
HUYỀN NHIỆM ƠN GỌI ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN
Tác phẩm suy niệm – khơi lại vẻ đẹp của hôn nhân Công giáo
Có những người đi vào hôn nhân như đi vào một ngôi nhà đẹp. Họ nghĩ đến ngày cưới, nghĩ đến nhẫn cưới, nghĩ đến những bức hình, những lời chúc, những tiếng cười, những cái nắm tay, những lời hứa ngọt ngào. Nhưng rồi năm tháng đi qua, họ bắt đầu nhận ra: hôn nhân không chỉ là một ngôi nhà đẹp để bước vào, mà còn là một hành trình dài để cùng nhau xây, cùng nhau sửa, cùng nhau chịu đựng, cùng nhau trưởng thành, cùng nhau ngã xuống rồi lại đứng lên, cùng nhau đi qua những mùa nắng đẹp và cả những mùa mưa dầm rất dài. Chính ở đó, người ta mới hiểu: hôn nhân không chỉ là chuyện “hai người yêu nhau”, mà còn là một ơn gọi, một huyền nhiệm, một con đường nên thánh, một cách Thiên Chúa mời gọi hai con người bước vào giao ước của tình yêu, để từ đó họ phản chiếu phần nào tình yêu trung tín của chính Ngài giữa trần gian.
Nói tới ơn gọi, nhiều người chỉ nghĩ đến linh mục hay tu sĩ. Nhiều người vẫn vô tình xem hôn nhân như một lựa chọn “bình thường hơn”, “đời hơn”, “ít thiêng liêng hơn”. Nhưng thật ra, trong đức tin Công giáo, hôn nhân không hề là một con đường thấp hơn. Hôn nhân là một bí tích. Bí tích nghĩa là dấu chỉ hữu hình của ân sủng vô hình. Nghĩa là qua tình yêu giữa người chồng và người vợ, Thiên Chúa muốn nói một điều gì đó với thế giới. Qua sự trung tín của họ, Thiên Chúa muốn cho người ta nhìn thấy lòng trung tín của Ngài. Qua việc họ tha thứ cho nhau, Thiên Chúa muốn cho người ta chạm được lòng thương xót của Ngài. Qua việc họ sinh thành, dưỡng dục, hy sinh và đồng hành với con cái, Thiên Chúa muốn làm hiện diện tình phụ tử và mẫu tử của Ngài trong gia đình nhân loại.
Bởi vậy, ai bước vào hôn nhân mà chỉ nghĩ đến chuyện “có người để yêu”, “có người để nương tựa”, “có người để xây tổ ấm”, thì mới chỉ chạm tới bề mặt. Hôn nhân Công giáo còn sâu hơn nhiều. Đó là khi hai người ý thức rằng: chúng tôi không chỉ đến với nhau vì cảm xúc, nhưng vì một lời mời gọi của Thiên Chúa. Chúng tôi không chỉ sống với nhau để bớt cô đơn, nhưng để cùng nhau nên thánh. Chúng tôi không chỉ chọn nhau vì hợp nhau, nhưng còn vì muốn cùng nhau thuộc về một kế hoạch lớn hơn bản thân mình. Chúng tôi không chỉ xây một gia đình để sống qua ngày, nhưng để làm nên một mái ấm có Chúa ở giữa, nơi tình yêu không chỉ là cảm giác mà là một quyết định được lặp lại mỗi ngày.
Thế giới hôm nay nói rất nhiều về tình yêu, nhưng nói quá ít về giao ước. Người ta nói nhiều về rung động, nhưng nói quá ít về trách nhiệm. Người ta nói nhiều về “đúng người”, nhưng nói quá ít về việc mình phải trở thành đúng người. Người ta nói nhiều về quyền được hạnh phúc, nhưng nói quá ít về khả năng hy sinh để gìn giữ hạnh phúc ấy. Có những người bước vào hôn nhân với trái tim rất nóng nhưng nền tảng rất yếu. Có những người cưới nhau vì sợ cô đơn, vì áp lực tuổi tác, vì gia đình thúc giục, vì thấy ai cũng lập gia đình, vì nghĩ “cưới rồi sẽ tính”, vì lầm tưởng đám cưới là đích đến, trong khi đó chỉ mới là điểm khởi đầu. Bởi vậy, không ít cuộc hôn nhân tan vỡ không phải chỉ vì hết yêu, mà vì ngay từ đầu họ chưa hiểu hôn nhân là gì, chưa cầu nguyện đủ để discern, chưa trưởng thành đủ để quyết định, chưa khiêm tốn đủ để học yêu theo cách của Tin Mừng.
Hôn nhân Công giáo trước hết là một lời đáp trả. Thiên Chúa gọi, con người đáp lại. Nhưng tiếng gọi đó không vang lên ầm ĩ như sấm chớp. Nó thường đến trong rất nhiều điều rất bình thường: một lần gặp gỡ, một người khiến lòng mình bình an, một sự đồng điệu trong đức tin, một sự nghiêm túc nơi nhân cách, một sự tin tưởng lặng lẽ lớn dần, một cảm thức rằng mình có thể trao cả đời cho người này mà không thấy bị thu nhỏ lại, nhưng được mời gọi lớn lên. Tiếng gọi ấy không chỉ nằm trong cảm giác “mình rất thích người này”, mà sâu hơn, là “mình có thể cùng người này đi đến cùng trong Chúa không”, “mình có thể cùng người này gánh bệnh tật, nghèo khó, hiểu lầm, áp lực, cám dỗ, mỏi mệt và tuổi già không”, “mình có thể cùng người này tạo nên một mái ấm mà ở đó con cái được lớn lên trong đức tin, nhân bản và tình thương không”.
Nhiều người trẻ sợ chữ “ơn gọi hôn nhân” vì họ nghe chữ “ơn gọi” như một cái gì đó quá nặng. Nhưng thật ra, chính khi hiểu hôn nhân là ơn gọi, người ta mới bước vào nó với sự kính sợ đúng nghĩa, với sự nghiêm túc cần có, với niềm vui sâu xa và với tinh thần chuẩn bị trưởng thành. Nếu chỉ xem hôn nhân là chuyện tự nhiên của đời người, ta sẽ dễ cư xử với nó hời hợt. Nhưng khi hiểu đó là một ơn gọi, ta sẽ biết rằng: không thể chọn bừa, không thể yêu cẩu thả, không thể cưới theo phong trào, không thể để cảm xúc dẫn đi hết, không thể coi nhẹ cầu nguyện, không thể coi nhẹ việc phân định, không thể coi nhẹ sự đồng thuận về đức tin, về giá trị sống, về trách nhiệm, về tương lai gia đình.
Có người hỏi: vậy mục đích của hôn nhân Công giáo là gì? Câu hỏi này rất quan trọng, vì nếu đi sai từ mục đích, cả hành trình sau đó sẽ lệch. Hôn nhân Công giáo không chỉ nhằm để hai người sống chung hợp pháp, cũng không chỉ để có con, cũng không chỉ để hỗ trợ nhau về đời sống vật chất hay tinh thần. Tất cả những điều đó có, nhưng chưa đủ. Mục đích sâu xa của hôn nhân Công giáo là để người nam và người nữ yêu nhau bằng một tình yêu phản chiếu tình yêu của Đức Kitô dành cho Hội Thánh; để họ cộng tác với Thiên Chúa trong việc trao ban sự sống; để họ trợ giúp nhau nên thánh; để họ xây dựng một Hội Thánh tại gia; để qua đời sống gia đình của mình, Tin Mừng được sống, được truyền lại, được làm chứng bằng những điều rất nhỏ mỗi ngày.
Một cuộc hôn nhân Công giáo đẹp không phải là cuộc hôn nhân không có sóng gió. Một cuộc hôn nhân đẹp là cuộc hôn nhân biết đặt ý nghĩa của mình ở đúng chỗ. Khi biết mình cưới nhau để nên thánh cho nhau, người ta sẽ không còn xem người bạn đời chỉ là người phục vụ nhu cầu cảm xúc của mình. Khi biết mình cưới nhau để làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa, người ta sẽ bớt sống ích kỷ và bớt hỏi: “Tại sao người kia không làm tôi hạnh phúc đủ?” để bắt đầu hỏi: “Hôm nay tôi đã yêu người ấy theo cách Thiên Chúa muốn chưa?” Khi biết gia đình mình là Hội Thánh tại gia, người ta sẽ không còn xem việc cầu nguyện chung là thứ phụ thuộc, mà hiểu đó là hơi thở. Khi biết bí tích hôn phối là giao ước chứ không chỉ là hợp đồng, người ta sẽ không dễ bỏ cuộc mỗi khi cảm xúc xuống thấp.
Điều đau nhất của nhiều cuộc hôn nhân không phải là thiếu tiền, không phải là thiếu tiện nghi, mà là thiếu nền tảng. Có những đôi bạn trẻ chuẩn bị rất kỹ cho ngày cưới, nhưng chuẩn bị quá ít cho đời sống sau ngày cưới. Họ chọn nhà hàng, chọn nhạc, chọn áo, chọn màu hoa, chọn góc chụp, nhưng lại không dành đủ thời gian để bàn về đức tin, về cách quản lý tiền bạc, về quan hệ với hai bên gia đình, về việc giáo dục con cái, về các vết thương tâm lý từ quá khứ, về cách giải quyết xung đột, về ranh giới lành mạnh, về trách nhiệm công việc, về hy sinh, về sự chung thủy, về đời sống cầu nguyện. Người ta có thể tổ chức một đám cưới rất đẹp mà vẫn bước vào một đời sống hôn nhân rất mong manh nếu nền móng không được xây từ trước.
Bởi thế, chọn lựa trong hôn nhân là một chuyện thiêng liêng. Chọn một người để cưới không chỉ là chọn một người mình thấy hợp ở hiện tại. Đó là chọn cha hoặc mẹ của con mình trong tương lai. Đó là chọn người sẽ đứng cạnh mình khi mình bệnh. Đó là chọn người sẽ biết những góc tối nhất của mình. Đó là chọn người sẽ cùng mình già đi. Đó là chọn người sẽ tác động sâu sắc đến linh hồn mình mỗi ngày. Đó là chọn người mà nếu đi cùng, mình dễ gần Chúa hơn hay xa Chúa hơn. Đó là chọn người mà khi ở bên, phần đẹp nhất trong mình được đánh thức hay phần xấu nhất cứ bị kéo ra. Đó là chọn người mà trong nghèo khó vẫn còn tình nghĩa, trong bất đồng vẫn còn tôn trọng, trong mỏi mệt vẫn còn muốn ở lại.
Không ít người trẻ hỏi: làm sao biết đây là người Chúa muốn cho mình? Câu hỏi đó không có một công thức cứng nhắc, nhưng có những dấu chỉ. Một trong những dấu chỉ quan trọng nhất là bình an. Không phải thứ bình an ủy mị hay mù quáng, nhưng là bình an có suy nghĩ, bình an đã đi qua cầu nguyện, bình an dù vẫn thấy những khó khăn thật. Có những mối quan hệ làm tim đập mạnh nhưng lòng không yên. Có những mối quan hệ cho cảm giác rất say nhưng càng đi càng rối. Có những mối quan hệ khiến ta bất an, ghen tuông, phụ thuộc, kiệt sức, nghi ngờ giá trị bản thân, mất dần đời sống thiêng liêng, sống trong hồi hộp và tổn thương liên tục. Đó không phải là bình an của Chúa. Tình yêu đích thực có thể có thử thách, nhưng không làm ta đánh mất phẩm giá. Tình yêu đích thực có thể có nước mắt, nhưng không khiến linh hồn ta bị bẻ cong mãi trong sợ hãi. Tình yêu đích thực có thể có khác biệt, nhưng vẫn có nền tảng tôn trọng, chân thành và hướng thiện.
Dấu chỉ khác là sự trưởng thành. Một người có thể rất dễ thương, rất hấp dẫn, rất lãng mạn, nhưng chưa chắc đã trưởng thành để đi đến hôn nhân. Hôn nhân không sống được bằng cảm xúc ban đầu. Hôn nhân cần một người biết giữ lời, biết chịu trách nhiệm, biết lao động, biết xin lỗi, biết kiểm soát cơn giận, biết tôn trọng ranh giới, biết trung thực, biết đặt điều đúng chỗ, biết hy sinh những ích kỷ nhỏ để bảo vệ điều lớn hơn. Nhiều mối tình tan nát vì người ta yêu khi bản thân chưa đủ chín, rồi đem hết sự non nớt của mình trút vào nhau và gọi đó là “do không hợp”. Thực ra không ít trường hợp, vấn đề không nằm ở chuyện hợp hay không hợp, mà ở chỗ hai người chưa học đủ về tình yêu trưởng thành.
Trong ánh sáng Tin Mừng, chọn lựa người bạn đời không thể tách khỏi cầu nguyện. Cầu nguyện không phải để Chúa từ trời đọc rõ tên người mình sẽ cưới. Cầu nguyện là để lòng mình được sạch hơn, bớt ảo tưởng hơn, bớt nông nổi hơn, bớt ích kỷ hơn, để mình nghe rõ hơn đâu là tiếng Chúa, đâu là tiếng sợ hãi, đâu là tiếng sĩ diện, đâu là tiếng cô đơn thúc ép. Có những người cầu nguyện rất ít nhưng vẫn muốn quyết định chuyện cả đời. Có những người dành hàng giờ để nhắn tin, để mơ mộng, để dò xét, để hỏi ý người ngoài, nhưng lại dành rất ít thời gian quỳ trước Chúa và nói: “Lạy Chúa, xin cho con đừng chỉ chọn người con thích, mà chọn điều Chúa muốn.” Chính ở đây, đời sống thiêng liêng của người trẻ quyết định rất nhiều cho tương lai hôn nhân.
Cầu nguyện trong giai đoạn tìm hiểu không chỉ là đọc kinh cho có. Đó là dám đặt mối quan hệ này trước mặt Chúa và hỏi những câu khó. Người này có giúp con sống thật hơn không? Người này có tôn trọng thân xác và linh hồn con không? Người này có cùng con bước đi trong đức tin không? Tình yêu này có đưa con đến gần gia đình hơn hay làm con xa những giá trị tốt đẹp? Tình yêu này có giúp con sống có trách nhiệm hơn không? Khi ở bên người ấy, con có thấy mình bình an trong sạch hơn hay cứ bị kéo vào những lối sống mập mờ? Người ấy có thật sự mong điều tốt cho linh hồn con không, hay chỉ muốn con thỏa mãn mong đợi của họ?
Nhiều cuộc hôn nhân đau đớn đã bắt đầu từ việc người ta bỏ qua những cảnh báo rất rõ. Họ thấy người kia thiếu trung thực nhưng nghĩ cưới rồi sẽ khác. Họ thấy người kia nóng nảy, xúc phạm, kiểm soát nhưng nghĩ yêu nhiều hơn sẽ làm dịu lại. Họ thấy người kia coi thường đức tin, coi thường cầu nguyện, coi thường gia đình, coi thường sự thủy chung nhưng vẫn tự trấn an rằng sau này rồi đâu sẽ vào đó. Không. Có những điều sau hôn nhân có thể chỉnh dần, nhưng có những nền tảng lệch thì hôn nhân chỉ làm nó lộ rõ hơn, chứ không tự động chữa lành. Yêu không phải là mù. Yêu trong Chúa càng không phải là tự dối mình. Tình yêu đích thực không sợ sự thật. Người yêu đúng không bắt ta nhắm mắt trước những điều nghiêm trọng. Trái lại, tình yêu đúng cho ta đủ ánh sáng để nhìn rõ, đủ khiêm tốn để lắng nghe, đủ can đảm để dừng lại nếu cần.
Bởi vậy, một trong những ân huệ lớn nhất Thiên Chúa ban cho người trẻ trước hôn nhân là thời gian chờ đợi. Nhiều người ghét phải chờ. Họ sợ tuổi tác, sợ thua bạn bè, sợ bị hỏi han, sợ cô đơn, sợ nhìn quanh ai cũng có đôi. Nhưng có những sự chậm lại là lòng thương xót của Chúa. Bởi nếu bước vào hôn nhân quá sớm khi chưa trưởng thành, cái giá thường rất đắt. Chờ đợi đúng cách không làm ta mất tuổi xuân, mà giúp ta giữ được cả đời mình. Một người biết chờ trong cầu nguyện là một người tôn trọng hôn nhân đủ để không dùng sự nôn nóng của mình làm nền tảng cho một quyết định lớn.
Tuy vậy, chờ không có nghĩa là thụ động. Người chuẩn bị cho ơn gọi hôn nhân phải chuẩn bị chính mình trước khi chuẩn bị tìm người. Nhiều người chỉ chăm chăm tìm đúng người mà quên trở thành đúng người. Họ muốn một người chín chắn nhưng bản thân còn thất thường. Họ muốn một người trung tín nhưng bản thân quen sống nửa vời. Họ muốn một người biết lắng nghe nhưng bản thân luôn muốn thắng. Họ muốn một người sống đạo nhưng bản thân cầu nguyện thất thường. Họ muốn một người là bờ vai, nhưng bản thân chưa học cách làm chỗ dựa. Họ muốn một người chữa lành mình, trong khi mình chưa chịu đối diện các tổn thương cũ. Rất nhiều đổ vỡ về sau bắt đầu từ chỗ hai người đều đi vào hôn nhân với hy vọng người kia sẽ bù đắp hết những phần mình thiếu, thay vì mang vào đó một trái tim đang học trưởng thành, học tự chủ, học chịu trách nhiệm trước mặt Chúa.
Chuẩn bị cho hôn nhân trước hết là chuẩn bị nhân cách. Người bước vào đời sống gia đình phải học sống thật, vì dối trá là thuốc độc của thân mật. Phải học tiết độ, vì không biết làm chủ bản thân thì rất khó trung tín. Phải học lao động và trách nhiệm, vì tình yêu không thể sống bằng hứa hẹn suông. Phải học kính trọng cha mẹ nhưng cũng biết trưởng thành để khỏi lệ thuộc cảm xúc gia đình gốc. Phải học xin lỗi mà không tự ái. Phải học lắng nghe mà không phòng thủ. Phải học nói sự thật cách hiền lành. Phải học phân định giữa cảm xúc thoáng qua và quyết định bền vững. Phải học rằng tình yêu không phải lúc nào cũng nồng nàn, nhưng vẫn có thể rất thật, rất sâu, rất bền khi đi cùng sự trung thành.
Chuẩn bị cho hôn nhân còn là chuẩn bị đời sống đức tin. Một cặp vợ chồng Công giáo không thể bền chỉ bằng việc “có cùng đạo trên giấy tờ”. Cùng đạo không tự động có nghĩa là cùng đức tin. Có những người cùng là Công giáo nhưng một người xem đức tin là trung tâm, người kia chỉ xem là tập tục. Một người sống bí tích, người kia chỉ sống hình thức. Một người quý việc cầu nguyện, người kia coi đó là việc tùy hứng. Những khác biệt ấy rồi sẽ đi thẳng vào đời sống gia đình: cách giáo dục con cái, cách xử lý khủng hoảng, cách nhìn về tiền bạc, đau khổ, sự tha thứ, trách nhiệm, lòng chung thủy, ý nghĩa của thân xác, và rất nhiều điều khác. Gia đình Công giáo chỉ thật sự có sức sống khi Chúa không chỉ hiện diện trên bàn thờ nhỏ trong nhà, mà hiện diện trong các chọn lựa, trong cách nói chuyện, trong cách tiêu tiền, trong cách tha thứ, trong cách dạy con, trong cách hai vợ chồng nhìn về nhau.
Có những người kết hôn mà không hề tập cầu nguyện chung từ trước. Họ có thể nói với nhau rất nhiều chuyện, nhưng hiếm khi cùng nhau đứng trước Chúa. Điều này rất đáng tiếc, vì cầu nguyện chung là một trong những nơi sâu nhất mà hai người học cách trở nên một. Khi hai người cùng đặt mối quan hệ của mình trước mặt Chúa, họ được kéo ra khỏi cái tôi. Họ được nhắc rằng tình yêu này không chỉ là của mình. Họ được dạy biết nói lời cảm ơn, lời xin lỗi, lời phó thác. Họ được giữ khỏi ảo tưởng rằng mình có thể một mình cứu lấy hôn nhân của mình bằng kỹ năng hay cảm xúc. Không. Gia đình sống được vì ân sủng. Hôn nhân giữ được vì ân sủng. Trung tín được vì ân sủng. Tha thứ được vì ân sủng. Nuôi con được trong bình an cũng vì ân sủng.
Quyết định bước vào hôn nhân vì thế không thể chỉ dựa trên việc “mình rất yêu”. Câu hỏi không chỉ là “mình có yêu người này không”, mà còn là “mình có sẵn sàng trao đời mình cho người này trong Chúa không”, “mình có hiểu trách nhiệm của bí tích này không”, “mình có chấp nhận tình yêu từ nay không còn là chuyện của riêng mình nhưng là một giao ước công khai trước mặt Thiên Chúa và Hội Thánh không”. Khi một người nói lời hứa hôn phối trong nhà thờ, người ấy không chỉ nói với người phối ngẫu. Người ấy nói trước bàn thờ, trước Hội Thánh, trước Thiên Chúa. Lời hứa ấy đẹp vì nó ràng buộc. Nó không đẹp theo nghĩa lãng mạn mơ hồ, mà đẹp theo nghĩa thánh thiêng: từ nay, tôi không còn yêu theo cảm hứng, nhưng yêu trong lời cam kết; từ nay, tôi không còn chỉ hỏi “hôm nay tôi còn cảm thấy gì”, mà còn hỏi “hôm nay tôi có sống điều tôi đã hứa không”.
Đây là chỗ thế gian và Tin Mừng khác nhau rất rõ. Thế gian thường nói: còn yêu thì ở, hết yêu thì đi. Tin Mừng nói: hãy yêu cho đến cùng. Dĩ nhiên, câu này không phủ nhận những hoàn cảnh rất đau, rất phức tạp, có yếu tố bạo hành hay tổn thương nghiêm trọng cần được xử lý đúng đắn. Nhưng nói chung, linh đạo hôn nhân Công giáo không xây trên sự tiện lợi, mà trên lòng trung thành. Tình yêu hôn nhân không phải là ngọn lửa luôn bùng cao như ngày đầu. Nó giống ngọn đèn được châm dầu mỗi ngày: có ngày sáng mạnh, có ngày yếu hơn, nhưng người ta không bỏ mặc nó. Người ta chăm nó. Người ta che nó trước gió. Người ta tiếp dầu. Người ta giữ cho nó không tắt. Giữ hôn nhân bền vững cũng như thế. Không phải chờ nó tự đẹp, mà phải cộng tác với ân sủng để làm cho nó đẹp.
Một trong những điều quan trọng nhất để giữ hôn nhân bền vững là đừng bao giờ ngừng chọn nhau. Nhiều người tưởng cưới xong là xong. Không. Hôn nhân bền vì có một lời “xin vâng” lớn trong ngày cưới, nhưng còn bền hơn vì có rất nhiều lời “xin vâng” nhỏ trong đời thường. Xin vâng khi mệt vẫn cố lắng nghe. Xin vâng khi bực nhưng không buông lời làm nhục. Xin vâng khi tổn thương nhưng chọn nói sự thật thay vì im lặng trả đũa. Xin vâng khi đời sống chăn gối gặp khô khan nhưng vẫn gìn giữ sự tôn trọng. Xin vâng khi kinh tế khó khăn mà không quay sang đổ lỗi. Xin vâng khi con cái làm mình kiệt sức nhưng vẫn không để hôn nhân bị bỏ quên. Xin vâng khi người kia yếu đuối và mình phải mạnh hơn một chút. Xin vâng khi chính mình yếu đuối và phải khiêm tốn để xin được nâng đỡ.
Giữ hôn nhân bền vững không có nghĩa là cố chịu đựng nhau trong cay đắng. Nó có nghĩa là học yêu trưởng thành. Yêu trưởng thành không mù quáng nhưng kiên nhẫn. Không buông thả nhưng nhân hậu. Không kiểm soát nhưng hiện diện. Không chiếm hữu nhưng bảo vệ. Không lãng quên chính mình nhưng biết hiến mình đúng cách. Hôn nhân không bền nhờ hai người hoàn hảo. Hôn nhân bền nhờ hai người biết mình bất toàn nên không ngừng trở về với Chúa, trở về với nhau, trở về với điều cốt lõi lúc ban đầu.
Điều cốt lõi ấy là gì? Là nhớ lại vì sao mình cưới nhau. Rất nhiều cặp vợ chồng khô héo vì đánh mất ý nghĩa ban đầu. Họ chỉ còn vận hành như hai người cùng nhà, cùng gánh trách nhiệm, cùng trả hóa đơn, cùng chăm con, nhưng không còn nhớ mình là quà tặng cho nhau. Họ có thể còn sống chung, nhưng nội tâm đã xa nhau. Bởi vậy, một gia đình Công giáo muốn bền không thể chỉ sống theo lịch trình, mà phải biết dừng lại để nuôi dưỡng tương quan. Phải biết nói chuyện thật với nhau. Phải biết xin lỗi sớm. Phải biết cầu nguyện chung. Phải biết bảo vệ thời gian cho nhau. Phải biết giữ cửa lòng mình khỏi những cám dỗ so sánh, ngoại tình cảm xúc, nguội lạnh thiêng liêng, nghiện công việc, nghiện điện thoại, nghiện tự ái, nghiện im lặng.
Có những điều giết hôn nhân rất chậm nhưng rất thật. Không phải lúc nào cũng là phản bội lớn. Nhiều khi là những vết nứt nhỏ tích tụ. Một lời coi thường lặp đi lặp lại. Một thói quen không lắng nghe. Một kiểu mỉa mai. Một sự vô tâm kéo dài. Một cách luôn đặt cha mẹ, bạn bè, công việc hay thú vui riêng cao hơn người phối ngẫu. Một đời sống cầu nguyện nguội lạnh. Một cách giải quyết xung đột bằng trốn tránh. Một thói quen ôm điện thoại thay vì nhìn vào mắt nhau. Một tâm lý “người kia phải hiểu mà không cần tôi nói”. Một sự cứng lòng không chịu xin lỗi. Một sự mệt mỏi không được chăm sóc đúng cách. Tất cả những điều ấy không ồn ào như một biến cố lớn, nhưng nó ăn mòn hôn nhân từng ngày.
Bởi vậy, giữ hôn nhân bền vững không chỉ là tránh điều xấu lớn, mà còn là chăm sóc điều tốt nhỏ. Nói một câu dịu dàng. Cảm ơn nhau. Hỏi han nhau thật lòng. Tôn trọng nhau trước mặt con cái và hai bên gia đình. Trung thực về tiền bạc. Minh bạch về các mối quan hệ. Tập tha thứ nhanh hơn. Tập không lấy lỗi cũ làm vũ khí. Tập nói những điều khó trong bình an. Tập nhận ra người kia không phải kẻ thù nhưng là người bạn đồng hành đang cùng mình chiến đấu với những giới hạn, những nỗi sợ, những vết thương và những áp lực rất người.
Trong hôn nhân Công giáo, người bạn đời không phải là thần tượng để mình thờ, cũng không phải công cụ để mình sử dụng. Họ là một bí nhiệm được trao phó cho mình yêu thương. Khi nhìn nhau như một quà tặng Thiên Chúa trao, cách cư xử sẽ khác. Ta sẽ bớt thô bạo với trái tim người kia. Ta sẽ bớt xem sự hy sinh của họ là điều hiển nhiên. Ta sẽ bớt đòi hỏi mà bớt biết ơn. Ta sẽ không dễ dùng lời nói làm tổn thương. Ta sẽ không quên rằng người đang đứng trước mặt mình cũng là con cái Chúa, cũng mang phẩm giá, cũng có những mệt mỏi, những sợ hãi, những mong manh cần được tôn trọng.
Nhiều người hỏi: bí quyết nào để hôn nhân bền? Thật ra không có một bí quyết duy nhất. Nhưng có những cột trụ. Cột trụ thứ nhất là cùng nhìn về một hướng. Không phải chỉ cùng sở thích, mà là cùng hệ giá trị. Cùng hiểu hôn nhân là giao ước. Cùng hiểu gia đình là nơi để sống đức tin. Cùng hiểu con cái là quà tặng chứ không phải dự án thể hiện cái tôi. Cùng hiểu tiền bạc là phương tiện chứ không phải ông chủ. Cùng hiểu sự chung thủy là điều không mặc cả. Cùng hiểu tha thứ là điều phải học mãi. Cùng hiểu cầu nguyện là nhu cầu sống còn.
Cột trụ thứ hai là giao tiếp thật. Nhiều vợ chồng không đổ vỡ vì hết yêu, mà vì không còn biết nói chuyện. Họ chỉ trao đổi việc phải làm, nhưng không còn trao đổi lòng mình. Họ sống gần mà xa. Họ đoán ý nhau thay vì lắng nghe nhau. Họ giữ trong lòng những tủi thân, những thất vọng, những tổn thương nhỏ cho đến ngày nó nổ ra thành điều lớn. Người khôn ngoan trong hôn nhân là người học nói sớm, nói thật, nói hiền. Không chờ đến lúc đầy ắp oán trách mới mở miệng. Không dùng im lặng như hình phạt. Không dùng tiếng to để lấn át. Không dùng lý lẽ để nghiền người kia. Nói để hiểu nhau, không phải để thắng nhau.
Cột trụ thứ ba là đời sống bí tích. Một gia đình Công giáo mà xa bí tích thì rất dễ kiệt quệ. Xưng tội giúp người ta khiêm tốn nhận ra mình cũng có lỗi, chứ không chỉ thấy lỗi người kia. Thánh Thể nuôi linh hồn để con người còn có sức yêu khi cảm xúc cạn. Lời Chúa soi sáng để gia đình không bị nhấn chìm bởi logic của thế gian. Không phải ngẫu nhiên mà những gia đình giữ được chiều sâu lâu dài thường là những gia đình biết quay về với Chúa, dù không hoàn hảo, dù bận rộn, dù có lúc yếu đuối. Chính ân sủng làm điều mà nỗ lực thuần túy của con người không làm nổi.
Cột trụ thứ tư là trung tín trong điều nhỏ. Hôn nhân thường không chết vì một ngày, nhưng được cứu bởi từng ngày. Những cuộc hôn nhân đẹp thường là những cuộc hôn nhân được giữ bằng những thói quen nhỏ nhưng đều đặn: cùng đọc một kinh tối, cùng ăn với nhau một bữa thật, cùng hỏi thăm nhau cuối ngày, cùng tôn trọng nhau trước mặt con cái, cùng giữ những biên giới lành mạnh với người ngoài, cùng bảo vệ đời sống riêng tư của gia đình, cùng nhắc nhau nhớ Chúa, cùng làm hòa trước khi ngủ trong khả năng có thể.
Cột trụ thứ năm là biết xin trợ giúp. Có một thứ kiêu ngạo rất nguy hiểm trong hôn nhân: nghĩ rằng chuyện gia đình mình phải tự giải quyết hết, không cần ai. Thật ra có những lúc cần linh mục đồng hành, cần người khôn ngoan nâng đỡ, cần tư vấn tâm lý lành mạnh, cần một cộng đoàn đức tin, cần một môi trường tốt để giúp nhau đi tiếp. Khi một cặp vợ chồng đủ khiêm tốn để nói “chúng tôi đang gặp khó khăn”, đó không phải thất bại. Đó có thể là khởi đầu của chữa lành.
Hôn nhân Công giáo cũng gắn chặt với việc mở ra cho sự sống. Con cái không phải là phụ kiện trang trí cho gia đình hoàn hảo. Con cái là hoa trái của tình yêu, là quà tặng và cũng là trách nhiệm lớn. Nhưng mở ra cho sự sống không chỉ dừng ở sinh học. Một gia đình có thể rất đông con mà vẫn nghèo nàn yêu thương. Cũng có những đôi hiếm muộn nhưng lại sinh nhiều hoa trái thiêng liêng qua lòng bác ái, qua việc đồng hành, qua sự quảng đại, qua việc biến mái ấm của mình thành nơi có ánh sáng. Điều quan trọng là gia đình ấy có để tình yêu của mình trở nên phong nhiêu trong Chúa hay không.
Nhiều người sợ hôn nhân vì nhìn thấy quá nhiều đổ vỡ. Nhưng hôn nhân không đáng sợ. Điều đáng sợ là bước vào nó mà không hiểu, không chuẩn bị, không cầu nguyện, không trưởng thành, không để Chúa dẫn. Hôn nhân trong chương trình của Thiên Chúa là điều rất đẹp. Không phải đẹp kiểu mơ hồ, mà đẹp vì thật. Đẹp vì có Thánh Giá. Đẹp vì đòi hy sinh. Đẹp vì ép con người vượt khỏi ích kỷ. Đẹp vì dạy người ta yêu khi không còn dễ yêu. Đẹp vì làm cho một người đàn ông học làm chồng, làm cha. Đẹp vì làm cho một người phụ nữ học làm vợ, làm mẹ. Đẹp vì hai con người rất bình thường lại trở thành khí cụ để Thiên Chúa tiếp tục yêu thế gian qua những bữa cơm, những giọt nước mắt, những đồng lương, những đêm thức, những lần làm hòa, những lời cầu nguyện và cả những thử thách họ cùng vượt qua.
Có một huyền nhiệm rất lớn trong hôn nhân mà chỉ ai đi sâu mới hiểu: đó là Thiên Chúa không chỉ hiện diện trong những lúc đẹp, mà đặc biệt hiện diện trong những lúc hai người phải chết đi cho cái tôi để giữ điều lớn hơn. Khi một người chồng im tiếng tự ái để lắng nghe nỗi đau của vợ, Chúa đang đi qua đó. Khi một người vợ chọn dịu lại thay vì đẩy cuộc cãi vã đến cùng, Chúa đang đi qua đó. Khi hai người quỳ xuống sau một ngày căng thẳng mà vẫn đọc được một kinh Lạy Cha, Chúa đang đi qua đó. Khi họ ở lại bên nhau trong bệnh tật, thất nghiệp, áp lực, hiểu lầm, Chúa đang đi qua đó. Hôn nhân không chỉ là nơi người ta sống với nhau. Hôn nhân là nơi Thiên Chúa âm thầm làm việc để nắn hai tâm hồn nên giống Ngài hơn.
Bởi vậy, người trẻ đừng sợ hôn nhân, nhưng hãy sợ bước vào nó cách hời hợt. Đừng sợ chọn lựa, nhưng hãy sợ chọn trong mù mờ thiêng liêng. Đừng sợ phải chờ, nhưng hãy sợ lấy sự nóng ruột làm người dẫn đường. Đừng sợ phải học, phải sửa, phải lớn lên, nhưng hãy sợ sống mãi trong tình yêu non nớt. Đừng chỉ cầu xin cho mình gặp đúng người, mà còn cầu xin cho mình trở thành người xứng đáng với một giao ước thánh. Đừng chỉ xin Chúa cho mình một hôn nhân hạnh phúc, mà xin Chúa cho mình một trái tim biết trung tín, biết tha thứ, biết hy sinh, biết khiêm nhường, biết đặt Chúa vào giữa.
Vì rốt cuộc, bí mật của hôn nhân bền vững không nằm ở chỗ hai người không bao giờ xung đột, nhưng ở chỗ giữa những xung đột ấy, họ không quên mình thuộc về ai. Họ thuộc về nhau, nhưng trước hết họ cùng thuộc về Chúa. Chính điều đó cứu hôn nhân. Khi cả hai còn nhớ rằng người bạn đời của mình không chỉ là người mình cưới, mà là người Chúa trao để mình yêu và giúp nên thánh, thì cả cách nhìn cũng đổi. Từ đó, hôn nhân không còn là nơi đòi nhau hoàn hảo, mà là nơi cùng nhau trở thành. Không còn là nơi chỉ hỏi “anh làm gì cho em” hay “em làm gì cho anh”, mà là nơi cùng hỏi “làm sao gia đình mình sống đẹp lòng Chúa hơn”.
Và như thế, hôn nhân Công giáo không chỉ là chuyện hai người cầm tay nhau đi hết cuộc đời. Hôn nhân Công giáo là chuyện hai người cầm tay nhau đi về Nước Trời. Có thể đi chậm. Có thể có lúc mỏi. Có thể có lúc khóc. Có thể có lúc tưởng như không còn sức. Nhưng nếu còn giữ Chúa ở giữa, còn giữ lòng tôn trọng, còn giữ sự thật, còn giữ lời hứa, còn giữ đời sống cầu nguyện, thì ngay cả những giai đoạn tối nhất cũng không vô nghĩa. Chúng có thể trở thành nơi ân sủng làm điều kỳ diệu nhất: biến hai con người yếu đuối thành một chứng từ sống động rằng tình yêu trung tín vẫn có thật giữa một thời đại quá dễ bỏ cuộc.
Đó chính là huyền nhiệm của ơn gọi đời sống hôn nhân. Không ồn ào mà thánh thiêng. Không bay bổng mà rất sâu. Không dễ dãi mà rất đẹp. Không miễn trừ đau đớn nhưng ban cho đau đớn một ý nghĩa cứu độ. Không hứa rằng sẽ không bao giờ có nước mắt, nhưng hứa rằng nếu đi với Chúa, từng giọt nước mắt cũng có thể tưới nên một khu vườn rất lạ: khu vườn của lòng chung thủy, của sự trưởng thành, của gia đình, của con cái, của bình an, của chứng tá, của ân sủng.
Ai được gọi vào hôn nhân, xin đừng xem nhẹ tiếng gọi ấy. Ai đang chuẩn bị kết hôn, xin đừng chuẩn bị hời hợt. Ai đang sống trong hôn nhân, xin đừng quên ý nghĩa ban đầu. Ai đang mệt mỏi trong gia đình, xin đừng tuyệt vọng quá nhanh. Và ai còn đang chờ đợi, xin đừng sốt ruột hơn lòng Chúa. Vì Đấng đã dựng nên tình yêu cũng là Đấng biết con đường nào dẫn con tới sự viên mãn thật. Hãy cầu nguyện. Hãy phân định. Hãy lớn lên. Hãy chọn trong Chúa. Hãy cưới với lòng kính sợ thánh. Hãy giữ nhau bằng ân sủng. Và hãy nhớ: hôn nhân Công giáo không chỉ là một quyết định của đời người, mà là một lời đáp lại trước huyền nhiệm tình yêu của Thiên Chúa.
Đây mới là phần mở đầu và nền tảng đầu tiên của cuốn sách rất dài này. Phần tiếp theo, tôi sẽ viết sâu thành các chương lớn như:
Phần I: Vì sao hôn nhân là một ơn gọi chứ không chỉ là một lựa chọn đời thường
Phần II: Chọn người để cưới hay chọn cha mẹ tương lai của con mình
Phần III: Cầu nguyện và phân định trước hôn nhân
Phần IV: Những dấu hiệu cho thấy một mối quan hệ nên đi tiếp hay nên dừng lại
Phần V: Quyết định bước vào hôn nhân trong ánh sáng bí tích
Phần VI: Xây nền hôn nhân bền vững: sự thật, tôn trọng, đối thoại, tha thứ
Phần VII: Đời sống chăn gối, lòng chung thủy và sự tinh tuyền trong hôn nhân Công giáo
Phần VIII: Gia đình như Hội Thánh tại gia
Phần IX: Nuôi dạy con cái trong đức tin và tình yêu
Phần X: Giữ lửa hôn nhân qua thử thách, tiền bạc, bệnh tật, áp lực và tuổi già
Phần XI: Hôn nhân như con đường nên thánh
Phần XII: Đại kết – Khi hai người nắm tay nhau đi về Nước Trời
PHẦN I
VÌ SAO HÔN NHÂN LÀ MỘT ƠN GỌI CHỨ KHÔNG CHỈ LÀ MỘT LỰA CHỌN ĐỜI THƯỜNG
Có những điều trong đời người nếu chỉ nhìn bằng mắt thường, người ta sẽ thấy rất bình thường. Một bữa cơm gia đình. Một tiếng gọi nhau giữa chiều muộn. Một người chồng đi làm về với khuôn mặt mỏi mệt. Một người vợ thức khuya vá lại chiếc áo cho con. Một đứa trẻ chạy ra cửa reo lên khi nghe tiếng xe của cha. Một lời xin lỗi trong căn bếp. Một bàn tay đặt nhẹ lên vai nhau sau một ngày dài. Một kinh Lạy Cha đọc vội nhưng thật giữa bao bộn bề. Tất cả những điều đó, nếu nhìn bằng con mắt của thế gian, có thể chỉ là những chuyện nhỏ nhoi. Nhưng nếu nhìn bằng ánh sáng đức tin, người ta sẽ bắt đầu thấy ở đó có một điều gì rất khác. Ở đó không chỉ có đời sống gia đình. Ở đó có một huyền nhiệm. Ở đó có một giao ước. Ở đó có ơn gọi. Ở đó có một con đường Thiên Chúa dùng để thánh hóa con người bằng chính những điều xem ra tầm thường nhất.
Nhiều người nói về hôn nhân như nói về một giai đoạn tự nhiên của đời người. Lớn lên, đi học, đi làm, yêu ai đó, rồi đến tuổi thì cưới. Nghe thì cũng đúng một phần. Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, người ta đã làm nghèo đi rất nhiều vẻ đẹp và chiều sâu của bí tích hôn phối. Bởi hôn nhân Công giáo không chỉ là một tiến trình xã hội. Không chỉ là một thiết chế để tổ chức đời sống nam nữ. Không chỉ là một cách để sinh con, lập gia đình, xây tổ ấm. Tất cả những điều ấy đều có thật, nhưng chưa chạm tới cốt lõi. Cốt lõi của hôn nhân Công giáo nằm ở chỗ này: giữa vô vàn con đường của đời người, có những người được Thiên Chúa mời gọi nên thánh không phải trong tu viện, không phải nơi cung thánh, không phải giữa lời khấn dòng, mà ngay giữa căn nhà của mình, trong tương quan vợ chồng, trong việc sinh thành và dưỡng dục con cái, trong lao nhọc hằng ngày, trong sự trung tín với một người duy nhất cho đến cuối đời. Đó là một ơn gọi thật. Một ơn gọi cao quý. Một ơn gọi thánh thiêng. Một ơn gọi đôi khi bị xem nhẹ chỉ vì nó quá gần với đời thường.
Chúng ta đang sống trong một thời đại mà chữ “lựa chọn” được nhấn mạnh rất nhiều. Người ta nói chọn nghề, chọn nơi sống, chọn phong cách sống, chọn người yêu, chọn điều mình muốn. Trong một mức độ nào đó, điều này phản ánh tự do của con người. Và tự do là quà tặng Chúa ban. Nhưng điều đáng buồn là khi cái nhìn về tự do bị cắt khỏi chân lý, người ta bắt đầu xem mọi sự chỉ còn là sở thích cá nhân. Hôn nhân cũng bị kéo vào logic ấy. Cưới ai là do mình thích. Sống thế nào là do mình muốn. Khi còn thấy ổn thì ở, khi không còn hợp nữa thì thôi. Khi vui thì đồng hành, khi mệt thì rút lui. Khi được đáp ứng thì ở lại, khi thất vọng thì bỏ đi. Lối nghĩ ấy đã len rất sâu vào văn hóa hôm nay, đến mức không ít người Công giáo cũng bắt đầu nhìn hôn nhân theo cách ấy mà không nhận ra. Họ vẫn cử hành bí tích, vẫn làm đám cưới trong nhà thờ, vẫn nhận phép lành, nhưng sâu trong cách nghĩ, họ vẫn chưa thật sự bước vào linh đạo giao ước. Họ vẫn ngầm coi hôn nhân là một sự chọn lựa đời thường có thêm chút nghi lễ tôn giáo phủ lên cho đẹp.
Nhưng ơn gọi thì không giống như vậy. Một ơn gọi không chỉ bắt đầu từ ý thích của con người, mà từ lời mời gọi của Thiên Chúa. Một ơn gọi không chỉ là chuyện “mình muốn gì”, mà còn là chuyện “Chúa muốn gì nơi đời mình”. Một ơn gọi không chỉ được đo bằng cảm xúc ban đầu, mà bằng khả năng ở lại trong sự trung tín. Một ơn gọi không chỉ là quyết định của hiện tại, mà là đường hướng của cả đời người. Khi nói hôn nhân là ơn gọi, Giáo Hội muốn nhắc cho con cái mình nhớ rằng: hôn nhân không phải là chuyện riêng của hai người tự thỏa thuận với nhau để sống cho tiện, nhưng là một con đường cứu độ, một hình thức đáp trả trước kế hoạch tình yêu của Thiên Chúa, một môi trường trong đó ân sủng hoạt động cách bền bỉ để biến đổi hai con người nên giống Chúa hơn.
Sở dĩ nhiều người không cảm được chiều sâu ấy là vì họ quen nhìn hôn nhân bằng bề mặt. Họ nhìn đám cưới, nhìn gia đình, nhìn vai trò xã hội, nhìn nhu cầu tình cảm, nhìn tính ổn định cho cuộc sống. Những điều đó không sai. Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, hôn nhân sẽ rất dễ bị kéo xuống thành một hợp đồng tiện ích: tôi mang đến cho anh điều anh cần, anh mang đến cho tôi điều tôi cần; miễn là chúng ta còn bổ sung được cho nhau thì cùng đi tiếp. Nhưng bí tích hôn phối không phải hợp đồng như thế. Hợp đồng thường tồn tại khi quyền lợi còn cân bằng. Giao ước thì khác. Giao ước có chiều sâu của sự hiến trao. Giao ước mang dấu ấn của sự trung thành. Giao ước không dựa trên câu hỏi “tôi còn được gì không” nhưng trên câu hỏi “tôi đã hứa điều gì trước mặt Chúa”. Chính chỗ này làm nên sự thánh của hôn nhân Công giáo.
Có lẽ một trong những lý do làm con người hôm nay sợ hôn nhân, hoặc bước vào hôn nhân cách nửa vời, là vì họ chưa hiểu nổi vẻ đẹp của một đời sống được ràng buộc bởi tình yêu trung tín. Họ nghe chữ “ràng buộc” như nghe một điều tiêu cực. Họ nghĩ tự do là không bị buộc bởi ai, không bị giữ bởi điều gì, không phải cam kết quá sâu để còn đường lui nếu mọi sự không như ý. Nhưng đức tin dạy ta một điều ngược lại mà rất đẹp: tự do không phải là sống không thuộc về ai; tự do thật là khả năng hiến mình cho điều tốt lành và ở lại trong điều ấy bằng tất cả ý chí, lý trí, con tim và ân sủng. Một người không có khả năng gắn bó sâu sắc không hẳn là tự do; nhiều khi họ chỉ là người chưa đủ trưởng thành để cho đi trọn vẹn. Một người luôn giữ lối thoát cho mình trong mọi tương quan không hẳn là khôn ngoan; nhiều khi họ chỉ đang sợ bị chạm vào tận căn tính của mình. Hôn nhân Công giáo đòi người ta bước ra khỏi lối sống nửa vời ấy. Nó mời người ta bước vào một giao ước trong đó tình yêu không còn là một cảm xúc mong manh, mà trở thành một lời trao thân có trách nhiệm, có chọn lựa, có hy sinh, có trung thành, có Chúa ở giữa.
