
ĐỨC HỒNG Y PHANXICÔ XAVIÊ NGUYỄN VĂN THUẬN
QUÀ TẶNG THIÊN CHÚA BAN CHO GIÁO HỘI VIỆT NAM
Có những con người bước qua lịch sử không bằng tiếng động lớn, nhưng bằng một thứ ánh sáng bền bỉ. Ánh sáng ấy không làm người ta chói mắt, nhưng làm người ta thôi lạc đường. Ánh sáng ấy không cần phải thắng ai để chứng minh mình mạnh, nhưng chỉ cần ở đó đủ lâu để bóng tối không còn có thể tự nhận mình là vĩnh viễn. Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận là một con người như thế. Khi nhắc đến ngài, người ta không chỉ nhớ đến một vị giám mục, một vị hồng y, một chứng nhân của thời đại, một người tù lương tâm của Giáo hội, hay một gương mặt lớn của Công giáo Việt Nam. Người ta còn nhớ đến một kiểu sống rất hiếm, rất đẹp, rất khó, nhưng lại rất Tin Mừng: giữa bao hận thù mà vẫn sống mến yêu, giữa bao đổ vỡ mà vẫn không đầu hàng tuyệt vọng, giữa cảnh bị tước đoạt mọi phương tiện hoạt động mà vẫn không bị tước mất Chúa, giữa lúc bị nhốt lại trong cô độc mà vẫn không đánh mất trái tim của một mục tử.
Có lẽ đó chính là điều làm cho cuộc đời ngài không chỉ đáng khâm phục, mà còn đáng chiêm ngắm. Bởi vì có những người làm được nhiều việc lớn, nhưng chưa chắc đã dạy được linh hồn người khác. Có những người để lại nhiều công trình, nhưng không chắc để lại được một con đường. Còn Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, điều ngài để lại cho Giáo hội Việt Nam và cho cả Giáo hội hoàn vũ không phải trước hết là một danh tiếng, nhưng là một linh đạo; không phải trước hết là một chỗ đứng trong lịch sử, nhưng là một lối bước trong đức tin; không phải trước hết là một câu chuyện để kể, nhưng là một mẫu gương để sống. Cuộc đời ngài giống như một Tin Mừng được viết lại bằng nước mắt, bằng xiềng xích, bằng những đêm dài cô quạnh, bằng những mẩu giấy nhỏ chuyền tay, bằng Thánh lễ dâng lén trong tù, bằng nụ cười không cay độc, bằng sự tha thứ không lên gân, bằng niềm hy vọng không đến từ lạc quan tự nhiên nhưng đến từ một sự bám chặt vào Chúa đến tận cùng.
Nếu chỉ nhìn bằng đôi mắt thế gian, cuộc đời ấy có thể bị đọc như một chuỗi bi kịch. Một người được trao phó sứ vụ mới thì liền bị bắt. Một mục tử bị tách khỏi đoàn chiên. Một con người bị giam nhiều năm mà không xét xử. Một tâm hồn bị đẩy vào bóng tối của biệt giam. Một giấc mơ mục vụ đang mở ra thì bị chặn đứng. Một tương lai tưởng chừng rộng lớn thì bị thu lại trong bốn bức tường. Nhưng nếu đọc bằng con mắt đức tin, đó lại là một trong những cuộc đời đẹp nhất mà Thiên Chúa đã gửi đến cho Giáo hội Việt Nam như một bài học sống động. Vì chính ở nơi tưởng như bị lấy mất mọi sự, ngài đã khám phá ra điều không ai có thể lấy khỏi một người thuộc trọn về Chúa: hiện tại của ân sủng. Và từ đó, ngài dạy cả một thế hệ tín hữu rằng thánh thiện không hệ tại ở chỗ mình được tự do làm điều mình muốn, nhưng ở chỗ mình tự do hiến dâng ngay trong điều mình không hề chọn.
Nhiều người yêu mến Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận vì ngài hiền lành. Nhiều người cảm phục ngài vì ngài can đảm. Nhiều người xúc động vì ngài bị tù đày. Nhiều người tìm thấy nơi ngài một nguồn an ủi vì ngài nói về hy vọng. Tất cả những điều đó đều đúng. Nhưng sẽ là chưa đủ nếu chỉ dừng lại ở mức cảm phục. Bởi lẽ ngài không được Thiên Chúa ban cho Giáo hội để người ta chỉ đứng xa mà ngước nhìn. Ngài được ban cho Giáo hội để người ta học lấy một cách sống. Học nơi ngài thế nào là yêu Chúa hơn công việc của Chúa. Học nơi ngài thế nào là sống giây phút hiện tại như điểm hẹn duy nhất với ân sủng. Học nơi ngài thế nào là biến nhà tù thành nhà nguyện, biến đau khổ thành của lễ, biến cô đơn thành nơi gặp gỡ Thiên Chúa, biến những kẻ canh giữ mình thành anh em mình phải yêu thương. Học nơi ngài thế nào là không để hận thù quyết định ngôn ngữ của tâm hồn. Học nơi ngài thế nào là ngay cả khi đời mình bị bẻ gãy theo cách mình không muốn, mình vẫn có thể trở thành tấm bánh được bẻ ra cho người khác.
Chính vì thế, viết về ngài không thể chỉ là chép lại tiểu sử. Nếu chỉ kể rằng ngài sinh tại Huế, lớn lên trong một gia đình Công giáo sâu đậm, được đào tạo trong chủng viện, chịu chức linh mục, học giáo luật tại Rôma, rồi phục vụ với tư cách linh mục, giám mục, tổng giám mục phó, người tù, người lưu đày, viên chức giáo triều, chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hòa bình, rồi hồng y, thì vẫn chưa chạm được điều cốt lõi. Bởi vì điều quan trọng nhất nơi một vị thánh tương lai không nằm ở chặng đường bên ngoài, nhưng ở phản ứng bên trong. Cùng một biến cố, có người trở nên cay đắng, có người trở nên khép kín, có người trở nên nghi ngờ Thiên Chúa, có người trở nên yêu mình hơn. Còn nơi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, cùng một biến cố ấy lại làm bùng lên nơi ngài một độ trong suốt lạ lùng. Đau khổ không làm ngài tối đi. Cô độc không làm ngài hẹp lại. Bất công không làm ngài độc dữ. Chậm trễ không làm ngài mất kiên nhẫn với Thiên Chúa. Trái lại, tất cả như làm lộ ra cái lõi vàng của một linh hồn đã được luyện quá kỹ trong cầu nguyện, trong phó thác, trong lòng mến.
Điều này rất quan trọng cho Giáo hội Việt Nam hôm nay. Vì chúng ta đang sống trong một thời mà nhiều người có thể làm việc cho Chúa rất nhiều, nhưng lại thiếu chiều sâu nội tâm. Người ta dễ bị cuốn vào công trình hơn là đi vào tương quan. Người ta dễ đo đời sống đức tin bằng hoạt động hơn là bằng sự thuộc trọn về Chúa. Người ta dễ nghĩ rằng mình hữu ích cho Chúa khi còn làm được nhiều việc, và khi bị cản trở thì tưởng như đời mình vô nghĩa. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận bước vào giữa lối nghĩ ấy như một lời sửa dạy rất mạnh nhưng rất hiền. Ngài nói bằng chính cuộc đời mình rằng điều Thiên Chúa cần nhất không phải là những con người chỉ biết làm việc cho Ngài, nhưng là những con người thuộc về Ngài. Nếu còn làm được nhiều việc mà chưa thật sự thuộc về Chúa, đời sống thiêng liêng vẫn mong manh. Nhưng nếu đã thuộc về Chúa, thì ngay cả khi bị lấy mất mọi phương tiện hoạt động, người ấy vẫn sinh hoa trái. Chính ngài đã sống điều đó. Khi không còn tòa giảng, ngài vẫn rao giảng. Khi không còn giáo phận để điều hành, ngài vẫn chăn dắt. Khi không còn tự do di chuyển, ngài vẫn đi rất xa trong linh hồn người khác. Khi không còn sách vở đầy đủ, ngài vẫn để lại những trang viết nuôi dưỡng biết bao tâm hồn trên khắp thế giới.
Một trong những điểm sáng nhất nơi ngài là thái độ đối với hận thù. Đây không phải là một chi tiết phụ. Đây là một trung tâm của chứng từ Văn Thuận. Sống giữa hận thù mà vẫn mến yêu không phải là một khẩu hiệu đạo đức đẹp tai. Đó là một cuộc tử đạo kéo dài trong nội tâm. Bởi vì ai cũng biết yêu khi được yêu, bình an khi được tôn trọng, dịu dàng khi không bị xúc phạm. Nhưng giữ được trái tim không thù ghét khi mình bị nghi kỵ, bị bôi nhọ, bị giam giữ, bị tước đoạt tương lai, bị vây bủa bởi bất công, đó mới là điều làm lộ ra mức độ tự do thật của linh hồn. Nơi đây, ngài không chỉ là một nạn nhân đáng thương, nhưng là một môn đệ trưởng thành. Ngài không để hoàn cảnh định nghĩa căn tính của mình. Ngài không để những người làm khổ mình quyết định nội dung tâm hồn mình. Ngài không để bóng tối bên ngoài chui vào làm tối nội tâm. Ngài chọn Chúa. Và khi chọn Chúa, ngài chọn yêu. Không phải yêu theo kiểu cảm xúc, nhưng yêu như một quyết định. Yêu như một hành vi trung thành. Yêu như một sự vâng phục Tin Mừng. Yêu vì không muốn để sự dữ có tiếng nói cuối cùng.
Chính tại đây, người ta bắt đầu hiểu vì sao linh đạo của ngài không chỉ là linh đạo hy vọng, mà còn là linh đạo của hiện tại, của phân định, của thuộc về, của Thánh Thể, của Đức Maria, của hiệp thông và của tình yêu tha thứ. Hy vọng nơi ngài không phải là chờ mai này mọi chuyện sẽ khá hơn. Hy vọng nơi ngài không phải là lạc quan tâm lý. Hy vọng nơi ngài trước hết là bám lấy Chúa đang hiện diện trong giây phút này. Không phải ngày mai. Không phải khi hoàn cảnh đổi khác. Không phải khi mình được minh oan. Không phải khi cánh cửa tù mở ra. Nhưng là ngay bây giờ. Chính vì thế, linh đạo của ngài rất hiện sinh theo nghĩa đẹp nhất: Thiên Chúa không chờ ta ở một tương lai lý tưởng; Thiên Chúa gặp ta trong giây phút hiện tại. Và nếu giây phút hiện tại là đau khổ, là bất lực, là cô đơn, là nhục nhã, thì ân sủng không vì thế mà vắng mặt. Ngược lại, nhiều khi chính ở đó ân sủng hiện diện cách tinh ròng hơn.
Khi đọc Năm chiếc bánh và hai con cá, người ta hiểu rằng đây không chỉ là một cuốn sách dễ thương về một vị hồng y nổi tiếng. Đây là bản tóm lược linh đạo của cả một cuộc đời đã bị nghiền nát mà không mất hương thơm. Cuốn sách ấy nổi tiếng nhất trong các tác phẩm của ngài, và ngay cả phần giới thiệu chính thức cũng nhấn mạnh rằng đó không đơn thuần là câu chuyện kể lại những năm tù, nhưng trước hết là chứng từ thiêng liêng về sự hiện diện cụ thể, hằng ngày của lòng thương xót Chúa trong đời ngài. Nói cách khác, nếu ai đọc cuốn sách ấy chỉ để tìm chi tiết ly kỳ của nhà tù, người đó sẽ bỏ lỡ điều cốt lõi. Nhà tù chỉ là bối cảnh. Điều chính yếu là Chúa. Xiềng xích chỉ là khung cảnh. Điều chính yếu là tình yêu. Thiếu thốn chỉ là bề mặt. Điều chính yếu là sự no đầy nội tâm của một người biết chọn Đức Kitô là tất cả.
Hình ảnh “năm chiếc bánh và hai con cá” là một hình ảnh cực kỳ đẹp để đọc cuộc đời ngài. Đó là hình ảnh của sự ít ỏi được trao vào tay Chúa. Đó là hình ảnh của một cuộc đời không có vẻ gì oanh liệt trong mắt thế gian, nhưng khi được phó dâng thì trở nên lương thực cho đám đông. Đó là hình ảnh của cái nhỏ bé, nghèo nàn, bất lực, không đủ, nhưng lại được Thiên Chúa sử dụng cho những điều lớn lao. Và đó cũng là hình ảnh của chính Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận. Có lúc ngài không còn gì ngoài một ít rượu và vài giọt nước để dâng lễ. Có lúc ngài không còn gì ngoài ký ức về Lời Chúa. Có lúc ngài không còn gì ngoài một nụ cười, một lời thăm hỏi, một cử chỉ tử tế với người canh tù. Có lúc ngài không còn gì ngoài quyết định không ghét. Nhưng trong tay Thiên Chúa, những điều nhỏ bé đó lại trở thành bánh cho đoàn dân đói hy vọng. Chính ngài đã trở thành tấm bánh được bẻ ra, không bằng một cái chết tức khắc, nhưng bằng một đời bị bẻ từng ngày mà vẫn ngọt.
Điều lạ lùng là nơi ngài, đau khổ không dẫn đến ám ảnh đau khổ. Ngài không viết để kết án, không nói để đòi trả thù, không kể lại để làm tăng thêm căm phẫn. Phần giới thiệu chính thức về Năm chiếc bánh và hai con cá còn trích lại chính ước muốn của ngài: thay vì kể những chuyện giật gân, tố cáo, kêu gọi trả đũa, điều ngài muốn chuyển trao là sứ điệp của tình yêu, trong bình an và sự thật, trong tha thứ và hòa giải. Chỉ riêng điểm này thôi đã đủ cho thấy tầm vóc thiêng liêng của ngài lớn đến mức nào. Vì người ta có thể chịu đựng đau khổ mà không gục ngã, nhưng để đau khổ không biến mình thành cay đắng thì cần một mức độ kết hợp với Đức Kitô rất sâu. Ngài không chỉ thắng được sự tuyệt vọng. Ngài còn thắng được cám dỗ của oán hờn. Và đó có lẽ là chiến thắng đẹp nhất.
Nói đến các tác phẩm của ngài mà bỏ qua Đường Hy Vọng thì sẽ thiếu một mạch lớn. Vatican mới đây đã nhắc lại nhân dịp kỷ niệm 50 năm xuất bản rằng đây là tập gồm 1.001 suy niệm gởi cho các tín hữu trong những tháng đầu của quãng thời gian tù đày lâu dài, và được xem như “gia sản thiêng liêng” của ngài. Tác phẩm ấy giống như những hạt lúa được giữ lại qua mùa bách hại để nuôi cánh đồng tương lai. Chúng ngắn, nhưng không hề nhỏ. Chúng đơn sơ, nhưng không hề cạn. Chúng giống như những câu rất nhẹ, nhưng bên trong là kinh nghiệm của một linh hồn đã đi qua lửa. Người đọc Đường Hy Vọng có cảm giác như đang nghe một người cha thiêng liêng nói với con cái mình từ nơi xa, không than thân trách phận, không làm mình thành trung tâm, chỉ cố giữ cho ngọn lửa đức tin nơi lòng người khác đừng tắt.
Rồi còn Những lời cầu nguyện của niềm hy vọng, còn những bài linh thao ngài giảng trước Đức Gioan Phaolô II và Giáo triều Rôma, còn những suy niệm, thư mục vụ, những chỉ dẫn mục tử cho linh mục, tu sĩ và giáo dân. Các tài liệu tổng hợp về trước tác của ngài cho thấy rõ: từ Prayers of Hope. Words of Courage, đến Five Loaves and Two Fishes, đến The Journey of Hope in the Light of the Word of God and the Second Vatican Council, rồi Witnesses to Hope, tất cả đều xoay quanh một trục rất rõ: Chúa Kitô, niềm hy vọng, Lời Chúa, Hội Thánh, và sự trưởng thành nội tâm giữa thử thách. Điều này cho thấy ngài không phải là một người viết nhiều vì có cảm hứng nhất thời. Ngài viết từ một dòng sống nội tâm thống nhất. Người viết khác nhau đôi khi để lại những cuốn sách rời rạc. Còn nơi ngài, càng đọc càng thấy mọi tác phẩm quy về một trung tâm: sống với Chúa Giêsu đến mức không gì có thể tách mình ra khỏi Ngài.
Có một điểm nữa làm cho Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đặc biệt gần gũi với tâm hồn người Việt Nam: ngài không sống đức tin như một ý niệm trừu tượng. Đức tin nơi ngài có dáng dấp gia đình, có giọng điệu của người cha, có sự dịu dàng của người mục tử, có nét bền bỉ của một người con Đức Mẹ. Án phong thánh và các hồ sơ của Vatican đều nhấn mạnh rằng trong cảnh tù đày vô nhân đạo, ngài bám vào Lời Chúa và Thánh Thể, kết hiệp thiêng liêng với Đức Maria, nhớ các đoạn Kinh Thánh, nuôi dưỡng lòng đạo đức đơn sơ nhưng rất mạnh. Đây không phải là một chi tiết phụ thuộc vào lòng đạo riêng. Đây là bí quyết sống còn. Một người bị tước mất quá nhiều mà không có Thánh Thể thì dễ tan rã. Một người bị ném vào im lặng mà không có Lời Chúa thì dễ trống rỗng. Một người đi qua đau khổ mà không có Mẹ Maria thì dễ lạnh lòng. Nơi ngài, ta thấy không có sự đối nghịch giữa thần học cao và lòng đạo bình dân. Càng sâu, ngài càng đơn sơ. Càng bị thử lửa, ngài càng bám vào những điều căn bản nhất của đức tin Công giáo: cầu nguyện, Lời Chúa, Thánh Thể, Đức Mẹ, hiệp thông với Hội Thánh.
Có lẽ vì thế mà Đức Bênêđictô XVI đã nhắc trực tiếp đến ngài trong thông điệp Spe Salvi, xem ngài như một chứng nhân của niềm hy vọng lớn không tắt ngay giữa những đêm cô độc. Chính bản dịch tiếng Việt của Vatican nói rất rõ: trong hoàn cảnh gần như tuyệt vọng hoàn toàn, việc ngài có thể lắng nghe và thưa chuyện với Thiên Chúa đã trở thành nơi phát sinh sức mạnh hy vọng, để rồi sau khi ra khỏi tù, ngài trở thành chứng nhân hy vọng cho con người trên toàn thế giới. Điều này không chỉ làm vinh dự cho một người con của Giáo hội Việt Nam. Nó còn cho thấy rằng cuộc đời của ngài đã vượt khỏi biên giới quốc gia để trở thành của chung cho toàn thể Hội Thánh. Khi một vị giáo hoàng đưa một chứng từ vào huấn quyền của mình, điều đó có nghĩa là đời sống ấy đã mang một giá trị giáo huấn cho thời đại.
Và chính đây là câu hỏi lớn mà cuốn sách này muốn đặt ra cho người đọc: chúng ta có thực sự học được gì từ Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận chưa? Hay chúng ta chỉ quý mến ngài trong cảm xúc, còn đời sống thì vẫn đi theo lối cũ? Chúng ta có học được nơi ngài nghệ thuật sống giây phút hiện tại không? Có học được nơi ngài cách yêu Chúa hơn cả thành công mục vụ không? Có học được nơi ngài sự bình an không dựa trên hoàn cảnh không? Có học được nơi ngài lòng tha thứ không đợi người kia xin lỗi không? Có học được nơi ngài sự kết hợp với Thánh Thể đến mức không gì tước mất được Chúa khỏi lòng mình không? Có học được nơi ngài thái độ đối với đau khổ: không tôn thờ đau khổ, không tìm đau khổ, nhưng khi đau khổ đến thì dùng nó như chất liệu để yêu nhiều hơn không?
Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận là quà tặng Thiên Chúa ban cho Giáo hội Việt Nam không phải vì ngài làm cho chúng ta tự hào theo nghĩa dân tộc, nhưng vì ngài chỉ cho chúng ta thấy khuôn mặt đẹp nhất của người môn đệ. Một Giáo hội nhỏ bé nhưng trung tín. Một đức tin bị thử thách nhưng không gãy đổ. Một tâm hồn bị bao vây nhưng không bị chinh phục. Một mục tử bị tách khỏi đoàn chiên nhưng lại nên gần gũi với đoàn chiên hơn qua cầu nguyện và đau khổ hiến dâng. Một người bị cắt đứt khỏi những chương trình mình dự tính mà cuối cùng lại hoàn thành chương trình lớn hơn của Thiên Chúa. Chính ở đây, cuộc đời ngài trở thành lời nhắc cho mọi người chúng ta: Thiên Chúa có thể viết những trang đẹp nhất của đời ta bằng chính những điều ta đã từng xin được cất đi.
Vì vậy, khi bắt đầu đi vào hành trình dài của cuốn sách này, ta không chỉ bước vào cuộc đời của một vị hồng y. Ta bước vào một trường học của đức tin. Ta bước vào ngôi trường của niềm hy vọng. Ta bước vào một xưởng luyện nội tâm, nơi đau khổ không còn là ngõ cụt, nơi mất mát không còn là tiếng nói cuối cùng, nơi nhà tù không chặn được tự do của linh hồn, nơi Thánh Thể vẫn cháy giữa đêm, nơi Đức Mẹ vẫn đứng cạnh người con đau khổ, nơi yêu thương mạnh hơn hận thù, nơi tha thứ mạnh hơn vết thương, nơi hiện tại nhỏ bé lại có thể trở thành cánh cửa mở vào vĩnh cửu.
Và có lẽ, đó là điều đẹp nhất nơi Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận: ngài không chỉ dạy ta ngưỡng mộ một con người phi thường. Ngài dạy ta tin rằng Tin Mừng là thật. Thật đến mức có thể làm cho một người tù trở thành chứng nhân hy vọng cho cả thế giới. Thật đến mức có thể biến một căn phòng biệt giam thành nơi gặp gỡ Thiên Chúa. Thật đến mức có thể giữ cho một trái tim không hóa đá giữa bất công. Thật đến mức có thể làm cho một đời người bị bẻ ra trở thành lương thực cho muôn người.
Đó là lý do vì sao nhắc đến ngài, người ta không chỉ thấy một nhân vật của lịch sử Giáo hội Việt Nam. Người ta thấy một lời mời. Một lời mời hãy sống sâu hơn. Một lời mời hãy cầu nguyện thật hơn. Một lời mời hãy yêu mến Thánh Thể hơn. Một lời mời hãy thôi nuôi dưỡng cay đắng. Một lời mời hãy trở về với hiện tại là nơi Chúa đang đợi. Một lời mời hãy để đời mình, dù nghèo nàn như năm chiếc bánh và hai con cá, được đặt vào tay Chúa. Bởi vì trong tay Người, cái ít ỏi của ta sẽ không còn là cái ít ỏi tuyệt vọng nữa. Nó sẽ trở thành quà tặng. Nó sẽ trở thành phép lạ. Nó sẽ trở thành sự sống cho người khác.
Và như thế, viết về Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận không phải là dựng tượng đài cho một con người, nhưng là mở ra một con đường để những tâm hồn hôm nay bước vào. Con đường ấy tên là hy vọng. Con đường ấy tên là hiện tại. Con đường ấy tên là Thánh Thể. Con đường ấy tên là tha thứ. Con đường ấy tên là thuộc trọn về Chúa. Con đường ấy, ngài đã đi. Và bằng chính cuộc đời mình, ngài vẫn đang mời chúng ta đi theo.
PHẦN I: TUỔI THƠ, GIA ĐÌNH, ƠN GỌI VÀ NHỮNG NỀN MÓNG ĐẦU ĐỜI CỦA ĐỨC HỒNG Y NGUYỄN VĂN THUẬN
Có những con người mà càng nhìn về những năm tháng đầu đời, người ta càng hiểu vì sao về sau họ có thể đứng vững giữa những phong ba lớn lao của lịch sử. Không phải vì họ được sinh ra để đương nhiên trở thành phi thường. Không phải vì con đường của họ từ đầu đã được trải bằng bình an, dễ dàng và chắc chắn. Nhưng bởi vì ở nơi kín đáo nhất của tuổi thơ, nơi nếp nhà âm thầm nhất của gia đình, nơi những bài học đầu tiên chưa thành lời của một người mẹ, nơi sự nghiêm trang mà dịu hiền của người cha, nơi tiếng kinh tối được đọc lên trong căn nhà không lớn, nơi thói quen cúi đầu trước Thánh Giá, nơi những hy sinh lặng lẽ không ai ghi chép, nơi những nước mắt không muốn làm phiền người khác, nơi sự trung thành nhỏ bé nhưng đều đặn với Chúa từng ngày, một linh hồn đã được chuẩn bị. Chuẩn bị không phải để được thành công theo kiểu thế gian, nhưng để thuộc về Thiên Chúa. Chuẩn bị không phải để chiếm một chỗ đứng lớn trước mặt người đời, nhưng để khi giờ thử thách đến, người ấy không đánh rơi điều cốt lõi. Và mỗi lần chiêm ngắm cuộc đời Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, ta lại thấy thật rõ rằng những năm tháng về sau của ngài, những năm tháng nhà tù, những năm tháng phục vụ Hội Thánh hoàn vũ, những trang sách làm ấm bao tâm hồn, những lời chứng về hy vọng đã làm xúc động cả thế giới, tất cả không phải tự nhiên mà có. Chúng có cội rễ. Chúng có một nền đất. Chúng có một khởi đầu rất sâu. Và khởi đầu ấy nằm ở tuổi thơ, ở gia đình, ở ơn gọi, ở những nền móng đầu đời mà Thiên Chúa đã âm thầm xây dựng nơi ngài từ rất sớm.
Người ta thường thích nhìn vào những chặng nổi bật của một cuộc đời: ngày được trao một sứ vụ lớn, ngày bước vào nhà tù, ngày được vinh danh, ngày được cả thế giới biết đến. Nhưng Thiên Chúa lại thường làm việc rất khác. Ngài không bắt đầu từ những sân khấu lớn. Ngài bắt đầu từ những điều âm thầm. Một đứa trẻ được dạy làm dấu Thánh Giá cho sốt sắng. Một cậu bé được nghe kể về các chứng nhân đức tin. Một tâm hồn nhỏ được dạy sống ngay thẳng, yêu Chúa, thương người, biết cầu nguyện, biết chịu đựng, biết hy sinh. Những điều đó xem ra nhỏ. Nhưng chính những điều nhỏ ấy lại là những viên đá đầu tiên của một tòa nhà thiêng liêng rất lớn. Khi còn bé, chẳng ai biết cậu bé ấy sau này sẽ trở thành một trong những chứng nhân sáng ngời nhất của niềm hy vọng trong thời đại. Chẳng ai có thể đọc hết tương lai. Nhưng Thiên Chúa đọc được. Và Ngài chuẩn bị.
Tuổi thơ của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận không thể tách khỏi gia đình, bởi vì gia đình chính là chiếc nôi đầu tiên của đức tin nơi ngài. Có những người đến với đức tin bằng một biến cố lớn khi đã trưởng thành. Có những người đi rất xa rồi mới quay về. Có những người chỉ thật sự gặp Chúa sau khi đi qua nhiều đổ vỡ. Điều đó cũng đẹp. Điều đó cũng là ân sủng. Nhưng nơi ngài, có một vẻ đẹp khác: đức tin được gieo từ sớm như hạt giống trong đất tốt. Và ai hiểu được giá trị của những hạt giống đầu tiên ấy sẽ hiểu rằng đức tin không chỉ được truyền bằng giáo trình, bằng bài giảng, bằng sách vở, nhưng trước hết bằng bầu khí. Một đứa trẻ lớn lên trong một gia đình tin Chúa thật không phải chỉ vì gia đình ấy dạy nhiều điều về Chúa, nhưng vì chính nếp sống của gia đình ấy làm cho Thiên Chúa trở thành Đấng hiện diện. Chúa không phải một ý niệm treo trên tường. Chúa ở trong cách người ta sống với nhau, cách người ta nói, cách người ta chịu đựng, cách người ta hy sinh, cách người ta đối diện với bất công, cách người ta giữ lòng mình không độc dữ trước thử thách.
Và gia đình của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận là một gia đình mang trong mình dấu ấn sâu đậm của lịch sử, của đức tin, của lòng trung thành với Giáo hội và với quê hương. Những nền móng ấy không chỉ là chuyện thuộc về gia phả hay truyền thống. Chúng là ký ức sống động, là di sản tinh thần, là một thứ máu thiêng liêng chảy trong tâm hồn. Có những gia đình truyền cho con cháu khát vọng thành đạt. Có những gia đình truyền cho con cháu sự khôn ngoan để tồn tại. Có những gia đình truyền cho con cháu tính toán, đề phòng, thậm chí cả một nỗi sợ âm thầm trước cuộc đời. Còn có những gia đình truyền cho con cháu một thứ lớn hơn nhiều: lòng tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa, sự kính trọng đối với Hội Thánh, sự can đảm sống ngay cả khi phải trả giá. Một khi một đứa trẻ được lớn lên trong bầu khí như thế, đứa trẻ ấy không chỉ học đạo. Nó thở đức tin. Nó không chỉ nghe về hy sinh. Nó nhìn thấy hy sinh. Nó không chỉ được bảo phải yêu thương. Nó cảm nhận rằng tình yêu có thể là một chọn lựa đòi phải chịu thiệt. Nó không chỉ biết rằng cầu nguyện là điều nên làm. Nó thấy cầu nguyện là nhịp đập của gia đình.
Trong những năm tháng đầu đời, điều quan trọng không phải là một đứa trẻ hiểu được bao nhiêu giáo lý cao siêu. Điều quan trọng là trái tim của nó được uốn theo hình dạng nào. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận lớn lên trong một môi trường đã dạy cho ngài một kiểu sống rất nền tảng: kính sợ Chúa, quý trọng đời sống nội tâm, biết nhìn những biến cố bằng con mắt đức tin, biết xem đau khổ không phải là cái gì lập tức phải nguyền rủa, nhưng có thể là nơi mình gặp ý Chúa. Những điều đó về sau sẽ trở thành xương sống trong linh đạo của ngài, nhưng thật ra chúng đã có mầm từ rất sớm. Không ai một sáng thức dậy mà tự nhiên có thể tha thứ cho những người làm hại mình. Không ai tự nhiên có thể sống hy vọng giữa cảnh tuyệt vọng nếu cả đời trước đó chỉ quen sống dựa vào thuận lợi. Không ai tự nhiên có thể biến hiện tại thành nơi gặp Chúa nếu trước đó mình chưa từng được tập sống với Chúa trong những điều bé nhỏ. Những năm tháng tuổi thơ chính là nơi ngài đã được tập luyện âm thầm cho tất cả những điều về sau.
Người ta thường nghĩ tuổi thơ là phần mở đầu mềm mại, còn những chương quyết định của đời người nằm ở tuổi trưởng thành. Nhưng với những linh hồn thuộc về Chúa, tuổi thơ không chỉ là đoạn dạo đầu. Nó là nơi bản nhạc đã bắt đầu định hình. Tất nhiên, sau này còn bao nhiêu chọn lựa, bao nhiêu chiến đấu, bao nhiêu can đảm cá vị. Thiên Chúa không thay phần tự do của con người. Nhưng nền đất ban đầu quan trọng biết bao. Hạt giống rơi trên đá khó mà bén rễ sâu. Hạt giống rơi giữa gai dễ bị nghẹt thở. Còn hạt giống rơi vào đất được chuẩn bị, dù có đi qua nắng hạn hay bão tố, vẫn còn cơ hội lớn để lớn lên. Nơi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, tuổi thơ của ngài là một cánh đồng được cày xới bởi đức tin của gia đình, được tưới bởi lời cầu nguyện, được giữ gìn bởi lòng đạo đức và được bảo vệ bởi một bầu khí sống trước mặt Chúa.
Phải nói rất thật rằng một trong những vẻ đẹp lớn nhất nơi gia đình Công giáo là khả năng gieo vào lòng con cái những điều mà chính chúng chưa hiểu hết, nhưng sẽ cứu chúng trong tương lai. Khi người mẹ dạy con lần chuỗi Mân Côi, đứa trẻ có thể chưa hiểu sâu ý nghĩa của từng mầu nhiệm, nhưng có thể nhiều năm sau, giữa một đêm tối của linh hồn, chính tràng chuỗi ấy sẽ giữ cho nó khỏi ngã quỵ. Khi người cha dạy con sống ngay thẳng, lúc đó đứa trẻ có thể nghĩ đó chỉ là một đòi hỏi luân lý, nhưng nhiều năm sau, giữa những lựa chọn có thể cứu mình bằng gian dối, chính nền nếp ấy sẽ giữ cho nó trung thành. Khi gia đình dạy con đừng than trách Chúa quá sớm trước đau khổ, đứa trẻ có thể chưa thấm, nhưng một ngày kia khi đau khổ thật sự ập đến, ký ức ấy sẽ trở thành phao cứu sinh. Chính ở bình diện này, ta hiểu gia đình đã là đại chủng viện đầu tiên của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận. Chưa cần áo dòng. Chưa cần chức vụ. Chưa cần những năm học thần học. Gia đình đã là nơi ngài học cách tin, cách yêu, cách chịu đựng, cách ngẩng lên nhìn Trời khi đất dưới chân không còn vững.
Một trong những nét làm cho cuộc đời ngài đẹp là sự hòa quyện giữa chiều sâu nội tâm và sự dịu dàng nhân bản. Có những người đạo đức nhưng khô cứng. Có những người giữ luật nhưng thiếu hơi ấm. Có những người nói nhiều về Chúa nhưng khó sống chung. Nơi ngài, về sau người ta nhận ra một thứ ấm áp rất thật, một lối gần người, một nụ cười không giả tạo, một sự thanh thoát không hề cay nghiệt. Những nét đó không thể chỉ được tạo thành bởi sách vở. Chúng phải được nuôi lớn từ một nền giáo dục nhân bản trong gia đình. Nơi một mái ấm có cầu nguyện thật, người ta không chỉ học hướng về Chúa, nhưng còn học cách đối xử với nhau trong Chúa. Học cách nhường nhịn. Học cách không lấy mình làm trung tâm. Học cách chịu đựng những giới hạn của nhau mà không kết án nhau quá sớm. Học cách giữ bầu khí bình an. Học cách kính trọng người lớn, thương người yếu hơn, biết ơn những gì mình nhận được. Chính những điều này về sau sẽ làm cho một mục tử không biến thành một nhà quản trị lạnh lùng. Chính những điều này sẽ làm cho một con người trong đau khổ vẫn không đánh mất vẻ dịu dàng.
Người ta có thể tưởng rằng các vị thánh hay những chứng nhân lớn của Giáo hội là những người từ nhỏ đã tách biệt khỏi đời thường như một thế giới khác. Nhưng thật ra, vẻ đẹp của họ thường nằm ở chỗ họ đi qua đời thường rất sâu. Họ biết mùi vị của gia đình, biết hơi ấm của tình thân, biết niềm vui giản dị, biết những nhọc nhằn của đời sống con người, nên khi thuộc về Chúa họ không trở nên xa lạ với con người. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận cũng thế. Càng đi sâu vào cuộc đời ngài, người ta càng thấy nơi ngài không có sự đạo đức gượng ép, không có vẻ thiêng liêng xa cách, nhưng là một nhân tính đã được ân sủng thanh luyện. Và nếu muốn hiểu điều ấy, phải trở về với những năm tháng đầu đời. Thiên Chúa không xây các khí cụ của Ngài bằng cách bỏ qua nhân tính. Ngài đi xuyên qua nhân tính. Ngài thánh hóa ký ức, thánh hóa gia đình, thánh hóa tuổi thơ, thánh hóa những nền giáo dục đầu tiên, để từ đó làm nên một con người vừa rất người vừa rất Chúa.
Ơn gọi của ngài cũng không thể được đọc như một quyết định tách rời khỏi tất cả những nền móng ấy. Một ơn gọi linh mục, nếu là ơn gọi thật, không bao giờ chỉ là kết quả của sở thích cá nhân, của sự ngưỡng mộ một hình ảnh nào đó, hay của một lựa chọn nghề nghiệp trong lãnh vực tôn giáo. Ơn gọi là một tiếng gọi. Nhưng tiếng gọi ấy thường được nghe thấy rõ hơn nơi những tâm hồn đã được chuẩn bị để lắng nghe. Thiên Chúa gọi trong thinh lặng, trong những chuyển động rất nhẹ, trong những ước ao chưa rõ hình, trong những rung động khó cắt nghĩa, trong một nỗi bị thu hút về phía Chúa mà người ta không tự tạo ra được. Nếu tâm hồn quá ồn, tiếng gọi ấy dễ bị bỏ lỡ. Nếu tâm hồn quá đầy mình, tiếng gọi ấy dễ bị giải thích sai. Nếu từ nhỏ một đứa trẻ chưa từng được dạy rằng đời mình là của Chúa trước khi là của mình, nó sẽ khó hiểu rằng có một lời gọi sâu hơn mọi dự án cá nhân. Bởi thế, không lạ gì khi nơi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, ơn gọi nảy mầm trên một nền gia đình và đức tin rất vững.
Nhưng nói như thế không có nghĩa là con đường ơn gọi luôn là đường thẳng. Không ai lớn lên mà không có những phân vân, những lần phải chọn, những lúc phải từ bỏ những ước mơ rất người. Chính ở đây vẻ đẹp của ơn gọi lại sáng lên. Ơn gọi không cướp mất con người. Ơn gọi làm cho con người trở thành chính mình trong kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa. Khi một người trẻ đáp lại tiếng Chúa, không phải là họ từ bỏ hạnh phúc để ôm lấy một gánh nặng tôn giáo; đúng hơn, họ chấp nhận để Thiên Chúa dạy họ hạnh phúc thật là gì. Và nơi cậu bé, rồi chàng thanh niên Nguyễn Văn Thuận, có thể hình dung rằng hạt giống ấy lớn lên không phải trong một bầu khí nôn nóng chứng tỏ bản thân, nhưng trong lòng kính mến Chúa và Hội Thánh. Người ta không bước vào đời linh mục để trở thành “ai đó” trước mặt người đời. Người ta bước vào vì bị Đức Kitô chạm tới và bị cuốn hút vào tình yêu của Người. Càng đọc cuộc đời ngài, càng thấy điều này đúng: về sau ngài làm được nhiều điều lớn lao, nhưng chiều sâu nhất của ngài không hệ tại ở chỗ ngài đã nắm giữ những vai trò quan trọng nào, mà ở chỗ ngài đã thuộc về Ai.
