. Người muốn nỗi đau được biến đổi. Và để biến đổi, con người phải buông quyền trả thù, buông khoái cảm được đóng vai nạn nhân mãi mãi, buông cả quyền giữ đau như một căn cước. Người ta không quên hết được trong một sớm một chiều. Nhưng từng chút một, người ta có thể đem vết thương lên bàn tay Chúa và nói: xin đừng để điều này biến con thành một người không còn biết yêu.

Buông bỏ quá khứ là một hành trình khác cũng rất dài và rất đau. Quá khứ có sức nặng ghê gớm. Có những người sống ở hiện tại bằng thân xác, nhưng tâm hồn vẫn bị xích ở những năm tháng đã qua. Có người sống mãi trong một biến cố đã mất. Có người không ra khỏi nổi một lời xúc phạm cũ. Có người bị ám bởi tuổi thơ thiếu thốn. Có người bị cầm giữ bởi một sai lầm mình từng phạm. Có người mãi nhìn mình qua con mắt của những người từng khinh thường mình. Có người không dám bước tới vì sợ lặp lại một đổ vỡ xưa. Có người đã được Chúa tha, nhưng vẫn không tha nổi cho chính mình. Thế là họ vừa sống, vừa kéo theo sau một chiếc bóng dài của những điều đã qua.

Quá khứ không xấu nếu nó trở thành ký ức biết ơn và bài học khôn ngoan. Nhưng quá khứ sẽ rất nặng nếu nó trở thành nơi con người cứ lui về để tự giam mình. Có những người nói họ không thể quên, nhưng thật ra điều làm họ kiệt sức không phải chỉ là không quên, mà là không chịu trao. Họ giữ quá khứ trong tay, soi đi soi lại, nhắc đi nhắc lại, đọc lại nó mỗi ngày như một cuốn sách định mệnh. Trong khi đó, Chúa không phủ nhận quá khứ, nhưng Người luôn mở một cánh cửa khác tên là cứu chuộc. Điều gì đã xảy ra thì đã xảy ra. Vết thương nào đã có thì đã có. Sai lầm nào đã phạm thì đã phạm. Không ai quay ngược thời gian được. Nhưng điều Chúa có thể làm là bước vào chính nơi ấy để không cho nó là tiếng nói cuối cùng trên đời mình.

Buông bỏ quá khứ không có nghĩa là chối bỏ mình từng đau, từng sai, từng vỡ. Buông bỏ là không để những điều ấy cai trị hiện tại. Buông bỏ là từ chối cho quá khứ quyền nói với mình rằng: mày mãi mãi là thế này. Mày không thể đổi. Mày không còn hy vọng. Mày không xứng đáng được yêu. Mày không thể bắt đầu lại. Mày đã hỏng rồi. Những lời ấy không đến từ Chúa. Chúa là Đấng gọi con người bằng tên mới. Là Đấng đi vào những đổ nát để xây lại. Là Đấng không chỉ tha tội mà còn phục hồi phẩm giá. Là Đấng có thể làm cho nơi đã từng chảy máu trở thành nơi phát sinh lòng thương xót với người khác. Một quá khứ được trao cho Chúa không còn là nhà tù, mà có thể trở thành đất thánh của sự biến đổi.

Có khi buông bỏ quá khứ là thôi tìm lại một phiên bản cũ của đời mình. Nhiều người đau vì cứ tiếc một thời đã qua. Tiếc mình của ngày xưa. Tiếc những mối tương quan ngày xưa. Tiếc một gia đình ngày xưa. Tiếc sức khỏe, tiếc sự hồn nhiên, tiếc một ước mơ đã không thành. Sự tiếc ấy rất người. Không ai trách được. Nhưng nếu ở mãi đó, hiện tại sẽ thành vô nghĩa. Chúa không sống trong chữ “giá như”. Chúa là Thiên Chúa của hôm nay. Người gặp con người trong ngày hôm nay, trong thân phận hôm nay, trong tuổi tác hôm nay, trong những đổ vỡ hôm nay, trong giới hạn hôm nay. Người không hỏi: con có quay lại làm người của mười năm trước được không. Người hỏi: hôm nay, trong chính hoàn cảnh này, con có để Ta yêu con và dẫn con đi tiếp không.

Buông bỏ quá khứ cũng là tha thứ. Không phải thứ tha thứ rẻ tiền nói cho xong. Mà là một quyết định đau đớn, nhiều khi phải lặp lại nhiều lần, để không cho người đã làm mình đau tiếp tục cầm giữ trái tim mình. Tha thứ không phải là phủ nhận điều ác đã xảy ra. Không phải là để mặc cho bất công tiếp diễn. Không phải là bắt mình cảm thấy ấm áp với kẻ đã làm hại mình. Tha thứ trước hết là trả lại quyền phán xét tối hậu cho Chúa. Là không để hận thù đốt cháy phần đời còn lại của mình. Là không biến mình thành bản sao của sự dữ đã chạm vào đời mình. Tha thứ là một hình thức buông bỏ rất sâu. Buông quyền giữ món nợ trong tim. Buông khoái cảm được nhắc mãi rằng mình đã bị xử tệ. Buông ý nghĩ chỉ khi người kia đau như mình thì mình mới yên. Ai từng tha thứ thật mới biết đó là một thập giá. Nhưng cũng chỉ ai tha thứ thật mới biết tự do của người không còn mang xiềng xích hận thù nhẹ đến mức nào.

Tự do của con cái Chúa không phải là muốn gì làm nấy. Thế gian thường gọi tự do là không bị ai cản, không bị luật lệ, không bị đòi buộc, không bị giới hạn. Nhưng nhiều thứ tưởng là tự do lại làm người ta nô lệ. Nô lệ cho cảm xúc. Nô lệ cho dục vọng. Nô lệ cho lời khen. Nô lệ cho điện thoại, cho hình ảnh, cho mạng xã hội, cho sự chú ý của người khác. Nô lệ cho cơn nóng giận. Nô lệ cho sự ghen tị. Nô lệ cho nỗi sợ bị bỏ lại. Nô lệ cho cái nhìn của thiên hạ. Nô lệ cho quá khứ. Nô lệ cho chính mình. Người ta tưởng mình đang tự do vì không ai ép mình, nhưng thật ra mình đang bị lôi kéo bởi những sợi dây rất kín bên trong.

Tự do của con cái Chúa là khả năng không còn bị những sợi dây ấy kéo đi nữa. Là khả năng làm điều tốt ngay cả khi cảm xúc không thúc đẩy. Là khả năng chọn trung tín ngay cả khi lòng không hứng thú. Là khả năng giữ mình khỏi điều xấu ngay cả khi điều xấu hấp dẫn. Là khả năng sống theo sự thật dù sự thật làm mình mất một vài lợi thế. Là khả năng yêu dù không được đáp lại đủ. Là khả năng không để nỗi sợ làm chủ các quyết định của mình. Tự do ấy không phải tự nhiên mà có. Nó đến khi con người buông dần những gì đang cai trị mình ngoài Chúa. Mỗi lần buông một sợi dây lệch lạc, mình lại tự do thêm một chút. Mỗi lần không chiều theo cái tôi, mình lại có thêm chỗ cho Thần Khí hoạt động.

Người con cái Chúa tự do là người không cần phải được hơn người khác để thấy mình có giá trị. Người ấy không cần tranh giành chỗ đứng bằng mọi giá. Không cần sống trong tâm thế phải gây ấn tượng. Không cần bóp méo sự thật để giữ hình ảnh. Không cần phô trương việc lành của mình. Không cần chạy theo mọi tiếng gọi của đời. Họ biết mình là ai trước mặt Chúa, nên không quá cuống cuồng đi xin căn tính nơi người đời. Họ cũng không cần giữ mãi những gì Chúa muốn lấy đi. Không phải vì không tiếc, mà vì tin rằng điều Chúa giữ cho họ sâu hơn điều họ mất. Tự do ấy rất đẹp. Nó khiến một con người có thể sống giữa đời mà không bị đời nuốt mất. Có thể thành công mà không say mình. Có thể thất bại mà không tan nát. Có thể được yêu mà không sở hữu. Có thể bị từ chối mà không tuyệt vọng. Có thể đi qua thử thách mà không đánh rơi linh hồn.

Càng buông bỏ, người ta càng có khả năng vui với những điều nhỏ. Vì lòng họ không còn bị ám bởi cơn đói vô tận của bản ngã nữa. Họ biết dừng lại trước một buổi sáng yên, một lời cầu nguyện lặng, một bữa cơm đơn sơ, một ánh mắt hiền, một việc tốt âm thầm, một lần vượt qua cơn giận, một ngày sống trung thành dù không có gì rực rỡ. Những niềm vui ấy thế gian thường coi thường, nhưng người thuộc về Chúa lại thấy chúng rất quý. Bởi khi lòng không còn quá nặng bởi những đòi hỏi, những điều nhỏ cũng đủ làm tim mình ấm. Một trong những dấu chỉ của tự do thiêng liêng là người ta không cần những kích thích quá mạnh để cảm thấy mình còn sống. Họ sống sâu hơn, chậm hơn, biết ơn hơn. Họ không nhảy dựng lên vì được một chút, cũng không sụp xuống vì mất một chút. Bên trong họ có một nền bình an không quá phụ thuộc vào dao động của bên ngoài.

Nhưng đừng tưởng rằng ai bước vào con đường buông bỏ rồi thì không còn những cơn giằng co. Vẫn còn chứ. Có khi còn rất dữ. Có những ngày mình cầu nguyện rất sốt sắng, lòng rất muốn thuộc về Chúa, nhưng rồi một va chạm nhỏ xảy ra là cái tôi trồi lên ngay. Có những ngày mình nghĩ mình đã tha thứ, nhưng rồi ký ức cũ trở lại, lòng lại nhói và lại muốn khép lại. Có những ngày mình nghĩ mình đã trao mối lo cho Chúa, nhưng tối đến nằm xuống lại quay cuồng tính toán. Có những mùa mình tưởng mình đã tự do khỏi một thứ, nhưng rồi nó trở lại với sức hút cũ. Điều ấy không có nghĩa là mình giả dối. Nó có nghĩa là hành trình thanh luyện còn đang diễn ra. Chúa kiên nhẫn hơn ta tưởng. Người không chán nản vì những lần mình phải bắt đầu lại. Chỉ cần mình đừng làm hòa với xiềng xích. Chỉ cần mình còn muốn thuộc trọn về Người. Chỉ cần sau mỗi lần ngã, mình lại quay về.

Có những lúc, buông bỏ để bước vào tự do của con cái Chúa là chấp nhận không còn sống dựa trên cảm giác nữa. Nhiều người chỉ thấy mình gần Chúa khi cầu nguyện có cảm xúc, khi phụng vụ chạm lòng, khi đời sống trôi êm. Nhưng có những giai đoạn Chúa dẫn người ta vào sự khô khan để thanh tẩy mối tương quan ấy. Lúc đó, người ta cầu nguyện mà khô. Đi lễ mà không thấy rung động. Làm việc lành mà không thấy lửa. Sống đạo mà không thấy ngọt ngào. Chính khi ấy, người ta phải buông sự lệ thuộc vào cảm xúc và học sống bằng đức tin tinh tuyền hơn. Tự do của con cái Chúa không phải là lúc nào cũng cảm thấy dễ chịu trong đời sống đạo. Mà là vẫn ở lại với Chúa khi không còn những nâng đỡ dễ chịu nữa. Vẫn trung thành khi trời tối. Vẫn giữ lòng mềm khi khô khan. Vẫn yêu dù không thấy được thưởng ngay. Đây là một tự do rất cao quý, vì lúc ấy người ta không còn theo Chúa chỉ vì những consolations, nhưng vì chính Chúa.

Buông bỏ cũng là học đón nhận giới hạn của mình. Nhiều người không thanh thản vì không chịu chấp nhận mình có giới hạn. Họ muốn làm hết. Muốn giỏi hết. Muốn cứu hết. Muốn ai cũng hài lòng. Muốn không sai. Muốn không yếu. Muốn không cần ai. Nhưng con người là thụ tạo. Không ai toàn năng. Không ai chữa hết mọi đổ vỡ. Không ai giữ được mọi người. Không ai sống mà không cần ơn Chúa. Chấp nhận giới hạn không làm mình nhỏ đi; nó làm mình thật. Và chỉ khi thật, mình mới sống bình an. Có những kiệt sức đến từ việc mình không chấp nhận mình là người. Có những cay đắng đến từ việc mình cứ mong mình phải là một phiên bản hoàn hảo. Chúa không đòi ta làm Thiên Chúa thay Người. Người chỉ mời gọi ta là con. Làm con thì biết cần Cha. Làm con thì biết xin giúp. Làm con thì biết nghỉ khi cần. Làm con thì biết mình không ôm nổi hết mọi thứ và không cần ôm hết mọi thứ.