Vì thế, nói hôn nhân là ơn gọi là nói rằng: đời sống gia đình không phải là con đường “ít thiêng liêng hơn” so với đời dâng hiến, nhưng là một cánh đồng khác nơi sự thánh thiện được gieo trồng. Nhiều người vẫn vô thức nghĩ rằng linh mục, tu sĩ là những người sống gần Chúa hơn, còn người lập gia đình thì bận rộn chuyện đời nên dường như “đời” hơn, “ít Chúa” hơn. Cách nghĩ ấy không đúng với ánh sáng đức tin trọn vẹn. Đúng là mỗi bậc sống có nét riêng, có đặc sủng riêng, có con đường riêng. Nhưng không có bậc sống nào được miễn chuẩn khỏi lời mời gọi nên thánh. Người chồng đi làm nuôi gia đình bằng lương thiện và dâng những nhọc nhằn ấy trong tình yêu cũng đang bước trên đường nên thánh. Người vợ kiên nhẫn với chồng, dịu dàng với con, giữ ngọn lửa gia đình, chiến đấu với bao mệt mỏi nội tâm mà vẫn không buông bỏ ơn gọi của mình, cũng đang bước trên đường nên thánh. Cha mẹ thức khuya vì con bệnh, chấp nhận hy sinh những mơ ước riêng để xây dựng một mái ấm, học tha thứ cho nhau giữa trăm ngàn va chạm, cùng nhau giữ đức tin trong thời buổi đức tin dễ nguội lạnh, đó không phải chỉ là “làm tròn bổn phận”. Đó có thể là một phụng vụ rất âm thầm mà đẹp trước mặt Thiên Chúa.
Nếu hiểu như thế, người ta sẽ bớt nói về hôn nhân như chuyện “ai rồi cũng đến lúc cưới” và bắt đầu kính trọng nó như một tiếng gọi. Tiếng gọi ấy không rầm rộ, nhưng sâu. Không khoa trương, nhưng bền. Không nhiều ánh đèn, nhưng có lửa. Có những người được gọi để sống một mình cho Chúa trong đời thánh hiến. Có những người được gọi để trở thành mục tử của đoàn chiên. Và có những người được gọi để sống mầu nhiệm tình yêu của Đức Kitô trong chính đời sống vợ chồng. Cả ba đều là ơn gọi nếu được đón nhận trong đức tin. Cả ba đều đẹp nếu được sống trọn. Cả ba đều đòi chết đi cho cái tôi. Cả ba đều cần cầu nguyện, phân định, trung tín. Cho nên, xem nhẹ hôn nhân là ơn gọi cũng là vô tình xem nhẹ một cách Thiên Chúa muốn hiện diện giữa thế gian.
Thật ra, ngay từ đầu Kinh Thánh đã cho thấy hôn nhân không phải là phát minh của con người, nhưng nằm trong chương trình sáng tạo của Thiên Chúa. Khi dựng nên con người có nam có nữ, Thiên Chúa không chỉ tạo ra hai giới tính để duy trì nòi giống. Ngài đặt nơi đó một huyền nhiệm của sự bổ túc, của hiệp thông, của trao ban, của trở nên “một xương một thịt”. Điều này rất quan trọng, vì nó cho thấy hôn nhân không bắt nguồn từ nhu cầu sinh tồn đơn thuần, mà từ chính ý muốn của Thiên Chúa về con người như một hữu thể được tạo dựng để yêu và được yêu trong chân lý. Con người không được dựng nên để khép kín trong cô độc, nhưng để bước vào hiệp thông. Tuy nhiên, hiệp thông ấy không phải là hòa tan mù quáng, càng không phải là sử dụng nhau, mà là hiệp thông trong phẩm giá, trong tự do, trong trách nhiệm, trong sự hiến mình lẫn nhau.
Sau này, khi Đức Kitô đến, Ngài không hủy bỏ hôn nhân, nhưng nâng nó lên thành bí tích. Điều đó có nghĩa là gì? Nghĩa là hôn nhân từ nay không chỉ còn là thực tại tự nhiên, mà trở thành nơi ân sủng hoạt động cách đặc biệt. Tình yêu giữa người nam và người nữ được mời gọi phản chiếu tình yêu giữa Đức Kitô và Hội Thánh. Đây là một tiêu chuẩn rất cao, nhưng cũng là một ánh sáng rất đẹp. Đức Kitô yêu Hội Thánh bằng tình yêu trung tín, hiến mình, cứu độ, kiên nhẫn, tha thứ, ở lại đến cùng. Hội Thánh được mời gọi đáp lại bằng lòng tín thác, bằng sự thuộc trọn, bằng đời sống hiệp thông. Khi hai người kết hôn trong Chúa, họ được mời gọi đi vào cùng một logic ấy. Người chồng không yêu vợ theo kiểu sở hữu, nhưng theo kiểu hiến mình. Người vợ không sống với chồng theo kiểu phục tùng mù quáng, nhưng theo kiểu đáp lại bằng tình yêu, sự cộng tác, sự hiệp thông thánh thiện. Cả hai không nuốt chửng nhau, cũng không đứng tách nhau như hai cá thể cô lập. Cả hai bước vào một mầu nhiệm chung, trong đó mỗi người càng là chính mình hơn khi biết hiến mình đúng cách.
Nếu đặt ở đây, ta sẽ hiểu vì sao hôn nhân là ơn gọi chứ không chỉ là lựa chọn. Vì có lời gọi của Thiên Chúa trong đó. Vì có ân sủng bí tích trong đó. Vì có một sứ mạng trong đó. Hôn nhân không chỉ dành cho hạnh phúc riêng của hai người, mà còn có sứ mạng cho Giáo Hội và xã hội. Một gia đình Công giáo sống đúng ơn gọi của mình trở thành chứng từ. Trong một thế giới nơi sự trung tín đang bị bào mòn, một cặp vợ chồng vẫn chọn nhau sau bao năm tháng là một lời rao giảng. Trong một thời đại nơi con cái dễ lớn lên giữa tan vỡ, một mái ấm có cầu nguyện, có tha thứ, có yêu thương là một Tin Mừng cụ thể. Trong một xã hội nơi người ta dễ coi nhau như công cụ, một gia đình tôn trọng phẩm giá nhau là một ánh sáng. Trong một nền văn hóa sợ hy sinh, một người chồng biết lao động và hiến mình cho gia đình, một người vợ biết yêu thương và gìn giữ tổ ấm, hay đúng hơn, cả hai cùng hy sinh cho nhau cách hỗ tương, đó là một dấu chỉ cho thấy tình yêu thật vẫn có thể hiện hữu.
Ơn gọi nào cũng đi kèm với sứ mạng. Linh mục không được gọi chỉ để có danh xưng, nhưng để phục vụ dân Chúa. Tu sĩ không được gọi chỉ để sống tách biệt, nhưng để làm chứng cho Nước Trời. Người kết hôn cũng không được gọi chỉ để “có gia đình cho bằng người ta”. Họ được gọi để làm chứng rằng tình yêu giao ước là có thật. Họ được gọi để xây dựng một Hội Thánh tại gia. Họ được gọi để cộng tác với Thiên Chúa trong việc ban sự sống và giáo dục con cái. Họ được gọi để thánh hóa nhau. Họ được gọi để trở thành nơi nương tựa, chữa lành và trưởng thành cho nhau. Họ được gọi để biến ngôi nhà của mình thành nơi Chúa được nhận biết qua những điều rất nhỏ: cách nói năng, cách tiêu tiền, cách đối xử với người già, cách đón nhận sự sống, cách tha thứ, cách chiến đấu với cám dỗ, cách trung tín khi không còn dễ trung tín.
Nói như vậy để thấy rằng hôn nhân không thể bị giản lược thành chuyện “hai người hợp nhau”. Hợp nhau là điều tốt, nhưng không đủ để làm nên một ơn gọi. Có những người rất hợp tính nhưng không có cùng hệ giá trị. Có những người nói chuyện rất ăn ý nhưng không cùng hướng về Chúa. Có những người yêu nhau say đắm nhưng đều rất non nớt trong trách nhiệm. Có những người hợp sở thích, hợp cách sống, hợp nhịp vui, nhưng lại không có khả năng gắn bó trong đau khổ. Hôn nhân là ơn gọi nên nó đòi cái gì sâu hơn sự hợp: đòi sự sẵn sàng hiến trao, sự mở ra với ân sủng, sự trưởng thành nhân bản, sự trung thực trong lương tâm, sự đồng thuận căn bản về đức tin và mục đích sống, sự can đảm để đi đường dài. Nếu không có những điều đó, người ta sẽ rất dễ lầm tưởng mình đã tìm thấy ơn gọi, trong khi thực ra chỉ đang bị kéo bởi cảm xúc, sợ hãi, áp lực hoặc cô đơn.
Có một điều phải nói rất thật: nhiều người bước vào hôn nhân vì muốn trốn khỏi một điều gì đó hơn là đáp lại một tiếng gọi. Có người cưới vì sợ cô đơn. Có người cưới vì áp lực tuổi tác. Có người cưới vì gia đình thúc ép. Có người cưới vì đã quen lâu nên thấy khó dừng. Có người cưới vì lỡ có những ràng buộc tình cảm hay thể xác nên nghĩ thôi cứ cưới. Có người cưới vì muốn thoát khỏi môi trường gia đình ngột ngạt. Có người cưới vì cần một chỗ dựa kinh tế. Có người cưới vì nghĩ đó là con đường bình thường nhất và mình không biết sống sao khác. Tất cả những động lực ấy có thể rất người, rất dễ hiểu, nhưng nếu đó là động lực chính, hôn nhân sẽ rất mong manh. Vì ơn gọi không được xây trên việc chạy trốn. Ơn gọi được xây trên việc đáp lại. Chạy trốn làm người ta bước vào với đầy thiếu hụt. Đáp lại làm người ta bước vào với ý thức, tự do và lòng tin.
Đáp lại ơn gọi hôn nhân nghĩa là gì? Nghĩa là dần dần nhận ra rằng trong sâu thẳm lòng mình, mình được gọi để trao ban đời mình cho một người, để sống giao ước tình yêu ấy trong Chúa, để đón nhận con cái như quà tặng, để xây một mái ấm, để nên thánh qua đời sống gia đình. Đáp lại không phải lúc nào cũng đến như một khoảnh khắc chói sáng. Nhiều khi nó đến qua một tiến trình rất âm thầm: mình gặp một người, rồi qua thời gian, qua cầu nguyện, qua những thử thách nho nhỏ, qua sự sáng rõ dần trong nội tâm, mình nhận ra rằng nơi mối tương quan này có bình an, có ánh sáng, có chiều sâu, có sự thúc đẩy hướng thiện, có khả năng ở lại, có nét gì đó khiến mình không chỉ thấy vui mà còn thấy có trách nhiệm, không chỉ thấy rung động mà còn thấy được mời gọi trở thành một phiên bản chín chắn hơn của chính mình. Đó có thể là một dấu hiệu của ơn gọi.
Nhưng bởi vì hôn nhân là ơn gọi, nên phân định trở thành điều thiết yếu. Một ơn gọi không thể được nhận ra chỉ bằng hứng thú. Phân định là dám chậm lại để nghe. Nghe tiếng lòng mình. Nghe lời Chúa. Nghe sự thật về bản thân. Nghe cả những cảnh báo cần thiết. Có những người sợ phân định vì nghĩ rằng phân định sẽ làm mình mất đi cảm xúc đẹp. Không. Phân định không giết chết tình yêu đúng; phân định chỉ làm tình yêu đúng trở nên trong sáng hơn, trưởng thành hơn và bền vững hơn. Nếu một mối quan hệ không chịu nổi ánh sáng của cầu nguyện, của sự thật, của việc bàn đến tương lai, của việc đối diện các khác biệt nghiêm túc, thì rất có thể nó chưa sẵn sàng cho hôn nhân. Tình yêu đích thực không sợ sự thật. Ơn gọi thật không sợ cầu nguyện. Chỉ có ảo tưởng mới sợ ánh sáng.
Người ta thường nghĩ rằng ơn gọi là chuyện cao siêu, còn hôn nhân thì rất cụ thể, rất trần thế. Nhưng chính ở đây lại là nét đẹp của Thiên Chúa: Ngài thích giấu điều thánh trong điều thường. Ngài thích làm việc qua những thứ không ồn ào. Hôn nhân là ơn gọi vì ở đó, sự thánh thiện không được xây bằng những cử chỉ lớn lao trước mặt thiên hạ, mà bằng sự trung tín trong từng ngày rất đỗi bình thường. Có khi nên thánh là đi làm về vẫn kiên nhẫn với người bạn đời đang mệt. Có khi nên thánh là thức đêm với con bệnh mà không càm ràm nặng nề. Có khi nên thánh là im bớt một câu cho khỏi làm người kia tổn thương. Có khi nên thánh là chịu khó lắng nghe một điều mình đã nghe nhiều lần. Có khi nên thánh là xin lỗi trước dù mình thấy mình cũng có nỗi oan. Có khi nên thánh là từ chối một cám dỗ kín đáo để giữ lời đã hứa. Có khi nên thánh là tiếp tục yêu người kia ngay cả khi họ đang đi qua một giai đoạn rất khó để yêu. Có khi nên thánh là vẫn cầu nguyện với nhau dù hôm đó cả hai đang khô khan.
Có lẽ một trong những huyền nhiệm lớn nhất của hôn nhân là điều này: Thiên Chúa dùng chính người bạn đời để thánh hóa ta. Điều đó nghe rất đẹp, nhưng thật ra cũng rất khó. Vì người thánh hóa ta không phải là một thiên thần hoàn hảo, mà là một con người có giới hạn, có khí chất khác ta, có những điểm làm ta dễ mệt, có những vết thương riêng, có những thiếu sót riêng. Thiên Chúa không ghép ta với một bản sao dễ chịu của chính mình. Ngài thường để ta bước vào hiệp thông với một người đủ gần để yêu, nhưng cũng đủ khác để buộc ta phải chết đi cho cái tôi, phải học lắng nghe, phải học rộng lòng, phải học tha thứ, phải học nói thật mà không làm đau, phải học chịu trách nhiệm với cảm xúc của mình, phải học để tình yêu trở thành quyết định chứ không chỉ là sự dễ chịu. Chính vì vậy, hôn nhân là trường học của sự nên thánh. Trường học này không có chuông báo tiết học, không có bảng điểm công khai, không có huy chương. Nhưng từng ngày, từng va chạm, từng hy sinh, từng lần làm hòa, từng cơn cám dỗ được vượt qua, từng lần cùng nhau trở về với Chúa, tất cả đang đào sâu linh hồn con người.
Tuy nhiên, cần nói rõ: gọi hôn nhân là ơn gọi không có nghĩa là lý tưởng hóa nó như thể bước vào đó là mọi sự sẽ tự đẹp. Không. Bất cứ ơn gọi nào cũng có thập giá. Linh mục có thập giá của mình. Tu sĩ có thập giá của mình. Người kết hôn có thập giá của mình. Nếu ai bước vào hôn nhân với ảo tưởng rằng mình sẽ tìm thấy thiên đàng trần thế không có va chạm, không có khủng hoảng, không có lúc chán nản, không có nước mắt, người ấy sẽ rất dễ vỡ mộng. Nhưng nếu bước vào với ý thức đây là ơn gọi, người ấy sẽ nhìn thập giá theo cách khác. Thập giá không còn là bằng chứng cho thấy mình chọn sai ngay lập tức; nhiều khi nó là phần tất yếu của hành trình trưởng thành trong yêu thương. Dĩ nhiên, không phải mọi đau đớn đều nên được chịu đựng một cách mù quáng. Có những trường hợp cần phân định rất kỹ, thậm chí cần được bảo vệ khỏi bạo hành và tổn thương nghiêm trọng. Nhưng nói chung, sẽ không có hôn nhân nào thật mà hoàn toàn không có thập giá. Vấn đề không phải là làm sao sống mà không đau, nhưng là làm sao đau mà không đánh mất ơn gọi, làm sao đi qua khó khăn mà không mất nhau, làm sao để chính những thử thách ấy làm tình yêu sâu hơn thay vì tan ra.
Một lý do nữa khiến hôn nhân là ơn gọi là vì nó gắn với một lời hứa công khai, chứ không chỉ là cảm xúc riêng tư. Trong đời sống hiện đại, người ta rất quen với những tương quan có thể thay đổi nhanh. Hôm nay thân, mai xa. Hôm nay rất nồng nhiệt, mai lạnh dần. Mọi thứ đều có thể chỉnh sửa, cập nhật, thay thế. Nhưng hôn nhân Công giáo đứng như một lời phản chứng rất mạnh trước văn hóa tạm bợ ấy. Ngày cưới không chỉ là ngày đẹp để chụp ảnh. Đó là ngày hai người công khai tuyên xưng rằng từ nay họ trao hiến mình cho nhau trọn đời, trong lúc thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi mạnh khỏe cũng như lúc đau yếu. Ngôn ngữ ấy không phải ngôn ngữ của cảm xúc tức thời. Đó là ngôn ngữ của ơn gọi. Chỉ người nào ý thức rằng mình đang đáp lại một tiếng gọi lớn hơn chính cảm xúc của mình mới dám nói những lời ấy cách nghiêm túc.
Lời hứa công khai ấy cũng làm cho hôn nhân trở thành một thực tại có chiều kích Hội Thánh. Hai người không cưới nhau trong khoảng trống. Họ cưới nhau trong lòng Giáo Hội. Họ được nâng đỡ bởi lời cầu nguyện của cộng đoàn. Họ được trao bí tích như một nguồn ơn. Họ được đặt vào trong một mạng lưới của đức tin, nơi hôn nhân của họ không chỉ là việc riêng, nhưng có liên hệ đến sứ mạng của Hội Thánh. Một gia đình Công giáo là tế bào sống của Hội Thánh. Nếu gia đình khỏe mạnh, Hội Thánh khỏe mạnh. Nếu gia đình tan vỡ, Hội Thánh đau. Nếu gia đình cầu nguyện, Hội Thánh được nuôi dưỡng. Nếu gia đình sống trung tín, Hội Thánh có chứng tá. Nếu gia đình đánh mất đức tin, Hội Thánh mất đi một nơi truyền đức tin cho thế hệ sau. Bởi vậy, khi nói hôn nhân là ơn gọi, ta không chỉ nói về hạnh phúc riêng của hai người, mà còn nói về vai trò của họ trong thân thể lớn hơn là Dân Chúa.
Ở đây, ta cũng phải đối diện với một sự thật khác: không phải ai cũng được gọi vào hôn nhân. Điều này nghe có vẻ hiển nhiên, nhưng rất cần được nhắc lại, vì xã hội thường làm người ta nghĩ rằng kết hôn là con đường mặc định. Không. Hôn nhân là ơn gọi, nên cũng giống mọi ơn gọi khác, nó cần được nhận ra chứ không bị áp đặt. Có những người được gọi vào đời độc thân thánh hiến. Có những người được gọi vào chức linh mục. Có những người được gọi để sống một đời độc thân giữa đời trong sứ mạng riêng. Có những người đơn giản không được mời gọi vào hôn nhân. Cho nên, nói hôn nhân là ơn gọi cũng là cách giải phóng người trẻ khỏi áp lực xã hội rằng ai cũng phải cưới cho bằng được. Không. Điều quan trọng không phải là phải cưới. Điều quan trọng là phải đáp lại đúng tiếng gọi Thiên Chúa dành cho mình. Và với những người thật sự được gọi vào hôn nhân, điều đó cần được đón nhận với niềm kính trọng lớn lao, không như một lựa chọn tùy tiện nhưng như một trách nhiệm thánh.
Nhiều bạn trẻ Công giáo ngày nay đau khổ vì lẫn lộn giữa tiếng gọi và nhu cầu cảm xúc. Họ cảm thấy cô đơn, họ muốn được yêu, họ khao khát một mái ấm, và họ vội quy tất cả thành “chắc mình có ơn gọi hôn nhân”. Nhưng có ơn gọi hôn nhân không chỉ là muốn lập gia đình. Nhiều người muốn lập gia đình vì sợ trống vắng, nhưng họ chưa sẵn sàng hiến mình. Nhiều người muốn có một người bên cạnh, nhưng họ chưa học nổi lòng trung tín. Nhiều người thích cảm giác được quan tâm, nhưng họ chưa có sức để cùng ai đó đi qua giai đoạn khô khan. Nhiều người muốn có con, nhưng chưa trưởng thành để làm cha làm mẹ. Nhu cầu cảm xúc là thật, nhưng không đồng nghĩa với ơn gọi. Ơn gọi bắt đầu khi nhu cầu ấy được thanh luyện qua cầu nguyện, qua phân định, qua trưởng thành, để con người không chỉ hỏi “ai sẽ làm đầy đời mình” mà còn hỏi “mình được gọi để hiến đời mình cho ai, theo cách nào, trong Chúa”.
Bởi vậy, một trong những công việc quan trọng nhất trước khi bước vào hôn nhân là học đọc lòng mình dưới ánh sáng đức tin. Ta yêu vì điều gì? Ta muốn cưới vì điều gì? Ta đang tìm một người bạn đời hay đang tìm một cứu tinh cho những khoảng trống nội tâm? Ta đang chọn một người hay đang chọn một cảm giác? Ta có thật sự biết mình là ai, mình yếu ở đâu, mình mang theo những vết thương nào từ gia đình gốc, từ quá khứ tình cảm, từ những nỗi sợ sâu kín? Ta có thật sự sẵn sàng đi vào một tương quan lâu dài, nơi người kia sẽ chạm đến những vùng chưa được chữa lành trong mình? Nếu không có những câu hỏi ấy, người ta có thể bước vào hôn nhân với rất nhiều ngây thơ nguy hiểm. Và chính vì hôn nhân là ơn gọi, nên sự thật nội tâm trở thành điều không thể né tránh.
Ở chiều ngược lại, hiểu hôn nhân là ơn gọi cũng đem lại niềm an ủi rất lớn cho những người đang sống trong đó. Bởi nếu hôn nhân chỉ là lựa chọn đời thường, khi khó khăn đến, người ta sẽ dễ nghĩ: có lẽ mình chọn sai, có lẽ mình nên bỏ, có lẽ mọi thứ hết rồi. Nhưng khi hiểu đây là ơn gọi, người ta sẽ nhớ rằng Thiên Chúa không biến mất khỏi câu chuyện của mình khi thử thách ập đến. Đấng đã gọi mình vào giao ước này vẫn ở đó. Ân sủng bí tích vẫn ở đó. Lời mời gọi nên thánh vẫn ở đó. Người ta sẽ biết quay về với nguồn. Họ sẽ không chỉ hỏi: “Làm sao để người kia thay đổi?” mà còn hỏi: “Chúa đang muốn thanh luyện gì nơi lòng tôi qua chặng này?” Họ sẽ không chỉ nhìn khủng hoảng như một điều phải loại bỏ, mà có thể dần nhìn nó như một nơi cần được chữa lành và biến đổi. Không phải mọi cuộc hôn nhân khó khăn đều tự động tốt đẹp lên. Nhưng bất cứ cuộc hôn nhân nào còn mở ra với ân sủng cũng còn hy vọng.
Có một vẻ đẹp rất lớn trong việc một người đàn ông và một người phụ nữ, sau nhiều năm chung sống, bắt đầu giống nhau không phải ở gương mặt, mà ở chiều sâu nội tâm. Họ đã đi qua nhiều chuyện cùng nhau. Họ hiểu nỗi yếu của nhau. Họ biết điểm đau của nhau. Họ đã từng làm nhau tổn thương, từng tha thứ, từng cùng nhau sửa lại, từng cùng nhau nuôi con, từng cùng nhau trả giá cho những quyết định chưa chín, từng cùng nhau vui, cùng nhau khóc. Và sau bao năm, giữa họ có một thứ không thể mua được, không thể diễn được, không thể xây bằng một vài cử chỉ lãng mạn: đó là chiều sâu của một giao ước đã được thử trong lửa. Đó là hoa trái của ơn gọi được sống lâu dài. Những cặp vợ chồng như thế làm người khác xúc động không phải vì họ hoàn hảo, mà vì nơi họ, người ta thấy tình yêu có thể lớn lên qua năm tháng thay vì chết mòn. Người ta thấy trung tín không phải là chuyện của người xưa. Người ta thấy một cuộc đời trao ban trọn vẹn không phải là điều viển vông.
Chính vì thế, người trẻ cần được dạy lại về hôn nhân không như một “mục tiêu phải đạt”, mà như một lời gọi cần được nhận ra và chuẩn bị. Cần được dạy rằng hôn nhân không dành cho những người chỉ biết yêu bằng cảm xúc. Cần được dạy rằng cưới nhau không phải là phần thưởng cho một mối tình lâu năm, mà là khởi đầu của một hành trình mới đòi nhiều trưởng thành hơn trước rất nhiều. Cần được dạy rằng cầu nguyện trước hôn nhân không phải là chuyện thêm thắt cho có đạo đức, nhưng là việc sống còn. Cần được dạy rằng chọn người để cưới là chọn một con đường nên thánh hoặc đau khổ rất sâu. Cần được dạy rằng mình không chỉ tìm người hợp ý, mà tìm người có thể cùng mình nên một trong Chúa. Cần được dạy rằng hạnh phúc gia đình không rơi từ trời xuống, mà được xây bằng nhân đức, bằng kỷ luật yêu thương, bằng tha thứ, bằng hy sinh, bằng ân sủng.
Nếu không có cuộc tái khám phá ấy, hôn nhân Công giáo rất dễ bị thế tục hóa ngay từ bên trong. Người ta vẫn giữ hình thức bí tích nhưng sống tinh thần của thế gian. Họ vẫn cưới nhau trước bàn thờ nhưng cư xử với nhau như hai người ký một hợp đồng tâm lý. Họ vẫn gọi nhau là vợ chồng Công giáo nhưng không để Chúa chạm vào cách mình tiêu tiền, cãi nhau, giáo dục con, sử dụng thân xác, trung thành, và sắp xếp ưu tiên. Một đức tin không đi vào hôn nhân thì sẽ thành trang trí. Một hôn nhân không mở ra với đức tin thì sẽ rất nhanh cạn vì chỉ còn sức người. Đó là lý do phải nhấn mạnh mãi điều này: hôn nhân là ơn gọi. Không phải để làm nó trở nên nặng nề hơn, nhưng để trả lại cho nó ánh sáng thật của nó. Khi biết điều mình đang sống là ơn gọi, người ta sẽ bớt hời hợt. Và cũng chính vì biết đó là ơn gọi, người ta sẽ có hy vọng sâu hơn. Vì ơn gọi nào Thiên Chúa ban, Ngài cũng ban ơn để sống.
Cho nên, trước khi nghĩ đến chuyện mình muốn lấy ai, người trẻ Công giáo cần hỏi sâu hơn: mình có thật sự tin hôn nhân là con đường nên thánh không. Nếu chưa tin điều đó, rất khó để đi xa. Vì rồi đến lúc mệt, lúc chán, lúc mọi thứ không như mơ, họ sẽ không có nền tảng nào đủ mạnh để giữ họ ở lại. Nhưng nếu tin rằng hôn nhân là một ơn gọi Chúa trao, rằng người bạn đời là một quà tặng và đồng thời là một trách nhiệm thánh, rằng gia đình là nơi Chúa muốn ngự, rằng tình yêu vợ chồng có thể trở thành một cách phản chiếu tình yêu Đức Kitô, thì họ sẽ bước vào đó với một tâm thế khác hẳn. Họ sẽ không coi thường những chuẩn bị nhỏ. Họ sẽ không xem cầu nguyện là thứ phụ. Họ sẽ không chọn người chỉ vì vui. Họ sẽ không định nghĩa hạnh phúc chỉ bằng tiện nghi. Họ sẽ không nghĩ trung tín là chuyện của cảm hứng. Họ sẽ biết rằng từng ngày sống bên nhau là từng ngày trả lời lại tiếng gọi ban đầu.
Và khi hiểu như thế, hôn nhân sẽ không còn chỉ là chuyện “mình cưới một người”. Hôn nhân sẽ trở thành chuyện “mình cùng một người bước vào điều Chúa muốn”. Không chỉ là chuyện “mình xây gia đình”. Mà là “mình cùng Chúa xây một Hội Thánh tại gia”. Không chỉ là chuyện “mình tìm hạnh phúc”. Mà là “mình học yêu theo cách có thể dẫn nhau đến ơn cứu độ”. Không chỉ là chuyện “mình sống với nhau cho hết đời”. Mà là “mình nắm tay nhau đi về Nước Trời”. Chính ở chiều sâu ấy, hôn nhân bỗng không còn là một lựa chọn đời thường nữa. Nó trở thành một con đường thánh. Một tiếng gọi nhiệm mầu. Một mầu nhiệm âm thầm mà lớn lao. Một giao ước mà nếu được sống đúng, có thể biến một ngôi nhà nhỏ thành nơi Thiên Chúa đi qua mỗi ngày.
Vậy nên, nếu ai đó hỏi: vì sao hôn nhân là một ơn gọi chứ không chỉ là một lựa chọn đời thường, thì có lẽ câu trả lời sâu nhất là thế này: vì trong hôn nhân, con người không chỉ tự sắp xếp cuộc sống của mình, nhưng đang đáp lại một sáng kiến tình yêu của Thiên Chúa; vì trong hôn nhân, hai người không chỉ tìm niềm vui cho riêng mình, nhưng được mời gọi trở thành dấu chỉ sống động của tình yêu trung tín của Đức Kitô; vì trong hôn nhân, mỗi ngày sống chung không chỉ là việc gia đình, mà có thể trở thành nơi thánh hóa; vì trong hôn nhân, người ta không chỉ thuộc về nhau, mà cùng nhau thuộc về Chúa; vì hôn nhân không chỉ hỏi con người: “con có yêu không”, mà còn hỏi: “con có dám yêu cho đến cùng, trong ân sủng, trong sự thật, trong giao ước, trong trung tín không”.
Ai hiểu được điều đó, sẽ không còn dám bước vào hôn nhân một cách cẩu thả. Nhưng cũng chính người ấy sẽ bớt sợ hôn nhân hơn. Bởi họ biết mình không bước vào đó một mình. Có Chúa trong tiếng gọi. Có Chúa trong bí tích. Có Chúa trong ân sủng. Có Chúa trong từng chặng rất dài sau ngày cưới. Có Chúa trong những ngày trẻ trung rực rỡ. Có Chúa trong những tháng năm bỉm sữa, thiếu ngủ, áp lực tiền bạc. Có Chúa trong những lần hiểu lầm. Có Chúa trong những đêm im lặng. Có Chúa trong lúc làm hòa. Có Chúa trong tuổi già run tay. Có Chúa trong những giây phút một người nắm tay người kia đi qua bệnh tật. Có Chúa ở đầu, ở giữa, ở cuối hành trình. Và bởi có Chúa, hôn nhân không còn là một cuộc phiêu lưu cảm xúc. Nó trở thành một ơn gọi có thể nâng đỡ, thanh luyện và cứu độ con người.
Đó là lý do ta phải trả lại cho hôn nhân tên gọi xứng đáng của nó. Không chỉ là chuyện lập gia đình. Không chỉ là chuyện có chồng có vợ. Không chỉ là chuyện hoàn thành một nếp sống xã hội. Mà là một ơn gọi. Một ơn gọi thánh giữa đời. Một ơn gọi vừa rất người vừa rất Chúa. Một ơn gọi có nước mắt nhưng cũng có vinh quang riêng. Một ơn gọi không hào nhoáng nhưng có sức làm nên những vị thánh âm thầm trong căn bếp, nơi phòng ngủ, nơi bàn ăn, nơi cổng trường đón con, nơi giường bệnh, nơi những cuộc trò chuyện khuya, nơi những lời kinh gia đình. Và chính từ những nơi rất bé ấy, Thiên Chúa tiếp tục viết nên một câu chuyện lớn: câu chuyện của tình yêu không bỏ cuộc.
PHẦN II
CHỌN NGƯỜI ĐỂ CƯỚI HAY CHỌN CHA MẸ TƯƠNG LAI CỦA CON MÌNH
Có một trong những sai lầm lớn nhất của người trẻ khi đứng trước tình yêu, đó là nhìn người mình yêu chỉ bằng đôi mắt của hiện tại. Họ nhìn người ấy như một người làm tim mình rung động, như một người biết nhắn những lời dễ thương, như một người khiến mình thấy được quan tâm, như một người có thể làm những ngày tháng tuổi trẻ bớt cô đơn, bớt nhạt, bớt trống. Và dĩ nhiên, điều đó không sai. Tình yêu khởi đầu nhiều khi vẫn đi qua những nhịp rung động rất người như thế. Vấn đề không nằm ở chỗ con tim rung lên, mà ở chỗ con tim có đủ sâu để nhìn xa hơn những rung động ban đầu hay không. Vì nếu chỉ yêu bằng mắt của hiện tại, người ta rất dễ chọn một người để yêu hôm nay, nhưng lại không thật sự chọn một người có thể cùng mình xây đời ngày mai. Người ta có thể chọn một người làm mình vui, nhưng không chắc đó là một người có thể trở thành chỗ dựa. Người ta có thể chọn một người làm mình thấy hạnh phúc trong giai đoạn tìm hiểu, nhưng không chắc đó là một người đủ trưởng thành để trở thành cha hoặc mẹ của những đứa con tương lai.
Đó là lý do câu hỏi này rất quan trọng, rất thật, và cũng rất đau nếu người ta chưa từng dám nghĩ đến: khi chọn người để cưới, rốt cuộc ta đang chọn một người để thỏa mãn nhu cầu tình cảm của mình, hay đang chọn cha mẹ tương lai của con mình? Câu hỏi ấy làm nhiều người khựng lại, vì nó kéo tình yêu ra khỏi sự lãng mạn mỏng manh để đặt nó trước sự thật của ơn gọi. Nó nhắc rằng hôn nhân không dừng ở hai người. Hôn nhân mở ra một mái ấm. Hôn nhân mở ra một dòng chảy sự sống. Hôn nhân mở ra một thế hệ tiếp theo. Hôn nhân mở ra một môi trường nơi những tâm hồn non nớt sẽ lớn lên, sẽ học yêu, sẽ học tin, sẽ học nhìn thế giới, sẽ học gọi tên Thiên Chúa, sẽ học cảm nhận về chính mình. Và người đang đứng trước mặt mình hôm nay, người mình đang gọi là người yêu, nếu mai này bước vào bí tích hôn phối với mình, sẽ không chỉ là chồng hay vợ của mình, mà còn là người góp phần quyết định bầu khí nội tâm của con cái mình sau này.
Rất nhiều bi kịch của gia đình không bắt đầu sau đám cưới. Nó bắt đầu từ trước đó rất lâu, từ lúc người ta chọn nhau một cách quá cảm tính. Họ hỏi rất nhiều câu nhỏ mà quên mất câu lớn. Họ quan tâm người ấy có hợp gu không, nói chuyện vui không, biết chiều mình không, có làm mình thấy đặc biệt không, có khiến mình tự hào khi đi cạnh không. Nhưng họ lại quên hỏi: người này khi làm cha sẽ thế nào? Người này khi làm mẹ sẽ ra sao? Người này có đủ kiên nhẫn với một đứa trẻ đang lớn không? Người này có biết yêu thương mà không kiểm soát không? Người này có khả năng trung tín trước những áp lực đời sống gia đình không? Người này có biết nhận trách nhiệm khi sai không? Người này có tôn trọng phẩm giá của người khác khi mệt mỏi không? Người này có đời sống đức tin đủ sâu để không chỉ sinh con, mà còn dẫn con đến gần Chúa không? Người này có đủ thật để làm gương, đủ dịu để chữa lành, đủ mạnh để bảo vệ, đủ trưởng thành để không bắt con cái phải trả giá cho những thương tích chưa được chữa lành của mình không?
Có những người yêu nhau rất nồng nhiệt, nhưng nếu nhìn kỹ, người ta sẽ thấy nỗi sợ hãi phải bước xa hơn. Vì một khi bắt đầu nhìn người mình yêu như cha mẹ tương lai của con mình, mọi thứ trở nên nghiêm túc hơn rất nhiều. Ta không còn chỉ nhìn vào cảm giác mà nhìn vào nhân cách. Ta không còn chỉ nhìn vào cách họ đối xử với mình lúc đang yêu, mà còn nhìn cách họ đối xử với người yếu thế hơn mình, với cha mẹ họ, với người phục vụ, với tiền bạc, với cơn giận, với trách nhiệm, với giới hạn, với thất bại. Ta bắt đầu hiểu rằng điều làm nên một cuộc hôn nhân bền không phải chỉ là những cuộc trò chuyện lãng mạn kéo dài đến khuya, mà còn là cách một con người sống khi không ai nhìn, khi không còn cảm xúc đẹp đẽ ban đầu, khi áp lực kéo đến, khi đồng tiền eo hẹp, khi đứa con bệnh, khi hai bên gia đình va chạm, khi đời sống chăn gối có thử thách, khi mơ ước riêng phải hy sinh một phần vì mái ấm chung.
Yêu một người là chuyện của trái tim. Chọn cưới một người là chuyện của lương tâm, của đức tin, của trách nhiệm, của tương lai, của cả những linh hồn sẽ đi qua gia đình ấy. Chính vì vậy, người trẻ nào chỉ hỏi “người ấy có làm con hạnh phúc không” mà không hỏi “người ấy có thể trở thành cha mẹ tốt cho con cái chúng con không” thì vẫn còn đang đứng ở ngưỡng cửa của tình yêu, chưa bước vào chiều sâu của hôn nhân. Hạnh phúc của đôi lứa rất quan trọng, nhưng nếu hạnh phúc ấy chỉ xoay quanh hai cái tôi, nó sẽ rất dễ vỡ khi bước vào trách nhiệm làm cha mẹ. Trái lại, khi tình yêu bắt đầu mở ra với chiều kích trao ban, với trách nhiệm trước sự sống, với việc xây dựng một bầu khí cho những tâm hồn khác lớn lên, lúc đó tình yêu mới bắt đầu mang dáng dấp của một ơn gọi thật.
Chọn cha mẹ tương lai của con mình không có nghĩa là chỉ nhìn người kia qua tiêu chuẩn thực dụng. Không phải là cân đo máy móc, không phải là biến tình yêu thành một cuộc tuyển chọn lạnh lùng, không phải là cưới một người chỉ vì thấy họ “phù hợp để quản trị gia đình”. Không. Tình yêu vẫn cần trái tim. Nhưng trái tim phải được soi sáng bởi sự thật. Có những người rất cuốn hút nhưng sống rất vô trách nhiệm. Có những người rất ngọt ngào trong lúc yêu nhưng rất thất thường trong đời sống thực. Có những người nói rất hay về tương lai nhưng không có khả năng giữ những việc nhỏ của hiện tại. Có những người khiến ta say mê nhưng lại không tạo được sự an toàn nội tâm. Có những người làm tim ta nóng lên nhưng làm linh hồn ta bất an. Có những người quá giỏi chinh phục nhưng không có chiều sâu để đồng hành. Nếu không nhìn xa, người ta sẽ tưởng mình đang chọn một người bạn đời, nhưng thật ra chỉ đang chọn một cảm giác.
Nhiều người bước vào hôn nhân rồi mới phát hiện ra rằng người mình cưới không biết làm cha, không biết làm mẹ, thậm chí không có ý thức muốn học làm cha mẹ. Có người quá ích kỷ để nhường chỗ cho sự sống khác. Có người quá non nớt để chịu nổi việc con cái làm đảo lộn nhịp sống riêng. Có người lớn lên trong tổn thương mà chưa từng đối diện với nó, nên khi làm cha mẹ lại vô thức trút nỗi đau cũ lên con. Có người mang kiểu yêu kiểm soát, sở hữu, thao túng, và rồi cách ấy đi thẳng vào việc nuôi dạy con cái. Có người không chung thủy với người phối ngẫu, thì cũng không thể tạo được một nền an toàn cho con lớn lên. Có người coi thường đức tin, xem cầu nguyện là chuyện phụ, xem đời sống gia đình là gánh nặng, và rồi con cái lớn lên trong một bầu khí không có nền tảng thiêng liêng. Tất cả những điều ấy không tự nhiên xuất hiện sau đám cưới. Nó đã có dấu chỉ ngay từ trước. Chỉ là vì người ta không muốn nhìn, hoặc có nhìn mà tự trấn an rằng “rồi cưới nhau vào sẽ khác”.
Đó là một trong những ảo tưởng nguy hiểm nhất của tình yêu non nớt: cưới rồi người ấy sẽ khác. Không. Có những điều có thể trưởng thành thêm sau hôn nhân, nhưng những nền tảng nhân cách lệch lạc, nếu không được nhận diện và chữa lành, sẽ không tự động biến mất khi có nhẫn cưới. Đám cưới không phải phép lạ biến một người thiếu trách nhiệm thành người trưởng thành. Bí tích hôn phối là nguồn ân sủng, nhưng ân sủng không hủy bỏ bản tính; ân sủng nâng đỡ, chữa lành, uốn nắn bản tính khi con người cộng tác. Nếu một người quen dối trá, quen ích kỷ, quen trốn trách nhiệm, quen nóng nảy, quen xúc phạm, quen đổ lỗi, quen sống không cầu nguyện, thì hôn nhân rất dễ phơi bày những điều ấy mạnh hơn, chứ không tự xóa nó đi.
Bởi vậy, nhìn người mình yêu như cha mẹ tương lai của con mình là một hành vi của sự thật và cũng là một hành vi của lòng thương. Thương chính mình, thương con cái tương lai, thương cả người mình yêu. Vì nếu một mối quan hệ không đủ nền để đi đến hôn nhân, dừng lại sớm còn ít đau hơn là cố bước vào rồi để nhiều cuộc đời cùng phải trả giá. Có những quyết định đau ở hiện tại nhưng cứu được cả một tương lai. Có những mối tình rất đẹp trong ký ức nhưng không nên trở thành hôn nhân. Không phải vì thiếu yêu, mà vì yêu chưa đủ chín, nền chưa đủ chắc, hướng đi chưa đủ một, đức tin chưa đủ chung, nhân cách chưa đủ vững, các tổn thương chưa đủ được chữa lành. Không phải cứ thương là phải cưới. Cũng không phải cứ gắn bó lâu là phải đi đến cùng. Hôn nhân không chỉ cần cảm tình. Hôn nhân cần sự thật, cần bình an, cần nền tảng, cần sự đồng hành của Chúa.
Có một dấu chỉ rất quan trọng khi nhìn người mình yêu như cha mẹ tương lai của con mình, đó là xem người ấy có biết sống cho điều lớn hơn cái tôi của mình không. Một người chỉ quen sống cho sở thích riêng, cho tự do riêng, cho cảm xúc riêng, cho sự tiện nghi riêng, cho sĩ diện riêng, sẽ rất khó trở thành cha mẹ tốt. Vì làm cha mẹ là một trường học của sự hiến mình. Trẻ con không đợi mình hết mệt mới cần được ôm. Gia đình không đợi mình có hứng mới cần được chăm. Những ngày bệnh, những đêm mất ngủ, những lo toan tiền bạc, những khác biệt trong nuôi dạy con, những hy sinh không tên, tất cả đòi một trái tim biết bước ra khỏi trung tâm của chính mình. Người không có khả năng từ bỏ những ích kỷ nhỏ sẽ rất dễ tạo nên những vết thương lớn trong gia đình.
Nhưng sự hiến mình ấy không có nghĩa là mất bản thân. Một cha mẹ tốt không phải là người hy sinh trong cay đắng rồi trách móc cả nhà. Cũng không phải người dùng công lao để đòi kiểm soát. Một cha mẹ tốt là người biết yêu cách trưởng thành: hy sinh nhưng không hủy mình, cho đi nhưng không làm nhục người nhận, hiện diện nhưng không bóp nghẹt, dạy dỗ nhưng không áp đặt, bảo vệ nhưng không sở hữu. Và để có được kiểu yêu như thế, người bạn đời tương lai cần có một nền tảng nội tâm đủ lành mạnh. Họ cần biết giá trị của mình không nằm ở việc thống trị người khác. Họ cần biết cơn giận không phải là quyền để làm đau. Họ cần biết quyền làm cha mẹ không cho phép họ vùi dập linh hồn con cái. Họ cần biết con cái là quà tặng chứ không phải phần nối dài cái tôi của mình. Họ cần biết người phối ngẫu không phải đồng minh tạm thời để cùng lo việc nhà, mà là người cùng mình làm nên bầu khí đầu tiên cho sự sống con trẻ lớn lên.
Một người đàn ông có thể rất thành công ngoài xã hội nhưng chưa chắc đã là một người cha tốt trong tương lai. Một người phụ nữ có thể rất khéo léo, duyên dáng, giỏi quán xuyến nhưng chưa chắc đã là một người mẹ có khả năng nâng đỡ đời sống nội tâm của con. Điều quan trọng không chỉ là kỹ năng, mà là chiều sâu con người. Người đàn ông ấy có biết dịu lại trước sự yếu đuối không? Có biết bảo vệ mà không đè nén không? Có biết sống có nguyên tắc mà không lạnh lùng không? Có biết tôn trọng vợ để con cái học được phẩm giá của mẹ mình không? Có biết làm việc chăm chỉ nhưng vẫn hiện diện cho gia đình không? Có biết xin lỗi khi sai để dạy con về sự khiêm nhường không? Có biết cầu nguyện và dẫn gia đình đến với Chúa không? Cũng thế, người phụ nữ ấy có biết yêu thương mà không kiểm soát không? Có biết mềm mại mà không yếu đuối không? Có biết mạnh mẽ mà không cay nghiệt không? Có biết làm tổ ấm mà không biến tổ ấm thành nơi ngột ngạt không? Có biết dạy dỗ trong chân lý mà vẫn chừa chỗ cho lòng thương xót không? Có biết tôn trọng chồng để con học được ý nghĩa của sự hiệp thông không?
Những câu hỏi ấy không nhằm làm tình yêu trở nên nặng nề, mà nhằm làm tình yêu trở nên thật. Vì tình yêu thật không sợ bước vào những câu hỏi lớn. Chỉ có tình yêu hời hợt mới né tránh. Thật ra, ai yêu đúng rồi cũng sẽ đến lúc nhìn người mình yêu bằng ánh mắt ấy. Không phải chỉ là người làm tim mình vui, mà là người cùng mình cưu mang một tương lai. Không phải chỉ là người để nắm tay đi dạo, mà là người để cùng đứng bên giường bệnh của con, cùng trả lời những câu hỏi khó của tuổi dậy thì, cùng giải quyết những khủng hoảng của gia đình, cùng chứng kiến nhau già đi, cùng giữ lửa đức tin trong ngôi nhà nhỏ. Khi nhìn như thế, nhiều điều từng tưởng quan trọng bỗng trở nên nhỏ. Còn nhiều điều từng bị xem nhẹ bỗng hiện ra là cốt lõi.
Ví dụ, vẻ ngoài hấp dẫn có thể làm người ta chú ý, nhưng không đủ để dựng nên một người cha hay người mẹ tốt. Sự lãng mạn có thể làm một mối tình đẹp, nhưng không đủ để nuôi một gia đình qua năm tháng. Khả năng nói lời ngọt ngào có thể làm trái tim rung động, nhưng không đủ để thay thế cho lòng trung thực. Sự thành công vật chất có thể giúp gia đình đỡ vất vả, nhưng không đủ để bù cho việc thiếu hiện diện và thiếu tình thương. Ngược lại, có những điều âm thầm hơn nhưng lại vô cùng quý giá: một người biết giữ lời, biết đi làm đúng giờ, biết cư xử tử tế với cha mẹ mình, biết nói thật cả khi điều đó làm mình mất điểm, biết không dùng cơn giận để thao túng, biết nghe người khác đến hết câu, biết sửa mình sau góp ý, biết tôn trọng ranh giới trong lúc yêu, biết cầu nguyện nghiêm túc, biết nhìn tương lai không phải bằng mộng tưởng mà bằng tinh thần trách nhiệm. Những điều ấy không ồn ào, nhưng chính chúng là nền móng.