Những nền móng đầu đời còn được nhìn thấy ở một điểm rất đặc trưng nơi ngài: sự kết hợp giữa trí tuệ và cầu nguyện. Có những người học giỏi nhưng đời sống nội tâm mỏng. Có những người sốt sắng nhưng thiếu chiều sâu tư tưởng. Nơi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, về sau ta thấy một sự quân bình đẹp: ngài có khả năng suy tư, viết lách, giảng dạy, trình bày đức tin cách sáng rõ; nhưng tất cả không bao giờ trôi xa khỏi cầu nguyện và đời sống thiêng liêng. Điều này không tự nhiên mà có. Nó thường được thai nghén từ những năm đầu: khi một người trẻ được dạy phải học hành nghiêm túc, nhưng đồng thời cũng được dạy rằng kiến thức không cứu được linh hồn nếu không đi cùng sự thật và thánh thiện. Rất có thể ngay từ sớm, ngài đã được hình thành trong một bầu khí quý trọng việc học, nhưng không thần tượng hóa tri thức; quý trọng sự thành đạt, nhưng không để thành đạt trở thành thần tượng; quý trọng kỷ luật, nhưng không đánh mất trái tim. Những điều ấy rất quan trọng, vì Giáo hội không cần những người chỉ thông minh, cũng không cần những người chỉ nhiệt thành. Giáo hội cần những con người có đầu gối quỳ được và trí óc suy nghĩ được. Nơi ngài, về sau, hai điều ấy gặp nhau cách rất đẹp.
Nếu phải tìm một từ để gọi tên những năm tháng đầu đời ấy, có lẽ đó là chữ “được chuẩn bị”. Không ồn ào. Không vội vã. Không phô trương. Nhưng rất thật. Thiên Chúa chuẩn bị các dụng cụ của Ngài trong thời gian. Con người thì thường nóng lòng. Chúng ta muốn kết quả sớm. Chúng ta muốn thấy ngay tương lai. Chúng ta muốn biết một tuổi thơ “có ích gì” cho một sứ mạng mai sau. Nhưng Thiên Chúa kiên nhẫn. Ngài để một đứa trẻ lớn lên trong nề nếp gia đình. Ngài để nó học những bài học có vẻ nhỏ. Ngài để nó ngấm dần lòng yêu mến Chúa. Ngài để nó tập cầu nguyện. Ngài để nó học vâng phục, chịu đựng, đơn sơ, quảng đại. Rồi nhiều năm sau, khi cơn bão thật sự tới, tất cả những điều tưởng như nhỏ bé ấy bất ngờ hiện nguyên hình là những cột trụ lớn. Có thể chính người mang chúng cũng không biết hết. Có những người chỉ đến khi mất hết mới nhận ra điều sâu nhất mà gia đình và tuổi thơ đã trao cho mình. Có lẽ trong những năm tù, nhiều lần Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đã sống bằng chính những hạt giống được gieo từ thuở rất sớm ấy: những lời kinh thuộc lòng, những ký ức đạo đức gia đình, sự xác tín rằng Chúa không bỏ rơi, lòng mến Đức Mẹ, sự tập quen với đời sống nội tâm.
Gia đình còn là nơi một người học về tình yêu không như cảm xúc nhất thời nhưng như sự trung thành. Điều này vô cùng quan trọng để hiểu cuộc đời ngài. Bởi vì về sau, linh đạo của ngài không phải linh đạo của bốc cháy nhất thời, nhưng là linh đạo của bền đỗ. Ngài không nổi bật trước hết vì có những phút ngời sáng cảm xúc, nhưng vì có khả năng ở lại với Chúa trong một hành trình dài, rất dài, dài đến mức con người bình thường dễ cạn. Mà sự bền đỗ ấy thường được học từ trong gia đình: nhìn cha mẹ sống với nhau qua những ngày không dễ, nhìn những người lớn chu toàn bổn phận mà không cần ai khen, nhìn họ giữ đạo không phải vì hứng thú nhất thời nhưng vì xác tín. Từ đó, một đứa trẻ học được rằng điều quý nhất không phải luôn là điều làm mình hưng phấn nhất, nhưng là điều mình trung tín nhất. Sau này, chính sự trung tín ấy sẽ biến một vị giám mục bị giam cầm thành một chứng nhân của hy vọng. Vì hy vọng không sống được bằng cảm xúc. Hy vọng sống được bằng trung thành.
Một điểm khác cần chiêm ngắm nơi tuổi thơ và gia đình của ngài là khả năng tiếp nhận đau khổ mà không đánh mất phẩm giá. Mỗi gia đình đều có những khó khăn riêng, những giới hạn, những gánh nặng lịch sử, những nỗi đau không gọi thành tên. Nhưng có những gia đình đi qua đau khổ bằng cách để đau khổ làm họ biến dạng, và cũng có những gia đình đi qua đau khổ bằng cách để đau khổ dạy họ bám vào Chúa hơn. Một đứa trẻ lớn lên trong gia đình kiểu thứ hai sẽ mang theo trong mình một thái độ rất quan trọng: không ngạc nhiên quá mức khi cuộc đời có thử thách, không xem đau khổ là bằng chứng Thiên Chúa vắng mặt, và không lập tức để cay đắng trở thành phản xạ đầu tiên. Điều này nơi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận không chỉ là một nét tính cách. Nó là một vốn liếng thiêng liêng. Nhờ đó, về sau khi phải đi vào bóng tối của tù ngục, ngài không bị sụp đổ hoàn toàn vì một niềm tin non nớt. Ngài đau, chứ không phải không đau. Ngài cô đơn, chứ không phải không cô đơn. Ngài bị thử thách, chứ không phải ngài bằng đá. Nhưng giữa tất cả, ngài vẫn có một tầng sâu không tan vỡ. Tầng sâu ấy đã được đào từ trước, rất lâu trước khi nhà tù khép cửa.
Người ta cũng có thể tin rằng từ những năm đầu đời, ngài đã học được một bài học rất quan trọng: đời sống đức tin không tách khỏi đời sống Hội Thánh. Có những người sống đạo theo kiểu cá nhân, tin Chúa nhưng không thật sự yêu Hội Thánh, hoặc chỉ yêu Hội Thánh khi Hội Thánh thuận theo cảm xúc và kỳ vọng của mình. Còn một linh hồn được lớn lên trong bầu khí Công giáo sâu đậm sẽ hiểu rằng yêu Chúa thì cũng phải yêu Hội Thánh của Ngài, dù Hội Thánh có lúc nghèo nàn, có lúc bị thương, có lúc phải đi qua thử thách lịch sử. Tình yêu ấy không mù quáng, nhưng là một sự thuộc về. Và điều này về sau rất rõ nơi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận. Dù đi qua bao đổ vỡ, ngài không trở thành con người chỉ lo cho nỗi đau cá nhân. Trái tim mục tử nơi ngài luôn gắn với Hội Thánh, với dân Chúa, với sứ mạng chung. Chỉ một người đã được nuôi lớn trong cảm thức Hội Thánh từ sớm mới có thể mang trong mình sự hiệp thông ấy một cách bền vững như vậy.
Ơn gọi linh mục của ngài, rồi con đường được đào tạo, không phải là việc một người rời gia đình để bước vào một thế giới xa lạ, nhưng là sự nở hoa của những gì gia đình đã âm thầm gieo. Gia đình trao hạt giống, chủng viện vun tưới, Hội Thánh phân định, ân sủng làm lớn lên. Và chính nơi đây, ta nhìn thấy một nét rất đẹp trong chương trình của Thiên Chúa: Ngài không khinh thường điều nhỏ bé. Ngài dùng điều nhỏ bé để chuẩn bị điều lớn lao. Một bữa kinh tối, một lời dạy hiền từ, một sự sửa dạy đúng lúc, một mẫu gương chịu đựng, một lòng kính mến Đức Mẹ, một sự trung thành với bí tích, một thói quen đọc Kinh Thánh, một đời sống gia đình giữ lấy Chúa như trung tâm, tất cả dường như chẳng có gì “vĩ đại” theo mắt người đời. Nhưng Thiên Chúa đã dùng chính những điều đó để xây nên một linh hồn sẽ nâng đỡ biết bao linh hồn khác.
Càng suy niệm, người ta càng thấy tuổi thơ của các chứng nhân lớn không bao giờ là chuyện phụ lục. Đó là vùng đất thánh đầu tiên của đời họ. Chính ở đó, những trực giác thiêng liêng đầu tiên được đánh thức. Chính ở đó, lòng đạo đức đầu tiên được hình thành. Chính ở đó, người ta bắt đầu học cách nhìn Thiên Chúa không như một khái niệm, nhưng như một Đấng có mặt trong đời thường. Nếu một đứa trẻ được lớn lên trong bầu khí ấy, nó sẽ không dễ bị ảo tưởng rằng Chúa chỉ hiện diện trong những khoảnh khắc long trọng. Nó sẽ biết Chúa ở trong căn bếp, trong giờ cơm, trong lời xin lỗi, trong sự nhường nhịn, trong giọt nước mắt âm thầm, trong một đêm mất ngủ vì lo cho nhau, trong một kinh Kính Mừng đọc lên khi lòng rối bời, trong bàn tay của mẹ đặt lên đầu con, trong lời nhắc phải sống thật. Có lẽ chính vì được biết Chúa như thế từ sớm mà về sau Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận có thể gặp Chúa ở mọi nơi, kể cả trong tù. Ai chỉ quen gặp Chúa ở nơi tiện nghi, người ấy sẽ khó gặp Chúa trong khổ đau. Ai đã quen với Chúa từ trong những điều nhỏ, người ấy sẽ tìm thấy Chúa cả ở nơi tưởng như hoàn toàn vắng bóng Ngài.
Một điều rất đẹp khác nơi những nền móng đầu đời của ngài là mối liên hệ với Đức Maria. Trong truyền thống Công giáo Việt Nam, lòng yêu mến Đức Mẹ không chỉ là một việc đạo đức thêm vào, nhưng là hơi thở của nhiều gia đình. Người mẹ dạy con lần hạt, dạy con chạy đến với Mẹ trong lúc khổ, dạy con phó thác, dạy con giữ lòng sạch, dạy con sống khiêm nhường. Một linh hồn được lớn lên trong vòng tay thiêng liêng ấy thường có một độ mềm nội tâm rất đặc biệt. Không yếu đuối, nhưng mềm trước ân sủng. Không sến sentimental, nhưng biết cậy dựa như con thơ. Về sau, nơi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, lòng yêu mến Đức Mẹ là một dòng rất rõ. Nhưng mọi con sông đều có nguồn. Và rất có thể, nguồn ấy đã được khơi ngay từ những năm tháng đầu, khi ngài còn là một đứa trẻ học tin cậy, học phó thác, học giữ mình trong sự hiện diện mẫu tử của Mẹ.
Rồi đến một lúc, tuổi thơ dần mở ra thành hành trình trưởng thành, gia đình dần trao ngài cho Hội Thánh, và những bước chân ơn gọi bắt đầu rõ nét hơn. Nhưng trước khi nhìn đến những chặng đường ấy, ta cần dừng lại thật lâu trước sự âm thầm của khởi đầu. Vì chính sự âm thầm đó chứa đựng một bài học rất lớn cho người trẻ hôm nay, cho các gia đình hôm nay, cho Giáo hội hôm nay. Chúng ta đang sống trong một thời đại thích những gì nhanh, mạnh, nổi, rõ, dễ đo đếm. Người ta sốt ruột với những việc âm thầm. Người ta muốn thấy thành quả hơn là vun nền. Người ta muốn con cái nổi bật hơn là nên người. Người ta muốn nói đến ơn gọi như một lựa chọn rực rỡ hơn là một quá trình được chuẩn bị lâu dài trong đức tin. Nhưng cuộc đời Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận nhẹ nhàng sửa lại tất cả. Ngài nhắc chúng ta rằng những gì bền vững nhất thường được chuẩn bị lặng lẽ nhất. Một chứng nhân lớn không phải được tạo nên bởi ánh đèn, mà bởi những trung thành nhỏ bé lặp đi lặp lại trong nhiều năm. Một mục tử thánh thiện không bắt đầu từ lúc đặt tay truyền chức, mà từ khi còn là một cậu bé biết cúi đầu trước Chúa. Một linh hồn có thể tha thứ trong đau khổ không bắt đầu từ ngày bị xúc phạm, mà từ thuở rất nhỏ đã được dạy đừng để bóng tối cư ngụ trong lòng.
Nếu hôm nay Giáo hội Việt Nam yêu mến Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, nếu nhiều người trẻ cảm phục ngài, nếu nhiều linh mục, tu sĩ, giáo dân tìm nơi ngài nguồn khích lệ, thì điều ấy không chỉ để chúng ta kể lại một câu chuyện đẹp. Điều ấy còn để chúng ta nhìn lại chính mình. Các gia đình Công giáo hôm nay đang trao cho con cái mình điều gì? Chúng đang gieo vào lòng con trẻ khát vọng gì? Chỉ là phải học giỏi, phải thành công, phải có chỗ đứng, phải hơn người khác? Hay còn là phải sống thật, phải biết quỳ gối, phải yêu Thánh lễ, phải giữ lòng trong sạch, phải biết cầu nguyện, phải học hy sinh, phải biết tha thứ, phải biết kính trọng sự thật, phải nhớ rằng đời mình là quà tặng của Thiên Chúa? Một ngày kia, chúng ta có thể đau buồn vì con cái yếu đức tin, chóng ngã lòng, sống hời hợt, không nghe được tiếng gọi của Chúa, không trung thành trong thử thách. Nhưng nhiều khi, lời giải bắt đầu từ những nền móng đã không được xây. Cuộc đời Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đứng đó như một lời nhắc hiền từ nhưng rất mạnh: nếu muốn có những chứng nhân lớn, hãy bắt đầu từ những mái ấm biết sống với Chúa thật.
Và vì thế, khi khép lại phần suy niệm này về tuổi thơ, gia đình, ơn gọi và những nền móng đầu đời của ngài, điều đọng lại không chỉ là lòng quý mến một nhân vật lớn của Giáo hội Việt Nam. Điều đọng lại là một xác tín rất ấm và rất mạnh: Thiên Chúa bắt đầu những công trình vĩ đại của Ngài trong âm thầm. Ngài chuẩn bị một vị mục tử qua bàn tay của một người mẹ. Ngài rèn một chứng nhân qua nếp sống của một gia đình. Ngài gieo một linh đạo hy vọng trong trái tim của một đứa trẻ qua những kinh nguyện đơn sơ. Ngài chuẩn bị cho một con người có thể yêu giữa hận thù bằng cách cho con người ấy lớn lên trong một bầu khí biết yêu thật. Ngài dạy một người sau này có thể sống trọn giây phút hiện tại bằng cách cho người ấy học gặp Chúa từ những giây phút rất nhỏ đầu đời.
Đó là vẻ đẹp của những nền móng đầu đời nơi Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Chúng không ồn ào, nhưng bền. Không chói sáng, nhưng sâu. Không làm người ta sửng sốt ngay, nhưng về sau giải thích được rất nhiều điều. Chính từ những nền móng ấy, một cuộc đời sẽ lớn lên. Một đời linh mục sẽ được định hình. Một trái tim mục tử sẽ được tôi luyện. Một linh hồn của hy vọng sẽ được chuẩn bị. Và rồi, khi giờ thử thách lớn của lịch sử đến, khi đêm tối trùm xuống, khi những gì bên ngoài bị lấy đi gần như hết, thì những điều được gieo từ thuở đầu đời ấy sẽ vẫn còn. Vẫn còn như một ngọn lửa không ai dập tắt được. Vẫn còn như một dòng nước ngầm giữ cho linh hồn khỏi khô cạn. Vẫn còn như một ký ức thiêng liêng nhắc người ta rằng mình thuộc về Chúa. Vẫn còn như tiếng nói của gia đình, của Hội Thánh, của Đức Mẹ, của những bài học đầu tiên, của chính Thiên Chúa đã bắt đầu công việc nơi mình và sẽ không bỏ dở.
Và đó cũng là hy vọng cho chúng ta. Vì nếu Thiên Chúa đã có thể dùng những nền móng âm thầm ấy để làm nên một Nguyễn Văn Thuận, thì hôm nay Ngài vẫn còn có thể làm những điều rất lớn từ những gì thế gian coi là nhỏ bé: một gia đình biết cầu nguyện, một người mẹ biết dạy con yêu Chúa, một người cha biết sống công chính, một người trẻ biết lắng nghe tiếng gọi, một tâm hồn biết giữ mình trong hiện diện của Chúa, một đứa trẻ được dạy rằng yêu thương mạnh hơn hận thù và trung thành quý hơn thành công. Những điều ấy xem ra nhỏ. Nhưng Nước Trời vẫn luôn bắt đầu từ những điều nhỏ như thế. Và lịch sử của các thánh, của các chứng nhân, của những quà tặng Thiên Chúa gửi đến cho Hội Thánh, vẫn luôn là bằng chứng cho điều đó.
Ở một nghĩa rất đẹp, tuổi thơ của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận không chỉ thuộc về riêng ngài nữa. Nó đã trở thành một bài học cho mọi gia đình Công giáo. Gia đình không phải chỉ là nơi nuôi một đứa trẻ lớn lên về thân xác. Gia đình là nơi chuẩn bị một linh hồn cho Thiên Chúa. Gia đình không chỉ là nơi bảo vệ con khỏi thế gian. Gia đình là nơi dạy con sống trong thế gian mà vẫn thuộc về Chúa. Gia đình không chỉ là nơi trao cho con tri thức để tồn tại. Gia đình là nơi trao cho con đức tin để đứng vững. Và từ một tuổi thơ được ươm trong ân sủng như thế, Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đã lớn lên, bước vào ơn gọi, bước vào hành trình của một người hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, để rồi một ngày kia, chính ngài lại trở thành quà tặng cho cả Giáo hội Việt Nam và cho biết bao tâm hồn trên thế giới.
Từ đây, hành trình ấy sẽ đi tiếp. Hạt giống sẽ thành cây. Ơn gọi sẽ được thử luyện. Tình yêu Hội Thánh sẽ trưởng thành. Trái tim mục tử sẽ mở rộng. Và rồi lịch sử sẽ gọi tên ngài trong những khúc quanh rất đau. Nhưng trước khi đi vào những chặng ấy, ta hãy cúi đầu trước sự âm thầm thánh thiêng của khởi đầu. Vì chính ở đó, Thiên Chúa đã viết những dòng đầu tiên của một cuộc đời mà càng về sau, người ta càng hiểu: đây không chỉ là một cuộc đời đẹp, mà là một cuộc đời được chọn để trở thành ánh sáng cho nhiều người.
PHẦN II: CON ĐƯỜNG CHỦNG VIỆN, NHỮNG NĂM ĐÀO TẠO, ĐỜI LINH MỤC THUỞ ĐẦU VÀ SỰ HÌNH THÀNH MỘT TÂM HỒN MỤC TỬ
Nếu tuổi thơ là mảnh đất đầu tiên Thiên Chúa âm thầm cày xới để chuẩn bị cho một cuộc đời lớn lên trong ân sủng, thì những năm chủng viện và những bước đầu của đời linh mục chính là mùa mà hạt giống bắt đầu bén rễ sâu, đâm chồi rõ, và dần lộ ra hình hài của một ơn gọi được tuyển chọn. Không ai bước vào chức linh mục chỉ bằng thiện chí. Không ai trở thành mục tử chỉ bằng lòng sốt sắng bốc cao trong một vài giai đoạn đẹp. Không ai có thể mang lấy trái tim của Đức Kitô chỉ nhờ kiến thức thần học, chỉ nhờ kỷ luật học đường, hay chỉ nhờ sự khâm phục của người khác. Đời linh mục thật luôn được hình thành từ một tiến trình rất dài, rất sâu, rất kín, trong đó con người được uốn lại không chỉ ở trí óc, nhưng ở trái tim; không chỉ ở cách nghĩ, nhưng ở cách yêu; không chỉ ở việc học biết nói về Chúa, nhưng còn ở việc học sống với Chúa đủ lâu để lời mình nói về Ngài không trở thành tiếng vang rỗng. Và nếu muốn hiểu vì sao về sau Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận có thể sống được một linh đạo mạnh mẽ đến thế, có thể giữ được bình an giữa cảnh tù đày, có thể mang trong mình vừa sự sáng của trí tuệ vừa sự ấm của một trái tim mục tử, thì không thể không dừng thật lâu ở con đường chủng viện, ở những năm đào tạo và ở đời linh mục thuở đầu của ngài.
Chủng viện, đối với nhiều người, chỉ là nơi học hành để chuẩn bị cho chức thánh. Nhưng với những ai bước vào đó bằng một ơn gọi thật, chủng viện không chỉ là một trường học. Đó là một lò lửa. Một lò lửa âm thầm, lâu dài, không ồn ào, không cho ra ánh sáng rực ngay lập tức, nhưng nung dần một con người. Nơi đó, Thiên Chúa không chỉ dạy một chủng sinh hiểu thêm về Giáo lý, Kinh Thánh, thần học, phụng vụ, giáo luật, mà còn chạm vào những chiều sâu kín nhất của họ. Nơi đó, người ta dần khám phá ra rằng đi tu không phải là đi vào một thế giới đạo đức tách biệt để trở nên “tốt hơn người khác”, nhưng là đi vào một con đường thanh luyện, trong đó mình phải đối diện với những giới hạn rất thật của bản thân, với những ảo tưởng rất dễ thương nhưng non nớt của tuổi trẻ, với những ước muốn muốn phục vụ Chúa nhưng còn lẫn nhiều cái tôi, với những hăng say chưa đủ độ sâu, với những giấc mơ đẹp nhưng chưa được lửa thử. Chủng viện, nếu được đón nhận đúng, sẽ giúp một người trẻ hiểu rằng linh mục không phải là một danh phận, mà là một đời bị trao đi; không phải là một chỗ đứng, mà là một của lễ; không phải là một lối thoát khỏi đời thường, mà là một cách đi vào đời người khác sâu hơn, đau hơn, âm thầm hơn, và trung tín hơn.
Ta có thể hình dung chàng thanh niên Nguyễn Văn Thuận bước vào những năm đào tạo với tất cả sự nghiêm túc của một tâm hồn đã được chuẩn bị từ gia đình, nhưng đồng thời cũng với tất cả sự mong manh của một người trẻ đang còn trên đường thành hình. Không ai bước vào chủng viện đã là một vị thánh hoàn tất. Ai cũng bước vào đó với những điều đẹp và cả những điều chưa được thanh luyện. Và chính ở điểm này, vẻ đẹp của hành trình đào tạo mới hiện ra. Thiên Chúa không đợi con người hoàn hảo rồi mới gọi. Ngài gọi, rồi chính trong ơn gọi, Ngài dạy người ấy lớn lên. Không phải lớn lên theo kiểu khép mình vào một bộ khung đạo đức để trông có vẻ chuẩn mực, nhưng lớn lên trong sự thật. Một chủng sinh càng sống thật trước mặt Chúa, càng có cơ hội trở thành linh mục thật. Vì chỉ ai dám để Chúa chạm vào những vùng chưa đẹp nơi mình, người ấy mới có thể trở thành dụng cụ đủ trong để chuyển trao ơn Chúa cho người khác.
Những năm đào tạo của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận hẳn đã là những năm tháng mà trí tuệ và cầu nguyện cùng song hành. Ngài không phải là kiểu người chỉ bốc cháy bởi cảm xúc thiêng liêng nhất thời. Nơi ngài, từ sớm đã có nét nghiêm túc của một tâm hồn biết quý trọng việc học, biết tôn trọng đào luyện, biết nhìn đời linh mục không như một cảm hứng đẹp mà như một đòi hỏi rất thật. Học để hiểu đức tin không phải là chuyện phụ. Người ta không thể dẫn người khác đến với Chúa bằng một tâm tình đạo đức mơ hồ, cũng không thể trở thành người phục vụ Hội Thánh bằng một lòng tốt thiếu nền tảng. Đức tin cần được yêu bằng cả trái tim, nhưng cũng cần được hiểu bằng trí khôn. Hội Thánh không chỉ cần những người sốt sắng, Hội Thánh cần những người có thể cắt nghĩa niềm hy vọng của mình, những người có thể đứng trước những phức tạp của lịch sử và con người mà không ngây thơ, những người có thể vừa quỳ gối lâu trước Nhà Tạm vừa có thể suy nghĩ chín chắn về những vấn đề của dân Chúa.
Nhưng nơi ngài, trí tuệ không bao giờ đi trước cầu nguyện, cũng không chạy song song theo kiểu tách biệt. Trí tuệ được ngâm trong cầu nguyện. Học hành được bọc trong tinh thần phụng sự. Điều này rất quan trọng. Có những người càng học càng mất đi sự đơn sơ thiêng liêng. Có những người càng biết nhiều càng khó còn quỳ được lâu trước Chúa. Có những người biết nói về Thiên Chúa bằng ngôn ngữ rất đẹp, nhưng giữa họ với Chúa lại là một khoảng cách lạnh. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, về sau, không đi về hướng ấy. Và có lẽ chính trong những năm đào tạo, ngài đã tập được sự quân bình hiếm hoi đó: học để phụng sự, học để hiểu hơn Đấng mình yêu mến, học để có thể nói về Chúa với nhân loại một cách vừa trung thành vừa dễ chạm đến trái tim, nhưng không bao giờ để tri thức biến thành nơi trú ẩn cho cái tôi.
Chủng viện còn là nơi người ta học sống cộng đoàn. Đây là một điều cực kỳ quan trọng để hình thành một mục tử. Một linh mục không sống một mình cho một lý tưởng riêng. Linh mục là người của Hội Thánh, được đặt vào trong thân thể của Hội Thánh, được tháp nhập vào một cộng đoàn cụ thể, phải biết sống với anh em, phải biết chịu đựng những khác biệt, phải biết mang lấy những giới hạn của người khác, phải biết được sửa dạy, phải biết nhường chỗ, phải biết im lặng khi cần, phải biết phát biểu khi cần, phải biết nhận ra mình không phải là trung tâm. Có những người đạo đức khi ở một mình, nhưng trở nên khó sống khi ở với người khác. Có những người cầu nguyện xem ra rất sốt sắng, nhưng lại không đủ kiên nhẫn với những va chạm rất thường ngày của đời sống cộng đoàn. Nếu không học được điều này, người ta có thể trở thành một nhà tu nghiêm túc trên bề ngoài nhưng rất thiếu khả năng mang lấy đoàn chiên thực. Bởi đoàn chiên thực không phải là những ý tưởng đẹp. Đó là những con người cụ thể, với những khác biệt, yếu đuối, đôi khi khó chịu, đôi khi làm mình mệt, đôi khi không hiểu mình, đôi khi chống lại mình.
Nơi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, về sau người ta thấy một phẩm chất rất đẹp của mục tử: vừa có nguyên tắc, vừa có nhân hậu; vừa có chiều cao nội tâm, vừa không xa cách người khác; vừa có tư duy rộng, vừa có khả năng đi vào những gặp gỡ rất người. Những điều đó không thể chỉ rơi xuống từ trời trong ngày chịu chức. Chúng phải được rèn trong cộng đoàn, trong kỷ luật, trong sự mài mòn lẫn nhau của đời sống chung. Một người trẻ đi qua chủng viện với lòng thật, nếu biết để mình được nhào nặn, sẽ dần học cách bớt cứng, bớt chủ quan, bớt ảo tưởng về bản thân, bớt đòi người khác phải vừa ý mình. Và chính ở những chỗ đó, trái tim mục tử được nắn lại. Không phải để yếu mềm không còn xương sống, nhưng để mạnh mà không cứng, rõ mà không cay, dứt khoát mà không làm tổn thương không cần thiết.
Rồi còn một chiều kích rất sâu khác của những năm đào tạo: học sống trong kỷ luật của điều nhỏ. Người ta thường mơ đến những hy sinh lớn, những việc lớn, những sứ vụ lớn, nhưng đời linh mục thật được xây trong sự trung thành với những bổn phận nhỏ lặp đi lặp lại. Thức dậy đúng giờ. Cầu nguyện đúng giờ. Học hành nghiêm túc. Chu toàn việc chung. Giữ trật tự nội tâm. Không buông mình theo thất thường. Không đợi có cảm hứng mới cầu nguyện. Không đợi có người thấy mới làm điều phải. Những điều này nghe bình thường, nhưng thật ra lại là nền móng của một cuộc đời có sức bền. Một linh mục sẽ không đứng vững giữa những thử thách lớn nếu trước đó người ấy coi nhẹ việc trung tín trong điều nhỏ. Không ai một ngày đẹp trời có thể trung thành giữa nhà tù, nếu suốt bao năm trước đó chỉ quen sống theo hứng. Không ai có thể giữ được lửa hy vọng trong một đêm tối kéo dài, nếu từ trước đó chưa từng tập cho mình thói quen ở lại với Chúa ngay trong những giờ khô khan bình thường. Vì vậy, khi nghĩ đến những năm chủng viện của Nguyễn Văn Thuận, ta không chỉ nghĩ đến những môn học hay các chặng đào tạo chính thức, mà còn phải nghĩ đến vô số những “điều nhỏ” đã góp phần làm nên độ bền thiêng liêng nơi ngài.
Chính trong những điều nhỏ ấy, người ta học yêu Chúa không bằng cảm xúc, nhưng bằng ý chí đã được ân sủng chạm tới. Người ta học rằng không phải ngày nào mình cũng thấy sốt sắng, nhưng ngày nào mình cũng phải trung thành. Người ta học rằng không phải lúc nào cũng hiểu được đường Chúa, nhưng phải tập bước đi ngay cả khi chưa thấy hết. Người ta học rằng không phải khi nào mình cầu nguyện cũng được an ủi, nhưng chính việc ở lại trước mặt Chúa đã là một hành vi tình yêu. Tất cả những điều này về sau sẽ trở nên cực kỳ sáng trong linh đạo của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận. Khi đọc những trang viết của ngài, khi nghe ngài nói về giây phút hiện tại, về việc chọn Chúa chứ không chỉ chọn công việc của Chúa, về việc yêu thương cả trong thử thách, người ta thấy phía sau những lời ấy là cả một đời đã được tập luyện lâu năm trong trung tín. Không có con đường tắt nào ở đây cả.
Rồi đến ngày người thanh niên ấy được tiến tới chức linh mục. Thụ phong linh mục không phải là kết thúc hành trình đào tạo, nhưng là bắt đầu một cách hiện hữu mới. Từ đây, một con người không còn chỉ sống ơn gọi như một dự phóng tương lai nữa, mà mang trong mình dấu ấn bí tích. Từ đây, mọi sự được đặt vào một chiều sâu khác. Không còn chỉ là “tôi muốn dâng đời mình cho Chúa”, nhưng là “đời tôi đã được đóng ấn để thuộc về Đức Kitô theo cách rất riêng”. Không còn chỉ là “tôi học để mai này phục vụ”, nhưng là “tôi đã bị lấy đi khỏi chính mình để trở thành của lễ cho dân Chúa”. Nếu một người không ý thức điều ấy, họ có thể sống chức linh mục như một vai trò. Còn nếu ý thức thật, họ sẽ hiểu rằng đời mình từ nay không còn thuộc về những toan tính riêng nữa. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, khi đi vào đời linh mục, hẳn đã bước vào với một lòng nghiêm túc nội tâm rất lớn. Và điều đẹp là, ngài không bước vào đời linh mục như một người đi tìm mình trong Giáo hội, nhưng như một người sẵn sàng để mình được dùng cho Hội Thánh.
Đời linh mục thuở đầu luôn là một giai đoạn rất quan trọng. Có những người mới chịu chức mang trong mình nhiều lửa. Điều đó đẹp. Nhưng lửa đầu đời cần được dẫn vào một dòng chảy đúng, nếu không nó dễ hoặc thành chủ nghĩa hoạt động, hoặc thành những thất vọng rất sớm khi thực tế không giống giấc mơ. Một linh mục mới dễ mang những hình dung lý tưởng về sứ vụ, về giáo dân, về cộng đoàn, về đời sống Hội Thánh. Nhưng khi bước vào thực tế, người ấy sẽ gặp những phức tạp rất thật: con người không đơn giản, mục vụ không nhẹ nhàng, đời sống giáo xứ không chỉ toàn sốt sắng, và Hội Thánh ở trần gian không phải là một cõi thuần khiết không tì vết. Chính trong giai đoạn ấy, người linh mục phải học một điều rất đau nhưng rất đẹp: yêu Hội Thánh không phải vì Hội Thánh luôn dễ yêu, mà vì Hội Thánh là Hiền Thê của Đức Kitô. Yêu dân Chúa không phải vì dân Chúa luôn ngoan, luôn hiểu, luôn đáp lại, mà vì chính Chúa đã trao họ cho mình.
Nơi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, những năm đầu đời linh mục rất có thể đã là những năm học làm mục tử theo nghĩa thật: không chỉ dâng lễ, giảng dạy, giải tội, điều hành, nhưng học mang mùi chiên theo nghĩa sâu nhất. Một mục tử không phải là người đứng trên đoàn chiên như một nhà quản lý đạo đức, nhưng là người bước vào đời sống của họ, biết những vui buồn của họ, đau với những đổ vỡ của họ, kiên nhẫn với những giới hạn của họ, đồng thời không ngừng kéo họ về phía sự thật. Nếu chỉ có sự gần gũi mà không có sự thật, mục tử sẽ làm hỏng đoàn chiên. Nếu chỉ có sự thật mà không có gần gũi, mục tử sẽ làm đoàn chiên sợ. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, về sau, được biết đến như một người vừa có độ sâu vừa có độ ấm. Đó không phải là sự ngẫu nhiên. Đó là hoa trái của một đời linh mục biết đặt mình trước Chúa và giữa dân Chúa một cách ngay thẳng.
Một trong những điều rất đáng suy niệm là: đời linh mục đầu đời của ngài hẳn đã được đánh dấu bằng tinh thần phục vụ hơn là tinh thần tự khẳng định. Có những người bước vào tác vụ với ước muốn làm điều lớn cho Chúa, nhưng rất nhanh, “điều lớn cho Chúa” biến thành “điều lớn cho cái tôi”. Người ta muốn được thấy mình hữu ích, muốn được ghi nhận, muốn được nghe nói mình thành công, muốn được cảm thấy mình quan trọng trong công trình của Chúa. Đây là một cám dỗ rất âm thầm và rất nguy hiểm, nhất là cho những người có năng lực, có trí tuệ, có lòng nhiệt thành. Bởi càng có khả năng, người ta càng dễ đồng hóa giá trị của mình với hiệu quả mục vụ. Nhưng nơi Nguyễn Văn Thuận, dường như ngay từ sớm, Thiên Chúa đã gìn giữ để lòng yêu mến Hội Thánh nơi ngài không trượt sang chỗ tôn thờ công việc. Điều này sẽ sáng lên rất rõ về sau, khi ngài bị lấy mất mọi hoạt động mà vẫn không đánh mất căn tính. Nhưng cái khả năng ấy không được sinh ra trong một đêm. Nó phải được nuôi từ những năm đầu: làm việc nhưng không nghiện kết quả, phục vụ nhưng không lấy mình làm trung tâm, yêu sứ vụ nhưng không quên rằng Chúa lớn hơn sứ vụ.
Những năm đầu đời linh mục cũng là lúc một người dần học cách giảng. Không chỉ giảng bằng lời, mà giảng bằng hiện diện. Có những linh mục nói hay, nhưng hiện diện của họ không làm ai được nâng đỡ. Có những người lời nói không quá hào nhoáng, nhưng chỉ cần ở gần cũng thấy bình an. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, về sau, có sức lay động rất lớn không phải vì ngài dùng những kỹ thuật chinh phục đám đông, nhưng vì lời của ngài đi ra từ một đời sống có thật. Người ta tin lời một mục tử khi cảm thấy phía sau những lời ấy là một trái tim đã quỳ đủ lâu, đau đủ sâu, yêu đủ thật. Nhưng ngay từ đời linh mục đầu, một người đã phải tập điều này: đừng nói những gì mình chưa sống chút nào; đừng dùng lời của Chúa để làm đẹp cho chính mình; đừng đem kiến thức thay cho lửa nội tâm; đừng coi bục giảng là chỗ để trình diễn. Giảng là trao bánh, không phải trình bày tài năng. Giảng là để dân Chúa gặp Chúa, không phải để họ nhớ đến mình. Nếu điều ấy được học từ sớm, người linh mục sẽ lớn lên đúng hướng. Và nơi ngài, càng về sau, càng thấy rõ cái chất của một người chỉ muốn chuyển trao Chúa, chứ không muốn dựng một hình ảnh riêng cho bản thân.
Ta cũng không thể bỏ qua một chiều kích khác trong những năm đầu đời linh mục: sự hình thành của một trái tim biết gắn bó với đau khổ của con người. Không một linh mục nào trở thành mục tử thật nếu chưa từng để mình bị động chạm bởi những mảnh đời cụ thể. Người mục tử học được nhiều điều nơi sách, nhưng có những điều chỉ học được khi ngồi trước nước mắt của một người mẹ, trước cơn hấp hối của một bệnh nhân, trước sự tan vỡ của một gia đình, trước nỗi dằn vặt của một tội nhân, trước sự lặng lẽ chịu đựng của những người nghèo, trước sự cô độc của người già, trước sự lo âu của người trẻ phân định ơn gọi, trước những tâm hồn tưởng mạnh nhưng bên trong đang kiệt sức. Một linh mục nếu chỉ sống trong thế giới của ý niệm sẽ rất dễ nói những lời đúng mà không chạm. Nhưng nếu đã đi vào thực sự trong những mảnh đời ấy, người ấy sẽ bắt đầu nói bằng một giọng khác: giọng của người biết con người đau thế nào. Và chính từ đây, trái tim mục tử được mở ra.
Nơi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, sự cảm thương và sự ấm áp ấy về sau hiện ra rất rõ. Ngài không nói về hy vọng như một nhà lý thuyết ngồi ngoài cuộc. Ngài nói như người đã hiểu con người cần gì để khỏi gãy. Nhưng trước khi tự mình trở thành người chịu thử thách lớn lao, có lẽ ngài đã được dạy rất nhiều bởi khổ đau của người khác. Một mục tử thật luôn mang trong lòng những tiếng thở dài không thuộc riêng về mình. Chính điều đó làm cho trái tim họ rộng ra. Chính điều đó làm cho lời họ bớt khô. Chính điều đó làm cho sự thánh thiện của họ không trừu tượng. Nếu chỉ nhìn ngài qua những năm tù, ta sẽ thấy một chứng nhân lớn. Nhưng nếu nhìn ngược lại những năm linh mục đầu đời, ta sẽ hiểu chứng nhân ấy đã được chuẩn bị bằng việc học yêu những con người cụ thể như thế nào.