Tự do của con cái Chúa còn là tự do khỏi việc định nghĩa đời mình bằng thành công thất bại theo chuẩn thế gian. Một người đã buông bỏ sâu sẽ không còn thấy giá trị của mình lên xuống theo bảng xếp hạng của con người. Họ biết làm việc hết mình, nhưng không thần thánh hóa thành quả. Họ đón nhận thành công bằng lòng biết ơn, đón nhận thất bại bằng sự khiêm nhường, và trong cả hai trường hợp, họ vẫn biết mình là ai trước mặt Chúa. Họ không say men chiến thắng, cũng không tuyệt vọng khi bị thua thiệt. Họ hiểu rằng điều quan trọng không chỉ là mình có bao nhiêu, được bao nhiêu, nổi bật bao nhiêu, mà là trong tất cả những điều ấy, mình có còn trung thành, còn hiền lành, còn sạch lòng, còn để Chúa làm chủ không.

Có một vẻ đẹp rất sâu nơi những người đã đi qua nhiều mất mát mà vẫn dịu. Đó là dấu chỉ họ đã buông bỏ được điều gì đó rất lớn bên trong. Người chưa được tự do thường càng đau càng cứng. Càng mất càng chua. Càng thất vọng càng dựng hàng rào. Nhưng người đi với Chúa lâu năm, nếu để ơn Người làm việc, sẽ dần khác. Họ cũng đau như ai. Có khi còn đau sâu hơn. Nhưng đau không làm họ độc. Mất không làm họ khô. Thử thách không làm họ đánh rơi lòng thương xót. Họ trở nên giống một cái cây đã bị gió quất nhiều lần nhưng rễ càng cắm sâu hơn. Gặp họ, người ta thấy bình an. Không phải vì đời họ ít sóng gió, mà vì họ không còn chống cự Chúa trong mọi cơn sóng nữa. Họ học được một bí mật: buông cho Chúa không làm mình chìm; buông cho Chúa là để mình được mang qua.

Nhiều người sợ buông vì nghĩ buông rồi mình sẽ trắng tay. Nhưng trong Chúa, buông đúng không bao giờ là trắng tay. Có khi mình mất một điều hữu hạn để nhận một điều vĩnh cửu hơn. Mất cảm giác kiểm soát để nhận bình an. Mất một mối tương quan lệch lạc để nhận tự do. Mất một hình ảnh đẹp về mình để nhận sự thật cứu độ. Mất sự cứng cỏi để nhận trái tim bằng thịt. Mất cái tự tin giả tạo để nhận lòng cậy trông thật. Mất những dự phóng mình vẽ ra để nhận con đường Chúa âm thầm chuẩn bị. Có những món quà của Chúa chỉ đến khi tay mình chịu mở ra. Một bàn tay nắm chặt không thể nhận thêm điều gì. Một trái tim giữ quá đầy cũng không còn chỗ cho ân sủng.

Và rồi, dần dần, người ta hiểu rằng buông bỏ không phải là một chuỗi những mất mát, mà là một cuộc trở về. Trở về với chính mình thật trong Chúa. Trở về với trật tự ban đầu: Thiên Chúa là Chúa, còn mình là con. Trở về với căn tính đẹp nhất: mình được yêu trước khi mình làm được gì. Mình có giá trị trước khi mình được ai công nhận. Mình được gọi nên thánh chứ không phải nên nổi tiếng. Mình được tạo dựng để hiệp thông chứ không phải để làm trung tâm. Mình được cứu để sống tự do chứ không phải để cả đời làm nô lệ cho những gì qua đi.

Nếu có ai đó hôm nay đang đọc những dòng này giữa một nỗi mệt mỏi trong gia đình, giữa một cuộc tình đang làm mình nghẹt thở, giữa một đau khổ chưa có lối ra, giữa một quá khứ cứ quay lại kéo mình xuống, giữa một đời sống đức tin đang khô khan và nặng nề, thì có lẽ điều Chúa nhẹ nhàng nói không phải là con hãy mạnh mẽ hơn, giỏi hơn, gồng hơn. Điều Người nói có thể rất đơn sơ: con hãy buông tay ra. Con đang giữ quá chặt. Con đang ôm quá nặng. Con đang bắt mình làm chủ điều không thuộc phần con. Con hãy trao cho Ta. Không phải một lần cho đẹp, nhưng trao thật. Trao cả chỗ con sợ nhất. Trao cả người con không buông được. Trao cả ký ức con cứ quay lại. Trao cả cơn giận con thấy có lý. Trao cả giấc mơ không thành. Trao cả hình ảnh con muốn người khác nhìn thấy. Trao cả nỗi đau con tưởng giữ lại mới là trung thành với chính mình.

Khi một người dám trao như thế, không phải mọi thứ sẽ lập tức đổi khác ở bên ngoài. Nhưng một phép lạ sẽ bắt đầu ở bên trong. Lòng họ sẽ có chỗ thở hơn. Đêm sẽ bớt ngột hơn. Nước mắt vẫn rơi, nhưng không còn tuyệt vọng như trước. Họ sẽ bắt đầu thấy những điều mình tưởng không thể sống thiếu thật ra không phải là nguồn sống của mình. Nguồn sống của họ là Chúa. Và chính lúc ấy, họ bước những bước đầu tiên vào tự do của con cái Chúa. Tự do không phải vì hết đau, mà vì đau không còn thống trị. Không phải vì hết mất, mà vì mất không còn định nghĩa mình. Không phải vì đời bỗng hoàn hảo, mà vì trong đời chưa hoàn hảo này, họ biết mình đang ở trong tay Cha.

Tự do ấy là gia sản lớn nhất của người Kitô hữu. Không ai mua được. Không ai ban cho ngoài Thiên Chúa. Và cũng không ai lấy mất được nếu tâm hồn cứ ở lại trong Người. Đó là tự do của Đức Maria khi thưa xin vâng dù chưa hiểu trọn. Tự do của các thánh khi bỏ mọi sự để theo Chúa mà lòng vẫn ca hát. Tự do của những con người âm thầm giữa đời, chẳng ai biết tên, nhưng mỗi ngày sống trong ân sủng, buông dần cái tôi, buông dần sợ hãi, buông dần chấp niệm, để lớn lên trong bình an. Những con người ấy không gây tiếng động lớn, nhưng họ là bằng chứng sống rằng Tin Mừng là thật. Rằng ai mất mạng sống mình vì Chúa thì sẽ tìm lại được. Rằng ai buông bỏ trong Chúa sẽ không rơi vào hư vô, mà rơi vào bàn tay của Đấng yêu mình hơn mình yêu chính mình.

Cho nên, con đường từ bỏ chính mình không phải là con đường làm con người héo đi, nhưng là con đường làm linh hồn nở ra. Nó có nước mắt, nhưng là nước mắt rửa sạch. Nó có thập giá, nhưng là thập giá mở sang phục sinh. Nó có mất mát, nhưng là mất để được đầy hơn. Nó có cắt tỉa, nhưng là để trổ sinh. Nó có những mùa tối, nhưng là tối như hạt giống nằm trong lòng đất, âm thầm nứt ra để chuẩn bị cho một sự sống khác. Người Kitô hữu càng đi sâu vào con đường ấy càng nhận ra: mình không nghèo hơn khi buông, mình chỉ bớt những thứ làm mình nặng. Mình không cô đơn hơn khi trao, mình chỉ ở gần Chúa hơn. Mình không bị lấy mất đời mình, mình chỉ được trả lại đời mình đúng cho Đấng đã dựng nên nó.

Và đến một lúc nào đó, người ấy sẽ thưa với Chúa không còn bằng một cố gắng gượng ép, mà bằng một sự an nhiên rất sâu: lạy Chúa, xin cứ lấy đi nơi con điều gì ngăn con thuộc về Ngài. Xin cứ cắt bỏ điều gì làm con mất bình an thật. Xin cứ dạy con buông từng ngày, dù chậm, dù đau, dù phải bắt đầu lại nhiều lần. Vì con đã hiểu phần nào rồi: càng giữ mình cho riêng mình, con càng nặng. Càng trao mình cho Chúa, con càng nhẹ. Càng bám lấy thế gian, con càng bất an. Càng thuộc về Chúa, con càng tự do. Càng buông bỏ, con càng hạnh phúc.

Và đó không còn là một ý tưởng nữa. Đó trở thành sự thật của một đời được đổi mới trong ân sủng.

 

 

PHẦN III
BUÔNG BỎ ĐỂ SỐNG NGHÈO KHÓ THIÊNG LIÊNG VÀ BƯỚC VÀO CON ĐƯỜNG NÊN THÁNH GIỮA ĐỜI THƯỜNG

Có một điều rất lạ nơi đời sống thiêng liêng của người Kitô hữu, đó là càng đi sâu vào Chúa, người ta càng bớt muốn làm chủ. Càng đi sâu vào Chúa, người ta càng bớt cần phải chất đầy đời mình bằng những bảo đảm của trần gian. Càng đi sâu vào Chúa, người ta càng hiểu rằng cái làm linh hồn mình nghèo khổ nhất không phải là thiếu tiền, thiếu tiện nghi, thiếu tiếng tăm, mà là thiếu một khoảng trống để Thiên Chúa ngự vào. Có những người sống rất thiếu ngoài vật chất nhưng lòng vẫn đầy cái tôi, đầy đòi hỏi, đầy so đo, đầy cứng cỏi, đầy tham vọng kín đáo, đầy nhu cầu được nhìn nhận. Và như thế, họ vẫn chưa nghèo khó thiêng liêng. Trái lại, có những người ở giữa bao công việc, có thể không nghèo theo nghĩa bề ngoài, nhưng tâm hồn lại rất đơn sơ, rất nhẹ, rất thoáng, rất biết mình cần Chúa. Chính những người ấy mới chạm vào điều Tin Mừng gọi là phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.

Nghèo khó thiêng liêng không phải là một vẻ buồn bã, một bộ mặt cam chịu, hay một lối sống chỉ biết tự hạ mình bên ngoài. Nghèo khó thiêng liêng là biết rằng mình không đủ cho chính mình. Là hiểu rằng không có Chúa, mình dễ lạc, dễ kiêu, dễ lệch, dễ mù. Là không bám vào những gì mình có như chỗ dựa tối hậu. Là không xem tài năng của mình là thần tượng. Là không dựa vào kinh nghiệm sống để tưởng mình luôn đúng. Là không dựa vào việc mình làm được nhiều cho Chúa mà quên rằng chính Chúa mới là nguồn của mọi điều tốt lành nơi mình. Một người nghèo khó thiêng liêng vẫn có thể rất năng động, rất hữu ích, rất trách nhiệm, nhưng sâu bên trong, họ không sở hữu chính mình. Họ sống với hai bàn tay mở. Điều gì Chúa cho, họ biết ơn. Điều gì Chúa muốn lấy đi, họ tập buông. Điều gì Chúa chưa ban, họ biết chờ. Điều gì Chúa không muốn, họ tập không giành.

Nghèo khó thiêng liêng là một cuộc giải phóng rất lớn khỏi cơn nghiện phải đầy. Người đời thường rất sợ thiếu. Thiếu tiền, thiếu người bên cạnh, thiếu danh tiếng, thiếu cơ hội, thiếu chỗ đứng, thiếu an toàn. Và vì sợ thiếu nên người ta gom. Gom vật chất, gom ảnh hưởng, gom lời khen, gom sự chú ý, gom các mối quan hệ, gom cả công trạng thiêng liêng. Có những người ngay trong đời sống đạo cũng sống kiểu tích lũy như vậy. Họ muốn được thấy là đạo đức, được thấy là nhiệt thành, được thấy là hiểu biết, được thấy là hy sinh. Nhưng càng gom cho cái tôi, lòng càng ít chỗ cho Chúa. Trong khi đó, người nghèo khó thiêng liêng không còn sống để tự tích lũy mình nữa. Họ biết những gì mình có chỉ là được trao, những gì mình làm được chỉ là được cộng tác, và chính khi họ thôi cố làm giàu cho hình ảnh của mình, linh hồn họ bắt đầu giàu lên trong Chúa.

Có những lúc Chúa dẫn người ta vào nghèo khó thiêng liêng bằng cách lấy khỏi họ những điều từng làm họ thấy mình mạnh. Có khi là sức khỏe. Có khi là một vai trò. Có khi là một thành công. Có khi là một mối tương quan. Có khi là sự hăng say trong cầu nguyện. Có khi là khả năng kiểm soát cuộc sống. Có khi là cảm giác mình được người khác cần đến. Những lúc như thế đau lắm, bởi con người thường không biết mình bám vào điều gì cho đến khi điều ấy bị lấy đi. Nhưng nếu không có những cuộc lột bỏ ấy, nhiều người sẽ sống cả đời trong ảo tưởng mình ổn, mình vững, mình tự đủ. Chúa thương người ta quá nên Người không để người ta sống mãi trong một nền móng giả. Người làm nghèo đi để có thể làm giàu theo cách khác. Người làm trống đi để có thể đổ đầy bằng chính Người. Người lấy bớt đi những cột chống mà ta dựng lên để cuối cùng ta học dựa vào nền đá thật.