Có nhiều bạn trẻ yêu nhau nhưng không bao giờ dám nói chuyện sâu về tương lai làm cha mẹ. Họ nói rất nhiều về đám cưới, nơi chụp hình, chỗ ở, công việc, nhưng lại ít nói về cách sẽ nuôi con thế nào, sẽ giữ đức tin trong nhà ra sao, sẽ xử lý mâu thuẫn với hai bên nội ngoại thế nào, sẽ giáo dục con về kỷ luật và lòng thương như thế nào, sẽ phản ứng ra sao nếu con mình yếu đuối, nổi loạn, chậm hơn người khác, hay đi lạc. Những cuộc trò chuyện ấy rất cần, không phải để lên kế hoạch cứng nhắc cho mọi điều, nhưng để thấy lòng nhau. Một người nhìn con cái như gánh nặng khác rất xa một người nhìn con cái như quà tặng. Một người coi việc nuôi dạy con là việc riêng của phụ nữ khác rất xa một người hiểu làm cha là một ơn gọi tích cực. Một người muốn có con để thỏa mãn kỳ vọng gia đình khác rất xa một người thật lòng mở ra cho sự sống trong trách nhiệm. Một người muốn dạy con bằng áp lực thành tích khác rất xa một người muốn giúp con lớn lên thành người tự do, có nhân cách, có đức tin.
Không phải ai cũng được gọi để có thật nhiều con, cũng không phải mọi cặp vợ chồng đều có hành trình giống nhau. Có những đôi hiếm muộn. Có những đôi mang những gánh nặng đặc biệt. Có những đôi phải đi qua những thập giá rất riêng. Nhưng dù ở hoàn cảnh nào, câu hỏi căn bản vẫn còn đó: người bạn đời này có phải là người mà cùng với họ, mình có thể mở ra với sự sống theo cách Thiên Chúa muốn không? Sự sống ở đây không chỉ là sinh học, mà còn là bầu khí sống, là tình yêu nuôi dưỡng, là đức tin được truyền lại, là hy vọng được gìn giữ. Một người có thể sinh con cho mình, nhưng chưa chắc đã giúp mình làm nên một ngôi nhà nơi con được lớn lên trong an toàn và ân sủng. Và đó là điều người trẻ phải đủ tỉnh để nhìn.
Có một điều rất đáng sợ: nhiều người không thật sự cưới nhau trong Chúa, họ chỉ dùng nghi lễ của Chúa để hợp thức hóa một lựa chọn vốn được quyết định chủ yếu bởi cảm xúc, áp lực hay tính toán. Họ không thật sự phân định người này có phải là người mình có thể cùng xây dựng một Hội Thánh tại gia không. Họ chỉ nghĩ đến chuyện phải tiến tới, phải chốt lại, phải có đích. Nhưng hôn nhân không phải một đích để thoát khỏi tình trạng độc thân. Hôn nhân là điểm khởi đầu của một sứ mạng. Ai không nhìn như thế sẽ rất dễ xây mọi sự trên nền sai. Và khi nền sai, chính con cái là những người lãnh đủ. Chúng lớn lên trong bầu khí lạnh lẽo, hoặc căng thẳng, hoặc đổ vỡ, hoặc đức tin hình thức, hoặc những cơn giận kéo dài, hoặc sự im lặng trừng phạt, hoặc một kiểu sống mà cha mẹ ở gần nhau nhưng không thật sự yêu nhau. Nỗi đau ấy rất nhiều trẻ em không biết gọi tên, nhưng nó đi cùng chúng rất lâu.
Bởi vậy, khi nói chọn người để cưới hay chọn cha mẹ tương lai của con mình, Giáo Hội không muốn đè nặng tâm trí người trẻ bằng nỗi sợ, mà muốn đánh thức nơi họ một sự tôn trọng sâu xa với hôn nhân. Không ai chọn cha mẹ cho mình khi được sinh ra. Nhưng chính bạn đang chọn cha hoặc mẹ cho con mình trước khi chúng hiện diện. Đó là một quyền rất lớn, và cũng là một trách nhiệm rất lớn. Không có quyết định nào thuần cá nhân trong hôn nhân. Người ta có thể nghĩ “đây là đời tôi, tôi chọn ai là quyền tôi”. Đúng, nhưng không chỉ thế. Nếu bạn đi đến hôn nhân, lựa chọn ấy sẽ chạm đến linh hồn của người phối ngẫu, của con cái tương lai, của cả hai gia đình, của cộng đoàn đức tin. Bởi vậy, tự do trong hôn nhân không thể là tự do bốc đồng; nó phải là tự do đã được thanh luyện bởi sự thật, cầu nguyện và trách nhiệm.
Một dấu chỉ rất đẹp của một người có thể trở thành cha mẹ tốt là họ biết yêu những người không có gì để cho lại mình. Hãy nhìn cách người ấy đối xử với trẻ nhỏ, với người già, với người yếu, với người làm dịch vụ, với ai đó chậm hơn họ, kém hơn họ, phiền hơn họ. Ở đó lộ ra rất nhiều điều. Vì cha mẹ tốt không chỉ là người biết thành công, mà là người biết cúi xuống. Một đứa trẻ không cần cha mẹ hoàn hảo. Nó cần cha mẹ đủ thật, đủ yêu, đủ hiện diện, đủ an toàn để nó được lớn lên mà không phải luôn nơm nớp lo sợ bị từ chối. Người nào chỉ dễ thương với người ngang hàng nhưng lạnh nhạt hoặc thô lỗ với người yếu hơn, rất có thể rồi cũng sẽ hành xử như thế trong gia đình khi không còn lớp son của giai đoạn yêu đương.
Cũng rất quan trọng khi nhìn cách người ấy đối diện với giới hạn của bản thân. Người có khả năng làm cha mẹ tốt không phải là người không bao giờ sai, nhưng là người có khả năng nhận sai. Có những người yêu nhau lâu năm nhưng chưa bao giờ học được một câu xin lỗi đúng nghĩa. Họ biện minh rất giỏi, đổi lỗi rất nhanh, nhưng rất khó cúi đầu. Những người như thế nếu không thay đổi sẽ làm gia đình nghẹt thở. Vì con cái không chỉ học từ bài giảng của cha mẹ, mà học từ cách cha mẹ sửa sai. Một người cha biết xin lỗi con khi nóng giận sai là đang dạy con sự mạnh mẽ của khiêm nhường. Một người mẹ biết nhận lỗi với chồng trước mặt con là đang dạy con sự thật quý hơn sĩ diện. Trái lại, cha mẹ luôn đúng, luôn áp đảo, luôn dùng quyền để che sai lầm của mình, sẽ để lại nơi con những vết nứt rất sâu về chân lý và về tình yêu.
Một khía cạnh khác nhiều người bỏ qua, đó là đời sống đức tin của người bạn đời tương lai. Nhiều người nói “chỉ cần người đó tốt là được”. Đúng là lòng tốt rất quan trọng. Nhưng với hôn nhân Công giáo, câu hỏi không dừng ở “người đó có tốt không”, mà còn là “người đó có cùng mình hướng về Chúa không”. Vì làm cha mẹ trong đức tin không chỉ là dạy con đọc kinh. Đó là tạo nên một bầu khí trong đó con cái cảm thấy Chúa không xa lạ. Đó là khi cả nhà biết cầu nguyện, biết xin ơn, biết cảm ơn, biết quay về với bí tích, biết đặt những quyết định lớn dưới ánh sáng Tin Mừng. Nếu hai vợ chồng không có cùng chiều kích thiêng liêng, rất nhiều điều sẽ rạn: cách nuôi con, cách hiểu đau khổ, cách đối diện thất bại, cách nhìn về thân xác, về lòng chung thủy, về trách nhiệm, về sự hy sinh. Một người coi Chúa là trung tâm sẽ sống gia đình khác rất xa người coi Chúa là phần trang trí.
Có những người bảo rằng lấy nhau rồi mình kéo người kia về đạo cũng được. Điều đó đôi khi xảy ra như một ơn đặc biệt, nhưng không thể lấy hy vọng ấy làm nền mặc định cho một quyết định lớn. Không thể bước vào hôn nhân với một ảo tưởng truyền giáo lãng mạn rằng “rồi người ấy sẽ thay đổi vì mình”. Không. Điều cần phân định là ngay lúc này, người ấy có tôn trọng đức tin của bạn không? Có mở lòng với hành trình thiêng liêng không? Có ý thức rằng gia đình tương lai cần một nền tảng chung không? Có xem nhẹ những điều bạn trân quý không? Có coi việc sống đạo chỉ là hình thức cho xong không? Những câu hỏi ấy sẽ quyết định rất nhiều cho bầu khí mà con cái sau này lớn lên.
Một gia đình không chỉ được xây bằng tiền. Nó được xây bằng bầu khí. Và bầu khí ấy được tạo nên từ con người cha mẹ trước cả khi con sinh ra. Nếu hai người biết nói với nhau bằng sự tôn trọng, con cái sẽ học được tôn trọng. Nếu hai người biết cầu nguyện, con cái sẽ cảm được Chúa gần. Nếu hai người biết tha thứ, con cái sẽ học được rằng lỗi lầm không phải là tận cùng. Nếu hai người sống chân thật, con cái sẽ bớt phải lớn lên trong hoang mang. Nếu hai người sống lối yêu lành mạnh, con cái sẽ có nền để bước vào các tương quan sau này mà không mang quá nhiều méo mó. Ngược lại, nếu gia đình đầy mỉa mai, cãi vã, lạnh lùng, giả tạo, kiểm soát, con cái có thể vẫn lớn lên, vẫn đi học, vẫn thành đạt, nhưng sâu trong lòng chúng sẽ có những đói khát rất khó gọi tên.
Bởi vậy, chọn người để cưới là một việc còn sâu hơn cả chọn bạn đồng hành. Đó là chọn một nguồn ảnh hưởng lâu dài lên linh hồn thế hệ tiếp theo. Điều này không nên làm người trẻ sợ hôn nhân, nhưng phải làm họ tỉnh. Tỉnh để đừng chọn vì vẻ ngoài hào nhoáng. Tỉnh để đừng chọn vì những tháng ngày cô đơn làm mình nóng ruột. Tỉnh để đừng nhầm sự săn đón với tình yêu trưởng thành. Tỉnh để đừng để vài khoảnh khắc đẹp che đi những nền tảng không vững. Tỉnh để đừng tự lừa dối mình rằng tình yêu sẽ tự chữa hết mọi khác biệt, mọi vết thương, mọi lệch lạc. Tình yêu cần ân sủng, cần sự thật, cần trưởng thành, cần cả can đảm dừng lại nếu thấy nền không đúng.
Ở đây, người trẻ cần học một sự phân định rất quan trọng: phân biệt giữa điều có thể cùng nhau trưởng thành và điều thuộc về nền tảng không nên coi nhẹ. Không ai bước vào hôn nhân đã hoàn hảo. Ai cũng có điều phải học, phải sửa, phải tập lớn lên. Có những thiếu sót nếu hai người cùng thiện chí thì có thể trưởng thành dần. Nhưng có những điều là báo động đỏ: bạo lực, thiếu trung thực kéo dài, nghiện ngập không nhìn nhận, sống hai mặt, coi thường đức tin, xúc phạm nhân phẩm, vô trách nhiệm triền miên, ngoại tình hoặc kiểu sống trượt dài về luân lý mà không có dấu hiệu hoán cải, kiểm soát bệnh hoạn, không có khả năng làm chủ cơn giận, xem gia đình chỉ như gánh nặng, hoặc luôn đổ mọi lỗi cho người khác. Những điều như thế không thể bị che bằng câu “vì con yêu”. Yêu không phải là nhắm mắt. Yêu trong Chúa lại càng không phải là tự hủy lương tâm.
Một trong những câu hỏi sâu sắc nhất trước hôn nhân có lẽ là thế này: nếu sau này con trai mình giống người đàn ông này, hoặc con gái mình giống người phụ nữ này, mình có bình an không? Câu hỏi ấy rất mạnh, vì nó đẩy ta vượt khỏi cảm xúc hiện tại để nhìn vào hoa trái tương lai. Nếu mình thấy lo sợ, thấy bất an, thấy nhiều điều không thể gọi tên nhưng cứ âm ỉ báo động trong lòng, thì đừng vội đè nó xuống. Hãy đem nó vào cầu nguyện. Hãy dám đối diện. Vì rất nhiều người trước hôn nhân đã có những báo động nội tâm, nhưng họ không nghe, vì sợ mất, sợ đau, sợ bắt đầu lại, sợ người khác đánh giá. Để rồi sau này họ sống trong một đau đớn còn lớn hơn nhiều.
Ngược lại, khi gặp đúng người, bình an thường đến theo một cách sâu và đơn sơ. Không phải không có thử thách, nhưng có nền tảng. Không phải không có khác biệt, nhưng có thiện chí. Không phải không phải học nhiều điều, nhưng có sự thật và tôn trọng. Không phải không có lúc cãi nhau, nhưng không đánh mất phẩm giá của nhau. Không phải không có áp lực, nhưng hai người có thể cùng nhìn về một hướng. Và khi nghĩ đến chuyện người ấy làm cha, làm mẹ, lòng mình không chỉ vui mà còn có sự kính trọng. Mình thấy nơi người ấy không chỉ sự dễ thương, mà cả khả năng trở thành một cột trụ, một mái ấm, một khuôn mặt mà con cái có thể tin cậy, một người có thể vừa yêu mình vừa cùng mình yêu những đứa con được trao ban.
Tất nhiên, không ai đoán được hết tương lai. Không ai bảo đảm tuyệt đối rằng mình sẽ không gặp khó khăn trong hôn nhân. Nhưng khác rất xa giữa việc bước vào với một nền tảng tốt và bước vào bằng ảo tưởng. Sự khôn ngoan Kitô giáo không phải là kiểm soát mọi rủi ro, mà là trung thực với những gì mình thấy, khiêm tốn cầu xin ánh sáng, và can đảm đi theo điều đúng dù phải trả giá. Có khi điều đúng là tiếp tục xây dựng một mối tương quan đẹp đang lớn lên trong Chúa. Có khi điều đúng là chờ thêm để cả hai trưởng thành. Có khi điều đúng là dừng lại một mối tình rất thương nhưng không lành. Có khi điều đúng là xin người đồng hành thiêng liêng giúp mình phân định. Có khi điều đúng là dám nói những câu hỏi khó mà lâu nay vẫn tránh. Tất cả những điều đó đều là một phần của việc chọn cha mẹ tương lai cho con mình cách có trách nhiệm.
Thật ra, khi nhìn hôn nhân ở chiều sâu này, người ta sẽ hiểu rằng yêu ai đó không chỉ là quyền lợi, mà là một sự chuẩn bị cho việc trao sự sống. Không nhất thiết sự sống theo nghĩa sinh học ngay lập tức, nhưng chắc chắn theo nghĩa thiêng liêng: mình đang chuẩn bị cho một môi trường nơi sự sống có thể nảy nở. Vì thế, mỗi ngày trong giai đoạn tìm hiểu cũng là lúc hai người đang bộc lộ cho nhau thấy họ có thể trở thành loại cha mẹ nào. Cách họ xử lý bất đồng hôm nay sẽ nói rất nhiều về bầu khí gia đình ngày mai. Cách họ nói về tiền bạc hôm nay sẽ nói rất nhiều về sự bình an hay bất an của mái ấm sau này. Cách họ gìn giữ đức khiết tịnh và sự tôn trọng trong tình yêu hôm nay sẽ nói rất nhiều về cách họ tôn trọng thân xác, phẩm giá và giao ước sau này. Cách họ nói về cha mẹ mình hôm nay sẽ nói rất nhiều về cách họ sẽ hiện diện cho con cái ngày mai. Cách họ cầu nguyện hay không cầu nguyện hôm nay sẽ nói rất nhiều về việc con họ lớn lên trong ánh sáng nào ngày mai.
Có những người trẻ ngại nghe những điều này vì sợ tình yêu mất thơ. Nhưng thật ra, chính sự thật mới cứu tình yêu khỏi trở thành thơ mộng mà rỗng. Một tình yêu chỉ đẹp trong lời nói mà không chịu nổi sức nặng của tương lai thì không đủ để làm nền cho bí tích. Còn một tình yêu dám nhìn nhau sâu, dám hỏi nhau khó, dám đem nhau ra trước mặt Chúa, dám suy nghĩ đến con cái chưa sinh ra, dám tập trách nhiệm ngay từ lúc còn yêu, đó mới là tình yêu đang trưởng thành. Nó không bớt đẹp đi, mà đẹp hơn vì thật hơn. Nó không bớt lãng mạn, mà lãng mạn theo cách của giao ước: không chỉ rung động mà còn đáng tin.
Một ngày nào đó, nếu Chúa ban cho bạn những đứa con, chúng sẽ không hỏi bạn rằng ngày xưa hai người đã nhắn cho nhau bao nhiêu tin dễ thương, đã chụp bao nhiêu tấm ảnh đẹp, đã có một đám cưới sang hay giản dị. Điều chúng cần hơn là bầu khí tình yêu mà cha mẹ chúng đang sống. Chúng cần một mái nhà nơi cha mẹ tôn trọng nhau. Chúng cần một nơi mà cơn giận không thống trị. Chúng cần nhìn thấy cha mẹ biết làm hòa. Chúng cần một không gian mà Chúa không bị đẩy ra khỏi cuộc sống. Chúng cần một tình yêu đủ bền để làm nền cho tuổi thơ của chúng. Và nền ấy bắt đầu từ quyết định hôm nay của bạn: bạn sẽ cưới một người chỉ vì con tim hiện tại, hay bạn sẽ chọn cha mẹ tương lai cho con mình trong ánh sáng của Chúa?
Câu hỏi ấy không nhằm làm trái tim bớt yêu, mà làm trái tim biết yêu đúng. Không nhằm dập tắt khát vọng hôn nhân, mà thanh luyện nó. Không nhằm khiến người trẻ nghi ngờ mọi tương quan, mà giúp họ biết tôn trọng hơn điều mình đang nắm trong tay. Vì hôn nhân là một bí tích, mà bí tích không thể được xây bằng sự mù quáng. Hôn nhân là một ơn gọi, mà ơn gọi không thể được nhận ra chỉ bằng cảm giác. Hôn nhân là một lời trao phó giữa các thế hệ, mà lời trao phó ấy cần những con người biết quỳ xuống cầu nguyện, biết đứng dậy trưởng thành, biết chọn trong sự thật, biết chậm lại để lắng nghe, biết yêu với cả trái tim lẫn lương tâm.
Vậy nên, trước khi hỏi người này có hợp để cưới không, hãy hỏi sâu hơn: người này có thể trở thành cha hoặc mẹ tốt cho con cái chúng tôi không? Người này có thể cùng tôi tạo nên một mái ấm nơi Chúa được hiện diện không? Người này có thể cùng tôi gìn giữ sự sống, gìn giữ đức tin, gìn giữ phẩm giá, gìn giữ giao ước không? Người này có thể cùng tôi đi qua những mùa đêm của gia đình mà không bỏ cuộc quá nhanh không? Người này có thể làm cho những linh hồn được trao vào nhà mình lớn lên trong bình an hơn không? Và trên hết, khi nghĩ đến chuyện trao đời mình cho người này, lòng tôi có bình an sâu trong Chúa không?
Nếu câu trả lời là có, hãy gìn giữ mối tương quan ấy với tất cả sự kính trọng. Hãy cầu nguyện. Hãy trưởng thành. Hãy tiếp tục xây nền. Hãy học yêu sâu hơn để một ngày kia bước vào bí tích không chỉ với niềm vui, mà với ý thức. Còn nếu câu trả lời là không, hoặc còn quá mù mờ, đừng sợ dừng lại, đừng sợ chờ thêm, đừng sợ để Chúa lọc đi điều chưa đúng. Thà đau một lần vì sự thật còn hơn đau cả đời vì một chọn lựa thiếu ánh sáng.
Vì cuối cùng, hôn nhân không chỉ là chuyện hai người tìm thấy nhau. Hôn nhân là chuyện hai người cùng trở thành mảnh đất lành cho sự sống được nảy mầm. Và trước khi những đứa con gọi mình là cha, là mẹ, mình đã bắt đầu làm cha, làm mẹ từ chính cách mình chọn lựa người bạn đời. Đó là lý do chọn người để cưới chưa bao giờ chỉ là chọn một người yêu. Đó là chọn cha mẹ tương lai của con mình. Đó là chọn bầu khí của một ngôi nhà chưa được xây. Đó là chọn gương mặt đầu tiên mà con mình sẽ nhìn để học về yêu thương. Đó là chọn đôi tay sẽ bồng bế, đôi môi sẽ dạy nói, đôi mắt sẽ nhìn con, giọng nói sẽ gọi tên con, trái tim sẽ làm cho con thấy thế giới này là nơi an toàn hay bất an.
Và bởi vậy, lựa chọn ấy phải được đặt dưới ánh sáng rất sâu của Chúa. Không hấp tấp. Không tự dối. Không coi nhẹ. Không để nỗi sợ cô đơn dẫn đường. Không để áp lực tuổi tác ép mình. Không để cảm xúc nhất thời thay thế cho sự phân định. Hãy yêu bằng cả trái tim, nhưng cũng hãy chọn bằng cả đức tin. Hãy rung động, nhưng đừng ngừng cầu nguyện. Hãy mở lòng, nhưng đừng bỏ quên sự thật. Hãy mơ về ngày cưới, nhưng đừng quên những năm tháng sau ngày cưới. Hãy nghĩ đến người đang làm tim mình vui hôm nay, nhưng cũng hãy nghĩ đến những đứa con có thể sẽ gọi người ấy là cha, là mẹ ngày mai.
Khi người trẻ biết nghĩ như thế, họ không mất đi vẻ đẹp của tình yêu. Họ chỉ đưa tình yêu vào đúng chiều sâu của nó. Và từ đó, con đường đến hôn nhân sẽ không còn là một cuộc lao đi trong mù mờ, mà trở thành một hành trình chậm, sáng, có cầu nguyện, có sự thật, có trách nhiệm và có bình an. Chính nơi đó, tình yêu bắt đầu có dáng của giao ước. Chính nơi đó, ơn gọi hôn nhân bắt đầu hiện hình rõ hơn. Chính nơi đó, hai người không chỉ còn là một cặp đôi, mà bắt đầu trở thành những người được mời gọi làm cha, làm mẹ, làm người gìn giữ sự sống, và làm những chứng nhân của tình yêu Chúa trong một gia đình tương lai.
PHẦN III
CẦU NGUYỆN VÀ PHÂN ĐỊNH TRƯỚC HÔN NHÂN
Có những quyết định trong đời nếu sai, người ta còn có thể sửa dần, làm lại dần, học lại dần. Nhưng cũng có những quyết định chạm vào tận gốc đời mình, vào hướng đi của những năm tháng sau này, vào bình an hay giằng co của cả một hành trình rất dài. Hôn nhân là một trong những quyết định như thế. Bởi vậy, trước hôn nhân, điều người trẻ cần không chỉ là cảm xúc đủ mạnh, không chỉ là sự chuẩn bị đủ đẹp, không chỉ là sự đồng thuận của gia đình, mà còn cần một điều sâu hơn rất nhiều: cầu nguyện và phân định. Không có cầu nguyện, tình yêu rất dễ bị dẫn bởi tiếng ồn của cảm xúc, của áp lực, của sợ hãi, của cô đơn, của mộng tưởng. Không có phân định, người ta rất dễ tưởng mình đang đi theo tiếng Chúa trong khi thật ra chỉ đang đi theo điều mình muốn giữ bằng mọi giá.
Nhiều người yêu nhau rất lâu nhưng chưa từng thật sự cầu nguyện cho mối tương quan của mình. Họ có thể cùng đi lễ, cùng đọc một vài kinh, cùng xin Chúa cho chuyện tình đẹp, nhưng họ chưa từng đặt mối tương quan ấy trọn vẹn dưới ánh sáng của Thiên Chúa với tất cả sự thật. Họ cầu xin Chúa chúc lành cho điều họ muốn, nhưng chưa thật sự hỏi Chúa xem điều họ muốn có đúng là điều Ngài muốn không. Họ xin cho được ở bên nhau, nhưng chưa đủ khiêm tốn để xin rằng: nếu đây không phải là con đường dẫn đến bình an thật, xin Chúa cản lại. Chính ở chỗ ấy, rất nhiều người có đạo nhưng vẫn yêu như người không có đức tin, chỉ khác ở chỗ họ thêm một chút ngôn ngữ đạo đức quanh câu chuyện của mình.
Cầu nguyện trước hôn nhân không phải là một phần phụ thêm cho đẹp. Đó không phải là lớp áo đạo đức khoác lên một quyết định vốn đã được định sẵn bởi cảm xúc. Cầu nguyện là hành vi đặt cả trái tim mình trước mặt Chúa và chấp nhận rằng điều Ngài muốn cho mình có thể không trùng hoàn toàn với điều mình đang muốn. Đó là nơi con người không chỉ nói với Chúa, mà để Chúa nói vào lòng mình. Đó là nơi ta không chỉ đem đến ước mơ, mà còn đem đến cả nỗi sợ, nỗi nghi ngờ, những dằn vặt, những dấu hỏi, những gắn bó, những điều mình không dám nhìn thẳng. Chỉ khi ấy, cầu nguyện mới thật sự trở thành không gian của phân định, chứ không chỉ là nơi lặp lại điều mình đã quyết rồi.
Thật ra, nhiều người sợ cầu nguyện sâu cho chuyện hôn nhân, vì họ sợ phải nghe điều mình không muốn nghe. Họ sợ nếu cầu nguyện thật, họ sẽ thấy rõ những điều mình đang cố lờ đi. Họ sợ Chúa chạm vào những góc mình muốn giữ nguyên. Họ sợ ánh sáng, không phải vì ánh sáng xấu, mà vì ánh sáng làm hiện rõ. Có những mối tương quan sống được trong sự mơ hồ nhưng lại rất khó đứng lâu dưới ánh sáng của cầu nguyện chân thật. Bởi cầu nguyện thật sẽ làm một số điều xảy ra: nó bóc bớt ảo tưởng, nó làm dịu cơn say, nó thanh lọc động cơ, nó giúp ta phân biệt đâu là tình yêu, đâu là lệ thuộc; đâu là bình an, đâu là cảm giác mạnh; đâu là tiếng gọi, đâu là nỗi sợ cô đơn đội lốt tiếng gọi.
Chính vì vậy, cầu nguyện trước hôn nhân trước hết là cầu nguyện cho chính mình. Không phải cầu xin Chúa đổi người kia trước, cũng không phải xin Chúa cho mọi chuyện thuận ý mình, nhưng xin Chúa soi sáng cõi lòng mình. Lạy Chúa, con đang yêu vì điều gì? Con muốn cưới vì điều gì? Con đang tìm một người bạn đời hay đang tìm một nơi trú ẩn cho những khoảng trống trong lòng mình? Con đang chọn bằng bình an hay bằng nóng ruột? Con đang đi tới vì tình yêu trưởng thành hay vì sợ phải bắt đầu lại? Con đang tin vào Chúa hay đang bám vào một viễn cảnh mà chính con dựng lên? Những câu hỏi ấy không dễ. Nhưng nếu không dám đưa chúng vào cầu nguyện, người ta sẽ rất dễ xây cả một tương lai trên những động cơ chưa được tinh luyện.
Có một điều rất quan trọng phải nói: cầu nguyện không phải là cách để chạy trốn suy nghĩ. Đôi khi người ta dùng câu “để Chúa lo” như một cách lười phân định. Họ không muốn đối diện các dữ kiện thực tế, không muốn nhìn thẳng vào những dấu hiệu bất ổn, không muốn bàn tới các vấn đề nghiêm túc, rồi lấy lý do là “mình cứ cầu nguyện thôi”. Không. Cầu nguyện thật không làm con người mù đi; nó làm con người sáng ra. Cầu nguyện không thay thế cho sự thật, mà dẫn ta vào sự thật. Cầu nguyện không xóa đi nhu cầu phải nói chuyện rõ ràng về tương lai, về đức tin, về tính cách, về trách nhiệm, về tiền bạc, về gia đình, về con cái, về các vết thương cũ. Trái lại, chính cầu nguyện giúp ta đủ can đảm để không né những chuyện ấy.
Bởi vậy, phân định trước hôn nhân luôn có hai chiều đi cùng nhau: chiều thiêng liêng và chiều thực tế. Chiều thiêng liêng là cầu nguyện, là lắng nghe Lời Chúa, là để lòng mình lắng xuống, là đem tương quan này vào trước Thánh Thể, là xin ơn tự do nội tâm, là học nói với Chúa rằng: “Xin đừng cho con chỉ thấy điều con muốn thấy.” Chiều thực tế là nhìn xem mối tương quan này có nền tảng không, người ấy có trưởng thành không, hai người có cùng đức tin và hệ giá trị không, có thể cùng nhau gánh đời sống hôn nhân không, có những dấu hiệu báo động nghiêm trọng nào không, có những khác biệt nào là có thể đồng hành và khác biệt nào là nền tảng không nên xem nhẹ. Khi hai chiều ấy đi với nhau, phân định mới có chiều sâu. Còn nếu chỉ có cầu nguyện mà thiếu trung thực với thực tế, hoặc chỉ có phân tích thực tế mà thiếu ánh sáng của Chúa, người ta vẫn có thể đi chệch.
Có nhiều người hỏi: làm sao biết đâu là tiếng Chúa trong chuyện hôn nhân? Đây là một câu hỏi rất thật, vì không ai nghe tiếng Chúa theo cùng một cách. Có người mong đợi một dấu lạ, một cảm giác đặc biệt, một biến cố rõ ràng như trời mở ra. Nhưng thường thì tiếng Chúa trong chuyện ơn gọi hôn nhân không đến theo kiểu đó. Nó đến trong sự bình an tăng dần, trong một sự sáng rõ từ từ, trong việc càng cầu nguyện càng thấy mình được kéo về phía sự thật, trong việc mối tương quan ấy càng đi càng giúp mình nên người tốt hơn, sống đạo nghiêm túc hơn, có trách nhiệm hơn, bình an hơn. Tiếng Chúa thường không làm linh hồn rối tung kéo dài. Tiếng Chúa có thể dẫn ta qua những đòi hỏi khó, nhưng sâu bên trong vẫn có một sợi bình an, một sự rộng ra, một cảm giác được đưa về gần điều thật hơn.
Ngược lại, có những tương quan cho rất nhiều cảm xúc mạnh nhưng không có bình an. Lúc nào cũng hồi hộp, lúc nào cũng sợ mất, lúc nào cũng bất an, lúc nào cũng phải đoán xem người kia nghĩ gì, lúc nào cũng thấy mình bị hút vào mà không còn tự do. Có thể ở đó có đam mê, có lệ thuộc, có hấp dẫn, có thương tổn, có cả những phút rất đẹp. Nhưng nếu càng đi càng thấy linh hồn mình kiệt quệ, thấy việc cầu nguyện khó hơn, thấy mình xa Chúa hơn, thấy sự thật bị bóp méo nhiều hơn, thấy nhân cách mình yếu đi hơn là mạnh lên, thì cần dừng lại để phân định rất nghiêm túc. Vì không phải điều gì làm tim rung mạnh cũng là điều Chúa muốn giữ cho đời mình.
Một trong những ơn lớn nhất cần xin trước hôn nhân là ơn tự do nội tâm. Không có tự do nội tâm, người ta rất khó phân định đúng. Vì lúc ấy, ta không còn hỏi điều nào thật, điều nào tốt, điều nào đẹp lòng Chúa, mà chỉ hỏi điều nào giúp mình bớt đau ngay lúc này. Có người ở lại trong một tương quan không lành vì sợ cô đơn. Có người tiếp tục đi tới vì ngại gia đình, bạn bè, cộng đoàn đã biết quá nhiều. Có người không dám dừng vì sợ tuổi tác. Có người không dám nhìn thẳng vì đã đầu tư quá nhiều thời gian. Có người để mặc mọi thứ trôi vì nghĩ “chắc rồi cũng cưới thôi”. Tất cả những ràng buộc ấy làm tâm trí mờ đi. Và khi lòng không tự do, cầu nguyện rất dễ biến thành nài nỉ Chúa hợp thức hóa điều mình đã quyết. Tự do nội tâm không phải là không yêu, mà là yêu mà vẫn còn đủ khả năng đặt tất cả trước mặt Chúa và nói: “Nếu đây không phải điều Chúa muốn, xin cho con đủ can đảm để buông.”
Câu nói ấy nghe rất đạo đức, nhưng thật ra nó rất đau. Vì không ai buông một tương quan mình gắn bó mà không đau. Không ai bước vào phân định nghiêm túc mà không phải đối diện với khả năng điều mình mong nhất có thể không phải là điều đúng nhất. Nhưng chính ở đây, người ta mới hiểu cầu nguyện là gì. Cầu nguyện không phải là làm cho Chúa theo ý mình. Cầu nguyện là để lòng mình dần dần theo được ý Chúa. Và ý Chúa không bao giờ nhằm làm ta bất hạnh theo nghĩa sâu xa. Có thể Ngài không giữ lại cho ta điều ta đang rất muốn. Nhưng Ngài luôn hướng ta về điều thật hơn, lành hơn, sâu hơn, bền hơn. Một mối tương quan chỉ được cứu nếu nó đứng được trong sự thật. Còn nếu nó chỉ sống được nhờ tránh sự thật, thì điều nó cần không phải là thêm cảm xúc, mà là thêm ánh sáng.
Có nhiều cách cầu nguyện trước hôn nhân, nhưng điều quan trọng không nằm ở kỹ thuật mà ở sự thành thật. Thành thật với Chúa, thành thật với mình, thành thật với mối tương quan. Người trẻ có thể cầu nguyện rất đơn sơ: dành thời gian ở trước Chúa, kể với Chúa tất cả, không cần màu mè, không cần ngôn từ đẹp. Lạy Chúa, con thương người này. Con mong được đi với người này. Nhưng trong lòng con còn những điều con không rõ. Có những điều làm con bình an, cũng có những điều làm con sợ. Có những lúc con muốn tiến tới, cũng có những lúc con thấy như có gì đó chưa ổn. Xin đừng để con tự lừa dối mình. Xin đừng để con vì quá sợ mất mà nắm lấy điều không thuộc về con. Xin cho con đủ ánh sáng để thấy, đủ can đảm để chọn, đủ khiêm tốn để nghe, đủ tự do để vâng theo điều đúng.
Một lời cầu nguyện như thế quý hơn rất nhiều lời kinh đọc vội mà lòng không mở ra. Thiên Chúa không cần chúng ta phải nói cho hay. Ngài cần trái tim thật. Một trái tim thật là trái tim không che bớt điều nào trước mặt Chúa. Cả những ham muốn chưa trong sáng, cả nỗi sợ bị bỏ rơi, cả mong muốn được kết hôn cho bằng người ta, cả nỗi đau từ gia đình gốc khiến mình quá khát một mái ấm, cả sự kiêu hãnh muốn chứng minh gì đó qua hôn nhân, cả sự lệ thuộc khiến mình sợ phải sống nếu thiếu người kia. Tất cả những điều ấy, nếu không được đem vào cầu nguyện, sẽ âm thầm điều khiển chọn lựa của ta. Và người ta thường không sai vì thiếu thông minh, mà sai vì không đủ thành thật với chính động cơ của mình.
Ngoài cầu nguyện riêng, một điều rất đẹp và rất cần là cầu nguyện chung khi hai người đã bước vào tương quan nghiêm túc. Có những cặp đôi nói với nhau đủ mọi thứ nhưng không biết cùng nhau đứng trước mặt Chúa. Điều này rất đáng tiếc, vì cầu nguyện chung là nơi nhiều sự thật hiện ra. Khi hai người cùng cầu nguyện, họ không thể chỉ giữ nhau ở mức tình cảm. Họ phải học cách mở lòng trước Đấng lớn hơn cả hai. Họ phải học cách lắng nghe nhau trong ánh sáng của Chúa. Họ phải học nói cùng một lời xin ơn, cùng một lời phó thác. Cầu nguyện chung không chỉ để Chúa chúc lành cho mối quan hệ. Cầu nguyện chung còn là một thử thách đẹp: hai người có thật sự muốn đặt Chúa vào trung tâm không? Hay Chúa chỉ được mời đến khi mọi sự đã xong?
Có những mối tình rất dễ thương, rất hiểu nhau, rất hợp nhau, nhưng khi bắt đầu cầu nguyện chung một cách nghiêm túc, người ta mới thấy có điều gì đó rất lệch. Một người thật lòng hướng về Chúa, người kia chỉ làm cho có. Một người muốn đem tương quan này vào sâu hơn trong đức tin, người kia thấy ngại, thấy phiền, thấy không cần thiết. Một người muốn xin ơn phân định, người kia chỉ muốn giữ mọi chuyện theo ý mình. Những khác biệt ấy rất quan trọng, vì chúng báo trước rất nhiều điều cho đời sống hôn nhân sau này. Gia đình tương lai có thực sự là một Hội Thánh tại gia không sẽ bắt đầu lộ ra ngay từ cách hai người cầu nguyện với nhau lúc còn yêu.
Tuy nhiên, cầu nguyện chung không thay thế cho cầu nguyện riêng. Có những điều ta phải một mình đem vào thinh lặng với Chúa. Bởi khi ở một mình trước mặt Ngài, ta không còn bị ảnh hưởng trực tiếp bởi sự hiện diện của người kia. Ta nghe rõ hơn chuyển động của lòng mình. Ta biết mình thật sự bình an hay chỉ đang bị cuốn theo. Ta nhận ra có điều gì đó âm thầm làm mình bất an không. Ta thấy mình có đang tự bẻ cong lương tâm để phù hợp với viễn cảnh mình thích không. Cầu nguyện riêng là nơi các mặt nạ rơi xuống. Ở đó, ta không cần đóng vai người yêu tốt, người đạo đức tốt, người lý trí tốt. Ta chỉ là mình, với mọi mâu thuẫn, mọi khao khát, mọi lo lắng, mọi hy vọng, mọi giới hạn. Và chính nơi ấy, Chúa làm việc rất sâu.
Trong phân định, sự thinh lặng có vai trò rất lớn. Người trẻ hôm nay rất dễ thiếu thinh lặng. Họ sống giữa quá nhiều tiếng ồn: tin nhắn, gọi điện, mạng xã hội, lời khuyên từ bạn bè, áp lực từ người thân, hình ảnh về đám cưới, những câu chuyện tình yêu ngoài kia, nỗi sợ bị bỏ lại phía sau. Trong tất cả những tiếng ồn ấy, tiếng lòng thật rất khó được nghe. Người ta có thể tưởng mình đang yêu rõ lắm, nhưng thật ra chỉ đang bị bủa vây bởi hàng trăm âm thanh xô đẩy. Vì thế, trước hôn nhân, cần có những khoảng lùi. Không phải để lạnh nhạt, mà để nghe. Không phải để thử thách nhau kiểu trẻ con, mà để kiểm tra xem nếu không bị cuốn vào nhịp liên tục của tương tác, lòng mình thật sự đang ở đâu. Có khi chỉ trong một giờ chầu thinh lặng, một buổi tĩnh tâm, một ngày bớt liên lạc để ở với Chúa, người ta thấy rõ hơn nhiều điều mà trước đó hàng tháng trời vẫn mờ.
Lời Chúa cũng là một ánh sáng không thể thiếu trong phân định. Không phải để tìm những câu giống bói toán, mở đâu trúng đó, nhưng để để cho tâm trí mình được uốn lại bởi chân lý. Khi ta đọc Lời Chúa trong thời gian phân định hôn nhân, điều quan trọng không phải là tìm một câu khẳng định “cưới đi” hay “đừng cưới”, mà là để Lời Chúa làm lộ ra loại tình yêu nào đang sống trong lòng mình. Tình yêu của mình có mang dáng của kiên nhẫn, nhân hậu, không tìm tư lợi, không ghen tương, không cư xử thô bạo, không nuôi hận thù không? Tương quan của mình có đang dẫn mình đến sự thật, đến trong sạch, đến trưởng thành, đến bình an không? Người kia có giúp mình sống các mối phúc hơn không, hay kéo mình vào vùng mập mờ? Lời Chúa không chỉ trả lời câu hỏi “có nên cưới người này không”, mà sâu hơn, Lời Chúa giúp ta trở thành người có khả năng yêu đúng.
Một sai lầm khá phổ biến là chỉ cầu nguyện khi có vấn đề. Khi mọi chuyện đang đẹp, người ta dễ tự tin vào cảm xúc của mình. Chỉ lúc bắt đầu thấy rối, bắt đầu có mâu thuẫn, bắt đầu lộ khác biệt, người ta mới cuống lên đi xin ý Chúa. Thật ra, phân định phải bắt đầu từ sớm, từ những ngày mối tương quan còn đang hình thành. Không phải để nghi ngờ nhau, mà để xây trên nền đúng. Một tương quan được đem vào cầu nguyện từ đầu sẽ có cơ hội lớn hơn để được thanh luyện sớm. Những lệch lạc được nhận ra sớm sẽ đỡ đau hơn. Những hy vọng hão huyền được bóc đi sớm sẽ đỡ đắt giá hơn. Những nét đẹp thật được xác nhận sớm cũng sẽ làm cho tình yêu được củng cố vững hơn.
Cũng cần nói đến vai trò của người đồng hành thiêng liêng hoặc những người khôn ngoan. Phân định không phải lúc nào cũng nên làm một mình. Có những điều ta quá ở trong đó nên không nhìn ra. Có những điểm mù ai ở ngoài cũng thấy mà mình không thấy. Có những nỗi sợ khiến ta cứ quay vòng trong đầu mình. Lúc ấy, một linh mục khôn ngoan, một tu sĩ có kinh nghiệm, một cặp vợ chồng trưởng thành trong đức tin, hoặc một người đồng hành thiêng liêng lành mạnh có thể giúp ta rất nhiều. Không phải để họ quyết thay, nhưng để họ soi sáng, đặt câu hỏi, giúp ta gọi đúng tên những gì đang diễn ra. Tuy nhiên, phải chọn người thật sự khôn ngoan và có đời sống thiêng liêng, chứ không phải bất cứ ai cũng phù hợp để cho lời khuyên về hôn nhân. Có những lời khuyên đầy thành kiến, đầy cay đắng cá nhân, hoặc quá nông, sẽ chỉ làm rối thêm.
Một người đồng hành thiêng liêng tốt sẽ không giật dây quyết định của bạn. Họ sẽ giúp bạn lắng nghe Chúa rõ hơn. Họ có thể hỏi những câu bạn đang tránh. Họ có thể giúp bạn phân biệt giữa bình an thật và sự dễ chịu nhất thời, giữa tiếng lương tâm và tiếng sợ hãi, giữa hy sinh trưởng thành và cam chịu mù quáng. Họ cũng có thể nhắc bạn đừng quá thần thánh hóa sự bất ổn, kiểu nghĩ rằng cứ đau nhiều là chắc tình yêu sâu. Không. Có những đau khổ là phần của trưởng thành, nhưng cũng có những đau khổ là dấu chỉ một tương quan không lành mạnh. Phân định cần sự sáng suốt chứ không cần thứ chủ nghĩa bi thương thiêng liêng.
Có những dấu chỉ thường xuất hiện khi một người đang đi đúng hướng trong phân định hôn nhân. Họ dần dần thấy mình bình an hơn, dù có thể vẫn còn những câu hỏi. Họ thấy mình thật hơn trước mặt Chúa. Họ không cần phải liên tục bẻ cong sự thật để giữ mối quan hệ. Họ thấy mình có tự do để tiến tới, chứ không phải bị ép bởi sợ hãi. Họ thấy mối quan hệ này giúp mình gần Chúa hơn, yêu sự thiện hơn, sống trách nhiệm hơn. Khi nghĩ về tương lai, họ không chỉ thấy đám cưới mà thấy cả hành trình sống và vẫn có một sự bằng lòng nội tâm. Họ cảm thấy mối tương quan này mở ra trong ánh sáng, không cần giấu giếm, không cần ngụy biện nhiều. Họ thấy mình có thể nói thật về những điều khó mà không sợ bị nghiền nát. Họ thấy người kia không chỉ làm mình vui, mà còn đáng kính trọng.
Ngược lại, cũng có những dấu chỉ báo động. Càng cầu nguyện càng rối kiểu mất tự do, không phải rối vì phải đối diện sự thật mà là rối vì đang bị kéo giữa những điều không ngay thẳng. Càng đi càng thấy mình xa Chúa, xa chính mình. Càng yêu càng thấy phải hy sinh lương tâm. Càng tiến tới càng phải im đi những điều quan trọng. Càng bàn về hôn nhân càng thấy sợ nhưng lại không dám nói. Có những sự bất an không nên bị xem nhẹ. Không phải mọi lo lắng đều là điềm xấu, vì chuyện lớn nào cũng có lo. Nhưng có loại lo rất khác: đó là nỗi lo phát ra từ việc nền móng không ổn. Khi ấy, phân định cần được chậm lại, sâu hơn, thật hơn.
Một điểm nữa cần nhấn mạnh: phân định không nhằm tìm sự chắc chắn tuyệt đối theo kiểu không còn một chút nghi ngờ nào. Trong đời sống con người, đặc biệt là những quyết định lớn, hiếm khi có sự chắc chắn toán học. Phân định không biến ta thành người thấy hết tương lai. Nó giúp ta đi tới với ánh sáng đủ cho bước hiện tại, với sự tự do nội tâm đủ để nói “xin vâng”, với nền tảng đủ thật để trao mình. Sẽ luôn còn yếu đuối, sẽ luôn còn điều chưa biết, sẽ luôn cần ân sủng đi tiếp sau ngày cưới. Nhưng điều khác biệt là người đã phân định thật sẽ không bước vào bằng mù quáng. Họ bước vào bằng đức tin. Không phải vì họ đoán được mọi chuyện sẽ đẹp, mà vì họ đã đặt chuyện này đủ lâu trước mặt Chúa, đã nhìn đủ thật, đã nghe đủ sâu, đã nói đủ thành thật, đã đi tới trong bình an của lương tâm.
Một sai lầm khác là nhầm cầu nguyện với trì hoãn vô hạn. Có người cứ nói “để em cầu nguyện thêm” suốt nhiều năm, nhưng thật ra không phải đang phân định mà đang sợ quyết định. Có người dùng ngôn ngữ thiêng liêng để tránh trách nhiệm phải nói rõ. Có người không dám tiến cũng không dám dừng, cứ để tương quan kéo dài trong vùng mập mờ vì sợ đau nếu phải chốt lại. Đây không phải phân định. Phân định thật sẽ dẫn đến hành động đúng lúc. Sau một thời gian cầu nguyện, suy xét, lắng nghe, trò chuyện, xin lời khuyên, con người phải dám chọn. Chọn đi tiếp với sự rõ ràng. Hoặc chọn dừng lại với sự thật. Không ai được gọi để sống mãi trong nửa sáng nửa tối. Tình yêu xứng đáng với sự rõ ràng. Ơn gọi xứng đáng với một lời đáp.
Có lẽ một trong những lời cầu nguyện đẹp nhất trước hôn nhân là lời cầu xin được yêu sự thật hơn yêu viễn cảnh mình đang mơ. Bởi điều làm người ta sai nhiều nhất không phải là ác ý, mà là quá mê một viễn cảnh. Họ mê hình ảnh gia đình hạnh phúc, mê ước mơ được kết hôn, mê cảm giác đã tìm thấy một nửa, mê những dự định đẹp, mê sự gắn bó đã quá lâu, đến mức không còn đủ tự do để nhìn xem viễn cảnh ấy có nền không. Khi ấy, cầu nguyện phải trở thành hành vi để Chúa gỡ dần bàn tay mình khỏi những chỗ bám quá cứng. Không phải để làm mình nghèo đi, mà để làm mình tự do hơn. Một người tự do hơn sẽ yêu đúng hơn. Một người tự do hơn sẽ chọn sáng hơn. Một người tự do hơn sẽ đi vào hôn nhân không như một kẻ tuyệt vọng tìm chỗ trú, mà như một người được mời gọi hiến mình.