Và rồi, bên cạnh mục vụ, học hành, cầu nguyện, sống cộng đoàn, còn có một tiến trình âm thầm khác: học để bị nhỏ đi trong tay Chúa. Đây là điều rất khó. Tuổi trẻ thường muốn nở ra, muốn làm được, muốn chứng minh, muốn để lại dấu ấn. Điều đó không hoàn toàn xấu. Trong đó có sức sống. Trong đó có lòng quảng đại. Nhưng nếu không được Chúa thanh luyện, nó dễ trộn với một thứ rất nguy hiểm: sự cần thiết phải thấy mình quan trọng. Một mục tử chỉ thật sự tự do khi không còn cần vị trí, không còn cần tiếng khen, không còn cần cảm giác mình là người không thể thay thế. Và sự tự do này không đến dễ. Nó phải được tập. Nhiều khi Chúa dùng ngay những va chạm đầu đời linh mục, những giới hạn, những điều không như ý, những bất toàn của môi trường mục vụ, những hiểu lầm nhỏ, những công việc âm thầm không ai để ý, để dạy người linh mục rằng giá trị của mình không nằm ở chỗ người ta nhìn nhận bao nhiêu, nhưng ở chỗ mình thuộc về Chúa đến đâu.
Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, về sau, đã đạt tới một độ tự do nội tâm phi thường: bị nhốt mà không mất mình, bị tước hoạt động mà không tước được tình yêu, bị cắt khỏi vai trò mà không cắt được căn tính. Nhưng độ tự do ấy không thể chỉ bắt đầu vào ngày bị bắt. Nó phải được nhen từ lâu trong một đời biết sống cho Chúa hơn cho mình. Và rất có thể, những năm đầu đời linh mục đã là giai đoạn mà Chúa âm thầm bứng dần những rễ tự ái tinh vi, những ham muốn được thành công, những nhu cầu được khẳng định, để làm chỗ cho một thứ thuộc về sâu hơn, tinh hơn. Những cuộc thanh luyện đầu đời ấy thường không ai biết, không ai ghi vào tiểu sử, nhưng chúng rất thật. Và chính chúng giải thích vì sao về sau một con người có thể đứng vững khi bị lấy khỏi mọi dự phóng cá nhân.
Có một vẻ đẹp rất đáng chiêm ngắm nơi những linh mục được hình thành đúng hướng: càng về sau họ càng đơn sơ hơn, chứ không phức tạp hơn; càng nhiều kinh nghiệm càng nhân hậu hơn, chứ không chua chát hơn; càng đi sâu vào trách nhiệm càng bớt phô trương cái tôi, chứ không lớn lên trong sự tự mãn. Nơi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, ta cảm nhận được điều ấy. Và điều này không thể chỉ đến từ cá tính tự nhiên. Nó là hoa trái của ân sủng gặp được một tâm hồn biết cộng tác. Những năm đào tạo và những bước đầu linh mục là thời gian rất quyết định cho sự cộng tác ấy. Người ta có thể kháng lại ân sủng, hoặc để ân sủng uốn mình. Người ta có thể dùng ơn gọi để tô đậm bản ngã, hoặc để bản ngã được hiến dâng. Người ta có thể học thần học để trở nên kiêu hơn, hoặc để thán phục Chúa hơn. Người ta có thể làm mục vụ để thấy mình hữu ích, hoặc để yêu đoàn chiên hơn. Ở mỗi ngã ấy, một linh mục tương lai dần thành hình. Và nơi Nguyễn Văn Thuận, dường như những chọn lựa sâu xa đã được làm theo hướng rất đẹp: hướng về Chúa, về Hội Thánh, về con người, chứ không về cái tôi.
Nhìn lại chặng đường này, ta hiểu rằng một tâm hồn mục tử không phải là thứ trời phú có sẵn nguyên vẹn. Nó được hình thành qua cầu nguyện, qua học hành, qua cộng đoàn, qua kỷ luật, qua mục vụ, qua những va chạm nội tâm, qua những lần phải sửa mình, qua những ước muốn phải thanh luyện, qua những lý tưởng phải đi qua thực tế, qua những lần phải học yêu người khác dù họ không dễ yêu, qua những lần phải đứng trước Chúa và chấp nhận mình còn rất nghèo. Chính từ những điều ấy, một linh mục dần học được cách ở trước mặt Chúa như người con và ở trước dân Chúa như người cha. Dần dần, một đời sống không còn xoay quanh mình nữa. Dần dần, một ngôn ngữ mới được hình thành: ngôn ngữ của hiến dâng. Dần dần, một trái tim được mở ra đủ rộng để rồi mai này có thể mang trong đó cả những người làm khổ mình mà vẫn không khép lại.
Và đó chính là điều làm cho phần đời này của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận trở nên quan trọng không chỉ về mặt tiểu sử, mà còn về mặt thiêng liêng. Nó cho thấy rằng Thiên Chúa không dựng nên các chứng nhân của Ngài bằng những phép lạ rút gọn. Ngài dùng thời gian. Ngài dùng giáo dục. Ngài dùng cộng đoàn. Ngài dùng học hành. Ngài dùng phụng vụ. Ngài dùng những bổn phận nhỏ. Ngài dùng các cuộc thanh luyện không tên. Ngài dùng niềm vui và cả những va chạm rất thường ngày để tạo nên một con người có thể thuộc trọn về Ngài hơn từng ngày. Nhờ đó, khi những biến cố lớn ập tới, khi lịch sử đổi chiều, khi bóng tối phủ xuống, con người ấy không bắt đầu từ số không. Bên trong họ đã có một nền. Đã có một nhịp sống với Chúa. Đã có một tình yêu Hội Thánh. Đã có một trái tim mục tử. Đã có một đời sống bí tích. Đã có một ký ức cầu nguyện. Đã có một thói quen phó thác. Và tất cả những điều đó, như một kho tàng kín, sẽ cứu họ trong những giờ đen nhất.
Cho nên, khi nói về con đường chủng viện, những năm đào tạo và đời linh mục thuở đầu của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, ta không chỉ đang nói về một giai đoạn chuẩn bị nghề nghiệp theo nghĩa tôn giáo. Ta đang đứng trước xưởng thợ nơi Thiên Chúa nhào nặn một tâm hồn mục tử. Ta đang nhìn thấy những ngày tháng khi một người trẻ học dần để yêu Chúa hơn thành công, yêu Hội Thánh hơn hình ảnh của mình, yêu đoàn chiên hơn cảm xúc tiện nghi của bản thân. Ta đang chứng kiến một cuộc biến đổi âm thầm nhưng nền tảng: từ một người có ơn gọi thành một người biết sống ơn gọi; từ một người muốn dâng đời mình cho Chúa thành một người để Chúa thật sự cầm lấy đời mình; từ một người trẻ nhiệt thành thành một mục tử đang dần có xương sống nội tâm.
Và chính vì đã đi qua con đường ấy, Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận mới có thể về sau trở thành điều mà ngài đã trở thành. Không phải một ngôi sao tôn giáo. Không phải một nhân vật gây ấn tượng mạnh nhờ số phận bi thương. Nhưng là một mục tử thật. Một người của Chúa. Một người của Hội Thánh. Một trái tim đã được luyện để yêu. Một linh hồn đã được tập để hy vọng. Một con người đã bắt đầu từ chủng viện và đời linh mục bằng sự nghiêm túc với điều nhỏ, với cầu nguyện, với học hành, với cộng đoàn, với mục vụ, để rồi khi giờ thử thách lớn đến, tất cả những gì âm thầm ấy trổ bông như một phép lạ mà thật ra đã được chuẩn bị từ rất lâu.
PHẦN III: GIÁM MỤC NHA TRANG, TINH THẦN CANH TÂN, LỬA MỤC VỤ VÀ TẦM NHÌN CỦA MỘT NGƯỜI MỤC TỬ TRẺ
Có những giai đoạn trong đời một con người mà nếu chỉ nhìn bên ngoài, người ta sẽ thấy đó là một bước thăng tiến. Nhưng nếu nhìn bằng đôi mắt thiêng liêng, người ta hiểu đó không phải trước hết là một sự đi lên, mà là một sự đi sâu hơn vào trách nhiệm, vào hiến dâng, vào mầu nhiệm được trao phó. Với Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, giai đoạn ngài trở thành Giám mục Nha Trang không thể chỉ được đọc như một cột mốc danh dự trong hành trình giáo sĩ. Không. Đó là một chặng đường rất quan trọng trong việc hình thành khuôn mặt mục tử của ngài. Chính ở đây, nhiều đường nét nội tâm từng được âm thầm chuẩn bị trong tuổi thơ, trong gia đình, trong chủng viện, trong đời linh mục thuở đầu bắt đầu hiện ra rõ hơn trong bình diện mục vụ rộng lớn. Chính ở đây, người ta thấy một trái tim không chỉ biết yêu Chúa trong đời sống cá nhân, nhưng còn biết mang lấy đoàn chiên với một tầm nhìn rộng, một tinh thần canh tân, một lửa nhiệt thành không nông nổi, và một sự bén nhạy hiếm có trước những đòi hỏi của thời đại.
Được chọn làm giám mục khi còn tương đối trẻ không phải chỉ là được tín nhiệm. Đó còn là một thử thách. Bởi khi một người còn nhiều sức sống, nhiều ý tưởng, nhiều thao thức, nhiều nhiệt huyết mà được trao một trách nhiệm lớn, họ rất dễ rơi vào một trong hai cực đoan. Hoặc họ trở nên quá dè dặt, chỉ lo giữ an toàn, không dám làm gì vì sợ sai, sợ va chạm, sợ mất ổn định. Hoặc họ quá nóng lòng thay đổi mọi sự theo những hình dung riêng của mình, khiến lửa canh tân biến thành một thứ hấp tấp, gây xáo trộn nhiều hơn là xây dựng. Điều đẹp nơi Đức cha Nguyễn Văn Thuận, rồi sau này là Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, chính là ngài không rơi vào hai thái cực ấy. Nơi ngài, lửa mục vụ không phải là sự sôi nổi nhất thời, nhưng là một ngọn lửa có hướng. Tinh thần canh tân nơi ngài không phải là ham đổi mới để chứng tỏ mình tiến bộ, nhưng là thao thức đưa đời sống Giáo hội đến gần hơn với Tin Mừng, gần hơn với con người, gần hơn với chiều sâu thật sự của Hội Thánh.
Phải hiểu bối cảnh của một Giáo hội địa phương trong giai đoạn ấy để mới thấy rõ vẻ đẹp nơi vai trò của ngài. Một giáo phận không chỉ là một vùng đất tôn giáo có cơ cấu cần điều hành. Một giáo phận là một thân thể sống, trong đó có linh mục, tu sĩ, giáo dân, người giàu, người nghèo, người sốt sắng, người nguội lạnh, những cộng đoàn đang lớn lên, những cộng đoàn đang chao đảo, những vùng cần được chăm sóc kỹ, những nơi thiếu thốn, những nơi đầy hứa hẹn, những khả năng mục vụ còn đang ngủ yên, những tổn thương lịch sử còn âm ỉ, những thói quen cũ vừa là gia sản vừa có thể là lực cản. Muốn làm mục tử ở tầm giáo phận, người ta không chỉ cần lòng đạo đức. Người ta cần một cái nhìn. Nhưng cái nhìn ấy lại không được là cái nhìn của nhà quản trị thuần túy. Nó phải là cái nhìn của đức tin. Nghĩa là biết thấy Chúa đang hoạt động trong lịch sử cụ thể, biết nghe được tiếng nói của Chúa giữa những chuyển động xã hội và tôn giáo, biết nhận ra đâu là điều cần giữ, đâu là điều phải đổi, đâu là điều phải kiên nhẫn chờ, đâu là điều phải mạnh dạn khai mở.
Và chính nơi Nha Trang, khuôn mặt mục tử ấy nơi ngài bắt đầu hiện lên với những nét rất đẹp. Không phải thứ đẹp hào nhoáng của một người biết gây ấn tượng, nhưng là vẻ đẹp của một người thực sự mang thao thức xây dựng Hội Thánh. Một giám mục trẻ dễ bị cám dỗ muốn để lại dấu ấn bằng công trình, bằng thành tích, bằng việc làm cho người ta nói nhiều về mình. Nhưng nơi ngài, điều làm nên dấu ấn không phải là tinh thần tự khẳng định. Đó là tinh thần phục vụ. Đó là một sự chuyển động nội tâm rất rõ: ngài không hỏi trước hết làm sao để người ta nhớ đến mình, nhưng làm sao để Giáo hội sống động hơn, được đào sâu hơn, được huấn luyện hơn, được nuôi dưỡng hơn, được chuẩn bị tốt hơn cho hiện tại và tương lai.
Một trong những nét rất đáng suy niệm nơi giai đoạn này là tinh thần canh tân gắn với Công đồng Vaticanô II. Để hiểu Đức cha Nguyễn Văn Thuận trong vai trò Giám mục Nha Trang, không thể tách ngài ra khỏi bầu khí lớn của Hội Thánh đang bước vào một thời kỳ mới. Công đồng không mời gọi Giáo hội phản bội truyền thống, cũng không mời gọi Giáo hội đóng kín trong quá khứ. Công đồng mời gọi trở về nguồn và từ đó mở ra. Trở về với Đức Kitô, với Lời Chúa, với mầu nhiệm Hội Thánh, với phẩm giá của người Kitô hữu, với ơn gọi nên thánh phổ quát, với sứ mạng của giáo dân, với việc phụng vụ được sống sâu chứ không chỉ được cử hành đúng hình thức, với đối thoại, với tinh thần truyền giáo, với cách hiện diện giữa lòng thế giới hôm nay không như một pháo đài co cụm, mà như men, như muối, như ánh sáng. Một mục tử trẻ có thể đón nhận tinh thần ấy một cách hời hợt như một trào lưu, hoặc tiếp nhận nó như một lời mời gọi thực sự đến canh tân nội tâm và mục vụ. Nơi ngài, dường như điều thứ hai đã xảy ra.
Ngài không đón lấy canh tân như một khẩu hiệu. Ngài đón lấy nó như một trách nhiệm. Và vì thế, nơi ngài, canh tân không đối nghịch với chiều sâu thiêng liêng. Trái lại, càng canh tân, ngài càng muốn Giáo hội bám chặt hơn vào những điều cốt lõi. Đây là một điểm rất đáng học. Bởi trong mọi thời, người ta luôn có thể hiểu sai chữ “canh tân”. Có người nghĩ canh tân là nới lỏng tất cả, là làm nhạt những đòi hỏi của Tin Mừng để dễ được yêu mến hơn. Có người nghĩ canh tân là đổi bề ngoài cho có vẻ mới mẻ, trong khi bên trong vẫn cũ kỹ. Có người lại sợ canh tân vì nghĩ rằng bất kỳ chuyển động nào cũng là đe dọa. Cả hai đều không chạm vào tinh thần thật của Hội Thánh. Canh tân thật luôn bắt đầu bằng hoán cải, bằng trở về nguồn, bằng đào sâu căn tính, bằng nghe lại lời Chúa cách nghiêm túc hơn, bằng xem lại cung cách mục vụ để phục vụ con người tốt hơn. Chính ở đây, ngài tỏ ra là một mục tử có tầm nhìn. Ngài không tìm sự mới lạ để thay thế sự thật. Ngài tìm con đường làm cho sự thật được sống động hơn trong lòng dân Chúa.
Một giáo phận muốn lớn mạnh không thể chỉ sống bằng một vài sinh hoạt bề mặt. Nó cần đào tạo. Nơi một mục tử trẻ như ngài, người ta thấy rất rõ thao thức này. Giáo hội không thể đứng vững nếu chỉ có lòng nhiệt thành mà thiếu nền tảng. Không thể có một cộng đoàn trưởng thành nếu linh mục không được huấn luyện liên tục, nếu tu sĩ không được nâng đỡ, nếu giáo dân không được giáo dục đức tin sâu sắc, nếu người trẻ không được đồng hành, nếu các gia đình không được quan tâm như chiếc nôi đầu tiên của Hội Thánh tại gia. Ngài dường như hiểu rất rõ rằng xây dựng Giáo hội không chỉ là giải quyết nhu cầu trước mắt, mà còn là gieo những hạt giống dài hạn. Một mục tử nông sẽ chỉ thấy việc hôm nay. Một mục tử sâu sẽ thấy cả ngày mai. Một mục tử sâu hơn nữa sẽ thấy rằng muốn có ngày mai, phải dám đầu tư vào những điều không tạo ra tiếng vang tức thời: đào tạo, giáo lý, nhân sự, kỷ luật nội tâm, chiều sâu phụng vụ, đời sống cầu nguyện, tinh thần trách nhiệm của giáo dân.
Chính ở điểm này, lửa mục vụ của ngài không phải là ngọn lửa bộc phát rồi tàn nhanh. Nó là lửa của một người hiểu rằng yêu đoàn chiên nghĩa là phải chăm phần gốc, không chỉ phần ngọn. Yêu giáo phận không phải chỉ là làm cho sinh hoạt đông vui, mà là giúp con người lớn lên thật trong đức tin. Một giáo phận có thể có nhiều lễ nghi, nhiều công trình, nhiều cuộc quy tụ, nhưng nếu đức tin của người tín hữu vẫn mỏng, nếu họ không hiểu đạo, không yêu Lời Chúa, không sống bí tích cách có ý thức, không có đời cầu nguyện, thì bề ngoài dù có sôi động đến đâu vẫn mong manh. Nơi Đức cha Nguyễn Văn Thuận, dường như có một trực giác rất mạnh về điều cốt lõi ấy. Có lẽ vì thế mà trong mọi thao thức mục vụ, ta thấy nơi ngài không phải chỉ là ước muốn làm nhiều, nhưng là ước muốn làm sâu.
Người mục tử trẻ ấy cũng mang trong mình một sự gần gũi rất đáng quý với con người cụ thể. Đây không phải là chuyện ai cũng có. Có những vị lãnh đạo tôn giáo càng đi lên càng dễ xa dân, không phải vì cố tình, nhưng vì trách nhiệm khiến họ sống giữa hồ sơ, giữa chương trình, giữa cơ cấu, giữa các quyết định lớn. Dần dần, con người cụ thể chỉ còn xuất hiện như những con số hay những nhóm đối tượng mục vụ. Nhưng mục tử thật thì khác. Mục tử thật càng được trao phó nhiều càng phải chiến đấu để giữ trái tim không bị khô, không bị biến thành bộ máy. Nơi ngài, người ta nhận ra một nỗ lực rất rõ để không đánh mất sự chạm vào đời sống thực của dân Chúa. Điều này cực kỳ quan trọng, bởi vì nếu mục tử không còn nghe được nhịp đau của dân, những chương trình tốt đến đâu cũng có thể trở nên xa lạ với thực tế.
Một giáo phận ven biển, có những hoàn cảnh xã hội, kinh tế, văn hóa và tôn giáo rất cụ thể, đòi hỏi một mục tử không chỉ đạo đức mà còn phải biết đọc các dấu chỉ thời đại. Người mục tử trẻ ấy không thể chỉ nói những lời đẹp từ trên cao. Ngài phải nhìn vào đời sống thật của người nghèo, của ngư dân, của các gia đình, của người trẻ, của những người đang cố giữ đạo giữa bao thay đổi xã hội. Và chính tại đây, cái nhìn mục vụ của ngài có chiều rộng đáng kể. Ngài không đóng khung đời sống đạo trong phạm vi nhà thờ. Ngài hiểu rằng Hội Thánh phải hiện diện trong lòng cuộc sống, phải chạm đến những câu hỏi thật của con người, phải làm cho Tin Mừng không trở thành một lớp sơn phủ trên đời sống, nhưng trở thành men đi vào bên trong.
Thao thức đó làm nên chất canh tân rất riêng nơi ngài. Canh tân không phải là giảm Tin Mừng xuống cho vừa với đời sống dễ dãi, nhưng là mang Tin Mừng đi vào đời sống cụ thể đến mức nó bắt đầu biến đổi con người từ bên trong. Một mục tử trẻ có thể bị cám dỗ muốn tạo ra những đổi mới rực rỡ để đánh dấu triều đại của mình. Nhưng ngài dường như đi theo hướng khác: canh tân bằng đào sâu. Canh tân bằng giáo dục. Canh tân bằng làm cho các thành phần dân Chúa ý thức hơn về căn tính và trách nhiệm của mình. Canh tân bằng nâng chất thay vì chỉ tăng số lượng. Và chính vì thế, canh tân nơi ngài không phải là một làn gió chóng qua, nhưng là một hướng đi có nền.
Rất có thể, trong vai trò Giám mục Nha Trang, ngài cũng trải qua không ít những va chạm của một mục tử muốn đổi mới mà vẫn phải giữ hiệp thông. Bởi bất kỳ ai muốn làm điều gì thật trong Hội Thánh đều sẽ hiểu: thay đổi không bao giờ chỉ là chuyện ý tưởng. Nó chạm vào thói quen, vào nếp nghĩ, vào những vùng an toàn, vào những điều người ta đã quen làm từ lâu. Một người lãnh đạo non sẽ dễ hoặc nóng nảy với sự chậm chạp của người khác, hoặc mệt mỏi rồi bỏ cuộc. Nhưng một mục tử có chiều sâu sẽ hiểu rằng trong Hội Thánh, hiệp thông quan trọng không kém hiệu quả. Phải biết tiến tới mà không xé rách. Phải biết nói sự thật mà không làm gãy đổ. Phải biết kiên định mà không cứng cỏi. Phải biết chờ đúng lúc mà không trở nên nhát đảm. Những quân bình đó rất khó. Và chính trong những năm điều hành giáo phận, một người trẻ được đặt vào vai trò mục tử lớn sẽ phải học những bài học đắt giá ấy.
Có lẽ đây chính là một trong những trường học thực tế quan trọng nhất đã chuẩn bị cho ngài về sau. Một người chỉ quen sống trong chiều kích cá nhân của ơn gọi chưa chắc đã đủ sức để mang lấy những căng thẳng của một Hội Thánh cụ thể. Nhưng khi phải điều hành, phải lắng nghe, phải quyết định, phải chịu trách nhiệm cho nhiều người, phải dung hòa giữa nguyên tắc và thực tế, giữa lý tưởng và khả năng thực hiện, giữa canh tân và hiệp thông, giữa sự thật và lòng bác ái, thì con người ấy lớn lên rất nhiều. Không phải lớn lên trong tự tin nơi mình, nhưng nếu sống trước mặt Chúa, sẽ lớn lên trong khôn ngoan mục tử. Và ngài đã đi qua trường học ấy.
Điều làm cho giai đoạn Nha Trang trở nên đặc biệt còn là vì ở đó, người ta thấy nơi ngài một sự năng động đi cùng với đời sống nội tâm. Đây là sự kết hợp rất hiếm. Có những người hoạt động mạnh nhưng nội tâm mỏng. Có những người nội tâm sâu nhưng lại ngại bước ra, ngại hành động, ngại tổ chức, ngại đổi mới. Nơi Đức cha Nguyễn Văn Thuận, hai chiều kích ấy không triệt tiêu nhau. Chúng nâng nhau lên. Chính vì nội tâm không rỗng nên hoạt động của ngài không trở thành chủ nghĩa hoạt động. Chính vì hoạt động của ngài phát xuất từ thao thức thiêng liêng nên nó có sức sống lâu bền. Một người chỉ hoạt động vì tham vọng sẽ mau cạn. Một người chỉ hoạt động vì bản năng muốn thành công sẽ dễ gãy khi gặp chống đối. Nhưng một người hoạt động vì yêu Chúa và yêu Hội Thánh thì dù có mệt, dù có bị hiểu lầm, dù có không thấy kết quả ngay, họ vẫn đi tiếp được. Ngài là một mẫu gương rất đẹp của kiểu mục tử như thế.
Ở nơi ngài, người ta có thể thấy một điều rất sáng: tuổi trẻ không nhất thiết đồng nghĩa với nông nổi, và canh tân không nhất thiết đồng nghĩa với phá bỏ. Một mục tử trẻ có thể vừa hăng say vừa sâu lắng. Vừa nhìn về phía trước vừa cắm rễ sâu vào truyền thống sống động của Hội Thánh. Vừa muốn thay đổi điều cần đổi vừa kính trọng điều phải giữ. Chính sự quân bình ấy làm nên tầm nhìn. Tầm nhìn không phải là có thật nhiều kế hoạch. Tầm nhìn là biết cái gì là chính, cái gì là phụ; cái gì phải làm trước, cái gì phải chờ; cái gì là triệu chứng, cái gì là căn nguyên; cái gì có thể làm hài lòng hôm nay nhưng làm yếu đi ngày mai; cái gì có thể đòi hỏi hôm nay nhưng sẽ cứu tương lai. Nơi ngài, tầm nhìn ấy dường như đã hình thành rõ trong giai đoạn này. Và đó là một ân huệ lớn cho một giáo phận.
Một điểm nữa khiến ta phải dừng lại thật lâu là tương quan của ngài với hàng linh mục. Một giám mục có thể rất giỏi tổ chức, rất có tầm, rất năng động, nhưng nếu không biết yêu các linh mục, không biết nâng đỡ họ, không biết hiểu những vất vả, cô đơn và giới hạn của họ, thì sức sống của giáo phận sẽ sớm khựng lại. Vì giám mục không thể một mình chăn dắt đoàn chiên. Giáo phận sống được nhờ một linh mục đoàn được hiệp nhất, được đồng hành, được mời gọi nên thánh và được mục tử của mình vừa dẫn dắt vừa yêu thương. Nơi Đức cha Nguyễn Văn Thuận, có thể cảm nhận được không chỉ thao thức xây dựng cơ cấu, mà còn là thao thức xây dựng con người. Một mục tử trẻ mà đã hiểu điều đó là một dấu chỉ rất đẹp. Bởi vì công trình dễ thấy hơn con người. Cơ cấu dễ đo hơn đời sống thiêng liêng. Nhưng sau cùng, chính con người mới là nơi Hội Thánh lớn lên hay suy yếu. Và một giám mục nào biết chăm phần linh hồn của linh mục, phần ơn gọi của người trẻ, phần trưởng thành của giáo dân, thì người ấy đang xây nền cho tương lai.
Rồi ta cũng phải nghĩ đến đời sống cầu nguyện của ngài trong giai đoạn này. Nhiều khi người ta chỉ chú ý đến cầu nguyện của những vị bị thử thách lớn, nhất là trong tù ngục. Nhưng thật ra, cầu nguyện của họ trong những năm bình thường còn quan trọng không kém. Vì chính ở đó, thói quen ở lại với Chúa được hình thành. Chính ở đó, một mục tử học phân định không theo bản năng hay tham vọng, nhưng theo ánh sáng của Chúa. Chính ở đó, ngài học mang giáo phận vào trong lời nguyện chứ không chỉ trong kế hoạch. Một giám mục trẻ, nếu không có đời cầu nguyện sâu, rất dễ bị cuốn vào vô số việc tốt nhưng dần dần đánh mất trung tâm. Có thể ngài vẫn bận cho Chúa, nhưng lại xa Chúa. Có thể ngài vẫn phục vụ Hội Thánh, nhưng lòng thì ngày một mỏi và cứng. Nơi ngài, điều làm người ta cảm phục là: ngài không chỉ làm việc cho Chúa. Ngài sống với Chúa. Và từ đó, công việc của ngài có một chiều sâu khác.
Điều này sẽ giải thích rất nhiều cho những gì xảy ra sau này. Bởi khi một con người đã tập sống với Chúa giữa lúc còn tự do, họ có cơ may tiếp tục sống với Chúa khi bị giam cầm. Khi một con người đã quen mang trách nhiệm trong cầu nguyện, họ có thể mang đau khổ trong cầu nguyện. Khi một con người đã quen không tách rời mục vụ khỏi đời sống nội tâm, họ có thể biến nhà tù thành nơi tiếp tục sứ vụ bằng những cách khác. Không phải ngẫu nhiên mà những linh hồn lớn trong thử thách lại thường là những người đã có một đời âm thầm sâu trước đó. Nha Trang không chỉ là giai đoạn hoạt động mạnh của ngài. Nó còn là giai đoạn chiều sâu mục tử và chiều sâu nội tâm nâng đỡ nhau, để chuẩn bị cho một cuộc hiến dâng lớn hơn mà khi ấy chắc chính ngài cũng chưa thấy hết.
Ở một bình diện khác, thời gian làm Giám mục Nha Trang còn cho thấy nơi ngài một cách hiểu rất đẹp về Hội Thánh địa phương. Giáo phận không phải một đơn vị hành chính của Công giáo. Nó là nơi mầu nhiệm Hội Thánh trở nên cụ thể trong một vùng đất, một nền văn hóa, một lịch sử, một dân chúng cụ thể. Vì vậy, mục tử của một giáo phận phải yêu giáo phận ấy như người yêu một thực tại sống động. Không yêu theo kiểu chiếm hữu, nhưng theo kiểu dâng hiến. Không yêu vì đó là “địa bàn” của mình, nhưng vì đó là đoàn chiên Chúa trao. Ngài dường như mang tình yêu như thế. Một tình yêu có trách nhiệm, có thao thức, có kiên nhẫn, có lửa, có tổ chức, có chiều sâu, có cả nỗi đau khi thấy những điều còn thiếu hay còn yếu. Và chính tình yêu ấy làm cho mục vụ của ngài không lạnh.
Nơi một số người, khi được trao quyền lãnh đạo, điều lớn lên là cảm giác mình quan trọng. Nơi một số khác, khi được trao trách nhiệm, điều lớn lên là tình yêu và gánh nặng của người cha. Ở ngài, dường như điều thứ hai lớn lên. Điều này rất đáng quý, vì chức vụ trong Hội Thánh chỉ thật sự mang ý nghĩa khi nó được sống như tình phụ tử thiêng liêng. Một giám mục không chỉ là người đứng đầu. Giám mục là người sinh ra, nuôi dưỡng, sửa dạy, bảo vệ, quy tụ, đau với đoàn chiên, vui với đoàn chiên, và sẵn sàng bị tiêu hao cho đoàn chiên. Khi nhìn ngài trong giai đoạn này, người ta không chỉ thấy một nhà lãnh đạo trẻ thông minh và năng động. Người ta thấy một trái tim đang học ngày càng rõ hơn cách làm cha trong Hội Thánh.
Và có lẽ chính ở đây ta chạm vào điều đẹp nhất của phần đời này: Nha Trang không chỉ là nơi tài năng mục vụ của ngài trổ lộ. Đó là nơi tình yêu Hội Thánh của ngài được thử và lớn. Một người có thể rất thích ý tưởng phục vụ Hội Thánh. Nhưng khi bắt tay vào phục vụ thực sự, khi phải đối diện với giới hạn, với chậm chạp, với những điều không như mình muốn, với những khó khăn mục vụ không lời giải dễ dàng, với sức nặng của trách nhiệm, thì chỉ tình yêu thật mới giữ họ đi tiếp. Ngài đã đi tiếp. Và không chỉ đi tiếp, ngài đi với lửa. Nhưng lửa ấy không đốt cháy hiệp thông. Lửa ấy không thiêu hủy truyền thống. Lửa ấy không làm ngài vội vàng bỏ qua đời sống thiêng liêng. Lửa ấy là lửa của một mục tử trẻ yêu Chúa, yêu Hội Thánh và yêu con người đủ thật để muốn họ được sống sung mãn hơn trong Tin Mừng.
Có những giai đoạn sau này của cuộc đời ngài khiến người ta chú ý nhiều hơn vì kịch tính hơn: năm 1975, những năm tù đày, những chứng từ hy vọng. Nhưng nếu bỏ qua thời kỳ Nha Trang, người ta sẽ không hiểu đầy đủ khuôn mặt của ngài. Vì ở đây, trước khi trở thành chứng nhân của đau khổ, ngài đã là mục tử của xây dựng. Trước khi trở thành biểu tượng của hy vọng trong ngục tù, ngài đã là người gieo hy vọng vào đời sống giáo phận bằng đào tạo, bằng canh tân, bằng lửa mục vụ. Trước khi bị tước mất tự do hoạt động, ngài đã dùng tự do ấy để phục vụ Hội Thánh một cách quảng đại và có tầm nhìn. Chính điều đó làm cho thử thách về sau không biến ngài thành người chỉ biết chịu đựng. Nó làm lộ ra nơi ngài một tình yêu đã được sống thật trước đó.
Nói cách khác, giai đoạn Giám mục Nha Trang cho thấy một chân lý rất đẹp: Thiên Chúa không chuẩn bị các chứng nhân của Ngài chỉ bằng đau khổ. Ngài còn chuẩn bị họ bằng trách nhiệm, bằng sứ vụ, bằng việc cho họ yêu và phục vụ trong tự do trước khi yêu và phục vụ trong xiềng xích. Ở Nha Trang, ngài học làm mục tử giữa đoàn chiên. Về sau, trong tù, ngài vẫn tiếp tục là mục tử dù không còn giáo phận trong tay. Ở Nha Trang, ngài học xây dựng Hội Thánh bằng các phương tiện bình thường của mục vụ. Về sau, trong tù, ngài xây dựng Hội Thánh bằng cầu nguyện, bằng hy sinh, bằng chứng từ. Ở Nha Trang, ngài học canh tân bằng giáo dục và tổ chức. Về sau, trong đau khổ, ngài canh tân các tâm hồn bằng một linh đạo hy vọng. Hai giai đoạn ấy không tách rời nhau. Giai đoạn trước chuẩn bị cho giai đoạn sau. Và cả hai cùng làm nên một con người của Thiên Chúa.
Bởi vậy, khi nhìn lại phần đời này của Đức cha Nguyễn Văn Thuận, ta không chỉ được khích lệ bởi hình ảnh một mục tử trẻ đầy năng lượng. Ta còn được dạy một bài học rất lớn cho Giáo hội hôm nay. Giáo hội cần những người trẻ có lửa, nhưng không chỉ có lửa. Giáo hội cần lửa được dẫn bởi cầu nguyện. Cần canh tân được dẫn bởi hiệp thông. Cần tầm nhìn được dẫn bởi khiêm nhường. Cần hành động được dẫn bởi sự thật. Cần những mục tử biết tổ chức, biết đào tạo, biết đọc các dấu chỉ thời đại, biết chạm vào đời sống con người, nhưng trên hết là biết quỳ gối, biết để mình được Chúa sửa dạy, biết phục vụ mà không thần tượng hóa chính việc phục vụ.
Đức cha Nguyễn Văn Thuận trong giai đoạn Nha Trang chính là một hình ảnh đẹp của kiểu mục tử ấy. Một người trẻ mà không nông. Một người năng động mà không hoạt động chủ nghĩa. Một người canh tân mà không đứt rễ. Một người có tầm nhìn mà không xa đoàn chiên. Một người lãnh đạo mà vẫn giữ được trái tim người cha. Một người yêu Hội Thánh không bằng thứ tình yêu lãng mạn mơ hồ, nhưng bằng thứ tình yêu dấn thân, kiên nhẫn, thực tế, tổ chức, cầu nguyện và hiến dâng.
Và như thế, Nha Trang không chỉ là một chương trong tiểu sử của ngài. Đó là một mùa nở hoa đầu tiên của một đời mục tử. Một mùa nở hoa mà những ai biết nhìn sẽ nhận ra: ở đây đã có những gì sau này sẽ sáng rực hơn trong bóng tối. Ở đây đã có tình yêu Hội Thánh. Ở đây đã có lửa mục vụ. Ở đây đã có chiều sâu nội tâm. Ở đây đã có tinh thần canh tân. Ở đây đã có cái nhìn vượt khỏi hiện tại. Ở đây đã có trái tim của một người cha. Và chính vì đã có những điều đó, nên khi lịch sử bất ngờ bẻ ngoặt cuộc đời ngài, những gì bị bẻ chỉ là hoàn cảnh bên ngoài. Còn cốt lõi bên trong thì không gãy. Vì cốt lõi ấy đã được Chúa rèn quá kỹ trong những năm tháng tưởng như chỉ là mục vụ bình thường.
PHẦN IV: NĂM 1975, BIẾN CỐ BỊ BẮT VÀ KHOẢNH KHẮC THIÊN CHÚA DẪN NGÀI TỪ MỤC VỤ HỮU HÌNH SANG CON ĐƯỜNG THẬP GIÁ
Có những khúc quanh trong đời người đến nhanh đến mức người ta chưa kịp hiểu điều gì đang xảy ra thì mọi sự đã đổi khác. Có những biến cố không hỏi ý ta, không cho ta chuẩn bị tâm lý, không mở ra cho ta một lối chuyển tiếp dịu dàng, nhưng ập đến như một nhát cắt. Trước đó, người ta đang bước đi trên một con đường mà mình hiểu, đang sống trong một sứ vụ mà mình nhận ra, đang yêu bằng những cách quen thuộc, đang phục vụ bằng những phương tiện cụ thể, đang có những dự tính mục vụ, những thao thức cho đoàn chiên, những ước mơ xây dựng Hội Thánh giữa lòng một thời đại nhiều biến động. Thế rồi chỉ trong một thời gian rất ngắn, tất cả bị thay đổi. Cánh cửa đang mở bỗng khép lại. Đôi tay đang làm việc bị buộc lại. Tiếng nói đang có nơi chốn để vang lên bị đẩy vào im lặng. Bước chân đang đi giữa đoàn chiên bị chặn đứng bởi bức tường của giam cầm. Người mục tử đang nghĩ mình sẽ tiếp tục hiến dâng bằng con đường hoạt động hữu hình, bỗng được dẫn vào một con đường khác, rất khác, đau hơn, sâu hơn, kín hơn, và triệt để hơn nhiều.