Người nghèo khó thiêng liêng thường dễ hiền hơn, dễ biết ơn hơn, dễ thương xót hơn. Vì họ biết mình không phải là trung tâm của mọi điều tốt lành. Họ không nhìn người khác từ trên cao xuống. Họ không quá bất ngờ trước sự yếu đuối của mình lẫn của tha nhân. Họ không dùng ân huệ Chúa ban để xây ngai cho bản ngã. Họ không coi sự khéo léo của mình là lý do để coi thường người chậm hơn. Họ không coi việc mình giữ đạo, mình phục vụ, mình hiểu biết là lý do để lên án những người đang loạng choạng. Người nghèo khó thiêng liêng nhìn mọi sự bằng cái nhìn của một kẻ ăn mày ân sủng. Mà một người biết mình đang sống nhờ ân sủng thì không dễ kiêu. Họ dịu hơn với người khác bởi họ biết bản thân cũng đang được Chúa kiên nhẫn từng ngày.

Nhưng có một chỗ khác mà con người rất khó buông, đó là lời khen và tiếng chê. Nhiều người tưởng mình sống vì Chúa, nhưng thật ra đời mình bị lèo lái bởi đánh giá của người khác nhiều hơn mình tưởng. Khi được khen, họ thấy mình có giá trị. Khi bị chê, họ thấy mình sụp xuống. Khi được nhìn nhận, họ hăng hái. Khi bị quên lãng, họ nguội đi. Khi được mời gọi, được trọng dụng, được chú ý, họ thấy đời có ý nghĩa. Khi bị lùi ra sau, bị góp ý, bị hiểu sai, họ thấy chao đảo. Những tâm trạng ấy rất người. Không ai hoàn toàn đứng ngoài được. Nhưng nếu không dần dần buông bỏ quyền lực của lời khen tiếng chê trên đời mình, người ta sẽ không bao giờ thật sự tự do để theo Chúa.

Lời khen ngọt lắm. Nó làm người ta ấm. Làm người ta cảm thấy công sức mình có ý nghĩa. Làm người ta thấy mình được nhìn thấy. Và đó là điều bình thường. Nhưng vấn đề bắt đầu khi lời khen không còn là một niềm vui phụ, mà trở thành thức ăn chính của linh hồn. Lúc ấy, người ta không còn làm điều tốt chỉ vì điều ấy tốt nữa, mà còn vì muốn được thấy là tốt. Họ không còn phục vụ chỉ vì yêu, mà còn vì cần cảm giác mình hữu ích. Họ không còn nói điều đúng chỉ vì sự thật, mà còn vì muốn được xem là khôn ngoan, sâu sắc, đạo đức. Từ đó, nội tâm bắt đầu chia rẽ. Một nửa hướng về Chúa, một nửa hướng về cái nhìn của người đời. Và sự chia rẽ ấy làm mất bình an. Vì không ai vừa theo Chúa tự do vừa cứ sống như một người nghiện sự công nhận.

Tiếng chê thì đau theo cách khác. Nó đụng vào tự ái, vào nhu cầu được đúng, được tốt, được sạch hình ảnh. Có những lời chê rất công bằng, và người ta cần khiêm tốn đón nhận để sửa mình. Nhưng cũng có những lời chê thiếu công bằng, thiếu hiểu biết, thậm chí ác ý. Chính lúc ấy, việc buông bỏ mới thành thập giá thật. Khi bị chê đúng, cái tôi đau vì phải nhận mình có lỗi. Khi bị chê sai, cái tôi đau vì thấy mình bị xử oan. Cả hai đều khó. Nhưng nếu người môn đệ không học cách đặt giá trị của mình nơi ánh nhìn của Chúa hơn là nơi lời phán của trần gian, họ sẽ mãi bị dắt đi bởi dư luận. Một lời khen làm họ bay lên. Một lời chê làm họ rơi xuống. Một lời tung hô làm họ hăng. Một lời phán xét làm họ muốn bỏ cuộc. Cuộc sống như thế quá mệt, vì tim mình nằm trong tay người khác nhiều hơn nằm trong tay Chúa.

Buông bỏ lời khen tiếng chê không có nghĩa là trở nên vô cảm, bất cần, hay xem thường ý kiến của mọi người. Không. Người trưởng thành vẫn biết lắng nghe, biết đón nhận góp ý, biết học hỏi từ phản hồi. Nhưng tận đáy lòng, họ không còn để những điều ấy quyết định căn tính của mình. Họ biết có những ngày người ta hiểu mình, và có những ngày người ta không hiểu. Có những lúc mình làm đúng mà vẫn bị chê. Có những khi mình làm chưa tốt mà vẫn được khen. Có những lời tung hô chỉ là gió. Có những lời phán xét cũng chỉ là gió. Nếu linh hồn cứ mở toang mọi cửa để gió đời thổi mình nghiêng ngả, thì chẳng bao giờ đứng vững. Chỉ khi nào người ta bắt đầu sống trước mặt Chúa hơn là sống trước sân khấu của người đời, lúc ấy mới có một bình an mới.

Có một vẻ đẹp rất sâu nơi những người làm điều phải làm mà không cần ai biết. Họ giống hạt giống nằm trong lòng đất. Không tiếng động. Không ánh đèn. Không tràng pháo tay. Không bài viết ca ngợi. Nhưng nơi họ có sức sống thật. Người như thế không còn phụ thuộc quá nhiều vào phản ứng bên ngoài để trung thành với điều Chúa giao. Họ có thể tiếp tục yêu dù không ai khen. Tiếp tục phục vụ dù không được ghi nhận. Tiếp tục sống đúng dù bị hiểu sai. Tiếp tục im lặng làm việc lành dù người khác được nhắc tên còn mình thì không. Đó là một tự do rất lớn. Và đó cũng là một dạng nghèo khó thiêng liêng: không lấy lời khen để làm lương thực chính cho trái tim mình.

Nhiều người khổ vì cứ nghĩ rằng muốn bình an thì tương lai phải rõ. Nhưng đời người đâu có rõ như ta muốn. Có những khúc quanh không ai lường trước. Có những biến cố phá tan mọi kế hoạch. Có những ước mơ đang đẹp bỗng dở dang. Có những cánh cửa tưởng sẽ mở lại đóng. Có những ngã rẽ mình chưa bao giờ nghĩ đến lại trở thành con đường thật. Con người vì sợ bất định nên rất muốn kiểm soát tương lai. Muốn biết trước. Muốn chắc chắn. Muốn bảo đảm. Muốn một bản đồ hoàn chỉnh cho đời mình rồi mới yên tâm bước. Nhưng hành trình theo Chúa thường không cho người ta toàn bộ bản đồ. Chúa thường chỉ cho đủ ánh sáng của một đoạn đường. Người mời gọi bước một bước, rồi thêm một bước, rồi thêm một bước nữa. Và chính điều ấy làm con người phải buông cái đòi biết hết, nắm hết, kiểm soát hết.

Kiểm soát tương lai là một cám dỗ lớn vì nó làm con người có cảm giác an toàn. Chỉ cần mình tính đủ, chuẩn bị đủ, lường trước đủ, thì mọi chuyện sẽ ổn. Nhưng thật ra, dù chuẩn bị khôn ngoan đến đâu, đời sống vẫn có những chỗ vượt ngoài tay mình. Người khôn ngoan không bỏ trách nhiệm, nhưng cũng không thần thánh hóa khả năng tính toán của mình. Họ làm phần của mình thật nghiêm túc, nhưng không biến phần mình thành toàn bộ. Họ biết lên kế hoạch, nhưng không quỳ lạy kế hoạch. Họ biết chuẩn bị, nhưng không lấy sự chuẩn bị thay thế cho lòng cậy trông. Họ biết suy nghĩ cho ngày mai, nhưng không để ngày mai ăn mất sự bình an của hôm nay. Bởi lẽ một tương lai chưa đến mà đã lấy mất hiện tại của mình thì đó không còn là khôn ngoan nữa, mà là nô lệ cho lo âu.

Buông bỏ kiểm soát tương lai là một trong những hình thức phó thác khó nhất. Vì khi chưa thấy đường, con người rất dễ hoảng. Ta thích biết mình sẽ ra sao, công việc sẽ thế nào, gia đình sẽ ổn không, sức khỏe sẽ đi đến đâu, ơn gọi của mình có bền không, người mình thương có còn bên cạnh không, những gì mình xây có đứng vững không. Ta muốn câu trả lời rõ ràng để tim thôi run. Nhưng Chúa thường không cho mọi câu trả lời theo kiểu ấy. Người không luôn nói trước cho ta biết hết điều gì sẽ xảy ra. Người chỉ hứa ở cùng. Và với nhiều người, lời hứa ấy lúc đầu không đủ. Họ muốn nhiều hơn. Họ muốn sự hiện diện của Chúa cộng thêm bản đồ tương lai chi tiết. Nhưng dần dần, trên đường thiêng liêng, họ sẽ hiểu rằng có Chúa ở cùng chính là điều đủ nhất, dù cảm xúc mình chưa thấy vậy.

Người biết buông kiểm soát tương lai sẽ sống hiện tại sâu hơn. Họ không phung phí ngày hôm nay chỉ để hồi hộp về ngày mai. Họ làm việc hôm nay với tất cả trách nhiệm mình có thể, yêu hôm nay với tất cả trung thành mình có thể, cầu nguyện hôm nay với tất cả sự thật mình có thể, rồi để phần còn lại cho Chúa. Họ không sống như kẻ vô lo theo kiểu buông xuôi, nhưng cũng không sống như người phải gồng lưng cõng cả những điều chưa xảy đến. Họ biết có những điều mình phải lo, nhưng cũng có những điều không phải phần mình. Họ biết phân biệt giữa trách nhiệm và kiểm soát, giữa khôn ngoan và lo âu, giữa chuẩn bị và ám ảnh. Chính sự phân định ấy làm họ bình an hơn giữa một thế giới luôn gấp gáp, luôn sợ chậm, luôn sợ mất cơ hội, luôn đòi nắm chắc trước khi bước.

Có những người chỉ thật sự bắt đầu cầu nguyện sâu khi họ thôi dùng cầu nguyện để kiểm soát Chúa. Đây là một điều rất kín. Nhiều người đến với Chúa bằng rất nhiều lời xin, rất nhiều thao thức, rất nhiều nhu cầu, điều đó không sai. Nhưng nếu cầu nguyện chỉ là nơi mình cố kéo Chúa về phía chương trình của mình, thì đời sống thiêng liêng vẫn còn nông. Cầu nguyện sâu bắt đầu khi con người không chỉ mang điều mình muốn đến trước mặt Chúa, mà còn dám để Chúa chạm vào chính điều mình muốn ấy. Tức là mình không chỉ xin, mà còn để Chúa xét lại điều mình xin. Không chỉ trình bày nhu cầu, mà còn cho phép Chúa thanh luyện nhu cầu đó. Không chỉ tìm sự an ủi, mà còn mở lòng cho sự hoán cải. Không chỉ đợi Chúa nói có, mà còn dám nghe Chúa nói chưa, nói đợi, thậm chí nói không.

Buông bỏ để cầu nguyện sâu là buông sự ồn ào bên trong. Có những người ngồi trước Chúa mà trong đầu vẫn chạy như một cái chợ. Bao nhiêu kế hoạch, bao nhiêu bực bội, bao nhiêu suy diễn, bao nhiêu câu thoại tưởng tượng, bao nhiêu điều chưa giải quyết, bao nhiêu nỗi lo. Họ ở đó, nhưng lòng không ở đó. Họ đọc kinh, nhưng tâm hồn không mở. Họ làm đủ hình thức đạo đức, nhưng bên trong không hề nghỉ. Cầu nguyện sâu đòi một cuộc buông dài. Buông điện thoại xuống. Buông sự vội vàng xuống. Buông cơn nghiện phải làm gì đó xuống. Buông những lời biện minh xuống. Buông cả việc lúc nào cũng muốn cảm thấy ngay một điều gì đó đặc biệt. Có những giờ cầu nguyện tưởng như rất nghèo, rất khô, rất ít cảm xúc, nhưng lại là những giờ rất thật, vì lần đầu tiên con người chịu ở lại với Chúa mà không cầm theo quá nhiều thứ để tự chống đỡ mình.

Nhiều người không vào được chiều sâu cầu nguyện vì không chịu nghèo trước mặt Chúa. Họ muốn đến với Chúa như người mạnh, người ổn, người có đạo, người biết nhiều, người đang làm khá tốt. Nhưng Thiên Chúa thường gặp ta ở chỗ nghèo nhất của lòng mình. Ở chỗ mình yếu, chỗ mình sợ, chỗ mình không hiểu nổi bản thân, chỗ mình thất bại, chỗ mình thấy bất lực. Cầu nguyện sâu không phải là đem một phiên bản chỉnh chu đến trước mặt Chúa, mà là đem con người thật, cả những nếp nhăn nội tâm, những mâu thuẫn, những vùng tối, những thèm khát chưa được thanh luyện. Người cầu nguyện sâu không còn quá lo mình phải nói hay. Họ học ngồi yên. Học lắng nghe. Học để chính sự hiện diện của Chúa chạm vào mình. Học nói ít lại để lòng được nghe nhiều hơn.