Phân định trước hôn nhân cũng cần đụng đến các tổn thương cũ. Nhiều người không hiểu vì sao mình cầu nguyện mãi vẫn rối, thực ra vì trong lòng còn nhiều vết thương chưa gọi tên: tuổi thơ thiếu an toàn, cha mẹ đổ vỡ, bị bỏ rơi, từng bị phản bội, từng bị xem thường, từng sống trong đói khát tình cảm. Những vết thương ấy không làm mình xấu. Nhưng nếu không được nhận ra, chúng sẽ chen vào phân định. Ta sẽ dễ bám vào ai cho mình cảm giác được thấy. Ta sẽ dễ sợ mất đến mức bỏ qua những điều không ổn. Ta sẽ dễ đồng hóa tình yêu với sự lệ thuộc. Ta sẽ dễ gọi bất cứ sự quan tâm nào là định mệnh. Bởi vậy, cầu nguyện trước hôn nhân đôi khi không chỉ là xin Chúa cho biết có nên cưới ai không, mà còn là xin Chúa chữa lành những vùng trong lòng khiến mình không còn tự do để chọn.
Có khi Chúa không trả lời câu hỏi của ta bằng cách chỉ rõ người kia, mà bằng cách bắt đầu chữa mình. Ngài đưa ta đi qua những giai đoạn phải đối diện chính mình, phải lớn lên, phải học ở một mình với Ngài, phải học phân biệt giữa tình yêu và nhu cầu được lấp đầy. Có những người tưởng mình chậm kết hôn là bị Chúa quên, nhưng thật ra Chúa đang chuẩn bị cho họ một trái tim đủ chín để không phá hỏng điều tốt đẹp sau này. Có những mùa chờ đợi không phải là trì hoãn vô nghĩa; đó là lòng thương xót. Vì thà bước vào hôn nhân muộn hơn một chút nhưng trong sáng hơn, còn hơn bước vào sớm trong mù mờ và để cả đời phải trả giá cho một quyết định chưa được thanh luyện.
Khi phân định đúng, một điều rất đẹp sẽ dần xuất hiện: ta không còn xem hôn nhân như chỗ để được cứu, mà như chỗ để cùng người khác bước đi trong ơn cứu độ. Đây là khác biệt rất lớn. Người chưa được thanh luyện thường nhìn hôn nhân như nơi mình sẽ được hoàn tất, được làm đầy, được bù đắp. Người đang đi đúng trong phân định sẽ dần hiểu rằng không người phàm nào có thể làm trọn điều chỉ Chúa mới làm được. Người bạn đời là quà tặng, nhưng không phải thần tượng. Họ là người đồng hành, không phải đấng cứu chuộc. Khi một người đi vào hôn nhân với đức tin ấy, họ sẽ bớt đặt gánh nặng bất khả lên vai người mình yêu. Và đó là một ơn rất lớn cho đời sống sau này.
Cuối cùng, cầu nguyện và phân định trước hôn nhân không nhằm tạo ra những người sợ hãi, lúc nào cũng nghi ngờ mọi tương quan. Không. Nó nhằm tạo ra những người biết yêu trong ánh sáng. Yêu mà không mù. Tin mà không ngây thơ. Hy vọng mà không tự lừa dối. Gắn bó mà vẫn tự do. Ước mơ mà vẫn quỳ gối. Nó nhằm giúp người trẻ không bước vào một bí tích lớn bằng đôi mắt nhắm lại, nhưng bằng một trái tim mở ra trước Chúa, một lương tâm được soi sáng, một ý chí trưởng thành, một sự thật không bị né tránh.
Vì thế, ai đang đứng trước ngưỡng cửa hôn nhân, xin đừng chỉ hỏi: “Con có yêu người này không?” Hãy hỏi sâu hơn: “Lạy Chúa, Ngài có ở trong tương quan này không? Tương quan này có dẫn con đến gần sự thật hơn không? Có giúp con nên người tốt hơn, sống đạo hơn, tự do hơn, trưởng thành hơn không? Có phải đây là con đường mà nếu bước vào, con có thể cùng người ấy yêu Ngài hơn, yêu nhau đúng hơn và đón nhận ơn gọi gia đình trong bình an không?” Và nếu cần, hãy dám hỏi cả câu khó nhất: “Nếu câu trả lời là không, xin cho con đủ can đảm để không bám vào điều không thuộc về mình.”
Đó là lời cầu nguyện rất trưởng thành. Và cũng chính từ những lời cầu nguyện như thế, một cuộc hôn nhân đẹp mới có thể được sinh ra. Không phải từ sự vội vã. Không phải từ nỗi sợ bị bỏ lại. Không phải từ ảo tưởng rằng yêu là đủ. Nhưng từ một trái tim đã biết quỳ xuống, biết nghe, biết khóc, biết buông, biết đợi, biết sáng ra, biết chọn, biết nói lời xin vâng không chỉ với người mình yêu mà trước hết với Thiên Chúa.
Bởi sau cùng, người ta không chuẩn bị hôn nhân bằng váy cưới, nhẫn cưới hay thiệp cưới trước tiên. Người ta chuẩn bị hôn nhân bằng một linh hồn biết cầu nguyện và một lương tâm biết phân định. Ai có hai điều đó, dù chưa hoàn hảo, vẫn có thể bước đi trong ánh sáng. Ai thiếu hai điều đó, dù có mọi điều kiện khác, vẫn có thể lạc đường ngay giữa những gì tưởng như đẹp nhất.
Và thế là trước khi bước vào lời hứa trọn đời, người trẻ được mời gọi đi qua một con đường thinh lặng, cầu nguyện, soi sáng và phân định. Con đường ấy không ồn ào, nhưng quyết định rất nhiều. Nó làm cho tình yêu bớt mơ hồ và trở nên giao ước. Nó làm cho cảm xúc bớt thống trị và nhường chỗ cho đức tin. Nó làm cho quyết định hôn nhân không còn là kết quả của một cơn say dài, mà trở thành lời đáp lại của một tâm hồn đã được Chúa chạm, đã được sự thật thanh luyện, đã được bình an hướng dẫn.
PHẦN IV
NHỮNG DẤU HIỆU CHO THẤY MỘT MỐI QUAN HỆ NÊN ĐI TIẾP HAY NÊN DỪNG LẠI
Có những lúc trong tình yêu, điều làm con người đau nhất không phải là không được yêu, mà là không biết phải đi tiếp hay nên dừng lại. Nếu không yêu, có khi còn dễ. Nếu ghét nhau, có khi còn dễ. Nhưng rất nhiều mối quan hệ không nằm ở hai cực đó. Người ta vẫn còn thương. Vẫn còn quyến luyến. Vẫn còn nhớ. Vẫn còn thấy người kia quan trọng. Nhưng đồng thời, trong lòng cũng bắt đầu có một điều gì đó không yên. Một chút mỏi. Một chút sợ. Một chút nghi ngờ. Một chút hụt hơi. Một chút linh cảm rằng nếu cứ bước tiếp như thế này, có thể mình sẽ đau rất sâu. Chính trong những vùng mơ hồ ấy, con người thường yếu nhất. Vì trái tim muốn giữ, nhưng lương tâm bắt đầu báo động. Cảm xúc muốn tiếp tục, nhưng sự thật bắt đầu lên tiếng. Và nếu không đủ bình tĩnh, không đủ cầu nguyện, không đủ thành thật, người ta có thể dùng chính tình yêu để che đi những điều lẽ ra phải nhìn.
Đây là một trong những chỗ người trẻ cần được dạy rất kỹ: không phải cứ còn thương là nên đi tiếp. Cũng không phải cứ có khó khăn là phải dừng lại. Tình yêu trưởng thành không quá dễ bỏ cuộc, nhưng cũng không mù quáng đến mức bất chấp mọi dấu hiệu để lao vào. Phân định một mối quan hệ nên đi tiếp hay nên dừng lại không phải là chuyện của cảm xúc nhất thời. Cũng không phải chuyện nhìn vào một vài khoảnh khắc đẹp hay xấu rồi kết luận. Nó là một tiến trình lắng nghe sự thật của cả mối quan hệ: nó đang làm gì với linh hồn mình, với đức tin mình, với nhân cách mình, với sự tự do của mình, với khả năng trở thành vợ chồng và cha mẹ tương lai của cả hai. Một mối quan hệ không chỉ được đánh giá bằng việc nó có làm tim mình rung động không, mà bằng việc nó có giúp mình trưởng thành trong tình yêu thật không.
Có những mối quan hệ nên đi tiếp vì dù có khó, ở đó vẫn có nền tảng. Và có những mối quan hệ nên dừng lại không phải vì hết thương, mà vì nền đang sai. Người ta thường lẫn hai chuyện đó. Họ thấy có khó là tưởng sai. Hoặc thấy còn thương là tưởng đúng. Nhưng đời sống hôn nhân tương lai không thể được xây chỉ trên thương, cũng không thể bị chặn lại chỉ vì có thử thách. Điều phải nhìn là bản chất của thử thách ấy. Nó là thử thách của hai người thiện chí đang học yêu nhau trưởng thành hơn, hay là dấu hiệu của một lệch lạc nền tảng? Nó là khó khăn có thể cùng nhau vượt qua, hay là một cái hố đang ngày càng sâu mà cả hai cứ cố gọi là hy sinh? Nó là nơi hai người được mời gọi lớn lên, hay là nơi một người cứ phải co lại, méo đi, đánh mất phẩm giá, đánh mất bình an, đánh mất cả mình?
Một trong những dấu hiệu đẹp nhất cho thấy một mối quan hệ nên đi tiếp là nó giúp con người trở nên thật hơn. Khi yêu đúng, người ta không phải diễn quá nhiều. Không phải lúc nào cũng phải đoán ý, phải giữ hình ảnh, phải gồng lên để được chấp nhận. Ở bên người ấy, mình có thể là mình, nhưng không phải là “mình” buông thả, mà là “mình” đang được mời gọi lớn lên. Một tình yêu lành mạnh không làm ta nhỏ lại, không làm ta sống hai mặt, không bắt ta phải bóp méo lương tâm để được giữ lại. Nó tạo ra một không gian trong đó ta vừa được yêu, vừa được thách thức để tốt hơn, nhưng không bị xúc phạm, không bị nghiền nát, không bị coi thường. Khi một mối quan hệ làm mình dần dần nói thật hơn, cầu nguyện thật hơn, trưởng thành hơn, có trách nhiệm hơn, dịu hơn, trong hơn, biết nghĩ xa hơn, đó là một dấu hiệu rất quý.
Một dấu hiệu khác cho thấy nên đi tiếp là sự bình an sâu. Không phải là không có lo lắng gì, vì chuyện lớn nào cũng có phần băn khoăn. Nhưng sâu bên dưới những lo lắng rất người ấy, vẫn có một dòng bình an. Bình an khi nghĩ về tương lai với người ấy. Bình an khi đem mối quan hệ này vào cầu nguyện. Bình an khi nghĩ đến chuyện gia đình, con cái, thử thách, nghèo khó, bệnh tật. Bình an không có nghĩa là mọi thứ hoàn hảo. Nó có nghĩa là linh hồn không bị xé kéo liên tục. Nó có nghĩa là mình không phải ngày nào cũng sống trong cảnh vừa yêu vừa bất an tột độ. Tình yêu đúng có thể làm ta xúc động, nhưng không làm ta sống kiệt quệ. Tình yêu đúng có thể có nước mắt, nhưng không làm lòng mình tối lại kéo dài. Tình yêu đúng có thể có khác biệt, nhưng vẫn giữ được nền tảng an toàn nội tâm.
An toàn nội tâm là một điều rất quan trọng trong việc phân định. Có những người ở bên nhau mà không có cảm giác an toàn. Không phải an toàn vật chất, mà là an toàn tinh thần và thiêng liêng. Mình không biết lúc nào người kia nổi giận. Không biết mình nói thật ra thì sẽ được lắng nghe hay bị bóp méo. Không biết hôm nay người ấy dịu dàng, ngày mai có quay ra lạnh lùng không. Không biết mình có được tôn trọng không nếu bất đồng. Không biết nếu mình yếu đuối, thất bại, chậm lại, người ấy có còn ở đó với lòng nhân hậu không. Một mối quan hệ thiếu an toàn như thế, dù có rất nhiều cảm xúc mãnh liệt, vẫn là một nền rất nguy hiểm cho hôn nhân. Bởi hôn nhân không sống được trong nỗi hồi hộp triền miên. Một mái ấm không thể được dựng bằng sự lo âu.
Khi một mối quan hệ nên đi tiếp, người ta thường thấy ở đó có sự tôn trọng rất rõ. Tôn trọng trong lời nói. Tôn trọng trong lúc bất đồng. Tôn trọng thân xác nhau. Tôn trọng đức tin nhau. Tôn trọng ranh giới. Tôn trọng gia đình của nhau mà không để gia đình thao túng. Tôn trọng cả những điểm yếu, những nhịp chậm, những khác biệt khí chất. Tôn trọng không có nghĩa là chiều chuộng vô nguyên tắc. Tôn trọng là không làm nhục, không coi thường, không dùng điểm đau của nhau làm vũ khí. Có những người lúc vui thì rất dễ thương, nhưng lúc giận thì nói những lời chà đạp nhân phẩm. Điều đó không thể xem nhẹ. Vì một người có thể mất bình tĩnh, nhưng nếu nhiều lần họ dùng cơn giận để hạ thấp, mỉa mai, khinh thường, xúc phạm, thì đó không còn là chuyện “nóng tính” bình thường nữa. Đó là dấu hiệu của một kiểu yêu không an toàn.
Một mối quan hệ nên đi tiếp khi hai người có thể nói chuyện khó với nhau. Đây là một dấu hiệu trưởng thành rất lớn. Nhiều cặp đôi rất hợp trong những chuyện vui, nhưng đụng chuyện nghiêm túc thì né, hoặc cãi là vỡ ra, hoặc im lặng kéo dài. Họ không bàn được về tiền bạc, về tương lai, về đức tin, về trách nhiệm, về con cái, về ranh giới với gia đình hai bên, về đời sống chăn gối, về vết thương cũ. Mỗi lần đụng vào các vùng quan trọng ấy là một người bỏ chạy, hoặc nổi nóng, hoặc phòng thủ, hoặc đổ lỗi. Một mối quan hệ như thế rất khó đi xa một cách lành mạnh. Vì hôn nhân không chỉ là cùng nhau hưởng những điều dễ, mà là cùng nhau đi qua những điều khó. Nếu chưa cưới mà đã không nói được sự thật với nhau, thì sau cưới, sức nặng của đời sống thực sẽ đè lên điều ấy gấp nhiều lần.
Ngược lại, một dấu hiệu đẹp là khi hai người có thể ngồi xuống, nói thật, nghe hết, không nhất thiết lúc nào cũng đồng ý ngay, nhưng vẫn giữ được lòng tôn trọng và thiện chí tìm hiểu. Họ không biến mỗi khác biệt thành một trận chiến thắng thua. Họ biết rằng mục tiêu không phải là chứng minh ai đúng hơn, mà là hiểu nhau sâu hơn để tìm ra con đường chung. Khi một người nói về nỗi đau, người kia không cười nhạo. Khi một người góp ý, người kia không lập tức phản công. Khi một người cần thời gian lắng lại, người kia không dùng sự im lặng ấy làm hình phạt. Những điều này nghe nhỏ, nhưng thật ra nó là mạch sống của một hôn nhân bền.
Một dấu hiệu nữa cho thấy nên đi tiếp là cả hai cùng có khả năng sửa mình. Không ai trong tình yêu là hoàn hảo. Ai cũng mang giới hạn, ai cũng có điểm cứng, ai cũng có vết thương. Nhưng điều quyết định không phải là có yếu điểm hay không, mà là có khả năng nhận ra và sửa không. Có những người sai nhưng biết xin lỗi, biết thay đổi, biết học. Có những người nghe góp ý rất đau nhưng vẫn quay lại suy nghĩ. Có những người thấy mình làm người kia tổn thương thì nghiêm túc nhìn lại, không đổ lỗi vòng vo. Những người như thế, dù còn phải học rất nhiều, vẫn là dấu hiệu hy vọng. Bởi hôn nhân không đòi hai người đã xong xuôi mọi bài học. Hôn nhân cần hai người có khả năng học suốt đời. Còn nếu một người luôn luôn đúng, luôn luôn có lý, luôn luôn đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho người yêu, cho gia đình, cho áp lực, cho tính cách, cho quá khứ, thì đó là một cánh cửa rất hẹp cho tương lai.
Một mối quan hệ cũng nên đi tiếp khi nó giúp cả hai gần Chúa hơn. Không phải chỉ là đi lễ chung hay đăng hình đạo đức. Mà thật sự gần Chúa hơn trong lương tâm, trong lối sống, trong cầu nguyện, trong sự trong sạch, trong thái độ với bí tích, trong cách nhìn về hôn nhân. Người kia có giúp mình nhớ đến Chúa khi bối rối không? Có tôn trọng đức tin mình không? Có khiến mình sống nghiêm túc hơn với các giá trị mình tin không? Có cùng mình cầu nguyện cho tương lai không? Có coi hôn nhân là bí tích không, hay chỉ là sự kiện xã hội? Nếu một mối quan hệ càng đi càng làm mình nguội lạnh, làm mình sống hai mặt, làm mình xa Lời Chúa, làm mình xem nhẹ phẩm giá thân xác, xem nhẹ sự thật, thì dù có nhiều phút đẹp, vẫn phải dừng lại để nhìn thật sâu. Một tình yêu kéo mình xa Chúa không thể là nền tốt cho một bí tích xây trên giao ước với Chúa.
Đó là những dấu hiệu của một tương quan có thể nên đi tiếp. Nhưng bên cạnh đó, cũng có những dấu hiệu cho thấy một mối quan hệ nên dừng lại, hoặc ít nhất phải dừng nhịp lao tới để phân định rất nghiêm túc. Điều đầu tiên là khi mình đánh mất chính mình theo nghĩa xấu. Không phải đánh mất cái tôi ích kỷ để học yêu, mà là đánh mất phẩm giá, đánh mất tiếng nói, đánh mất lương tâm, đánh mất sự tự trọng. Có những người yêu lâu ngày mà không còn biết mình muốn gì, không dám nói thật, không dám phản đối, không dám giữ ranh giới, luôn sống trong tâm thế sợ người kia buồn, sợ người kia bỏ, sợ người kia nổi giận. Đó không phải là yêu trưởng thành. Đó là một dạng lệ thuộc. Và lệ thuộc không thể là nền của bí tích, vì bí tích đòi hai con người tự do trao mình cho nhau, chứ không phải một người bám chặt và một người nắm quyền.
Dấu hiệu thứ hai cần rất cẩn trọng là sự thiếu trung thực. Nếu một người thường xuyên nói dối, giấu giếm, bóp méo sự thật, nói một đằng làm một nẻo, và khi bị phát hiện thì tìm cách né tránh hơn là sửa mình, đó là điều rất nghiêm trọng. Hôn nhân có thể chịu được nghèo khó, bệnh tật, áp lực, nhưng rất khó sống trong dối trá kéo dài. Bởi khi sự thật bị bào mòn, sự tin tưởng cũng chết dần. Và không có tin tưởng, vợ chồng rồi cũng chỉ còn ở bên nhau trong phòng thủ. Đừng tự ru ngủ mình rằng “sau cưới rồi người ấy sẽ bớt”. Có thể có những người thật sự hoán cải, nhưng sự hoán cải ấy phải có dấu chỉ rõ ràng, bền bỉ, thực tế, chứ không phải vài lời hứa xúc động sau mỗi lần bị bắt gặp.
Dấu hiệu thứ ba là bạo lực. Bạo lực không chỉ là đánh đập. Bạo lực còn là đe dọa, là chửi rủa, là làm nhục, là kiểm soát, là thao túng, là cô lập người kia khỏi các mối quan hệ lành mạnh, là ép buộc về thể xác, là dùng cơn giận để thống trị bầu khí. Có những người chưa hề giơ tay đánh nhưng đã bẻ gãy nhân phẩm người yêu bằng lời nói, bằng ánh mắt, bằng thái độ, bằng việc khiến họ luôn phải sống trong sợ hãi. Có những người lấy danh nghĩa “yêu nên ghen” để hợp thức hóa sự kiểm soát bệnh hoạn. Có những người nhân danh “quan tâm” để xen vào từng ngóc ngách đời sống, đọc tin nhắn, kiểm tra, ra lệnh, ép buộc. Tất cả những điều ấy không nên được gọi bằng cái tên dễ thương. Đó là những dấu hiệu rất nguy hiểm. Một mối quan hệ có bạo lực không nên được tô hồng chỉ vì đôi lúc người kia rất ngọt ngào sau đó. Chu kỳ làm đau rồi xin lỗi rồi lặp lại là một cái bẫy rất phổ biến của những tương quan độc hại.
Dấu hiệu thứ tư là sự coi thường đức tin và các giá trị nền tảng của hôn nhân. Nếu người kia xem nhẹ bí tích, xem thường sự chung thủy, xem chuyện kết hôn chỉ là thủ tục, coi việc sống trong sạch, cầu nguyện, tôn trọng phẩm giá thân xác là chuyện cổ hủ, thì đó không phải là khác biệt nhỏ. Đó là khác biệt nền. Hôn nhân Công giáo không thể bền bằng việc một người cố giữ còn người kia ngấm ngầm phá nền. Cũng vậy, nếu hai người khác biệt quá sâu về mục đích sống, về cách nhìn con cái, về tiền bạc, về trách nhiệm, về quan hệ với hai bên gia đình, mà không có cùng thiện chí để đi đến một nền chung, thì càng kéo dài thường chỉ càng đau hơn.
Một dấu hiệu rất đáng sợ nữa là khi càng yêu, mình càng phải biện minh cho những điều lương tâm biết là sai. Mình bắt đầu quen với việc nói “thôi chắc không sao”, “người ấy cũng tốt mà”, “do áp lực thôi”, “ai mà chẳng có lỗi”, dù sâu bên trong biết đây không chỉ là lỗi nhỏ. Lương tâm nhiều khi nói rất khẽ. Nhưng nếu cứ bị dập mãi, rồi sẽ đến lúc con người sống trong một lớp sương mù nguy hiểm: vừa đau, vừa không dám thừa nhận mình đau; vừa thấy sai, vừa không dám gọi tên là sai. Một mối quan hệ bắt mình phải phản bội lương tâm để duy trì nó thì không phải là nơi để xây giao ước thánh.
Ngoài ra còn có một dấu hiệu khác dễ bị bỏ qua: sự mệt mỏi triền miên của linh hồn. Có những mối quan hệ không quá kịch tính, không có bạo lực rõ, không có dối trá lớn lộ thiên, nhưng càng đi càng làm linh hồn mình kiệt. Mình thấy như phải gồng mãi. Phải dỗ mãi. Phải đoán mãi. Phải giải thích mãi. Phải chịu đựng những vòng lặp cũ mãi mà chẳng có chuyển biến thật. Phải sống trong cảm giác nặng thay vì sáng. Mình cười, nhưng không còn nhẹ. Mình ở lại, nhưng không còn bình an. Mình cố gọi đó là hy sinh, nhưng thật ra nhiều khi chỉ là hao mòn. Cần phân biệt rất rõ giữa hy sinh của tình yêu trưởng thành và sự hao mòn trong một tương quan không lành. Hy sinh là khi mình cho đi nhưng linh hồn vẫn có hướng sáng. Hao mòn là khi mình tan ra từng chút mà không có hoa trái thật, chỉ còn mệt mỏi và lẫn lộn.
Một mối quan hệ nên dừng lại khi người kia liên tục hứa nhưng không bao giờ biến lời hứa thành thực tế. Ai cũng có lúc vấp. Nhưng nếu một người năm lần bảy lượt cam kết thay đổi mà rồi mọi thứ vẫn lặp lại, người ấy không chỉ đang yếu, mà còn đang sống thiếu trách nhiệm với sự thật. Tình yêu không thể sống mãi bằng tiềm năng. Hôn nhân không thể được xây trên phiên bản lý tưởng của người kia mà mình hy vọng một ngày nào đó sẽ xuất hiện. Ta phải phân định dựa trên con người thật đang hiện diện, không phải con người mà ta đang mơ họ sẽ trở thành. Hy vọng là điều đẹp, nhưng hy vọng mù quáng sẽ phá nát rất nhiều đời sống.
Cũng cần để ý đến cách người kia đối diện với gia đình gốc. Không phải để soi mói, nhưng để hiểu sâu. Một người có thể mang nhiều vết thương từ gia đình, điều đó không làm họ mất phẩm giá. Nhưng cách họ nhìn những vết thương ấy rất quan trọng. Họ có ý thức về ảnh hưởng của nó không? Có trách nhiệm chữa lành và trưởng thành không? Hay họ để mọi méo mó ấy tràn vào tương quan hiện tại và bắt người mình yêu phải chịu? Một người không dám rời sự lệ thuộc bệnh lý với gia đình gốc, không dám thiết lập ranh giới lành mạnh, hoặc luôn để gia đình quyết định thay các chọn lựa cốt lõi của mình, sẽ rất khó bước vào hôn nhân như một người trưởng thành. Ngược lại, một người biết kính trọng cha mẹ nhưng cũng biết chịu trách nhiệm cho đời mình là dấu hiệu rất quý.
Một câu hỏi rất hay để kiểm tra một mối quan hệ là: nếu đây không phải là người mình yêu mà là một người bạn thân đang sống trong mối quan hệ y như thế, mình sẽ khuyên họ gì? Câu hỏi này giúp kéo mình ra khỏi sự mù của cảm xúc. Nhiều người rất sáng khi nhìn chuyện người khác nhưng lại rất mù khi chuyện xảy ra với mình. Họ thấy bạn mình bị kiểm soát là bất ổn, nhưng chính mình thì lại gọi đó là “người ấy thương mình nên mới vậy”. Họ thấy bạn mình bị xúc phạm là nguy hiểm, nhưng đến lượt mình lại nói “lúc nóng ai mà chẳng lỡ lời”. Họ thấy bạn mình yêu một người thiếu trung thực là đáng lo, nhưng với mình thì lại nghĩ “vì người ấy có nỗi khổ riêng”. Tình yêu trưởng thành cần có khả năng nhìn mình với cùng một tiêu chuẩn chân thật mà mình dùng cho người khác.
Tuy vậy, phải nhắc lại một điều rất quan trọng: không phải cứ có khó khăn là phải dừng. Có những mối quan hệ thật sự đáng đi tiếp, nhưng đang phải đi qua những va chạm của hai con người còn đang học yêu. Họ có thể đến từ hai nền gia đình khác nhau, khí chất khác nhau, nhịp sống khác nhau. Họ có thể có những hiểu lầm, những mong đợi chưa nói ra, những non nớt cần sửa. Nhưng điều làm nên hy vọng ở đây là cả hai đều khiêm tốn, đều thật lòng, đều biết nhìn lại, đều không dùng nhau làm nơi trút xả, đều biết cầu nguyện, đều cùng muốn đi về phía sự thật. Trong những trường hợp ấy, thử thách không phải là lý do để bỏ nhau, mà là nơi để cả hai học xây nền. Một viên đá bị va vào đá khác không phải để vỡ, mà có thể để được mài cho bớt sắc cạnh, miễn là cả hai không cố tình làm nhau chảy máu.
Bởi vậy, phân định nên đi tiếp hay nên dừng lại không nằm ở việc đếm số lần cãi nhau, mà ở phẩm chất của mối quan hệ. Sau mỗi lần bất đồng, cả hai đi về đâu? Về gần hơn trong sự hiểu biết, hay xa hơn trong cay đắng? Sau mỗi lỗi lầm, người ta học được gì, hay chỉ lập lại? Sau mỗi lần sự thật lộ ra, mối tương quan được thanh luyện, hay bị che đậy thêm? Càng đi, cả hai có trưởng thành hơn không? Có sáng hơn không? Có tự do hơn không? Có gần Chúa hơn không? Có đáng tin hơn không? Có trở nên người cha, người mẹ tốt hơn trong tiềm năng thật không? Hay càng đi càng thấy hai người đánh thức phần xấu nhất nơi nhau?
Có một nỗi đau rất thật là đôi khi một mối quan hệ phải dừng lại dù vẫn còn yêu. Điều này làm nhiều người khó chấp nhận. Họ nghĩ nếu còn yêu thì phải giữ. Nhưng không phải tình yêu nào cũng đủ lành để đi tới hôn nhân. Không phải tình yêu nào cũng mang cùng một sứ mạng. Có những người đi qua đời ta để làm ta lớn lên, để cho ta thấy mình cần chữa lành gì, để dạy ta phân biệt giữa khát khao và ơn gọi, giữa thương và cưới. Có những người ta thật lòng biết ơn, thật lòng thương, nhưng không thể trở thành vợ chồng. Dừng lại trong những trường hợp ấy không phải là phản bội tình yêu. Nhiều khi đó là tôn trọng sự thật của tình yêu. Vì yêu thật không cố biến mọi sự thành của mình bằng mọi giá.
Cũng thế, có những người phải học một bài học rất đau: đừng giữ một mối quan hệ chỉ vì tiếc thời gian đã đầu tư. Nhiều năm gắn bó là điều đáng quý, nhưng thời gian dài không tự nó chứng minh mối quan hệ là đúng. Có những mối quan hệ càng kéo dài càng làm người ta khó dứt, nhưng không vì thế mà nó trở thành nền tốt. Đừng để câu “mình đã đi với nhau lâu rồi” mạnh hơn câu “mình có thật sự nên đi với nhau nữa không”. Bởi hôn nhân không sống bằng lịch sử, mà bằng nền tảng hiện tại và tương lai. Thà đau vì sự thật hôm nay còn hơn sống cả đời trong một sai lệch chỉ vì tiếc những năm tháng đã qua.
Một điều rất đẹp trong phân định là khi con người dám đặt mối quan hệ này dưới ánh sáng của lòng kính sợ Chúa. Lúc ấy, họ không chỉ hỏi “mình có mất người này không”, mà còn hỏi “nếu đi tiếp, mình có đang xúc phạm đến sự thánh thiêng của hôn nhân không”. Họ không chỉ hỏi “mình còn thương không”, mà còn hỏi “mình có đang thật sự hướng về một giao ước có thể đứng trước mặt Chúa không”. Chính lòng kính sợ ấy cứu người ta khỏi tình yêu mù. Nó làm cho con người biết chậm lại, biết cầu nguyện, biết xin lời khuyên, biết quan sát hoa trái, biết tôn trọng lương tâm mình. Nó nhắc rằng hôn nhân không phải là phần thưởng cho một mối tình dài, mà là bí tích dành cho một tình yêu đã có nền để đi vào giao ước.
Vậy nên, khi đứng trước câu hỏi nên đi tiếp hay nên dừng lại, đừng chỉ hỏi trái tim mình muốn gì lúc này. Hãy hỏi sâu hơn: mối quan hệ này có đang nuôi linh hồn mình hay đang bào mòn nó? Có giúp mình gần Chúa hơn hay xa Ngài hơn? Có làm mình trưởng thành hơn hay méo đi? Có tạo nền cho lòng trung tín, cho gia đình, cho đức tin, cho việc làm cha mẹ tương lai không? Có đủ sự thật, đủ tôn trọng, đủ thiện chí sửa mình, đủ khả năng đối diện các chuyện khó không? Hay mình đang giữ nó chỉ vì sợ mất, sợ đau, sợ phải bắt đầu lại? Những câu hỏi ấy có thể làm mình khóc. Nhưng nước mắt của sự thật bao giờ cũng lành hơn nụ cười gượng gạo trong một tương quan sai nền.
Và nếu sau tất cả cầu nguyện, lắng nghe, nhìn vào hoa trái, nhìn vào sự thật, mình nhận ra đây là một mối quan hệ nên đi tiếp, thì hãy đi tiếp với lòng biết ơn, với sự kính trọng, với tinh thần xây nền sâu hơn. Đừng chủ quan. Đừng nghĩ vì đang tốt rồi thì cứ để đó. Một mối quan hệ tốt cần được chăm. Cần thêm thật thà. Cần thêm cầu nguyện. Cần thêm trưởng thành. Cần thêm các cuộc trò chuyện rõ về tương lai. Cần thêm sự bảo vệ những điều quý đang có. Còn nếu sau tất cả, mình nhận ra nên dừng lại, thì hãy dừng trong sự thật, trong nhân phẩm, trong cầu nguyện, trong sự đau nhưng không cay đắng. Có những cuộc chia tay không phải là thất bại của tình yêu, mà là sự cứu vớt một tương lai khỏi một nền sai.
Bởi sau cùng, mục tiêu của tình yêu không phải là giữ được một người bằng mọi giá. Mục tiêu của tình yêu là dẫn hai con người đến sự thật, đến điều thiện, đến sự trưởng thành, đến khả năng bước vào giao ước nếu đó là điều Chúa muốn. Nếu một mối quan hệ làm được điều ấy, dù còn nhiều việc phải học, nó có thể đáng để đi tiếp. Nếu nó không làm được điều ấy, hoặc còn đang phá hủy chính những điều ấy, thì phải đủ can đảm dừng lại. Không phải vì trái tim lạnh, mà vì lòng mình kính sợ điều thánh.
Vì hôn nhân Công giáo không thể được xây trên một mối quan hệ mà người ta đã phải đánh đổi quá nhiều sự thật để giữ. Hôn nhân Công giáo phải được nảy mầm từ một tình yêu có ánh sáng. Một tình yêu biết đứng trước Chúa mà không xấu hổ. Một tình yêu có thể nhìn vào tương lai mà không phải tự trấn an quá nhiều. Một tình yêu có khả năng trở thành mái ấm, trở thành nơi sự sống lớn lên, trở thành chỗ con cái học về tình thương, trở thành hình ảnh nhỏ bé của giao ước lớn lao giữa Đức Kitô và Hội Thánh.
Cho nên, đừng sợ phải hỏi những câu khó về mối quan hệ của mình. Đừng sợ phải nhìn thật. Đừng sợ phải lùi lại nếu cần. Đừng sợ phải dừng nếu lương tâm và ánh sáng của Chúa cho thấy đó là điều đúng. Nhưng cũng đừng vội bỏ khi gặp những va chạm bình thường của hai con người còn đang học yêu. Hãy phân định bằng hoa trái. Hãy nhìn vào sự thật. Hãy đặt tất cả dưới ánh sáng của Chúa. Và hãy nhớ: một mối quan hệ đáng để đi tiếp không phải là mối quan hệ không có thử thách, mà là mối quan hệ trong đó thử thách vẫn không giết chết được sự thật, sự tôn trọng, sự trưởng thành, đức tin và bình an sâu của cả hai.
Đó là tiêu chuẩn rất quan trọng trước hôn nhân. Không phải để làm tình yêu trở nên lạnh lùng, nhưng để cứu tình yêu khỏi sự mù quáng. Không phải để làm người trẻ sợ yêu, nhưng để họ biết yêu với đôi mắt mở. Không phải để họ khép lòng, mà để khi trao lòng, họ trao trong ánh sáng. Và chỉ một tình yêu như thế mới có thể trở thành nền cho một giao ước bền, một gia đình thật, một mái ấm có Chúa ở giữa.
PHẦN V
QUYẾT ĐỊNH BƯỚC VÀO HÔN NHÂN TRONG ÁNH SÁNG BÍ TÍCH
Có một ngưỡng rất đặc biệt trong đời người, nơi tình yêu không còn chỉ là một con đường đang mở, nhưng bắt đầu đòi một lời đáp rõ ràng. Không còn chỉ là những ngày tìm hiểu, không còn chỉ là những câu hỏi cân nhắc, không còn chỉ là những rung động đẹp hay những nỗi sợ rất người. Đến một lúc nào đó, nếu mối tương quan thật sự trưởng thành, hai người buộc phải đối diện với một câu hỏi lớn: chúng ta có bước vào hôn nhân hay không? Câu hỏi ấy nghe tưởng đơn giản, nhưng thật ra là một trong những câu hỏi có sức nặng nhất. Vì từ đây, mọi chuyện không còn chỉ nằm trong vùng của cảm xúc hay dự tính. Nó chạm đến một quyết định có thể định hình cả đời sống, cả linh hồn, cả gia đình tương lai, cả hành trình nên thánh của hai con người. Và nếu là người Công giáo, quyết định ấy lại càng không thể được hiểu như một chọn lựa thuần túy đời thường. Nó phải được nhìn trong ánh sáng bí tích.
Nhiều người nói về chuyện cưới xin như một chuyện rất quen thuộc: yêu đủ lâu thì cưới, ổn việc rồi cưới, gia đình đồng ý thì cưới, đến tuổi thì cưới. Những điều ấy có thể là yếu tố chung quanh, nhưng không thể là nền tảng cuối cùng. Vì nếu chỉ bước vào hôn nhân theo logic của đời thường, người ta sẽ rất dễ cưới nhau mà không thật sự hiểu mình đang làm gì. Họ có thể tổ chức một đám cưới rất đẹp, rất đông, rất chỉnh chu, nhưng linh hồn lại chưa thật sự ý thức rằng mình sắp bước vào một giao ước thánh. Họ có thể chuẩn bị thiệp, áo, chỗ đãi tiệc, hình cưới, nhưng lại chuẩn bị quá ít cho điều cốt lõi: một lời ưng thuận trước mặt Thiên Chúa, một sự trao hiến toàn thân toàn tâm cho người kia, một cam kết đi trọn đời trong trung tín, một lời đón nhận bí tích không chỉ bằng nghi thức nhưng bằng đức tin.
Hôn nhân Công giáo không chỉ là hợp thức hóa tình yêu. Hôn nhân Công giáo là đưa tình yêu vào trong giao ước của Thiên Chúa. Điều này làm cho quyết định kết hôn khác hẳn một quyết định sống chung hay một thỏa thuận dân sự. Khi hai người bước vào bí tích hôn phối, họ không chỉ nói với nhau: từ nay chúng ta sống cùng nhau. Họ đang nói một điều sâu hơn nhiều: từ nay, trước mặt Thiên Chúa và Hội Thánh, tôi hiến mình cho anh, tôi hiến mình cho em, tôi đón nhận anh, tôi đón nhận em, không phải trong chốc lát nhưng trọn đời, không phải chỉ trong lúc đẹp nhưng cả khi tàn phai, không phải chỉ khi thuận mà cả khi nghịch, không phải chỉ khi tôi được lấp đầy mà cả khi tôi phải cho đi, không phải chỉ trong những mùa xuân của cảm xúc mà cả trong những mùa đông rất thật của đời sống chung.
Một quyết định như thế không thể nhẹ. Và cũng không nên nhẹ. Cái đẹp của bí tích hôn phối chính là ở chỗ nó nặng. Nặng không phải để đè người ta xuống, mà để cho thấy điều người ta đang làm là thật, là lớn, là thánh. Thế giới hôm nay sợ những gì ràng buộc lâu dài. Con người quen với văn hóa tạm, quen với việc thử rồi đổi, thích rồi bỏ, hợp thì đi tiếp, không hợp thì tách ra. Nhưng bí tích hôn phối đứng như một lời phản chứng. Nó nói rằng tình yêu đích thực không chỉ là cảm giác đẹp, mà là khả năng hiến trao bản thân trong một giao ước được giữ bằng ân sủng. Nó nói rằng tự do không bị hủy khi ta cam kết, nhưng được hoàn thành khi ta biết chọn điều tốt và trung thành với điều ấy. Nó nói rằng con người không được dựng nên chỉ để sống theo những gì đổi thay trong lòng mình từng ngày, nhưng để đi vào những điều có thể bền hơn cảm xúc.
Bởi vậy, quyết định bước vào hôn nhân trong ánh sáng bí tích trước hết là quyết định bước vào một giao ước, chứ không chỉ là một đời sống chung. Điều này rất quan trọng. Đời sống chung có thể phát sinh từ nhu cầu gần gũi, cần nhau, chia sẻ với nhau. Nhưng giao ước là chuyện khác. Giao ước có tính thánh. Giao ước có lời hứa. Giao ước có sự ràng buộc bởi chân lý. Giao ước đòi hỏi sự trưởng thành. Khi hai người yêu nhau, họ có thể nói nhiều lời ngọt ngào. Nhưng khi bước vào hôn nhân bí tích, họ phải đi tới chỗ của một lời rất thật, rất đơn sơ, rất lớn: con chọn anh, con chọn em, con nhận anh, con nhận em, không phải như một phương án thuận tiện, nhưng như một người bạn đời mà trước mặt Chúa, con muốn đi cùng cho đến cuối.
Nếu không hiểu chiều kích giao ước ấy, người ta sẽ dễ bước vào hôn nhân với tâm thế của một hợp đồng cảm xúc. Hợp đồng thì thường đặt nền trên điều kiện: nếu anh làm điều này, nếu em còn như thế kia, nếu mọi sự còn ổn, nếu tôi còn thấy được đáp ứng. Giao ước thì không mù quáng, nhưng sâu hơn. Nó không phủ nhận những khó khăn thật, cũng không cổ vũ việc chịu đựng sự dữ cách ngu muội. Nhưng nhìn chung, giao ước đặt nền trên việc trao mình. Nó biết rằng từ nay, mình không còn chỉ sống cho riêng mình nữa. Từ nay, tình yêu không còn được đo hoàn toàn bằng điều mình nhận được, mà còn bằng điều mình dám trung thành sống ra. Chính chỗ này làm cho quyết định kết hôn trong bí tích trở thành một bước rất lớn của đời sống thiêng liêng, không chỉ của đời sống tình cảm.
Có lẽ một trong những câu hỏi sâu nhất trước khi cưới là câu này: tôi có thật sự hiểu mình sắp làm gì không? Không phải ai hiểu hết mọi chiều kích của hôn nhân trước khi bước vào. Không ai có thể biết hết tương lai. Không ai có thể lường hết những chặng đường, những thử thách, những ngỡ ngàng. Nhưng ít nhất, người bước vào bí tích phải có một ý thức đủ thật: đây không phải một cuộc thử nghiệm, đây không phải một nghi thức đẹp để hoàn tất một mối tình, đây không phải một chuyện “thôi cưới rồi tính”, mà là một quyết định trọn đời trước mặt Chúa. Nếu thiếu ý thức ấy, người ta rất dễ đi vào hôn nhân với tâm thế nửa vời, và nửa vời là điều hôn nhân chịu đựng rất kém.
Quyết định kết hôn trong ánh sáng bí tích cũng là quyết định nhìn người mình cưới không chỉ bằng con mắt của người đang yêu, mà bằng con mắt của đức tin. Trong đức tin, người ấy không chỉ là người làm tim mình rung động. Họ là một người con của Chúa được trao phó cho mình yêu thương cách thánh thiện. Họ là một mầu nhiệm mình không bao giờ sở hữu trọn vẹn. Họ là một linh hồn được mời gọi nên thánh cùng với mình. Họ là người mà từ nay, ơn cứu độ của mình sẽ phần nào gắn chặt với cách mình sống giao ước với họ. Nói như thế không phải để làm hôn nhân trở nên quá nặng nề, nhưng để trả lại cho nó vẻ thánh thiêng mà thời đại này rất dễ làm phai đi.
Khi một người thật sự bước vào hôn nhân với ý thức bí tích, họ sẽ không còn hỏi những câu quá nông như “đám cưới có đẹp không”, “khách mời có vui không”, “mọi người đánh giá sao”, dù những điều ấy có thể có chỗ của nó. Họ sẽ bắt đầu hỏi những câu khác: linh hồn tôi đã sẵn sàng chưa? Tôi có thật sự tự do để nói lời xin vâng này chưa? Tôi có đang bước vào bằng đức tin hay chỉ bằng quán tính? Tôi có đang cưới người này vì yêu và phân định, hay vì sợ mất, sợ trễ, sợ bị nói? Tôi có đang hiểu lời hứa trung tín là gì không? Tôi có thật sự đón nhận hôn nhân như một ơn gọi nên thánh không? Tôi có tin rằng bí tích này cần ân sủng và tôi cần sống kết hợp với Chúa để giữ nó không?
Những câu hỏi ấy rất cần, vì nhiều cuộc hôn nhân đau đớn không phải bắt đầu từ lúc đã cưới lâu, mà bắt đầu từ chỗ người ta bước vào mà không ý thức. Họ yêu, họ muốn gần nhau, họ muốn xây dựng gia đình, điều đó đều tốt. Nhưng họ chưa kịp để đức tin chạm vào quyết định cuối cùng. Họ vẫn bước vào như bao người ngoài kia bước vào, chỉ có thêm một nghi thức trong nhà thờ. Và khi sóng gió đến, nền tảng thiêng liêng ấy không đủ dày để giữ họ đứng vững. Trái lại, một người hiểu hôn nhân là bí tích sẽ có một chỗ để bám khi cảm xúc xuống thấp: họ nhớ lời hứa, nhớ Chúa, nhớ ân sủng đã lãnh nhận, nhớ rằng mình không chỉ sống bằng sức riêng.
Một điều rất đẹp của bí tích hôn phối là chính đôi bạn, qua lời ưng thuận, trở thành thừa tác viên của bí tích dành cho nhau. Điều đó có nghĩa là gì? Có nghĩa là bí tích hôn nhân không phải là điều ai đó áp lên hai người từ bên ngoài. Chính họ, trong tự do, trong đức tin, trong sự hiện diện của Hội Thánh, trao cho nhau điều ấy bằng lời cam kết trọn đời. Điều này cho thấy tầm quan trọng của sự tự do và sự chín chắn. Một lời ưng thuận ép buộc, mập mờ, hời hợt, hoặc không đủ tự do, thì không mang trọn chiều sâu của bí tích. Bởi vậy, quyết định bước vào hôn nhân trong ánh sáng bí tích luôn đòi hai người phải đứng trước mặt Chúa như những con người trưởng thành: không bị kéo đi bởi đám đông, không bị đẩy bởi áp lực, không bị che mắt bởi ảo tưởng, mà ý thức rõ mình đang trao gì, đón gì, hứa gì.
Có những người nói “miễn là thương nhau thật thì cưới thôi, đâu cần nghĩ nhiều vậy”. Nghe có vẻ đơn giản, nhưng chính sự đơn giản ấy nhiều khi là nguy hiểm. Bởi thương thật là điều cần, nhưng chưa đủ. Còn phải có sự thật, có đức tin, có trách nhiệm, có trưởng thành, có sự sẵn sàng bước vào tính bất khả phân ly của bí tích. Thương nhau thật nhưng chưa đủ khả năng trung tín thì chưa đủ. Thương nhau thật nhưng coi thường sự sống, coi thường đức tin, coi thường giao ước thì chưa đủ. Thương nhau thật nhưng chưa có sự tự do nội tâm, chưa có nền nhân bản, chưa có cùng chiều kích thiêng liêng thì vẫn cần chậm lại. Hôn nhân không được dựng chỉ bằng độ nóng của tình cảm, mà bằng chiều sâu của quyết định.
Chính vì thế, quyết định bước vào hôn nhân trong ánh sáng bí tích là quyết định của cả con tim và lương tâm. Con tim cần, vì hôn nhân không thể sống chỉ bằng bổn phận lạnh lẽo. Nhưng lương tâm cũng cần, vì con tim tự nó không đủ dẫn đường cho một giao ước dài cả đời. Một người bước vào hôn nhân bí tích với lương tâm sáng sẽ biết rằng mình đang nói lời “xin vâng” không chỉ với người bạn đời, mà còn với chính con đường nên thánh qua đời sống gia đình. Từ nay, Chúa sẽ dùng người này, những đứa con tương lai, những bổn phận thường ngày, những thử thách và niềm vui của gia đình để luyện mình, thanh tẩy mình, kéo mình ra khỏi cái tôi, dạy mình yêu theo cách của Đức Kitô.
Đó là điều rất nhiều người không thấy trước khi cưới: hôn nhân bí tích không chỉ là nơi mình được an ủi, mà còn là nơi mình được thanh luyện. Không chỉ là nơi mình tìm thấy người yêu mình, mà còn là nơi mình được dạy cách yêu cho đến cùng. Không chỉ là nơi mình xây tổ ấm, mà còn là nơi cái tôi bị đụng chạm dữ dội nhất để học cách chết đi. Có những ngày hôn nhân rất đẹp, rất ngọt, rất ấm. Nhưng cũng có những ngày hôn nhân làm lộ hết sự ích kỷ, nóng nảy, cứng cỏi, kiêu hãnh và mỏng manh trong lòng mình. Nếu không nhìn hôn nhân trong ánh sáng bí tích, người ta sẽ dễ thất vọng khi thấy nó khó. Họ sẽ tưởng khó là sai. Nhưng nếu nhìn trong ánh sáng bí tích, họ sẽ dần hiểu: nhiều khó khăn không phải là dấu chấm hết, mà là nơi ân sủng đang muốn làm việc sâu hơn.