Đó chính là năm 1975 trong cuộc đời của Đức Tổng Giám mục phó Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Có lẽ không thể đọc biến cố này chỉ bằng ngôn ngữ lịch sử hay xã hội, cho dù lịch sử và xã hội là bối cảnh không thể thiếu. Bởi nếu chỉ dừng ở đó, người ta sẽ nhìn thấy một con người bị bắt, một vị mục tử bị tước mất tự do, một biến cố bất công, một giai đoạn đen tối của đời ngài. Tất cả những điều ấy đều đúng. Nhưng với ánh sáng đức tin, nơi đây còn có một tầng nghĩa khác, rất sâu, rất đau, nhưng cũng rất đẹp: Thiên Chúa đã cho phép một cuộc bẻ gãy xảy ra để dẫn người tôi tớ của Ngài đi từ mục vụ hữu hình sang con đường thập giá, từ việc chăn dắt đoàn chiên bằng sự hiện diện bên ngoài sang việc yêu Hội Thánh bằng một của lễ âm thầm, từ việc phục vụ bằng lời giảng, quyết định, tổ chức và hiện diện sang việc phục vụ bằng tù ngục, nước mắt, im lặng, cô độc và sự hiến dâng không còn chỗ dựa nào ngoài Chúa.
Đây là điều rất khó hiểu nếu chỉ nhìn từ phía con người. Bởi vì ta thường dễ chấp nhận khi Thiên Chúa dẫn một người từ thấp lên cao, từ yếu đến mạnh, từ nghèo đến phong phú, từ giới hạn đến hiệu quả. Nhưng ta khó hiểu khi Ngài dẫn một người từ một cánh đồng mục vụ đang mở rộng sang bức tường kín của nhà tù. Ta dễ nhận ra bàn tay Chúa khi một cánh cửa được mở, nhưng lại bối rối, thậm chí đau đớn, khi chính cánh cửa ấy bị đóng lại. Ta thường nghĩ rằng khi một mục tử có lửa, có tầm nhìn, có trái tim dành cho Hội Thánh, thì hợp lý nhất là để người ấy tiếp tục phục vụ rộng hơn, nhiều hơn, mạnh hơn. Nhưng Thiên Chúa không luôn hành động theo những gì ta gọi là hợp lý. Ngài không chỉ là Thiên Chúa của những gì tăng trưởng theo đường thẳng. Ngài còn là Thiên Chúa của hạt lúa mì phải mục nát đi, của người tôi tớ bị đem vào vùng tối, của Đấng Cứu Thế đi từ những đám đông đến Núi Sọ, từ lời giảng công khai đến sự im lặng trước tòa án, từ những phép lạ hiển hiện đến sự bất lực bị đóng đinh.
Chính trong chiều sâu ấy, biến cố năm 1975 trong cuộc đời ngài không chỉ là sự đứt đoạn của một hành trình mục vụ. Nó là một cuộc vượt qua. Một cuộc vượt qua đau đớn, không tự chọn, không được giải thích sẵn, nhưng là thật. Từ đây, cuộc đời ngài đi vào một bình diện khác. Từ đây, nhiều điều ngài đã học, đã sống, đã rao giảng, đã ấp ủ, sẽ được đưa qua lửa. Không còn là lý tưởng đẹp. Không còn là lòng nhiệt thành trong tự do. Không còn là khả năng xây dựng bằng phương tiện bình thường. Từ đây là chỗ phải trả giá bằng chính da thịt, bằng thời gian, bằng cô đơn, bằng sự không hiểu, bằng cảm giác như bị cắt khỏi tương lai mình tưởng Chúa đã trao.
Cần phải nói thật rằng giờ phút ấy, nếu là bất kỳ ai trong chúng ta, rất có thể phản ứng đầu tiên sẽ là choáng váng. Không phải vì yếu đức tin, nhưng vì đau. Một người đang được trao một trách nhiệm lớn trong Hội Thánh, một người mang trong lòng biết bao thao thức cho dân Chúa, một người chưa kịp bắt đầu nhiều điều mình nghĩ là cần làm, mà bỗng bị giật khỏi tất cả, chắc chắn không thể không đau. Ai nói rằng đức tin làm con người không còn đau là người chưa hiểu đức tin. Đức tin không triệt tiêu đau đớn. Đức tin không làm ta thành gỗ đá. Đức tin không khiến ta không còn cảm thấy mất mát. Trái lại, đôi khi vì yêu nhiều nên đau còn sâu hơn. Người mục tử yêu đoàn chiên thật sẽ đau khi bị tách khỏi đoàn chiên. Người yêu Hội Thánh thật sẽ đau khi thấy mình không còn được phục vụ bằng cách mình đã chuẩn bị cả đời. Người đã dâng đời mình cho Chúa thật sẽ đau khi đường Chúa bẻ ngoặt đời mình theo cách quá khó hiểu.
Và chính ở đây, vẻ đẹp của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận bắt đầu ló ra không phải ở chỗ ngài không đau, nhưng ở chỗ ngài không để đau đớn ấy hóa thành phản loạn nội tâm. Ngài đi qua cú sốc ấy không phải như một người không cảm xúc, nhưng như một người đang học bước vào một sự vâng phục mới. Đó là một cuộc vâng phục không còn được nâng đỡ bởi những hình thức quen thuộc của đời sống mục vụ. Đó là sự vâng phục của Đức Kitô trong Vườn Dầu. Không còn là “Lạy Cha, con sẽ đi giảng dạy, con sẽ chăn dắt, con sẽ xây dựng, con sẽ phục vụ theo những điều tốt đẹp Cha giao.” Từ đây là thứ vâng phục khác: “Lạy Cha, nếu đây là chén Cha muốn con uống, thì con xin uống.” Đây là một trình độ khác hẳn của tình yêu. Không còn là yêu Chúa khi được làm việc cho Chúa. Mà là yêu Chúa khi chính công việc của Chúa bị lấy đi. Không còn là trung thành khi được tự do. Mà là trung thành khi bị cột lại. Không còn là dâng hiến khi còn được lựa chọn cách dâng. Mà là dâng hiến khi của lễ là chính những gì mình không hề chọn.
Biến cố bị bắt năm 1975 vì thế không chỉ là tai họa. Nó là giờ phán xét đối với cốt lõi của một đời ơn gọi. Nơi đây, tất cả những gì là phụ thuộc dần bị bóc đi. Người ta có thật yêu Chúa hơn công việc của Chúa không? Người ta có thật thuộc về Đức Kitô hay chỉ thuộc về vai trò của mình trong Hội Thánh? Người ta có thật sống vì ý Chúa hay chỉ sống vì điều mình nghĩ là đẹp cho Chúa? Người ta có thật tin rằng giá trị của mình nằm trong việc là con của Thiên Chúa, là người của Hội Thánh, hay vẫn âm thầm cột căn tính của mình vào những thành quả, những nhiệm vụ, những vị trí mình đang nắm giữ? Những câu hỏi đó không còn là suy niệm thiêng liêng đẹp đẽ nữa. Chúng trở thành xương thịt. Chúng trở thành thử thách. Chúng trở thành lửa thử lòng.
Và cũng chính trong ngọn lửa ấy, một trong những trực giác lớn nhất của linh đạo Nguyễn Văn Thuận bắt đầu được tinh luyện đến tận đáy: phân biệt giữa Chúa và công việc của Chúa. Có lẽ nếu không có năm 1975, nếu không có biến cố bị bắt, nếu không có cuộc cắt lìa đau đớn ấy, thế giới sẽ không có một chứng nhân sâu như chúng ta đã biết. Có thể ngài vẫn là một mục tử rất tốt, rất năng động, rất yêu Hội Thánh. Nhưng chính bóng tối này đã buộc ngài phải đi vào chỗ sâu hơn: chọn chính Chúa Giêsu, không chỉ chọn việc phục vụ Ngài. Đây là một bài học rất lớn không chỉ cho ngài, nhưng cho cả Giáo hội. Vì biết bao người trong Hội Thánh, từ linh mục, tu sĩ đến giáo dân, vẫn âm thầm nhầm lẫn giữa hai điều ấy. Người ta tưởng mình yêu Chúa, nhưng thật ra nhiều lúc người ta yêu vai trò của mình trong Hội Thánh. Người ta tưởng mình sống cho Tin Mừng, nhưng thật ra nhiều lúc người ta không chịu nổi khi Tin Mừng không còn đi qua những hình thức quen thuộc khiến mình thấy có ích. Người ta tưởng mình quảng đại, nhưng chỉ đến khi bị lấy mất quyền làm việc, bị đặt ra ngoài, bị vô hiệu hóa, người ta mới biết mình đau vì mất Chúa hay đau vì mất cảm giác mình quan trọng.
Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đã phải đi qua chính lưỡi gươm ấy. Và ngài đã không né. Ngài đau, nhưng ngài không bỏ chạy khỏi sự thật. Ngài để Chúa thanh luyện mình trong chính biến cố mà con người gọi là đổ vỡ. Và từ đó, một cuộc hoán cải rất sâu xảy ra: từ chỗ bận lòng về những gì mình sẽ không còn làm được, ngài đi đến chỗ quyết định sống trọn giây phút hiện tại với Chúa. Đây không phải là một lựa chọn tâm lý để tự trấn an. Đây là một bước nhảy đức tin. Khi tương lai bị khóa lại, khi quá khứ không cứu được mình, khi mọi kế hoạch bị cuốn đi, chỉ còn hiện tại. Mà chính trong hiện tại đó, Thiên Chúa vẫn có mặt. Đây là một khám phá làm thay đổi toàn bộ hành trình của ngài. Nếu ngài cứ bám vào ngày mai không biết bao giờ mới đến, ngài sẽ chết dần trong thất vọng. Nếu ngài cứ quay mãi về hôm qua như vùng đất đã mất, ngài sẽ chìm trong nuối tiếc. Chỉ khi chấp nhận rằng Chúa đang đợi mình ngay trong giây phút bị bắt, trong giây phút bị áp giải, trong giây phút không hiểu nổi điều gì đang đến, ngài mới bắt đầu bước vào tự do nội tâm.
Khoảnh khắc ấy, theo nghĩa nào đó, là khoảnh khắc mục vụ hữu hình của ngài bị bẻ gãy. Nhưng cũng chính lúc ấy, một sứ vụ mới được khai sinh. Sứ vụ cũ là sứ vụ thấy được bằng mắt: giảng dạy, điều hành, tổ chức, hiện diện, gặp gỡ, dẫn dắt. Sứ vụ mới thì vô hình hơn, nhưng không kém thực. Từ đây, ngài bắt đầu học chăn dắt bằng cầu nguyện, bằng hiệp lễ thiêng liêng, bằng đau khổ hiến dâng, bằng tình yêu âm thầm, bằng sự tha thứ, bằng việc không để trái tim trở nên đen tối. Đây là điều rất nhiệm mầu trong đời các thánh và các chứng nhân: Thiên Chúa có thể lấy khỏi họ một hình thức phục vụ để trao cho họ một hình thức khác, nghèo hơn trước mắt người đời nhưng sinh hoa trái sâu hơn trong mầu nhiệm Hội Thánh.
Từ góc nhìn này, năm 1975 không chỉ là năm một vị mục tử bị bắt. Đó là năm một của lễ bị đặt lên bàn thờ theo cách tàn nhẫn nhất của lịch sử nhưng lại sâu nhất trong kế hoạch nhiệm mầu của Thiên Chúa. Tất nhiên, điều đó không biến bất công thành công lý, cũng không làm đau khổ bớt đau. Không ai được dùng ngôn ngữ thiêng liêng để làm nhẹ đi tính chất nghiệt ngã của sự dữ. Sự dữ là sự dữ. Bất công là bất công. Tước đoạt tự do là tước đoạt tự do. Nhưng điều lạ lùng của Thiên Chúa là: Ngài không chỉ chiến thắng sự dữ bằng cách ngăn nó xảy ra. Nhiều khi, Ngài chiến thắng bằng cách không để sự dữ có tiếng nói cuối cùng. Nơi ngài, nhà tù không là tiếng nói cuối cùng. Sự cắt đứt không là tiếng nói cuối cùng. Sự im lặng cưỡng bức không là tiếng nói cuối cùng. Tiếng nói cuối cùng là tình yêu, là sự kết hợp với Đức Kitô, là niềm hy vọng, là một tự do không ai còng tay được.
Thật ra, chính trong khoảnh khắc bị bắt ấy, có thể nói ngài bắt đầu sống một hình thức tử đạo âm thầm. Không phải tử đạo đổ máu một lần, nhưng là tử đạo của thời gian. Tử đạo vì bị lấy khỏi đoàn chiên. Tử đạo vì không được hiện diện nơi mình muốn hiện diện. Tử đạo vì nhìn thấy mọi dự định sụp xuống. Tử đạo vì bị hiểu sai. Tử đạo vì bị đẩy vào cô độc. Tử đạo vì không thể biện minh. Tử đạo vì không được giải thích. Tử đạo vì không biết hành trình này dài bao lâu. Đó là một thứ thập giá không ầm ĩ, nhưng nghiền nát con người dần dần. Và chính tại đây, nếu không có đời sống nội tâm đã được chuẩn bị trước, nếu không có tình yêu đối với Chúa đã bén rễ sâu từ lâu, nếu không có trái tim mục tử đã học trung thành trong những năm tháng trước đó, thì rất dễ để một con người gãy đổ, hoặc ít ra cũng trở nên cay đắng. Nhưng nơi ngài, sự thật ngược lại đã diễn ra: càng bị ép vào chỗ không còn gì để bám ngoài Chúa, ngài càng đi sâu hơn vào Chúa.
Có một vẻ đẹp rất lớn trong cách Thiên Chúa hành động nơi những người Ngài chọn. Ngài không chỉ dùng sức mạnh của họ. Ngài còn dùng chính sự bất lực của họ. Trước năm 1975, Đức cha Nguyễn Văn Thuận phục vụ Hội Thánh bằng những khả năng thấy được: trí tuệ, tầm nhìn, năng lực tổ chức, trái tim mục tử, sức trẻ, sự hiện diện. Sau năm 1975, Ngài bắt đầu phục vụ Hội Thánh bằng chính sự bất lực được dâng lên. Đây là một thay đổi khủng khiếp đối với bản năng con người, nhưng lại cực kỳ phong nhiêu trong mầu nhiệm cứu độ. Vì trong Đức Kitô, không phải chỉ có hành động mới sinh hoa trái. Cả thập giá cũng sinh hoa trái. Không phải chỉ có lời giảng mới cứu người. Sự im lặng kết hợp với Thiên Chúa cũng cứu người. Không phải chỉ có thành công mới xây dựng Hội Thánh. Những thất bại được hiến dâng cũng xây dựng Hội Thánh. Không phải chỉ có tự do hoạt động mới làm chứng cho Tin Mừng. Sự trung thành trong tù ngục cũng có thể là một bài giảng hùng hồn hơn hàng ngàn bài giảng.
Khoảnh khắc ngài bị dẫn vào con đường thập giá vì thế là một mầu nhiệm kép: bên ngoài là mất, bên trong là được; bên ngoài là đóng lại, bên trong là mở ra; bên ngoài là bị làm cho im tiếng, bên trong là được dạy một ngôn ngữ sâu hơn; bên ngoài là bị rút khỏi đời sống công khai, bên trong là được kéo vào chính trái tim của Đức Kitô chịu đóng đinh. Đây không phải là lối nói đẹp quá mức. Đây là thực tại thiêng liêng của một người đã chấp nhận để Chúa làm chủ ngay cả trên những phần đổ nát nhất của đời mình. Nơi đó, mục vụ hữu hình nhường chỗ cho con đường hiệp thông sâu hơn với cuộc khổ nạn của Chúa. Và chính sự hiệp thông ấy sau này sẽ trở thành nguồn cho mọi trang viết, mọi chứng từ, mọi lời giảng về hy vọng mà cả thế giới được nghe từ ngài.
Không thể nói về năm 1975 mà không nói đến sự cô độc bắt đầu phủ xuống tâm hồn một người mục tử. Cô độc ở đây không chỉ là không có người bên cạnh. Cô độc là cảm giác bị cắt khỏi những tương quan vốn làm nên nhịp sống của mình. Một mục tử sống giữa dân Chúa, quen mang lấy họ trong lòng, quen suy nghĩ về họ, quen trao ban cho họ, bỗng bị nhốt lại, đó là một kiểu cô độc rất đặc biệt. Nó không giống sự yên tĩnh của nhà nguyện. Nó là sự trống vắng bị áp đặt. Nó là nỗi đau của một tình yêu không còn biết phải trao ra bằng cách nào. Và chính trong chỗ này, Thiên Chúa bắt đầu dạy ngài một điều rất sâu: yêu không chỉ bằng hiện diện hữu hình. Có một cách yêu khác, khó hơn, kín hơn, nhưng không kém thật. Đó là yêu trong cầu nguyện, yêu bằng hy sinh, yêu bằng sự hiệp thông âm thầm, yêu bằng việc chịu đau mà không để mình thành cay đắng. Từ đây, đoàn chiên của ngài không còn ở trước mắt, nhưng lại ở trong lời nguyện nhiều hơn trước. Từ đây, Hội Thánh của ngài không còn là một thực tại để ngài tổ chức bằng tay, nhưng là Hiền Thê của Đức Kitô mà ngài ôm vào lòng trong đau đớn.
Phần sâu nhất của biến cố này không nằm ở chỗ cuộc đời ngài bị đổi khác, mà ở chỗ trái tim ngài đã để cho Chúa đổi nghĩa của cuộc đời ấy. Có những người khi gặp biến cố lớn, cuộc đời họ đổi khác nhưng tâm hồn họ chỉ khép lại. Có những người vẫn sống tiếp, nhưng từ đó tất cả chỉ còn là chịu đựng. Có những người không mất đức tin hoàn toàn, nhưng đức tin của họ trở thành vùng ký ức buồn nhiều hơn là nguồn sự sống. Còn nơi ngài, nhờ ân sủng và nhờ sự cộng tác rất thật, biến cố bị bắt dần dần trở thành lò luyện nơi con người cũ bị bóc đi để con người mới lớn lên. Không phải tức khắc. Không phải không giằng co. Không phải không có những đêm tối. Nhưng có một hướng đi rõ ràng: thay vì khép lại, ngài mở ra cho Chúa hơn; thay vì bám vào điều đã mất, ngài bám vào Đấng không mất; thay vì để quá khứ nuốt hiện tại, ngài tìm cách thánh hóa hiện tại; thay vì nhìn nhà tù chỉ như nơi mình bị tước đoạt, ngài dần nhận ra đây cũng là nơi mình được mời gọi hiến dâng.
Chính từ đó, ta hiểu rằng năm 1975 không chỉ là khởi đầu của đau khổ. Nó còn là khởi đầu của một linh đạo được đốt đến độ tinh ròng hơn. Một linh đạo mà sau này thế giới gọi tên bằng nhiều cách: linh đạo hy vọng, linh đạo hiện tại, linh đạo của năm chiếc bánh và hai con cá, linh đạo của tha thứ và hòa giải. Nhưng nơi khai sinh của tất cả không nằm ở bàn viết trước hết. Nó nằm ở biến cố bị bắt. Nó nằm ở khoảnh khắc mọi chỗ dựa bên ngoài bị rút đi. Nó nằm ở phút một người mục tử buộc phải quyết định sẽ sống từ đâu: từ nỗi đau bị cướp mất, hay từ Chúa vẫn còn ở với mình ngay trong nỗi đau ấy. Và ngài đã chọn Chúa.
Đó là lý do vì sao khi nhìn lại biến cố năm 1975, ta không chỉ thấy một vết thương của lịch sử. Ta còn thấy một cửa hẹp của Tin Mừng. Một cửa hẹp mà ngài đã bước qua. Một cửa hẹp dẫn từ hiệu quả sang hiến lễ, từ hoạt động sang hiện diện nội tâm, từ kế hoạch của con người sang sáng kiến nhiệm mầu của Thiên Chúa, từ vai trò bên ngoài sang căn tính sâu nhất là người thuộc trọn về Đức Kitô. Cửa ấy hẹp vì đau. Hẹp vì tối. Hẹp vì không có gì để nắm chắc ngoài đức tin. Nhưng chính vì thế mà khi bước qua, ngài bắt đầu đi vào một độ tự do mới, một độ sâu mới, một mức độ kết hợp mới với Chúa Giêsu chịu đóng đinh và phục sinh.
Và có lẽ, đây là điều mà Giáo hội Việt Nam phải quỳ xuống để học nơi ngài. Chúng ta thích nhìn những giai đoạn ngài sáng chói trong nhân đức, nhưng ít ai muốn đi vào nơi sự sáng ấy được sinh ra: trong bóng tối của sự bị cắt bỏ. Chúng ta thích nghe ngài nói về hy vọng, nhưng ít khi dám ở lâu trước khoảnh khắc mà ngài có thể đã hoàn toàn chìm trong thất vọng nếu không chọn Chúa. Chúng ta thích đọc Năm chiếc bánh và hai con cá, nhưng phải nhớ rằng cuốn sách ấy không xuất hiện từ một tâm hồn được che chở khỏi đổ vỡ. Nó được sinh ra từ một trái tim bị bẻ ra và đã không khước từ tiến trình bị bẻ ấy trong tay Chúa.
Năm 1975 vì thế không phải là chương phụ của đời ngài. Đó là một bản lề. Một vết cắt. Một lễ vượt qua. Một thứ Sáu Tuần Thánh rất dài bắt đầu mở ra. Và từ đây, tất cả sẽ khác. Ngài sẽ không còn là vị mục tử sống sứ vụ theo những con đường quen thuộc nữa. Ngài sẽ bị đưa vào sa mạc. Vào đêm tối. Vào thử thách. Vào những năm tháng mà chỉ một mình Chúa biết hết những gì một con người phải chiến đấu để không đánh mất ánh sáng bên trong. Nhưng cũng từ đây, ngài sẽ dần trở thành thứ quà tặng mà Thiên Chúa dành cho Giáo hội Việt Nam và cho cả Hội Thánh hoàn vũ: một con người chứng minh bằng chính thân phận mình rằng hận thù không mạnh hơn tình yêu, tù ngục không mạnh hơn tự do nội tâm, bất công không mạnh hơn tha thứ, và thập giá không phải là tiếng nói cuối cùng.
PHẦN V: NHỮNG NĂM THÁNG TÙ ĐÀY, BIỆT GIAM VÀ CUỘC CHIẾN NỘI TÂM ĐỂ KHÔNG ĐÁNH MẤT THIÊN CHÚA
Có những đau khổ đánh mạnh vào thân xác, có những đau khổ khoét sâu vào danh dự, có những đau khổ làm đảo lộn tương lai, nhưng có một thứ đau khổ còn khủng khiếp hơn nhiều: đó là đau khổ âm thầm bào mòn linh hồn, thứ đau khổ không ập xuống như một nhát chém rồi thôi, nhưng ở lại, kéo dài, lặp đi lặp lại, vây người ta bằng những bức tường vô hình và hữu hình, làm cho từng ngày sống trở thành một thử thách, từng giờ thức trở thành một câu hỏi, từng đêm tối trở thành một cuộc đối diện không khoan nhượng với chính mình, với nỗi sợ, với sự cô đơn, với cảm giác bị quên lãng, với những cám dỗ tinh vi muốn kéo linh hồn rời khỏi Chúa. Những năm tháng tù đày và biệt giam của Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận phải được đọc trong ánh sáng ấy. Nếu chỉ kể rằng ngài bị giam, bị cô lập, bị tước mất tự do, bị cắt khỏi đời sống mục vụ, thì vẫn chưa chạm đến chiều sâu thật của những gì ngài đã phải sống. Điều lớn nhất không phải chỉ là thân xác bị nhốt lại. Điều lớn nhất là cuộc chiến nội tâm để không đánh mất Thiên Chúa. Và chính ở đó, vẻ đẹp của ngài trở thành một trường học cho cả Giáo hội.
Khi một con người bị đưa vào tù, người ta thường nghĩ rằng hình phạt nằm ở song sắt, ở bức tường, ở điều kiện sống thiếu thốn, ở việc bị kiểm soát từng bước đi. Tất cả những điều ấy đều thật. Nhưng với một linh hồn, nhất là một linh hồn đã từng sống rất sâu trong sứ vụ, hình phạt còn nằm ở chỗ khác: ở sự vô định. Không biết bao giờ mới ra. Không biết chuyện gì sẽ xảy đến. Không biết mình còn được gặp lại đoàn chiên không. Không biết công trình Chúa trao cho mình sẽ đi về đâu. Không biết những người mình yêu thương đang sống ra sao. Không biết tiếng nói của mình có còn chạm đến ai nữa không. Không biết những ngày này chỉ là một giai đoạn ngắn hay là cả một đời còn lại. Sự vô định ấy là một hình thức tra tấn rất thật. Bởi vì con người có thể chịu đựng nhiều thứ nếu biết giới hạn của nó. Một người có thể đau nếu biết rằng cơn đau rồi sẽ qua. Một người có thể ở trong đêm nếu biết bình minh sẽ tới vào lúc nào. Nhưng bị đặt vào một thời gian không hình dạng, không lối thoát, không câu trả lời, đó là cách khiến linh hồn dễ mệt, dễ rã, dễ rơi vào kiệt quệ.
Và chính trong vùng mù ấy, cuộc chiến lớn nhất bắt đầu. Không còn là cuộc chiến để giữ lấy một chức vụ. Không còn là cuộc chiến để bảo vệ một kế hoạch. Không còn là cuộc chiến để làm được điều gì lớn cho Hội Thánh theo nghĩa hữu hình. Từ đây là cuộc chiến căn bản hơn nhiều: liệu mình có còn ở với Chúa không khi mọi sự dường như đã sụp? Liệu mình có còn tin rằng Chúa hiện diện trong bóng tối này không? Liệu mình có còn giữ được lòng mình khỏi cay đắng không? Liệu mình có còn yêu được không, khi chung quanh mình là bất công? Liệu mình có còn cầu nguyện được không, khi tâm trí bị nghiền nát bởi lo âu, cô đơn, bấp bênh và không biết ngày mai? Liệu mình có còn nhớ rằng căn tính sâu nhất của mình là thuộc về Chúa, khi mọi dấu chỉ bên ngoài từng nâng đỡ căn tính ấy đã bị tước mất gần như hết?
Đây là nơi người ta phải hiểu rằng thánh thiện trong nhà tù không phải là một thứ ánh sáng mơ hồ, lúc nào cũng dịu dàng, lúc nào cũng đầy cảm hứng. Không. Thánh thiện ở đó là một cuộc chiến. Một cuộc chiến thật. Một cuộc chiến có lúc khô khan đến tận xương. Có lúc phải chiến đấu chỉ để giữ cho mình khỏi chìm vào tuyệt vọng. Có lúc phải chiến đấu chỉ để không buông lời oán trách. Có lúc phải chiến đấu chỉ để không để những người làm khổ mình chiếm lấy vùng sâu nhất của tâm hồn. Có lúc phải chiến đấu chỉ để nhớ rằng Chúa không vắng mặt dù mọi giác quan đều cảm thấy như Ngài đang im lặng. Chính ở chỗ này, Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận không chỉ là một người chịu tù giỏi. Ngài là một chứng nhân đã chấp nhận bước vào cuộc chiến nội tâm với tất cả sự thật của nó, và nhờ ân sủng, ngài đã không đánh mất Thiên Chúa.
Có một cám dỗ rất lớn trong đau khổ kéo dài: đó là để cho đau khổ trở thành trung tâm. Ban đầu, người ta đau vì một điều thật. Điều đó chính đáng. Nhưng nếu không cẩn thận, dần dần toàn bộ đời sống nội tâm sẽ xoay quanh vết thương ấy. Người ta thức dậy với nó, nghĩ bằng nó, nhìn mọi sự qua nó, giải thích thế giới bằng nó, và cuối cùng, nó trở thành cái lõi mới của con người. Khi đó, Chúa bị đẩy ra ngoài vùng trung tâm, dù người ta vẫn còn giữ đạo, vẫn còn đọc kinh, vẫn còn xưng mình là tin. Đây là một cám dỗ âm thầm khủng khiếp. Và những năm tù đày chính là môi trường rất thuận cho cám dỗ ấy lớn lên. Bởi vì khi bị nhốt, con người rất dễ bị dồn về phía nỗi đau của chính mình. Mọi cái bị thu hẹp lại. Không còn những phân tán bình thường của đời sống. Không còn những nâng đỡ quen thuộc. Không còn không gian để chuyển hướng tâm trí một cách lành mạnh. Chỉ còn mình, nỗi đau, ký ức, lo âu, bóng tối và thời gian kéo dài. Trong một bối cảnh như vậy, giữ cho Chúa vẫn là trung tâm là một cuộc chiến có khi phải trả giá từng giờ.
Và đó chính là điều làm cho cuộc đời ngài rực sáng. Ngài đã không phủ nhận đau khổ, nhưng ngài không cho phép nó lên ngôi. Ngài đã không giả vờ rằng mình không cô đơn, nhưng ngài không để cô đơn trở thành thần tượng buồn thảm chiếm hết tâm hồn. Ngài đã không tự lừa rằng mình không bị cắt đứt khỏi đoàn chiên, nhưng ngài không để cảm giác mất mát ấy dìm chết tương quan của mình với Chúa. Nói cách khác, ngài không sống trong tù như một nạn nhân đang chăm chú vào số phận của mình. Ngài tập sống trong tù như một người con đang tìm Cha giữa đêm tối. Đây là một thay đổi cực kỳ lớn. Và không phải tự nhiên mà có. Nó là kết quả của bao nhiêu lần phải chọn. Chọn quay về với Chúa thay vì quay vòng trong uất ức. Chọn cầu nguyện dù không thấy gì. Chọn yêu dù không được đáp lại. Chọn giữ lòng trong ánh sáng dù chung quanh đầy bóng tối.
Những năm biệt giam lại càng đưa cuộc chiến ấy vào chỗ khốc liệt hơn. Vì nếu ở giữa một cộng đoàn tù nhân nào đó, con người còn có thể bám vào chút giao tiếp, chút chia sẻ, chút hiện diện của người khác. Còn biệt giam là một hình thức tước đoạt sâu hơn. Nó đẩy con người vào khoảng trống. Mà khoảng trống kéo dài là nơi nhiều tiếng nói bắt đầu vang lên. Có tiếng nói của ký ức. Có tiếng nói của nỗi sợ. Có tiếng nói của oán giận. Có tiếng nói của mệt mỏi. Có tiếng nói của nghi ngờ. Có tiếng nói thì thầm rằng mọi cố gắng đều vô ích. Có tiếng nói bảo rằng mình đã bị bỏ quên. Có tiếng nói gợi lên hình ảnh của những gì đã mất để làm lòng người thêm nhói. Có tiếng nói ngọt ngào hơn nhưng độc hơn: thôi đừng hy vọng nữa, thôi đừng cố gìn giữ nữa, hãy đóng lại cho đỡ đau. Giữa rất nhiều tiếng nói đó, làm sao để tiếng của Chúa không bị chìm đi? Đó là cuộc chiến.
Nhiều người nghĩ rằng đánh mất Thiên Chúa là chuyện của người bỏ đạo công khai, của người chối đức tin bằng môi miệng. Nhưng thật ra, có một cách đánh mất Thiên Chúa tinh vi hơn nhiều. Đó là khi người ta vẫn giữ bên ngoài, nhưng bên trong không còn sống với Ngài nữa. Khi lời cầu nguyện chỉ còn là âm thanh, không còn là chỗ nương. Khi các chân lý đức tin vẫn còn đó, nhưng không còn là lửa sưởi ấm đêm tối. Khi người ta vẫn gọi tên Chúa, nhưng trái tim thì bị những quyền lực khác cai trị: cay đắng, sợ hãi, tuyệt vọng, tự thương thân, oán ghét, khô cứng. Chính vì thế, giữ được Thiên Chúa trong tù không chỉ là tiếp tục đọc kinh. Giữ được Thiên Chúa là giữ cho lòng mình vẫn mở với Ngài. Là không khép cửa từ bên trong. Là không biến Ngài thành một ý niệm xa xôi. Là chiến đấu để Ngài vẫn còn là Đấng sống, Đấng hiện diện, Đấng có thật ngay trong nơi tưởng như hoàn toàn thiếu vắng.
Có lẽ một trong những ơn lớn nhất mà Thiên Chúa ban cho ngài trong những năm ấy là ơn biến hiện tại thành nơi gặp gỡ. Nếu không có ơn này, ngài khó lòng sống nổi. Bởi vì nhà tù làm cho tương lai trở thành một vùng mù và quá khứ trở thành một vùng đau. Mà nếu cứ sống bằng quá khứ, linh hồn sẽ bị nuốt bởi nhớ thương và tiếc nuối. Nếu cứ bám vào tương lai, linh hồn sẽ bị ăn mòn bởi chờ đợi bất lực. Chỉ còn hiện tại. Nhưng hiện tại trong tù là gì? Là bức tường. Là sự đơn điệu. Là thiếu thốn. Là giờ phút chậm chạp. Là những lệnh cấm. Là sự im lặng dày. Là cảm giác như đời mình không còn tác dụng. Nếu chỉ nhìn hiện tại như thế, nó sẽ đè nát linh hồn. Nhưng nếu nhìn hiện tại như nơi duy nhất Chúa đang đợi mình, thì chính hiện tại ấy lại trở thành lối thoát. Không phải lối thoát khỏi nhà tù, nhưng lối thoát khỏi vực thẳm nội tâm. Khi ngài quyết định sống trọn giây phút hiện tại với tất cả tình yêu, ngài đã tìm thấy một chìa khóa thiêng liêng có thể nói là quyết định cho sự sống còn của linh hồn mình.
Ở đây, điều rất đẹp là ngài không biến giây phút hiện tại thành một kỹ thuật tự cứu mình. Ngài không dùng nó như một mẹo tâm lý để đỡ đau. Ngài sống hiện tại như điểm hẹn với ý Chúa. Nghĩa là: nếu giờ này Chúa cho phép tôi ở đây, thì tôi sẽ tìm Chúa ở đây. Nếu hôm nay tôi không thể làm điều lớn, tôi sẽ yêu Chúa trong điều nhỏ. Nếu tôi không thể giảng cho đám đông, tôi sẽ nói với Chúa trong thinh lặng. Nếu tôi không thể bước đến với đoàn chiên, tôi sẽ hiệp thông với họ trong hy sinh. Nếu tôi không thể tổ chức mục vụ, tôi sẽ dâng chính sự bất lực của mình như một việc mục vụ vô hình. Chính nhờ cách nhìn ấy, ngài bắt đầu lấy lại tự do nội tâm. Người khác có thể nhốt thân xác ngài, nhưng không thể buộc ngài ngừng yêu. Người khác có thể cắt ngài khỏi sứ vụ hữu hình, nhưng không thể cắt ngài khỏi việc thuộc về Chúa. Người khác có thể làm cho ngày tháng của ngài thành nghèo nàn, nhưng không thể ngăn ngài biến sự nghèo nàn ấy thành của lễ.
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là từ đây mọi sự trở nên dễ dàng. Không. Càng về sau, càng phải thấy rằng những lựa chọn thiêng liêng ấy không xóa đi thử thách. Chúng chỉ làm cho ngài có một hướng để bước. Nhưng từng ngày vẫn là từng ngày chiến đấu. Có những lúc sự mệt mỏi thân xác đè xuống. Có những lúc tâm trí rã rời. Có những lúc ký ức về đoàn chiên, về Hội Thánh, về những gì đang dang dở trở lại như những lưỡi dao nhẹ nhưng dai. Có những lúc ngài phải đối diện với nguy cơ sống như một người chỉ còn tồn tại chứ không còn sống. Trong một hoàn cảnh như thế, điều cứu ngài không phải là cảm xúc sốt sắng liên tục, mà là kỷ luật nội tâm. Kỷ luật cầu nguyện. Kỷ luật quay về với Chúa. Kỷ luật giữ cho tâm trí không bị những bóng tối nuốt trọn. Kỷ luật dâng ngày sống, dâng cơn đau, dâng nỗi cô độc, dâng cả những lúc chẳng thấy gì ngoài một màn đêm đặc.
Người ta hay khâm phục những trang viết đẹp của ngài về hy vọng, nhưng có lẽ ít người nghĩ đến cái giá của từng chữ ấy. Hy vọng nơi ngài không sinh ra từ một khung cảnh yên bình. Nó không phải là sản phẩm của một tư tưởng lạc quan bẩm sinh. Nó được sinh ra trong đêm. Mỗi ý tưởng về hy vọng, mỗi lời mời gọi tha thứ, mỗi xác tín về hiện tại, mỗi khẳng định rằng Chúa vẫn ở đó, đều được thử bằng mồ hôi linh hồn. Chính vì thế, lời của ngài có sức nặng. Người ta tin ngài không phải vì ngài nói đẹp. Người ta tin vì biết rằng đằng sau mỗi lời ấy là một cuộc chiến đã diễn ra thật trong nội tâm. Ngài không nói về ánh sáng từ bên ngoài bóng tối. Ngài nói như người đang đứng trong bóng tối mà vẫn thấy một tia sáng nhỏ và quyết không phản bội tia sáng ấy.
Một trong những nơi cuộc chiến ấy trở nên cụ thể nhất là tương quan của ngài với Thánh Thể. Đối với một linh mục, bị cắt khỏi việc cử hành và sống Thánh lễ cách bình thường là một đau đớn rất sâu. Vì Thánh Thể không chỉ là một nghi lễ phải chu toàn. Đó là trung tâm đời linh mục. Đó là nơi người linh mục sống căn tính sâu nhất của mình: được kết hợp với hy tế của Đức Kitô, được trao ban như bánh bẻ ra, được ở trước mặt Chúa thay cho dân Người và vì dân Người. Trong nhà tù, nỗi đói Thánh Thể không chỉ là nỗi đói của một tín hữu ngoan đạo. Đó là nỗi đau của một linh mục bị đụng đến tim. Và chính trong nỗi đói ấy, ta lại thấy một điều rất nhiệm mầu: ngài càng bị tước mất những cách thức bình thường để sống với Chúa, ngài càng đi đến chỗ quý Chúa hơn, khao khát Chúa hơn, bám lấy Chúa hơn. Nơi nhiều người, thiếu thốn lâu ngày có thể làm họ nguội đi. Nơi ngài, thiếu thốn lại làm lộ ra ngọn lửa không phụ thuộc vào hoàn cảnh.