Có một kiểu cầu nguyện rất đẹp là cầu nguyện bằng sự từ bỏ. Không phải chỉ bằng môi miệng, mà bằng việc đặt xuống trước mặt Chúa từng thứ một. Hôm nay đặt xuống cơn tự ái. Ngày mai đặt xuống nỗi lo chưa giải được. Ngày kia đặt xuống một ham muốn không sạch. Một ngày khác đặt xuống sự ghen tị, sự cay đắng, sự thèm được công nhận, sự sợ hãi trước tương lai, sự tiếc nuối một điều đã mất. Cứ thế, cầu nguyện không chỉ là nói với Chúa, mà là trao cho Chúa. Và mỗi thứ được trao đi là mỗi khoảng không mới mở ra. Chúa không cần những bài trình bày dài để biết mình. Nhưng Người rất chờ một cử chỉ thật: con chịu mở tay ra chưa. Có những người cầu nguyện nhiều năm nhưng vẫn chưa thật sự mở tay. Nên lòng họ vẫn căng, vẫn nặng. Nhưng có những người chỉ biết thưa đơn sơ: lạy Chúa, con xin giao, và câu ấy đi kèm bằng một quyết định thật trong đời sống, thì bình an bắt đầu đến.

Cầu nguyện sâu cũng đòi buông bỏ ý muốn lúc nào cũng phải thấy kết quả ngay. Trong thời đại mọi thứ nhanh, người ta cũng muốn đời sống thiêng liêng có kết quả nhanh. Muốn cầu là thấy an ngay. Muốn xin là được ngay. Muốn cố gắng vài tuần là hết xáo trộn. Muốn đọc một ít sách đạo đức là lòng đổi khác. Nhưng Thiên Chúa thường làm việc chậm hơn cái nôn nóng của ta. Người đi vào linh hồn như mưa thấm vào đất, như men vào bột, như ánh sáng đến dần lúc bình minh. Người không vội vàng theo kiểu chiều nỗi nóng ruột của bản ngã. Có những mùa Chúa để ta ở trong sự chờ đợi lâu chỉ để rễ ăn sâu hơn. Có những lời cầu nguyện không đổi hoàn cảnh ngay, nhưng đang âm thầm đổi trái tim mình. Có những khô khan không phải là dấu Chúa bỏ đi, mà là cách Chúa dạy mình yêu Người hơn là yêu cảm giác được an ủi.

Và rồi, tất cả những buông bỏ ấy không chỉ dành cho những người đi tu hay những người sống đời đạo đức nổi bật. Không. Buông bỏ là con đường nên thánh giữa đời thường. Nên thánh không phải là làm những điều phi thường choáng ngợp. Nên thánh nhiều khi là chịu được những điều rất thường với một trái tim thuộc về Chúa. Là một người mẹ mệt mà vẫn dịu lại thay vì trút giận lên con. Là một người cha bị áp lực mà vẫn chọn tử tế với vợ. Là một người trẻ bị hiểu lầm mà không vội nổi loạn. Là một người đi làm bị chèn ép mà không đánh mất lương tâm. Là một người bị quên công mà vẫn tiếp tục làm điều đúng. Là một người có tài mà không kiêu. Là một người bị tổn thương mà không trả đũa. Là một người già yếu mà không cay đắng. Là một người đau bệnh mà vẫn tín thác. Là một người sống âm thầm mà không thấy đời mình vô nghĩa.

Nên thánh giữa đời thường là để những việc nhỏ được ngấm Tin Mừng. Không phải là đợi đến lúc làm điều lớn mới sống thánh. Nhưng là rửa chén trong bình an. Là trả lời tin nhắn trong tử tế. Là đi chợ, đi làm, chăm người thân, xử lý mệt mỏi, đối diện khác biệt, trả hóa đơn, thu xếp cuộc sống, tất cả với một nội tâm đã dần buông bớt cái tôi. Có những người cả đời không làm chuyện gì gây tiếng vang lớn, nhưng từng ngày họ đang được thánh hóa trong những điều lặp đi lặp lại. Họ học nhẫn nại trong gia đình. Học trung tín trong bổn phận. Học nghèo khó trong lối sống. Học dịu dàng trong lời nói. Học phó thác trong những bất định. Học cầu nguyện khi lòng khô. Học từ bỏ những bám víu nho nhỏ nhưng dai dẳng. Và chính trong những điều ấy, một vị thánh âm thầm được hình thành.

Nhiều người nghĩ nên thánh là một thứ ở rất xa, rất cao, rất đặc biệt, nên họ nản. Họ nhìn đời mình bình thường quá, bận quá, nhiều giới hạn quá, đầy va chạm quá, và nghĩ chắc mình chỉ sống sót thôi chứ nên thánh sao nổi. Nhưng chính những người như thế lại là nơi Tin Mừng muốn cắm rễ. Nên thánh không bắt đầu từ việc mình phi thường, mà từ việc mình để Chúa bước vào cái rất thường. Một cơn khó chịu được dâng lên thay vì xả ra. Một nỗi lo được đem vào cầu nguyện thay vì nhai đi nhai lại một mình. Một tự ái được nuốt xuống. Một ham muốn được kềm lại. Một lời xin lỗi được nói ra. Một việc phục vụ được làm trong âm thầm. Một lựa chọn thành thật dù có thiệt. Một quyết định không trả đũa. Những điều ấy nhìn nhỏ, nhưng chính chúng làm thiên đàng nở ra trong lòng đất.

Buông bỏ như con đường nên thánh còn là chấp nhận để Chúa cắt tỉa những điều mình thích nhưng không sinh trái. Có những sở thích không xấu, nhưng đang nuốt thời gian và tâm hồn mình. Có những mối quan tâm không sai, nhưng đang làm lòng mình phân tán quá nhiều. Có những thói quen không hẳn là tội, nhưng đang làm mình nặng, làm mình trì trệ, làm mình bớt tự do với ơn Chúa. Người muốn đi xa với Chúa phải có lúc dám nhìn vào những thứ ấy và hỏi: điều này có làm linh hồn mình sáng hơn không. Điều này có giúp mình yêu hơn không. Điều này có làm mình gần Chúa hơn không. Nếu không, mình có dám bớt lại không. Nên thánh không chỉ là tránh điều xấu rõ ràng, mà còn là buông dần những điều không xấu nhưng đang lấy mất độ nhạy của linh hồn.

Có một dạng nên thánh rất âm thầm nhưng rất lớn, đó là nên thánh bằng cách không để mình trở nên đắng. Người đi qua đời lâu năm rất dễ mang vào tim vô số lý do để đắng. Bị xử tệ. Bị phản bội. Bị quên. Bị cống hiến nhiều mà ít ai hiểu. Bị bệnh. Bị lỡ dở. Bị mất mát. Bị đời không công bằng. Ai cũng có thể kể câu chuyện của riêng mình. Nhưng không phải ai cũng chọn giống nhau trước các chuyện đó. Có người để tất cả những điều ấy tích thành một lớp chua cay. Có người để chúng làm mình mỏng hơn, nhân hơn, thương hơn. Sự khác biệt nằm ở chỗ họ có buông chúng vào tay Chúa hay cứ giữ lấy để tự định nghĩa mình. Nên thánh nhiều khi không phải là làm những việc đạo đức nhiều hơn người khác, mà là giữa vô số lý do để cứng lại, mình vẫn chọn mềm ra trong Chúa.

Người buông bỏ thật sự sẽ ngày càng đơn sơ. Không phải đơn giản kiểu ngây ngô, nhưng đơn sơ kiểu không rối bởi quá nhiều nhu cầu tự khẳng định nữa. Họ không cần phải nói nhiều về mình. Không cần mỗi chuyện đều phải chen vào ý mình. Không cần giành phần hơn trong mọi đối thoại. Không cần phải thắng những cuộc tranh luận vô ích. Không cần phải giữ mãi một hình tượng đẹp trong mắt người khác. Họ sống nhẹ hơn. Và chính sự nhẹ ấy làm người khác dễ thở khi ở gần họ. Đó là hoa trái của ơn Chúa nơi một linh hồn biết buông bỏ. Có những người rất giỏi nhưng làm người khác căng. Có những người rất bình thường nhưng làm người khác bình an. Nhiều khi, điều làm nên khác biệt không phải tài năng, mà là mức độ bản ngã đã được thánh hóa đến đâu.

Càng đi sâu vào hành trình này, người môn đệ càng hiểu rằng buông bỏ không phải là một bài học phụ bên lề, mà là chính dáng đứng của Đức Kitô trong đời mình. Vì Đức Kitô là Đấng đã không giữ lại cho mình. Người đã buông vinh quang để mặc lấy thân phận con người. Buông quyền lực để sống phục vụ. Buông chính mạng sống để trao ơn cứu độ. Ai theo Người mà cứ giữ mình mãi, giữ danh mình mãi, giữ ý mình mãi, giữ an toàn mình mãi, thì chưa chạm được vào trái tim của Tin Mừng. Nhưng ai dám từ từ học buông cùng với Người, dù vụng về, dù chậm, dù còn phải bắt đầu lại nhiều lần, thì chính người ấy đang được biến đổi nên đồng hình đồng dạng với Chúa hơn mỗi ngày.

Thật ra, điều đẹp nhất của một đời buông bỏ không phải là người ta trở thành siêu nhân thiêng liêng, mà là họ trở thành một con người rất thật, rất hiền, rất tự do, rất thuộc về Chúa. Họ không còn quá bị xé bởi những tiếng gọi cạnh tranh nhau trong lòng. Họ biết cái gì quan trọng, cái gì không. Biết khi nào phải dừng. Biết khi nào phải im. Biết khi nào phải tiến. Biết điều gì là cốt lõi. Và vì thế, đời họ có một sự thanh thản mà thế gian khó hiểu. Không phải vì mọi chuyện dễ dàng hơn. Nhưng vì trong tất cả những điều không dễ ấy, họ đã thôi cố giữ phần không thuộc về mình, và học giữ điều duy nhất cần giữ: ở lại trong Chúa.

Nếu ai đó hôm nay vẫn còn thấy mình nặng bởi quá nhiều tiếng nói, quá nhiều lời khen tiếng chê, quá nhiều lo âu cho tương lai, quá nhiều phân tán trong cầu nguyện, quá nhiều đòi hỏi nơi bản thân, thì có lẽ Chúa đang không trách, không ép, không xua đuổi. Người chỉ dịu dàng mời: con hãy nghèo đi một chút. Nghèo đi để Ta giàu nơi con. Con hãy bớt nắm một chút. Bớt cần được khen một chút. Bớt sợ bị chê một chút. Bớt đòi biết hết tương lai một chút. Bớt cố mang vào cầu nguyện cả một cái chợ nội tâm một chút. Bớt tự làm chủ đời mình một chút. Và từng chút như thế, con sẽ thấy lòng mình không mất đi, nhưng được cứu. Không hẹp lại, nhưng mở ra. Không tối hơn, nhưng sáng hơn. Không buồn hơn, nhưng bình an hơn.

Rồi từng ngày, giữa bếp núc, giữa công sở, giữa những va chạm gia đình, giữa những bất định của cuộc sống, giữa những lần ngã và đứng lên, giữa những lời cầu nguyện khô khan, giữa những lần phải nuốt tự ái, giữa những lần âm thầm làm điều đúng mà chẳng ai biết, giữa những lần đặt lại kế hoạch vào tay Chúa, người ấy sẽ dần hiểu ra: nên thánh thật sự không phải là bay lên khỏi cuộc đời này, mà là để Chúa thấm vào từng sợi rất nhỏ của cuộc đời này. Và con đường để Chúa thấm vào, rất thường xuyên, lại chính là con đường buông bỏ.

Buông bỏ để nghèo khó thiêng liêng.
Buông bỏ để không làm nô lệ cho lời khen tiếng chê.
Buông bỏ để thôi kiểm soát tương lai.
Buông bỏ để cầu nguyện bằng một trái tim thật.
Buông bỏ để nên thánh trong những điều rất đỗi bình thường.

Và càng buông như thế, người ta càng thấy mình không rơi vào khoảng trống, mà rơi vào vòng tay. Không mất mát theo nghĩa bị bỏ rơi, mà được giải thoát khỏi những gánh nặng không phải dành cho con cái Chúa. Không trở thành nghèo nàn, mà trở thành trống để đón đầy. Không bị lấy mất phẩm giá, mà được trả lại căn tính sâu nhất: mình là con, và Cha đủ cho mình.