Dĩ nhiên, nói thế không có nghĩa là thần thánh hóa mọi đau đớn hay cổ vũ việc chấp nhận mọi bất công. Có những điều không được phép dung túng trong hôn nhân: bạo lực, xúc phạm nhân phẩm, phản bội kéo dài mà không hoán cải, thao túng, áp bức, những tổn thương nghiêm trọng cần được nhìn nhận và xử lý đúng. Nhưng nhìn chung, đời sống bí tích dạy người ta một điều rất đẹp: tình yêu không chạy trốn khỏi thập giá, nhưng cũng không thần tượng hóa thập giá. Tình yêu bước qua thập giá với Chúa để đi về sự sống. Hôn nhân bí tích là như thế. Nó không miễn trừ đau đớn. Nhưng nó ban cho đau đớn một hướng đi, một ý nghĩa, một ơn nâng đỡ. Nó nói rằng ngay trong chỗ mình yếu nhất, Thiên Chúa vẫn có thể hoạt động nếu cả hai không đóng cửa lòng lại.
Một quyết định kết hôn trong ánh sáng bí tích cũng là quyết định mở ra cho ơn thánh, chứ không chỉ dựa vào sức mình. Đây là điểm rất quan trọng. Nhiều đôi bạn trẻ bước vào hôn nhân với đầy thiện chí nhưng vẫn ngấm ngầm tin rằng chỉ cần yêu nhau đủ, hiểu nhau đủ, cố gắng đủ là được. Không, những điều đó quý, nhưng chưa đủ. Hôn nhân Công giáo cần ân sủng. Vì có những lúc con người cạn. Có những lúc mỏi. Có những lúc không còn thấy dễ yêu. Có những lúc không biết nói gì với nhau nữa. Có những lúc một người yếu và người kia cũng chẳng mạnh hơn bao nhiêu. Có những lúc áp lực từ công việc, kinh tế, con cái, gia đình hai bên, sức khỏe, tuổi tác… làm cho hai người chạm đến giới hạn của sức người. Chính khi ấy, đời sống bí tích mới lộ vẻ đẹp thật của nó: nó cho hai người một nguồn sức không chỉ phát xuất từ khả năng cá nhân, mà từ Thiên Chúa.
Bởi vậy, quyết định bước vào hôn nhân bí tích cũng là quyết định bước vào một lối sống bí tích. Không thể cưới trong nhà thờ rồi sống hôn nhân như thể Chúa không còn liên quan. Không thể nhận bí tích hôm cưới rồi sau đó sống bằng logic của thế gian: giận thì im luôn, chán thì bỏ mặc, đau thì tìm nơi khác lấp, sai thì đổ lỗi, mệt thì thôi không cố nữa. Không. Bí tích hôn nhân đòi một đời sống gắn với nguồn ân sủng: cầu nguyện, Thánh Thể, hòa giải, lắng nghe Lời Chúa, đồng hành thiêng liêng, ý thức Hội Thánh. Ai quyết định bước vào bí tích mà không có ý định nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng thì cũng giống như người nhận hạt giống quý rồi để mặc nó khô trong đất cằn.
Ở đây, người ta cũng phải nói đến sự dứt khoát. Một quyết định kết hôn trong ánh sáng bí tích không thể là một quyết định nửa trong nửa ngoài. Có những người đính hôn mà lòng vẫn để cửa sau. Họ vẫn nghĩ “nếu không ổn thì thôi”, vẫn giữ một khoảng không nào đó để phòng khi thất vọng. Xét về tâm lý, điều ấy có thể khiến họ thấy an toàn hơn. Nhưng xét về linh đạo giao ước, đó là điều rất nghèo. Vì bí tích không đòi sự bồng bột, nhưng đòi một lòng dứt khoát trưởng thành. Dứt khoát không có nghĩa là mù quáng, mà là sau khi đã cầu nguyện, phân định, nhìn sự thật, xin lời khuyên, thì dám trao mình. Không ai có thể đi vào giao ước với một nửa trái tim mà mong nó sinh hoa trái trọn vẹn.
Một trong những khoảnh khắc thánh nhất của đời người có lẽ là khi đứng trước bàn thờ, nghe tên mình được gọi, và biết rằng từ giây phút này, mình không còn chỉ sống cho riêng mình nữa. Nhưng để giây phút ấy không trở thành một nghi thức đẹp mà rỗng, người ta phải đi vào đó với lòng ý thức. Ý thức rằng người đứng bên cạnh mình không phải là phần thưởng cho tuổi trẻ của mình, mà là người được trao để mình yêu theo cách thánh. Ý thức rằng hạnh phúc hôn nhân không rơi xuống sau lời hứa, mà bắt đầu từ đó như một công trình cần được xây. Ý thức rằng mình không cưới một giấc mơ, mà cưới một con người thật, với những vẻ đẹp và giới hạn thật. Ý thức rằng từ nay, tình yêu không còn là chỗ để đòi mãi, mà là nơi để cho đi, lắng nghe, sửa mình, tha thứ, cùng nhau lớn lên. Ý thức rằng nếu hôm nay mình nói “vâng”, thì tiếng “vâng” ấy sẽ phải được sống lại mỗi ngày trong vô vàn việc nhỏ.
Có những người chỉ quyết định cưới vì thấy “đến lúc rồi”. Nhưng thời điểm xã hội không phải là tiêu chuẩn đủ cho bí tích. Cũng có người quyết định cưới vì hai bên gia đình thúc. Có người vì lỡ quá sâu trong tình cảm hoặc thể xác nên thấy phải cưới cho xong. Có người vì sợ mất nhau nên cưới để giữ. Những lý do ấy có thể xuất hiện trong lòng người, nhưng nếu chúng là nền chính, thì cần cẩn trọng. Bởi quyết định bước vào hôn nhân bí tích phải phát xuất từ một tiếng “vâng” tự do, có ý thức, có đức tin. Không phải tiếng “vâng” bị ép bởi hoàn cảnh, cũng không phải tiếng “vâng” phát ra từ nỗi sợ. Một lời ưng thuận sinh ra chủ yếu từ sợ hãi sẽ rất dễ làm hôn nhân trở thành nơi giam giữ, thay vì nơi hiến trao.
Một quyết định kết hôn đẹp là khi hai người có thể nhìn vào nhau với sự thật và nói: anh không hoàn hảo, em không hoàn hảo, chúng ta không biết hết tương lai, nhưng trong ánh sáng Chúa, sau cầu nguyện và phân định, anh chọn em, em chọn anh. Không phải vì hết mọi nghi ngờ, nhưng vì có bình an của lương tâm. Không phải vì tưởng sẽ không bao giờ đau, nhưng vì tin rằng ân sủng Chúa đủ cho đường dài. Không phải vì người kia đáp ứng hoàn toàn các mơ ước của mình, nhưng vì thấy nơi người ấy một con người thật mà mình có thể trao đời, đón đời, cùng đi, cùng gánh, cùng xây, cùng nên thánh.
Chính ở đây, bí tích làm cho tình yêu người ta trở nên vừa khiêm nhường vừa cao cả. Khiêm nhường vì họ biết mình không tự cứu nổi hôn nhân của mình nếu thiếu Chúa. Cao cả vì họ dám tin tình yêu mình có thể trở thành một dấu chỉ của điều lớn hơn chính họ. Người chồng được mời gọi yêu như Đức Kitô yêu Hội Thánh: yêu đến trao mình, yêu đến bảo vệ, yêu đến trung tín, yêu đến cùng. Người vợ được mời gọi đáp lại trong hiệp thông, trong lòng tin, trong sự cộng tác, trong phẩm giá. Cả hai được mời gọi làm cho ngôi nhà mình trở thành nơi Chúa được hiện diện trong những điều rất nhỏ: lời nói tử tế, bàn ăn ấm, kinh tối đơn sơ, sự chung thủy kín đáo, những lần làm hòa, sự tôn trọng trước mặt con cái, những hy sinh không ai thấy.
Khi một người quyết định kết hôn trong ánh sáng bí tích, họ cũng đang quyết định đón nhận tương lai như một mầu nhiệm, chứ không như một kế hoạch chắc chắn nằm gọn trong tay mình. Có thể họ sẽ có con sớm, có thể sẽ muộn. Có thể kinh tế sẽ thuận, có thể có những năm rất chật vật. Có thể sức khỏe sẽ tốt, có thể bệnh tật sẽ gõ cửa. Có thể những năm đầu sẽ êm, có thể sóng đến sớm hơn tưởng. Nhưng điều làm họ đứng được không phải là vì họ biết tương lai thế nào, mà vì họ biết mình đang bước vào với ai và trong ai. Bước với người bạn đời trong Chúa. Bước với Chúa ở giữa giao ước. Đó là điều làm cho quyết định hôn nhân bí tích không chỉ đẹp ở ngày cưới, mà có sức bền đi qua năm tháng.
Cũng phải nói đến một khía cạnh rất thực: quyết định bước vào hôn nhân bí tích không có nghĩa là mọi thứ còn lại không cần chuẩn bị. Có người nghe nói “cứ tin Chúa” rồi xem nhẹ sự chuẩn bị nhân bản, kinh tế, tâm lý, đời sống gia đình. Không. Tin Chúa không đối nghịch với sự khôn ngoan. Một người thật sự coi trọng bí tích lại càng phải chuẩn bị nghiêm túc. Họ cần học cách đối thoại, học quản lý cảm xúc, học trách nhiệm tài chính, học hiểu sự khác biệt nam nữ, học về đời sống gia đình, học về sự sống và việc làm cha mẹ, học về thân xác và sự tinh tuyền, học về tha thứ, học về ranh giới với gia đình hai bên. Ân sủng không thay thế sự trưởng thành, nhưng làm cho sự trưởng thành sinh hoa trái trọn vẹn hơn.
Chính vì thế, giai đoạn chuẩn bị hôn phối là một ân huệ nếu người ta biết đón nhận đúng. Không chỉ là thủ tục để được cưới trong nhà thờ. Không chỉ là vài bài học cho có. Mà là thời gian cuối cùng để hai người nhìn lại: chúng ta có thật sự hiểu điều mình sắp lãnh nhận không? Chúng ta có cần sửa gì, nói gì, làm rõ gì nữa không? Chúng ta có đang bước vào với đức tin hay chỉ với quán tính? Chúng ta có thật sự sẵn sàng mở ra với sự sống, với tính bất khả phân ly, với trách nhiệm hỗ tương không? Một người coi thường giai đoạn này thường cũng coi nhẹ chiều sâu của bí tích. Còn một người bước vào với lòng kính trọng sẽ biết đây là lúc Chúa muốn đào nền sâu thêm lần cuối trước khi xây.
Trong ánh sáng bí tích, quyết định kết hôn cũng đồng nghĩa với quyết định để Chúa đi vào những điều riêng tư nhất của mình. Nhiều người thích Chúa ở nhà thờ, trong giờ kinh, trong những lúc trang nghiêm. Nhưng hôn nhân bí tích mời Chúa bước vào cả căn bếp, phòng ngủ, chuyện tiền bạc, chuyện gia đình, chuyện đau giận, chuyện thân xác, chuyện mệt mỏi, chuyện nuôi con. Nói cách khác, hôn nhân bí tích là chọn sống một đời trong đó không có vùng nào hoàn toàn “ngoài Chúa”. Điều này vừa đẹp vừa khó. Đẹp vì cả cuộc sống thường nhật được thánh hóa. Khó vì con người không dễ để Chúa chạm vào những gì rất gần, rất thật, rất riêng. Nhưng nếu không để Chúa vào đó, bí tích sẽ chỉ còn như một tấm bảng treo trước cửa mà không đi vào mạch sống bên trong.
Cuối cùng, quyết định bước vào hôn nhân trong ánh sáng bí tích là quyết định của hy vọng. Không phải thứ hy vọng ngây thơ rằng từ nay mọi sự sẽ đẹp như mơ. Nhưng là hy vọng Kitô giáo: hy vọng rằng ân sủng mạnh hơn sự yếu đuối, rằng trung tín là điều có thể, rằng gia đình có thể trở thành nơi nên thánh, rằng tình yêu được Chúa thanh luyện có thể lớn lên qua năm tháng thay vì tàn lụi, rằng ngay cả những mùa khó nhất cũng không vô nghĩa nếu hai người không đóng lòng trước Chúa. Người quyết định cưới trong ánh sáng bí tích không cưới vì họ quá chắc vào bản thân mình, mà vì họ đủ tin vào Chúa để dám trao đời mình theo cách này.
Và như thế, quyết định ấy không chỉ là một bước sang trang mới của đời sống, mà là một tiếng “xin vâng” mang chiều sâu thiêng liêng rất lớn. Nó là câu trả lời của hai con người trước một lời mời gọi của Thiên Chúa. Nó là sự khởi đầu của một con đường mà ở đó, tình yêu sẽ phải học ngôn ngữ của giao ước, của hy sinh, của tha thứ, của hiệp thông, của nên thánh. Nó là ngày hai con người bước vào không chỉ với bó hoa, nhẫn cưới và lời chúc, mà với một mầu nhiệm. Mầu nhiệm của việc trở thành dấu chỉ sống động cho tình yêu Đức Kitô giữa một thế giới rất dễ quên mất tình yêu là gì.
Cho nên, ai đang đứng trước ngưỡng cửa ấy, xin đừng chỉ chuẩn bị cho ngày cưới. Hãy chuẩn bị cho bí tích. Hãy để tâm hồn mình được thanh luyện. Hãy cầu nguyện cho lời “xin vâng” của mình có gốc rễ. Hãy bước vào không chỉ với niềm vui, mà với lòng kính sợ thánh. Hãy cưới không chỉ vì thương nhau, mà vì tin rằng Chúa gọi hai người vào cùng một giao ước. Hãy cưới không chỉ để bắt đầu một đời sống chung, mà để cùng nhau bước vào một con đường nên thánh giữa đời thường. Và khi đã ý thức như thế, ngày cưới sẽ không còn chỉ là một ngày đẹp. Nó sẽ trở thành một ngày thánh. Một ngày mà trời chạm đất. Một ngày mà tình yêu con người được nâng lên thành dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa. Một ngày mà hai người không chỉ tìm thấy nhau, mà còn cùng nhau tìm được con đường để đi về Nước Trời.
PHẦN VI
XÂY NỀN HÔN NHÂN BỀN VỮNG – SỰ THẬT, TÔN TRỌNG, ĐỐI THOẠI, THA THỨ
Người ta thường nhìn một cuộc hôn nhân đẹp từ bên ngoài bằng những dấu chỉ dễ thấy: một gia đình êm ấm, những đứa con ngoan, một mái nhà có tiếng cười, một đôi vợ chồng đi với nhau qua năm tháng mà vẫn còn có thể nhìn nhau bằng ánh mắt dịu dàng. Nhưng ít ai nhìn thấy phần chìm của vẻ đẹp ấy. Ít ai thấy những lần họ đã phải chọn sự thật thay vì im lặng giả tạo. Ít ai thấy những lần họ phải cắn lại một câu nói sắc như dao để giữ sự tôn trọng. Ít ai thấy những đêm họ ngồi xuống để nói chuyện khi thật ra một người chỉ muốn bỏ đi chỗ khác còn người kia chỉ muốn khép lòng. Ít ai thấy những lần họ phải tha thứ không phải một lần, mà nhiều lần, cho những điều nhỏ nhặt, những yếu đuối lặp đi lặp lại, những khác biệt chưa dễ vượt qua. Một cuộc hôn nhân bền không tự nhiên mà có. Nó được xây. Và nền móng của nó không nằm ở cảm xúc mạnh, cũng không nằm ở may mắn gặp đúng người theo kiểu không cần cố gắng nữa. Nó nằm ở những cột trụ rất căn bản nhưng cũng rất khó sống: sự thật, sự tôn trọng, đối thoại và tha thứ.
Nếu một cuộc hôn nhân chỉ có tình cảm mà thiếu sự thật, thì rồi sẽ đến lúc nó rơi vào một thứ dịu dàng giả tạo. Người ta vẫn sống cạnh nhau, vẫn làm tròn vài trách nhiệm, vẫn có thể cười trước mặt người khác, nhưng trong lòng thì đầy những điều không nói ra, đầy những khu vực bị khóa lại, đầy những tổn thương bị phủ khăn lên cho khỏi thấy. Một mái nhà như vậy không hẳn là ồn ào, nhưng rất dễ lạnh. Bởi ở đó người ta không còn thật với nhau nữa. Họ né những điều khó. Họ sợ sự thật hơn sợ khoảng cách. Họ giữ vẻ yên ổn bên ngoài bằng cách hy sinh chiều sâu bên trong. Nhưng hôn nhân không thể bền trên một nền như thế. Vì điều không được gọi tên sẽ không tự biến mất. Điều không được chữa lành sẽ âm thầm mục đi. Và một ngày nào đó, người ta sẽ nhận ra mình đang sống với nhau mà không còn chạm được đến nhau nữa.
Sự thật trong hôn nhân không chỉ là không nói dối. Sự thật còn là dám sống thật. Dám cho người kia biết mình đang ở đâu trong lòng. Dám nói khi mình đau. Dám thú nhận khi mình sai. Dám thừa nhận khi mình bất lực. Dám nhìn nhận những vùng tối của bản thân thay vì chỉ chăm chăm soi lỗi người kia. Dám để người phối ngẫu thấy mình không hoàn hảo, không phải với tâm thế buông xuôi, mà với lòng khiêm tốn của người đang học trưởng thành. Có những cuộc hôn nhân bắt đầu rạn không phải vì một biến cố quá lớn, mà vì sự thật bị trì hoãn quá lâu. Một người buồn mà không nói. Một người tổn thương mà cố giả vờ bình thường. Một người mệt mà không dám thú nhận mình đang cạn. Một người thất vọng mà chọn tích tụ. Một người sai mà cứ cố biện minh. Cứ thế, những lớp im lặng chồng lên nhau, cho tới lúc không còn là im lặng của bình an nữa, mà là im lặng của xa cách.
Nhiều người sợ sự thật vì nghĩ nói thật sẽ làm đau nhau. Điều đó có thể đúng một phần. Có những sự thật khi được nói ra sẽ làm tim người kia nhói lên. Nhưng hôn nhân không sợ những cơn đau của sự thật bằng nỗi đau kéo dài của giả dối. Một cuộc nói chuyện thật lòng có thể khiến cả hai khóc. Một lời thú nhận chân thành có thể làm người kia hụt hẫng. Một việc thừa nhận mình đã sai, đã vô tâm, đã nguội lạnh, đã có lúc sống quá ích kỷ, có thể làm rung chuyển bầu khí đang tưởng yên. Nhưng chính ở đó, một cánh cửa chữa lành mới mở ra. Chỉ sự thật mới cứu được sự thân mật. Chỉ khi con người dám bước ra khỏi lớp phòng vệ, hôn nhân mới có cơ hội đi vào chiều sâu.
Tuy nhiên, sự thật trong hôn nhân không phải là nói ra mọi cảm xúc thô ráp theo kiểu “tôi thật nên tôi cứ nói”. Không. Sự thật phải đi cùng bác ái. Có những người nhân danh thẳng thắn để làm đau nhau, nhân danh chân thành để xả cơn giận, nhân danh “em chỉ nói thật thôi” hoặc “anh chỉ sống thật thôi” mà quên mất rằng sự thật không được dùng như vũ khí. Sự thật trong hôn nhân phải là sự thật được nói với mục đích xây, không phải phá; chữa lành, không phải đâm sâu thêm; giúp người kia hiểu mình, không phải làm người kia co rúm lại trong mặc cảm. Nói thật không chỉ là chọn nội dung đúng, mà còn là chọn lúc, chọn cách, chọn giọng, chọn cả trạng thái nội tâm của mình. Có những điều đúng nhưng nói lúc lòng đang sôi thì thành sai cách. Có những điều cần nói nhưng nếu nói bằng giọng khinh bỉ thì không còn là sự thật cứu độ nữa. Nó biến thành bản án.
Bởi vậy, bước thứ hai sau sự thật là sự tôn trọng. Hôn nhân không thể bền nếu thiếu tôn trọng. Người ta có thể rất yêu nhau, rất thương nhau, rất gắn bó, nhưng nếu trong cách cư xử không còn sự tôn trọng, tình yêu ấy sẽ dần biến dạng. Tôn trọng là gì? Là nhìn người bạn đời như một con người có phẩm giá, không phải như vật sở hữu, không phải như nơi trút giận, không phải như công cụ để đáp ứng nhu cầu của mình. Tôn trọng là ngay cả khi mình giận, mình vẫn biết có những giới hạn không được vượt qua. Tôn trọng là không dùng lời nói để làm nhục. Không lấy những yếu đuối riêng tư của nhau ra làm trò chế giễu. Không xúc phạm người kia trước mặt con cái, trước mặt gia đình, trước mặt bạn bè. Không xem việc mình có vai trò nào đó trong nhà như giấy phép để coi thường người kia.
Một trong những vết thương sâu nhất trong hôn nhân không phải là hết yêu, mà là bị xem thường. Có người vẫn ở lại, vẫn sống chung, vẫn làm trách nhiệm, nhưng lòng họ ngày càng khép vì đã bị xói mòn bởi những câu nói coi nhẹ, những cái nhếch môi, những ánh mắt khinh khỉnh, những lời mỉa mai cứ lập đi lập lại. Có những người chồng chưa hề phản bội vợ, nhưng lại quen làm vợ mình nhỏ lại bằng cách xem thường cảm xúc của cô ấy, xem thường công việc âm thầm của cô ấy, xem thường những hy sinh không gọi thành tên. Có những người vợ cũng chưa từng bỏ chồng, nhưng lại quen cắt vào lòng chồng bằng những lời so sánh, những lời chê bai, những cách phủ nhận giá trị của chồng trước mặt người khác. Hôn nhân chết rất chậm ở những chỗ đó. Không ầm ĩ như một biến cố, nhưng âm thầm như rỉ sét. Và rồi một ngày, người ta phát hiện ra rằng sự thân mật đã bị ăn mòn bởi sự thiếu kính trọng từ rất lâu.
Tôn trọng còn là tôn trọng sự khác biệt. Người bạn đời không phải là bản sao của mình. Họ có khí chất khác, nhịp khác, cách nghĩ khác, ngôn ngữ cảm xúc khác, thậm chí cách yêu cũng khác. Nhiều cuộc hôn nhân mệt mỏi không phải vì hai người xấu, mà vì họ muốn người kia phải yêu theo cách mình quen nhận. Khi điều đó không xảy ra, họ cảm thấy thất vọng, rồi kết luận rằng người kia không thương mình. Nhưng trưởng thành trong hôn nhân là học đọc tình yêu của nhau qua cả những ngôn ngữ khác biệt. Có người yêu bằng lời nói. Có người yêu bằng hành động. Có người cần được lắng nghe. Có người biểu lộ qua sự chăm lo rất thực tế. Tôn trọng sự khác biệt không có nghĩa là buông xuôi, “anh sao cũng được, em sao cũng được”. Nó có nghĩa là hiểu để gặp nhau. Không ép người kia phải trở thành bản sao của mình, nhưng cũng không dùng sự khác biệt làm cớ để không cố gắng nữa. Tôn trọng thật luôn đi cùng với nỗ lực bước về phía nhau.
Từ sự thật và tôn trọng, đối thoại mới có đất để lớn lên. Có lẽ không điều gì trong hôn nhân vừa bình thường vừa quan trọng như việc nói chuyện với nhau. Nhưng thật lạ là rất nhiều đôi vợ chồng sống với nhau nhiều năm mà vẫn không thật sự biết đối thoại. Họ biết trao đổi việc phải làm. Biết báo nhau những thông tin cần thiết. Biết nói chuyện con cái, tiền bạc, công việc. Nhưng đối thoại theo nghĩa sâu, nghĩa là thật sự đi vào thế giới nội tâm của nhau, lắng nghe nhau, giúp nhau được hiểu, thì lại rất ít. Một ngày nọ, họ bỗng nhận ra mình không còn biết người kia đang nghĩ gì nữa. Không biết người kia đau ở đâu, sợ ở đâu, mỏi ở đâu, khát gì, thiếu gì. Họ vẫn ở cùng nhà, nhưng khoảng cách trong lòng ngày càng rộng.
Đối thoại không chỉ là nói nhiều. Có những đôi nói rất nhiều nhưng không hề hiểu nhau hơn, vì ai cũng chỉ chờ tới lượt mình nói. Đối thoại thật bắt đầu từ lắng nghe. Và lắng nghe trong hôn nhân không chỉ là nghe chữ. Mà là nghe nỗi lòng sau những chữ ấy. Có khi người kia không nói “em cô đơn”, nhưng cách cô ấy gắt gỏng mấy ngày liền đang nói điều đó. Có khi người kia không nói “anh thấy mình vô dụng”, nhưng sự im lặng bất thường và sự cộc cằn của anh đang chất chứa điều đó. Nếu không học lắng nghe, người ta sẽ chỉ phản ứng trên bề mặt. Họ trả đũa cơn gắt bằng cơn gắt khác. Họ đáp lại sự im lặng bằng lạnh lùng hơn nữa. Họ thấy hành vi mà không chạm được vào vết thương bên dưới. Và rồi, thay vì chữa lành, họ cứ tiếp tục chạm vào nhau ở chỗ đau nhất.
Đối thoại trong hôn nhân cũng đòi sự can đảm nói điều khó. Có những người rất yêu nhưng không bao giờ dám nói điều mình cần. Họ sợ làm phiền. Sợ bị hiểu lầm là đòi hỏi. Sợ bị cho là yếu đuối. Sợ nếu nói ra thì người kia buồn. Thế là họ giữ trong lòng, chờ người kia tự hiểu. Nhưng hôn nhân không phải là chỗ để thử tài đoán ý. Không ai, dù yêu đến đâu, cũng không thể luôn tự động hiểu hết những gì không được nói. Một cuộc hôn nhân bền là cuộc hôn nhân trong đó hai người học cách nói nhu cầu của mình một cách hiền lành và rõ ràng. Không vòng vo, không tích tụ, không chờ đến lúc bùng nổ mới nói. “Em đang thấy quá tải.” “Anh cần em tin anh hơn ở chỗ này.” “Điều em vừa nói làm anh đau.” “Mấy ngày nay em thấy chúng ta xa nhau.” “Anh nghĩ mình cần cầu nguyện chung lại.” “Em cần anh giúp hơn trong việc nhà.” Những câu như thế tưởng nhỏ, nhưng nó cứu được rất nhiều.
Tuy nhiên, đối thoại chỉ thật khi nó không biến thành phiên tòa. Có những cặp đôi mỗi lần nói chuyện là mỗi lần mở hồ sơ cũ, nhắc lỗi cũ, kéo quá khứ vào để thắng hiện tại. Họ không nói để hiểu, mà nói để buộc tội. Họ không hỏi để biết, mà hỏi để gài. Đối thoại như thế không còn là cầu nối nữa. Nó trở thành chiến trường. Mà trong chiến trường, dù ai thắng thì hôn nhân vẫn thua. Bởi khi một người thắng bằng cách làm người kia bị bẻ gãy, điều họ thắng được chỉ là im lặng của một trái tim đang đóng lại. Một cuộc hôn nhân mạnh không phải là nơi mỗi người giỏi bảo vệ cái tôi của mình. Nó là nơi cả hai đủ khiêm tốn để bảo vệ mối hiệp thông hơn là cái thắng thua.
Nhiều người hỏi: làm sao để đối thoại tốt hơn trong hôn nhân? Có lẽ trước hết là học chậm lại. Đừng nói khi cơn giận còn đang đẩy mình đi. Đừng quyết định những chuyện lớn khi lòng đang hỗn loạn. Đừng kết án toàn bộ con người người kia từ một lỗi cụ thể. Đừng dùng những chữ tuyệt đối như “lúc nào anh cũng”, “em chẳng bao giờ”, “anh là loại người như thế”. Những chữ ấy đóng sập cánh cửa đối thoại. Hãy nói từ trải nghiệm của mình thay vì gán nhãn cả con người người kia. “Khi anh nói vậy, em thấy mình không được tôn trọng.” “Lúc em im lặng mấy ngày, anh thấy cô đơn.” “Chuyện đó làm anh lo.” “Cách em nói khiến anh đau.” Nói như thế không làm vấn đề nhỏ đi, nhưng làm cho người nghe có cơ hội mở lòng hơn thay vì lập tức thủ thế.
Có một thứ đối thoại rất cần trong hôn nhân mà nhiều người quên mất: đối thoại khi không có vấn đề gì lớn. Nếu chỉ nói chuyện sâu khi đã có mâu thuẫn, thì đến lúc đó lòng người thường đã đầy, sự phòng vệ đã cao. Nhưng nếu bình thường hai người vẫn có thói quen chia sẻ với nhau về ngày sống, nỗi lo, niềm vui, điều đang nghĩ, điều đang cầu nguyện, điều đang mơ, thì lúc sóng gió đến, họ đã có sẵn một cây cầu. Nhiều cuộc hôn nhân khô dần không phải vì một biến cố, mà vì quá lâu rồi hai người không còn nuôi cây cầu ấy. Họ để công việc, con cái, điện thoại, mệt mỏi lấp đầy mọi khoảng giữa mình. Và rồi họ chỉ còn là hai người đồng quản lý đời sống, chứ không còn là hai tâm hồn đang đồng hành.
Sau sự thật, tôn trọng và đối thoại, tha thứ là cột trụ không thể thiếu. Không có cuộc hôn nhân nào sống được mà không tha thứ. Ai bước vào hôn nhân mà nghĩ rằng mình chỉ cần cưới đúng người là sẽ không phải tha thứ nhiều, người ấy chưa hiểu con người. Vì hôn nhân không phải chỗ hai thiên thần ở với nhau. Đó là nơi hai con người thật, với tính khí, vết thương, sự non nớt, những ngày mệt, những lúc thiếu sáng suốt, những chậm chạp trong thay đổi, gặp nhau mỗi ngày. Nếu không có tha thứ, những va chạm nhỏ sẽ tích lại thành đống sắt rỉ, chặn hết lối đi của tình yêu. Tha thứ không phải là cảm xúc. Nó là một quyết định của trái tim được ân sủng nâng đỡ. Có khi hôm nay quyết định tha rồi, mai cảm xúc đau vẫn còn đó. Nhưng người ta vẫn chọn không nuôi hận, không lấy lỗi cũ ra để đâm tiếp, không dùng quá khứ làm xiềng xích cho hiện tại.
Tha thứ không có nghĩa là phủ nhận vết thương. Cũng không có nghĩa là giả vờ như chưa có gì xảy ra. Tha thứ thật bao giờ cũng đi qua sự thật. Chỉ khi điều sai được gọi tên, điều đau được thừa nhận, người gây tổn thương nhìn nhận trách nhiệm, thì sự tha thứ mới có đất để đâm rễ sâu. Có nhiều người nói “em tha thứ rồi” hoặc “anh bỏ qua rồi”, nhưng thật ra họ chỉ đang đè nỗi đau xuống vì mệt nói, hoặc vì sợ làm lớn chuyện. Sự đè nén ấy không phải tha thứ. Nó giống như phủ khăn lên một vết thương còn mưng mủ. Bên ngoài yên, nhưng bên trong chưa lành. Tha thứ thật cần thời gian, cần nước mắt, cần lời nói, cần đôi khi cả sự đồng hành của người khôn ngoan. Nhưng một khi đã lớn lên, nó tạo ra một thứ bình an rất khác: bình an của trái tim không còn bị quá khứ điều khiển nữa.
Trong hôn nhân, tha thứ nhiều khi không phải cho những điều quá lớn, mà cho những điều nhỏ lặp đi lặp lại. Chính những điều nhỏ ấy mới mài mòn người ta ghê gớm. Cái bừa bộn quen thuộc. Sự chậm giờ. Thói quên hỏi han. Kiểu trả lời cụt lủn khi mệt. Sự vô tâm trong những ngày người kia cần được dịu dàng hơn. Những lệch pha nho nhỏ trong nuôi con, trong cách tiêu tiền, trong giờ giấc, trong thói quen sinh hoạt. Nếu không có tha thứ, người ta sẽ biến đời sống hôn nhân thành bảng ghi nợ. Còn nếu tha thứ một cách trưởng thành, những va chạm ấy không còn đủ sức phá vỡ nền nhà. Nó trở thành nơi hai người học về sự kiên nhẫn, học về giới hạn của nhau, học rằng yêu không chỉ là hưởng hoa trái đẹp của người kia, mà còn là sống cùng sự không hoàn hảo của họ mà không cay đắng.
Tuy vậy, cũng cần nói rất rõ: tha thứ không đồng nghĩa với dung túng. Có những người bị làm đau rất nhiều nhưng cứ tự nhủ phải tha thứ, rồi vô tình để điều sai tiếp tục lặp lại mà không có ranh giới, không có sự sửa đổi, không có trách nhiệm từ người gây tổn thương. Đó không phải là tha thứ theo Tin Mừng. Tha thứ Kitô giáo không xóa bỏ công lý, không hủy bỏ sự thật, không bỏ qua trách nhiệm. Một người chồng liên tục phản bội rồi xin lỗi cho qua không thể dùng chữ tha thứ để tiếp tục sống thiếu trách nhiệm. Một người vợ liên tục làm nhục chồng rồi đòi chồng “phải quảng đại” cũng không thể lấy tha thứ làm bình phong cho sự thiếu hoán cải. Tha thứ thật luôn đi cùng với lời mời gọi thay đổi. Nó mở cửa cho cơ hội làm lại, nhưng không hợp thức hóa điều xấu.
Có một vẻ đẹp rất lớn nơi những đôi vợ chồng học được cách xin lỗi và tha thứ sớm. Họ không để bầu khí độc hại kéo dài quá lâu. Họ biết nhận ra rằng có những điều nếu để qua đêm, qua nhiều ngày, nó sẽ bén rễ trong tim. Họ không chờ đến lúc mọi sự nguội hẳn mới quay lại. Họ tập quay lại sớm hơn, dù có khi vẫn vụng về, vẫn còn nghẹn. Một câu “anh xin lỗi vì lúc nãy anh đã nói quá lời” nói đúng lúc có thể cứu rất nhiều. Một câu “em biết anh không cố ý làm em đau, nhưng chuyện đó thật sự làm em buồn” cũng có thể mở ra không gian mới. Hôn nhân không cần hai người luôn ứng xử hoàn hảo. Hôn nhân cần hai người biết quay lại.
Thật ra, tất cả những cột trụ này liên kết với nhau. Không có sự thật thì tôn trọng dễ thành hình thức. Không có tôn trọng thì đối thoại thành chiến trường. Không có đối thoại thì tha thứ dễ thành nén xuống. Không có tha thứ thì sự thật lại trở thành nơi chất chứa thêm hận. Và nếu thiếu một trong bốn điều ấy, nền hôn nhân sẽ nghiêng. Có thể chưa sập ngay, nhưng sẽ nứt dần. Ngược lại, khi bốn điều ấy được nuôi dưỡng, hôn nhân có thể đi qua rất nhiều sóng gió mà không đổ. Không phải vì họ ít đau hơn người khác, mà vì họ có nền để cùng đi qua đau.
Nhưng phải nói thật, không ai tự nhiên có đủ bốn điều ấy. Chúng không rơi xuống như một tài năng bẩm sinh. Chúng là nhân đức phải tập. Và tập suốt đời. Có những người xuất thân từ gia đình không biết đối thoại. Có người lớn lên trong nhà lúc nào cũng có tiếng la, nên khi vào hôn nhân họ vô thức lặp lại kiểu ấy. Có người chưa từng được tôn trọng nên không biết tôn trọng người khác thế nào. Có người chưa từng được xin lỗi nên thấy rất khó cúi mình nói lời xin lỗi. Có người mang những tổn thương sâu làm cho tha thứ đối với họ là điều rất vất vả. Bởi vậy, xây nền hôn nhân bền không chỉ là học vài kỹ năng. Đó còn là hành trình chữa lành, hoán cải và để ân sủng của Chúa chạm vào những vùng sâu nhất nơi mình.
Có lẽ đây là lý do vì sao nhiều đôi vợ chồng đi với nhau càng lâu càng đẹp, không phải vì họ ít khổ hơn, mà vì họ chịu học. Họ để mỗi va chạm dạy họ thêm chút gì đó. Họ để mỗi lần lầm lỗi dạy họ khiêm nhường hơn. Họ để mỗi lần làm hòa dạy họ dịu hơn. Họ để những thất bại nhỏ không đẩy mình vào cay đắng, nhưng kéo mình trở về với điều cốt lõi: chúng ta không phải kẻ thù của nhau. Chúng ta không cưới nhau để thắng nhau. Chúng ta cưới nhau để cùng nhau nên một, để cùng nhau đi về Nước Trời, để cùng nhau làm cho mái ấm này trở thành nơi sự sống được nuôi lớn.
Một gia đình mà ở đó có sự thật, người ta được thở. Một gia đình mà ở đó có tôn trọng, người ta được nở ra. Một gia đình mà ở đó có đối thoại, người ta được hiểu. Một gia đình mà ở đó có tha thứ, người ta được bắt đầu lại. Đó chính là bầu khí mà con cái cần. Đó là môi trường mà người bạn đời cần. Đó là nền mà hôn nhân cần. Nhiều cha mẹ lo cho con đủ thứ: học hành, tương lai, điều kiện vật chất. Nhưng món quà lớn nhất họ có thể trao cho con nhiều khi không nằm ở những thứ ấy, mà ở bầu khí của chính hôn nhân họ. Một đứa trẻ lớn lên trong ngôi nhà mà cha mẹ biết nói thật, biết tôn trọng nhau, biết lắng nghe nhau, biết xin lỗi và tha thứ cho nhau, đứa trẻ ấy được lớn lên trong một mảnh đất lành. Nó học được rằng tình yêu không phải là hoàn hảo, nhưng là nơi người ta có thể sai và vẫn quay lại với nhau bằng lòng chân thành.
Và sau cùng, nếu hỏi đâu là bí quyết của một hôn nhân bền vững, có lẽ không phải ở một công thức lớn lao nào. Bí quyết nằm trong việc mỗi ngày, từng người chọn sống sự thật hơn một chút, dịu hơn một chút, lắng nghe hơn một chút, tha thứ sớm hơn một chút. Hôn nhân không được giữ bằng những lời hứa lớn ở ngày cưới mà thôi. Nó được giữ bằng hàng ngàn quyết định nhỏ như thế. Quyết định không mỉa mai. Quyết định không im lặng trừng phạt. Quyết định mở lời trước. Quyết định nhận lỗi. Quyết định không kéo lỗi cũ ra. Quyết định ngồi xuống nói chuyện thay vì bỏ đi ngủ trong băng giá. Quyết định cầu nguyện cho nhau ngay cả khi lòng còn tổn thương. Quyết định nhớ rằng người trước mặt mình không phải là đối thủ, mà là người mình đã hứa yêu trước mặt Chúa.
Và có lẽ chính ở đây, bí tích hôn phối lộ vẻ đẹp của nó lần nữa. Vì sống sự thật, tôn trọng, đối thoại và tha thứ không chỉ là chuyện kỹ năng tâm lý. Nó là con đường nên thánh. Chúa đi qua đó. Chúa hiện diện trong một lời xin lỗi chân thành. Chúa hiện diện trong một lần nhịn cái tôi để nghe đến cùng. Chúa hiện diện trong khoảnh khắc một người chọn không trả đũa. Chúa hiện diện trong khi hai người quỳ xuống đọc một kinh sau một ngày có quá nhiều va chạm. Chúa hiện diện khi họ không bỏ cuộc với nhau quá nhanh. Mỗi lần như thế, hôn nhân không chỉ được cứu ở mức tâm lý. Nó được nâng lên ở mức ân sủng.
Đó là nền của một cuộc hôn nhân bền. Không hào nhoáng, nhưng sâu. Không chỉ dựa vào cảm giác, mà dựa vào nhân đức. Không miễn trừ những mùa khó, nhưng cho những mùa khó một con đường để đi qua. Và khi bốn cột trụ ấy được xây từng ngày, ngôi nhà hôn nhân sẽ không phải là nơi không bao giờ có giông bão, mà là nơi có nền đủ chắc để sau giông bão, hai người vẫn còn tìm được nhau, còn nhận ra nhau, còn đủ khiêm nhường để quay về, còn đủ tin để bắt đầu lại.
PHẦN VII
ĐỜI SỐNG CHĂN GỐI, LÒNG CHUNG THỦY VÀ SỰ TINH TUYỀN TRONG HÔN NHÂN CÔNG GIÁO
Có những đề tài trong đời sống hôn nhân rất quan trọng nhưng người ta thường nói về nó либо quá hời hợt, hoặc quá ngượng ngùng, hoặc quá lệch lạc. Đời sống chăn gối là một trong những đề tài như thế. Có nơi người ta xem nó chỉ như một nhu cầu sinh lý. Có nơi người ta biến nó thành trung tâm tuyệt đối của hôn nhân, như thể chỉ cần phần này hòa hợp là mọi sự sẽ ổn. Có nơi người ta lại đối xử với nó như một điều gì đó thấp kém, khó nói, thậm chí gần như đáng xấu hổ. Nhưng cái nhìn của đức tin Công giáo không đi theo hai cực ấy. Giáo Hội không khinh thường thân xác, cũng không thần tượng thân xác. Giáo Hội không phủ nhận vẻ đẹp của đời sống vợ chồng, cũng không cho phép con người sử dụng nhau dưới danh nghĩa tình yêu. Trong ánh sáng bí tích, đời sống chăn gối của vợ chồng là một phần thật của ơn gọi hôn nhân, một ngôn ngữ thánh thiêng của sự hiến trao, một nơi tình yêu phu phụ được diễn tả bằng thân xác, nhưng đồng thời cũng là nơi rất mong manh, rất dễ bị kéo lệch nếu con người thiếu trưởng thành, thiếu cầu nguyện, thiếu lòng kính sợ điều thánh.
Nói cho cùng, thân xác trong hôn nhân không phải là phụ lục của tình yêu. Thân xác là một phần của con người. Bởi vậy, khi người chồng và người vợ trao thân cho nhau trong giao ước hôn nhân, điều ấy không đơn thuần là một hành vi sinh học. Đó là một hành vi nhân linh, nghĩa là có linh hồn, có ý nghĩa, có trách nhiệm, có giao ước, có sự trao hiến của cả con người. Trong bí tích hôn phối, thân xác không bị loại ra khỏi chiều kích thiêng liêng. Trái lại, thân xác được mời gọi trở thành nơi tình yêu trung tín được nói lên cách hữu hình. Nơi đó, hai người không chỉ tìm khoái cảm, mà nói với nhau bằng chính thân xác mình: anh là của em, em là của anh, chúng ta thuộc về nhau trong giao ước này, chúng ta mở ra cho nhau, đón nhận nhau, hiến trao cho nhau, và qua đó, đón nhận cả mầu nhiệm sự sống mà Thiên Chúa có thể trao ban.
Chính vì ý nghĩa lớn lao như vậy, đời sống chăn gối trong hôn nhân không thể bị tách khỏi tình yêu, khỏi sự tôn trọng, khỏi lòng chung thủy và khỏi sự tinh tuyền. Một khi bị tách ra, nó sẽ dễ rơi vào hai lệch lạc. Hoặc bị kéo xuống thành nơi thỏa mãn bản năng ích kỷ, nơi người ta dùng thân xác người kia như công cụ cho nhu cầu của mình. Hoặc bị đóng kín trong sự sợ hãi, ngượng ngùng, lạnh lẽo, nơi người ta sống phần rất quan trọng này bằng mặc cảm, né tránh hoặc im lặng đến mức hai người ở gần nhau mà vẫn xa nhau. Cả hai cực ấy đều làm tổn thương hôn nhân. Một bên làm cho thân xác mất phẩm giá. Một bên làm cho tình yêu không thể chạm tới một phần rất thực của hiệp thông phu phụ.
Điều đẹp đẽ của đời sống vợ chồng là ở chỗ, khi được sống đúng, nó vừa nhân bản vừa thánh thiêng. Nó vừa rất người, vừa được ân sủng nâng lên. Nó là nơi hai người diễn tả sự gần gũi sâu xa nhất, nhưng không phải thứ gần gũi của chiếm hữu, mà là gần gũi của giao ước. Nó là nơi hai người được mời gọi yêu nhau không chỉ bằng lời, bằng trách nhiệm, bằng hy sinh thường ngày, mà còn bằng chính thân xác mình. Và bởi vì thân xác là ngôn ngữ, nên nó phải nói sự thật. Đây là điểm rất sâu của thần học thân xác và cũng rất quan trọng cho đời sống hôn nhân: thân xác không chỉ làm một hành vi, thân xác nói một điều. Nếu đời sống chăn gối là ngôn ngữ của việc trao hiến trọn vẹn, mà lòng người lại đang giữ lại điều gì đó căn bản, hoặc đang dùng người kia thay vì đón nhận họ, hoặc đang phản bội giao ước trong tư tưởng, trong tưởng tượng, trong bí mật, thì ngôn ngữ ấy bắt đầu nói dối.
Bởi vậy, đời sống chăn gối trong hôn nhân Công giáo không thể được hiểu đúng nếu không nói tới lòng chung thủy. Chung thủy không chỉ là không ngoại tình theo nghĩa thể xác. Chung thủy sâu hơn thế nhiều. Chung thủy là sự một lòng một dạ thuộc về nhau trong giao ước, là giữ trái tim mình cho người phối ngẫu, là bảo vệ không gian thân mật của hôn nhân khỏi những xâm lấn của người ngoài, của tưởng tượng lệch lạc, của so sánh, của ngoại tình cảm xúc, của sự buông thả nội tâm. Có những người chưa từng chạm đến ai khác, nhưng lòng họ đã đi rất xa khỏi giao ước vì họ nuôi dưỡng những vùng bí mật không còn thuộc về người bạn đời nữa. Có những cuộc phản bội bắt đầu không từ phòng ngủ, mà từ ánh mắt, từ tin nhắn, từ sự đồng cảm lệch hướng với một người khác, từ việc đem tâm hồn mình mở ra cho người ngoài theo cách lẽ ra phải dành cho người phối ngẫu.
Chung thủy là một nhân đức của cả thân xác lẫn trái tim. Một người chồng chung thủy không chỉ vì anh không đi tìm người khác, mà vì anh bảo vệ cái nhìn của mình, bảo vệ tưởng tượng của mình, bảo vệ cách anh nói về vợ mình, bảo vệ sự kín đáo của đời sống riêng tư, bảo vệ sự hiện diện nội tâm của mình dành cho gia đình. Một người vợ chung thủy cũng không chỉ vì chị không phản bội về thể xác, mà vì chị giữ lòng mình khỏi những sự so sánh độc hại, khỏi những gắn bó mập mờ, khỏi việc đi tìm nơi khác thứ lẽ ra phải được đối thoại và chữa lành trong chính hôn nhân của mình. Trung tín là như thế: không chỉ tránh một hành vi sai, mà còn giữ ngọn nguồn của trái tim khỏi trôi khỏi giao ước.
Thế giới hôm nay làm cho việc sống chung thủy trở nên khó hơn theo một nghĩa nào đó, không phải vì con người ngày xưa ít yếu đuối hơn, mà vì cám dỗ bây giờ ở quá gần, quá nhanh, quá kín, quá dễ tiếp cận. Một chiếc điện thoại có thể mở ra cả một thế giới của hình ảnh, của ham muốn, của những cuộc trò chuyện bí mật, của sự so sánh không dứt. Người ta có thể phản bội trong tâm hồn từ rất lâu trước khi ai đó phát hiện. Người ta có thể sống hai mặt, ban ngày là chồng, là vợ, là cha, là mẹ, nhưng đêm xuống lại bước vào những vùng tối không ai thấy. Những điều ấy không chỉ làm tổn thương luân lý. Nó phá hủy khả năng hiến trao thật. Vì thân xác không thể nói ngôn ngữ của giao ước nếu trái tim đang chia đôi.