Nhưng để giữ được ngọn lửa ấy, ngài đã phải chiến đấu dữ dội chống lại sự chai lì. Đây là một cám dỗ ít người nói đến nhưng rất thật. Trong đau khổ kéo dài, người ta không chỉ sợ tuyệt vọng. Người ta còn sợ đến một lúc nào đó mình không còn cảm gì nữa. Không còn đau đủ để kêu. Không còn nóng đủ để cầu nguyện. Không còn mềm đủ để khóc. Không còn tha thiết đủ để hy vọng. Linh hồn trở thành như một mặt đất khô, nứt, trơ. Và chính tình trạng ấy rất nguy hiểm, vì nó giống như một hình thức chết dần. Cuộc chiến để không đánh mất Thiên Chúa vì thế cũng là cuộc chiến để không để lòng mình hóa đá. Để vẫn còn biết xin ơn. Vẫn còn biết kêu lên. Vẫn còn biết nhớ rằng mình cần Chúa. Vẫn còn biết để mình nghèo trước Ngài. Vẫn còn biết đau trước những gì đáng đau và mềm trước những gì là ân sủng.
Ở một chiều sâu khác, những năm tù đày còn là nơi ngài học một thứ tự do mới: tự do không để mình bị định nghĩa bởi hoàn cảnh. Đây là điều rất hiếm. Bởi vì con người thường định nghĩa mình bằng những gì mình đang trải qua. Nếu đang bị xúc phạm, mình thấy mình là người bị xúc phạm. Nếu đang bị thất bại, mình thấy mình là kẻ thất bại. Nếu đang bị tước đoạt, mình thấy mình là người bị lấy mất. Cách nhìn ấy có phần đúng ở bề mặt, nhưng nếu linh hồn ở luôn trong đó, nó sẽ mất căn tính sâu nhất. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đã phải chiến đấu để nhớ rằng mình vẫn là người của Chúa, vẫn là mục tử, vẫn là con của Hội Thánh, ngay cả khi bên ngoài mọi biểu tượng quen thuộc của căn tính ấy đều bị lột đi. Ngài vẫn là linh mục dù không được sống đời linh mục theo nhịp bình thường. Ngài vẫn là mục tử dù không có đoàn chiên trước mắt. Ngài vẫn là người tự do ở chiều sâu dù thân xác bị giam. Đây không phải là lối nói an ủi. Đây là một cuộc chinh phục nội tâm.
Và chính ở đây, ta thấy linh đạo “Năm chiếc bánh và hai con cá” bắt đầu thành hình bằng máu thịt. Có những lúc ngài không còn gì lớn để dâng. Không còn công trình. Không còn tiếng nói công khai. Không còn quyền quyết định. Không còn chương trình mục vụ. Không còn tự do đi đến với người khác. Chỉ còn những cái rất nhỏ: một lời nguyện, một cử chỉ kỷ luật nội tâm, một quyết định không ghét, một nụ cười không cay độc, một giây phút dâng lên Chúa, một hành vi tha thứ, một nỗ lực gìn giữ hiện tại. Nhiều người sẽ coi những thứ đó là quá ít. Nhưng chính ở chỗ quá ít ấy, Thiên Chúa làm phép lạ. Ngài dùng cái ít ỏi của người tôi tớ để nuôi một dân đói hy vọng. Đó là điểm cốt lõi. Và điều này không chỉ xảy ra sau khi ngài ra tù và viết sách. Nó bắt đầu ngay trong tù, khi ngài học dâng cho Chúa cái “ít ỏi” còn lại của đời mình mà không khinh thường nó.
Những năm biệt giam còn làm sáng lên tương quan của ngài với Đức Maria. Khi mọi chỗ dựa bị rút đi, linh hồn rất cần một bàn tay mẫu tử để không chìm trong khô khan tuyệt đối. Lòng yêu mến Đức Mẹ nơi ngài không phải là một phần phụ thuộc của đạo đức, nhưng là một nơi trú ẩn thật. Trong đêm tối, nhiều khi người ta không còn đủ lời để làm thần học, không còn sức để tư duy những hệ thống lớn. Người ta cần bám vào một kinh Kính Mừng, một tràng hạt, một lời thưa nhỏ bé nhưng bền bỉ. Và chính những điều xem ra rất đơn sơ ấy lại gìn giữ linh hồn khỏi vỡ. Đây là điều người ta thấy nơi ngài: càng đi qua lửa, đức tin của ngài càng trở nên đơn sơ mà sâu, càng ít bám vào những điều phụ mà càng bám vào những cốt lõi: Chúa Giêsu, Thánh Thể, Lời Chúa, Đức Mẹ, Hội Thánh, tha thứ, hy vọng, hiện tại, tình yêu.
Một điểm rất khó nhưng rất đẹp trong cuộc chiến nội tâm ấy là việc ngài không để những người canh giữ mình trở thành kẻ chiếm giữ trái tim mình. Đây là một chiến thắng lớn. Bởi vì con người rất dễ bị ám bởi những ai làm mình đau. Họ bước vào tâm trí mình, vào lời nói mình, vào cách mình nhìn đời. Dần dần, họ có mặt trong mình nhiều hơn cả Thiên Chúa. Khi đó, dù mình có bị nhốt hay không, mình đã mất tự do. Ngài đã chiến đấu để không rơi vào tình trạng đó. Ngài không để lòng mình bị cai trị bởi oán ghét. Đây không phải là một chiến thắng cảm xúc, như thể ngài tự nhiên thấy mọi sự nhẹ nhàng. Không. Đây là chiến thắng của ân sủng được cộng tác. Là quyết định mỗi ngày không cho bóng tối được quyền định hình linh hồn mình. Là chọn nhìn những con người kia không chỉ qua hành vi họ đang làm, nhưng qua phẩm giá sâu hơn mà Chúa vẫn thấy nơi họ. Là từ chối để sự dữ nhân đôi bằng cách sinh thêm sự dữ trong lòng mình.
Đây là nơi tha thứ nơi ngài bắt đầu không còn là một ý tưởng luân lý đẹp, mà trở thành một đòi hỏi sống còn. Nếu không tha thứ, linh hồn sẽ bị ăn mòn từ bên trong. Không tha thứ không làm người kia đau thêm bao nhiêu, nhưng chắc chắn làm lòng mình chết dần. Dĩ nhiên, tha thứ không có nghĩa là phủ nhận điều ác, cũng không có nghĩa là nói điều đã xảy ra là bình thường. Tha thứ ở đây là không giao tương lai linh hồn mình cho bóng tối. Là giữ quyền để Chúa vẫn là Chúa của lòng mình. Là không để mình trở thành bản sao của những điều mình ghét. Và thật kỳ diệu, chính nhờ tha thứ, ngài lại càng tự do hơn. Không phải tự do để đi ra khỏi nhà tù, nhưng tự do để ở với Thiên Chúa trong nhà tù ấy mà không bị những dây xích bên ngoài cột chặt luôn tâm hồn.
Nhiều người có thể hỏi: làm sao một con người có thể sống nổi như thế? Câu trả lời không nằm ở sức riêng. Nó nằm ở ân sủng, nhưng không phải thứ ân sủng làm thay tất cả, mà là ân sủng nâng một sự cộng tác bền bỉ, rất bền bỉ. Mỗi ngày một chút. Mỗi giờ một chút. Mỗi lần ngã lòng lại quay về. Mỗi lần bị bóng tối kéo xuống lại bấu víu vào một lời Kinh Thánh, một lời nguyện, một hành vi dâng hiến nhỏ. Chính trong nhịp bền bỉ ấy, linh hồn dần trở nên mạnh không phải vì hết đau, mà vì học được cách để đau khổ không cắt mình khỏi Chúa. Đây là điều rất quan trọng. Thử thách không làm ngài thành bất khả thương tổn. Nó làm ngài thành gắn bó hơn với Đấng duy nhất không phản bội mình.
Có lẽ điều đẹp nhất của những năm ấy là: thay vì chỉ sống để chờ ngày ra, ngài học sống từng ngày như một ngày có thể dâng. Đây là khác biệt rất lớn. Nếu chỉ chờ được ra, mỗi ngày trong tù sẽ là một ngày bị lấy mất. Nhưng nếu mỗi ngày có thể được dâng, thì ngay cả tù ngục cũng không hoàn toàn là vô nghĩa. Nó đau, nhưng không vô nghĩa. Nó tối, nhưng không vô ích. Nó nghèo, nhưng không cằn cỗi. Nó bị lấy mất, nhưng vẫn còn có thể sinh hoa trái. Và chính chuyển đổi này làm cho cuộc đời ngài không bị nghiền nát bởi thời gian. Ngài không sống như người bị hoãn lại vô hạn. Ngài sống như người đang dâng lễ trên bàn thờ của hiện tại, dù bàn thờ ấy không làm bằng đá quý, mà làm bằng bức tường, cô đơn, thiếu thốn, nước mắt và lòng trung thành.
Những năm tháng tù đày và biệt giam vì thế không chỉ là một chương đau thương của tiểu sử. Đó là lò luyện nơi một linh đạo được tinh luyện đến độ trong. Đó là nơi một mục tử học yêu Hội Thánh khi không còn thấy Hội Thánh trước mắt. Đó là nơi một linh mục học sống Thánh Thể ngay cả trong thiếu thốn tận cùng. Đó là nơi một người con của Đức Mẹ học phó thác khi không còn gì khác để cậy dựa. Đó là nơi một con người phải quyết định mỗi ngày rằng mình sẽ để cho đau khổ làm mình tối đi hay để cho ân sủng làm mình trong hơn. Và ngài đã chọn. Không chỉ một lần, mà nhiều lần. Không chỉ trong một giây phút anh hùng, mà trong cả một chuỗi ngày dài.
Cho nên, khi hôm nay người ta nhắc đến Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận như chứng nhân của hy vọng, như con người của tha thứ, như gương sáng sống mến yêu giữa hận thù, thì cần nhớ rằng tất cả những điều ấy không mọc lên trên mặt đất dễ dãi. Chúng được trả bằng một cuộc chiến nội tâm dữ dội để không đánh mất Thiên Chúa. Và chính vì đã không đánh mất Thiên Chúa, ngài cũng không đánh mất chính mình. Nhà tù lấy đi rất nhiều thứ, nhưng không lấy được điều cốt lõi. Không lấy được Chúa khỏi tâm hồn ngài. Không lấy được tình yêu khỏi trái tim ngài. Không lấy được hy vọng khỏi chiều sâu ngài. Không lấy được căn tính người mục tử khỏi ngài. Không lấy được khả năng biến đau khổ thành của lễ khỏi ngài.
Và đó là chiến thắng đẹp nhất. Không phải chiến thắng bằng cách thoát ra ngay. Không phải chiến thắng bằng cách đảo ngược tình thế bên ngoài. Nhưng là chiến thắng vì giữa tù ngục, biệt giam và bóng tối kéo dài, một linh hồn vẫn ở lại với Chúa, vẫn giữ cho lòng mình sống, vẫn không phản bội ánh sáng, vẫn không đánh mất Thiên Chúa.
PHẦN VI: THÁNH THỂ TRONG NHÀ TÙ, CẦU NGUYỆN TRONG IM LẶNG VÀ BÍ QUYẾT SỐNG GIÂY PHÚT HIỆN TẠI CỦA ĐỨC HỒNG Y NGUYỄN VĂN THUẬN
Nếu phải tìm một nơi sâu nhất để hiểu Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận trong những năm tháng tù đày, thì đó không chỉ là những bức tường giam giữ ngài, không chỉ là những năm dài cô lập ngài, không chỉ là những đau khổ vây quanh ngài, mà còn là một bàn thờ vô hình được dựng lên trong chính cảnh tù ngục ấy. Bởi vì chính ở đó, nơi tất cả những gì có thể nâng đỡ đời sống linh mục bình thường đã bị lấy đi gần như hết, Thánh Thể lại bừng sáng như trung tâm không thể bị cướp mất. Và cùng với Thánh Thể, cầu nguyện trong im lặng trở thành hơi thở để ngài sống còn, còn bí quyết sống giây phút hiện tại trở thành con đường để ngài không bị nghiền nát bởi thời gian. Ba điều ấy không đứng tách rời nhau. Chúng đan vào nhau như ba sợi chỉ của một linh đạo đã được thử trong lửa. Thánh Thể giữ cho ngài ở lại trong Đức Kitô. Cầu nguyện giữ cho trái tim ngài không khép lại. Sống giây phút hiện tại giữ cho ngài không chìm trong quá khứ hay bị nuốt bởi nỗi sợ tương lai. Và chính nhờ ba mạch nguồn ấy mà ngài đã không chỉ sống sót, nhưng sống như một người thuộc trọn về Chúa ngay giữa nơi tưởng như hoàn toàn thiếu vắng Thiên Chúa.
Có lẽ chỉ những ai thật sự yêu Thánh Thể mới hiểu được nỗi đói Thánh Thể trong cảnh tù đày đau đến mức nào. Với một người giáo dân, không được tham dự Thánh lễ là một thiếu thốn lớn. Với một linh mục, điều đó còn đau sâu hơn nữa, vì Thánh Thể không chỉ là lương thực thiêng liêng mình lãnh nhận, mà còn là trung tâm đời sống, là nhịp tim của căn tính linh mục, là nơi mình được đồng hình đồng dạng với Đức Kitô hiến tế. Một linh mục sống thật không thể coi Thánh lễ như một nhiệm vụ phụng vụ phải làm hằng ngày cho đúng luật. Thánh lễ là nơi đời linh mục được giải thích. Là nơi người ấy biết mình là ai. Là nơi người ấy không chỉ nói về hy lễ, mà bước vào hy lễ. Là nơi người ấy không chỉ giảng về tình yêu tự hiến, mà bị cuốn vào tình yêu tự hiến ấy. Chính vì thế, khi bị cắt khỏi mọi điều kiện bình thường để cử hành, nỗi đau ấy không chỉ là một nỗi buồn đạo đức. Đó là nỗi đau của một người bị đụng tới trung tâm sự sống mình.
Và chính trong nỗi đau ấy, vẻ đẹp nơi ngài lại bừng lên. Có những người khi bị thiếu thốn những điều thiêng liêng quen thuộc thì dần nguội đi. Không phải vì họ xấu, nhưng vì họ quá quen sống đức tin bằng những hình thức bên ngoài đến mức khi những hình thức ấy bị lấy đi, nội tâm họ trở nên trống rỗng. Còn nơi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, sự thiếu thốn lại làm lộ ra điều cốt lõi: ngài không yêu Thánh Thể như yêu một tập quán, nhưng như yêu chính Chúa Giêsu đang hiến mình. Càng bị lấy mất, ngài càng khao khát. Càng bị nghèo đi, ngài càng quý hơn. Càng bị cắt khỏi nhịp sống phụng vụ bình thường, ngài càng hiểu rằng Thánh Thể là kho tàng không gì thay thế được. Và chính ở đây, nhà tù trở thành nơi lạ lùng: nơi sự khan hiếm làm cho sự hiện diện của Chúa trở nên chói sáng hơn.
Thật nhiệm mầu khi nghĩ rằng trong một nơi dường như chỉ có tối tăm, Thánh Thể lại trở thành mặt trời nhỏ chiếu sáng cả linh hồn ngài. Có thể người đời nhìn vào sẽ chỉ thấy một tù nhân, một căn phòng hẹp, một đời sống bị cắt xén, một hiện hữu gần như bị xóa khỏi dòng chảy bình thường của lịch sử. Nhưng trong cái nhìn đức tin, nơi đó lại có một bàn thờ. Không nguy nga. Không có tiếng chuông. Không có giáo dân quỳ đông đảo. Không có ca đoàn. Không có phẩm phục. Không có vẻ đẹp phụng vụ theo nghĩa thường. Chỉ có nghèo nàn, kín đáo, mong manh, và một linh mục ôm lấy mầu nhiệm lớn nhất của đức tin trong hoàn cảnh nghèo nhất có thể. Chính ở đó, người ta hiểu một điều rất sâu: Hội Thánh không sống trước hết bằng những gì đồ sộ, mà sống bằng Thánh Thể. Và Thánh Thể, dù chỉ trong một hình thức kín đáo đến nghẹn lòng, vẫn đủ để làm cho một nơi giam cầm trở thành một điểm gặp gỡ của trời và đất.
Có lẽ ít khi nào ta thấy rõ đến thế mối liên hệ giữa Thánh Thể và thập giá như trong cuộc đời ngài. Bởi Thánh Thể không chỉ là sự an ủi. Thánh Thể là hy tế. Và một linh mục bị giam cầm, cô lập, tước đoạt, khi cử hành hay sống hiệp thông với Thánh Thể, không thể không thấy chính đời mình đang được kéo vào hy tế ấy. Ở ngoài đời bình thường, người ta có thể nói nhiều về hiệp nhất với lễ hy sinh của Đức Kitô. Nhưng trong nhà tù, những lời ấy không còn là lý thuyết. Từng thiếu thốn, từng đau đớn, từng vết cắt khỏi tự do, từng đêm cô độc, từng giờ chờ đợi không biết bao giờ kết thúc, tất cả như được đặt lên bàn thờ cùng với bánh và rượu. Và từ đó, đau khổ không còn chỉ là một sự kiện phải chịu. Nó trở thành chất liệu của hiến dâng. Đây là một điểm cực kỳ sâu trong linh đạo Nguyễn Văn Thuận. Ngài không chỉ chịu đau khổ. Ngài dần dần học dâng đau khổ. Và chính Thánh Thể là nơi dạy ngài làm điều đó.
Nếu không có Thánh Thể, rất có thể những năm tháng ấy chỉ còn là năm tháng tồn tại trong bóng tối. Nhưng có Thánh Thể, nhà tù bắt đầu mang một ý nghĩa mới. Không phải nhà tù bỗng trở nên dễ chịu. Không phải bóng tối biến mất. Không phải thử thách mất đi sức nghiền nát. Nhưng ở nơi sâu nhất, có một ngọn lửa không tắt. Có một sự hiện diện mà quyền lực trần gian không đụng tới được. Có một Đấng đang ở đó, không phải như ý niệm, mà như lương thực, như hiến lễ, như bạn đồng hành, như sức mạnh, như tình yêu ở lại. Đối với ngài, Chúa Giêsu Thánh Thể không chỉ là nơi trú ẩn thiêng liêng. Chúa là trung tâm làm cho mọi sự còn lại có nghĩa. Nếu không có Chúa, tù ngục là vô nghĩa. Nếu có Chúa, ngay cả tù ngục cũng có thể trở thành nơi thông phần với mầu nhiệm cứu độ.
Và từ Thánh Thể, ta đi vào chiều sâu của cầu nguyện trong im lặng. Đây là điều rất dễ nói mà rất khó sống. Nhiều người tưởng cầu nguyện trong im lặng là một trạng thái êm đềm, an bình, đầy những cảm nghiệm dịu ngọt. Nhưng im lặng của nhà tù không phải thứ im lặng ấy. Đó là một thứ im lặng nặng. Im lặng dày. Im lặng có thể đè ngược lên người ta. Im lặng trong đó có tiếng của nhớ thương, của sợ hãi, của đêm dài, của bấp bênh, của câu hỏi không lời đáp. Im lặng như thế không tự động dẫn đến cầu nguyện. Nhiều khi nó dẫn đến lo âu, đến vòng xoáy suy nghĩ, đến mệt mỏi, đến cạn khô. Vì thế, cầu nguyện trong im lặng ở đây không phải là tận hưởng bầu khí tĩnh mịch. Đó là một lao động nội tâm. Một kỷ luật. Một sự ở lại. Một hành vi quyết định không để sự im lặng trống rỗng nuốt mình, nhưng biến nó thành không gian cho Chúa.
Đây là điều cực kỳ đáng chiêm ngắm nơi ngài. Ngài không chờ cầu nguyện trở nên dễ rồi mới cầu nguyện. Ngài cầu nguyện ngay trong lúc cầu nguyện là khó. Ngài không đợi đến khi tâm hồn lắng rồi mới hướng về Chúa. Ngài hướng về Chúa giữa những khi tâm hồn có thể rối. Ngài không đợi mọi câu hỏi được giải quyết rồi mới phó thác. Ngài phó thác ngay giữa lúc chưa có câu trả lời. Và chính ở điểm này, cầu nguyện của ngài trở nên rất thật. Có những kiểu cầu nguyện đẹp nhưng chỉ hợp với lúc bình an. Còn cầu nguyện của ngài đi qua một trường học khắc nghiệt hơn: học đứng trước Chúa khi không còn gì ngoài Chúa. Học ở với Ngài khi lời lẽ ít dần. Học nhìn Ngài khi cảm xúc không nâng đỡ. Học để chính sự có mặt của mình trước Chúa đã là lời cầu nguyện, ngay cả khi không nói được gì nhiều.
Có những lúc, cầu nguyện không còn là suy niệm phong phú. Nó chỉ còn là một tiếng kêu âm thầm. Một sự ngước lên. Một câu ngắn. Một lời thưa đơn sơ. Một việc ở lại mà không bỏ đi. Và chính trong sự đơn sơ ấy, lời cầu nguyện nhiều khi lại tinh hơn. Nơi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, càng đi qua nhà tù, cầu nguyện càng trở thành điều cốt lõi chứ không còn là lớp trang trí thiêng liêng. Nó không còn là một phần trong chương trình sống đạo. Nó là sự sống. Không cầu nguyện, linh hồn sẽ héo. Không cầu nguyện, lòng sẽ dễ bị bóng tối lấp kín. Không cầu nguyện, người ta sẽ dần dần bị nuốt bởi chính tiếng nói của mình, bởi nỗi đau của mình, bởi ký ức của mình. Cầu nguyện là cách ngài giữ cửa lòng mở về phía Chúa. Là cách ngài chống lại cám dỗ khép mình trong vết thương. Là cách ngài không để nhà tù trở thành thế giới duy nhất của mình.
Điều kỳ diệu là, trong im lặng ấy, ngài không chỉ cầu nguyện cho mình. Đây là nét rất mục tử. Nhiều người đau thì chỉ còn thấy được nỗi đau của mình. Điều đó rất người. Nhưng nơi ngài, dù bị nhốt lại, trái tim mục tử không co vào. Ngài vẫn mang trong lòng Hội Thánh, mang giáo phận, mang linh mục, tu sĩ, giáo dân, người nghèo, người đau khổ, những ai đang cần ơn bền đỗ. Đây là điều làm cho cầu nguyện của ngài không biến thành một nỗ lực tự cứu mình đơn thuần. Nó vẫn là cầu nguyện của một mục tử. Một người cha thiêng liêng. Một con người bị lấy mất không gian bên ngoài để phục vụ nhưng không vì thế mà thôi phục vụ. Và chính ở đây, ta thấy một hình thức mục vụ vô hình được khai sinh: mục vụ bằng lời nguyện, bằng hy sinh, bằng hiệp thông âm thầm. Không ai nhìn thấy. Không ai thống kê được. Không ai đưa vào báo cáo mục vụ. Nhưng trong mầu nhiệm Hội Thánh, đây có thể là thứ mục vụ sâu hơn nhiều công việc bên ngoài.
Từ Thánh Thể và cầu nguyện, ta đi tới bí quyết thứ ba, cũng là sợi chỉ liên kết mọi điều: sống giây phút hiện tại. Nói cho đúng, đây không chỉ là một bí quyết tâm lý hay một phương pháp giúp vượt qua khổ đau. Nơi ngài, đó là một linh đạo. Một khám phá nền tảng. Một ân sủng chói sáng giữa tăm tối. Bởi như đã nói, trong tù ngục, quá khứ dễ kéo con người về phía tiếc nuối, còn tương lai dễ làm con người ngã vào chờ đợi đau đớn. Quá khứ nhắc rằng mình đã từng có gì, từng làm gì, từng yêu bằng những cách nào, từng được sống với đoàn chiên ra sao, từng được tự do thế nào. Tương lai thì hỏi rằng bao giờ mới hết, có còn ngày mai không, có được trở về không, có còn điều gì đang chờ không. Nếu sống bị kẹt giữa hai vùng ấy, người ta rất dễ đánh mất thực tại. Mà đánh mất thực tại là đánh mất nơi duy nhất có thể gặp Chúa.
Chính trong chỗ ấy, ngài nhận ra rằng giây phút hiện tại là nơi Chúa đang chờ mình. Không phải ngày mai. Không phải ngày mình được minh oan. Không phải ngày mình lấy lại tự do. Không phải ngày cánh cửa nhà tù mở ra. Mà là bây giờ. Trong căn phòng này. Trong cơn đau này. Trong nỗi cô đơn này. Trong giờ phút không ai thấy này. Đây là một mặc khải thiêng liêng lớn. Vì nếu Thiên Chúa chỉ hiện diện trong những giờ đẹp, thì nhà tù thật sự là chỗ bị bỏ rơi. Nhưng nếu Thiên Chúa hiện diện ngay trong giây phút bị tước đoạt, thì không nơi nào hoàn toàn là đất chết nữa. Và từ đó, ngài bắt đầu sống khác. Thay vì bị ám ảnh bởi những gì mình không thể làm, ngài hỏi: lúc này tôi có thể yêu Chúa thế nào? Thay vì đau vì mọi cánh cửa đóng lại, ngài hỏi: trong giây phút này, cửa nào của lòng tôi còn có thể mở ra cho Chúa? Thay vì than rằng đời mình bị vô hiệu hóa, ngài hỏi: trong giây phút này, tôi có thể dâng điều gì?
Đây là chỗ mà linh đạo của ngài trở nên vừa cao vừa gần. Cao, vì nó đòi một đức tin lớn. Gần, vì nó đi qua những điều rất nhỏ. Sống giây phút hiện tại không có nghĩa là mơ hồ chấp nhận số phận. Cũng không có nghĩa là bỏ qua ký ức hay thôi không mong chờ tương lai. Nó có nghĩa là không để quá khứ và tương lai cướp mất sự trung thành của hôm nay. Bởi vì chỉ hôm nay mới là nơi ta có thể yêu. Chỉ hôm nay mới là nơi ta có thể thưa xin vâng. Chỉ hôm nay mới là nơi ta có thể tha thứ. Chỉ hôm nay mới là nơi ta có thể cầu nguyện. Chỉ hôm nay mới là nơi ân sủng chạm tới ta một cách cụ thể. Ngày mai chưa đến. Hôm qua đã qua rồi. Chỉ còn hôm nay. Và nếu hôm nay bị bỏ phí trong tiếc nuối hay sợ hãi, linh hồn sẽ chết dần. Ngài hiểu điều ấy bằng giá của nước mắt.
Có những người nghe nói về “sống hiện tại” thì hiểu theo nghĩa nhẹ, như lời khuyên sống tích cực. Nhưng nơi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, đó là chiến lược thiêng liêng để bảo vệ linh hồn. Bởi trong tù, từng giờ có thể dài như một ngày, từng ngày có thể dài như một tháng. Nếu ôm trọn cả quãng thời gian ấy cùng một lúc, tâm hồn sẽ vỡ. Nhưng nếu sống từng giây phút như một cơ hội trung thành, thì cái không thể chịu được trở thành điều có thể dâng được. Đây là vẻ đẹp của bí quyết này. Nó không xóa cây thập giá. Nó chia cây thập giá thành từng nhịp để con người có thể vác với Chúa. Nó không phá bức tường nhà tù. Nó mở một cửa nhỏ trong lòng để ánh sáng có thể đi vào. Nó không làm đau khổ biến mất. Nó làm cho đau khổ không còn là khối đá đè nát cả tương lai, nhưng trở thành hiện tại có thể được thánh hóa.
Thật vậy, sống giây phút hiện tại là cách ngài giữ cho đời mình khỏi tan vụn. Nếu một người nhìn cả quãng tù đày như một khối đêm không đáy, họ sẽ khó đứng nổi. Nhưng nếu trong từng ngày, từng giờ, từng khoảnh khắc, họ chỉ lo yêu Chúa trong phần hiện tại được trao, thì điều tưởng như không thể sống được lại trở thành con đường. Đây cũng là lý do vì sao linh đạo của ngài sau này có sức đánh động mạnh đến thế. Bởi nó không chỉ dành cho người ở trong tù. Nó chạm đến mọi người, vì ai cũng có những nhà tù riêng: bệnh tật, hiểu lầm, thất bại, chờ đợi, cô độc, hôn nhân khó khăn, ơn gọi bị thử thách, gia đình tan vỡ, tuổi già, mất mát, nỗi sợ không tên. Và trong mỗi “nhà tù” ấy, cám dỗ vẫn là cũ: tiếc quá khứ, sợ tương lai, đánh mất hiện tại. Ngài dạy bằng chính cuộc đời mình rằng nơi cứu ta không ở trong một tương lai tưởng tượng, mà ở trong giây phút đang có Chúa ở cùng.
Cũng cần phải nói rằng bí quyết sống giây phút hiện tại nơi ngài không hề tách khỏi tình yêu. Nếu chỉ sống hiện tại như một cách co mình lại để chịu đựng, nó sẽ nhanh chóng trở thành khô cứng. Nhưng ngài sống hiện tại như nơi để yêu. Điều đó làm tất cả khác đi. Một việc nhỏ làm trong tình yêu trở thành lớn. Một phút cô đơn sống với Chúa trở thành phong phú. Một hy sinh bé nhỏ dâng với lòng mến trở thành của lễ. Một cái nhìn hiền với người canh giữ trở thành chiến thắng của ánh sáng. Một giây phút không than trách trở thành một lời tạ ơn âm thầm. Tình yêu là điều giữ cho linh đạo hiện tại của ngài không biến thành kỹ thuật kỷ luật lạnh lùng. Chính vì yêu, hiện tại mới có giá trị. Chính vì yêu, những điều nhỏ mới thành lớn. Chính vì yêu, nhà tù mới không hoàn toàn là vô nghĩa.
Ở đây, ta lại thấy Thánh Thể trở về như trung tâm. Bởi Thánh Thể cũng chính là mầu nhiệm của hiện tại. Mỗi Thánh lễ là hiện tại của hy tế cứu độ. Không phải chỉ là ký niệm về một biến cố quá khứ, cũng không chỉ là lời hứa cho tương lai, nhưng là hiện tại sống động của Đức Kitô hiến mình. Có lẽ chính vì sống sâu với Thánh Thể mà ngài hiểu giây phút hiện tại không hề nghèo nếu ở trong tay Chúa. Một mẩu bánh nhỏ mang cả trời cao. Một giọt rượu nhỏ mang cả máu giao ước. Một giờ phút bé nhỏ mang cả ý Chúa nếu được sống trong tình yêu. Đây là logic Thánh Thể. Và cũng là logic của cuộc đời ngài trong tù. Cái nhỏ không còn là cái nhỏ nếu Chúa hiện diện trong đó. Cái ít không còn là cái ít nếu nó được trao vào tay Người. Cái đơn điệu không còn hoàn toàn vô ích nếu nó trở thành nơi trung thành.
Cầu nguyện trong im lặng, vì thế, cũng chính là cách ngài giữ cho hiện tại ấy luôn mở về phía trời. Không cầu nguyện, hiện tại rất dễ chỉ còn là một khối nặng. Có cầu nguyện, hiện tại trở thành cuộc gặp. Không cầu nguyện, hiện tại sẽ nhanh chóng bị lấp bởi chán chường. Có cầu nguyện, hiện tại dù khô vẫn còn có thể nở hoa. Không cầu nguyện, Thánh Thể có thể bị hiểu như ký ức về điều mình thiếu. Có cầu nguyện, Thánh Thể trở thành lương thực đang nuôi mình ngay trong thiếu thốn. Tất cả liên kết rất chặt: Thánh Thể dạy ngài sống như của lễ. Cầu nguyện giúp ngài giữ lòng luôn hướng lên. Sống hiện tại giúp ngài mang của lễ và lời cầu nguyện ấy vào từng phút cụ thể của đời tù.
Điều làm cho ta cảm động nhất có lẽ là ở chỗ: những điều ấy không chỉ cứu ngài, mà còn đang tiếp tục cứu rất nhiều tâm hồn hôm nay. Khi đọc về Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, người ta thường nói đến hy vọng. Nhưng hy vọng của ngài không treo trong không khí. Nó có thân xác. Thân xác ấy là Thánh Thể. Nó có hơi thở. Hơi thở ấy là cầu nguyện trong im lặng. Nó có nhịp bước. Nhịp bước ấy là sống giây phút hiện tại. Nếu tách ra khỏi ba điều này, linh đạo hy vọng dễ trở thành khẩu hiệu. Nhưng đặt lại vào đúng chỗ của nó, ta thấy đây là một con đường rất thật, rất Công giáo, rất cắm rễ trong mầu nhiệm Đức Kitô.
Và chính vì thế, phần đời này của ngài là một bài học đặc biệt cho mọi linh mục, mọi tu sĩ, mọi giáo dân. Có biết bao lúc chúng ta than phiền vì hoàn cảnh không thuận, vì công việc bị cản trở, vì đời sống thiêng liêng khô khan, vì mình không được phục vụ Chúa theo cách mình muốn. Nhưng Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận nhắc ta bằng chính đời sống mình rằng: khi không làm được điều lớn, hãy làm điều nhỏ với tình yêu lớn; khi không còn lời phong phú, hãy ở lại trước Chúa trong thinh lặng; khi không có tương lai rõ ràng, hãy sống hiện tại thật sâu; khi mọi phương tiện bị lấy đi, Chúa vẫn chưa bị lấy đi; khi đời ta bị ép vào một không gian hẹp, trái tim vẫn có thể mở rất rộng trong Thánh Thể và cầu nguyện.
Nói cho cùng, bí quyết của ngài không hề bí mật. Nó rất đơn sơ. Nhưng chính vì đơn sơ mà khó, vì nó đòi một sự trung thành không ngừng. Hãy bám vào Chúa Giêsu Thánh Thể. Hãy cầu nguyện ngay cả khi cầu nguyện khó. Hãy sống trọn giây phút đang có bằng tất cả tình yêu. Đó là con đường ngài đã đi. Đó là con đường đã giữ cho ngài không gãy. Đó là con đường đã làm cho nhà tù không thể nuốt được linh hồn ngài. Đó là con đường đã biến một nơi của tước đoạt thành nơi của hiến dâng. Đó là con đường đã làm cho một người bị giam cầm trở thành chứng nhân tự do. Đó là con đường đã làm cho một trái tim bị bao vây vẫn trở thành nơi Thiên Chúa ngự.
Và nếu phải kết phần này bằng một hình ảnh, có lẽ đó là hình ảnh rất đơn sơ mà rất sâu: giữa nhà tù, có một linh mục sống nhờ một mẩu trời nhỏ. Mẩu trời ấy là Thánh Thể. Mẩu trời ấy là một lời cầu nguyện không tắt. Mẩu trời ấy là giây phút hiện tại được sống với Chúa. Từ mẩu trời nhỏ ấy, cả một bầu trời hy vọng đã mở ra. Không chỉ cho riêng ngài, mà cho cả Giáo hội, cho cả những ai hôm nay đang ở trong những nhà tù vô hình của đời mình, và đang khát một ánh sáng đủ thật để bước tiếp.
PHẦN VII: GIỮA BAO HẬN THÙ VẪN SỐNG MẾN YÊU: THA THỨ, HÒA GIẢI VÀ CHIẾN THẮNG LỚN NHẤT CỦA ĐỨC HỒNG Y NGUYỄN VĂN THUẬN
Có lẽ một trong những điều làm cho Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận trở nên đẹp cách khác thường trong ký ức của Giáo hội Việt Nam và trong trái tim của biết bao người trên thế giới không phải chỉ là vì ngài đã chịu đựng đau khổ lâu dài, không phải chỉ vì ngài đã bị giam cầm nhiều năm, không phải chỉ vì ngài đã viết những trang sách thấm đẫm ánh sáng hy vọng, nhưng còn vì ngài đã làm được một điều mà con người rất khó làm, rất hiếm làm, và càng bị tổn thương sâu càng khó làm hơn: giữa bao hận thù vẫn sống mến yêu. Chỉ riêng điều ấy thôi cũng đủ để cuộc đời ngài không còn chỉ là một câu chuyện về sức chịu đựng, mà trở thành một Tin Mừng sống động. Vì chịu đau khổ mà không gục ngã đã là điều lớn. Nhưng chịu đau khổ mà không để đau khổ biến mình thành cay đắng, chịu bất công mà không để bất công biến mình thành người chỉ còn biết nhìn đời bằng vết thương, bị làm hại mà không sống phần còn lại của cuộc đời như một bản cáo trạng kéo dài, đó mới là một chiến thắng rất sâu, rất đẹp, và rất giống Đức Kitô.
Con người thường nghĩ chiến thắng là thoát khỏi kẻ thù, đánh bại kẻ thù, vượt qua kẻ thù, hoặc ít ra cũng không còn bị kẻ thù làm hại nữa. Nhưng Tin Mừng lại nói về một chiến thắng khác. Chiến thắng lớn nhất không phải là khi mình mạnh hơn sự dữ ở bên ngoài, nhưng là khi sự dữ không còn đủ sức sinh ra sự dữ trong lòng mình. Chiến thắng lớn nhất không phải là khi mình trả lại được những gì người khác đã làm cho mình, nhưng là khi mình từ chối để hành vi của họ quyết định căn tính của mình. Chiến thắng lớn nhất không phải là khi mình chứng minh được mình đúng, nhưng là khi mình vẫn thuộc về Chúa đến mức không đánh mất tình yêu. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đã đi tới chính vùng chiến thắng ấy. Và chính vì thế, cuộc đời ngài không chỉ dạy người ta biết hy vọng. Nó dạy người ta biết tha thứ. Nó dạy người ta biết hòa giải. Nó dạy người ta biết rằng ánh sáng thật không phải là thứ ánh sáng chỉ chiếu trong những ngày dễ chịu, nhưng là thứ ánh sáng vẫn cháy trong nơi người ta có đủ lý do để tối đi.
Phải nói cho thật rõ rằng tha thứ trong hoàn cảnh của ngài không phải là một lời khuyên đạo đức đẹp đẽ được nói ra từ chỗ an toàn. Đó không phải là câu nói mềm mại của một người đứng ngoài đau khổ. Đó không phải là thứ quảng đại sinh ra từ hoàn cảnh ít bị tổn thương. Ngài không nói về tha thứ từ một cuộc đời được đối xử tử tế. Ngài nói về tha thứ từ chính nơi mình đã bị tước đoạt, bị nghi kỵ, bị giam cầm, bị cắt khỏi đoàn chiên, bị đặt vào những năm dài mà công lý của con người xem ra quá xa. Chính vì thế, tha thứ nơi ngài không còn là một mỹ từ. Nó là xương thịt. Nó được trả giá. Nó được luyện trong nước mắt. Nó được mài trong từng ngày. Nó được chọn đi chọn lại. Và càng vì thế, nó càng có sức thuyết phục.