Đến lúc ấy, câu nói “càng buông bỏ càng hạnh phúc” không còn là một suy niệm đẹp nữa. Nó trở thành kinh nghiệm. Kinh nghiệm của một linh hồn đã nếm thấy rằng mọi bám víu ngoài Chúa đều sớm muộn làm tim mình nặng, còn mọi buông bỏ trong Chúa đều mở ra tự do. Tự do để yêu. Tự do để thở. Tự do để sống thật. Tự do để bước tiếp. Tự do để thuộc trọn về Đấng duy nhất không bao giờ làm mình mất chính mình khi trao cho Người tất cả.

 

 

PHẦN IV
BUÔNG BỎ NHƯ MỘT CUỘC CHẾT ĐI MỖI NGÀY ĐỂ THUỘC TRỌN VỀ CHÚA

Có những chặng trên đường theo Chúa mà con người không còn phải chiến đấu chủ yếu với những điều bên ngoài nữa, nhưng với chính phần sâu nhất của đức tin mình. Nếu ở những bước đầu, việc từ bỏ thường gắn với những điều dễ gọi tên hơn như một thói quen, một mối bận tâm, một cái tôi lộ rõ, một sự dính bén dễ thấy, thì càng đi xa với Chúa, cuộc thanh luyện càng âm thầm hơn, sâu hơn, và cũng đau hơn. Bởi lúc ấy Chúa không chỉ đụng đến những gì thô, mà đụng đến cả những điều tinh vi, những chỗ mà con người tưởng đã hoàn toàn thuộc về Người, nhưng thật ra vẫn còn giữ lại cho mình một góc kín nào đó. Có những người bề ngoài sống rất đạo đức, rất hy sinh, rất tận tụy, nhưng trong sâu thẳm, lòng họ vẫn chưa buông. Có những người nói mình phó thác, nhưng chỉ phó thác trong chừng mực Chúa còn dẫn họ đi đúng con đường họ muốn. Có những người rất nhiệt thành với việc Chúa, nhưng chưa chắc đã thật sự muốn Chúa tự do làm chủ đời mình.

Thử thách đức tin thường bắt đầu khi Chúa không còn hành động theo cách ta quen chờ đợi nữa. Có những thời gian lòng sốt sắng, cầu nguyện dễ, đi lễ thấy ấm, đọc Lời Chúa thấy sáng, làm việc lành thấy hăng, phục vụ thấy vui. Những giai đoạn ấy đẹp, cần thiết, và là quà tặng. Nhưng nếu đời sống thiêng liêng chỉ sống nhờ những mùa như thế, nó vẫn còn non. Rồi sẽ đến lúc Chúa để người ta bước vào những vùng ít cảm giác hơn, ít ánh sáng dễ chịu hơn, ít nâng đỡ thấy rõ hơn. Người ta cầu nguyện mà không thấy gì. Xin mà như không được nghe. Khóc mà như chỉ có im lặng đáp lại. Bị thử thách nối thử thách, hết chuyện này đến chuyện khác, trong khi những lời cầu nguyện tha thiết nhất dường như không làm trời mở ra ngay. Chính ở đó, đức tin bị thử. Không phải thử theo kiểu một bài thi lý thuyết, mà thử tận căn xem ta có theo Chúa vì chính Chúa, hay chỉ vì những an ủi Chúa ban.

Nhiều người không nhận ra rằng mình đã gắn bó với cảm giác thiêng liêng nhiều hơn là với chính Thiên Chúa. Họ yêu những giờ cầu nguyện sốt sắng, những giọt nước mắt đạo đức, những khoảnh khắc được chạm lòng, và điều đó không sai. Nhưng khi những điều ấy tạm rút đi, họ hoang mang. Họ thấy mình khô, thấy mình trống, thấy mình như bị bỏ lại. Họ bắt đầu tự hỏi không biết Chúa còn ở đây không. Thật ra, rất nhiều khi Chúa ở gần hơn bao giờ hết, chỉ là Người không muốn ta bám vào những cảm giác về Người hơn là bám vào chính Người. Người thanh luyện tình yêu của ta bằng cách lấy đi những điểm tựa dễ chịu để xem ta có ở lại không. Có ở lại vì Người vẫn là Chúa ngay cả khi mình không cảm được gì không. Có ở lại vì Người vẫn đáng được yêu ngay cả khi Người im lặng không. Có ở lại không phải vì mình thấy ngọt, mà vì lòng mình đã chọn thuộc về Người.

Buông bỏ trong thử thách đức tin là buông nhu cầu phải thấy ngay, hiểu ngay, cảm ngay. Người ta vẫn thích một Thiên Chúa giải thích rõ ràng, trả lời nhanh chóng, can thiệp kịp lúc theo cách mình hình dung. Nhưng Thiên Chúa thật không luôn hành động như thế. Người có cách của Người, giờ của Người, đường của Người. Có những cánh cửa Người không mở ngay vì lòng ta chưa sẵn. Có những câu trả lời Người không trao ngay vì nếu trao sớm, ta sẽ dừng lại ở quà hơn là ở Đấng ban quà. Có những đêm Người không cất khỏi ta liền, vì chính trong đêm ấy, đức tin được luyện cho trong. Một đức tin không trải qua thử thách rất dễ chỉ là nhiệt tình tôn giáo. Nhưng một đức tin đã đi qua bóng tối mà vẫn bám lấy Chúa thì bắt đầu mang mùi của thánh thiện.

Có những linh hồn bước vào thử thách đức tin không phải vì họ sống tệ hơn, mà vì Chúa muốn dẫn họ vào chiều sâu hơn. Người không trừng phạt họ, Người chỉ mời họ lớn lên. Nhưng trong lúc ở trong đêm, ít ai thấy được điều đó. Người ở trong đêm chỉ thấy mệt, chỉ thấy mình bị rút cạn, chỉ thấy cầu nguyện khô, chỉ thấy các cơn cám dỗ ngoi lên dữ hơn, chỉ thấy những câu hỏi từng ngủ yên nay lại thức dậy. Họ có thể thấy mình yếu hơn xưa, rối hơn xưa, mong manh hơn xưa. Nhưng rất có thể chính lúc ấy Chúa đang dạy họ một bài lớn: con không sống được bằng sức riêng, cũng không sống được bằng những cảm xúc đẹp, con chỉ sống được nhờ Ta. Và khi người ta chấp nhận nghèo như thế, đức tin mới bắt đầu sạch. Không còn là đức tin đặt trên cảm hứng, mà là đức tin đặt trên Đấng đáng tin.

Buông bỏ trong thử thách đức tin còn là buông sự đòi buộc Chúa phải hành xử theo logic của mình. Con người rất thích nói rằng mình phó thác, nhưng thực tế nhiều khi ta chỉ muốn Chúa ký tên vào kế hoạch của mình. Ta muốn một Thiên Chúa hợp lý theo cách mình thấy hợp lý, dịu dàng theo cách mình chờ, hiệu quả theo cách mình định nghĩa, công bằng theo cách mình tưởng. Nhưng nhiều biến cố của đời sống lại không xếp hàng theo kiểu ấy. Người tốt vẫn bệnh. Người sống đẹp vẫn bị hiểu lầm. Người cầu nguyện nhiều vẫn có thể đi qua một mùa rất tối. Người hy sinh vẫn có thể trải nghiệm sự lặng thinh rất dài của trời cao. Nếu đức tin của ta chỉ đứng được khi đời sống diễn ra theo những công thức mình cho là đúng, thì đức tin ấy vẫn còn rất mong manh. Theo Chúa là dần dần chấp nhận rằng có những điều chỉ đến vĩnh cửu mới sáng tỏ hoàn toàn, còn ở đời này, nhiều khi ta chỉ được mời ở lại trong sự tín thác.

Một trong những điều đau nhất mà người môn đệ phải học là buông ý riêng để vâng phục thánh ý Chúa. Ý riêng là một thứ bám rất chặt. Có khi nó xuất hiện như một lựa chọn rõ ràng, một kế hoạch cụ thể, một ước mơ mình ấp ủ. Có khi nó ẩn dưới những thứ rất tinh vi: cách mình muốn được yêu, cách mình muốn người khác phải thay đổi, cách mình muốn sứ mạng của mình diễn ra, cách mình muốn đời sống đạo của mình phát triển, cách mình muốn được Chúa dùng. Ý riêng không phải lúc nào cũng xấu. Nhiều ý muốn của con người là tốt, là đẹp, là khát vọng chính đáng. Nhưng ngay cả những ý muốn tốt cũng cần được đặt dưới ánh sáng thánh ý Chúa. Bởi không phải điều gì đẹp trong mắt ta cũng là điều Chúa muốn cho ta ở thời điểm ấy, theo cách ấy, bằng con đường ấy.

Người ta thường nghĩ vâng phục thánh ý Chúa là một hành vi lớn lao nào đó, một quyết định lớn, một bước ngoặt rõ rệt. Điều đó có thể đúng ở vài thời điểm. Nhưng phần lớn vâng phục lại được rèn trong những chuyện rất nhỏ, rất lặp lại, rất âm thầm. Đó là khi mình muốn cãi nhưng chọn im đúng lúc. Muốn đi nhanh nhưng chấp nhận chờ. Muốn làm theo cách mình quen nhưng chấp nhận nghe một hướng dẫn khác. Muốn người khác cư xử theo điều mình cho là hợp lý nhưng chấp nhận rằng họ cũng có hành trình riêng với Chúa. Muốn được làm điều nổi bật nhưng được mời ở lại trong điều khiêm tốn hơn. Muốn một cánh cửa mở ra nhưng Chúa lại đóng nó, và mình phải ở lại trong sự không hiểu. Những vâng phục ấy không ồn ào, nhưng chúng bẻ dần cái cổ cứng của bản ngã.

Ý riêng thường không chịu chết một lần. Nó chết dần. Hôm nay chết ở chỗ này, mai lại ngóc lên ở chỗ khác. Hôm nay mình dâng một ước muốn, ngày mai lại thấy lòng vẫn bám. Hôm nay mình thưa xin vâng, hôm sau lại thấy mình âm thầm thương lượng với Chúa. Điều ấy không lạ. Con người nào cũng vậy. Ngay trong đời sống rất đạo đức, người ta vẫn có thể mang trong lòng một cuộc mặc cả thầm kín: lạy Chúa, con xin theo Chúa, nhưng xin đừng chạm vào chỗ này; con xin vâng phục, nhưng xin đừng lấy điều kia; con xin dâng cho Chúa, nhưng xin vẫn để lại cho con một đường lui. Chúa thấy hết sự vụng về ấy, và Người kiên nhẫn. Nhưng Người cũng yêu ta quá nên không để ta ở yên với những vùng thương lượng ấy mãi. Sớm muộn, Người sẽ dẫn ta tới chỗ phải trả lời rõ hơn: con muốn ý con được nên, hay ý Ta được nên.

Câu hỏi ấy không chỉ vang lên ở những quyết định lớn, mà trong cả cách ta phản ứng với đời sống. Có nhiều người không dám nói trắng ra là họ chống lại thánh ý Chúa, nhưng cả nội tâm họ là một sự kháng cự liên lỉ. Họ giữ bộ mặt đạo đức, nhưng bên trong luôn bất mãn vì đời không đi như ý họ. Họ vẫn cầu nguyện, vẫn đi lễ, vẫn đọc kinh, nhưng tận đáy lòng là một lời than trách kéo dài: tại sao Chúa không làm theo điều con thấy hợp lý hơn. Chính sự kháng cự ấy làm linh hồn họ mệt. Vì khi bản ngã cứ gồng lên chống lại điều mình không đổi được, bình an bị rút cạn từng ngày. Vâng phục thánh ý Chúa không làm cho thử thách biến mất ngay, nhưng nó lấy khỏi tim ta cuộc chiến vô ích chống lại thực tại. Nó giúp ta thôi tiêu hao sức lực vào việc đòi đời phải khác đi trước khi mình chịu cúi xuống.

Có một mức độ sâu hơn nữa của buông bỏ, đó là buông bỏ những dính bén kín đáo của lòng đạo đức. Đây là một vùng rất tinh tế và rất dễ đánh lừa. Vì người ta có thể từ bỏ nhiều thứ trần tục rõ rệt, nhưng lại bám vào những điều mang màu sắc thiêng liêng mà không biết. Có người bám vào hình ảnh mình là người đạo đức. Có người bám vào cảm giác mình hy sinh nhiều. Có người bám vào vai trò phục vụ trong cộng đoàn. Có người bám vào suy nghĩ rằng mình hiểu ý Chúa hơn người khác. Có người bám vào lối cầu nguyện mình ưa thích đến mức không chấp nhận sự dẫn dắt khác. Có người bám vào các việc lành như bằng chứng khiến mình thấy mình có giá trị hơn. Có người bám vào chính ơn gọi, sứ vụ, đặc sủng, cộng đoàn, hay những thành quả thiêng liêng của mình theo cách không còn trong suốt nữa.