Ở đây, sự tinh tuyền trở thành một điều rất đẹp và rất cần được nói cho đúng. Nhiều người nghe chữ tinh tuyền là chỉ nghĩ tới trước hôn nhân, như thể sau khi cưới rồi thì không cần nói tới nữa. Không. Sự tinh tuyền không chấm dứt sau ngày cưới. Nó chỉ đổi hình thức. Trước hôn nhân, tinh tuyền là biết chờ đợi, biết tôn trọng thân xác nhau, biết không cướp điều chỉ thuộc về giao ước. Trong hôn nhân, tinh tuyền là sống thân mật vợ chồng trong sự thật, trong tôn trọng, trong sự hiến trao, trong tự do nội tâm, trong lòng chung thủy, không làm điều gì hạ thấp người kia thành công cụ khoái cảm. Tinh tuyền trong hôn nhân không có nghĩa là lạnh lẽo, càng không có nghĩa là ngại ngùng thân xác. Tinh tuyền có nghĩa là yêu bằng một trái tim không sở hữu, chạm đến nhau mà không làm bẩn nhau, gần gũi mà không xúc phạm phẩm giá, sống phần này như một phần của tình yêu bí tích chứ không như nơi trút bản năng.
Thật ra, một trong những nét đẹp nhất của sự tinh tuyền trong hôn nhân là nó dạy vợ chồng biết nhìn nhau bằng sự kính trọng. Người phối ngẫu của tôi không phải vật sở hữu của tôi. Không phải vì đã cưới nhau rồi thì tôi có quyền đòi hỏi thân xác người kia bất cứ lúc nào, bằng bất cứ cách nào, không cần biết tâm hồn họ đang ra sao, thân thể họ đang mệt thế nào, vết thương nội tâm của họ đang đau tới đâu. Không. Hôn nhân không xóa bỏ phẩm giá tự do của con người. Trái lại, bí tích càng đòi sự kính trọng ấy sâu hơn. Trao thân trong hôn nhân là món quà, không phải sự cưỡng ép. Là hiến trao, không phải chiếm lấy. Là gặp gỡ, không phải sử dụng. Một đời sống chăn gối lành mạnh luôn có yếu tố lắng nghe, tế nhị, tôn trọng, biết chờ, biết nâng niu, biết quan tâm đến toàn bộ con người của người kia chứ không chỉ đến thân xác của họ.
Có những nỗi đau rất sâu trong hôn nhân không được nói ra vì liên quan đến đời sống chăn gối. Có người vợ cảm thấy mình chỉ được tìm đến khi chồng có nhu cầu, còn ngoài ra thì không được lắng nghe, không được đồng hành, không được nâng đỡ cảm xúc. Có người chồng cảm thấy mình bị từ chối mãi nhưng không biết phải nói thế nào, để rồi nỗi tủi thân biến thành giận dữ hoặc khép lại. Có những đôi vợ chồng không hề có phản bội lớn, nhưng sự xa cách trong phần này kéo dài làm cho cả hôn nhân bắt đầu lạnh. Có những người mang tổn thương từ quá khứ, từ giáo dục méo lệch, từ mặc cảm về thân xác, từ những vết thương không được gọi tên, và vì thế không thể đi vào đời sống vợ chồng cách bình an. Tất cả những điều ấy cần được nhìn với lòng thương và sự thật, chứ không phải bằng kết án hay im lặng.
Bởi vậy, nói đến đời sống chăn gối trong hôn nhân cũng là nói đến nhu cầu đối thoại rất sâu. Hai người không thể chỉ bước vào phần này bằng sự đoán mò, bằng im lặng, bằng kỳ vọng không nói ra, bằng những tổn thương chất chồng mà không được gọi tên. Người phối ngẫu cần học cách nói về điều này với nhau bằng sự tế nhị nhưng thành thật. Không phải chỉ để phàn nàn, mà để hiểu nhau, để chữa lành, để lớn lên. Có những người lớn lên trong môi trường mà chuyện thân xác luôn bị bao phủ bởi sự xấu hổ, nên khi cưới rồi vẫn không biết nói gì, hỏi gì, cần gì. Họ tưởng cứ để tự nhiên rồi sẽ ổn. Nhưng nhiều khi “để tự nhiên” chỉ có nghĩa là để những hiểu lầm, những tổn thương và những thiếu hụt kéo dài. Hôn nhân cần đối thoại cả ở đây. Một cuộc đối thoại dịu dàng và chân thành nhiều khi cứu được rất nhiều lạnh lẽo không đáng có.
Đời sống chăn gối cũng liên hệ chặt chẽ đến sự hiệp thông toàn diện của hôn nhân. Khi hai người xa nhau ở những tầng khác, phần này rất khó tự nhiên trở nên ấm áp. Nếu ban ngày người ta chỉ nói với nhau bằng cộc cằn, thiếu tôn trọng, thiếu hiện diện, thiếu lắng nghe, thì đến đêm rất khó để thân xác tự nhiên nói ngôn ngữ của hiệp thông. Thân xác không tách khỏi tâm hồn. Một người vợ bị tổn thương lặp đi lặp lại bởi sự vô tâm của chồng sẽ khó mở ra sâu. Một người chồng cảm thấy mình luôn bị xem thường hoặc chỉ được nhìn như cỗ máy kiếm tiền cũng dễ khép lòng. Bởi vậy, đừng bao giờ hiểu đời sống chăn gối như một khu riêng biệt tách khỏi phần còn lại của hôn nhân. Nó chịu ảnh hưởng bởi cách người ta cư xử với nhau cả ngày, cả tuần, cả tháng. Một cái ôm dịu dàng giữa ngày, một lời hỏi han thật, một sự chia sẻ việc nhà, một ánh mắt tôn trọng, một cuộc nói chuyện chân thành, tất cả những điều đó đang chuẩn bị cho ngôn ngữ thân xác sâu hơn rất nhiều so với người ta tưởng.
Trong ánh sáng Công giáo, đời sống vợ chồng còn gắn với sự mở ra cho sự sống. Điều này không có nghĩa là lúc nào cũng phải có con ngay hoặc phải có nhiều con bằng bất cứ giá nào. Giáo Hội không gọi các đôi vợ chồng sống vô trách nhiệm. Nhưng Giáo Hội nhắc rằng tình yêu phu phụ theo bản chất của nó có chiều hướng phong nhiêu. Nghĩa là, khi người chồng và người vợ trao hiến cho nhau, họ không đóng kín trong một vòng tròn ích kỷ chỉ để tận hưởng nhau, nhưng mở ra với khả năng cộng tác với Thiên Chúa trong việc ban sự sống. Đây là một mầu nhiệm rất lớn. Chính nơi hành vi rất người ấy, Thiên Chúa có thể cho xuất hiện một con người mới. Vì thế, đời sống chăn gối trong hôn nhân luôn mang chiều kích cao cả hơn rất nhiều so với cái nhìn thuần khoái cảm mà văn hóa hiện đại thường áp đặt.
Sự mở ra cho sự sống ấy cũng làm cho vợ chồng phải sống phần này bằng trách nhiệm. Có những giai đoạn họ cần phân định nghiêm túc trước mặt Chúa, trong ánh sáng giáo huấn Hội Thánh, trong hoàn cảnh cụ thể về sức khỏe, tâm lý, kinh tế, sứ mạng gia đình. Nhưng dù thế nào, nguyên tắc vẫn còn đó: người ta không được cắt lìa hoàn toàn ngôn ngữ của sự hiến trao khỏi ý nghĩa phong nhiêu và khỏi đạo đức của giao ước. Nói cách khác, thân xác không được dùng như một không gian khép kín hoàn toàn cho khoái cảm, tách khỏi sự thật của tình yêu và sự sống. Cái nhìn này có thể đi ngược với thói quen suy nghĩ của nhiều người, nhưng nó giữ cho tình yêu vợ chồng không bị nghèo đi thành bản năng có tổ chức.
Nói đến lòng chung thủy, người ta thường chỉ nghĩ đến chuyện tránh ngoại tình. Dĩ nhiên điều đó là cốt lõi. Nhưng để giữ được ngoại tình từ gốc, người ta phải bảo vệ những điều nhỏ hơn từ rất sớm. Ngoại tình không thường xuất hiện như một cú sét bất ngờ. Nó lớn lên trong những vùng không được bảo vệ: sự nguội lạnh kéo dài mà không chữa, nỗi cô đơn bị bỏ mặc, đời sống thiêng liêng sa sút, thói quen bí mật, tâm lý “chỉ là bạn thôi”, những cuộc tâm sự riêng tư quá mức với người ngoài, việc nuôi dưỡng những tưởng tượng so sánh, sự buông thả trong cách nhìn, cách xem, cách nói. Một người bảo vệ hôn nhân không chỉ bằng lời thề, mà còn bằng kỷ luật của đôi mắt, của trí tưởng tượng, của các cuộc tiếp xúc, của cách giữ ranh giới lành mạnh với những mối quan hệ bên ngoài.
Có những cặp vợ chồng đánh mất chung thủy trước hết không vì hết yêu, mà vì đã để quá nhiều cánh cửa hé mở. Họ không giữ đời sống thiêng liêng. Họ không còn nói chuyện thật với nhau. Họ không chữa sự xa cách khi nó còn nhỏ. Họ để điện thoại, mạng xã hội, áp lực công việc và những cuộc gặp bên ngoài trở thành nơi rút dần sự hiện diện của mình khỏi hôn nhân. Rồi đến một lúc, trái tim họ đã rời mái nhà từ trước khi thân xác bước ra ngoài. Bởi vậy, lòng chung thủy cần được canh giữ như canh một ngọn lửa. Không phải bằng hoảng sợ, mà bằng ý thức. Không phải bằng kiểm soát bệnh hoạn lẫn nhau, mà bằng việc cùng nhau xây một hôn nhân đủ thật, đủ ấm, đủ cầu nguyện, đủ nói chuyện, đủ tôn trọng để những khoảng trống nguy hiểm không lớn lên trong bóng tối.
Nhưng cũng phải nói rằng, không phải hôn nhân nào khó khăn trong đời sống chăn gối cũng là dấu chỉ của thất bại. Có những giai đoạn rất người: mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ, bệnh tật, khủng hoảng tâm lý, tuổi tác, áp lực công việc, những tổn thương chưa lành. Những giai đoạn ấy đòi vợ chồng một tình yêu trưởng thành hơn khoái cảm đơn thuần. Có những lúc yêu nhau không phải bằng đòi hỏi, mà bằng kiên nhẫn. Có những lúc sự chung thủy được sống không phải trong cảm giác được thỏa mãn, mà trong lòng trung thành với người đang yếu, đang đau, đang không thể đáp ứng theo kiểu trước đây. Chính trong những mùa ấy, hôn nhân được thử vàng. Một người chỉ trung tín khi mọi sự dễ dàng thì chưa chạm đến chiều sâu của giao ước. Chung thủy thật được chứng minh trong những giai đoạn thiếu thốn, khô khan, đảo lộn và bất toàn.
Đời sống chăn gối cũng cần được chữa lành khỏi những méo mó do văn hóa hiện đại gây ra. Một trong những méo mó lớn nhất là việc đồng hóa giá trị của một con người với khả năng đem lại khoái cảm hay hấp dẫn thân xác. Điều này làm nhiều người bước vào hôn nhân với nỗi lo thường trực: mình có còn đủ hấp dẫn không, người kia có chán mình không, mình có bị so sánh không. Những nỗi lo ấy không nhỏ. Nó làm cho người ta khó sống sự tự do và bình an trong thân mật vợ chồng. Đặc biệt trong thời đại đầy hình ảnh lọc sửa, đầy tiêu chuẩn giả tạo, đầy nội dung khiêu gợi dễ tiếp cận, nhiều người vô thức đem những kỳ vọng không thực vào đời sống vợ chồng. Họ quên rằng người bạn đời của mình không phải một đối tượng tiêu dùng, mà là một con người thật với thân xác thật, tuổi tác thật, những biến đổi thật, những giới hạn thật. Tình yêu bí tích mời ta ngắm nhìn thân xác người kia bằng lòng biết ơn, bằng sự kính trọng, bằng ánh sáng của giao ước, chứ không bằng con mắt tiêu thụ.
Ở đây, sự tinh tuyền lại hiện lên như một vẻ đẹp rất dịu. Tinh tuyền giúp người chồng nhìn vợ mình không chỉ như thân xác, mà như một mầu nhiệm của người phụ nữ được trao phó cho mình yêu thương. Tinh tuyền giúp người vợ nhìn chồng không chỉ như người đáp ứng nhu cầu hoặc gánh trách nhiệm, mà như người nam được mời gọi hiến mình. Tinh tuyền làm cho gần gũi không trở thành chiếm hữu. Nó giúp hôn nhân giữ được sự dịu dàng, sự tế nhị, sự thánh thiêng của việc thuộc về nhau. Nó bảo vệ hôn nhân khỏi sự thô bạo, khỏi những đòi hỏi ích kỷ, khỏi việc lấy thân xác làm nơi xả tràn những điều không được thanh luyện trong tâm hồn.
Một điều rất sâu trong hôn nhân Công giáo là chăn gối không chỉ liên quan đến khoảnh khắc gần gũi, mà còn liên quan đến toàn bộ lối sống tiết độ. Người không biết tiết độ trong cái nhìn, trong ham muốn, trong trí tưởng tượng, trong cách dùng hình ảnh, trong cách để mình bị lôi kéo bởi dục vọng, sẽ rất khó bước vào đời sống vợ chồng cách trong sáng. Tiết độ không phải là bóp chết ước muốn, mà là đưa ước muốn vào đúng trật tự của tình yêu. Khi đó, ham muốn không còn là ông chủ, mà trở thành phần năng động được tình yêu hướng dẫn. Đây là điều rất quan trọng, vì nhiều người cưới nhau mà cứ nghĩ bí tích sẽ tự động chữa mọi lệch lạc về dục tính. Không. Bí tích ban ơn, nhưng con người vẫn phải cộng tác bằng nhân đức, bằng chiến đấu nội tâm, bằng việc bảo vệ đôi mắt, đôi tai, trí tưởng tượng và thói quen hằng ngày của mình.
Có lẽ cũng cần nói đến những đôi vợ chồng đang đau khổ trong phần này và cảm thấy mặc cảm, cô đơn, không biết nói với ai. Họ có thể yêu nhau thật, không có phản bội, vẫn giữ gia đình, nhưng trong đời sống chăn gối lại có nhiều nghẽn: khác biệt nhu cầu, tổn thương cũ, mặc cảm về thân xác, những hiểu lầm kéo dài, sự nguội lạnh, nỗi mệt triền miên, thậm chí những vết thương do cách giáo dục sai lệch từ trước. Với những đôi như vậy, điều cần không phải là kết án, mà là ánh sáng và lòng thương. Họ cần cầu nguyện, cần nói thật với nhau, có khi cần được đồng hành phù hợp, cần học lại ngôn ngữ của sự dịu dàng, của sự chờ đợi, của việc chạm tới nhau bằng toàn bộ con người chứ không chỉ bằng nhu cầu. Không có gì đáng xấu hổ khi một đôi vợ chồng phải học lại cách yêu. Điều đáng buồn hơn là im lặng đến mức để phần này trở thành hố ngăn ngày càng sâu.
Trong mọi trường hợp, đời sống chăn gối của vợ chồng Công giáo không thể tách khỏi đời sống thiêng liêng. Nghe có vẻ lạ với nhiều người, nhưng điều này rất thật. Một cặp vợ chồng cầu nguyện cho nhau, giữ đời sống bí tích, biết xin lỗi nhau, biết nói thật, biết bảo vệ sự hiệp thông ban ngày, sẽ có một nền khác hẳn cho sự hiệp thông thân xác ban đêm. Không phải vì họ hoàn hảo hơn, mà vì tình yêu của họ được nuôi từ nguồn sâu hơn. Khi Chúa hiện diện trong hôn nhân, thân xác cũng được đặt lại đúng chỗ của nó: không bị thần tượng hóa, không bị khinh thường, mà được cứu chuộc, được thánh hóa, được mời gọi nói lên sự thật của một giao ước yêu thương.
Và rồi, lòng chung thủy trong hôn nhân Công giáo không chỉ là “không bỏ nhau”, mà là luôn chọn nhau. Chọn nhau cả trong thân xác lẫn trong tâm hồn. Chọn nhau mỗi ngày. Chọn không nuôi vùng bí mật nguy hiểm. Chọn quay về với nhau khi thấy đang xa nhau. Chọn nói thật khi thiếu thốn. Chọn dịu dàng khi người kia mong manh. Chọn tiết độ khi bản thân đang bị cám dỗ. Chọn bảo vệ hôn nhân trước những so sánh, những ảo tưởng, những lối thoát giả. Chọn sống phần chăn gối như một món quà, chứ không như quyền lực. Chọn nhìn nhau bằng ánh mắt của giao ước, chứ không bằng con mắt tiêu thụ.
Nếu một ngày nào đó thân xác tàn đi, tuổi trẻ qua đi, sức hấp dẫn bề ngoài không còn như trước, thì điều gì giữ hai người ở lại? Không phải đam mê ban đầu. Cũng không phải chỉ là nghĩa vụ trống rỗng. Điều giữ họ ở lại là một tình yêu đã được thanh luyện thành lòng chung thủy. Một lòng chung thủy biết rằng thân xác đã từng là nơi tình yêu họ nói lời trao hiến, và giờ đây ngay cả khi thân xác đổi khác, giao ước ấy vẫn còn nguyên giá trị. Một lòng chung thủy biết rằng sự tinh tuyền không chết khi tuổi trẻ qua, mà trở nên chín hơn trong sự kính trọng, trong sự chăm sóc, trong việc ở lại với nhau trong bệnh tật, trong sự yếu dần của thân xác. Có những đôi già nắm tay nhau trong bệnh viện, chẳng còn gì của sự cuốn hút rực rỡ ban đầu nữa, nhưng nơi họ có một vẻ đẹp rất lớn: thân xác họ, dù yếu, vẫn đang nói lời trung tín. Và đó là một thứ vẻ đẹp mà chỉ những ai đi đến cùng trong giao ước mới hiểu.
Cho nên, nói về đời sống chăn gối, lòng chung thủy và sự tinh tuyền trong hôn nhân Công giáo là nói về một điều vừa rất gần vừa rất thánh. Rất gần, vì nó chạm tới đời sống rất thật của vợ chồng. Rất thánh, vì ở đó người ta có thể làm hiện lên hoặc làm méo đi ngôn ngữ của giao ước. Hôn nhân cần phần này, nhưng không chỉ theo nghĩa sinh học. Hôn nhân cần phần này như cần một ngôn ngữ của hiệp thông, một nơi của dịu dàng, một nơi của sự hiến trao, một nơi của sự mở ra cho sự sống, một nơi của lòng trung tín hữu hình. Và vì nó quý như thế, nó phải được bảo vệ. Bảo vệ bằng đức tin. Bảo vệ bằng tiết độ. Bảo vệ bằng đối thoại. Bảo vệ bằng sự thật. Bảo vệ bằng lòng kính sợ điều thánh. Bảo vệ bằng việc luôn nhớ rằng người trước mặt mình không phải là thân xác để sử dụng, mà là người bạn đời mình đã đón nhận trước mặt Chúa.
Chính khi được sống như thế, đời sống chăn gối không còn là điều khó nói hay điều đáng xấu hổ. Nó trở thành một phần của bài ca hôn nhân. Một bài ca không chỉ hát bằng môi miệng, mà bằng cả thân xác và linh hồn. Một bài ca nói về sự thuộc về nhau, về giao ước, về sự phong nhiêu, về lòng chung thủy, về vẻ đẹp của tình yêu khi được giữ trong sự thật. Và khi hai người biết sống phần này trong ánh sáng bí tích, họ không chỉ giữ hạnh phúc gia đình theo nghĩa tự nhiên. Họ còn đang để cho thân xác mình tham dự vào công trình lớn hơn: làm chứng rằng tình yêu trung tín, tinh tuyền và phong nhiêu của Thiên Chúa vẫn có thể được phản chiếu giữa đời này.
PHẦN VIII
GIA ĐÌNH NHƯ HỘI THÁNH TẠI GIA
Có những ngôi nhà rất đẹp nhưng không ấm. Có những căn hộ đầy đủ tiện nghi nhưng thiếu bình an. Có những gia đình nhìn từ bên ngoài rất ổn, rất chỉnh chu, rất đáng ngưỡng mộ, nhưng đi sâu vào mới thấy ở đó thiếu một điều gì rất căn bản: thiếu sự hiện diện của Thiên Chúa như một thực tại sống động. Người ta có thể vẫn treo ảnh tượng, vẫn có bàn thờ, vẫn giữ vài tập tục đạo đức, nhưng Chúa dường như chỉ đứng ở một góc của căn nhà, không thật sự đi vào mạch sống của gia đình. Mà khi Chúa chỉ còn là biểu tượng chứ không còn là trung tâm, thì gia đình rất dễ trở thành một đơn vị sinh hoạt chung, một liên minh vì trách nhiệm, một tổ chức để vận hành đời sống, chứ chưa trở thành điều mà Giáo Hội gọi bằng một cái tên rất đẹp và rất sâu: Hội Thánh tại gia.
Nói gia đình là Hội Thánh tại gia không phải là một cách nói hoa mỹ để làm cho đời sống hôn nhân nghe thiêng liêng hơn. Đó là một chân lý rất lớn. Nghĩa là gì? Nghĩa là gia đình không chỉ là nơi người ta sống cùng nhau, nhưng là nơi đức tin được sống, được truyền, được thở, được chạm bằng những điều rất thường ngày. Nghĩa là trong ngôi nhà ấy, Chúa không chỉ được nhắc đến trong những dịp đặc biệt, mà được mời vào cả bữa ăn, giấc ngủ, nỗi lo, việc làm, việc dạy con, những lần cãi nhau, những lúc bệnh tật, những quyết định tiền bạc, những niềm vui nhỏ và cả những mùa đêm tối. Nghĩa là gia đình trở thành nơi Hội Thánh hiện diện ở dạng gần gũi nhất, nhỏ bé nhất, nhưng cũng chạm vào đời người sâu nhất.
Nếu giáo xứ là nơi cộng đoàn phụng thờ, nhà thờ là nơi cử hành bí tích, thì gia đình là nơi đức tin đi vào da thịt của đời sống. Chính trong gia đình, một đứa trẻ lần đầu tiên học rằng có một Thiên Chúa để gọi tên. Chính trong gia đình, nó học dấu thánh giá, học lời kinh đơn sơ, học thái độ cúi đầu trước điều thánh, học biết cảm ơn, biết xin lỗi, biết cầu xin, biết tín thác. Chính trong gia đình, nó nhận ra Chúa là ai, không phải trước hết qua giáo lý hay sách vở, mà qua bầu khí. Qua cách cha mẹ đối xử với nhau. Qua cách mọi người ăn nói. Qua sự hiện diện hay vắng mặt của tha thứ. Qua việc đau khổ được sống thế nào. Qua cách gia đình đối diện thất bại, bệnh tật, thiếu thốn, mất mát. Có thể nói không quá rằng rất nhiều đứa trẻ lớn lên mang một cảm nhận về Thiên Chúa phần nào giống với bầu khí gia đình chúng đã hấp thụ từ bé.
Bởi vậy, gọi gia đình là Hội Thánh tại gia cũng có nghĩa là thừa nhận một trách nhiệm rất lớn: cha mẹ không chỉ là người sinh con, nuôi con, lo cho con học hành, ăn mặc, lớn khôn. Cha mẹ còn là những người đầu tiên làm chứng cho con về Thiên Chúa. Không phải bằng những bài giảng dài, nhưng bằng chính cách sống của mình. Một người cha biết cầu nguyện, biết giữ lời, biết xin lỗi, biết tôn trọng vợ, biết trung tín, đang làm một bài giáo lý sống cho con. Một người mẹ biết dịu dàng, biết hy sinh mà không cay đắng, biết đặt Chúa ở giữa gia đình, biết yêu bằng sự thật, cũng đang làm một bài giáo lý sống. Trẻ con nhớ ít những điều cha mẹ nói, nhưng nó mang theo rất lâu cách cha mẹ sống. Và nhiều khi, đức tin của nó mai sau sẽ được giữ hay mất không chỉ vì những điều nó học ở lớp giáo lý, mà vì nó đã thấy gì trong nhà mình.
Có những người lớn lên trong một gia đình mà cha mẹ vẫn là người Công giáo, vẫn đi lễ, vẫn giữ đạo bề ngoài, nhưng ở nhà thì đầy căng thẳng, xúc phạm, lạnh nhạt, giả hình. Với những đứa trẻ ấy, hình ảnh về Chúa thường rất méo mó. Chúng nghe nói Chúa là tình yêu, nhưng ở nhà chúng thấy những người mang danh sống đạo lại làm đau nhau. Chúng nghe dạy phải tha thứ, nhưng không bao giờ thấy cha mẹ xin lỗi nhau. Chúng nghe dạy phải tin cậy Chúa, nhưng ở nhà chỉ thấy lo âu, nóng nảy, đổ lỗi, áp lực. Những vết nứt ấy âm thầm ăn vào lòng tin. Rồi đến một lúc nào đó, khi lớn lên, chúng có thể vẫn giữ vài nghi thức, nhưng sâu trong lòng, chúng không cảm được vẻ đẹp của đức tin nữa. Không phải vì giáo lý sai, mà vì đời sống đã phủ bóng lên giáo lý.
Ngược lại, cũng có những gia đình rất đơn sơ, không có gì hào nhoáng, nhưng người ta cảm được một bầu khí rất khác. Có thể họ không nói nhiều về đạo lý, nhưng trong nhà có sự bình an. Có tiếng kinh tối dù ngắn. Có lời cảm ơn trước bữa ăn. Có sự tôn trọng giữa cha mẹ. Có những lần cùng nhau quỳ xuống khi đau khổ. Có thói quen chạy đến với Chúa khi gia đình có biến cố. Có cách giáo dục con bằng chân lý nhưng không thiếu lòng thương. Có sự hiện diện của lòng bác ái với hàng xóm, người nghèo, người yếu. Trong những ngôi nhà như thế, dù không hoàn hảo, người ta cảm thấy Chúa gần. Và đó chính là Hội Thánh tại gia: không phải nhà nào cũng yên ắng, không phải nhà nào cũng không có nước mắt, nhưng là nhà mà ở đó nước mắt cũng được đặt dưới chân Chúa.
Một gia đình là Hội Thánh tại gia trước hết vì ở đó có sự hiện diện của giao ước. Người chồng và người vợ không chỉ sống với nhau như hai cộng tác viên của đời sống. Họ sống như những người đã bước vào một bí tích. Nghĩa là tương quan của họ mang chiều kích thánh. Họ không còn được phép đối xử với nhau như thể đây chỉ là chuyện riêng tư thuần túy. Cách họ nói với nhau, cách họ chạm vào nhau, cách họ giải quyết mâu thuẫn, cách họ giữ trung tín, tất cả đều là một phần của chứng tá đức tin. Khi một người chồng giữ lòng chung thủy, anh không chỉ bảo vệ hạnh phúc gia đình, mà còn làm chứng rằng giao ước trước mặt Chúa là điều có thật. Khi một người vợ biết tha thứ và đối thoại trong sự thật, chị không chỉ gìn giữ mái ấm, mà còn làm hiện diện một phần của lòng thương xót Thiên Chúa. Hôn nhân được sống đúng sẽ làm cho cả căn nhà mang hương vị của bí tích.
Nhưng gia đình là Hội Thánh tại gia không chỉ vì cha mẹ sống bí tích hôn phối. Nó còn vì cả gia đình cùng bước vào một đời sống thờ phượng nhỏ bé mà thật. Nơi đây, cầu nguyện gia đình trở thành một nhịp thở. Không nhất thiết phải dài, phải phức tạp, phải luôn luôn sốt sắng như nhau. Nhưng phải có. Một gia đình không cầu nguyện sẽ dần dần mất đi chiều kích siêu nhiên của đời mình. Khi đó, họ chỉ còn nhìn nhau bằng tiêu chuẩn công việc, thành công, trách nhiệm, tính khí, cảm xúc. Còn khi gia đình biết cầu nguyện, dù chỉ vài phút mỗi ngày, họ đang nhắc nhau nhớ rằng cuộc sống này không nằm trọn trong tay mình, rằng nhà này có Chúa, rằng những nỗi lo và niềm vui của họ được đặt trong một bàn tay lớn hơn.
Có một điều rất lạ nhưng rất thật: một gia đình cùng cầu nguyện chưa chắc sẽ tránh được mọi đổ vỡ nhỏ, nhưng thường có một sức bền rất khác. Vì cầu nguyện làm cho người ta chậm lại. Cầu nguyện kéo cái tôi xuống. Cầu nguyện giúp người ta nhớ mình không phải trung tâm tuyệt đối. Cầu nguyện cho gia đình một thứ ánh sáng để khi mâu thuẫn tới, họ không chỉ phản ứng bằng bản năng, mà còn có chỗ để quay về. Một gia đình biết quỳ xuống cùng nhau thì dù có lúc cãi vã, vẫn còn một con đường để trở lại. Còn một gia đình không cầu nguyện, khi sóng gió đến, thường chỉ còn sức riêng để chống chọi. Và sức riêng của con người, dù thiện chí đến đâu, rồi cũng có lúc cạn.
Cầu nguyện trong gia đình cũng là nơi con cái học rằng đức tin không phải chuyện của nhà thờ בלבד, không phải chỉ là bổn phận ngày Chúa nhật, không phải chỉ là một môn học thêm ngoài đời sống. Nó là hơi thở. Nó là phần của bữa ăn, của đêm xuống, của những ngày thi cử, của lúc đau bệnh, của những quyết định chuyển việc, đổi chỗ ở, của nỗi buồn khi ai đó qua đời, của niềm vui khi có tin tốt. Khi con cái thấy cha mẹ cầu nguyện cho nhau, cầu nguyện với nhau, xin Chúa soi sáng khi phân định, tạ ơn khi nhận được ơn lành, xin lỗi Chúa khi cả nhà lầm lỗi, thì đức tin không còn là khái niệm. Nó trở thành một thứ gì đó sống được, thở được, chạm được. Chính đó là nền của một đức tin trưởng thành về sau.
Tuy nhiên, gia đình là Hội Thánh tại gia không chỉ bằng những giờ kinh. Nếu chỉ có giờ kinh mà thiếu bác ái, thiếu sự thật, thiếu công bình, thiếu tôn trọng, thì ngôi nhà ấy rất nhanh trở thành nơi đạo đức hình thức. Hội Thánh tại gia không phải là một nhà đạo đức giả thu nhỏ. Nó là nơi lời kinh và đời sống gặp nhau. Có nghĩa là bàn tay chắp lại phải đi cùng đôi môi biết xin lỗi. Cây nến trên bàn thờ phải đi cùng ánh sáng của lòng trung thực trong các quyết định tiền bạc. Ảnh tượng không thể thay cho sự tôn trọng giữa vợ chồng. Chuỗi Mân Côi không thể thay cho việc cha mẹ cần lắng nghe con cái thật sự. Một gia đình muốn là Hội Thánh tại gia thì phải để cho đức tin đi xuống mặt đất, đi vào những gì cụ thể nhất, khó nhất, gần nhất.
Ví dụ, cách gia đình dùng tiền cũng là một chuyện đức tin. Nếu cả nhà vẫn đi lễ, vẫn đọc kinh mà tiền bạc được kiếm bằng bất lương, được giữ bằng ích kỷ, được tiêu bằng khoe khoang, thì đức tin ấy đang bị chia cắt. Một gia đình là Hội Thánh tại gia sẽ học cách nhìn tiền như phương tiện, không phải ông chủ. Họ biết lao động chân chính, biết sống trách nhiệm, biết tránh phung phí, biết chia sẻ cho người nghèo, biết dạy con rằng giá trị con người không nằm ở việc có nhiều hay ít. Điều này rất quan trọng, vì con cái lớn lên không chỉ trong lời dạy, mà trong bầu khí ưu tiên của gia đình. Nếu nhà đó thờ tiền thì dù vẫn có bàn thờ Chúa, đứa trẻ cũng sẽ cảm được đâu mới là thần thực sự của ngôi nhà ấy.
Cũng vậy, cách một gia đình đón nhận người yếu thế nói lên rất nhiều điều. Một Hội Thánh tại gia không thể chỉ quay vào chính mình. Nó phải mở ra. Mở ra với ông bà cha mẹ già yếu. Mở ra với người đau bệnh. Mở ra với người nghèo. Mở ra với ai cần một chỗ dựa. Không phải theo kiểu ôm đồm để rồi cả nhà kiệt quệ, nhưng theo tinh thần bác ái. Một gia đình chỉ lo bảo vệ sự tiện nghi của mình, chỉ sống cho phần mình, chỉ đóng kín trong “hạnh phúc nhỏ” mà quên thế giới xung quanh, sẽ rất dễ đánh mất linh hồn Tin Mừng. Trong khi đó, một gia đình biết chia sẻ bữa ăn, biết dạy con quan tâm đến người khác, biết cho đi, biết cầu nguyện cho những đau khổ ngoài nhà mình, gia đình ấy đang thật sự sống căn tính Hội Thánh.
Gia đình là Hội Thánh tại gia còn vì ở đó có một đời sống giáo dục rất sâu. Không chỉ giáo dục trí tuệ hay nề nếp, mà giáo dục nhân đức. Trẻ con không sinh ra đã biết thế nào là tha thứ, thế nào là tiết độ, thế nào là trung tín, thế nào là biết ơn. Chúng học bằng việc được sống trong môi trường có những điều ấy. Một gia đình biết nói lời cảm ơn sẽ nuôi những đứa trẻ biết ơn. Một gia đình biết xin lỗi sẽ nuôi những đứa trẻ biết nhận lỗi. Một gia đình biết giữ lời sẽ nuôi những đứa trẻ có trọng chữ tín. Một gia đình biết tôn trọng sự thật sẽ nuôi những đứa trẻ đỡ phải sống hai mặt. Một gia đình biết sống đạo bằng niềm vui chứ không chỉ bằng áp lực sẽ nuôi những đứa trẻ ít dị ứng hơn với đức tin.
Thực ra, rất nhiều cha mẹ lo dạy con cầu nguyện, đi lễ, học giáo lý, nhưng lại quên rằng điều con cái cần nhất là thấy cha mẹ sống điều đó. Một người cha bảo con phải đi lễ mà chính mình luôn xem nhẹ Thánh lễ sẽ dạy bằng một bài học ngược. Một người mẹ dạy con phải nói thật mà chính mình thường xuyên nói dối vì tiện lợi cũng đang dạy bằng gương xấu. Hội Thánh tại gia vì thế không thể được xây bằng khẩu hiệu. Nó được xây bằng chứng tá. Và chứng tá bao giờ cũng đắt. Vì nó đòi cha mẹ phải hoán cải thật, chứ không chỉ bắt con ngoan. Nó đòi người lớn phải sống kỷ luật đức tin, chứ không chỉ phó việc ấy cho nhà xứ hay trường học.
Có một chiều kích rất đẹp nữa của gia đình như Hội Thánh tại gia, đó là nơi chữa lành. Thế giới ngoài kia làm con người bị thương rất nhiều. Áp lực, cạnh tranh, tổn thương, thất bại, cám dỗ, cô đơn, những lời nói độc hại, những vết xước không tên. Nếu gia đình cũng chỉ là nơi phán xét thêm, đòi hỏi thêm, làm đau thêm, thì con người sẽ rất kiệt. Nhưng nếu gia đình là Hội Thánh tại gia thật, nó trở thành nơi người ta có thể trở về. Không phải để trốn khỏi sự thật, mà để được yêu trong sự thật. Được nhắc rằng mình vẫn thuộc về. Được nâng lên sau thất bại. Được sửa dạy nhưng không bị chà đạp. Được chữa lành nhưng không nuông chiều. Một gia đình như thế phản chiếu lòng của Thiên Chúa: vừa chân thật vừa thương xót.
Dĩ nhiên, không gia đình nào làm được điều đó một cách hoàn hảo. Không có Hội Thánh tại gia nào mà không có vết nứt. Có ngày cha mẹ mệt. Có ngày con cái chống đối. Có ngày cả nhà cầu nguyện mà lòng trí tán loạn. Có ngày bàn ăn trở thành nơi im lặng nặng nề. Có ngày có những hiểu lầm kéo dài. Chính vì vậy, gọi gia đình là Hội Thánh tại gia không phải để tạo áp lực rằng nhà nào cũng phải lý tưởng. Trái lại, đó là lời mời gọi để những gia đình rất thật, rất người, rất bất toàn, dám để Chúa ở giữa và làm việc trong chính những bất toàn ấy. Một gia đình là Hội Thánh tại gia không phải vì họ không sai, mà vì họ biết quay về. Không phải vì họ không bao giờ cãi nhau, mà vì họ biết làm hòa. Không phải vì họ lúc nào cũng sốt sắng, mà vì họ không bỏ hẳn đời sống cầu nguyện. Không phải vì họ không có thử thách, mà vì họ không chiến đấu một mình.
Có những thời điểm gia đình cần sống căn tính Hội Thánh tại gia cách đặc biệt mạnh. Chẳng hạn khi có người bệnh. Khi ấy, cả nhà học cách chăm sóc, cầu nguyện, kiên nhẫn, đỡ nâng. Hoặc khi có khủng hoảng tài chính. Khi ấy, gia đình học cách tín thác, đơn sơ hơn, bớt than trách, giữ bình an. Hoặc khi có tang chế. Khi ấy, cả nhà học cách đặt đau thương trong hy vọng phục sinh. Hoặc khi con cái bước vào giai đoạn nổi loạn. Khi ấy, gia đình học cách vừa cứng rắn vừa yêu thương, vừa bảo vệ vừa chờ đợi. Trong tất cả những hoàn cảnh ấy, Hội Thánh tại gia không được đo bằng việc nhà đó có hết khó khăn không, mà bằng việc giữa khó khăn, họ có còn sống như một gia đình có Chúa ở giữa không.
Điều này cũng nhắc ta rằng gia đình không thể sống ơn gọi của mình một mình, tách khỏi Hội Thánh lớn hơn. Hội Thánh tại gia không phải là một đơn vị khép kín. Nó cần giáo xứ, cần bí tích, cần cộng đoàn, cần Lời Chúa, cần các mối tương quan nâng đỡ. Có những gia đình suy yếu vì họ tự cô lập, chỉ xoay trong vòng nhà mình. Có những gia đình được cứu rất nhiều nhờ sống gắn bó với đời sống Hội Thánh: tham dự Thánh lễ nghiêm túc, đi xưng tội, học hỏi Lời Chúa, có người đồng hành, có cộng đoàn đức tin, có các gia đình khác cùng nâng đỡ. Một gia đình là Hội Thánh tại gia không phải để thay thế Hội Thánh, mà để làm cho Hội Thánh hiện diện trong nhịp sống gần nhất của con người, đồng thời được nuôi lại bởi Hội Thánh lớn hơn.
Có lẽ một trong những hình ảnh đẹp nhất về Hội Thánh tại gia là bàn ăn gia đình. Nơi đó, nếu được sống đúng, có rất nhiều điều thánh diễn ra. Người ta tụ họp. Người ta chia sẻ của ăn. Người ta kể cho nhau nghe ngày sống. Người ta học lắng nghe. Người ta tập chờ nhau. Người ta cảm ơn. Có thể có lúc vui, có lúc căng, có lúc mệt, nhưng bàn ăn vẫn là nơi diễn ra hiệp thông. Không phải vô cớ mà truyền thống Kitô giáo luôn thấy có một liên hệ sâu giữa bàn ăn gia đình và bàn tiệc Thánh Thể. Cả hai đều nói về sự quy tụ, về hiệp thông, về của ăn được trao ban, về lòng biết ơn. Một gia đình biết bảo vệ bàn ăn, bảo vệ những giờ cùng nhau, đang bảo vệ một phần linh hồn của chính mình.
Rồi còn một điều rất sâu: Hội Thánh tại gia là nơi mỗi người học về ơn gọi riêng của mình. Trong gia đình, một đứa trẻ có thể khám phá tiếng Chúa gọi nếu nó lớn lên trong bầu khí tự do và cầu nguyện. Trong gia đình, người trẻ học phân định tình yêu, tình bạn, nghề nghiệp, tương lai. Trong gia đình, một người con có thể được nâng đỡ để bước vào đời dâng hiến, hoặc được chuẩn bị tốt để bước vào hôn nhân. Nhiều ơn gọi linh mục, tu sĩ, nhiều cuộc hôn nhân bền, nhiều con người trưởng thành trong đức tin, đều đã được âm thầm chuẩn bị từ một mái nhà biết sống như Hội Thánh tại gia. Và ngược lại, rất nhiều lệch lạc về sau cũng bắt đầu từ một mái nhà đã không làm được điều đó.
Nhưng làm sao để xây một gia đình như thế giữa thời đại này? Có lẽ phải bắt đầu từ những điều rất nhỏ và rất thật. Một giờ kinh ngắn nhưng đều. Một bữa ăn có mặt nhau thật sự. Một quyết định không để điện thoại nuốt hết các cuộc gặp gỡ. Một thói quen xin lỗi trước mặt con cái khi cha mẹ lỡ sai. Một việc cùng nhau đi lễ với ý thức hơn. Một lời nhắc dịu dàng rằng chuyện này phải đem vào cầu nguyện. Một việc dạy con biết làm dấu trước khi ngủ. Một cử chỉ hỏi thăm ông bà. Một khoản nhỏ trích ra cho người khó khăn. Một lần cả nhà đọc một đoạn Tin Mừng rồi chia sẻ đơn sơ. Không cần bắt đầu bằng điều vĩ đại. Hội Thánh tại gia không được xây bằng những cao trào hiếm hoi, mà bằng nhịp trung thành nhỏ mỗi ngày.
Quan trọng hơn nữa, cha mẹ phải chấp nhận rằng họ không thể trao cho con cái điều mình không sống. Không ai có thể tạo nên Hội Thánh tại gia chỉ bằng mong muốn. Nó đòi một cuộc hoán cải thật nơi người lớn. Người chồng phải để Chúa chạm vào cách mình làm chồng, làm cha. Người vợ phải để Chúa chạm vào cách mình làm vợ, làm mẹ. Cả hai phải chấp nhận rằng gia đình này sẽ không trở thành nơi thánh chỉ nhờ treo thêm ảnh đạo hay ép thêm vài bổn phận. Nó sẽ thành nơi thánh khi chính họ để ân sủng đi vào lời nói, giận dữ, tiền bạc, tình yêu, trách nhiệm, sự mệt mỏi và những quyết định hằng ngày của mình.
Và khi gia đình dần dần trở thành Hội Thánh tại gia, một điều rất đẹp sẽ xảy ra: ngôi nhà ấy bắt đầu có hương vị của Nước Trời. Không phải vì hết mọi đau khổ, mà vì ngay trong đau khổ người ta vẫn cảm được hy vọng. Không phải vì không còn khác biệt, mà vì khác biệt không giết chết hiệp thông. Không phải vì ai cũng hoàn hảo, mà vì sai lỗi không còn là nơi chôn vùi nhau, nhưng có thể trở thành nơi khiêm tốn để làm lại. Không phải vì mọi thứ đều ngăn nắp, mà vì có một trung tâm giữ tất cả khỏi rơi vào hỗn loạn. Trung tâm ấy là Chúa.
Đó là vẻ đẹp của gia đình như Hội Thánh tại gia. Một vẻ đẹp không ồn ào, không phô trương, nhưng cứu được rất nhiều điều. Nó cứu đức tin khỏi trở thành lý thuyết. Nó cứu hôn nhân khỏi trở thành hợp đồng. Nó cứu con cái khỏi lớn lên trong đói khát thiêng liêng. Nó cứu người lớn khỏi việc sống như thể mọi gánh nặng đều chỉ đặt trên vai mình. Nó làm cho ngôi nhà trở thành nơi Thiên Chúa không chỉ được thờ lạy, mà còn được gặp thấy trong bầu khí, trong tương quan, trong những điều nhỏ nhất.
Vậy nên, nếu ai hỏi đâu là giấc mơ đẹp nhất cho một gia đình Công giáo, có lẽ không phải là giàu có, thành đạt hay không gặp sóng gió. Giấc mơ đẹp nhất là một gia đình thật sự trở thành Hội Thánh tại gia. Một nơi mà Thiên Chúa được yêu mến. Một nơi mà sự thật và lòng thương xót gặp nhau. Một nơi mà cha mẹ không hoàn hảo nhưng biết hoán cải. Một nơi mà con cái được lớn lên trong đức tin và tự do. Một nơi mà bàn ăn, bàn thờ và trái tim con người không xa nhau. Một nơi mà khi bước vào, người ta có thể cảm nhận, dù rất đơn sơ: ở đây có Chúa.
PHẦN IX
NUÔI DẠY CON CÁI TRONG ĐỨC TIN VÀ TÌNH YÊU
Có lẽ không có trách nhiệm nào vừa đẹp vừa làm người ta run tay cho bằng trách nhiệm làm cha mẹ. Bởi từ giây phút một đứa trẻ được trao vào vòng tay mình, đời sống không còn chỉ là chuyện của riêng hai vợ chồng nữa. Từ đây, từng lời nói, từng ánh mắt, từng chọn lựa, từng cơn giận, từng thói quen, từng nếp sống của cha mẹ bắt đầu âm thầm đi vào một tâm hồn đang hình thành. Một đứa trẻ không chỉ lớn lên bằng sữa, bằng cơm, bằng trường lớp, bằng quần áo, bằng tiền bạc. Nó lớn lên bằng bầu khí. Nó lớn lên bằng cách được nhìn, được chạm, được gọi tên, được lắng nghe, được chỉnh sửa, được yêu, được giới hạn, được dạy về sự thật, được dẫn vào mầu nhiệm của Thiên Chúa. Và vì thế, nuôi dạy con cái trong đức tin và tình yêu chưa bao giờ chỉ là một phần việc của gia đình. Đó là một sứ mạng. Một sứ mạng rất thánh, rất sâu, rất âm thầm và cũng rất đòi hỏi.
Nhiều cha mẹ lo rất nhiều cho tương lai con cái. Họ lo cho con học ở đâu, học thế nào, có giỏi không, có nghề nghiệp ổn định không, có thành đạt hơn người khác không. Những nỗi lo ấy là thật và dễ hiểu. Nhưng có một nỗi lo sâu hơn nhiều mà người làm cha mẹ Kitô hữu không được quên: con mình sẽ lớn lên thành người như thế nào trước mặt Chúa? Nó có biết yêu sự thật không? Có biết phân biệt điều thiện và điều xấu không? Có biết cầu nguyện không? Có biết yêu thương không? Có biết sống có lương tâm không? Có biết mình được dựng nên cho điều gì lớn hơn thành công ngoài đời không? Có biết mình được yêu vô điều kiện bởi Thiên Chúa không? Nếu một đứa trẻ lớn lên rất giỏi nhưng không có nền nhân bản, không có đức tin, không có khả năng yêu và chịu trách nhiệm, thì cha mẹ dù đã cho nó nhiều thứ vẫn còn thiếu một điều rất quan trọng.