Có những người không oán hận chỉ vì họ chưa bị tổn thương tới mức đủ sâu. Có những người nói về tha thứ vì họ chưa bị chạm vào vùng đau nhất. Có những người nhẹ nhàng với đời chỉ vì cuộc đời còn đối xử với họ khá nhẹ. Nhưng nơi một con người đã đi qua bao nhiêu cắt lìa, cô độc, bất công mà vẫn giữ được trái tim không biến thành pháo đài cay đắng, ở đó phải có điều gì lớn hơn bản năng tự nhiên. Ở đó phải có ân sủng. Ở đó phải có Đức Kitô. Ở đó phải có một quyết định sâu đến mức không còn chỉ là phản ứng tâm lý. Nơi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, tha thứ là hoa trái của việc ngài chọn Chúa hơn vết thương. Chỉ có thế. Nghe đơn sơ, nhưng đó là đỉnh cao của tự do nội tâm. Bởi vì một khi vết thương trở thành trung tâm, người ta sẽ nhìn tất cả bằng đau, nghĩ tất cả bằng đau, giải thích tất cả bằng đau. Khi ấy, dù ngoài miệng không nói gì nặng, trong lòng người ta vẫn bị giam. Và nhiều khi nhà tù sâu nhất lại không phải nhà tù bằng gạch đá, mà là nhà tù của oán hờn.
Ngài đã không để mình rơi vào nhà tù ấy. Đây là điều đáng kinh ngạc. Người ta có thể nhốt thân xác ngài, nhưng ngài không cho phép mình nhốt trái tim trong hận thù. Người ta có thể tước nhiều thứ khỏi ngài, nhưng ngài không để họ lấy luôn khả năng yêu thương. Người ta có thể tạo ra những hoàn cảnh đủ để ngài có lý do căm giận, nhưng ngài không biến lý do ấy thành căn nhà cho linh hồn mình ở. Điều đó không xảy ra trong một khoảnh khắc dễ dàng. Nó là cả một tiến trình nội tâm. Mỗi lần cơn đau trở lại. Mỗi lần nỗi cô độc trùm xuống. Mỗi lần ký ức nhắc lại những gì đã mất. Mỗi lần bị đối xử như không còn phẩm giá, ngài phải chọn: hoặc để những điều ấy đóng đinh trái tim mình vào đen tối, hoặc đem chúng đến với Chúa và xin cho mình đừng trở thành kẻ bị hận thù chiếm hữu.
Điều này rất quan trọng, vì nhiều khi người ta hiểu sai tha thứ. Người ta tưởng tha thứ là yếu mềm. Tưởng tha thứ là quên hết. Tưởng tha thứ là phủ nhận nỗi đau. Tưởng tha thứ là nói rằng điều ác không sao cả. Không. Tha thứ theo Tin Mừng không hề là như thế. Tha thứ là nhìn thẳng vào điều ác, biết rõ nó là ác, biết rõ nó đã gây đau, nhưng vẫn từ chối không để điều ác sinh thêm điều ác trong mình. Tha thứ không phải là xóa sự thật, nhưng là trao sự thật ấy cho Thiên Chúa thay vì biến nó thành chất độc nuôi sống nội tâm mình. Tha thứ không phải là bỏ qua công lý, nhưng là không giành lấy chỗ của Thiên Chúa trong việc phán xét lòng người. Tha thứ không phải là nói mình không đau. Tha thứ là nói: chính vì tôi đau thật, nên tôi càng không muốn để nỗi đau này biến tôi thành người chỉ còn biết ghét.
Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đã sống đúng điều ấy. Và vì vậy, tha thứ nơi ngài có vẻ đẹp rất mạnh. Không ủy mị. Không sentimental. Không yếu ớt. Đó là tha thứ của một người rất tỉnh. Rất biết điều gì đang xảy ra. Rất ý thức những gì mình đã phải chịu. Nhưng chính vì tỉnh nên càng không trao tương lai tâm hồn mình cho bóng tối. Chỉ người thật sự tự do mới tha thứ được như vậy. Bởi vì khi hận thù chiếm lấy lòng người, nhìn bề ngoài tưởng như mình đang giữ công lý, nhưng thật ra mình đang trao chủ quyền linh hồn mình cho chính điều đã làm mình đau. Hận thù không giải phóng ai cả. Nó chỉ kéo dài quyền lực của sự dữ. Ngài hiểu điều ấy không phải bằng lý thuyết. Ngài hiểu bằng cuộc chiến nội tâm. Và vì thế, tha thứ nơi ngài không phải là trang sức thêm vào cho đời sống thiêng liêng. Nó là con đường bảo vệ linh hồn mình khỏi bị tiêu hủy từ bên trong.
Có lẽ đây là nơi ta phải dừng lại thật lâu trước một vẻ đẹp rất hiếm: ngài không chỉ tha thứ như một hành vi tiêu cực, nghĩa là không trả thù, không nuôi oán, không buông lời độc dữ. Ngài còn đi xa hơn: ngài học yêu thương chính những con người ở phía bên kia của đau khổ mình. Đây mới là điều khiến người ta sững sờ. Không phải ngài chỉ giữ mình ở mức không ghét. Ngài còn tìm được cách nhìn họ bằng con mắt khác. Con mắt ấy không phủ nhận điều sai trái. Nhưng nó không đóng khung con người kia hoàn toàn trong hành vi của họ. Nó còn nhìn thấy nơi họ một phần người mà Thiên Chúa vẫn thấy. Một khả thể được cứu. Một phẩm giá sâu hơn tội lỗi và sai lầm của họ. Đây là cái nhìn của Đức Kitô. Và đây cũng là lý do vì sao cuộc đời ngài trở nên phản chiếu rất gần với khuôn mặt của Chúa Giêsu trên thập giá.
Chúa Giêsu không chỉ chịu đóng đinh. Ngài còn cầu nguyện cho những kẻ đóng đinh mình. Câu ấy chúng ta nghe quen quá nên dễ không còn rùng mình nữa. Nhưng thật ra, đó là một trong những điều đi ngược nhất với bản năng tự nhiên của con người. Bị làm đau mà vẫn còn nghĩ đến phần cứu độ của người làm đau mình, đó không còn là luân lý đẹp nữa. Đó là thần tính đi vào nhân tính. Và nơi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, có một tia sáng của cùng một mầu nhiệm ấy. Không phải ở cùng mức độ tuyệt đối như nơi Đức Kitô, dĩ nhiên. Nhưng có cùng một hướng. Cùng một dòng chảy. Cùng một sự không để vết thương cắt mình khỏi tình yêu. Chính điều này làm cho ngài không chỉ là người có bản lĩnh. Ngài là người mang Tin Mừng trong xương thịt.
Người ta có thể hỏi: làm sao một con người có thể đi tới mức ấy? Câu trả lời không nằm ở khí chất bẩm sinh. Không ai tự nhiên hiền đến mức đó. Không ai tự nhiên quảng đại đến mức đó. Không ai tự nhiên có thể yêu giữa hận thù nếu không được một tình yêu lớn hơn giữ lấy. Nguồn của tất cả nằm nơi sự kết hợp của ngài với Chúa. Càng về sau, càng thấy rõ: ngài tha thứ được vì ngài không sống từ cái tôi bị xúc phạm của mình, nhưng từ tương quan của mình với Đức Kitô. Khi một người sống quá nhiều từ bản ngã, họ sẽ rất dễ bị thương và rất khó tha thứ. Nhưng khi một người sống sâu trong Đức Kitô, vết thương vẫn còn đó, nhưng nó không còn là trung tâm tuyệt đối nữa. Trung tâm là Chúa. Trung tâm là ý Chúa. Trung tâm là việc giữ cho trái tim mình vẫn thuộc về Chúa. Và từ đó, tha thứ không còn là một anh hùng ca tâm lý, mà là hệ quả của việc không muốn mất Chúa.
Đây là điều rất đáng cho Giáo hội hôm nay học lại. Bởi chúng ta thường nói về tha thứ như một đòi hỏi đạo đức, nhưng ít khi chạm tới nguồn sâu nhất của nó. Người ta không tha thứ được chỉ vì cố gắng cưỡng lại cơn giận. Người ta chỉ tha thứ bền được khi có một tình yêu lớn hơn nâng đỡ. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đã có tình yêu ấy. Đó là tình yêu đối với Chúa Giêsu. Một tình yêu không lý thuyết, không chỉ ở trên môi miệng, không chỉ hiện diện trong những ngày thuận lợi, nhưng đủ thật để khi mọi thứ khác bị lấy đi, ngài vẫn bám vào Chúa. Và chính vì bám vào Chúa, ngài không thể vừa ôm Chúa vừa ôm hận thù. Một lúc nào đó, ngài phải chọn. Và ngài đã chọn Chúa. Nói cách khác, tha thứ nơi ngài trước hết không phải là chọn người kia. Tha thứ là chọn Chúa. Chọn để Chúa tiếp tục ở ngôi trung tâm của mình. Chọn không trao chỗ ấy cho bóng tối.
Cũng cần nói thêm rằng hòa giải nơi ngài không chỉ là hòa giải với những người đã làm ngài đau, mà còn là hòa giải với chính hành trình đời mình. Đây là một chiều sâu rất quan trọng. Có những người không oán hận người khác quá nhiều, nhưng lại không thể hòa giải với chính câu chuyện đời mình. Họ sống mãi trong câu hỏi “tại sao chuyện này lại xảy ra với tôi?”, “giá mà đời tôi khác đi”, “giá mà tôi không bị lấy mất bao nhiêu năm như vậy”. Những câu hỏi đó rất người, rất thật. Nhưng nếu ở mãi trong đó, linh hồn sẽ không bao giờ bình an. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đã đi qua một hành trình khác. Ngài dần dần chấp nhận rằng đây là đường Chúa đã cho phép mình đi. Không phải vì đường này dễ hiểu. Không phải vì nó không đau. Nhưng vì ngài tin rằng nếu Chúa cho phép, thì ở đâu đó trong bóng tối này, vẫn có một ý nghĩa mà hôm nay mình chưa hiểu hết. Và từ niềm tin ấy, ngài bắt đầu hòa giải với chính thập giá của đời mình.
Đây cũng là một hình thức tha thứ rất sâu: tha thứ cho lịch sử vì đã không đi theo điều mình mong. Tha thứ cho cuộc đời vì đã không đối xử với mình như mình tưởng công bằng. Tha thứ cho thực tại vì nó đã không chiều theo những giấc mơ rất đẹp mà mình nghĩ mình đang làm cho Chúa. Nếu không có chiều kích này, người ta có thể tha thứ người này người kia mà vẫn sống trong cay đắng với cả hành trình đời mình. Nơi ngài, điều đẹp là ngài không chỉ buông vũ khí trước một vài cá nhân. Ngài còn buông chính đòi hỏi sâu kín rằng cuộc đời phải giải thích được hết cho mình. Chính ở đó, hòa giải mới thật sự xảy ra. Hòa giải không phải là hiểu hết. Hòa giải là không còn chiến đấu chống lại chính điều Chúa cho phép mình phải mang.
Nhìn như thế, ta bắt đầu hiểu vì sao nói rằng tha thứ và hòa giải là chiến thắng lớn nhất của ngài không phải là nói quá. Thật ra, nếu ngài ra khỏi tù mà lòng đầy cay đắng, thì dù vẫn được người đời thương cảm, cuộc đời ngài đã không còn là chứng từ trọn vẹn. Nếu ngài nói rất hay về đau khổ nhưng sống phần còn lại của đời mình như một bản cáo buộc lớn, thì ngài có thể trở thành biểu tượng của một nỗi oan, nhưng không thành chứng nhân của Tin Mừng. Chính việc ngài không để mình bị định nghĩa bởi oán hờn đã làm cho tất cả những đau khổ kia được biến đổi. Chính việc ngài không sống từ hận thù đã mở đường cho thông điệp hy vọng của ngài có độ trong thật. Bởi vì hy vọng mà không có tha thứ thì rất dễ chỉ là lạc quan có ý chí. Còn hy vọng đi qua tha thứ mới là hy vọng đã được cứu chuộc.
Có một vẻ đẹp nữa nơi ngài mà ta không nên bỏ qua: ngài không dùng nỗi đau của mình như vốn liếng để gây ảnh hưởng. Đây là điều rất tinh tế. Có những người thật sự đã chịu đau, nhưng rồi về sau họ vô thức sống nhờ địa vị nạn nhân của mình. Họ nhìn đời từ đó, nói từ đó, nhận tình thương từ đó, và đôi khi cũng điều khiển người khác từ đó. Nhưng nơi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, người ta không thấy điều đó. Ngài không khai thác vết thương. Ngài không làm cho mình thành trung tâm của thương xót. Ngài không biến cuộc đời mình thành nơi để người ta dừng lại ở sự cảm phục cảm tính. Ngài luôn đưa người ta về với Chúa, với tình yêu, với hy vọng, với tha thứ, với hòa giải. Điều này chứng tỏ ngài đã thật sự đi xa khỏi cái tôi bị tổn thương. Và đó là một dấu chỉ rất lớn của tự do nội tâm.
Thật ra, hòa giải nơi ngài còn mang một chiều kích rất Hội Thánh. Ngài không chỉ tha thứ như một cá nhân đạo đức cao đẹp. Ngài tha thứ như một người con của Giáo hội, như một mục tử, như một người hiểu rằng Hội Thánh không được sinh ra để kéo dài chiến tranh của thế gian trong lòng mình. Hội Thánh hiện diện để làm chứng cho một kiểu sống khác. Một kiểu sống trong đó sự thật không bị hy sinh, nhưng tình yêu cũng không bị đánh mất. Một kiểu sống trong đó công lý không bị xóa nhòa, nhưng lòng thương xót không bị trục xuất. Một kiểu sống trong đó người ta không gọi đen là trắng, nhưng cũng không để đen tối trở thành ngôn ngữ cuối cùng. Chính bằng cuộc đời mình, ngài đã làm cho khuôn mặt ấy của Hội Thánh sáng lên. Một Hội Thánh không sống để trả đũa. Một Hội Thánh không lấy hận thù làm nhiên liệu. Một Hội Thánh biết khóc, biết đau, biết chịu bách hại, nhưng vẫn giữ được trái tim của Đức Kitô.
Điều này lại càng quý trong bối cảnh Việt Nam. Vì một dân tộc đi qua quá nhiều chiến tranh, chia cắt, mất mát, đổ vỡ, rất dễ mang trong mình những ký ức tập thể nặng nề. Những ký ức ấy thật. Không thể giả vờ như chúng chưa từng có. Nhưng nếu cả dân tộc, cả cộng đồng, cả Giáo hội sống mãi bằng ký ức của tổn thương mà không đi vào tha thứ và hòa giải, thì quá khứ sẽ tiếp tục hút máu hiện tại. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, bằng chính chứng từ của mình, như một quà tặng Chúa gửi đến cho Giáo hội Việt Nam để nhắc rằng: giữa những vết thương lịch sử, con đường của môn đệ Đức Kitô không bao giờ là nuôi dưỡng hận thù. Con đường ấy là sự thật trong bác ái. Là trí nhớ được chữa lành. Là lòng đau nhưng không độc. Là hy vọng không ngây thơ nhưng cũng không khép lại.
Có lẽ, ở đây ta cũng phải nói rằng tha thứ không xóa đi ký ức, nhưng chữa ký ức. Ký ức được chữa không còn là ký ức làm ta chỉ muốn khép lại hay phản công. Nó trở thành nơi ta thấy ân sủng đã mạnh hơn sự dữ. Cuộc đời Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận là một ví dụ rất sáng cho điều đó. Ngài không quên những năm tù. Ngài không giả như đau khổ chưa từng có. Nhưng ngài kể lại tất cả dưới ánh sáng khác. Không phải ánh sáng làm trắng xóa mọi sự, mà là ánh sáng cho thấy Chúa đã ở đó, ân sủng đã ở đó, tình yêu đã ở đó, và chính vì thế sự dữ đã không thắng. Đây là lý do vì sao khi nghe ngài nói, người ta không chìm vào buồn bã. Người ta được nâng lên. Không phải vì ngài kể ít đau, nhưng vì ngài kể đau khổ từ phía chiến thắng của ân sủng chứ không từ phía thống trị của bóng tối.
Có những chiến thắng người đời nhìn thấy ngay: thoát ngục, được phục hồi danh dự, được vỗ tay, được phục hồi vị trí. Nhưng chiến thắng sâu nhất của ngài lại xảy ra trong chỗ rất ít người thấy: trong trái tim không chịu ghét. Trong ánh mắt vẫn còn nhân hậu. Trong cách nhớ về quá khứ mà không cho quá khứ đầu độc tương lai. Trong việc nhìn những con người đã làm mình đau mà vẫn giữ được phẩm giá của họ trong lời nói mình. Trong việc không biến những năm tháng đau thương thành lý do để mình có quyền độc dữ hơn. Trong việc vẫn có thể nói về tình yêu mà không nghe giả tạo. Chính vì những điều ấy, ngài không chỉ là người sống sót sau thử thách. Ngài là người đã được tinh luyện bởi thử thách.
Một khi đã đi đến đó, hòa giải nơi ngài không còn là kết quả phụ của một tính tình hiền lành. Nó là hoa trái chín của một đời đã đi rất sâu vào Chúa. Và cũng chính vì thế, hòa giải nơi ngài không làm ngài nhỏ đi. Trái lại, nó làm ngài lớn lên. Con người hận thù thường tưởng mình mạnh vì mình cứng. Nhưng thật ra họ đang bị điều mình ghét cầm tù. Con người tha thứ có vẻ mong manh hơn trước mắt thế gian, nhưng thật ra họ là người tự do hơn. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận cho thấy tự do ấy là có thật. Ngài không bị cầm tù bởi quá khứ. Ngài không bị quản thúc bởi oán giận. Ngài đi ra khỏi nhà tù với một trái tim rộng hơn chứ không hẹp hơn. Đó là điều kỳ diệu. Đó là điều Tin Mừng có thể làm nơi một con người.
Và có lẽ, đây chính là chiến thắng lớn nhất của ngài: không phải chiến thắng trên một hệ thống nào, không phải chiến thắng để lấy lại những năm tháng đã mất, không phải chiến thắng để khẳng định tên tuổi mình trong lịch sử, nhưng là chiến thắng vì ngài đã giữ được trái tim của Đức Kitô. Người ta có thể lấy khỏi ngài rất nhiều thứ, nhưng không lấy được trái tim ấy. Người ta có thể thử làm ngài tối đi, nhưng ngài đã chọn ánh sáng. Người ta có thể quăng ngài vào vùng của hận thù, nhưng ngài đã không ở lại đó. Người ta có thể gieo điều ác quanh ngài, nhưng ngài không để điều ác ấy sinh hoa trái trong lòng mình. Chỉ riêng điều đó thôi đã đủ để nói rằng ngài đã chiến thắng.
Và chiến thắng ấy không phải của riêng ngài. Nó là quà cho Giáo hội. Là bài học cho mỗi chúng ta. Vì ai cũng có những vết thương. Ai cũng có người làm mình đau. Ai cũng có những chương trong đời rất khó hòa giải. Ai cũng có lúc bị cám dỗ nghĩ rằng mình có quyền khép lòng. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đứng đó như một lời mời gọi dịu dàng mà mạnh mẽ: đừng để bóng tối quyết định con người bạn. Đừng để vết thương trở thành tên mới của bạn. Đừng để điều người khác làm với bạn định nghĩa toàn bộ tương lai linh hồn bạn. Hãy giữ lấy Chúa. Hãy giữ lấy tình yêu. Hãy tha thứ, không phải vì điều ác là nhỏ, mà vì Chúa lớn hơn. Hãy hòa giải, không phải vì quá khứ không đau, mà vì bạn không muốn sống phần còn lại của đời mình dưới quyền của đau khổ.
Và như thế, giữa bao hận thù vẫn sống mến yêu không còn là một khẩu hiệu đẹp gắn vào tên tuổi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận. Đó là cốt lõi của chứng từ ngài. Đó là nơi ngài trở nên rất giống Chúa Giêsu. Đó là nơi ngài trở thành món quà Chúa ban cho Giáo hội Việt Nam. Đó là nơi ta thấy rõ nhất rằng thánh thiện không phải là không bị tổn thương, nhưng là không để tổn thương cắt mình khỏi tình yêu. Thánh thiện không phải là không đau, nhưng là đau mà vẫn thuộc về ánh sáng. Thánh thiện không phải là quên đi điều ác, nhưng là làm cho điều ác không còn tiếng nói cuối cùng.
Và nơi Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, tiếng nói cuối cùng ấy chính là tình yêu.
PHẦN VIII: ĐƯỜNG HY VỌNG, NĂM CHIẾC BÁNH VÀ HAI CON CÁ: CÁC TÁC PHẨM LỚN VÀ DI SẢN THIÊNG LIÊNG CỦA ĐỨC HỒNG Y NGUYỄN VĂN THUẬN
Có những con người đi qua đời này bằng lời nói. Có những con người đi qua đời này bằng công trình. Có những con người đi qua đời này bằng những chức vụ lớn mà lịch sử còn ghi nhớ. Nhưng cũng có những con người đi qua đời này bằng một thứ còn bền hơn cả tiếng nói, công trình và chức vụ: đó là một gia sản thiêng liêng được chưng cất từ nước mắt, từ cầu nguyện, từ thinh lặng, từ những năm tháng bị bẻ ra trong bàn tay Thiên Chúa, rồi được trao lại cho Hội Thánh như lương thực cho nhiều thế hệ. Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận là một con người như thế. Nếu cuộc đời ngài là một chứng từ sống, thì các tác phẩm của ngài chính là phần chứng từ ấy được kết tinh thành chữ. Không phải thứ chữ được viết ra từ bàn giấy yên ổn. Không phải thứ chữ sinh ra từ một tâm hồn chỉ suy tư về đau khổ từ xa. Nhưng là thứ chữ được sinh ra từ một trái tim đã đi qua lửa, đã bị giam trong bóng tối mà không đánh mất ánh sáng, đã sống giữa cô độc mà không đánh mất tương quan với Chúa, đã chịu bất công mà không đánh mất tình yêu. Chính vì thế, khi nói đến các tác phẩm của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, ta không chỉ nói đến sách. Ta nói đến một kho tàng. Một di sản. Một con đường. Một trường học thiêng liêng mà ở đó Hội Thánh vẫn đang tiếp tục học mỗi ngày.
Nếu phải chọn hai nhan đề nổi bật nhất để bước vào thế giới nội tâm của ngài, chắc chắn đó là Đường Hy Vọng và Năm chiếc bánh và hai con cá. Trung tâm Nguyễn Văn Thuận liệt kê Five Loaves and Two Fishes như tác phẩm nổi tiếng nhất của ngài, và nhấn mạnh rằng đây không chỉ là bản kể lại những năm tù từ 1975 đến 1988, nhưng trước hết là một “chứng từ thiêng liêng” về sự hiện diện cụ thể mỗi ngày của lòng thương xót Chúa trong đời ngài. Cùng nguồn này cũng xác nhận Đường Hy Vọng dưới ánh sáng Lời Chúa và Công đồng Vaticanô II tiếp nối những suy tư được thai nghén trong tù và được triển khai theo các chủ đề của Đường Hy Vọng.
Nhưng trước khi đi vào từng tác phẩm, cần nói một điều rất quan trọng: các sách của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận không thể được đọc như những văn bản tách khỏi đời sống. Chúng là đời sống đã chảy thành chữ. Chúng không phải là những suy tư đẹp được thêm vào sau biến cố, nhưng là những hoa trái của biến cố đã được cầu nguyện, đã được chịu đựng, đã được dâng lên, đã được soi sáng bởi Lời Chúa và đã được thanh luyện trong Thánh Thể. Vì thế, ai đọc ngài chỉ để tìm những câu hay thì sẽ bỏ lỡ điều cốt lõi. Ai đọc ngài chỉ để sưu tầm những ý tưởng đạo đức tích cực thì cũng chưa chạm đến lõi. Phải đọc ngài như đọc một tâm hồn. Phải đọc ngài như bước vào một nhà nguyện. Phải đọc ngài như lắng nghe một người cha thiêng liêng đang nói sau khi đã đi qua bóng tối mà không phản bội ánh sáng. Chính ở đó, chữ của ngài mới bắt đầu sống.
Đường Hy Vọng có vị trí đặc biệt trong gia sản ấy. Vatican gần đây nhắc lại rằng tác phẩm này gồm 1.001 suy niệm, được viết như một gia sản thiêng liêng cho các tín hữu trong bối cảnh thử thách, và tiếp tục được Hội Thánh nhắc đến như một nguồn nuôi dưỡng đức tin và niềm hy vọng. Điều làm cho Đường Hy Vọng trở nên kỳ diệu không phải vì nó dài, mà vì mỗi đoạn ngắn lại có sức chứa rất lớn. Đây là vẻ đẹp hiếm. Có những cuốn sách rất đồ sộ nhưng người đọc khép lại mà lòng không thay đổi bao nhiêu. Còn Đường Hy Vọng nhiều khi chỉ bằng một đoạn nhỏ đã đủ làm người ta dừng lại rất lâu. Bởi mỗi dòng không đi ra từ nhu cầu trình bày, nhưng từ sự cô đọng nội tâm. Nó giống như bánh được ép lại từ một mùa đói. Giống như dầu được chắt ra từ trái đã bị nghiền. Giống như những mảnh sáng nhỏ được gìn giữ trong đêm để rồi sau này đủ soi cho rất nhiều người khác.
Nơi Đường Hy Vọng, người ta không gặp một tác giả muốn gây ấn tượng bằng tri thức hay sự sắc bén văn chương. Người ta gặp một người mục tử muốn để lại cho con cái mình những hạt giống có thể sống được trong mọi hoàn cảnh. Điều này rất quan trọng. Vì có những tác phẩm chỉ hợp với một giai đoạn, một tâm trạng, một môi trường. Còn Đường Hy Vọng có sức sống rất bền bởi vì nó chạm vào những gì căn bản nhất của đời sống Kitô hữu: cầu nguyện, hy vọng, trung thành, hiện tại, bác ái, hiệp thông, thập giá, niềm vui, trách nhiệm, Lời Chúa, Hội Thánh, Đức Mẹ, và sự thánh thiện trong điều nhỏ. Chính vì nó chạm vào cốt lõi, nên qua nhiều năm, nhiều người vẫn thấy như đang được nói với chính mình. Người trẻ đọc thì thấy mình được dẫn. Người đau khổ đọc thì thấy mình được nâng. Người dấn thân trong Hội Thánh đọc thì thấy mình được sửa lại hướng đi. Người đang mỏi mệt đọc thì thấy một bàn tay nhẹ mà chắc đang đặt trên vai.
Và có lẽ đó là một trong những điều đẹp nhất nơi ngài như tác giả: ngài không viết để làm người ta choáng ngợp, nhưng để làm người ta sống. Chữ của ngài không ép người đọc ngưỡng mộ mình. Chữ của ngài mời người đọc trở về với Chúa. Có những cây bút rất mạnh nhưng khi đọc xong, người ta nhớ nhiều đến tác giả hơn là nhớ đến Thiên Chúa. Còn với Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, càng đọc, người ta càng thấy tác giả lùi lại để Đức Kitô hiện ra. Chính đó là dấu chỉ của một tác phẩm thiêng liêng thật. Nó không làm trung tâm bằng con người viết, dù người viết có cuộc đời đặc biệt đến đâu. Nó làm trung tâm bằng Chúa. Và chính vì thế, nó không cũ.
Nếu Đường Hy Vọng giống như một con đường dài rải đầy những dấu chỉ nhỏ, thì Năm chiếc bánh và hai con cá lại giống như một cánh cửa mở thẳng vào trung tâm trải nghiệm thiêng liêng của ngài. Trung tâm Nguyễn Văn Thuận mô tả đây là tác phẩm nổi tiếng nhất, và nhấn mạnh rằng mục đích của cuốn sách không phải là kể chuyện giật gân hay kêu gọi trả đũa, nhưng là chuyển trao “sứ điệp của tình yêu, trong bình an và sự thật, trong tha thứ và hòa giải.” Chỉ riêng điểm này thôi đã cho thấy cuốn sách ấy không thể được xếp như một hồi ký thông thường. Đúng là trong đó có chuyện đời. Có nhà tù. Có đau khổ. Có những năm dài. Nhưng tất cả những yếu tố ấy chỉ là phần khung. Điều cốt lõi là ánh sáng bên trong mà ngài đã tìm thấy và trung thành giữ lấy.
Tên gọi Năm chiếc bánh và hai con cá tự nó đã là một linh đạo. Đây không chỉ là một hình ảnh Kinh Thánh đẹp. Đây là cách ngài đọc chính cuộc đời mình. Một cuộc đời có những lúc bị lấy gần hết mọi phương tiện, nhưng điều ít ỏi còn lại, nếu được trao vào tay Chúa, lại có thể trở thành lương thực cho biết bao người. Chính đây là điều làm người đọc xúc động rất sâu. Ngài không viết từ vị thế của người có nhiều để ban phát, nhưng từ vị thế của người chỉ còn rất ít mà vẫn dám trao trọn cái rất ít ấy cho Thiên Chúa. Và rồi Thiên Chúa làm phép lạ. Không phải trước hết là phép lạ thay đổi hoàn cảnh bên ngoài, nhưng là phép lạ biến cái ít ỏi của một đời tù thành bánh nuôi hàng ngàn linh hồn. Tác phẩm này vì thế là chứng từ về sự quan phòng, về tình thương dịu dàng của Chúa, về phân định giữa Chúa và công việc của Chúa, về hiện tại, cầu nguyện, Thánh Thể, Đức Maria, tha thứ và hòa giải. Những điểm này được chính phần giới thiệu của Trung tâm Nguyễn Văn Thuận nêu rất rõ.
Thật ra, một trong những điều làm nên sức mạnh lâu bền của Năm chiếc bánh và hai con cá là ở chỗ: cuốn sách không đẩy người đọc vào bi kịch, mà dẫn họ vào mầu nhiệm. Nếu tác giả chỉ muốn kể cho người ta thấy mình đã đau thế nào, bất công ra sao, cô độc đến mức nào, thì cuốn sách có thể gây xúc động mạnh trong một giai đoạn, nhưng rồi sẽ dừng lại ở thương cảm. Còn ở đây, ngài kể đau khổ theo cách để người đọc nhìn thấy Chúa. Không phải Chúa ở xa đau khổ, nhưng Chúa hiện diện trong đó. Không phải Chúa giải thích hết mọi sự, nhưng Chúa ở đó đủ để người ta không chìm. Không phải Chúa cất ngay cây thập giá, nhưng Chúa cho người ta biết làm sao vác nó mà không đánh mất tình yêu. Chính vì thế, Năm chiếc bánh và hai con cá vừa mang tính tự thuật, vừa mang tính linh thao, vừa mang tính giáo huấn, vừa mang tính chứng từ. Nó chạm đến người đọc ở nhiều tầng cùng một lúc.
Nếu Đường Hy Vọng và Năm chiếc bánh và hai con cá là hai ngọn núi nổi bật, thì xung quanh đó còn có một dãy núi khác cấu thành toàn bộ di sản thiêng liêng của ngài. Danh mục tác phẩm do Trung tâm Nguyễn Văn Thuận công bố còn bao gồm Những lời cầu nguyện của niềm hy vọng, Đường Hy Vọng dưới ánh sáng Lời Chúa và Công đồng Vaticanô II, Pilgrims on the Road of Hope, cùng các tác phẩm về linh thao, chứng nhân hy vọng và những suy tư mục vụ khác. Điều này cho thấy ngài không phải là người chỉ có một hai quyển sách nổi bật do hoàn cảnh đặc biệt tạo ra. Ngài là một tác giả có dòng chảy nội tâm rất thống nhất. Mọi cuốn sách khác nhau, nhưng đều quy về một trung tâm: Đức Kitô là hy vọng, cầu nguyện là hơi thở, Thánh Thể là nguồn sống, hiện tại là điểm gặp Chúa, đau khổ có thể trở thành của lễ, tha thứ là con đường của tự do, Hội Thánh là nơi thuộc về, và thánh thiện được sống trong điều nhỏ mỗi ngày.
Đặc biệt, Những lời cầu nguyện của niềm hy vọng có một vị trí rất đặc biệt vì được Đức Bênêđictô XVI trực tiếp nhắc đến trong thông điệp Spe Salvi. Ngài viết rằng Đức cố Hồng y Nguyễn Văn Thuận, trong 13 năm tù đày, 9 năm biệt giam, đã để lại “cuốn sách nhỏ quý giá” này; và chính việc có thể lắng nghe, thưa chuyện với Thiên Chúa trong một hoàn cảnh tưởng như hoàn toàn tuyệt vọng đã trở thành nơi phát sinh một sức mạnh hy vọng ngày càng lớn trong ngài, để rồi sau khi được trả tự do, ngài trở thành chứng nhân hy vọng cho người khắp thế giới. Chỉ một đoạn huấn quyền như thế thôi đã đủ cho thấy Hội Thánh hoàn vũ không nhìn các tác phẩm của ngài như tài liệu đạo đức riêng tư của một vị mục tử Á châu, nhưng như một kho tàng có giá trị cho toàn thể Dân Chúa.
Điều này cũng giúp ta hiểu đúng hơn về di sản của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận. Di sản ấy không chỉ nằm ở số lượng tác phẩm, cũng không chỉ ở mức độ phổ biến của tên sách. Di sản ấy nằm ở chỗ các tác phẩm của ngài đã trở thành ngôn ngữ để nhiều người diễn tả đức tin của mình trong thử thách. Có những tác giả được yêu mến vì họ viết đẹp. Có những tác giả được trân trọng vì họ tư duy sâu. Còn ngài được ở lại trong lòng người đọc vì chữ của ngài có thể đi cùng họ trong lúc đau. Một người đang bị thử thách có thể mở ngài ra và thấy một người đi trước mình. Một người đang khô khan có thể đọc ngài và thấy một ánh đèn không chói nhưng đủ ấm. Một người đang phân vân giữa Chúa và công việc của Chúa có thể đọc ngài và được sửa lại rất tận căn. Một linh mục đang mệt vì mục vụ có thể đọc ngài và nhớ lại trung tâm của đời mình. Một giáo dân đang thất vọng với hoàn cảnh của bản thân hay của Giáo hội có thể đọc ngài và học lại ngôn ngữ hy vọng.
Ở đây, cần nói thêm về đặc tính văn chương thiêng liêng rất riêng của ngài. Ngài viết rõ. Ngài viết sáng. Ngài viết đơn sơ. Nhưng đừng vì thế mà tưởng chữ của ngài dễ. Chúng dễ đọc, nhưng không dễ sống. Có những tác giả khó vì ngôn ngữ họ phức tạp. Ngài khó theo cách khác: khó vì điều ngài mời gọi quá tận căn. Hãy sống giây phút hiện tại. Hãy chọn Chúa hơn công việc của Chúa. Hãy để cái ít ỏi của mình vào tay Thiên Chúa. Hãy tha thứ. Hãy cầu nguyện giữa đêm tối. Hãy yêu Hội Thánh mà không cay đắng. Hãy làm điều nhỏ với tình yêu lớn. Tất cả nghe rất đơn sơ, nhưng ai thật sự muốn sống mới biết đó là cả một con đường dài. Và chính vì ngài đã đi con đường ấy thật, ngôn ngữ của ngài mới có sức buộc người đọc phải đối diện với chính mình.
Có lẽ điều làm cho các tác phẩm của ngài mang sức phổ quát sâu như vậy là vì chúng không bị nhốt trong một bối cảnh duy nhất. Đúng là chúng được sinh ra từ kinh nghiệm tù đày, cô độc và bách hại. Nhưng nhờ được viết từ cốt lõi của đời sống thiêng liêng, chúng vượt qua hoàn cảnh nguyên thủy ấy để chạm đến mọi dạng nhà tù của con người. Một người không hề bị giam cũng có thể gặp mình trong ngài, vì ai cũng có những nhà tù vô hình: nhà tù của bệnh tật, của gia đình đổ vỡ, của cô đơn, của sợ hãi, của tuổi già, của thất nghiệp, của hiểu lầm, của mục vụ không được như ý, của ơn gọi bị thử thách, của lòng nguội lạnh, của quá khứ đau đớn. Và rồi ở giữa những nhà tù ấy, người ta gặp lại tiếng nói của ngài: đừng đánh mất Chúa, đừng đánh mất hiện tại, đừng đánh mất tình yêu, đừng đánh mất hy vọng.
Một điều khác rất đáng suy niệm là các tác phẩm của ngài luôn mang tính Hội Thánh rất mạnh. Dù nội tâm sâu, ngài không bao giờ viết theo kiểu khép kín trong kinh nghiệm riêng. Dù đau khổ nhiều, ngài không làm thành một thứ huyền nhiệm riêng tư chỉ để nói về “hành trình của tôi”. Nơi ngài, mọi sự quy về Hội Thánh, về Dân Chúa, về việc làm sao giúp người khác bền đỗ, làm sao xây dựng hy vọng, làm sao sống Lời Chúa trong thời đại hôm nay, làm sao bước đi trong ánh sáng Công đồng Vaticanô II. Chỉ riêng tên gọi Đường Hy Vọng dưới ánh sáng Lời Chúa và Công đồng Vaticanô II đã cho thấy tầm nhìn ấy: đức tin không phải chuyện riêng lẻ; phải được đặt trong Lời Chúa và trong nhịp sống của Hội Thánh. Đây là điều rất quý, vì nó giữ cho linh đạo của ngài không rơi vào chủ nghĩa cá nhân thiêng liêng.
Di sản thiêng liêng của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận vì vậy có thể nói là di sản của một linh đạo vừa rất cá vị vừa rất Hội Thánh, vừa rất Việt Nam vừa rất phổ quát. Rất Việt Nam ở chỗ nó mang giọng điệu của một tâm hồn đã được nuôi bằng lòng đạo đức bình dân, bằng lòng yêu mến Đức Mẹ, bằng sự gần gũi với đau khổ lịch sử của dân mình, bằng nét đơn sơ và sức chịu đựng rất Á châu. Nhưng cũng rất phổ quát ở chỗ bất cứ ai, thuộc nền văn hóa nào, cũng có thể nhận ra nơi ngài những điều chạm đến căn cốt con người: đau khổ, chờ đợi, cầu nguyện, tự do nội tâm, tha thứ, hy vọng. Chính vì vậy, ngài đã được các giáo hoàng và nhiều văn kiện Hội Thánh nhắc đến như chứng nhân hy vọng. Ngoài đoạn trong Spe Salvi, Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền giáo 2025 của Tòa Thánh cũng nhắc đến ngài như mẫu gương đã giữ sống niềm hy vọng trong gian truân nhờ cầu nguyện bền bỉ và Thánh Thể.