Đó là thứ dính bén nguy hiểm, vì nó không mang gương mặt của tội dễ thấy, mà mang gương mặt của điều tốt. Một người có thể không ham tiền, không ham vui chơi lệch lạc, không chạy theo đời, nhưng lại rất ham được xem là thánh thiện. Họ có thể không giành hơn trong chuyện trần gian, nhưng lại âm thầm giành hơn trong chuyện thiêng liêng. Họ có thể không tự hào về của cải, nhưng lại tự hào về sự đạo đức, về hy sinh, về đời sống nội tâm, về những kinh nghiệm thiêng liêng, về những gì mình đã làm cho Chúa. Thế là cái tôi không chết, nó chỉ đổi áo. Nó không còn mặc áo thô của người đời, mà mặc áo thơm của người đạo đức. Và vì áo ấy thơm, người ta càng khó nhận ra nó hơn.

Buông bỏ những dính bén kín đáo ấy đau lắm, vì nó chạm vào chính căn tính thiêng liêng mà mình đã quen. Có khi Chúa sẽ cho người ta trải qua những giai đoạn mình không còn làm được nhiều như trước, không còn được tín nhiệm như trước, không còn được thấy mình “có ích” như trước. Có khi Người rút đi những an ủi trong cầu nguyện để xem ta có còn đến với Người vì chính Người hay không. Có khi Người để ta bị hiểu lầm ngay trong những điều tốt mình làm, để ta thấy lòng mình còn cần được minh oan đến mức nào. Có khi Người cho một người khác làm điều ta từng làm tốt hơn ta, để ta thấy mình còn bám vào vai trò đến đâu. Có khi Người để những thành quả thiêng liêng bề ngoài không còn rực rỡ nữa, để ta học rằng mình không được cứu bởi thành quả, nhưng bởi ân sủng.

Có những người lúc còn được dùng thì rất sốt sắng, nhưng khi bị đẩy vào bóng tối thì lòng nguội nhanh. Không phải vì họ xấu, mà vì họ đã vô tình gắn bó với cảm giác được hữu ích hơn là với chính Chúa. Có những người chỉ thật sự khám phá sự thật về lòng mình khi bị lấy khỏi những gì từng làm họ thấy mình có chỗ đứng. Lúc ấy họ mới thấy mình phục vụ Chúa, nhưng cũng phục vụ cái tôi song song. Họ làm việc lành, nhưng cũng cần được nhìn nhận. Họ cầu nguyện, nhưng cũng thích cảm giác mình sốt sắng. Họ sống hy sinh, nhưng cũng âm thầm mong người khác biết. Chúa không vạch trần những điều ấy כדי làm nhục ta, nhưng כדי giải thoát ta. Người không muốn những sợi dây dính bén kín đáo ấy tiếp tục ràng linh hồn, dù chúng có vẻ thánh thiện đến đâu.

Lòng đạo đức thật sẽ càng đi sâu càng đơn sơ. Nó bớt phô, bớt cần được biết đến, bớt phải kể lại, bớt phải trình bày mình như một người đặc biệt. Nó trở nên giống mạch nước ngầm hơn là vòi phun. Nó không mất nhiệt thành, nhưng nhiệt thành của nó bớt sân khấu. Nó không mất niềm vui, nhưng niềm vui của nó bớt phụ thuộc vào việc người khác có nhìn thấy hay không. Nó không mất sự hăng say, nhưng hăng say ấy đi kèm sự nghèo khó của người biết rằng mình chỉ là dụng cụ. Một linh hồn được thanh luyện khỏi những dính bén kín đáo của lòng đạo đức sẽ dễ thở hơn nhiều. Họ không còn phải luôn xuất hiện như một người mạnh mẽ, sâu sắc, sốt sắng. Họ dám nhỏ. Dám ít. Dám âm thầm. Dám để Chúa biết là đủ.

Và rồi, càng đi xa, người môn đệ sẽ hiểu rằng buông bỏ cuối cùng không chỉ là bỏ một vài thứ, mà là học chết đi mỗi ngày. Chết đi cho cơn nóng. Chết đi cho tự ái. Chết đi cho đòi hỏi phải được hơn. Chết đi cho nhu cầu được nắm chắc. Chết đi cho thói quen lấy mình làm trung tâm. Chết đi cho những dính bén vi tế. Chết đi cho hình ảnh mình muốn giữ. Chết đi cho kiểu sống muốn né thập giá. Chết đi không phải để biến thành hư vô, nhưng để sự sống của Đức Kitô lớn lên trong mình. Thập giá không chỉ là những đau khổ mình không chọn, mà còn là sự đồng ý mỗi ngày cho cái tôi bị thu nhỏ lại כדי Chúa được lớn lên.

Nhiều người sợ chữ “chết đi” vì nghe nặng quá. Nhưng thật ra, nếu không chết đi mỗi ngày, con người sẽ sống trong một kiểu chết khác còn đáng sợ hơn: chết trong ích kỷ, chết trong cay đắng, chết trong nô lệ cho bản ngã, chết trong cứng cỏi, chết trong những đòi hỏi không bao giờ được thỏa. Chết đi với Chúa khác hẳn. Đó là một cái chết sinh trái. Mỗi lần cái tôi chết đi một chút, lòng lại rộng thêm một chút. Mỗi lần mình không giữ phần hơn cho mình, yêu thương lại có thêm chỗ. Mỗi lần mình chấp nhận lùi lại, một sự hiền lành nào đó được sinh ra. Mỗi lần mình tha thứ, dù chưa thấy dễ, một xiềng xích nào đó bị cắt. Mỗi lần mình từ chối nuôi cơn oán trách, một khoảng sáng nào đó được mở ra trong linh hồn. Những cái chết nhỏ ấy không làm đời mình teo lại, mà làm nó trở nên giống đời của Chúa Giêsu hơn.

Thật ra, toàn bộ đời Kitô hữu là một sự chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ sau cùng với Chúa. Và ai không học buông từ bây giờ sẽ rất khó bình an vào giờ cuối. Vì giờ cuối là giờ mọi thứ phải được đặt lại. Chức vụ cũng không đem theo được. Tài sản cũng không giữ lại được. Danh tiếng cũng không ôm nổi. Những cuộc tranh hơn thua cũng thành vô nghĩa. Những oán hờn lâu năm cũng chẳng cứu được gì. Thứ còn lại là linh hồn có thuộc về Chúa không, có mềm trong tay Chúa không, có sẵn sàng đi vào vòng tay Người không. Nếu cả đời con người sống bằng nắm chặt, thì giờ phải buông sẽ rất hoảng. Nhưng nếu cả đời đã tập buông từng chút, giờ cuối tuy đau vẫn có một ánh sáng khác. Người ấy đã tập rời bỏ quá nhiều thứ nhỏ để thuộc về Chúa rồi, nên giây phút rời bỏ lớn nhất cũng mang một nét của cuộc trở về.

Có những người sống rất dài mà không chuẩn bị gì cho cuộc gặp ấy. Họ nghĩ về đủ thứ cho đời này, nhưng ít nghĩ về giây phút phải đứng một mình trước mặt Thiên Chúa. Họ lên kế hoạch cho công việc, tài chính, nhà cửa, tương lai con cái, đủ mọi thứ, nhưng lại rất ít sống theo cách làm cho linh hồn mình nhẹ để đi gặp Chúa. Trong khi đó, người khôn ngoan thiêng liêng biết rằng chuẩn bị cho giờ cuối không phải là chờ đến lúc hấp hối mới bắt đầu, mà là sống từ hôm nay với một trái tim bớt dính bén. Bớt ôm. Bớt cố chấp. Bớt giữ nợ. Bớt nặng bởi điều không cần. Bớt cứng trước những điều Chúa muốn uốn. Mỗi ngày buông được một chút là mỗi ngày linh hồn sẵn sàng hơn một chút cho cuộc ra đi lớn.

Chuẩn bị cho cuộc gặp sau cùng với Chúa không làm con người bi quan hay sợ hãi cuộc sống. Trái lại, nó làm người ta sống hiện tại sâu hơn, sạch hơn, tỉnh hơn. Người biết mình sẽ gặp Chúa sẽ bớt muốn sống giả. Bớt muốn dành đời cho những cuộc tranh đua vô nghĩa. Bớt muốn tiêu hao mình vào những bám víu cuối cùng cũng phải bỏ. Họ không khinh thường đời này, nhưng họ không thần tượng hóa nó. Họ yêu thế gian như người được sai vào thế gian, chứ không như người bị trói chặt vào nó. Họ biết dùng mọi sự, yêu mọi người, chu toàn bổn phận, nhưng sâu bên trong vẫn thuộc về một quê hương khác. Chính vì thế, họ có thể sống rất trọn vẹn mà vẫn nhẹ. Yêu sâu mà không sở hữu. Dấn thân hết lòng mà không biến công việc thành thần tượng. Chăm sóc người thân mà không lấy người thân làm cứu cánh tối hậu. Họ đã tập đi với hành trang gọn hơn.

Có lẽ một trong những dấu chỉ đẹp nhất của người đang chuẩn bị tốt cho cuộc gặp sau cùng với Chúa là họ ngày càng bình an hơn với việc mình không còn là trung tâm. Họ không cần mọi chuyện xoay quanh mình nữa. Họ không còn quá hoảng khi mình lùi vào bóng. Họ không quá bám vào việc mình phải được nhắc tên. Họ không thấy bị xúc phạm ghê gớm mỗi khi không được như ý. Họ đang dần sống như người biết rằng điều quan trọng nhất không phải là mình được gì ở đời này, mà là mình có để Chúa chiếm trọn hay không. Một linh hồn như thế thường dịu. Dù đau vẫn dịu. Dù mất vẫn dịu. Dù đi qua nhiều lột bỏ vẫn dịu. Vì họ không còn chống lại việc phải giảm bớt mình đi nữa. Họ hiểu đây không phải là mất phẩm giá, mà là được giải thoát khỏi gánh nặng phải làm thần tượng của chính mình.

Có những người đến cuối đời mới thấy tiếc vì đã giữ quá nhiều thứ không đáng giữ. Giữ tự ái nên mất bao tương quan. Giữ oán giận nên lòng khô cằn. Giữ hình ảnh nên không bao giờ dám sống thật. Giữ sự hơn thua nên không còn niềm vui. Giữ kế hoạch của mình nên bỏ lỡ những lối Chúa mở. Giữ dính bén thiêng liêng nên không thật sự tự do trước mặt Chúa. Nhưng cũng có những người đến cuối đời, dù thân xác yếu đi, trí nhớ mờ đi, sức lực giảm đi, lại có một vẻ bình an rất lạ. Nhìn họ, người ta thấy không phải họ không đau. Nhưng họ đã sống một đời tập buông, nên giờ cuối cùng không quá xa lạ. Họ đã quen nói với Chúa: lạy Chúa, con xin phó mình. Họ đã quen trao lại điều mình không giữ nổi. Họ đã quen để Chúa cắt tỉa. Họ đã quen chết đi mỗi ngày. Nên lúc phải rời mọi sự, lòng họ tuy còn bùi ngùi nhân loại nhưng không hoảng loạn tuyệt vọng. Trong họ có một sự tin cậy của người biết mình đang trở về Nhà Cha.

Trong chiều sâu này, buông bỏ không còn chỉ là một việc tu đức, mà trở thành chính nhịp thở của đời môn đệ. Hít vào là nhận tất cả từ Chúa. Thở ra là trao tất cả về Chúa. Nhận ơn, trao tạ. Nhận đau, trao tín thác. Nhận trách nhiệm, trao lại quyền kiểm soát. Nhận thử thách, trao lại lời than oán. Nhận ánh sáng, trao lại lòng biết ơn. Nhận đêm tối, trao lại sự kiên trì. Sống như thế, linh hồn dần dần trở nên trong suốt. Không còn quá bị cản bởi lớp bụi dày của bản ngã. Không còn quá dính bởi những gì qua đi. Không còn quá đông đúc bởi vô số đòi hỏi tự quy về mình. Lúc ấy, Chúa có thể phản chiếu rõ hơn qua đời sống ấy.

Và nếu phải nói đâu là hoa trái sâu nhất của việc buông bỏ trong thử thách đức tin, buông bỏ ý riêng, buông bỏ những dính bén kín đáo của lòng đạo đức, buông bỏ như một cuộc chết đi mỗi ngày, thì có lẽ đó là sự bình an rất sạch. Không phải thứ bình an vì đời hết chuyện. Không phải thứ bình an vì mọi câu hỏi đều được giải. Không phải thứ bình an vì mình đã làm chủ được mọi hoàn cảnh. Nhưng là thứ bình an đến từ chỗ mình không còn chống lại việc thuộc về Chúa nữa. Bình an vì cuối cùng, sau bao giằng co, mình bắt đầu thưa thật hơn: xin đừng theo ý con, một theo ý Chúa. Bình an vì mình thôi bắt Chúa phải đi vào khuôn mình vẽ. Bình an vì mình không còn cần phải giữ quá nhiều thứ để cảm thấy mình còn là mình. Bình an vì mình biết rằng nếu mất hết mà còn Chúa, mình vẫn chưa mất điều cốt lõi. Bình an vì mình biết cuộc gặp sau cùng không phải là rơi vào khoảng tối, mà là rơi vào lòng thương xót.