Nuôi dạy con trong đức tin và tình yêu bắt đầu không phải từ lúc nó biết đọc kinh, mà từ lúc nó bắt đầu cảm nhận được bầu khí của ngôi nhà. Có những đứa trẻ chưa biết làm dấu nhưng đã biết nhà mình có bình an hay không. Chưa biết gọi tên đức tin nhưng đã biết cha mẹ có thật sự yêu nhau hay chỉ đang ở chung vì trách nhiệm. Chưa hiểu giáo lý nhưng đã hiểu bằng linh cảm rằng trong nhà này sự thật có được tôn trọng không, lỗi lầm có được tha thứ không, nước mắt có bị chế giễu không, sự yếu đuối có bị khinh thường không. Trẻ em không diễn giải được hết, nhưng chúng hấp thụ tất cả. Và nhiều khi, những gì chúng hấp thụ trong những năm đầu đời sẽ âm thầm trở thành nền cho cách chúng yêu, tin, sợ, phản ứng, khép mở lòng mình về sau.
Bởi vậy, cách nuôi dạy đầu tiên của cha mẹ không nằm ở bài học, mà nằm ở chính con người của mình. Một người cha trung thực đang dạy con về sự thật trước cả khi nói về sự thật. Một người mẹ biết xin lỗi đang dạy con về khiêm nhường trước cả khi giảng về khiêm nhường. Một đôi vợ chồng biết làm hòa đang dạy con về tha thứ trước cả khi mở sách giáo lý. Một gia đình biết quỳ xuống cầu nguyện trong lúc đau khổ đang dạy con về niềm tin trước cả khi giải thích về sự quan phòng của Chúa. Nói cách khác, cha mẹ dạy con không chỉ bằng điều mình chủ ý muốn dạy, mà bằng chính điều mình là.
Đây vừa là điều an ủi vừa là điều làm người lớn phải hoán cải. An ủi, vì người ta không cần phải là nhà sư phạm hoàn hảo mới có thể trao đức tin cho con. Nhiều cha mẹ không ăn nói giỏi, không dạy dỗ tinh vi, nhưng vì họ sống thật, sống đạo chân thành, nên con cái vẫn nhận được điều cốt lõi. Nhưng đây cũng là lời mời gọi hoán cải, vì không ai có thể trao cho con thứ mình khinh thường trong lòng. Không ai dạy con kính trọng Thánh lễ nếu chính mình xem Thánh lễ như một gánh nặng. Không ai dạy con nói thật nếu chính mình quen sống tiện đâu nói đó. Không ai dạy con cầu nguyện nếu trong nhà Chúa chỉ là cái tên được nhắc đến khi có chuyện xấu xảy ra. Bởi vậy, nuôi con trong đức tin luôn bắt đầu bằng việc cha mẹ để Chúa nuôi lại chính mình.
Tình yêu cũng vậy. Rất nhiều người nói thương con, hy sinh cho con, làm mọi thứ cho con. Nhưng không phải tình yêu nào cũng giúp con lớn lên lành mạnh. Có thứ tình yêu làm con ngột ngạt. Có thứ tình yêu làm con ích kỷ. Có thứ tình yêu làm con yếu đuối, lệ thuộc, sợ thất bại, sợ sự thật. Có thứ tình yêu chỉ muốn bảo vệ con khỏi mọi đau đớn, đến mức không cho con học chịu trách nhiệm. Có thứ tình yêu biến con thành trung tâm tuyệt đối, khiến cả nhà xoay quanh mọi cảm xúc của nó. Có thứ tình yêu lại lạnh lùng, chỉ biết cung cấp vật chất mà không hiện diện. Nuôi con trong tình yêu không phải là cho con mọi thứ nó muốn. Mà là cho con điều nó cần để lớn lên thành một con người tự do, có lương tâm, có khả năng yêu, có sức chịu đựng, biết sự thật, biết giới hạn, biết sống vì điều lớn hơn bản thân.
Tình yêu thật luôn đi cùng với giới hạn. Một đứa trẻ cần được ôm, nhưng cũng cần được dạy. Cần được an ủi, nhưng cũng cần được sửa sai. Cần được yêu vô điều kiện, nhưng cũng cần học rằng không phải mọi hành vi đều đúng. Nếu chỉ có tình thương mà không có giới hạn, con lớn lên dễ nghĩ rằng cuộc đời xoay quanh nó. Nếu chỉ có nguyên tắc mà không có lòng thương, con lớn lên dễ sợ hãi, dễ sống như một bị cáo hơn là một người con. Nuôi dạy trong đức tin và tình yêu chính là đi trên con đường hẹp và đẹp ấy: vừa mềm vừa cứng, vừa dịu dàng vừa rõ ràng, vừa biết ôm vừa biết giữ ranh, vừa dạy con về lòng thương xót vừa dạy con về hậu quả của hành vi mình.
Điều này rất giống với cách Thiên Chúa giáo dục con người. Ngài không chiều theo mọi ý ta. Nhưng Ngài cũng không bỏ ta khi ta yếu. Ngài sửa dạy, nhưng không khinh miệt. Ngài có luật, nhưng luật của Ngài phục vụ tình yêu. Cha mẹ Kitô hữu được mời gọi phản chiếu phần nào kiểu yêu ấy trong việc nuôi con. Nghĩa là khi con sai, mình không vùi dập nó bằng nhãn dán “mày là đứa hư”, “mày chẳng ra gì”, “tao thất vọng về mày”. Không. Hành vi có thể sai, rất sai, cần phải sửa, nhưng phẩm giá của con thì không được phép bị chà đạp. Một đứa trẻ phải được lớn lên trong cảm nhận này: dù con làm sai, con vẫn là con. Cha mẹ có thể nghiêm, có thể đau, có thể phạt, nhưng không rút lại tình yêu, không làm con thấy mình là gánh nặng, không dùng xấu hổ để thay thế cho giáo dục.
Một trong những món quà lớn nhất cha mẹ có thể trao cho con là làm cho con cảm được rằng đức tin không đối nghịch với niềm vui. Có nhiều đứa trẻ lớn lên trong môi trường đạo đức quá nặng nề, nơi Chúa chỉ xuất hiện như một Đấng kiểm tra, luật chỉ xuất hiện như thứ để phạt, và đời sống đạo chỉ là chuỗi bổn phận nếu không làm sẽ bị la mắng. Những đứa trẻ ấy rất dễ lớn lên với một đức tin căng cứng, hoặc phản ứng ngược lại bằng cách muốn bỏ tất cả. Trong khi đó, đức tin thật phải được trao trong bầu khí vừa thánh vừa ấm. Trẻ cần thấy cầu nguyện là điều tự nhiên. Đi lễ là điều quý. Làm dấu là điều đẹp. Biết ơn Chúa là điều bình an. Xin lỗi Chúa là điều giải thoát. Tội lỗi là điều nghiêm túc, nhưng lòng thương xót còn lớn hơn. Nếu cha mẹ truyền đức tin bằng một tâm thế chỉ biết ép, rất có thể con giữ được vài thói quen nhưng đánh mất tương quan sống động với Chúa.
Tuy vậy, cũng không nên vì sợ làm con áp lực mà buông lỏng tất cả. Có những cha mẹ nói rằng muốn để con tự do, để con lớn lên rồi tự chọn đức tin. Nghe thì có vẻ tôn trọng, nhưng nhiều khi đó chỉ là một sự bỏ mặc được phủ bằng ngôn ngữ đẹp. Một đứa trẻ không thể tự chọn điều nó chưa được giới thiệu, chưa được thấy sống động, chưa được dẫn vào. Cũng như cha mẹ không đợi con tự chọn có đánh răng hay không, có học chữ hay không, có nói thật hay không. Đức tin cũng cần được trao, được tập, được nuôi như một nếp sống. Dĩ nhiên, rồi sẽ có ngày người con phải tự quyết đức tin của mình. Nhưng cha mẹ có trách nhiệm đặt vào tay con những hạt giống đầu tiên: lời kinh, dấu thánh giá, thói quen đi lễ, sự kính trọng điều thánh, tình yêu Lời Chúa, lòng mến Đức Mẹ, ý thức về tội và ơn tha thứ, sự hiện diện của Chúa trong đời thường.
Nuôi dạy con trong đức tin còn là dạy con nhìn thế giới bằng ánh sáng Tin Mừng. Nghĩa là dạy con biết sự thật quý hơn thành tích. Dạy con biết người nghèo không đáng bị khinh. Dạy con biết cơ thể của mình có phẩm giá. Dạy con biết không phải điều gì vui cũng là điều lành. Dạy con biết thành công mà đánh mất lương tâm thì không phải thành công. Dạy con biết tha thứ không phải là yếu đuối. Dạy con biết phục vụ không làm mình thấp đi. Dạy con biết mình không phải trung tâm của vũ trụ. Dạy con biết đau khổ không phải lúc nào cũng vô nghĩa. Dạy con biết cầu xin và tạ ơn. Tất cả những điều ấy không thể chỉ dạy bằng lý thuyết. Nó phải đi qua đời sống gia đình, qua những câu chuyện cụ thể, qua cách cha mẹ phản ứng trước biến cố, qua cách nhà mình nói về người khác, nói về tiền bạc, nói về người thất bại, nói về bệnh tật, nói về cái chết.
Có nhiều bậc cha mẹ rất chú ý đến việc cho con học giáo lý, nhưng lại ít chú ý đến việc dạy con biết sống lòng bác ái. Họ sợ con thua kém, nên vô tình dạy con cạnh tranh quá sớm, so sánh quá nhiều, thành tích hóa mọi thứ. Trong một môi trường như thế, con có thể học thuộc kinh, thuộc giáo lý, nhưng rất khó lớn lên thành một người có trái tim theo Tin Mừng. Một gia đình Công giáo không thể chỉ sản sinh ra những đứa trẻ biết làm dấu, mà phải nuôi những con người biết thương, biết chia sẻ, biết quan tâm, biết sống vì điều tốt. Đôi khi việc cho con thấy cha mẹ âm thầm giúp một người nghèo, thăm một người bệnh, nhịn một khoản chi tiêu để góp vào việc bác ái, còn dạy về Chúa nhiều hơn cả bài giảng dài.
Nuôi dạy con trong tình yêu cũng là biết hiện diện. Đây là điều rất cần trong thời này, khi nhiều gia đình có thể ở gần nhau về không gian mà xa nhau về tâm hồn. Cha mẹ bận. Con bận. Ai cũng có màn hình riêng, thế giới riêng, lịch trình riêng. Người ta vẫn cho con ăn, đưa con đi học, trả học phí, sắm sửa đủ thứ, nhưng lại thiếu hiện diện thật. Thiếu ngồi xuống nghe con kể. Thiếu nhìn vào mắt con. Thiếu cảm nhận nó đang buồn hay đang có điều gì đó rối. Thiếu biết thế giới nội tâm của con đang được nuôi bởi điều gì. Một đứa trẻ được chu cấp mà không được hiện diện cùng sẽ lớn lên với một cơn đói khó gọi tên. Nó có thể tìm bù đắp ở những nơi khác: bạn bè, mạng xã hội, tình cảm lệch lạc, những vùng ảo tưởng. Hiện diện không có nghĩa là ở cạnh suốt ngày, mà là khi ở đó, thật sự ở đó.
Có những cha mẹ chỉ bắt đầu lo khi con đã có vấn đề lớn. Khi kết quả học giảm, khi con nổi loạn, khi con có dấu hiệu xa đức tin, khi con sa vào điều xấu. Nhưng nhiều khi vấn đề đã bắt đầu từ trước rất lâu, trong những khoảng trống nhỏ không được lấp bằng hiện diện yêu thương. Một đứa trẻ được lắng nghe sớm sẽ ít phải la to để được chú ý. Một thiếu niên được tôn trọng sẽ đỡ phải chống đối để khẳng định mình. Một người con biết rằng về nhà là có thể được nghe hết câu, được hỏi thật, được hiểu dần, sẽ có nền khác hẳn khi bước ra ngoài đời. Cha mẹ không thể kiểm soát hết môi trường của con, nhưng có thể làm cho mái nhà trở thành một nơi đủ ấm để con không phải quá dễ đi tìm sự thuộc về ở những nơi nguy hiểm.
Điều này đặc biệt quan trọng khi con bước vào tuổi lớn. Đây là giai đoạn mà nhiều cha mẹ đau đầu nhất. Đứa trẻ ngoan ngoãn ngày xưa bỗng có chính kiến, có bí mật, có khoảng cách, có phản ứng mạnh, có những vùng cha mẹ không chạm tới được như trước. Nhiều cha mẹ hoảng, và phản ứng theo hai hướng cực đoan: hoặc siết quá chặt, hoặc buông quá tay. Cả hai đều có thể làm mọi sự khó hơn. Nuôi con tuổi lớn trong đức tin và tình yêu đòi cha mẹ học một dạng yêu mới: bớt kiểm soát trực tiếp nhưng tăng chiều sâu đồng hành. Không còn dạy như với trẻ nhỏ, nhưng đối thoại hơn. Không buông nguyên tắc, nhưng đổi cách diễn đạt. Không rút khỏi vai trò cha mẹ, nhưng cũng không coi con như dự án phải uốn theo ý mình. Trong giai đoạn này, cha mẹ cần vừa là điểm tựa, vừa là người giữ ranh, vừa là người biết lùi đúng lúc để con tập trưởng thành.
Nhiều người trẻ xa Chúa không hẳn vì họ ghét Chúa, mà vì họ không tìm thấy nơi gia đình một bầu khí để đặt câu hỏi. Họ có thắc mắc, có giằng co, có những phản ứng trước đau khổ, trước sự bất công, trước những điều họ thấy trong Hội Thánh, nhưng cha mẹ chỉ trả lời bằng áp đặt hoặc hoảng sợ. Nuôi con trong đức tin không phải là làm cho con không bao giờ nghi ngờ. Đức tin trưởng thành đi qua những câu hỏi. Điều quan trọng là cha mẹ có tạo được một không gian để con hỏi mà không bị dập tắt không. Có biết nói “ba mẹ cũng không có hết mọi câu trả lời, nhưng mình cùng tìm dưới ánh sáng Chúa” không. Có đủ khiêm tốn để nhận rằng con đang lớn, đang nghĩ, đang vật lộn, và điều đó không làm nó bớt là con, cũng không làm cha mẹ mất quyền hướng dẫn.
Một gia đình nuôi con trong tình yêu sẽ không chỉ hỏi “làm sao để con vâng lời”, mà còn hỏi “làm sao để con lớn lên thành một con người tự do và có nội tâm”. Vâng lời bề ngoài thì dễ tạo hơn vâng lời có lương tâm. Một đứa trẻ chỉ biết sợ phạt có thể ngoan trước mặt cha mẹ nhưng sống hai mặt khi ra ngoài. Trong khi đó, nếu cha mẹ giúp con hiểu vì sao điều gì là đúng, vì sao điều gì làm tổn thương, vì sao trung thực quan trọng, vì sao thân xác có phẩm giá, vì sao phải tôn trọng người khác, thì dần dần con sẽ không chỉ làm điều đúng vì sợ, mà vì lương tâm nó được đánh thức. Đây là mục tiêu rất sâu của giáo dục Kitô giáo: không chỉ tạo ra những đứa trẻ ngoan theo khuôn, mà những con người biết chọn điều thiện ngay cả khi không ai nhìn.
Tất nhiên, để làm được điều đó, cha mẹ phải kiên nhẫn rất nhiều. Có những hạt giống gieo hôm nay nhiều năm sau mới nảy. Có những lời dạy lúc con mười tuổi dường như chẳng thấm, nhưng đến khi nó hai mươi tuổi, đứng trước ngã rẽ, nó chợt nhớ lại. Có những mùa cha mẹ thấy như mọi công lao đều đổ sông, con cứng đầu, phản ứng, nguội lạnh với đức tin. Nhưng tình yêu làm cha mẹ không đo hoa trái chỉ bằng những gì thấy ngay. Họ tiếp tục gieo. Tiếp tục cầu nguyện. Tiếp tục giữ ngọn lửa trong nhà. Tiếp tục sửa dạy mà không nhục mạ. Tiếp tục hy vọng mà không ảo tưởng. Tiếp tục tin rằng ân sủng Chúa có thể chạm đến con mình ngay cả ở những nơi mình không tới được.
Đây là chỗ cầu nguyện cho con trở thành một sức mạnh rất lớn. Có những điều cha mẹ không thể sửa bằng lời. Có những khúc quanh trong tâm hồn con mà cha mẹ không bước vào được. Có những cám dỗ, những nỗi buồn, những vết thương của con mà cha mẹ chỉ biết lờ mờ. Khi ấy, người làm cha làm mẹ Kitô hữu phải học quỳ xuống. Cầu nguyện cho con không phải là phần yếu đuối cuối cùng sau khi đã thử hết mọi cách. Đó là một phần rất thật của tình yêu. Có những người mẹ giữ con bằng nước mắt cầu nguyện nhiều hơn bằng kiểm soát. Có những người cha nâng đỡ con bằng lời chuyển cầu âm thầm hơn bằng áp lực. Và có những đứa con tưởng như đi xa lắm rồi, nhưng một ngày trở lại, không phải vì lập luận của cha mẹ quá sắc, mà vì ơn Chúa đi xuyên qua lòng kiên trì và những lời cầu nguyện không bỏ cuộc của gia đình.
Nuôi dạy con trong đức tin và tình yêu cũng là dạy con về thân xác, về tình yêu, về ơn gọi. Đây là điều nhiều gia đình Công giáo rất ngại, nên hoặc im lặng, hoặc chỉ cảnh báo chung chung. Nhưng trong một thế giới mà con trẻ tiếp xúc rất sớm với đủ loại thông tin lệch lạc, cha mẹ không thể trốn khỏi trách nhiệm này. Dạy con về thân xác không phải để làm con mất trong sáng, mà để gìn giữ sự trong sáng bằng sự thật. Dạy con về tình yêu không phải để cổ vũ yêu sớm, mà để khi đến tuổi, con biết phân biệt giữa rung động và giao ước, giữa bị hấp dẫn và được gọi, giữa được săn đón và được trân trọng. Dạy con về ơn gọi không phải để ép nó vào khuôn nào, mà để nó lớn lên với ý thức rằng đời mình không phải trò may rủi, mà có thể là một lời đáp trả trước tiếng gọi của Thiên Chúa.
Một gia đình biết nuôi con trong đức tin sẽ không xem thành công trần thế là cứu cánh cuối cùng. Họ vẫn khuyến khích con học giỏi, làm việc tốt, sống có trách nhiệm. Nhưng họ không đánh đổi linh hồn con để lấy bảng điểm đẹp. Họ không biến con thành nơi thực hiện những giấc mơ dang dở của mình. Họ không chỉ hỏi con “sau này làm nghề gì” mà còn hỏi “con đang trở thành người thế nào”. Họ biết rằng một người thành công nhưng mất lương tâm thì đáng thương hơn đáng mừng. Họ biết rằng một người con hiếu thảo, nhân hậu, có đức tin, có nội lực, có thể thua bạn đồng trang lứa vài chặng ngoài đời, nhưng đang giữ một kho tàng mà thế gian không dễ hiểu.
Điều cuối cùng, có lẽ cũng là điều sâu nhất: nuôi dạy con trong đức tin và tình yêu là chấp nhận rằng con không thuộc về mình hoàn toàn. Đây là bài học đau nhưng đẹp của người làm cha mẹ. Mình sinh con, nuôi con, thức vì con, lo vì con, khóc vì con, cầu nguyện vì con. Nhưng rốt cuộc, con không phải tài sản của mình. Con là quà tặng Chúa trao và rồi một ngày phải được trả về cho hành trình riêng của nó trước mặt Chúa. Cha mẹ được mời gọi đồng hành, gìn giữ, giáo dục, yêu thương, sửa dạy. Nhưng không được sở hữu. Không được bóp nghẹt. Không được định đoạt đời con như thể nó chỉ là phần nối dài cái tôi của mình. Một tình yêu làm cha mẹ trưởng thành là tình yêu vừa ôm vừa biết thả. Vừa xây nền rất kỹ, vừa dám tin rằng Chúa còn yêu con mình hơn cả mình yêu.
Vì thế, nếu hỏi đâu là vẻ đẹp lớn nhất của việc nuôi dạy con cái trong đức tin và tình yêu, có lẽ đó là được cộng tác với Thiên Chúa trong việc hình thành một linh hồn. Không chỉ một công dân cho xã hội. Không chỉ một người thành đạt. Mà một linh hồn. Một con người có thể biết yêu, biết thật, biết cầu nguyện, biết sống có trách nhiệm, biết lớn lên trong tự do, biết nhận mình là con của Chúa và biết dùng đời mình cho điều thiện. Đó là công trình rất lớn. Rất âm thầm. Rất dễ mỏi. Nhưng cũng rất vinh quang.
Và rồi, một ngày nào đó, nếu cha mẹ nhìn thấy con mình biết cúi đầu trước điều thánh, biết nói lời xin lỗi thật, biết không bán lương tâm để lấy điều lợi, biết yêu mà không làm bẩn tình yêu, biết đứng dậy sau lỗi lầm, biết quay về với Chúa sau những mùa xa, thì lúc ấy họ sẽ hiểu: không phải mọi hy sinh đều vô hình. Có những giọt nước mắt của cha mẹ đã đi vào hoa trái của con. Có những giờ kinh tối tưởng như con đọc cho có, nhưng lại lắng đâu đó trong tim nó. Có những lần cha mẹ nhịn nhau, sửa nhau, cầu nguyện cho nhau, đã âm thầm tạo nên một mảnh đất lành để hạt giống đức tin và tình yêu lớn lên trong đời con.
Đó chính là sứ mạng lớn lao của cha mẹ Kitô hữu. Không chỉ nuôi một thân xác lớn lên. Không chỉ dẫn một đứa trẻ đi qua tuổi thơ. Nhưng giúp một linh hồn học gọi Thiên Chúa là Cha, học gọi sự thật là ánh sáng, học gọi tình yêu là trách nhiệm và niềm vui, học gọi gia đình là nơi có thể trở về. Và trong tất cả những điều ấy, cha mẹ không chỉ làm nhiệm vụ. Họ đang tham dự vào chính trái tim của Thiên Chúa, Đấng đã yêu nhân loại như người Cha, người Mẹ đầu tiên, dịu dàng mà kiên nhẫn, đòi hỏi mà xót thương, sửa dạy mà không bỏ rơi.
PHẦN X
GIỮ LỬA HÔN NHÂN QUA THỬ THÁCH, TIỀN BẠC, BỆNH TẬT, ÁP LỰC VÀ TUỔI GIÀ
Có những đôi trẻ bước vào hôn nhân với rất nhiều ánh sáng trong mắt. Họ tin vào nhau, thương nhau, mơ về một mái ấm, mơ về những ngày bình yên, mơ về những đứa con, mơ về một cuộc sống chung có Chúa ở giữa. Những giấc mơ ấy đẹp, và cần được gìn giữ. Nhưng rồi thời gian đi qua, người ta bắt đầu hiểu rằng hôn nhân không chỉ được thử trong những ngày đẹp. Hôn nhân được thử trong những ngày mệt. Trong những hóa đơn phải trả. Trong những đêm con bệnh. Trong những tháng công việc bấp bênh. Trong những lúc hai bên gia đình có chuyện. Trong những cơn đau không báo trước. Trong những mùa mà thân xác không còn như xưa, lòng cũng không còn dễ vui như trước, và mỗi người bắt đầu chạm đến những giới hạn sâu hơn của chính mình. Chính ở đó, câu hỏi lớn hiện ra: điều gì giữ cho ngọn lửa hôn nhân không tắt?
Nhiều người nghĩ rằng lửa hôn nhân là cảm xúc ban đầu. Nhưng cảm xúc đẹp, dù quý, không đủ để giữ một cuộc hôn nhân đi qua năm tháng. Nó giống như ngọn lửa mới nhóm, sáng nhanh, ấm nhanh, đẹp nhanh, nhưng nếu không có củi, không có người chăm, không có mái che, không có bàn tay biết giữ cho nó khỏi gió, thì ngọn lửa ấy sẽ yếu đi. Giữ lửa hôn nhân vì thế không phải là cố níu lại mãi cảm giác của ngày đầu, mà là học biến tình yêu từ cảm xúc thành sự trung tín sống động. Không phải yêu ít hơn, mà yêu sâu hơn. Không phải bớt rung động, mà biết đưa rung động ấy đi vào giao ước, vào hy sinh, vào đời thường, vào những mùa thử thách mà không đánh mất linh hồn của tình yêu ban đầu.
Thử thách là điều không ai muốn, nhưng không cuộc hôn nhân nào tránh được. Có những thử thách đến rất sớm. Có những thử thách đến khi người ta tưởng mình đã vững lắm rồi. Có thử thách do hoàn cảnh. Có thử thách do tính cách. Có thử thách do kinh tế. Có thử thách do bệnh tật. Có thử thách do những vết thương cũ của từng người bắt đầu lộ ra khi sống gần nhau lâu hơn. Có thử thách do con cái. Có thử thách do sự thay đổi của tuổi tác. Có thử thách đến từ những điều hoàn toàn nằm ngoài dự tính. Nếu không hiểu trước điều này, người ta rất dễ ngây thơ bước vào hôn nhân và rồi thất vọng nặng khi thấy đời sống gia đình không giống bức tranh mình từng mơ. Nhưng nếu hiểu rằng hôn nhân là một giao ước phải đi qua lửa thử, người ta sẽ bớt hoảng hơn khi lửa tới. Không phải vì bớt đau, nhưng vì biết đau không có nghĩa là hết yêu. Khó không có nghĩa là sai. Mỏi không có nghĩa là phải bỏ.
Một trong những nơi thử lửa rõ nhất của hôn nhân là tiền bạc. Tiền tự nó không xấu. Tiền là phương tiện. Nhưng tiền có sức bộc lộ rất mạnh. Nó làm lộ sự trưởng thành hay non nớt, sự quảng đại hay ích kỷ, sự minh bạch hay mập mờ, sự tín thác hay nỗi sợ. Có những cặp vợ chồng rất thương nhau, nhưng bắt đầu rạn khi đụng đến chuyện chi tiêu, nợ nần, trách nhiệm tài chính, cách ưu tiên trong đời sống. Một người quá chặt chẽ, một người quá phóng tay. Một người giấu giếm, một người kiểm soát. Một người muốn dùng tiền để khẳng định mình, một người muốn tiền phục vụ mái ấm. Nếu không đối thoại, không minh bạch, không thống nhất những nguyên tắc nền tảng, tiền bạc rất dễ biến thành nơi nghi kỵ và tranh chấp.
Nhưng tiền bạc không chỉ thử tình yêu ở chỗ đủ hay thiếu. Nó còn thử ở chỗ người ta đặt trái tim mình ở đâu. Có những gia đình không thật sự nghèo, nhưng luôn thiếu bình an vì bị tiền chi phối. Luôn so sánh với người khác. Luôn chạy theo đời sống bề ngoài. Luôn lấy mức sống làm tiêu chuẩn cho giá trị. Trong khi đó, có những gia đình phải chật vật nhiều hơn, nhưng vẫn giữ được sự tử tế với nhau, vì họ không tôn tiền làm chủ. Họ đau với khó khăn thật, nhưng không đánh mất nhau vì khó khăn ấy. Điều giữ họ lại không phải vì họ không cần tiền, mà vì họ biết rõ tiền là phương tiện, còn giao ước mới là điều phải bảo vệ trước hết.
Giữ lửa hôn nhân trong chuyện tiền bạc đòi một vài điều rất căn bản: minh bạch, đồng thuận, tiết độ và lòng biết đủ. Minh bạch nghĩa là đừng sống hai sổ trong gia đình. Đừng giấu những khoản chi lớn, những món nợ, những quyết định tài chính quan trọng. Sự che giấu trong tiền bạc làm niềm tin rạn rất nhanh. Đồng thuận nghĩa là hai người phải thật sự bàn với nhau về hướng đi chung: ưu tiên gì trước, sống mức nào, tiết kiệm ra sao, giúp đỡ hai bên gia đình thế nào, dạy con về tiền ra sao. Tiết độ là không để ham muốn tiêu dùng kéo cả nhà vào một guồng quay mệt mỏi. Và lòng biết đủ là một ơn rất lớn: biết rằng mái ấm không được đo bằng số thứ mình sở hữu, mà bằng sự bình an, hiệp thông và ân sủng đang sống trong nhà.
Một thử thách khác chạm rất sâu đến hôn nhân là áp lực đời sống. Có những đôi không bị một biến cố lớn nào, nhưng dần dần nguội với nhau chỉ vì bị nghiền dưới quá nhiều áp lực thường ngày. Sáng đi làm, tối về mệt. Con nhỏ, việc nhà, trách nhiệm hai bên, công việc kéo dài, điện thoại, deadline, tiếng ồn của đời sống hiện đại. Người ta sống cạnh nhau mà như hai người lính chạy trong hai chiến tuyến riêng, chỉ gặp nhau ở chỗ cần phối hợp tối thiểu để mọi thứ không đổ. Lâu dần, họ không còn thời gian để nhìn vào mắt nhau, nghe nhau, chạm nhau bằng sự hiện diện thực sự. Họ bắt đầu sống như những người cộng sự giỏi trách nhiệm nhưng đói hiệp thông.
Điều đáng sợ của áp lực là nó không làm hôn nhân sụp đổ ngay. Nó làm hôn nhân khô dần. Không có scandal. Không có phản bội lớn. Không có bi kịch rõ ràng. Chỉ là ít nói hơn. Ít cười hơn. Ít hỏi han hơn. Ít nhớ nhau hơn. Ít chạm nhau hơn. Ít cầu nguyện hơn. Và rồi đến một lúc, người ta nhận ra ngọn lửa không bùng tắt, nhưng đã xuống rất thấp từ bao giờ. Giữ lửa hôn nhân trước áp lực vì thế không phải đợi đến lúc mọi thứ rơi vào khủng hoảng rồi mới cứu. Mà là biết dừng từ sớm, biết bảo vệ những điều nhỏ: một bữa ăn thật, một cuộc nói chuyện không điện thoại chen vào, một lời cảm ơn, một câu hỏi “hôm nay em thế nào”, “hôm nay anh mệt lắm không”, một thói quen cầu nguyện tối dù ngắn, một khoảng thời gian dành cho nhau không bị xé vụn bởi công việc.
Có những đôi vợ chồng rất yêu nhau nhưng không biết cách nghỉ cùng nhau. Họ nghỉ riêng, xả áp riêng, trốn vào thế giới riêng. Người thì điện thoại. Người thì bạn bè. Người thì công việc. Người thì im lặng. Những lối nghỉ riêng ấy không phải lúc nào cũng xấu, vì ai cũng cần không gian. Nhưng nếu nó trở thành thói quen cố định đến mức hai người không còn biết nương nhau trong mệt mỏi nữa, thì đó là một dấu hiệu cần chú ý. Hôn nhân không chỉ là cùng chia trách nhiệm. Hôn nhân còn là cùng học cách nghỉ trong sự hiện diện của nhau. Có khi chỉ là ngồi đó, uống trà, không cần nói nhiều. Có khi là cùng đọc một kinh. Có khi là cùng đi bộ. Có khi là cùng nhắc nhau tắt bớt tiếng ồn. Chính những điều rất nhỏ đó cứu ngọn lửa khỏi bị áp lực đời sống làm nghẹt.
Rồi đến bệnh tật. Đây là một trong những nơi giao ước lộ vẻ đẹp và cũng lộ sức nặng thật nhất. Khi còn trẻ, khỏe, đẹp, nhanh nhẹn, người ta dễ yêu nhau theo cách vui. Nhưng khi bệnh tật gõ cửa, hôn nhân bước vào một chiều kích khác. Một người phải chậm lại. Một người phải chăm. Một người phải chịu đau. Một người phải lo sợ. Cả hai phải đối diện với sự thật rằng thân xác mình không bất tử, và người mình yêu không phải lúc nào cũng có thể mạnh để cùng mình giữ nhịp sống như cũ. Có những bệnh đến rồi qua. Có những bệnh kéo dài. Có những bệnh làm đảo lộn cả gia đình. Có những cơn đau thể lý kéo theo khô khan tinh thần, thay đổi tâm trạng, mệt mỏi, tự ti, nóng nảy, chán nản. Và trong tất cả những điều ấy, câu hỏi không chỉ là làm sao chữa bệnh, mà còn là làm sao giữ cho hôn nhân không chìm theo đau đớn.
Một người phối ngẫu bệnh không chỉ cần thuốc. Họ cần được ở lại bên cạnh bằng sự trung tín không cay đắng. Cần được chăm mà không bị làm cho thấy mình là gánh nặng. Cần được lắng nghe những nỗi sợ rất khó nói. Cần được giúp giữ phẩm giá khi thân xác không còn như trước. Điều này rất khó. Có những người chăm nhau một thời gian rồi kiệt. Có những người bệnh vì mặc cảm mà khép lòng. Có những người khỏe vì quá áp lực mà trở nên cộc cằn. Bệnh tật không tự động làm ai nên thánh. Nó có thể làm lộ ra sự quảng đại, nhưng cũng có thể phơi bày những giới hạn rất thật. Bởi vậy, giữ lửa hôn nhân qua bệnh tật đòi cả hai phải bám vào ân sủng, chứ không chỉ vào ý chí.
Một trong những điều đau nhất khi bệnh đến là sự thay đổi vai trò. Người từng mạnh nay yếu. Người từng được dựa nay phải làm chỗ dựa. Người từng vô tư nay phải gánh thêm. Có những người chồng thấy vợ bệnh thì thương, nhưng cũng hoảng vì từ nay mọi thứ đổi khác. Có những người vợ thấy chồng bệnh thì cố mạnh, nhưng trong lòng ngổn ngang vì tương lai, vì kinh tế, vì nỗi sợ mất. Những giằng co ấy rất người, không phải là thiếu đức tin. Điều quan trọng là đừng sống một mình với chúng. Vợ chồng phải học nói với nhau về nỗi sợ. Học cầu nguyện cùng nhau. Học nhờ Hội Thánh nâng đỡ. Học nhận sự giúp đỡ từ người khác khi cần. Có những cuộc hôn nhân đẹp lên rất nhiều qua bệnh tật, không phải vì bệnh nhẹ, mà vì trong bệnh, hai người bắt đầu yêu nhau chậm hơn, thật hơn, thấm hơn.
Nhưng cũng có những bệnh khác khó nhìn thấy hơn: bệnh của tâm hồn. Trầm cảm, kiệt sức, lo âu, tổn thương kéo dài, cảm giác trống rỗng, mất ý nghĩa. Đây là những điều ngày nay rất nhiều gia đình đối diện, nhưng lại hay bị xem nhẹ vì không thấy máu, không thấy sốt, không chụp phim ra hình. Có những người phối ngẫu không hiểu vì sao người kia buồn mãi, không còn sức, không muốn nói, không còn hứng thú, phản ứng lạ, khô cằn, không còn là “con người cũ”. Nếu thiếu kiến thức và thiếu lòng thương, họ sẽ rất dễ biến nỗi đau tâm lý của người kia thành một cuộc tranh cãi đạo đức: “sao em yếu thế”, “sao anh tiêu cực”, “em phải mạnh lên”, “anh phải nghĩ tích cực hơn”. Nhưng có những vùng đau mà ý chí không tự giải quyết được. Hôn nhân lúc ấy cần một thứ dịu dàng sâu hơn: biết nhận ra người kia đang đau thật, biết đồng hành mà không coi thường, biết tìm sự hỗ trợ phù hợp, biết kiên nhẫn mà không bỏ mặc.
Áp lực, bệnh tật, tiền bạc đã khó. Nhưng rồi tuổi già lại là một chặng thử khác. Khi trẻ, người ta thường nghĩ về hôn nhân bằng ngôn ngữ của bắt đầu: cưới, sinh con, làm ăn, dựng nhà, phấn đấu. Nhưng hôn nhân không chỉ có chặng đầu. Nó có chặng chín. Chặng già. Chặng mà thân xác chậm lại, trí nhớ không còn sắc, mắt mờ, chân yếu, con cái đã lớn, nhiều thứ từng vội giờ không còn quá gấp, nhưng trong lòng có thể lại xuất hiện một thứ trống khác. Có người già trong bình an. Có người già trong tiếc nuối. Có người già mà cảm thấy mình dư thừa. Có người già mà cô đơn ngay bên cạnh bạn đời. Có người già mà lúc đó những vết thương cũ, những thiếu hụt cũ lại nổi lên mạnh hơn, vì không còn quá nhiều việc để lấp vào nữa.
Giữ lửa hôn nhân trong tuổi già là một vẻ đẹp rất khác. Không còn dựa trên sức trẻ, trên hấp dẫn bề ngoài, trên dự phóng phía trước. Nó dựa trên lòng trung thành đã được thử qua năm tháng. Dựa trên khả năng ở cạnh nhau trong chậm rãi. Dựa trên việc nhìn lại mà không chỉ thấy thiếu sót, nhưng còn thấy ơn Chúa. Dựa trên việc đón nhận nhau trong những đổi thay của thân xác. Dựa trên khả năng trở thành bạn đồng hành sâu hơn. Có những đôi trẻ rất nồng nhiệt, nhưng không hình dung được vẻ đẹp của một ông lão đỡ bà lão ngồi xuống ghế, của một bà cụ nhắc chồng uống thuốc, của hai người già đọc kinh chung với giọng đã run, của một bàn tay nhăn nheo nắm bàn tay cũng nhăn nheo mà vẫn còn hơi ấm giao ước. Đó là thứ lửa không cháy bùng, nhưng cháy sâu. Và chính thứ lửa ấy mới nói hết chiều dài của lời hứa ngày cưới.
Tuổi già cũng là mùa của ký ức. Nếu một hôn nhân đã sống quá nhiều cay đắng không chữa lành, về già người ta rất dễ ở cạnh nhau trong mệt mỏi, trong trách nhiệm khô cứng, trong oán âm thầm. Nhưng nếu trong suốt hành trình, họ đã học tha thứ, học nói thật, học cầu nguyện, học trân trọng nhau, thì tuổi già có thể trở thành mùa rất đẹp. Không phải đẹp vì khỏe, mà đẹp vì thấm. Vì lúc ấy, nhiều bon chen qua rồi, nhiều hiếu thắng qua rồi, nhiều phù phiếm qua rồi. Còn lại là điều cốt lõi: có nhau, có Chúa, có những gì đã cùng đi qua, có sự chuẩn bị nhẹ nhàng cho cuộc gặp sau cùng với Đấng đã nối giao ước của họ từ đầu.
Giữ lửa hôn nhân qua tuổi già còn có nghĩa là không bỏ rơi nhau vào cô độc. Có những người già sống trong cùng một nhà mà hoàn toàn đơn độc trước màn hình, trước nỗi sợ bệnh tật, trước cảm giác mình không còn ích gì. Hôn nhân ở tuổi này cần một sự hiện diện kiên nhẫn: ngồi nghe nhau nhắc chuyện cũ, chịu được sự chậm, chịu được những lặp lại, đi cùng nhau tới nhà thờ, tới bệnh viện, tới những ngày mà niềm vui nhỏ lại nhưng cũng sâu hơn. Cũng chính ở đây, hôn nhân làm chứng một điều rất mạnh cho thế gian: tình yêu không phải chỉ dành cho tuổi trẻ đẹp nhất. Tình yêu trung tín vẫn có thể nở trong tuổi già, nơi thân xác đã hao nhưng lòng vẫn còn biết thuộc về nhau.
Nhưng làm sao để giữ lửa qua tất cả những thử thách ấy? Có lẽ điều đầu tiên là đừng đợi đến lúc lửa gần tắt mới quý nó. Nhiều đôi chỉ lo cứu hôn nhân khi đã nguội từ lâu. Trong khi giữ lửa là công việc của mỗi ngày. Cảm ơn nhau. Hỏi han nhau. Sửa sớm những điều nhỏ. Minh bạch trong tiền bạc. Chia việc với nhau. Bảo vệ những giờ riêng cho gia đình. Đừng xem người kia là điều hiển nhiên. Đừng để con cái chiếm hết mọi khoảng giữa vợ chồng. Đừng để áp lực kéo hai người thành hai hành tinh khác nhau. Đừng quên cầu nguyện cùng nhau. Đừng chỉ nói chuyện việc mà quên nói chuyện lòng. Đừng để điện thoại thành kẻ thứ ba thường trực trong nhà. Những điều này nghe nhỏ, nhưng chính chúng là những thanh củi giữ ngọn lửa.
Điều thứ hai là học chấp nhận rằng lửa có những mùa khác nhau. Có mùa rực. Có mùa âm ỉ. Có mùa như chỉ còn than hồng. Đừng hoảng mỗi khi cảm xúc không còn như trước. Nhưng cũng đừng viện cớ “hôn nhân nào chả vậy” để mặc mọi thứ nguội đi. Tình yêu trưởng thành là biết phân biệt giữa sự chín và sự tàn. Có những mùa yên không phải là nguội, mà là sâu. Nhưng cũng có những mùa tưởng bình thường mà thật ra đang là xa cách. Muốn biết điều nào là điều nào, hai người phải nói thật với nhau, cầu nguyện và nhìn vào hoa trái. Chúng ta đang bình an hơn hay chỉ đang tê đi? Chúng ta đang ít nói vì hiểu nhau hơn hay vì không còn muốn chạm vào nhau? Chúng ta đang sống giản dị hơn hay đang bỏ mặc? Những câu hỏi ấy rất quan trọng.
Điều thứ ba là đừng chiến đấu một mình. Một cuộc hôn nhân bị thử thách nặng mà chỉ dựa vào sức hai người rất dễ cạn. Họ cần bí tích. Cần Lời Chúa. Cần cộng đoàn. Cần người đồng hành khôn ngoan. Cần đôi khi cả sự nâng đỡ chuyên môn trong những khủng hoảng lớn. Có những đôi quá sĩ diện để xin giúp. Họ nghĩ phải tự giải quyết hết. Nhưng khi đuối, họ lại quay sang làm đau nhau nhiều hơn. Khiêm tốn nhận mình cần được nâng đỡ không làm hôn nhân yếu đi. Trái lại, đó thường là dấu hiệu nó còn có hy vọng. Một ngọn lửa muốn giữ được phải biết chắn gió, biết thêm củi, biết không để mưa tạt một mình.
Điều thứ tư là luôn nhớ mình đang giữ gì. Nhiều lúc người ta đánh nhau vì những chuyện rất nhỏ mà quên mất điều lớn đang bị đe dọa. Một lời nóng. Một thói quen khó chịu. Một khác biệt lập trường. Một mệt mỏi ngắn hạn. Tất cả có thể rất thật, rất khó chịu. Nhưng nếu hai người nhớ rằng điều mình đang giữ là một giao ước, là một mái ấm, là những linh hồn con cái, là một con đường nên thánh, thì họ sẽ bớt dễ liệng vào nhau những điều không đáng. Không phải vì phủ nhận vấn đề, mà vì biết đặt đúng trọng lượng. Có những trận thắng cái tôi làm người ta thua cả hôn nhân. Có những lần chịu lùi một bước, nói nhỏ lại một chút, xin lỗi sớm hơn một chút, lại cứu được rất nhiều điều.
Và cuối cùng, giữ lửa hôn nhân qua mọi thử thách là giữ cho Chúa còn ở giữa. Đây không phải câu đạo đức để nói cho hay. Đây là điều sống còn. Vì có những chặng mà sức người không đủ. Có những bệnh không lời nào xoa được. Có những lo toan tài chính làm đầu óc quay cuồng. Có những mùa vợ chồng không còn hiểu nổi nhau. Có những tuổi già mang theo sợ hãi về cái chết, về sự mất mát, về cô đơn. Nếu chỉ có nhau, có những lúc người ta không đủ cho nhau. Nhưng nếu có Chúa, thì ngay cả lúc không nâng nổi nhau, cả hai vẫn còn có một nơi để cùng tựa vào. Không phải phép màu nào cũng xảy ra theo ý mình. Không phải khổ đau nào cũng biến mất ngay. Nhưng trong Chúa, khổ đau không còn vô nghĩa, bệnh tật không còn hoàn toàn cô độc, áp lực không còn là ông chủ tuyệt đối, tuổi già không còn chỉ là tàn úa. Tất cả có thể trở thành nơi của ân sủng.
Có lẽ hình ảnh đẹp nhất của một hôn nhân trưởng thành không phải là đôi trẻ cười rạng trong ngày cưới, dù hình ảnh ấy rất đẹp. Hình ảnh đẹp nhất có khi là hai con người sau bao nhiêu thử thách, tiền bạc, bệnh tật, áp lực, và những năm già đi bên nhau, vẫn còn giữ được một điều gì đó rất thánh: họ vẫn thuộc về nhau trong Chúa. Họ có thể không còn nhanh, không còn mạnh, không còn rực rỡ như trước. Nhưng họ sâu. Họ thật. Họ biết nhau qua đủ mọi mùa. Họ đã cùng nhau khóc, cùng nhau lo, cùng nhau trả nợ, cùng nhau nuôi con, cùng nhau đi bệnh viện, cùng nhau chôn cất những mất mát, cùng nhau vượt qua những ngày không biết bám vào đâu ngoài Chúa. Và chính vì thế, ngọn lửa nơi họ không còn là lửa của cảm xúc nhất thời. Nó là lửa của giao ước đã được tinh luyện.
Đó là điều mà người trẻ cần biết khi bước vào hôn nhân. Không phải để sợ, mà để tôn trọng. Không phải để bi quan, mà để hiểu rằng vẻ đẹp thật của hôn nhân không chỉ nằm ở chỗ khởi đầu, mà ở chỗ đi đến cùng. Giữ lửa không có nghĩa là giữ cho mọi thứ luôn rực như ngày đầu. Giữ lửa là không để cho giao ước nguội đi. Là mỗi ngày, giữa bao thử thách, vẫn chọn nhau, chọn sự thật, chọn lòng thương, chọn đối thoại, chọn chung thủy, chọn Chúa. Và chính những lựa chọn nhỏ nhưng bền ấy, qua năm tháng, sẽ làm nên một điều rất lớn: một cuộc hôn nhân không chỉ sống sót qua đời, mà trở thành chứng tá rằng tình yêu trung tín thật sự có thể đi qua lửa mà không tắt.
PHẦN XI
HÔN NHÂN NHƯ CON ĐƯỜNG NÊN THÁNH
Có lẽ đây là điều đẹp nhất nhưng cũng là điều ít người nghĩ tới nhất khi nói về hôn nhân: hôn nhân không chỉ là con đường để sống bên nhau, để xây gia đình, để nuôi dạy con cái, để chia sẻ vui buồn, để đi qua năm tháng. Hôn nhân, trong chiều sâu nhất của nó, là một con đường nên thánh. Không phải một cách nói tượng trưng cho hay. Không phải một khẩu hiệu đạo đức để khích lệ những người đã mệt. Mà là một sự thật rất lớn. Một người nam và một người nữ, khi bước vào bí tích hôn phối, không chỉ được mời gọi làm chồng, làm vợ, làm cha, làm mẹ. Họ còn được mời gọi làm thánh ngay trong tất cả những vai trò ấy. Nghĩa là gì? Nghĩa là mọi vui buồn, mọi va chạm, mọi hy sinh, mọi lao nhọc, mọi niềm vui âm thầm, mọi thập giá và mọi ân sủng của đời sống gia đình, tất cả không chỉ là chuyện đời thường, mà có thể trở thành chất liệu để Thiên Chúa nhào nặn linh hồn con người nên giống Ngài hơn.
Nhiều người vẫn vô thức nghĩ rằng nên thánh là chuyện của nhà thờ, của tu viện, của những người có đời sống thiêng liêng đặc biệt, của các vị thánh lớn với những câu chuyện phi thường. Trong khi đó, họ nhìn hôn nhân như một con đường rất đời, rất bận, rất vướng, rất đầy trách nhiệm, rất khó để “sống thiêng liêng sâu”. Nhưng chính ở đây, đức tin Công giáo mở ra một ánh sáng rất lạ: Chúa không chỉ gọi con người nên thánh trong nơi tách biệt khỏi đời thường, mà cũng gọi họ nên thánh ngay giữa đời thường. Có người nên thánh trong bàn thờ. Có người nên thánh trong nhà tập. Có người nên thánh trong bệnh viện, nơi trường học, nơi cánh đồng, nơi công sở. Và có người nên thánh trong căn bếp, ở bàn ăn gia đình, bên chiếc nôi của đứa con nhỏ, nơi cuộc nói chuyện khuya với người bạn đời, nơi hóa đơn phải trả, nơi cơn đau phải chịu, nơi những lần làm hòa sau giận dỗi, nơi giường bệnh của nhau, nơi tuổi già chậm chạp. Tất cả những chỗ ấy, nếu được sống trong ân sủng, đều có thể trở thành đất thánh.