Điều này làm cho ta phải tự hỏi: tại sao các tác phẩm của ngài vẫn còn cần thiết cho hôm nay? Câu trả lời có lẽ nằm ở chỗ: thế giới hiện đại có rất nhiều thông tin, rất nhiều tiếng nói, rất nhiều phân tích, nhưng rất thiếu những lời phát ra từ một linh hồn đã thật sự được tinh luyện. Người ta có thể tìm được vô số sách về thành công, vượt khó, tư duy tích cực, quản trị cảm xúc, sức bền tâm lý. Nhưng những điều ấy không thay thế được một tác phẩm thiêng liêng thật. Vì một tác phẩm thiêng liêng thật không chỉ giúp ta đỡ mệt. Nó chỉnh lại trung tâm đời ta. Nó không chỉ dạy ta vượt qua hoàn cảnh. Nó dạy ta ở trong hoàn cảnh mà vẫn thuộc về Chúa. Nó không chỉ khích lệ ta. Nó hoán cải ta. Và các sách của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận làm chính điều đó.
Người ta đọc ngài và dần bị buộc phải đặt lại câu hỏi: tôi có thật sự chọn Chúa hơn công việc của Chúa không? Tôi có đang sống giây phút hiện tại như nơi gặp Chúa không? Tôi có đang để vết thương quyết định con người tôi không? Tôi có đang cầu nguyện thật hay chỉ đang giữ hình thức? Tôi có tin rằng điều ít ỏi của mình vẫn có thể thành bánh trong tay Chúa không? Tôi có đang sống như người hy vọng hay như người chỉ đang cầm cự? Chính vì đặt ra những câu hỏi ấy mà di sản của ngài không nằm yên trong thư viện. Nó tiếp tục làm việc trong linh hồn người đọc.
Và cũng cần phải nói đến vẻ đẹp rất sâu của việc ngài viết từ một chỗ đã được hòa giải. Như đã nói ở phần trước, nếu ngài ra khỏi tù với lòng đầy hận thù, có lẽ ngài vẫn có thể viết rất mạnh. Nhưng chữ ấy sẽ mang độc. Nó có thể gây rung động, nhưng không chữa lành. Còn ở đây, chữ của ngài được viết từ một trái tim đã đi qua tha thứ và hòa giải. Vì thế nó có sức chữa lành. Nó không kích động vết thương. Nó mở cửa cho ánh sáng đi vào vết thương. Đây là lý do vì sao người ta đọc ngài mà lòng không bị kéo vào phẫn nộ, nhưng được gọi bước lên cao hơn. Chữ của ngài có phẩm chất của những gì đã được thanh luyện: trong, sáng, ít oán, nhiều Chúa, nhiều Hội Thánh, nhiều hy vọng, nhiều yêu thương.
Nếu phải tóm lại, ta có thể nói thế này: Đường Hy Vọng là cuốn sách của những hạt giống; Năm chiếc bánh và hai con cá là cuốn sách của chứng từ được bẻ ra; Những lời cầu nguyện của niềm hy vọng là cuốn sách của hơi thở nội tâm không tắt; còn toàn bộ trước tác của ngài hợp thành một bản linh đạo rất nhất quán về Đức Kitô, Thánh Thể, cầu nguyện, hiện tại, hy vọng, tha thứ và Hội Thánh. Nhận định này phù hợp với chính cách các nguồn chính thức trình bày các trước tác của ngài và với việc huấn quyền Hội Thánh nhiều lần trích dẫn kinh nghiệm cầu nguyện-hy vọng của ngài.
Vậy di sản thiêng liêng lớn nhất của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận là gì? Không chỉ là những câu nói hay. Không chỉ là những trang sách nổi tiếng. Mà là việc ngài đã để lại cho Hội Thánh một con đường sống. Một con đường cho những ai không còn nhiều. Một con đường cho những ai bị thử thách. Một con đường cho những ai đang mệt với chính mình. Một con đường cho linh mục, tu sĩ, giáo dân, người trẻ, người già, người đang dấn thân và người đang đau khổ. Con đường ấy nói rằng: hãy bám vào Chúa Giêsu; hãy để Thánh Thể là trung tâm; hãy cầu nguyện ngay trong lúc tối; hãy sống hiện tại; hãy làm điều nhỏ với tình yêu lớn; hãy chọn Chúa hơn cả những việc tốt mình làm cho Ngài; hãy tha thứ; hãy hy vọng.
Và chính vì thế, các tác phẩm của ngài không chỉ là di sản của quá khứ. Chúng là lương thực cho hiện tại. Chúng là bánh vẫn còn được bẻ ra. Chúng là con đường vẫn còn người bước. Chúng là ánh sáng vẫn còn âm thầm đi qua những căn phòng tối của biết bao linh hồn.
PHẦN IX: LINH ĐẠO CỦA ĐỨC HỒNG Y NGUYỄN VĂN THUẬN: CHỌN CHÚA HƠN CÔNG VIỆC CỦA CHÚA, SỐNG HIỆN TẠI, YÊU THÁNH THỂ VÀ THUỘC TRỌN VỀ HỘI THÁNH
Nếu phải gom lại toàn bộ cuộc đời, đau khổ, chứng từ, các tác phẩm và ánh sáng nội tâm của Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận trong một chữ duy nhất, có lẽ đó là chữ linh đạo. Bởi vì điều ngài để lại cho Giáo hội không chỉ là một câu chuyện đẹp để người ta xúc động. Không chỉ là một mẫu gương chịu đựng để người ta khâm phục. Không chỉ là một số cuốn sách đạo đức để người ta trích dẫn. Điều ngài để lại sâu hơn thế nhiều. Ngài để lại một cách sống. Một con đường thiêng liêng. Một lối đặt tâm hồn trong tương quan với Thiên Chúa, với hiện tại, với Thánh Thể, với Hội Thánh, với đau khổ, với sứ vụ, với chính bản thân mình. Và linh đạo ấy đẹp ở chỗ nó không được xây trên những ý niệm trừu tượng, nhưng trên một đời đã thật sự đi qua lửa. Chính vì thế, càng chiêm ngắm, người ta càng thấy đây không phải là một linh đạo dành riêng cho các bậc thánh thiện phi thường. Đây là linh đạo của Tin Mừng, được sống đến nơi đến chốn trong một con người đã để Chúa dẫn mình đi rất sâu.
Có thể nói, trong linh đạo của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, có bốn trụ cột nổi bật nâng toàn bộ đời sống ngài lên: chọn Chúa hơn công việc của Chúa, sống giây phút hiện tại, yêu Thánh Thể, và thuộc trọn về Hội Thánh. Bốn điều ấy không đứng riêng như bốn chương giáo lý khô cứng. Chúng xuyên thấm vào nhau. Chọn Chúa hơn công việc của Chúa làm cho đời sống thiêng liêng được giải phóng khỏi chủ nghĩa hoạt động. Sống giây phút hiện tại làm cho tình yêu trở thành điều có thể thực hiện được ngay trong nơi tối nhất. Yêu Thánh Thể giữ cho ngài luôn gắn với trung tâm của đời linh mục và đời Kitô hữu. Thuộc trọn về Hội Thánh làm cho mọi đau khổ của ngài không biến thành một hành trình cá nhân khép kín, nhưng trở thành của lễ cho Dân Chúa. Chính bốn dòng chảy ấy làm nên sức mạnh âm thầm mà bền bỉ nơi cuộc đời ngài.
Trước hết, phải nói đến điểm có lẽ là điểm chói sáng nhất và cũng khó nhất trong linh đạo của ngài: chọn Chúa hơn công việc của Chúa. Đây là một câu ngắn, nhưng ai thật sự muốn sống sẽ hiểu nó giống như một lưỡi gươm đi thẳng vào trung tâm những ảo tưởng tinh vi nhất trong đời thiêng liêng. Bởi vì nhiều khi con người rất dễ lầm tưởng mình yêu Chúa, trong khi thật ra mình yêu công việc mình làm cho Chúa. Mình yêu cảm giác có ích. Mình yêu vai trò. Mình yêu vị trí. Mình yêu việc thấy đời mình sinh kết quả. Mình yêu việc được trao trách nhiệm. Mình yêu việc được phục vụ theo cách mình hình dung là đẹp. Những điều đó không xấu. Nhiều điều trong đó còn rất quý. Nhưng chúng có thể trở thành cái bẫy nếu ta không đi đủ sâu. Vì đến một lúc nào đó, Chúa có thể cho phép tất cả những điều ấy bị lấy đi. Và lúc ấy, điều gì còn lại sẽ cho thấy ta thực sự yêu ai.
Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đã đi qua chính lưỡi gươm ấy. Trước khi bị bắt, ngài là một mục tử năng động, có lửa, có tầm nhìn, có bao thao thức cho Hội Thánh. Không có dấu hiệu nào cho thấy ngài là người hời hợt với sứ vụ. Trái lại, ngài yêu Hội Thánh thật, yêu đoàn chiên thật, yêu việc phục vụ thật. Chính vì thế, khi bị cắt khỏi tất cả, đau khổ lại càng sâu. Nhưng chính trong đau khổ ấy, Chúa mở ra cho ngài một khám phá tận căn: nếu ngài chỉ bám vào công việc của Chúa, ngài sẽ sụp đổ khi công việc ấy bị lấy mất; nhưng nếu ngài bám vào chính Chúa, thì dù công việc bên ngoài không còn, tương quan nền tảng vẫn còn nguyên. Đây là một cuộc hoán cải khủng khiếp mà cũng tuyệt đẹp. Từ chỗ sống cho Chúa qua công việc, ngài đi đến chỗ sống với Chúa ngay cả khi không còn công việc. Từ chỗ dâng hiến bằng hoạt động, ngài đi đến chỗ dâng hiến bằng chính sự bất lực.
Bài học này rất mạnh cho Giáo hội hôm nay. Vì trong mọi bậc sống, con người đều có thể rơi vào cám dỗ đặt căn tính của mình trên những việc mình làm. Linh mục có thể định nghĩa mình bằng tác vụ. Tu sĩ có thể định nghĩa mình bằng sứ vụ cộng đoàn. Giáo dân có thể định nghĩa mình bằng những đóng góp hay vai trò phục vụ. Người hoạt động tông đồ có thể định nghĩa mình bằng hiệu quả. Và khi những điều ấy bị ngưng lại, người ta cảm thấy như đời mình không còn ý nghĩa. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận nhắc ta rằng căn tính sâu nhất không nằm ở chỗ mình đang làm gì cho Chúa, nhưng ở chỗ mình thuộc về Ai. Một người bệnh nằm liệt giường mà thuộc trọn về Chúa vẫn có thể phong nhiêu hơn một người làm vô số việc trong Hội Thánh mà lòng lại xa Chúa. Một linh mục bị cắt khỏi bàn thờ bên ngoài mà vẫn bám vào hy tế của Đức Kitô còn sống động hơn một linh mục hoạt động rất mạnh mà đã để cái tôi chiếm chỗ trung tâm. Chọn Chúa hơn công việc của Chúa, vì thế, không phải là coi nhẹ công việc. Mà là đặt lại công việc vào đúng chỗ của nó: như hoa trái của tình yêu chứ không phải thay thế cho tình yêu.
Từ đó, ta bước sang trụ cột thứ hai: sống giây phút hiện tại. Có thể nói đây là một trong những điểm nổi bật nhất trong linh đạo của ngài, không phải vì nó mới lạ, nhưng vì ngài đã sống nó với một độ thật hiếm thấy. Nói về hiện tại thì dễ. Ai cũng biết về mặt lý thuyết rằng nên sống cho hôm nay. Nhưng chỉ ai bị ném vào một hoàn cảnh mà quá khứ trở thành nỗi đau và tương lai trở thành màn sương mù mới hiểu giây phút hiện tại quý đến mức nào. Với ngài, hiện tại không phải là một khái niệm tâm lý tích cực. Hiện tại là nơi duy nhất có thể gặp Chúa. Không phải hôm qua. Không phải ngày mai. Không phải ngày mình được giải thoát. Không phải ngày mọi sự sẽ rõ. Chỉ bây giờ. Chính trong bây giờ này, Chúa đang có mặt. Chính trong bây giờ này, ta có thể yêu. Chính trong bây giờ này, ta có thể dâng. Chính trong bây giờ này, ta có thể tha thứ. Chính trong bây giờ này, ta có thể làm một điều nhỏ với tình yêu lớn.
Đây là điều làm cho linh đạo hiện tại của ngài khác hẳn với một thứ sống “mặc kệ”. Ngài không sống hiện tại vì bỏ luôn ký ức hay thôi không nghĩ đến tương lai. Ngài sống hiện tại vì đó là nơi ý Chúa chạm tới mình cụ thể nhất. Nếu quá khứ cứ kéo người ta về tiếc nuối, linh hồn sẽ chết dần. Nếu tương lai cứ kéo người ta về lo âu, linh hồn cũng sẽ chết dần. Chỉ hiện tại mới có thể được thánh hóa. Và khi hiện tại được thánh hóa, quá khứ dần được chữa lành, tương lai dần được trao phó. Chính vì thế, sống hiện tại không phải là thu mình lại trong một khoảnh khắc nhỏ hẹp. Trái lại, đó là mở mình ra cho vĩnh cửu đang chạm vào thời gian. Ở nơi ngài, ta thấy giây phút hiện tại trở thành bàn thờ, thành điểm hẹn, thành lối cứu linh hồn khỏi bị nghiền nát bởi những điều mình không thể kiểm soát.
Người ta rất dễ nghĩ rằng những điều lớn lao mới làm nên sự thánh thiện. Nhưng linh đạo của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận lại cứ nhẹ nhàng bẻ gãy lối nghĩ ấy. Ngài dạy rằng chính điều nhỏ trong hiện tại mới là nơi ta chứng minh tình yêu. Khi không còn việc lớn để làm, ta còn biết yêu Chúa qua điều nhỏ không? Khi không còn khán giả, ta còn biết sống trung thành không? Khi không còn thành công, ta còn biết dâng ngày sống bình thường không? Khi đau khổ kéo dài, ta còn biết biến một phút kiên nhẫn, một lời cầu nguyện ngắn, một quyết định không than trách, một sự im lặng không cay độc, thành của lễ không? Chính ở đây, linh đạo của ngài vừa rất cao vừa rất cụ thể. Nó không để người ta trốn vào lý tưởng lớn mà quên phần bé nhỏ của mỗi ngày. Nó kéo sự thánh thiện xuống gần đời sống thật, xuống ngay nơi một giây phút đang trôi qua mà nếu không có Chúa, ta rất dễ xem là tầm thường hay vô nghĩa.
Trụ cột thứ ba là yêu Thánh Thể. Nếu chọn Chúa hơn công việc của Chúa là định hướng sâu nhất, nếu sống hiện tại là phương thế bảo vệ linh hồn, thì Thánh Thể chính là trung tâm nuôi dưỡng tất cả. Nơi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, Thánh Thể không phải là một lòng sùng kính phụ thêm. Thánh Thể là trái tim đời sống. Chính ở đó, ngài học thế nào là hiến dâng. Chính ở đó, ngài học thế nào là trở nên bánh bẻ ra. Chính ở đó, ngài hiểu rằng tình yêu không chỉ là cảm xúc, mà là tự hiến. Chính ở đó, ngài gặp Đức Kitô không như một ý niệm, nhưng như Đấng thật đang ở với mình, ở trong mình và làm cho đời mình nên một của lễ.
Trong tù, tình yêu Thánh Thể nơi ngài càng sáng rực hơn vì bị đặt trong thiếu thốn. Có những lúc người ta chỉ nhận ra giá trị một điều khi điều ấy bị lấy đi hoặc bị đe dọa lấy đi. Nhưng nơi ngài, sự khan hiếm không làm ngài xa Thánh Thể. Nó lại làm ngài gắn chặt hơn. Và từ đó, người ta hiểu rằng Thánh Thể không chỉ là nguồn an ủi, nhưng là trường học của căn tính. Một linh mục thật không thể sống mà không để Thánh Thể giải thích cuộc đời mình. Một Kitô hữu thật cũng không thể trưởng thành mà không để bàn tiệc Thánh Thể dạy mình thế nào là hiệp thông, hiến dâng, và thuộc về. Chính vì yêu Thánh Thể, ngài không bị nhà tù biến thành con người chỉ còn biết chịu đựng. Thánh Thể giữ cho ngài nhớ mình vẫn là người của hy tế, người của tình yêu tự hiến, người được mời gọi trở nên tấm bánh bị bẻ ra cho người khác.
Và thật ra, chính từ Thánh Thể mà hình ảnh năm chiếc bánh và hai con cá trở nên sống động. Cái ít ỏi của con người, khi được đặt vào tay Chúa, có thể nuôi nhiều người. Điều đó đúng với bánh và cá trong Tin Mừng, nhưng cũng đúng với cuộc đời ngài. Có những lúc, ngài không còn gì nhiều để dâng: không quyền hành, không phương tiện, không tự do, không công việc hữu hình. Chỉ còn một trái tim, một đức tin, một giây phút hiện tại, một lời cầu nguyện, một quyết định tha thứ, một lòng yêu Chúa. Nhưng chính cái ít ấy, vì được kết hợp với Thánh Thể và được đặt vào tay Thiên Chúa, lại trở thành bánh cho biết bao linh hồn. Đây là linh đạo Thánh Thể được sống bằng cả đời mình: không cần nhiều để Thiên Chúa làm phép lạ; điều cần là trao cái mình có, dù ít, bằng tất cả tình yêu.
Trụ cột thứ tư là thuộc trọn về Hội Thánh. Đây cũng là điều làm linh đạo của ngài không rơi vào chủ nghĩa cá nhân thiêng liêng. Có những người có đời sống nội tâm sâu, nhưng dần dần khép lại trong thế giới riêng với Chúa, như thể đức tin chỉ là chuyện giữa tôi và Chúa. Nơi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận thì không. Càng đi sâu, ngài càng thuộc về Hội Thánh. Càng bị thử thách, lòng yêu Hội Thánh nơi ngài càng hiện rõ. Ngài không yêu Hội Thánh vì Hội Thánh luôn mạnh, luôn đẹp, luôn được thế gian tôn trọng. Ngài yêu Hội Thánh như người ta yêu mẹ mình, yêu gia đình mình, yêu Hiền Thê của Đức Kitô. Tình yêu ấy vừa tha thiết vừa trưởng thành. Nó không ngây thơ đến mức không thấy những giới hạn của con người trong Hội Thánh. Nhưng nó cũng không trở nên cay đắng hay đứng ngoài phê phán như kẻ không thuộc về.
Điều rất đẹp là ngay cả khi bị cắt khỏi hoạt động mục vụ hữu hình, ngài vẫn không ngừng sống như người thuộc về Hội Thánh. Không được ở giữa dân Chúa như trước, ngài vẫn mang dân Chúa trong lời cầu nguyện. Không còn giáo phận trước mắt, ngài vẫn sống với trái tim của một mục tử. Không còn phương tiện dạy dỗ công khai, ngài vẫn dâng đau khổ mình cho Hội Thánh. Đây là một thuộc về rất sâu. Không lệ thuộc vào vị trí. Không lệ thuộc vào chức vụ. Không lệ thuộc vào hiệu quả. Mà thuộc về trong căn tính. Thuộc về như chi thể thuộc về thân thể. Thuộc về như người con thuộc về mái nhà mình. Và đây cũng là một bài học rất quý cho thời nay, khi nhiều người dễ yêu Hội Thánh theo điều kiện: khi được hiểu, khi được dùng, khi thấy hợp với mình. Còn nơi ngài, càng bị thử lửa, tình yêu ấy càng trong.
Chính vì thuộc trọn về Hội Thánh, linh đạo của ngài luôn có tính hiệp thông. Ngài không sống sự thánh thiện như một hành trình leo cao một mình. Ngài sống để nâng người khác lên, để gìn giữ đức tin của người khác, để trao hy vọng cho người khác. Ngài không biến đau khổ của mình thành một vùng riêng chỉ để than trách, mà thành lương thực cho Dân Chúa. Ngài không viết chỉ để thuật lại kinh nghiệm bản thân, mà để mở đường cho người khác sống đạo giữa thử thách. Điều này cho thấy một linh đạo càng thật càng bớt quy về mình. Nó không xóa cá vị, nhưng làm cá vị trở thành của lễ cho hiệp thông.
Nếu nhìn kỹ, ta sẽ thấy bốn trụ cột ấy liên kết với nhau rất chặt. Chính vì chọn Chúa hơn công việc của Chúa, ngài mới có thể sống hiện tại mà không tuyệt vọng khi mọi công việc bị cắt mất. Chính vì sống hiện tại, ngài mới có thể yêu Thánh Thể với một lòng khao khát luôn tươi mới, không đánh mất những giây phút gặp gỡ quý giá với Chúa. Chính vì Thánh Thể là trung tâm, ngài mới hiểu đời mình như của lễ và không đánh mất ý nghĩa của đau khổ. Chính vì thuộc trọn về Hội Thánh, ngài mới không sống tất cả những điều ấy như một kinh nghiệm cá nhân khép kín, nhưng như món quà để trao cho Dân Chúa. Nói cách khác, đây không phải bốn nhân đức rời rạc. Đây là một đời sống đã đạt tới độ thống nhất nội tâm rất cao.
Và có lẽ, đây là điều làm linh đạo của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận hấp dẫn đến thế. Nó không phải là một hệ thống phức tạp chỉ dành cho những người có nhiều thời gian nghiên cứu. Nó vừa rất sâu vừa rất sáng. Một người bình dân có thể bước vào đó bằng lời cầu nguyện đơn sơ. Một linh mục có thể bước vào đó bằng việc xét lại tương quan giữa mình với Chúa và với tác vụ. Một người đau khổ có thể bước vào đó bằng cách học sống hôm nay. Một người mệt mỏi có thể bước vào đó bằng việc trở về với Thánh Thể. Một người đang thất vọng với Hội Thánh có thể bước vào đó bằng cách học yêu Hội Thánh sâu hơn thay vì đứng ngoài cay đắng. Chính vì thế, linh đạo của ngài có sức phổ quát. Nó không đòi người ta phải đi vào những kỹ thuật thiêng liêng hiếm lạ. Nó chỉ đòi một điều: hãy để Chúa thật sự là Chúa.
Nhưng cũng chính vì đơn sơ mà linh đạo ấy rất khó. Khó vì nó không cho người ta núp sau những hình thức đẹp. Một người có thể hoạt động rất nhiều trong Hội Thánh mà vẫn chưa chọn Chúa hơn công việc của Chúa. Một người có thể cầu nguyện nhiều giờ mà vẫn chưa biết sống trọn hiện tại. Một người có thể yêu phụng vụ mà vẫn chưa để Thánh Thể biến mình thành của lễ. Một người có thể nói mình yêu Hội Thánh mà thật ra chỉ yêu Hội Thánh khi Hội Thánh đáp ứng mong đợi của mình. Linh đạo của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận nhẹ nhàng nhưng mạnh mẽ vạch ra những ảo tưởng ấy. Nó mời gọi trở về trung tâm. Và một khi đã trở về trung tâm, người ta sẽ thấy nhiều điều mình từng bám quá chặt thực ra chỉ là phụ.
Thật ra, linh đạo của ngài còn có một vẻ đẹp rất Việt Nam mà cũng rất Công giáo phổ quát. Rất Việt Nam ở chỗ nó có chất bền bỉ, chịu đựng, âm thầm, ít lời mà sâu. Có nét của những người sống đức tin qua kinh nguyện, qua Đức Mẹ, qua thập giá, qua lòng trung thành nhỏ bé mỗi ngày. Nhưng cũng rất phổ quát vì chạm đến lõi của mọi đời Kitô hữu: tương quan với Chúa Giêsu, với Thánh Thể, với hiện tại, với Hội Thánh, với đau khổ, với tình yêu, với tha thứ. Bởi thế, người ta gặp nơi ngài không chỉ một khuôn mặt Việt Nam đáng kính, mà còn một chứng nhân của Tin Mừng có thể nói với cả thế giới.
Nếu phải diễn tả linh đạo ấy bằng một câu thật gọn, có lẽ có thể nói thế này: đó là linh đạo của một người để cho Chúa tước đi mọi điều phụ, để rồi chỉ còn lại điều chính yếu. Và khi điều chính yếu còn lại, đời người ấy bừng sáng. Không sáng vì thành công. Không sáng vì được bảo vệ khỏi đau khổ. Không sáng vì được hiểu ngay. Mà sáng vì không đánh mất trung tâm. Trung tâm ấy là Chúa. Là Thánh Thể. Là hiện tại. Là Hội Thánh. Là tình yêu. Là sự thuộc về.
Có lẽ đó là lý do vì sao, càng đọc Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, người ta càng thấy mình không chỉ đang đứng trước một vị hồng y, một người tù vì đức tin, một tác giả thiêng liêng nổi tiếng. Người ta đang đứng trước một con đường. Một con đường rất sáng mà cũng rất hẹp. Một con đường không cho phép ta sống hời hợt. Một con đường buộc ta hỏi: nếu hôm nay Chúa lấy đi nhiều điều tôi đang bám, tôi còn giữ được Ngài không? Nếu hôm nay tương lai bị mờ đi, tôi còn sống trọn hiện tại không? Nếu hôm nay tôi không còn làm được nhiều, tôi còn biết yêu Thánh Thể và dâng cái ít ỏi của mình không? Nếu hôm nay Hội Thánh làm tôi đau ở một vài điểm, tôi còn đủ thuộc về để cầu nguyện, để xây, để yêu không?
Và chính nhờ đặt ra những câu hỏi đó mà linh đạo của ngài không chỉ đáng đọc. Nó đáng sống. Đáng để mỗi người, trong bậc sống của mình, bước vào. Bởi vì một khi đã bước vào, người ta sẽ thấy đời mình được sắp xếp lại. Từ chỗ bận nhiều chuyện phụ, người ta bắt đầu nhớ chuyện chính. Từ chỗ phân tán trong vô số việc, người ta bắt đầu trở về trung tâm. Từ chỗ bị kéo bởi quá khứ và tương lai, người ta bắt đầu sống hôm nay với Chúa. Từ chỗ coi Thánh Thể như bổn phận, người ta bắt đầu thấy đó là sự sống. Từ chỗ yêu Hội Thánh bằng cảm xúc, người ta bắt đầu thuộc về Hội Thánh bằng trái tim trưởng thành.
Và đó, có lẽ, là món quà lớn nhất mà linh đạo của Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận trao cho chúng ta: không phải một con đường để trốn đau khổ, nhưng một con đường để đi qua đau khổ mà không đánh mất Chúa; không phải một công thức để thành công trong đời sống đạo, nhưng một lối sống để điều chính yếu luôn còn lại; không phải một lý thuyết cao xa, nhưng một lửa âm thầm có thể cháy trong mọi hoàn cảnh, nếu người ta thật sự dám chọn Chúa, sống hiện tại, yêu Thánh Thể và thuộc trọn về Hội Thánh.
PHẦN X: ĐỨC HỒNG Y NGUYỄN VĂN THUẬN TẠI RÔMA, SỨ VỤ HOÀN VŨ VÀ CÁCH THIÊN CHÚA BIẾN MỘT NGƯỜI TÙ THÀNH CHỨNG NHÂN HY VỌNG CHO CẢ THẾ GIỚI
Có những cuộc đời tưởng như bị bẻ gãy giữa đường, nhưng trong chương trình nhiệm mầu của Thiên Chúa, chính chỗ gãy ấy lại trở thành nơi ánh sáng đi qua mạnh nhất. Có những con người bị tước mất cánh đồng quen thuộc của mình, bị buộc rời khỏi nơi mình từng yêu và từng muốn hiến dâng trọn đời, nhưng rồi chính trong sự mất mát ấy, Thiên Chúa lại mở cho họ một chân trời rộng hơn, không phải để bù đắp theo kiểu trần gian, mà để làm cho chứng từ của họ không còn thuộc riêng một giáo phận, một dân tộc, một bối cảnh, nhưng trở thành của cả Hội Thánh. Đời Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận tại Rôma phải được đọc trong ánh sáng ấy. Đây không chỉ là giai đoạn sau cùng của một tiểu sử đẹp. Đây là một mặc khải rất sâu về cách Thiên Chúa hành động: Ngài có thể biến một người tù thành tiếng nói của hy vọng cho toàn thế giới.
Sau khi được trả tự do ngày 21 tháng 11 năm 1988, Đức cha Nguyễn Văn Thuận vẫn bị giới hạn nghiêm ngặt, rồi được phép sang Rôma năm 1991 nhưng không được trở về Việt Nam. Từ đó, một giai đoạn mới bắt đầu. Ngày 24 tháng 11 năm 1994, ngài được bổ nhiệm làm Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hòa bình, và từ ngày 24 tháng 6 năm 1998, ngài trở thành Chủ tịch cơ quan này. Năm 2001, Thánh Gioan Phaolô II tấn phong ngài Hồng y; ngài qua đời tại Rôma ngày 16 tháng 9 năm 2002. Những mốc ấy nhìn bên ngoài có vẻ như một hành trình đi từ nhà tù đến trung tâm Hội Thánh hoàn vũ. Nhưng nếu chỉ đọc như thế thì vẫn chưa đủ. Điều sâu hơn là: Thiên Chúa không đưa ngài tới Rôma như một phần thưởng sau đau khổ, nhưng như một sứ vụ mới, nơi chính đau khổ đã được biến thành thẩm quyền thiêng liêng.
Phải dừng lại thật lâu ở điểm này. Có những người được trao trách nhiệm lớn nhờ học vị, tài tổ chức, kinh nghiệm điều hành, hay sức ảnh hưởng tự nhiên. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận cũng có trí tuệ, có tầm nhìn, có kinh nghiệm mục vụ và có chiều sâu suy tư. Nhưng điều làm cho tiếng nói của ngài tại Rôma mang sức nặng đặc biệt không nằm trước hết ở những phẩm chất ấy. Điều làm cho ngài có sức đánh động Hội Thánh hoàn vũ là vì ngài đã đi qua thập giá. Ngài không nói về công lý từ một văn phòng yên tĩnh. Ngài không nói về hy vọng như một khái niệm đẹp. Ngài không nói về phẩm giá con người từ bên ngoài những chỗ bị chà đạp. Ngài nói như người đã biết thế nào là bị cắt khỏi tự do, thế nào là bị đưa vào bóng tối, thế nào là phải chiến đấu để không đánh mất Chúa. Chính vì vậy, khi ngài hiện diện ở Rôma, Hội Thánh không chỉ đón nhận một vị giám chức có năng lực. Hội Thánh đón nhận một chứng nhân.
Ở Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hòa bình, ngài đi vào một lãnh vực có vẻ rất rộng lớn và phức tạp: các vấn đề xã hội, phẩm giá con người, công bằng giữa các dân tộc, nợ của các nước nghèo, hòa bình, phát triển, lương tâm luân lý trong các cấu trúc kinh tế và chính trị. Nhưng một lần nữa, nếu chỉ nhìn ở tầng chức năng, người ta sẽ bỏ lỡ vẻ đẹp nơi ngài. Điều đẹp là: một người từng bị giam cầm nay được đặt vào nơi Hội Thánh suy tư và lên tiếng về công lý cho thế giới. Một người từng nếm sự bất lực nay được trao nhiệm vụ phục vụ một tầm nhìn nhân bản và Kitô giáo cho toàn cầu. Một người từng bị làm cho im tiếng nay lại có tiếng nói đạo đức vang đến nhiều dân tộc. Đây không phải là nghịch lý ngẫu nhiên. Đây là cách Thiên Chúa viết lịch sử cứu độ: Ngài cho chính vết thương đã được thánh hóa trở thành nơi phát ra ánh sáng.
Tuy nhiên, điều sâu nhất nơi ngài tại Rôma không phải là việc ngài nắm giữ một chức vụ quan trọng, mà là việc ngài mang vào trung tâm Hội Thánh một linh đạo đã được thử trong lửa. Ở đó, ngài không đánh mất giọng điệu của mình. Ngài không trở thành một nhà chức trách chỉ biết ngôn ngữ cơ chế. Ngài vẫn là người của hy vọng, của Thánh Thể, của hiện tại, của tha thứ, của một trái tim mục tử đã đi qua nhà tù. Cũng chính vì thế mà ngài có thể nói với thế giới bằng một giọng rất khác: không cay đắng, không cực đoan, không ngây thơ, nhưng đầy ánh sáng. Thế giới thường quen với những tiếng nói mạnh vì giận dữ hoặc mạnh vì quyền lực. Ngài lại mạnh theo cách khác: mạnh vì đã chịu đau mà không ghét, đã mất nhiều mà không khép lòng, đã bị bẻ ra mà vẫn còn có thể nuôi người khác.
Một cột mốc đặc biệt làm cho giai đoạn Rôma của ngài bừng sáng hơn nữa là Năm Thánh 2000. Chính Thánh Gioan Phaolô II đã mời Đức Tổng Giám mục Nguyễn Văn Thuận giảng tĩnh tâm Mùa Chay cho Giáo triều Rôma trong dịp này, và các bài giảng ấy sau đó được xuất bản thành Testimony of Hope. Các nguồn về sách này đều nhấn mạnh rằng đây là bản văn các bài linh thao ngài giảng cho Đức Giáo hoàng và Giáo triều. (cardinalvanthuan.org) Việc một vị mục tử Việt Nam, từng trải qua 13 năm tù đày, được mời giảng tĩnh tâm cho trung tâm điều hành của Hội Thánh hoàn vũ, tự nó đã là một dấu chỉ rất mạnh. Không phải Hội Thánh muốn nghe một câu chuyện lạ. Hội Thánh muốn nghe một chứng từ đã được tinh luyện. Không phải vì ngài là nạn nhân, nhưng vì ngài là chứng nhân.
Hãy thử dừng lại ở hình ảnh ấy. Một người từng ngồi trong phòng giam chật hẹp, từng phải chiến đấu từng ngày để không đánh mất Thiên Chúa, giờ đây đứng trước Đức Giáo hoàng và Giáo triều Rôma để nói về hy vọng. Có lẽ không có cách nào đẹp hơn để thấy bàn tay Thiên Chúa. Người đời thường nghĩ quyền lực và thẩm quyền đến từ ảnh hưởng, từ địa vị, từ chiến thắng hữu hình. Nhưng trong Hội Thánh, thẩm quyền thiêng liêng sâu nhất nhiều khi đến từ thập giá đã được sống với Chúa. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận không lên tiếng tại Rôma như một chuyên gia đứng ngoài mầu nhiệm mình nói. Ngài nói như người đã ở trong đêm và biết ánh sáng là thật. Chính vì vậy, Testimony of Hope không chỉ là một cuốn sách. Nó là khoảnh khắc mà Hội Thánh hoàn vũ lắng nghe một người con của Việt Nam kể lại bằng ngôn ngữ thiêng liêng điều mà ân sủng có thể làm nơi một con người trong tận cùng thử thách.
Từ đây, ta hiểu rõ hơn cách Thiên Chúa biến một người tù thành chứng nhân hy vọng cho cả thế giới. Không phải bằng cách xóa ký ức nhà tù. Không phải bằng cách làm cho quá khứ đau thương trở nên không còn quan trọng. Nhưng bằng cách làm cho chính quá khứ ấy trở thành chất liệu của Tin Mừng. Nhà tù không còn là nơi chỉ nói về mất mát. Nó trở thành nơi khai sinh một ngôn ngữ mới cho Hội Thánh hôm nay: ngôn ngữ của hy vọng không dựa trên hoàn cảnh thuận lợi, ngôn ngữ của tự do nội tâm, ngôn ngữ của hiện tại, ngôn ngữ của Thánh Thể giữa thiếu thốn, ngôn ngữ của tha thứ và hòa giải. Đây là điều Vatican và truyền thông Hội Thánh tiếp tục nhấn mạnh khi nói về ngài như “chứng nhân hy vọng”.
Năm 2001, ngài được thụ phong Hồng y trong công nghị ngày 21 tháng 2 do Thánh Gioan Phaolô II chủ sự. Mốc này không chỉ là một vinh dự cá nhân. Nó là một dấu chỉ Hội Thánh nhìn nhận giá trị của chứng từ ấy ở cấp độ hoàn vũ. Người ta có thể nói đây là lúc Hội Thánh đặt nơi ngài không chỉ một phẩm trật, nhưng còn một sự xác nhận thầm lặng: kinh nghiệm mà ngài mang không thuộc riêng cho dân tộc mình nữa; nó là gia sản cho toàn thể Dân Chúa. Và thật đẹp khi nghĩ rằng một người từng bị coi như phải bị làm câm lại trở thành Hồng y của Hội Thánh Rôma. Cũng thật đẹp khi nhớ rằng điều làm nên vẻ lớn lao của ngài ở đây không phải màu đỏ của phẩm phục, nhưng là màu đỏ âm thầm của cuộc tử đạo kéo dài trong những năm tù.
Ở Rôma, ngài cũng tiếp tục hiện diện như một người của đối thoại, của hiền hòa, của chiều sâu nhân bản và thiêng liêng. Tiểu sử chính thức về ngài nhấn mạnh đời sống “thanh thản, khiêm tốn, mở ra đối thoại với các nền văn hóa và tôn giáo khác.” Điều này rất quan trọng. Vì sau đau khổ, một con người có thể trở nên rất sắc, rất cứng, rất khép kín. Còn nơi ngài, chính đau khổ lại làm trái tim rộng hơn. Chính nhà tù lại làm cho sự hiện diện của ngài nơi Hội Thánh hoàn vũ trở thành nhịp cầu hơn là chiến hào. Đây là dấu chỉ rất tinh của ân sủng: thử thách không làm ngài hẹp lại, mà làm ngài phổ quát hơn.
Khi ngài qua đời tại Rôma ngày 16 tháng 9 năm 2002, Hội Thánh không chỉ tiễn đưa một vị Hồng y đang phục vụ Giáo triều. Hội Thánh tiễn đưa một trong những chứng nhân đặc biệt nhất của niềm hy vọng thời hiện đại. Điều này càng được thấy rõ hơn khi về sau, Đức Giáo hoàng Phanxicô chuẩn nhận các nhân đức anh hùng của ngài và tuyên ngài là Đấng Đáng Kính năm 2017. Việc ấy cho thấy Hội Thánh không xem ngài chỉ như một nhân vật đáng nhớ của lịch sử gần đây, nhưng như một mẫu gương sống đức tin có ý nghĩa thiêng liêng bền vững cho toàn Dân Chúa.