Nếu hôm nay có ai đang ở trong một mùa thử thách đức tin, một mùa Chúa im lặng, một giai đoạn ý riêng bị bẻ gãy, một thời gian mình thấy ngay cả đời sống đạo đức cũng cần được thanh luyện, thì xin đừng vội nghĩ Chúa ở xa. Có thể Người đang ở rất gần, gần đến mức chạm vào tận gốc của con tim. Có thể Người đang làm điều mà lúc này ta chưa hiểu: giải thoát ta khỏi chính ta, khỏi những gì dù thánh thiện đến đâu nhưng vẫn chưa phải là Người. Có thể Người đang chuẩn bị cho ta một sự tự do sâu hơn, một đức tin sạch hơn, một tình yêu tinh ròng hơn. Điều cần lúc này không phải là cố tỏ ra mạnh, mà là ở lại. Ở lại với Chúa, dù khô. Ở lại với Lời Người, dù chưa thấy sáng. Ở lại với bổn phận, dù không hứng thú. Ở lại với sự thật, dù đau. Ở lại với thập giá hằng ngày, dù chẳng ai biết. Ở lại, và trao.

Cứ trao từng chút một.
Trao cơn hoang mang.
Trao sự không hiểu.
Trao kế hoạch đã vỡ.
Trao nhu cầu được minh oan.
Trao vai trò mình sợ mất.
Trao hình ảnh mình sợ vỡ.
Trao sự sốt sắng mà mình từng bám.
Trao cả những dính bén mang tên đạo đức.
Trao từng nhịp thở, từng ngày sống, từng điều chưa nói nên lời.

Rồi sẽ đến một lúc, rất âm thầm thôi, người ấy nhận ra rằng mình đã không bị lấy mất đời mình khi buông cho Chúa. Trái lại, mình mới thật sự bắt đầu tìm lại đời mình ở nơi đúng nhất. Nơi bàn tay Chúa. Nơi thánh ý Chúa. Nơi lòng thương xót Chúa. Nơi cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa. Và từ đó, ngay giữa cuộc sống thường ngày, ngay giữa những việc vẫn còn dang dở, ngay giữa thân phận người còn nhiều mong manh, linh hồn ấy đã bắt đầu nếm trước một điều của thiên đàng: sự nhẹ của người không còn thuộc về mình nữa, mà thuộc trọn về Đấng đã yêu mình cho đến cùng.

 

 

PHẦN V
ĐẠI KẾT: CÀNG MẤT MÌNH TRONG CHÚA CÀNG TÌM LẠI CHÍNH MÌNH

Sau một hành trình dài đi qua bao lớp buông bỏ, có lẽ điều kỳ diệu nhất mà người Kitô hữu dần nhận ra không phải là mình đã bỏ được bao nhiêu, chịu được bao nhiêu, hay hy sinh được bao nhiêu, mà là sau tất cả những lần mất đi vì Chúa, mình không hề trở nên trống rỗng như nỗi sợ ban đầu vẫn thì thầm. Trái lại, mình bắt đầu sống thật hơn, nhẹ hơn, tự do hơn, đúng hơn với căn tính sâu nhất của mình. Điều tưởng như nghịch lý ấy lại là trung tâm của Tin Mừng: ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai mất mạng sống mình vì Chúa thì sẽ tìm được. Nghe qua thì tưởng như một lời mời gọi bước vào thiếu thốn, bước vào thiệt thòi, bước vào một đời sống co lại. Nhưng càng đi với Chúa lâu, người ta càng hiểu đây không phải lời dẫn vào hư vô, mà là lời dẫn vào sự thật. Vì con người chỉ thực sự tìm được mình khi thôi ôm lấy một phiên bản méo mó của mình do bản ngã dựng lên, để trở về với con người thật mà Thiên Chúa đã nghĩ đến từ muôn thuở.

Có những người sống rất lâu mà chưa bao giờ thật sự gặp chính mình. Họ gặp vai trò của mình, gặp hình ảnh của mình, gặp những mong đợi người khác đặt lên mình, gặp nỗi sợ của mình, gặp cái tôi của mình, gặp những tham vọng và thương tổn của mình, nhưng chưa chắc đã gặp được chính mình trong cái nhìn của Chúa. Vì con người rất dễ lầm tưởng mình là những gì mình làm được, là những gì mình sở hữu, là những gì người khác nói về mình, là những thành công mình đạt được, là những thất bại mình mang, là những câu chuyện mình kể về mình suốt bao năm. Thế rồi họ sống để bảo vệ những lớp ấy, làm giàu cho những lớp ấy, dựng cao những lớp ấy. Họ sợ buông vì tưởng buông là mất mình. Nhưng thật ra, rất nhiều thứ ta đang giữ không phải là chính mình, mà chỉ là những lớp vỏ. Có lớp vỏ được làm bằng tự ái. Có lớp vỏ được làm bằng nhu cầu được thương. Có lớp vỏ được làm bằng vai trò và uy tín. Có lớp vỏ được làm bằng những tổn thương chưa lành. Có lớp vỏ được làm bằng nỗi sợ bị bỏ quên. Có lớp vỏ được làm bằng những thành tích đạo đức. Và nếu Chúa không dẫn ta qua những cuộc lột bỏ, ta sẽ chết với lớp vỏ ấy mà chưa thật sự sống từ cốt lõi.

Chúa không cất đi những gì làm ta nặng để làm ta nghèo nàn. Người cất đi để trả ta về với sự trong trẻo ban đầu. Người lấy đi những gì đang ngồi sai chỗ trong lòng ta để chính Người có thể ngự vào trung tâm. Người bẻ gãy những chống đỡ giả để ta biết nương tựa thật. Người làm cho ta thất vọng về chính mình không phải để làm nhục ta, mà để cứu ta khỏi ảo tưởng mình có thể là cứu tinh của mình. Người cho ta đi qua cảm giác bất lực, hụt chân, không kiểm soát được, không nắm chắc được, không còn chỗ bám quen thuộc, không phải vì Người muốn làm ta khổ, mà vì chỉ trong sự nghèo thật ấy, ta mới bắt đầu hiểu ta là ai khi không còn những phụ tùng của bản ngã bao quanh.

Càng mất mình trong Chúa càng tìm lại chính mình, vì điều ta mất không phải là chân giá trị của mình, mà là những gì đã che lấp chân giá trị ấy. Ta mất sự kiêu hãnh để tìm lại sự thật. Ta mất cơn nghiện lời khen để tìm lại tự do. Ta mất nhu cầu hơn thua để tìm lại bình an. Ta mất tính chiếm hữu để tìm lại khả năng yêu tinh sạch. Ta mất thói quen kiểm soát để tìm lại lòng cậy trông. Ta mất cơn nóng muốn áp đảo người khác để tìm lại sự hiền lành. Ta mất những kế hoạch quá khép kín của mình để tìm lại con đường rộng hơn mà Chúa đã mở. Ta mất thói quen sống cho cái nhìn của người đời để tìm lại ánh nhìn duy nhất có thể gọi đúng tên mình. Và chính khi từng mảng giả đó được gỡ xuống, con người thật xuất hiện. Không còn quá ồn. Không còn quá phải chứng minh. Không còn quá bị xé bởi vô số tiếng nói trong lòng. Một con người thật, nhỏ thôi, mong manh thôi, nhưng ở trong sự thật và ở trong ân sủng.

Nhiều người sợ thập giá vì chỉ nhìn thấy đau. Điều ấy rất người. Không ai tự nhiên thích bị lấy mất, bị bẻ gãy, bị thử thách, bị đi qua đêm tối. Không ai thích bị hiểu lầm, bị thất vọng, bị cắt tỉa, bị buộc phải từ bỏ những gì lòng mình quý. Nếu chỉ nhìn ở tầng bề mặt, thập giá đúng là nơi mất mát. Nhưng Tin Mừng không dừng ở bề mặt. Chúa Giêsu không đi qua thập giá như một tai nạn đáng tiếc. Người đi qua thập giá như con đường vâng phục, như nơi tình yêu được đẩy đến cùng, như cửa dẫn vào phục sinh. Bởi đó, người môn đệ không còn nhìn thập giá chỉ như điều phải chịu, mà dần dần thấy thập giá như nơi cái gì đó trong mình được tinh luyện, được đốt sạch, được tái sinh.

Càng đi qua thập giá càng chạm tới bình an, không phải vì đau khổ tự nó đẹp, cũng không phải vì Thiên Chúa thích thấy con người chịu đau, nhưng vì thập giá là nơi những ảo tưởng lớn nhất của bản ngã bị phơi bày và được tháo xuống. Trước thập giá, người ta thấy mình không kiểm soát được như mình tưởng. Không mạnh như mình tưởng. Không trung tâm như mình tưởng. Không thể giữ mọi thứ như mình tưởng. Và điều lạ là chính khi những ảo tưởng ấy đổ xuống, bình an mới có chỗ nảy mầm. Bình an không đến từ việc mình không còn mong manh. Bình an đến từ việc mình không còn phải đóng vai bất khả tổn thương. Bình an không đến từ việc đời không đổi thay. Bình an đến từ việc giữa mọi đổi thay, mình biết đâu là nền đá không lay chuyển. Bình an không đến từ việc tất cả những gì mình yêu đều được giữ nguyên. Bình an đến từ việc ngay cả khi những gì mình yêu bị rút khỏi tay mình, mình vẫn không rơi khỏi tay Chúa.

Có những bình an giả con người vẫn theo đuổi: bình an của sự thuận lợi, bình an của việc được mọi người đồng ý, bình an của việc không bị đụng chạm, bình an của việc mọi kế hoạch đều đúng ý, bình an của việc mình còn giữ đủ quyền kiểm soát. Nhưng những bình an ấy rất mong manh. Chỉ cần một biến cố là vỡ. Chỉ cần một lời chê, một mất mát, một bệnh tật, một đổi thay là tan. Còn bình an mà Chúa hứa thì khác. Bình an ấy thường được sinh ra từ những nơi rất nghịch lý: từ sự buông tay giữa bất định, từ tiếng xin vâng trong khi chưa hiểu, từ sự trung thành trong khô khan, từ lòng tha thứ khi vết thương còn nóng, từ việc ở lại với bổn phận khi không có ánh đèn nào chiếu vào, từ việc im lặng nhận phần thiệt mà không để lòng thành cay đắng, từ việc dâng cho Chúa cả những điều mình đã cầu xin rất lâu mà vẫn không giữ được. Bình an ấy không có mùi chiến thắng của bản ngã. Nó có mùi của thập giá đã được ôm lấy trong yêu thương.

Có những người sau một thời gian dài đi với Chúa, khuôn mặt họ không nhất thiết sáng vì đời dễ, nhưng sáng vì một điều khác: họ đã không còn đánh nhau với Chúa nhiều như trước. Họ đã ngừng tranh luận với Người về mọi điều. Họ đã thôi bắt Người phải làm theo bản vẽ của mình. Họ đã bớt chống lại những cắt tỉa mà lúc đầu làm mình đau. Họ đã bớt sống trong thế thủ phòng vệ trước những điều trái ý. Họ không phải là những con người buông xuôi, nhưng là những con người đã hiểu ra rằng mình không sống tốt hơn bằng cách siết chặt đời mình mãi. Từ đó, họ mềm hơn. Hiền hơn. Lặng hơn. Không còn cần phải thắng trong mọi chuyện. Không còn phải khẳng định giá trị mình bằng cách lấn át. Không còn quá lệ thuộc vào việc được nhìn nhận. Họ bắt đầu giống những người đang ở rất gần một nguồn nước sâu. Và ai ở gần họ cũng cảm thấy bớt ngộp hơn.

Càng thuộc trọn về Chúa càng hạnh phúc thật, vì hạnh phúc cuối cùng của con người không nằm ở chỗ có thật nhiều, mà ở chỗ thuộc về đúng Đấng mình được dựng nên để thuộc về. Một trái tim con người có thể lang thang qua rất nhiều nơi: qua của cải, qua thành công, qua tình yêu nhân loại, qua ước mơ, qua quyền lực, qua lời khen, qua các vai trò, qua những công trình mình xây, thậm chí qua những hình thức đạo đức. Nhưng nếu trái tim ấy chưa yên trong Chúa, nó vẫn chưa về nhà. Có thể nó có những khoảnh khắc vui, có những lúc rất được thỏa mãn, có những thời đoạn rực rỡ, nhưng sâu bên dưới vẫn có một nỗi khát dai dẳng mà không gì của thế gian chạm tới tận cùng. Chỉ khi con người thôi chạy lòng vòng quanh những chiếc giếng không đủ nước, quay về với nguồn mạch, lúc ấy mới có hạnh phúc thật.