Thật ra, chính vì hôn nhân quá gần đời thường nên người ta dễ không nhận ra chiều sâu cứu độ của nó. Nhưng hãy nhìn kỹ: còn nơi nào trong đời mà con người bị gọi ra khỏi cái tôi của mình nhiều như trong hôn nhân? Còn nơi nào mà người ta phải học tha thứ nhiều như trong hôn nhân? Còn nơi nào mà những giới hạn, những ích kỷ, những vết thương, những vùng chưa được chữa lành trong lòng mình lộ ra rõ như trong hôn nhân? Và cũng còn nơi nào mà người ta có cơ hội yêu bằng sự trung tín, bằng sự hiến trao, bằng sự kiên nhẫn, bằng lòng thương xót, bằng sự hiện diện bền bỉ như trong hôn nhân? Chính vì vậy, hôn nhân là một trường học của sự nên thánh. Không phải trường học của những bài giảng lớn lao trước đám đông, mà là trường học của những bài kiểm tra nhỏ lặp lại mỗi ngày. Không phải trường học của ánh đèn, mà là trường học của những quyết định âm thầm mà chỉ Chúa thấy trọn.
Nên thánh trong hôn nhân trước hết là học yêu như Đức Kitô yêu. Đây là chiều cao của ơn gọi phu phụ. Người chồng được mời gọi yêu vợ không chỉ bằng sự bảo bọc tự nhiên hay trách nhiệm xã hội, mà bằng một tình yêu hiến mình, kiên nhẫn, bảo vệ, trung tín, sẵn sàng mất mình vì người mình yêu. Người vợ cũng được mời gọi yêu chồng không chỉ bằng sự gắn bó tình cảm hay chăm sóc thường ngày, mà bằng một tình yêu cộng tác, nâng đỡ, đáp lại bằng sự trung tín, lòng kính trọng và sự hiệp thông sâu xa. Cả hai không phải yêu nhau theo kiểu bản năng tự nhiên בלבד, nhưng được mời gọi để cho tình yêu của Đức Kitô đi qua chính tình yêu phu phụ của mình. Điều đó có nghĩa là mỗi lần họ tha thứ, mỗi lần họ quay lại, mỗi lần họ ở lại trong lúc khó yêu, mỗi lần họ từ bỏ một ích kỷ nhỏ để giữ sự hiệp nhất lớn hơn, họ đang học yêu theo một cách gần với Tin Mừng hơn.
Nhưng nên thánh trong hôn nhân không phải là trở thành một đôi vợ chồng lúc nào cũng sốt sắng, lúc nào cũng dịu dàng, lúc nào cũng nói những lời đạo đức. Không. Nên thánh không phải là vẻ ngoài trơn láng. Nên thánh là sự thật được biến đổi bởi ân sủng. Nghĩa là hai con người rất thật, rất giới hạn, rất dễ tổn thương, rất có thể nóng giận, mệt mỏi, khô khan, non nớt, nhưng không ngừng để Chúa đi vào chính những chỗ ấy mà uốn lại. Một cuộc hôn nhân nên thánh không phải là cuộc hôn nhân không có lỗi lầm, mà là cuộc hôn nhân trong đó lỗi lầm không được phép trở thành vùng đất đóng kín trước lòng thương xót. Không phải cuộc hôn nhân không có mâu thuẫn, mà là cuộc hôn nhân trong đó mâu thuẫn dần dần trở thành nơi hai người học khiêm nhường hơn, hiểu nhau hơn, bớt tự mãn hơn, và biết cần Chúa hơn.
Một trong những con đường nên thánh rất rõ trong hôn nhân là học chết đi cho cái tôi. Đây là điều không ai thích nghe, nhưng ai sống hôn nhân lâu cũng phải đối diện. Cái tôi của con người rất tinh vi. Nó có thể núp dưới nhu cầu được lắng nghe, dưới cảm giác mình đúng, dưới nỗi đau thật, dưới công sức mình bỏ ra, dưới sự hy sinh mình đã làm. Và dĩ nhiên, những điều ấy có phần thật. Nhưng rất nhiều khi, điều làm hôn nhân bế tắc không phải là vấn đề quá lớn, mà là vì cả hai đều không chịu chết đi một chút. Không ai muốn lùi. Không ai muốn xin lỗi trước. Không ai muốn bỏ đi chữ cuối cùng. Không ai muốn chấp nhận rằng mình cũng có phần sai. Không ai muốn nhịn một câu. Không ai muốn bước qua tự ái để quay lại nắm tay người kia. Trong khi đó, Tin Mừng của hôn nhân lại được viết chính ở những chỗ ấy. Có những lần nên thánh chỉ đơn giản là ngậm lại một lời sẽ làm đau. Có những lần nên thánh là nói “anh xin lỗi” dù trong lòng vẫn còn thấy mình cũng có phần oan. Có những lần nên thánh là lắng nghe hết câu thay vì ngắt ngang. Có những lần nên thánh là đi rửa bát, thay tã, thức đêm, gấp lại một mơ ước riêng, chỉ để gia đình được giữ bình an hơn.
Nhiều người tưởng nên thánh là làm điều lớn lao, nhưng trong hôn nhân, nên thánh thường mang khuôn mặt của điều rất nhỏ. Một lời cảm ơn không để điều tốt của nhau thành hiển nhiên. Một cái chạm nhẹ vào vai người kia sau một ngày dài. Một cuộc gọi hỏi han giữa giờ làm việc. Một quyết định không mang áp lực ngoài đời vào đổ lên người bạn đời. Một việc bảo vệ danh dự của nhau trước mặt người khác. Một thói quen cầu nguyện cho nhau ngay cả khi đang giận. Một sự từ chối những cám dỗ bí mật để giữ lòng trung tín. Những điều này thế gian có thể không gọi là vĩ đại. Nhưng trên con đường nên thánh, chính chúng có sức nặng. Bởi thánh thiện không phải chỉ là những giờ cao điểm thiêng liêng, mà là cách con người yêu trong từng việc nhỏ lập đi lập lại suốt đời.
Một khía cạnh khác của sự nên thánh trong hôn nhân là để cho người bạn đời trở thành khí cụ Chúa dùng để thanh luyện mình. Điều này vừa đẹp vừa khó. Bởi người bạn đời không chỉ là người an ủi mình, mà còn là người đụng tới những vùng sâu mà người khác không chạm tới. Họ thấy những mặt tốt nhất của mình, nhưng cũng chạm vào những chỗ yếu nhất, dễ vỡ nhất, xấu nhất. Có những vết thương từ gia đình gốc, những bất an, những nỗi sợ bị bỏ rơi, những nhu cầu được công nhận, những cơn giận âm ỉ, những kiểu phòng vệ lâu năm, chỉ khi sống hôn nhân lâu mới lộ ra rõ. Người phối ngẫu, vì quá gần, có thể vô tình chạm đúng vào những chỗ ấy. Và chính khi đó, hôn nhân trở thành nơi của lựa chọn: hoặc ta dùng điều ấy để đổ lỗi, để khép lòng, để dựng thêm tường; hoặc ta để cho Chúa dùng chính những chạm đau đó như ánh sáng giúp mình nhận ra mình còn cần được chữa lành, còn cần hoán cải, còn cần lớn lên đến đâu.
Nên thánh trong hôn nhân vì thế luôn gắn với chữa lành. Không ai bước vào giao ước mà đã hoàn toàn lành mạnh. Ai cũng mang theo một lịch sử. Một cách được yêu hoặc không được yêu. Một kiểu phản ứng học từ cha mẹ. Một dạng sợ hãi. Một vết thương cũ. Một vùng thiếu. Nếu không ý thức điều này, người ta rất dễ nghĩ mọi khó khăn trong hôn nhân chỉ đến từ người kia. Nhưng rất nhiều khó khăn đến từ chỗ chính mình đang phản ứng từ những phần chưa được cứu chuộc trong lòng. Một lời nói nhỏ có thể đụng tới một nỗi đau cũ khổng lồ. Một sự chậm trễ có thể chạm vào nỗi sợ bị bỏ rơi. Một góp ý có thể làm bùng lên mặc cảm vô giá trị. Một im lặng có thể gợi lại những năm tháng thiếu được lắng nghe. Hôn nhân thánh không phải là hôn nhân không có những điều này. Hôn nhân thánh là hôn nhân trong đó hai người dần học gọi tên những vùng đó, không dùng nó để kết án nhau, mà để cùng nhau mang nó ra trước Chúa.
Một đôi vợ chồng nên thánh không phải là đôi ít đau hơn người khác, mà là đôi biết làm gì với nỗi đau của mình. Họ không thần tượng khổ đau. Họ không lấy đau khổ làm căn tính. Nhưng họ cũng không phí đau khổ. Họ không để nó trở thành cớ để sống cay đắng. Họ dần học biến nó thành nơi của lời cầu xin, của hoán cải, của lòng thương xót. Có những cuộc hôn nhân trở thành nơi cả hai kéo nhau xuống vì ai cũng ôm đau theo kiểu đòi nợ nhau. Nhưng cũng có những cuộc hôn nhân mà sau nhiều thử thách, người ta trở nên mềm hơn, dịu hơn, bao dung hơn, ít phán xét hơn, biết ơn hơn. Đó là dấu chỉ của ân sủng đang làm việc. Vì nỗi đau, nếu được trao cho Chúa, có thể trở thành đất tốt cho một thứ thánh thiện rất lặng mà rất thật.
Hôn nhân còn là con đường nên thánh vì nó dạy con người sống đức ái trong một hình thức rất cụ thể. Nhiều người có thể tử tế với người ngoài dễ hơn với người trong nhà. Dễ mỉm cười nơi công sở hơn ở bàn ăn. Dễ kiên nhẫn với người lạ hơn với người phối ngẫu. Dễ lịch sự ở ngoài hơn dịu dàng ở nhà. Điều này cho thấy nên thánh trong hôn nhân khó đến mức nào. Vì ở nhà, không còn nhiều vai diễn. Con người mệt thật, xấu thật, thất vọng thật, chật chội thật. Và chính ở đó, đức ái mới được thử bằng lửa thật. Một người có thể làm nhiều việc đạo đức ngoài kia, nhưng nếu về nhà chỉ mang theo cộc cằn, lạnh nhạt, thiếu tôn trọng, thì vẫn còn một khoảng cách rất lớn giữa đạo và đời. Hôn nhân kéo con người về lại chỗ của sự thật: anh có thật sự yêu không, khi không ai vỗ tay? Em có thật sự bao dung không, khi việc phải chịu không phải chuyện lớn mà là một thói quen khó chịu lặp đi lặp lại? Anh có thật sự phục vụ không, khi điều cần là rửa chén, thay bóng đèn, thức với con sốt? Em có thật sự hiến mình không, khi chẳng có ai thấy ngoài Chúa?
Nhiều vị thánh được nhớ đến vì những việc phi thường. Nhưng có lẽ trên trời cũng có rất nhiều vị thánh của căn bếp, của phòng ngủ, của bàn ăn, của phòng bệnh, của xe đưa con đi học, của công việc tay chân, của những khoản chi tiêu dè sẻn, của những đêm dài mất ngủ vì con nhỏ, của những năm tháng âm thầm chăm người bạn đời đau bệnh, của lòng trung tín không ai biết, của sự dịu dàng lặng lẽ, của việc ở lại bên nhau dù đã đi qua rất nhiều mùa khô. Những vị thánh ấy không có tượng trong nhà thờ, nhưng hương của họ có thể đang làm thơm Hội Thánh mỗi ngày. Và chính điều đó cho thấy hôn nhân không phải một bậc sống phụ, không phải con đường “ít thiêng liêng hơn”. Nó là con đường nên thánh rất thật, rất sâu, rất bào mòn cái tôi, và vì thế rất gần với trái tim của Đức Kitô.
Một dấu chỉ cho thấy hôn nhân đang trở thành con đường nên thánh là khi hai người dần dần giúp nhau nên người tốt hơn, chứ không chỉ giúp nhau sống dễ hơn. Sống dễ hơn là điều tốt, nhưng chưa đủ. Có những đôi làm cho nhau thoải mái, tiện lợi, đỡ cô đơn, nhưng không thực sự kéo nhau lên. Trái lại, có những đôi làm cho nhau phải lớn lên. Không phải vì họ khó tính, mà vì sự hiện diện của người kia buộc mình phải đối diện với sự thật, với giới hạn, với trách nhiệm, với lòng trung thành, với ân sủng. Một người chồng nên thánh không chỉ vì anh đi lễ, mà còn vì sống với vợ, anh biết lắng nghe hơn, bớt nóng hơn, trung thực hơn, quảng đại hơn, sống trách nhiệm hơn. Một người vợ nên thánh cũng không chỉ vì chị đọc kinh nhiều, mà vì sống với chồng, chị biết dịu hơn, thật hơn, biết đặt Chúa vào lo âu của mình hơn, biết yêu mà không kiểm soát hơn. Khi điều đó xảy ra, hôn nhân không còn chỉ là đời sống chung. Nó trở thành cuộc hành hương hai người cùng nhau đi về phía Chúa.
Nhưng nên thánh trong hôn nhân còn có một chiều kích rất đặc biệt: nên thánh cùng với người khác. Trong nhiều hành trình thiêng liêng, con người nhấn mạnh tương quan cá vị với Chúa. Điều đó rất đúng. Nhưng hôn nhân thêm vào một nét rất riêng: tôi không chỉ nên thánh một mình. Tôi được gọi nên thánh cùng với một người, và qua một người. Nghĩa là ơn cứu độ của tôi không tách hẳn khỏi cách tôi sống với người phối ngẫu. Điều này vừa đẹp vừa nghiêm. Đẹp vì tôi không đi một mình. Nghiêm vì tôi không thể xem nhẹ cách mình yêu người bên cạnh. Có người rất chăm việc đạo bên ngoài nhưng lại để mặc hôn nhân khô cằn, thiếu trung tín, thiếu hiệp thông. Một sự “đạo đức” như thế bị thiếu rất nhiều. Vì nếu Chúa đã gọi tôi nên thánh qua giao ước này, thì chính nơi giao ước này, tôi phải để cho ân sủng làm việc trước tiên.
Điều đó cũng có nghĩa là người phối ngẫu không chỉ là “người sống với mình”, mà là một phần trong ơn gọi cứu độ của mình. Tôi sẽ phải trả lời trước Chúa về cách tôi yêu người ấy. Tôi đã làm cho họ gần Chúa hơn hay xa Chúa hơn? Tôi đã giúp họ nở ra hay co lại? Tôi đã tạo cho họ một không gian để nên thánh hay làm cho họ mất bình an vì những ích kỷ của tôi? Tôi đã tôn trọng giao ước như một điều thánh hay chỉ xem nó như nơi đáp ứng nhu cầu của mình? Những câu hỏi ấy rất nghiêm túc. Nhưng cũng chính vì thế, mỗi cử chỉ yêu thương, mỗi hy sinh âm thầm, mỗi lần giữ chung thủy, mỗi lần làm hòa, mỗi lần đỡ nhau đứng dậy sau thất bại, đều mang một giá trị thiêng liêng lớn hơn người ta tưởng.
Hôn nhân như con đường nên thánh cũng tỏa ánh sáng đặc biệt trên chuyện làm cha mẹ. Bởi nuôi dạy con cái không chỉ là một trách nhiệm xã hội. Đó cũng là nơi cha mẹ được thánh hóa. Không đứa con nào được nuôi lớn mà không làm cha mẹ phải chết đi cho nhiều ích kỷ. Những đêm thức trắng, những năm tháng gác lại sở thích riêng, những lo toan tài chính, những kiên nhẫn trước sự nổi loạn, những lo lắng, những nước mắt âm thầm, tất cả vừa là gánh nặng vừa là lửa luyện. Có những cha mẹ nhờ con mà trở nên mềm hơn, bớt kiêu hơn, biết cầu nguyện hơn, sống trách nhiệm hơn. Có những người học được lòng của Thiên Chúa chính khi làm cha, làm mẹ: hiểu thế nào là chờ đợi, là đau vì con, là yêu dù bị hiểu lầm, là vẫn mở cửa cho nó quay về. Khi được sống trong đức tin, chính việc làm cha mẹ cũng trở thành một trường học nên thánh rất sâu.
Nên thánh trong hôn nhân cũng là học hy vọng. Không phải hy vọng kiểu mơ hồ rằng một ngày mọi chuyện tự nhiên sẽ ổn, mà là hy vọng Kitô giáo: ngay cả những gì đang rối vẫn có thể được cứu nếu không đóng lòng trước ân sủng. Có những giai đoạn hôn nhân khô. Có những mùa người ta không thấy gì đẹp nữa. Có những lúc chỉ thấy mệt, thấy xa, thấy mình đang lặp đi lặp lại cùng một lỗi, cùng một vết thương. Chính lúc ấy, sự nên thánh biểu lộ qua hy vọng bền bỉ. Không phải phủ nhận thực tế, mà là không tuyệt vọng quá nhanh. Không bỏ cuộc với người kia vì họ còn bất toàn. Không bỏ cuộc với chính mình vì mình vẫn yếu. Không đóng cửa với Chúa vì mình ngại ánh sáng. Có những hôn nhân được cứu không phải vì mọi vấn đề nhẹ đi, mà vì giữa bóng tối, vẫn còn một người hoặc cả hai người bám lấy lời cầu nguyện, bám lấy giao ước, bám lấy niềm tin rằng Chúa vẫn đang làm việc dù chưa thấy ngay.
Có một vẻ đẹp rất sâu nơi những đôi vợ chồng già còn nắm tay nhau đi lễ, còn đọc kinh chung, còn nhắc nhau uống thuốc, còn hỏi nhau mệt không, còn ngồi đó giữa sự chậm chạp của tuổi già mà vẫn không cô độc. Đó không chỉ là hình ảnh của thói quen lâu năm. Đó là hình ảnh của một sự nên thánh đã đi qua năm tháng. Thân xác có thể yếu, trí nhớ có thể giảm, sức lao động có thể không còn, nhưng có một thứ khác đã lớn lên: lòng trung tín. Và chính lòng trung tín ấy là một trong những gương mặt đẹp nhất của sự thánh thiện trong hôn nhân. Nó nói rằng tình yêu không chỉ thuộc về tuổi trẻ. Nó nói rằng giao ước không bị hủy bởi thời gian. Nó nói rằng có những người đã đi với nhau lâu đến mức chính đời sống của họ trở thành một lời giảng không cần chữ: Chúa là Đấng trung tín.
Nhìn ở chiều cuối cùng, hôn nhân nên thánh vì nó chuẩn bị con người cho cuộc gặp gỡ sau hết với Thiên Chúa. Một ngày nào đó, mọi vai trò trần thế sẽ kết thúc. Chức vụ qua đi. Nghề nghiệp qua đi. Của cải ở lại. Con cái cũng có đời chúng. Ngay cả thân xác này rồi cũng yếu và tan vào đất. Điều còn lại là linh hồn đứng trước mặt Chúa. Và lúc ấy, người ta sẽ thấy rằng mọi năm tháng yêu thương, trung tín, tha thứ, hy sinh, tất cả không hề mất đi. Chúng đã âm thầm tạo nên chính linh hồn mình. Người chồng đã được uốn ra sao qua việc làm chồng. Người vợ đã được tinh luyện ra sao qua việc làm vợ. Cả hai đã để giao ước biến mình thành người như thế nào. Nếu hôn nhân được sống như con đường nên thánh, thì đến cuối cùng, người ta không chỉ có một cuộc đời đã đi qua, mà còn có một linh hồn đã chín.
Và như thế, nói “hôn nhân là con đường nên thánh” không phải là đặt lên vai các đôi vợ chồng một gánh nặng lý tưởng hóa. Trái lại, đó là trả lại cho những hy sinh âm thầm của họ một ý nghĩa lớn lao. Trả lại cho những việc nhỏ hằng ngày một phẩm giá thiêng liêng. Trả lại cho những lần họ ngã rồi đứng dậy một vẻ đẹp mà thế gian không nhìn thấy. Trả lại cho căn bếp, bàn ăn, giường bệnh, hóa đơn, nước mắt, nụ cười, những cuộc đối thoại đêm khuya, những giờ kinh gia đình, tất cả một ánh sáng mới: đó không chỉ là đời sống. Đó có thể là đường về trời.
Có lẽ đây chính là đại kết âm thầm của toàn bộ hành trình hôn nhân Công giáo. Từ lúc phân định chọn nhau, cầu nguyện trước khi cưới, bước vào bí tích, xây nền bằng sự thật và tha thứ, sống lòng chung thủy, trở thành Hội Thánh tại gia, nuôi dạy con cái, giữ lửa qua thử thách, tất cả đều không chỉ nhằm để “giữ gia đình cho ổn”. Tất cả nhằm một điều sâu hơn: giúp hai con người và những linh hồn được trao cho họ cùng đi về Nước Trời. Một cuộc hôn nhân thành công nhất không hẳn là cuộc hôn nhân giàu nhất, ít xung đột nhất, được ngưỡng mộ nhất. Mà là cuộc hôn nhân trong đó, qua bao năm tháng, hai người thật sự giúp nhau nên thánh.
Vậy nên, ai đang sống đời hôn nhân, xin đừng xem nhẹ những điều rất nhỏ hôm nay. Một lời dịu dàng. Một lần xin lỗi. Một buổi tối tắt điện thoại để ngồi với nhau. Một giờ kinh dù ngắn. Một cử chỉ trung tín trong vùng không ai thấy. Một quyết định không làm điều mình có thể làm nhưng không nên làm. Một việc đỡ người kia trong cơn mệt. Một lần bồng con thay vì trốn vào việc riêng. Một lần cắn lại tự ái để giữ bình an. Tất cả những điều ấy đang đi vào công trình nên thánh của chính anh chị. Không ồn ào. Không có tiếng chuông. Không có ai vỗ tay. Nhưng có Chúa thấy. Và nhiều khi, chính trong những điều bé nhỏ ấy, Nước Trời đang được gieo xuống giữa căn nhà mình.
Bởi sau cùng, nên thánh không phải là bay khỏi đời thường. Nên thánh là để Chúa đi vào đời thường đến tận cùng. Và hôn nhân, nếu được sống trong ân sủng, là một trong những nơi kỳ diệu nhất để điều ấy xảy ra. Ở đó, tình yêu con người, với tất cả sự mỏng manh của nó, được Thiên Chúa chạm vào và nâng lên. Ở đó, hai con người không chỉ cưới nhau để sống với nhau, mà để cùng nhau học yêu như Chúa, cùng nhau gánh nhau, cùng nhau giúp nhau lớn lên, cùng nhau đi qua lửa thử, cùng nhau làm chứng rằng tình yêu trung tín là có thật, và cuối cùng, cùng nhau đi về Nhà Cha.
Đó là vẻ đẹp cuối cùng và sâu nhất của ơn gọi đời sống hôn nhân. Không chỉ là một chọn lựa đẹp của đời người. Không chỉ là một giao ước đáng kính. Mà là một con đường nên thánh. Một con đường vừa rất người vừa rất Chúa. Một con đường có nước mắt nhưng đầy hy vọng. Một con đường có thập giá nhưng không thiếu phục sinh. Một con đường mà nếu đi trọn, người ta sẽ hiểu: hóa ra giữa tất cả những việc tưởng rất thường của gia đình, Thiên Chúa đã âm thầm làm một việc rất lớn — biến tình yêu của hai con người thành chiếc thang đưa họ, và cả những người được trao cho họ, tiến gần hơn đến Nước Trời.
PHẦN XII
ĐẠI KẾT: KHI HAI NGƯỜI NẮM TAY NHAU ĐI VỀ NƯỚC TRỜI
Sau tất cả những gì đã đi qua, sau những trang nói về tiếng gọi, về chọn lựa, về cầu nguyện, về phân định, về giao ước, về bí tích, về chung thủy, về con cái, về thử thách, về bệnh tật, về tuổi già, về sự nên thánh giữa đời thường, có lẽ điều còn lại sâu nhất không phải là một công thức để sống hôn nhân cho giỏi, mà là một hình ảnh. Một hình ảnh rất đơn sơ, rất lặng, nhưng ôm được toàn bộ huyền nhiệm của đời sống hôn nhân Kitô giáo: hai người nắm tay nhau đi về Nước Trời.
Không phải chỉ nắm tay nhau đi qua tuổi trẻ. Không phải chỉ nắm tay nhau đi qua những năm đẹp nhất. Không phải chỉ nắm tay nhau đi qua một đám cưới rực rỡ, một mái nhà mới, những ngày đầu hôn nhân còn nồng hương ước mơ. Mà là nắm tay nhau đi về Nước Trời. Nghĩa là đi xa hơn tất cả những gì mắt thấy. Đi qua những mùa đẹp và những mùa rất tối. Đi qua khi khỏe và khi đau. Đi qua khi hiểu nhau và khi phải học lại cách hiểu nhau. Đi qua khi đầy hy vọng và khi tưởng như không còn gì để bám ngoài giao ước và ân sủng. Đi qua không chỉ như hai người cùng sống chung, mà như hai linh hồn cùng được Thiên Chúa gọi vào một hành trình cứu độ.
Có một bi kịch rất âm thầm của thời đại hôm nay là con người nói nhiều về hạnh phúc nhưng nói quá ít về đích đến. Người ta muốn hôn nhân vui, hôn nhân bền, hôn nhân đẹp, hôn nhân có bình an, có con ngoan, có kinh tế ổn, có sự tôn trọng, có đời sống gối chăn hài hòa, có một mái nhà dễ chịu. Tất cả những điều đó đều tốt. Đều đáng mong. Đều là những ơn lành thật. Nhưng nếu dừng ở đó, hôn nhân vẫn còn bị hiểu quá ít. Bởi người Công giáo không cưới nhau chỉ để sống cho đỡ cô đơn, cho có người cùng chia sẻ trách nhiệm, cho có gia đình theo nghĩa xã hội. Người Công giáo cưới nhau, ở chiều sâu nhất, để cùng nhau đi về Nhà Cha. Nếu quên điều đó, hôn nhân rất dễ bị thu nhỏ lại chỉ còn là một dự án sống chung được quản lý tốt. Nhưng nếu nhớ điều đó, thì ngay cả những việc nhỏ nhất của đời sống gia đình cũng bắt đầu có ánh sáng khác.
Hai người nắm tay nhau đi về Nước Trời nghĩa là gì? Nghĩa là từ ngày bước vào bí tích, họ không còn chỉ hỏi: làm sao để sống với nhau cho ổn. Họ bắt đầu hỏi sâu hơn: làm sao để tình yêu này cứu được linh hồn chúng ta. Làm sao để cách tôi nói với người bạn đời mình không làm họ xa Chúa hơn. Làm sao để những năm tháng sống chung không làm lòng chúng ta khô cứng, nhưng mềm hơn trước ân sủng. Làm sao để khi nhìn lại cả cuộc hôn nhân, chúng ta không chỉ thấy mình đã xây được một gia đình, mà còn thấy mình đã giúp nhau trở thành những con người gần Chúa hơn, thật hơn, biết yêu hơn, biết tha thứ hơn, biết buông mình hơn, biết tín thác hơn.
Đây là chỗ hôn nhân Công giáo đẹp theo một vẻ đẹp mà thế gian không dễ hiểu. Thế gian có thể hiểu hôn nhân như nơi của lãng mạn, của cảm xúc, của đồng hành, của hợp tác, của bổ sung. Tất cả điều đó đều có phần đúng. Nhưng hôn nhân Kitô giáo còn hơn thế rất nhiều. Nó là nơi hai người không chỉ cùng nhìn vào nhau, mà cùng nhìn về một hướng lớn hơn cả hai. Nếu chỉ nhìn vào nhau, rồi sẽ có lúc thất vọng, vì không ai đủ để làm trời của ai. Không ai đủ để làm cứu cánh cuối cùng của người kia. Nhưng nếu cùng nhìn về Chúa, cùng đi về Nước Trời, thì ngay cả khi một người yếu, cả hai vẫn còn một hướng để bám. Ngay cả khi cảm xúc xuống thấp, giao ước vẫn còn nghĩa. Ngay cả khi đau đớn bước vào, tình yêu vẫn chưa mất đích.
Có những cuộc hôn nhân đổ vỡ không phải vì họ chưa từng yêu, mà vì họ không có một đích đủ lớn để giữ họ ở lại khi mọi thứ không còn dễ. Họ cưới nhau để vui, và khi niềm vui giảm, họ hoảng. Họ cưới nhau để được đáp ứng, và khi thiếu hụt đến, họ thấy như mình bị phản bội. Họ cưới nhau để xây một mái ấm thuận tiện, và khi thập giá bước vào, họ cảm thấy cả công trình mất nghĩa. Nhưng ai cưới nhau để cùng đi về Nước Trời sẽ nhìn khác. Không phải đau bớt đau. Không phải thử thách bớt nặng. Nhưng giữa đau và nặng ấy, họ không bị cắt đứt khỏi ý nghĩa cuối cùng. Họ biết rằng điều mình đang giữ không chỉ là một quan hệ, mà là một con đường cứu độ.
Nước Trời không bắt đầu sau cái chết. Nước Trời bắt đầu được gieo vào chính những quyết định yêu thương, trung tín, tha thứ và thánh thiện hôm nay. Khi một người chồng bớt một lời thô để giữ trái tim vợ mình khỏi bị tổn thương thêm, Nước Trời đã chớm nở. Khi một người vợ thôi dùng lỗi cũ làm vũ khí để chọn nói chuyện trong sự thật và lòng thương, Nước Trời đã hiện diện. Khi cả hai quỳ xuống đọc một kinh giữa một tuần mệt mỏi, khi họ cho con thấy cha mẹ biết xin lỗi nhau, khi họ chọn sống lương thiện dù phải chịu thiệt, khi họ giữ chung thủy trong một thời đại ngoại tình được bình thường hóa, khi họ chăm nhau lúc đau bệnh, khi họ không bỏ nhau quá nhanh lúc khô khan, khi họ dạy con gọi tên Chúa trong vui buồn, thì từng chút một, Nước Trời đang được xây bằng vật liệu của đời sống gia đình.
Chính vì vậy, đại kết của hôn nhân không nằm ở chuyện hai người đã sống với nhau được bao nhiêu năm, mà ở chuyện qua bao nhiêu năm ấy, họ đã đi về đâu. Có những đôi ở bên nhau cả đời nhưng lòng chẳng mở ra trước ân sủng, chẳng gần nhau hơn trong sự thật, chẳng gần Chúa hơn trong đức tin. Nhưng cũng có những đôi qua từng năm tháng, từng thử thách, từng đau khổ, từng lần ngã rồi đứng lên, đã dần dần được luyện thành những tâm hồn khác. Dịu hơn. Khiêm hơn. Thật hơn. Nhẫn nại hơn. Ít tự ái hơn. Biết ơn hơn. Biết cầu nguyện hơn. Biết yêu bằng việc nhỏ hơn. Biết nhìn cuộc đời bằng mắt của hy vọng hơn. Đó là những đôi thật sự đang nắm tay nhau đi về Nước Trời.
Thật ra, hình ảnh “nắm tay nhau” cũng rất sâu. Bởi hôn nhân không có nghĩa là một người kéo người kia đi. Cũng không có nghĩa là một người tan biến để người kia lớn lên. Không phải thế. Nắm tay nhau nghĩa là cả hai cùng là kẻ lữ hành. Cùng yếu. Cùng cần ơn. Cùng cần được cứu. Cùng cần lòng thương xót của Chúa. Không ai trong hôn nhân được phép đóng vai đấng cứu độ của người kia. Người chồng không phải là đấng cứu chuộc của vợ. Người vợ cũng không phải là cứu tinh của chồng. Cả hai chỉ là hai người hành hương, được giao cho nhau để cùng bước, cùng đỡ, cùng nhắc, cùng cầu nguyện, cùng chịu, cùng vui, cùng giữ nhau khỏi lạc đường. Chính khi hiểu như thế, người ta bớt đòi nơi người bạn đời điều chỉ Chúa mới làm được. Và cũng bớt kiêu ngạo tưởng rằng mình có thể thay Chúa trong đời người kia.
Có những lúc một người đi nhanh hơn, người kia chậm hơn. Có lúc một người tin mạnh hơn, người kia yếu hơn. Có lúc một người sáng hơn, người kia mù mờ hơn. Có lúc một người bình an hơn, người kia rối hơn. Có lúc một người đang đỡ, rồi đến một chặng khác lại phải được đỡ. Hôn nhân là như vậy. Không ai lúc nào cũng mạnh. Không ai lúc nào cũng dịu. Không ai lúc nào cũng sốt sắng. Không ai lúc nào cũng biết yêu đúng cách. Và chính vì vậy, cái nắm tay ấy mới có nghĩa. Không phải nắm tay vì cả hai đều hoàn hảo, mà nắm tay vì cả hai đều biết mình cần ơn Chúa và cần nhau trên đường. Một cái nắm tay có khi là một lời động viên. Có khi là một sự im lặng ở cạnh. Có khi là một bát cháo khi người kia mệt. Có khi là một lời nhắc đi xưng tội. Có khi là một ánh mắt bên cạnh quan tài người thân. Có khi là một bàn tay đỡ nhau bước lên bậc tam cấp nhà thờ lúc tuổi đã cao. Tất cả những cử chỉ ấy đều là ngôn ngữ của hành trình về Nước Trời.
Nhưng đi về Nước Trời cùng nhau không có nghĩa là không bao giờ lạc. Có những lúc hôn nhân như đi trong sương. Không thấy đường rõ. Không còn cảm xúc rõ. Không còn lời nói đẹp. Không còn những dấu hiệu bên ngoài làm mình yên tâm. Chỉ còn những bổn phận, những va chạm, những mệt mỏi và câu hỏi âm thầm: chúng ta đang đi đâu? Chính trong những mùa như thế, giao ước bộc lộ vẻ mạnh mẽ và thánh thiêng của nó. Bởi lúc ấy, người ta không còn đi nhờ cảm giác. Họ đi bằng đức tin. Bằng lời đã hứa. Bằng ký ức về ơn Chúa đã ban. Bằng những lần Chúa đã cứu họ trước đó. Bằng quyết định không đóng cửa lòng hoàn toàn. Bằng một lời kinh khô khan mà vẫn cố đọc. Bằng việc vẫn ngồi xuống nói chuyện, dù khó. Bằng việc vẫn nắm tay nhau, dù cả hai đều run.
Có lẽ ở đây, hôn nhân gần với hành trình của Hội Thánh hơn người ta tưởng. Hội Thánh đi trong lịch sử, có những mùa sáng, có những mùa tối, có những lúc rạng rỡ, có những lúc bị thử luyện. Hôn nhân cũng vậy. Không có cuộc hôn nhân thật nào lúc nào cũng như lễ cưới. Không có mái ấm thật nào lúc nào cũng tràn ngập cảm xúc đẹp. Nhưng cũng như Hội Thánh không sống nhờ cảm giác, hôn nhân không sống nhờ cảm giác. Nó sống nhờ giao ước, nhờ ân sủng, nhờ việc quay lại với nguồn, nhờ sự hoán cải liên lỉ. Một đôi vợ chồng hiểu điều này sẽ bớt hoảng loạn hơn trước những mùa khô. Họ sẽ không xem khô khan là dấu chấm hết quá nhanh. Họ sẽ học hỏi: Chúa đang mời chúng ta đào sâu chỗ nào? Điều gì cần chữa lành? Điều gì đã bị bỏ quên? Điều gì phải được nói ra? Điều gì phải được tha thứ? Điều gì phải được đặt lại dưới chân Chúa?
Đi về Nước Trời cùng nhau cũng có nghĩa là giúp nhau sống cái chết mỗi ngày đúng cách. Không phải cái chết sinh học trước tiên, mà là cái chết của cái tôi, của ích kỷ, của tự ái, của nhu cầu phải thắng, của thói quen chỉ muốn được hiểu mà không chịu hiểu, chỉ muốn được thương mà không chịu thương, chỉ muốn được nâng mà không chịu nâng người kia. Có những đôi trẻ hỏi bí quyết hôn nhân bền là gì. Có lẽ một phần rất lớn của câu trả lời nằm ở đây: học chết cách đẹp. Chết trong sự sống, không phải trong tuyệt vọng. Chết bớt cho cơn giận muốn thắng. Chết bớt cho nhu cầu luôn đúng. Chết bớt cho thói quen giữ kẽ. Chết bớt cho sự đóng kín. Mỗi lần như thế, tình yêu có chỗ thở hơn. Và mỗi lần như thế, linh hồn cũng nhẹ hơn để bước gần về Nước Trời.
Tuy nhiên, phải nói thật: không ai làm được điều này nếu không cầu nguyện. Không ai tự nhiên đủ thánh để nắm tay người khác đi về trời bằng sức riêng. Có những chặng đường mà ngay cả giữ mình khỏi tuyệt vọng còn khó, nói gì tới việc nâng đỡ người khác. Bởi vậy, đại kết của hôn nhân luôn quay về với Chúa. Hôn nhân chỉ thật sự là con đường về Nước Trời nếu Chúa không bị bỏ lại sau lưng. Nếu Chúa chỉ xuất hiện trong ngày cưới, trong vài dịp lễ lớn, hoặc trong những lúc quá bí mới được gọi tên, thì ngọn đèn cho hành trình sẽ rất yếu. Nhưng nếu Chúa được mời ở giữa, được cho đi vào cả những điều nhỏ, được để chạm vào cách vợ chồng nói với nhau, dùng tiền, dạy con, tha thứ, quyết định, chịu đau và già đi, thì hôn nhân bắt đầu có thứ ánh sáng không phải từ mình.
Có những đôi vợ chồng không nói nhiều về Chúa, nhưng Chúa có mặt trong cách họ sống. Có đôi lại nói rất nhiều, nhưng Chúa dường như không được vâng phục trong những điều thật. Đại kết của hôn nhân không nằm ở lời đạo đức nhiều hay ít, mà ở chỗ giao ước có được sống như một nơi gặp gỡ Thiên Chúa không. Một cái ôm sau làm hòa có thể mang nhiều Thiên Chúa hơn một câu đạo đức nói mà lòng còn đóng. Một giờ làm việc âm thầm để nuôi gia đình trong lương thiện có thể là lời cầu nguyện sống động. Một người phụ nữ chăm chồng bệnh trong đêm không phô trương, một người đàn ông thức với đứa con sốt để vợ được ngủ, những điều ấy đều có thể là những bậc thang lên trời nếu được sống trong tình yêu.
Rồi sẽ có ngày con cái lớn và rời khỏi mái nhà. Rồi sẽ có ngày công việc không còn là trung tâm nữa. Rồi sẽ có ngày nhà bỗng yên hơn, trống hơn, chậm hơn. Và lúc ấy, hai người nhìn lại nhau. Có thể là với nhiều biết ơn. Có thể là với vài nuối tiếc. Có thể là với những nếp nhăn, những vết sẹo, những ký ức đẹp và đau đan vào nhau. Nhưng nếu họ đã thật sự nắm tay nhau đi suốt con đường, thì giữa tất cả những gì đổi thay, vẫn còn một điều không đổi: họ đã không sống vô ích. Họ đã không chỉ tiêu tốn cuộc đời cho những vòng lặp của ăn, mặc, lo, tính. Họ đã không chỉ già đi. Họ đã chín. Họ đã được ân sủng đi qua. Họ đã trở thành một thứ gì đó sâu hơn chính họ của ngày cưới.
Và rồi sẽ đến chặng cuối. Chặng mà ai cũng phải đi một mình theo nghĩa nào đó, vì không ai chết thay ai. Nhưng người sống hôn nhân trong Chúa sẽ bước vào chặng ấy khác. Họ không đi như người chưa từng học trao mình. Họ không đi như người chưa từng chết đi cho cái tôi. Họ không đi như người xa lạ với hy sinh, với tha thứ, với hy vọng. Toàn bộ đời sống hôn nhân, nếu được sống như giao ước, đã âm thầm chuẩn bị họ cho cuộc vượt qua cuối cùng. Đã dạy họ buông. Đã dạy họ tín thác. Đã dạy họ yêu điều bền hơn thân xác. Đã dạy họ rằng thuộc về không có nghĩa là nắm chặt mãi, mà là cùng nhau trao mọi sự về tay Thiên Chúa.
Có một vẻ đẹp rất sâu trong ý nghĩ rằng một đôi vợ chồng thánh thiện không chỉ gặp lại nhau trong ký ức của con cháu, mà còn được gặp nhau trong Chúa theo một cách tinh tuyền hơn, viên mãn hơn, không còn bị giới hạn bởi đau khổ và yếu đuối của đời này. Hôn nhân trần thế không kéo dài theo đúng hình thức trần thế trong cõi đời đời, nhưng tình yêu được thanh luyện trong giao ước, tất cả những gì là thật, là thiện, là thánh trong cuộc hôn nhân ấy, không mất đi. Nó được hoàn tất trong Thiên Chúa. Nghĩ như vậy, hôn nhân bỗng không còn chỉ là chuyện một quãng đời. Nó trở thành sự chuẩn bị cho vĩnh cửu.
Bởi thế, đại kết của toàn bộ hành trình này có lẽ không phải là một lời khuyên cuối cùng, mà là một lời mời gọi rất sâu: đừng sống hôn nhân như thể đây chỉ là chuyện của đời này. Đừng yêu nhau chỉ để sống yên ổn vài chục năm. Đừng xây gia đình chỉ để có chỗ dựa lúc mệt. Đừng giữ nhau chỉ vì sợ cô đơn. Hãy cưới nhau, yêu nhau, chịu đựng nhau, tha thứ cho nhau, cầu nguyện cho nhau, nâng nhau, giữ nhau, sửa nhau, dìu nhau, theo một chiều sâu lớn hơn: để cùng nhau đi về Nước Trời.
Nếu người chồng nhớ điều đó, anh sẽ cẩn thận hơn với linh hồn vợ mình. Anh sẽ không chỉ hỏi làm sao để vợ vui, mà làm sao để vợ mình được lớn lên trong bình an và ân sủng. Nếu người vợ nhớ điều đó, chị sẽ không chỉ hỏi làm sao để chồng đáp ứng những mong đợi của mình, mà làm sao để chồng mình được giữ trong phẩm giá, trong hy vọng và trong ơn gọi làm con Chúa. Nếu cha mẹ nhớ điều đó, họ sẽ không chỉ lo cho con thành công, mà lo cho con biết đường về Nhà Cha. Nếu cả gia đình nhớ điều đó, mái ấm sẽ bớt là nơi của tranh giành và nhiều hơn là nơi của hành hương.
Có lẽ rồi đây, khi ai đó cầm cuốn sách này, họ có thể quên nhiều câu chữ. Nhưng xin chỉ cần nhớ một hình ảnh thôi cũng đủ: hai người nắm tay nhau đi về Nước Trời. Hình ảnh ấy có thể đi qua mọi chương của đời sống hôn nhân.
Khi đang yêu và phân định, hãy hỏi: người này có phải là người tôi có thể nắm tay đi về Nước Trời không.
Khi đứng trước bàn thờ ngày cưới, hãy nhớ: hôm nay chúng ta không chỉ bắt đầu một cuộc sống chung, mà bắt đầu một cuộc hành hương.
Khi cãi nhau, hãy nhớ: người trước mặt mình không phải đối thủ, mà là người cùng mình đi về trời.
Khi mệt vì tiền bạc, con cái, áp lực, hãy nhớ: đừng để những cái nhỏ làm lạc mất đích lớn.
Khi đau bệnh, hãy nhớ: ngay cả lúc yếu nhất, chúng ta vẫn còn có thể nắm tay nhau nếu cùng nắm lấy Chúa.
Khi về già, hãy nhớ: những bước chậm không có nghĩa là hành trình vô ích; có khi chính lúc ấy ta đang ở gần đích hơn bao giờ hết.
Và khi phải tiễn nhau ở chặng cuối, hãy nhớ: giao ước đã sống trong Chúa thì không rơi vào hư vô.
Nếu hiểu như vậy, người ta sẽ không còn xem hôn nhân là một gánh nặng vô nghĩa. Cũng không thần tượng nó như thiên đàng trần thế. Người ta sẽ nhìn nó bằng cái nhìn vừa kính sợ vừa biết ơn. Kính sợ, vì đây là điều thánh. Biết ơn, vì Chúa đã chọn dùng chính con đường rất người này để đưa bao linh hồn đến gần Ngài hơn. Bao người đàn ông đã học làm người hiền hơn nhờ làm chồng. Bao người phụ nữ đã học yêu trưởng thành hơn nhờ làm vợ. Bao cha mẹ đã học hiểu lòng Thiên Chúa hơn nhờ nuôi con. Bao đau khổ đã được biến thành lời cầu nguyện. Bao cái tôi đã được bào mòn. Bao ngôi nhà nhỏ đã trở thành một góc của Nước Trời trên mặt đất.
Và như thế, khép lại toàn bộ tác phẩm này, điều còn đọng lại không nên là áp lực phải sống hôn nhân hoàn hảo. Điều còn đọng lại nên là niềm hy vọng. Hy vọng rằng dù mình còn yếu, hôn nhân vẫn có thể là đường nên thánh. Dù gia đình mình còn nhiều vết nứt, Chúa vẫn có thể làm việc. Dù mình chưa biết hết cách yêu đúng, ân sủng vẫn có thể dạy mình từng ngày. Dù mình đang ở giai đoạn đầu, hay giữa, hay cuối của đời hôn nhân, lời mời gọi vẫn còn đó: hãy nắm tay nhau đi về Nước Trời.
Không phải ngày nào cũng đi nhanh. Không phải ngày nào cũng sáng. Không phải ngày nào cũng thấy rõ đích. Nhưng chỉ cần còn nhớ mình đang đi đâu, còn nhớ mình thuộc về ai, còn nhớ giao ước này được đặt trong tay Đấng nào, thì ngay cả những bước run nhất cũng không vô nghĩa.
Vậy, hỡi những người đang sống ơn gọi hôn nhân, xin đừng nản khi thấy đường dài. Xin đừng hoảng khi thấy mình còn yếu. Xin đừng quên điều lớn vì những điều nhỏ làm mệt. Xin đừng để tiếng ồn của đời thường át mất tiếng gọi ban đầu. Xin đừng chỉ giữ nhau để sống qua ngày. Hãy giữ nhau để cùng sống đời đời.
Hãy yêu nhau sao cho một ngày kia, khi đứng trước mặt Chúa, mỗi người có thể thưa lên trong bình an:
Lạy Chúa, con đã không đi một mình. Con đã cố nắm tay người Chúa trao cho con. Có lúc chúng con yếu, có lúc lạc, có lúc làm đau nhau, có lúc mỏi mệt, có lúc tưởng như không nổi. Nhưng nhờ ơn Chúa, chúng con đã không buông nhau quá nhanh. Và giờ đây, con xin dâng lại cho Chúa tất cả những năm tháng ấy, như một hành trình chúng con đã cố đi về phía Ngài.
Đó chính là đại kết của đời sống hôn nhân Công giáo.
Không chỉ là một cuộc sống chung.
Không chỉ là một mái ấm đẹp.
Không chỉ là một giao ước đáng kính.
Mà là một cuộc hành hương.
Một cuộc hành hương của hai người.
Hai người rất người.
Hai người rất yếu.
Hai người rất cần ơn.
Nhưng đã được mời gọi làm một điều rất lớn:
Nắm tay nhau đi về Nước Trời.
Lm. Anmai, CSsR