Hạnh phúc thật không ồn ào như người đời quảng cáo. Nó không nhất thiết đi kèm với ánh sáng sân khấu, với cảm giác luôn phấn khích, với việc lúc nào cũng được như ý. Nhiều khi hạnh phúc thật rất âm. Nó hiện diện trong một lòng biết ơn sâu không cần khoe. Trong một đêm vẫn còn nước mắt nhưng không tuyệt vọng. Trong một trái tim có thể tha thứ dù chưa quên hết. Trong một gia đình có biết bao điều chưa hoàn hảo nhưng vẫn giữ được tình yêu vì có người chịu buông cái tôi. Trong một đời tận hiến có những mùa khô nhưng vẫn sáng lên bằng sự trung thành. Trong một người bệnh không còn khỏe mạnh nữa nhưng ánh mắt lại bình an hơn những người đang đầy đủ. Trong một cụ già không còn làm gì lớn lao nhưng ngồi đó như một chứng tá sống động rằng bớt dính bén thì bớt sợ mất. Hạnh phúc thật là thứ có thể hiện diện ngay cả khi bên ngoài không trọn vẹn, vì cội nguồn của nó không nằm ở bên ngoài.

Có một nỗi buồn lớn của đời người là sống rất lâu mà cứ trượt bên ngoài chính mình. Chạy từ thứ này sang thứ khác, nắm cái này rồi lại nắm cái khác, đòi cái này chưa được đã đòi cái khác, đi từ mối bận tâm này sang nỗi lo khác, từ tham vọng này sang tham vọng khác, mà không bao giờ thật sự nghỉ trong Thiên Chúa. Người môn đệ càng buông bỏ càng bớt bị cuốn đi kiểu đó. Họ không còn cần phải thử tất cả, giữ tất cả, có tất cả để biết mình sống. Họ bắt đầu thấy một mẩu bánh đơn sơ, một lời kinh chậm rãi, một công việc được làm trong yêu mến, một ngày sống không phản bội lương tâm, một lần nhịn được cơn nóng, một sự hiện diện hiền lành bên người đau khổ, cũng đã là những vùng đất của hạnh phúc. Vì lòng họ không còn quá ồn nên có thể nghe được những niềm vui nhỏ mà sâu. Vì lòng họ không còn quá tham nên có thể nếm được cái đẹp của đủ. Vì lòng họ không còn quá bận tôn thờ mình nên có thể ngạc nhiên trước ân huệ đời thường.

Đại kết của hành trình buông bỏ để theo Chúa không phải là hình ảnh một con người biến mất, nhạt nhòa, mất màu sắc, không còn gì riêng. Trái lại, khi Chúa thật sự làm chủ, con người trở nên chính mình hơn bao giờ hết. Không còn là cái tôi phình to, mà là bản thể được chữa lành. Không còn là bản ngã đòi chiếm sân khấu, mà là con người được sắp xếp lại trong tình yêu. Người càng thánh thiện không càng giống một khuôn mẫu khô cứng, mà càng mang nét riêng Chúa đã đặt nơi họ một cách sáng hơn, sạch hơn, tự do hơn. Có người nên thánh bằng sự dịu dàng. Có người nên thánh bằng lòng trung thành bền bỉ. Có người nên thánh bằng khả năng chịu đau mà không cay. Có người nên thánh bằng niềm vui đơn sơ. Có người nên thánh bằng sự âm thầm. Có người nên thánh bằng lòng thương xót rất rộng. Tất cả đều khác nhau, nhưng giống nhau ở một điểm: họ đã để quá nhiều thứ chết đi để con người thật trong Chúa được sinh ra.

Vì thế, đừng sợ mất mình trong Chúa. Điều đáng sợ không phải là mất mình trong Chúa, mà là mất Chúa trong lúc cứ cố giữ mình. Điều đáng sợ không phải là để Chúa cắt đi một vài cành không sinh trái, mà là ôm những cành ấy đến mức cây không còn nhựa sống. Điều đáng sợ không phải là đi qua thập giá, mà là đi hết đời mà không hề học yêu. Điều đáng sợ không phải là phải buông, mà là cứ nắm lấy những gì đang dần dần rút hết bình an khỏi linh hồn mình. Chúa không phải một tên trộm đến để lấy mất đời ta. Người là Đấng Cứu Độ đến để lấy khỏi ta những gì đang âm thầm giết chết ta, và trao lại cho ta sự sống viên mãn hơn.

Có thể sẽ còn nhiều lần người môn đệ phải học lại bài học này. Không ai buông một lần là xong. Cái tôi có rất nhiều đầu. Chặt đầu này nó mọc đầu khác. Hôm nay buông một kiểu, mai lại phải buông kiểu khác. Hôm nay tưởng đã tha rồi, mai lại đau lại. Hôm nay tưởng đã trao, mai lại giật về. Hôm nay tưởng đã không cần người ta công nhận nữa, mai một ánh nhìn lạnh cũng làm mình nhói. Hôm nay tưởng đã phó thác tương lai, mai lại thao thức không ngủ. Điều ấy không làm hành trình trở thành giả tạo. Nó làm hành trình trở thành thật. Vì chừng nào còn sống, chừng đó còn phải chọn lại Chúa. Còn phải đặt lại mình dưới chân thập giá. Còn phải mở tay ra lần nữa. Còn phải thưa xin vâng lần nữa. Và mỗi lần như thế, dù nhỏ đến đâu, ân sủng lại có thêm chỗ làm việc.

Có những lúc, Chúa không đòi ta làm điều lớn, chỉ đòi một điều rất nhỏ nhưng rất thật: đừng nắm nữa. Đừng nắm lời cuối cùng trong cuộc cãi nhau ấy nữa. Đừng nắm món nợ cũ trong lòng nữa. Đừng nắm hình ảnh mình phải hoàn hảo nữa. Đừng nắm nỗi sợ tương lai ấy như thần tượng nữa. Đừng nắm một con người không thuộc về mình nữa. Đừng nắm quyền được oán trách mãi nữa. Đừng nắm cả những cách đạo đức đang nuôi cái tôi của mình nữa. Hãy buông. Buông không phải vì điều ấy không quan trọng, nhưng vì Chúa quan trọng hơn. Buông không phải vì mình không đau, nhưng vì muốn đau mà không xa Chúa. Buông không phải vì mình vô cảm, nhưng vì muốn yêu trong tự do. Buông không phải vì bất lực, nhưng vì biết quyền năng thật của đời mình không nằm ở lực nắm giữ, mà ở sức mạnh của sự phó thác.

Ai đã nếm được điều này sẽ bắt đầu thấy cả cuộc đời dưới ánh sáng khác. Những điều từng làm mình hoảng nay không còn hoàn toàn thống trị nữa. Những mất mát vẫn làm mình khóc, nhưng không còn làm mình tan nát như trước. Những lời chê vẫn chạm đau, nhưng không còn đủ định nghĩa giá trị mình. Những bấp bênh của tương lai vẫn còn đó, nhưng không còn nuốt trọn hiện tại. Những thử thách của đức tin vẫn có thể kéo dài, nhưng không còn đồng nghĩa với việc Chúa vắng mặt. Những dính bén cũ vẫn còn có thể trỗi lên, nhưng người ấy nhận ra nhanh hơn và đem vào cầu nguyện sớm hơn. Có một sự trưởng thành rất âm thầm trong tất cả những điều này: linh hồn biết quay về với Chúa nhanh hơn mỗi khi bị chao.

Và rồi, đến tận cùng, hành trình buông bỏ chỉ có thể được hiểu trọn trong ánh sáng tình yêu. Nếu chỉ nhìn nó như kỷ luật, như hy sinh, như phủ định bản thân, sẽ rất khó đi lâu. Nhưng nếu thấy nó như câu trả lời của tình yêu dành cho Tình Yêu, mọi sự đổi khác. Người ta buông không phải để chứng minh mình mạnh. Người ta buông vì đã gặp một Đấng đáng để trao cả cuộc đời. Người ta từ bỏ không phải để tự hành hạ, nhưng vì biết càng thuộc về Chúa thì càng đúng với mình. Người ta chấp nhận thập giá không phải vì thích đau, mà vì yêu không thể chỉ yêu ở những đoạn dễ. Người ta chết đi mỗi ngày không phải để biến thành tro bụi, mà để sự sống phục sinh của Đức Kitô lớn dần trong mình. Khi tình yêu ở trung tâm, những đòi hỏi của Tin Mừng không còn chỉ là luật, mà trở thành con đường của lòng mến.

Phải, càng mất mình trong Chúa càng tìm lại chính mình. Vì chỉ trong Chúa, con người mới biết mình là ai ngoài mọi lớp vai diễn.
Phải, càng đi qua thập giá càng chạm tới bình an. Vì chỉ trong thập giá được ôm lấy với Chúa, những chống cự vô ích của bản ngã mới dần tan.
Phải, càng thuộc trọn về Chúa càng hạnh phúc thật. Vì không gì trên đời này có thể cho trái tim con người chỗ nghỉ cuối cùng ngoài chính Thiên Chúa.

Và nếu phải khép lại toàn bộ hành trình này bằng một lời rất sâu, có lẽ đó là lời này: người Kitô hữu không được mời gọi sống ít đi, mà sống đúng hơn; không được mời gọi nghèo đi trong nghĩa thiếu vắng sự sống, mà nghèo đi để được đầy chính Thiên Chúa; không được mời gọi mất mình vào hư vô, mà mất mình vào tình yêu để được tìm lại trong vĩnh cửu. Tất cả những buông bỏ, tất cả những thập giá, tất cả những cuộc chết đi hằng ngày, cuối cùng đều dẫn về một nơi: vòng tay của Chúa, nơi con người không còn phải gồng lên để là mình nữa, vì đã được yêu, được biết, được gọi tên, được đón nhận trọn vẹn.

Cho nên, nếu hôm nay lòng ai đó còn sợ phải buông, còn tiếc, còn run, còn thấy thập giá quá nặng, thì cũng đừng tuyệt vọng vì sự chậm của mình. Chỉ cần tiếp tục bước. Tiếp tục trao. Tiếp tục thưa xin vâng dù còn nghẹn. Tiếp tục quay về dù còn ngã. Tiếp tục mở tay ra dù bản năng vẫn muốn nắm. Chúa không đòi ta lập tức thành con người không còn sợ hãi. Người chỉ chờ ta cho Người quyền đồng hành thật. Từng chút một, Người sẽ dạy ta. Từng lớp một, Người sẽ gỡ. Từng vết thương một, Người sẽ chạm. Từng dính bén một, Người sẽ thanh luyện. Và đến một ngày, có thể rất âm thầm thôi, ta sẽ thấy mình đang sống trong một thứ tự do mà trước đây không tưởng được: tự do của người không còn phải giữ quá nhiều để được bình an, vì đã có Chúa.

Lúc ấy, người môn đệ sẽ có thể nhìn lại cả cuộc đời và nói bằng một lòng biết ơn sâu xa: những gì Chúa lấy đi nơi con, hóa ra không làm con nghèo hơn; những gì Chúa bẻ gãy nơi con, hóa ra không làm con nhỏ đi; những gì Chúa không cho con giữ, hóa ra không phải để phạt con; những thập giá Chúa không cất khỏi, hóa ra lại là nơi con học yêu nhất; những bóng tối Chúa để con đi qua, hóa ra là nơi đức tin con nên thật; những lần con tưởng mình mất, hóa ra là lúc con được tìm lại gần nhất.

Và trong bình an ấy, giữa đời này hay ở ngưỡng đời sau, linh hồn ấy sẽ chỉ còn một lời rất nhẹ mà rất đủ:

Lạy Chúa, con thuộc về Ngài.
Con không còn muốn giữ mình cho riêng con nữa.
Con không còn sợ phải nhỏ đi để Ngài lớn lên.
Con không còn sợ phải mất để được Ngài.
Con không còn sợ thập giá, vì con biết bên kia là tình yêu.
Con không còn sợ buông, vì con biết tay Ngài vững hơn tay con.
Con không còn sợ cuộc gặp sau cùng, vì cả đời này, Ngài đã âm thầm dạy con tập trở về.

Và đó là hạnh phúc thật.
Hạnh phúc của một trái tim đã đi qua bao lần nắm và buông, bao lần ngã và đứng dậy, bao lần giằng co và xin vâng, để cuối cùng hiểu ra điều lớn nhất:

Không có gì bình an hơn là thuộc trọn về Chúa.
Không có gì tự do hơn là không còn sống làm nô lệ cho chính mình.
Không có gì đẹp hơn là để đời mình tan vào thánh ý Chúa như hạt lúa chịu mục đi để trổ sinh mùa gặt.
Và không có gì viên mãn hơn là mất mình trong Tình Yêu, để được tìm lại mãi mãi trong chính Thiên Chúa.

 

Bài viết liên quan

Back to top button
error: Content is protected !!