Nhìn lại toàn bộ giai đoạn Rôma, ta thấy một điều rất cảm động: Thiên Chúa không trả lại cho ngài điều cũ theo cách cũ. Ngài không được trở về tiếp tục đời sống mục tử như trước ở quê hương mình. Nhưng Chúa lại mở ra một sứ vụ lớn hơn theo cách khác. Điều này dạy ta rất nhiều. Nhiều khi ta nghĩ trung tín với Chúa rồi thì Ngài sẽ trả lại cho ta những gì đã mất. Nhưng nhiều lần, Ngài không trả lại nguyên trạng. Ngài làm điều khác. Điều sâu hơn. Điều rộng hơn. Điều ta không thể nghĩ ra. Nơi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, Chúa không “hoàn tác” lịch sử. Chúa “cứu chuộc” lịch sử. Và cứu chuộc theo cách làm cho đau khổ đã qua trở thành khả năng phục vụ mới cho cả thế giới.
Vì thế, Rôma không phải là đoạn kết đẹp để an ủi một số phận đau thương. Rôma là nơi chứng từ của ngài nở ra hết tầm mức hoàn vũ của nó. Ở đó, thế giới thấy rằng một con người có thể bị bẻ ra mà không bị hủy, có thể bị nhốt mà vẫn tự do, có thể bị làm cho im tiếng mà cuối cùng lại nói với nhiều người hơn, có thể mất cánh đồng quen thuộc mà lại trở thành hạt giống cho nhiều cánh đồng khác. Và ở đó, Hội Thánh hiểu rằng hy vọng không phải là thứ chỉ dành cho những ai đang ở thời thuận lợi. Hy vọng thật được xác minh nơi những người đã đi qua đêm tối mà vẫn còn có thể hát về Chúa.
Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận tại Rôma, vì thế, là hình ảnh rất đẹp của một mầu nhiệm vượt qua đã thành hình trọn vẹn. Từ ngục tù tới Giáo triều, từ cô độc tới sứ vụ hoàn vũ, từ thập giá tới chứng từ cho toàn thế giới, từ một người bị cắt khỏi dân mình tới một người trở thành quà tặng cho muôn dân, tất cả không phải là con đường vinh quang theo kiểu trần gian. Đó là con đường của hạt lúa mì đã mục nát đủ để sinh nhiều bông hạt. Và cũng vì thế, ngài không chỉ thuộc về lịch sử Việt Nam. Ngài thuộc về lịch sử hy vọng của Hội Thánh.
PHẦN XI: NHÂN ĐỨC CỦA ĐỨC HỒNG Y NGUYỄN VĂN THUẬN – HIỀN LÀNH, KHIÊM NHƯỜNG, CAN ĐẢM, THANH THOÁT VÀ TINH THẦN TỰ DO NỘI TÂM
Có những con người khiến người ta khâm phục vì những gì họ đã làm. Có những con người khiến người ta xúc động vì những gì họ đã chịu. Nhưng cũng có những con người, càng ở gần trong chiêm ngắm, người ta càng nhận ra điều đẹp nhất nơi họ không chỉ nằm ở công việc, cũng không chỉ nằm ở thử thách, mà nằm ở chính cách họ đã là người. Tức là ở nhân đức. Ở chiều sâu của tâm hồn. Ở cung giọng nội tâm. Ở cách họ phản ứng trước đau khổ, trước thành công, trước bất công, trước tha nhân, trước quyền lực, trước cô độc, trước chính bản thân mình. Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận là một con người như thế. Nếu ta chỉ nhìn cuộc đời ngài như một chuỗi biến cố lớn, ta sẽ thấy một vị giám mục, một người tù, một vị hồng y, một chứng nhân hy vọng. Nhưng nếu nhìn kỹ hơn, đi sâu hơn, lắng hơn, ta sẽ thấy phía dưới mọi biến cố ấy là một cấu trúc thiêng liêng rất đẹp, rất trong, rất bền: hiền lành, khiêm nhường, can đảm, thanh thoát và tự do nội tâm.
Những nhân đức ấy không phải là những mảnh rời. Chúng liên kết với nhau. Hiền lành nơi ngài không phải là yếu đuối, nhưng được nâng bởi can đảm. Khiêm nhường nơi ngài không phải là tự ti, nhưng được nâng bởi một căn tính rất rõ trong Chúa. Thanh thoát nơi ngài không phải là hờ hững, nhưng phát sinh từ tình yêu sâu hơn đối với điều chính yếu. Tự do nội tâm nơi ngài không phải là độc lập lạnh lùng, nhưng là hoa trái của một linh hồn đã thuộc về Thiên Chúa đủ sâu để không còn bị ngoại cảnh nắm quyền tuyệt đối. Chính vì thế, khi nói đến nhân đức của ngài, ta không nói về vài phẩm tính đẹp được cộng thêm vào một cuộc đời vốn đã đặc biệt. Ta nói về chính điều đã làm cho cuộc đời ấy trở nên có khả năng chịu được lửa mà không gãy, đi qua đêm mà không mất sáng, bị bẻ ra mà vẫn còn có thể nuôi người khác.
Trước hết, phải nói đến hiền lành. Có lẽ đây là một trong những nét làm người ta cảm động nhất nơi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận. Nhưng chữ hiền lành rất dễ bị hiểu lầm. Người đời thường gán chữ hiền cho kiểu người mềm yếu, ít phản ứng, không có góc cạnh, dễ bị đời chèn ép. Hiền lành theo Tin Mừng lại khác. Hiền lành là sức mạnh đã được thuần hóa bởi tình yêu. Hiền lành là khả năng có thể đau mà không độc, có thể bị xúc phạm mà không lập tức trả lại bằng cùng thứ ngôn ngữ, có thể đứng vững mà không cần làm người khác sợ mình. Hiền lành là thứ nhân đức rất mạnh, bởi chỉ người nào không bị bản ngã cai trị mới có thể hiền thật. Một người đầy tự ái, đầy nhu cầu khẳng định mình, đầy nhu cầu phải thắng trong tương quan, rất khó hiền. Họ có thể lịch sự. Có thể mỏng. Có thể dịu trong vài hoàn cảnh. Nhưng hiền lành thật thì không.
Nơi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, hiền lành hiện ra không phải như một tính khí tự nhiên dễ chịu, nhưng như một chọn lựa nội tâm rất sâu. Chính những năm tù đày cho thấy điều đó. Một con người bị đặt vào hoàn cảnh đủ để trở nên cứng, đủ để cay, đủ để mất lòng tin vào sự tử tế của người khác, mà vẫn giữ được ánh mắt nhân hậu, vẫn đối xử với những người canh giữ mình như những con người chứ không chỉ như công cụ của đau khổ, đó là hiền lành ở mức độ rất trưởng thành. Hiền lành nơi ngài không phủ nhận sự ác. Nhưng nó không để sự ác làm hỏng trái tim mình. Chính vì thế, hiền lành của ngài không phải là màu nhạt của một tâm hồn thiếu bản lĩnh. Nó là màu sáng của một tâm hồn đã thắng được bản năng phản công của cái tôi.
Người ta có thể nhốt một người, nhưng không dễ gì khiến người ấy hiền lành. Trái lại, hoàn cảnh giam cầm rất dễ đẻ ra sự khó chịu, khép kín, đề phòng, nóng nảy, u uất. Nếu hiền lành của ngài vẫn còn đứng vững qua những năm như thế, điều đó có nghĩa là nó được cắm rễ rất sâu trong tương quan với Chúa. Bởi chỉ khi sống gần Đức Kitô hiền lành và khiêm nhường trong lòng, con người mới có thể giữ được độ mềm thánh thiện ấy. Ở đây, ta thấy một vẻ đẹp rất giống Chúa Giêsu: mạnh mà không dữ, rõ mà không sắc lạnh, đau mà không độc, bị đè ép mà không lấy cay đắng làm nơi trú ngụ. Và đó là lý do hiền lành nơi ngài không làm người ta thấy ngài nhỏ đi. Trái lại, nó làm ngài lớn lên rất nhiều trong chiều sâu.
Từ hiền lành, ta đi đến khiêm nhường. Nếu phải chọn một nhân đức rất dễ bị nói nhiều nhưng sống sai nhiều, có lẽ đó là khiêm nhường. Có người tưởng khiêm nhường là nói xấu mình. Có người tưởng khiêm nhường là làm ra vẻ nhỏ. Có người tưởng khiêm nhường là luôn lùi lại dù sự thật đòi mình phải đứng ra. Nhưng khiêm nhường Kitô giáo không phải vậy. Khiêm nhường là sống đúng sự thật về mình trước mặt Thiên Chúa. Biết mình nhận tất cả từ Chúa. Biết mình không là trung tâm. Biết mình có giới hạn. Biết mình cần ơn Chúa. Biết mình chỉ là đầy tớ vô dụng dù được dùng cho những việc lớn. Và đồng thời, cũng biết rằng mình được yêu, được gọi, được trao phó, nên không cần phải tự hạ theo kiểu giả tạo để được tiếng là đạo đức.
Nơi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, khiêm nhường bừng sáng ở nhiều tầng. Trước hết là ở cách ngài không biến cuộc đời mình thành sân khấu cho bản thân. Một con người có thể đã chịu nhiều đau khổ như thế, có thể dễ dàng làm cho mình thành trung tâm của lòng thương cảm, của sự chú ý, của ký ức Hội Thánh. Nhưng nơi ngài, người ta không cảm thấy ngài kéo ánh nhìn về phía mình. Ngài luôn dẫn về phía Chúa. Về phía hy vọng. Về phía Hội Thánh. Về phía Thánh Thể. Về phía hiện tại. Đây là dấu chỉ rất rõ của khiêm nhường thật. Người khiêm nhường không cố biến mất theo kiểu giả vờ. Nhưng họ không nặng mình trong chính cái tôi. Họ không lấy mình làm nơi mọi dòng chảy phải đổ về.
Khiêm nhường nơi ngài còn hiện rõ trong cách đón nhận con đường Chúa cho phép xảy đến với đời mình. Đây là dạng khiêm nhường rất sâu. Vì nhiều người có thể khiêm nhường khi được sống theo ơn gọi mình mong, nhưng khó khiêm nhường khi đời mình bị bẻ theo một hướng mình không chọn. Có một thứ kiêu hãnh rất kín mà nhiều người đạo đức vẫn mang: họ không nói ra, nhưng sâu trong lòng, họ nghĩ họ biết cách phục vụ Chúa tốt hơn cách Chúa đang dẫn họ. Họ sẵn sàng dâng đời mình, miễn là được dâng theo con đường họ hiểu là hợp lý. Còn khi con đường ấy bị cắt ngang, sự bất phục sâu kín bắt đầu lộ ra. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đã đi qua thử thách ấy. Và vẻ đẹp của ngài là: sau những giằng co rất người, ngài dần chấp nhận để Chúa là Chúa. Đó là khiêm nhường ở bình diện rất thẳm sâu. Không phải chỉ là nói mình nhỏ bé. Mà là chấp nhận rằng chương trình của Chúa lớn hơn dự phóng của mình, ngay cả khi điều Ngài cho phép làm mình đau.
Khiêm nhường nơi ngài còn gắn với cách ngài sống trong Hội Thánh. Một người có nhiều năng lực, nhiều kinh nghiệm, nhiều đau khổ, rất dễ trở thành người nghĩ rằng mình có quyền đứng cao hơn người khác trong phán đoán. Nhưng nơi ngài, không thấy dáng dấp ấy. Ngài không sống như người đã chịu đau nên có quyền cứng hơn. Ngài không sống như người đã trải nghiệm nhiều nên có quyền xem nhẹ những ai chưa trải. Ngài vẫn giữ được một sự dịu dàng khiêm tốn, một sự thanh thản của người biết mình chỉ là người quản lý các mầu nhiệm của Chúa chứ không phải chủ nhân của ân sủng. Chính điều đó làm cho sự lớn lao của ngài rất dễ ở gần. Người ta không cảm thấy bị đè bởi một nhân vật lớn. Người ta cảm thấy được mời bước lại gần một người cha.
Rồi đến can đảm. Đây là nhân đức mà khi nói về ngài, ai cũng dễ nhận ra, nhưng cũng dễ chỉ hiểu một phần. Can đảm không chỉ là chịu đựng nhà tù. Không chỉ là không chối đức tin. Không chỉ là đứng vững trước bách hại. Tất cả những điều đó đều đúng, nhưng vẫn chưa đủ. Can đảm sâu hơn là dám sống sự thật của Tin Mừng trong mọi hoàn cảnh, kể cả khi không có gì bảo đảm cho mình ngoài Thiên Chúa. Can đảm là không đầu hàng nỗi sợ khi nỗi sợ có đủ lý do để nói. Can đảm là không để tuyệt vọng thành lối suy nghĩ thường trực. Can đảm là tiếp tục yêu khi tình yêu làm mình dễ bị tổn thương hơn. Can đảm là tha thứ khi mình có quyền hận. Can đảm là cầu nguyện khi cầu nguyện không còn ngọt. Can đảm là sống hiện tại khi tương lai mịt mù. Can đảm là chọn không đóng lòng, dù đóng lòng sẽ làm mình đỡ đau hơn theo kiểu bản năng.
Can đảm nơi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận vì thế không mang vẻ anh hùng ồn ào. Nó không phải là sự hùng hồn của một người đối đầu công khai trong một khoảnh khắc. Nó là thứ can đảm kéo dài. Âm thầm. Bền bỉ. Ít được nhìn thấy hơn. Nhưng có khi còn khó hơn nhiều. Người ta có thể bùng lên trong một phút anh hùng. Nhưng sống từng ngày, từng ngày, từng ngày, trong đêm tối mà không gãy, đó là một thứ can đảm được trả bằng cả thân xác lẫn linh hồn. Can đảm kiểu ấy không dựa trên khí chất. Nó dựa trên ân sủng và sự cộng tác trung thành với ân sủng.
Và ở đây, can đảm nơi ngài không bao giờ đi một mình. Nó luôn đi cùng hiền lành. Đây là điều rất đẹp. Vì có những người can đảm nhưng cứng. Càng mạnh càng dễ làm đau. Càng bản lĩnh càng dễ sắc lạnh. Còn nơi ngài, can đảm không giết chết hiền lành. Ngài có thể đứng vững mà không trở nên thô. Có thể kiên định mà không cần độc. Có thể không gãy mà vẫn còn mềm trước Chúa và trước con người. Đó là can đảm đã được thấm nhuần bởi bác ái. Và chính vì thế nó mang hương vị Tin Mừng. Không phải chỉ là sức mạnh con người. Mà là sức mạnh của một tâm hồn đã để Chúa luyện.
Sau hiền lành, khiêm nhường và can đảm, một nét rất riêng nơi ngài là thanh thoát. Đây là nhân đức rất khó định nghĩa nhưng lại rất dễ cảm nhận khi gặp một con người thật sự có nó. Thanh thoát không phải là thờ ơ. Không phải là không biết đau. Không phải là sống nhẹ đến mức hời hợt. Thanh thoát là không để những điều phụ cột chặt tâm hồn mình. Là biết buông điều phải buông để giữ điều phải giữ. Là không ôm quá chặt chính mình, vai trò của mình, thành công của mình, kế hoạch của mình, sự đúng của mình. Là sống giữa trần gian mà không để lòng mình bị đóng đinh hoàn toàn vào những gì chóng qua. Nơi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, thanh thoát là một ánh sáng rất rõ. Chính vì thanh thoát mà khi bị lấy mất nhiều thứ, ngài đau nhưng không đổ vỡ hoàn toàn. Chính vì thanh thoát mà ngài không sống bằng tâm lý sở hữu đối với sứ vụ. Chính vì thanh thoát mà ngài có thể để đời mình đi theo hướng Chúa cho phép mà không biến phần còn lại thành một tiếng than trách triền miên.
Thanh thoát nơi ngài càng hiện ra khi ta nhìn cách ngài cầm giữ và buông bỏ. Ngài yêu Hội Thánh thật, nhưng không sở hữu Hội Thánh. Ngài yêu sứ vụ thật, nhưng không thần tượng hóa sứ vụ. Ngài quý tự do thật, nhưng không để tự do bên ngoài quyết định toàn bộ sự sống nội tâm. Ngài quý công lý thật, nhưng không biến việc bị bất công thành căn tính chính của mình. Ngài nhớ quê hương thật, nhưng không để nỗi nhớ ấy biến thành một nỗi cay đắng cắt đứt mình khỏi hiện tại. Chính những điều ấy làm nên một sự thanh thoát rất khó. Và sự thanh thoát ấy không hề làm tình yêu nơi ngài giảm đi. Trái lại, nó làm tình yêu tinh hơn. Vì chỉ khi không bám kiểu sở hữu, người ta mới thật sự yêu trong tự do.
Có một thứ thanh thoát nữa nơi ngài rất đáng học: thanh thoát với chính hình ảnh của mình. Nhiều người làm việc tốt, sống đời tận hiến, chịu đau khổ, nhưng sâu trong lòng vẫn rất nặng về cách người khác nhìn mình. Họ muốn được hiểu đúng, được công nhận đúng, được ghi nhớ đúng. Điều đó rất người. Nhưng nếu bám quá chặt, nó sẽ thành dây trói. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận cho thấy một con đường khác. Không phải ngài không cảm thấy đau khi bị hiểu sai. Nhưng ngài không để nhu cầu phải minh oan tức khắc làm chủ nội tâm mình. Ngài chấp nhận để đời mình đi qua những vùng không được giải thích ngay. Đó là một thanh thoát rất lớn. Bởi vì người ta chỉ có thể sống như thế khi đã để cho Thiên Chúa đủ lớn trong đời mình.
Và từ tất cả những nhân đức ấy, ta đi tới điều như chiếc vòm phủ lên toàn bộ: tinh thần tự do nội tâm. Có thể nói đây là một trong những nét chói sáng nhất nơi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận. Bởi nếu hiền lành là vẻ dịu của trái tim, khiêm nhường là sự thật của linh hồn, can đảm là xương sống của lòng trung tín, thanh thoát là khả năng buông để giữ điều chính yếu, thì tự do nội tâm là không gian bên trong nơi tất cả những điều ấy có thể thở. Một con người không có tự do nội tâm sẽ luôn bị kéo bởi ngoại cảnh, bởi người khác, bởi ký ức, bởi sợ hãi, bởi tự ái, bởi nhu cầu được kiểm soát, bởi nỗi đau chưa được chữa. Còn người có tự do nội tâm thì khác. Họ không thoát khỏi đau, nhưng không bị đau làm chủ. Họ không thoát khỏi hoàn cảnh, nhưng không để hoàn cảnh quyết định căn tính sâu nhất. Họ không thoát khỏi cám dỗ, nhưng có một nơi bên trong mà cám dỗ không thể dễ dàng xâm chiếm.
Ở điểm này, Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận là một mẫu gương hiếm có. Nhà tù lấy tự do bên ngoài của ngài, nhưng không lấy được tự do bên trong. Đây là điều phải chiêm ngắm rất lâu mới thấy hết vẻ đẹp. Vì thường thì con người rất dễ để hai thứ nhập vào nhau. Mất tự do bên ngoài, ta tưởng như mất hết. Bị giới hạn hoàn cảnh, ta tưởng mình bị định nghĩa hoàn toàn bởi hoàn cảnh. Nhưng nơi ngài, có một không gian nội tâm vẫn thuộc về Chúa, vẫn mở ra, vẫn sống, vẫn yêu, vẫn cầu nguyện, vẫn dâng, vẫn tha thứ. Chính điều ấy là tự do nội tâm. Và thật ra, đó là tự do lớn nhất. Bởi một người có thể đi lại bên ngoài mà lòng bị giam trong sợ hãi, ganh ghét, tham vọng, cay đắng. Còn một người khác bị nhốt thân xác mà tâm hồn vẫn ở trong Chúa. Giữa hai người ấy, ai tự do hơn? Cuộc đời ngài trả lời rất mạnh mẽ.
Tự do nội tâm nơi ngài còn hiện rõ trong cách ngài không để một định nghĩa nào của thế gian đóng khung mình. Ngài không sống như “người bị hại” dù ngài thật sự bị hại. Ngài không sống như “người hùng” dù nhiều người nhìn ngài như thế. Ngài không sống như “biểu tượng” dù ngài có thể trở thành biểu tượng. Ngài sống như người của Chúa. Đây là tự do rất lớn. Vì một khi người ta đồng hóa mình quá chặt với một vai nào đó, dù là vai đau thương hay cao đẹp, họ cũng mất bớt tự do. Còn ngài, bằng ân sủng và bằng sự đơn sơ nội tâm, dường như luôn giữ được khoảng cách cần thiết để không bị bất kỳ nhãn gọi nào chiếm lấy con người sâu nhất của mình.
Cũng phải nói rằng tự do nội tâm nơi ngài không phải là thành quả của việc rèn mình theo kiểu khổ luyện thuần túy. Nguồn sâu nhất của nó là Chúa. Chính vì ngài thuộc về Chúa nên mới tự do. Chính vì trung tâm đời ngài không nằm ở thành công, công việc, vị trí, hình ảnh, nên khi những điều ấy bị lay chuyển, phần sâu nhất vẫn đứng. Đây là điều rất quan trọng cho đời sống thiêng liêng. Nhiều người nghĩ tự do là mình kiểm soát được hết. Nhưng trong Tin Mừng, tự do thật không nằm ở kiểm soát, mà ở thuộc về đúng Đấng. Ai thuộc về Chúa thật, người ấy dần dần được giải thoát khỏi những ông chủ giả trong lòng mình: tham vọng, sợ hãi, tự ái, nhu cầu hơn thua, nhu cầu phải được công nhận, nhu cầu phải luôn nắm phần chủ động. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận là chứng từ rất đẹp cho thứ tự do ấy.
Nếu nhìn toàn bộ các nhân đức này chung lại, ta sẽ thấy một điều rất đáng kính: ngài không chỉ có những lúc sáng. Ngài có một cấu trúc ánh sáng. Nghĩa là ánh sáng ấy không phải vài khoảnh khắc bùng lên giữa bóng tối, mà là cả một con người đã được ân sủng định hình. Chính vì thế, khi gặp thử thách lớn, những nhân đức ấy không tự nhiên mọc ra từ hư không. Chúng bật lên từ một đời đã được chuẩn bị, đã được luyện, đã được giữ trong trung tín nhỏ mỗi ngày. Đây là điều làm cho chứng từ của ngài rất đáng tin. Người ta không thấy một sự phi thường đột ngột kiểu huyền thoại. Người ta thấy một cuộc đời được ân sủng đi qua rất sâu, rất lâu, rất bền.
Và đó cũng là lý do những nhân đức của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận có sức giáo dục lớn cho chúng ta hôm nay. Chúng dạy rằng hiền lành không hề đối nghịch với mạnh mẽ. Khiêm nhường không hề đối nghịch với tầm vóc. Can đảm không hề cần đến sự cứng cỏi. Thanh thoát không hề làm tình yêu nhạt đi. Tự do nội tâm không hề là thứ xa vời dành cho vài linh hồn huyền nhiệm, nhưng là ơn gọi của mọi người môn đệ. Dĩ nhiên, nơi ngài, những nhân đức ấy đạt tới một vẻ đẹp đặc biệt. Nhưng chính vì thế mà ngài trở thành quà tặng. Không phải để ta chỉ đứng nhìn rồi thở dài rằng mình không thể như thế. Mà để ta học rằng Tin Mừng thật sự có thể làm được điều ấy nơi con người, nếu con người để cho Chúa làm việc đủ sâu.
Có lẽ khi khép lại phần này, điều đọng lại mạnh nhất là: Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận không chỉ là người đã sống sót qua thử thách. Ngài là người đã đi qua thử thách mà những nhân đức đẹp nhất của một tâm hồn Kitô hữu không bị thiêu rụi, trái lại còn tinh hơn. Hiền lành hơn vì đã đau. Khiêm nhường hơn vì đã bị bóc đi nhiều điều phụ. Can đảm hơn vì đã đi qua đêm tối. Thanh thoát hơn vì đã học buông những gì không phải là chính yếu. Tự do nội tâm hơn vì đã thuộc về Chúa hơn bao giờ hết.
Và chính đó là vẻ đẹp làm ngài không chỉ đáng khâm phục, mà còn đáng noi theo. Không phải vì ai cũng sẽ đi qua cùng những thử thách như ngài. Nhưng vì ai cũng có thể bắt đầu từ đây: xin cho trái tim mình hiền hơn, linh hồn mình thật hơn, ý chí mình vững hơn, đôi tay mình buông được hơn, và phần sâu nhất của con người mình tự do hơn trong Thiên Chúa.
PHẦN XII: ĐỨC HỒNG Y NGUYỄN VĂN THUẬN NHƯ MỘT QUÀ TẶNG THIÊN CHÚA BAN CHO GIÁO HỘI VIỆT NAM VÀ BÀI HỌC CHO GIÁO HỘI HÔM NAY
Có những con người mà khi còn sống, người ta kính trọng vì nhân cách, cảm phục vì chứng từ, yêu mến vì sự gần gũi và chiều sâu thiêng liêng. Nhưng chỉ sau khi nhìn lại cả cuộc đời họ, đặt toàn bộ hành trình của họ trong ánh sáng của Chúa, người ta mới bắt đầu hiểu rằng họ không chỉ là một người nổi bật giữa nhiều người khác. Họ là một quà tặng. Một quà tặng không do công lao của con người làm ra, nhưng do Thiên Chúa ban xuống cho Hội Thánh trong một thời điểm nhất định, để nhắc Hội Thánh nhớ lại điều cốt lõi, để sửa lại hướng đi khi nhiều thứ dễ trở nên lệch, để thắp lên một thứ ánh sáng mà nếu không có nó, người ta có thể vẫn còn hoạt động, vẫn còn sinh hoạt, vẫn còn tổ chức, nhưng đã bắt đầu mất dần linh hồn. Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận là một quà tặng như thế đối với Giáo hội Việt Nam. Và không chỉ đối với Giáo hội Việt Nam, nhưng trước hết, rất thân thương, rất gần gũi, rất cụ thể, ngài là một món quà Chúa gửi cho Hội Thánh trên quê hương này, như một lời nhắc hiền từ mà mạnh mẽ rằng: giữa bao hận thù vẫn phải sống mến yêu, giữa bao thử thách vẫn phải giữ hy vọng, giữa bao việc của Chúa vẫn phải chọn chính Chúa, giữa bao bận rộn vẫn phải giữ Thánh Thể làm trung tâm, giữa bao biến động vẫn phải thuộc trọn về Hội Thánh.
Nói ngài là quà tặng của Thiên Chúa, không có nghĩa là cuộc đời ngài chỉ toàn những điều đẹp theo mắt người đời. Thường thì quà tặng của Thiên Chúa không đến trong giấy gói dễ chịu. Nhiều khi nó đến trong hình hài của một cuộc đời bị bẻ ra. Một cuộc đời có thập giá. Một cuộc đời phải đi qua những khúc quanh không ai muốn. Bởi vì Thiên Chúa không chỉ ban quà bằng sự thành công. Ngài còn ban quà bằng chứng từ. Và chứng từ mạnh nhất thường không sinh ra từ những gì rực rỡ bên ngoài, nhưng từ những gì được trung thành sống trong đêm tối. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận là quà tặng cho Giáo hội Việt Nam không phải vì ngài giúp người ta tự hào kiểu trần gian rằng chúng ta có một nhân vật lớn. Ngài là quà tặng vì qua ngài, Giáo hội Việt Nam được nhắc nhớ lại khuôn mặt thật của người môn đệ Đức Kitô: yêu Chúa đến cùng, yêu Hội Thánh đến cùng, yêu con người đến cùng, và không để đau khổ, bất công, tù đày hay hận thù cướp mất tình yêu ấy.
Giáo hội Việt Nam là một Giáo hội có lịch sử dài của tử đạo, của nước mắt, của trung thành, của những cộng đoàn nhỏ bé mà bền bỉ, của những người giữ đạo qua bao thời khó khăn. Nhưng cũng như mọi Giáo hội khác, Giáo hội Việt Nam hôm nay vẫn có thể đối diện với những cám dỗ rất thực. Cám dỗ sống đạo theo hình thức mà thiếu chiều sâu. Cám dỗ hoạt động nhiều mà cầu nguyện ít. Cám dỗ xây dựng nhiều cái bên ngoài mà quên phần linh hồn. Cám dỗ tự hào về truyền thống nhưng lại không sống được tinh thần của truyền thống ấy. Cám dỗ để cho tổn thương lịch sử biến thành một loại cay đắng tập thể âm thầm. Cám dỗ nói nhiều về Chúa nhưng ít ở lại với Chúa. Cám dỗ làm việc cho Hội Thánh mà quên rằng Hội Thánh chỉ thật sự sống khi ở trong Đức Kitô. Chính trong bối cảnh ấy, Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận hiện lên như một lời sửa dạy rất quý. Không gay gắt. Không lên án. Nhưng rất sâu. Rất thấm. Rất khó quên.
Ngài dạy Giáo hội Việt Nam trước hết bằng chính cuộc đời ngài rằng đức tin không hệ tại ở việc có nhiều phương tiện, nhưng ở việc có thật sự bám vào Chúa hay không. Đây là bài học rất quan trọng cho thời hôm nay. Một cộng đoàn có thể có nhà thờ đẹp, chương trình phong phú, tổ chức chặt chẽ, sinh hoạt nhộn nhịp, nhưng nếu phần sâu nhất là cầu nguyện, Thánh Thể, Lời Chúa, sự hoán cải nội tâm, lòng mến và sự thuộc về không được nuôi, thì tất cả dễ thành một bề mặt tôn giáo bận rộn mà không đủ sức cứu linh hồn. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đã bị lấy khỏi gần như mọi phương tiện bình thường, nhưng chính trong chỗ không còn gì ấy, điều chính yếu lại sáng lên: Chúa là đủ. Không phải theo nghĩa một câu nói thiêng liêng để tự an ủi, mà theo nghĩa sâu nhất của kinh nghiệm sống. Điều ấy là một bài học rất mạnh cho chúng ta. Vì nhiều khi ta chỉ biết giá trị của điều chính yếu khi những điều phụ bắt đầu lung lay.
Ngài cũng là quà tặng cho Giáo hội Việt Nam vì ngài dạy rằng đau khổ không phải là lý do để mình khép lại. Một Giáo hội từng đi qua bao vết thương có thể vô thức sống với tâm lý phòng thủ, tâm lý đau nên phải dựng tường, tâm lý bị tổn thương nên dễ nghi ngờ, dễ khép kín, dễ giữ ký ức theo cách để ký ức đói máu hiện tại. Nhưng cuộc đời của ngài lại mở ra một con đường khác: đau nhưng không khép, bị thương nhưng không độc, bị bẻ nhưng không gãy, chịu hận thù mà vẫn sống mến yêu. Đây là món quà lớn lắm. Vì giữa thế giới hôm nay, ai cũng có lý do để cứng. Ai cũng có lý do để xây thành nội tâm cho mình. Ai cũng có thể nói: sau những gì tôi đã chịu, tôi có quyền lạnh hơn, khép hơn, nghi hơn. Nhưng Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đứng đó như một lời mời gọi khác: không, người môn đệ Đức Kitô có thể đi qua thập giá mà vẫn giữ trái tim mở. Đó mới là chiến thắng lớn.
Một bài học rất lớn khác ngài để lại cho Giáo hội Việt Nam hôm nay là đừng để công việc của Chúa che khuất chính Chúa. Đây là một lời cảnh tỉnh cực kỳ cần thiết, không chỉ cho linh mục, tu sĩ, nhưng cho cả giáo dân dấn thân. Có thể người ta làm rất nhiều trong giáo xứ, trong giáo phận, trong hội đoàn, trong các phong trào, trong công tác bác ái, giáo lý, phụng vụ, mục vụ giới trẻ, nhưng nếu không cẩn thận, chính những việc tốt ấy sẽ dần thay chỗ của tương quan nền tảng với Chúa. Người ta trở nên bận rộn vì Chúa mà lại ít sống với Chúa. Người ta mệt vì Hội Thánh nhưng lại ít ở lại trước Thánh Thể. Người ta lo cho sinh hoạt nhưng ít để cho Tin Mừng đánh động lại chính mình. Và rồi một lúc nào đó, nếu công việc bị đổi, vai trò bị mất, vị trí bị lấy đi, người ta rơi vào khủng hoảng như thể đời mình mất hết ý nghĩa. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đã đi qua chính lò luyện ấy, và ngài để lại cho Giáo hội Việt Nam một bài học cực kỳ tận căn: phải chọn Chúa hơn công việc của Chúa. Phải yêu Đấng được phục vụ hơn chính cảm giác được phục vụ.
Bài học này còn đặc biệt quý trong bối cảnh nhiều người trẻ hôm nay muốn dấn thân nhưng cũng rất dễ cháy nhanh, rất dễ mệt nhanh, rất dễ thất vọng nhanh. Vì sao? Vì nhiều khi gốc rễ không đủ sâu. Người ta bắt đầu từ hăng say, từ cảm hứng, từ một lý tưởng đẹp, nhưng chưa đủ đi vào cầu nguyện, vào thinh lặng, vào Thánh Thể, vào đời sống nội tâm thật sự. Và khi va chạm đầu tiên tới, khi con người làm mình đau, khi Hội Thánh ở bình diện nhân loại không đẹp như mình tưởng, khi việc mình làm không được ghi nhận, khi hiệu quả không đến, ngọn lửa bắt đầu yếu. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận là quà tặng cho lớp người trẻ ấy, vì ngài chứng minh rằng sức bền thật không đến từ cảm hứng, nhưng đến từ việc cắm rễ trong Chúa.
Ngài còn là quà tặng cho Giáo hội Việt Nam trong một điểm rất tế nhị mà rất quan trọng: ngài dạy chúng ta yêu Hội Thánh cách trưởng thành. Yêu Hội Thánh trưởng thành không phải là yêu theo kiểu cảm xúc nhất thời, lúc nào thuận thì yêu, lúc nào không vừa ý thì quay sang chỉ trích cay nghiệt hay sống như kẻ đứng ngoài. Yêu Hội Thánh trưởng thành là yêu trong hiệp thông, trong đau đáu, trong cầu nguyện, trong trung thành, trong sửa mình, trong việc dám xây hơn là chỉ nói. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận yêu Hội Thánh không phải vì Hội Thánh cho ngài một đời êm ả. Trái lại, con đường Hội Thánh nơi trần gian mà ngài đi qua đầy nước mắt. Nhưng ngài vẫn thuộc về. Và sự thuộc về ấy không mù quáng, không non nớt, không ngây thơ. Nó là thuộc về của một người con trưởng thành. Điều này là một bài học rất lớn cho thời nay, khi người ta dễ bị đẩy sang một trong hai cực: hoặc là lý tưởng hóa Hội Thánh theo kiểu không thực, hoặc là thất vọng với phần nhân loại của Hội Thánh rồi dần đánh mất tình yêu. Ngài chỉ ra con đường thứ ba: nhìn rõ thực tại, nhưng vẫn ở lại trong tình yêu và hiệp thông.
Với linh mục và tu sĩ, ngài là một bài học đặc biệt sâu. Vì nơi ngài, họ có thể thấy một khuôn mặt rất thật của ơn gọi: ơn gọi không được bảo đảm bằng thành công hữu hình. Nhiều người dâng đời mình cho Chúa và âm thầm nghĩ rằng nếu mình trung thành thì Chúa sẽ cho con đường mình đi ít ra cũng “hợp lý”, nghĩa là được làm việc, được sinh hoa trái theo cách mình hiểu, được phục vụ đúng ơn gọi mình đã chuẩn bị. Nhưng cuộc đời Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận nhắc rằng ơn gọi còn sâu hơn thế. Có lúc Chúa cho người của Ngài bước vào chỗ gần như mất hết công cụ quen thuộc, để dạy họ rằng chính họ, không phải việc họ làm, mới là của lễ Ngài muốn. Đó là một bài học vừa đáng sợ vừa đẹp. Đáng sợ cho cái tôi. Đẹp cho tình yêu. Linh mục và tu sĩ đọc đời ngài mà không bị đánh động thì thật khó. Bởi ngài buộc họ hỏi lại: tôi là của Chúa, hay chỉ đang làm việc cho Chúa? Nếu một ngày tôi không còn được làm như bây giờ nữa, tôi còn giữ được Chúa không?
Đối với giáo dân, nhất là những người sống giữa bao áp lực gia đình, kinh tế, bệnh tật, thất vọng, chờ đợi, ngài cũng là món quà lớn. Bởi vì không phải ai cũng có thể đọc các tác giả thần học lớn hay đi vào những hệ thống thiêng liêng sâu rộng. Nhưng nơi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, người ta gặp một con đường vừa sâu vừa gần. Hãy sống giây phút hiện tại. Hãy làm điều nhỏ với tình yêu lớn. Hãy giữ Chúa. Hãy yêu Thánh Thể. Hãy cầu nguyện trong đêm. Hãy tha thứ. Hãy hy vọng. Những điều ấy nghe đơn sơ, nhưng chính đời sống người giáo dân lại rất cần thứ đơn sơ đầy lửa ấy. Ngài làm cho đức tin trở nên có thể sống được giữa đời thường. Không phải thứ đức tin chỉ dành cho những lúc rảnh rang, mà là thứ đức tin có thể thở giữa lo toan, đau khổ và giới hạn.
Và phải nói thật rằng ngài cũng là bài học rất lớn cho Giáo hội Việt Nam trong cách đối diện với ký ức đau thương. Một dân tộc và một Giáo hội từng đi qua nhiều biến cố rất dễ mang trong mình những lớp tổn thương chưa chữa lành. Nếu không cẩn thận, các ký ức ấy sẽ dần biến thành bản sắc ngầm: chúng ta là người đã bị làm đau, nên chúng ta có quyền nghi ngại, có quyền đóng lại, có quyền giữ khoảng cách với sự hòa giải. Nhưng Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, chính bằng đời mình, đã nói một điều khác: không, ký ức phải được chữa lành trong Chúa. Không, đau khổ không có quyền trở thành tên mới của chúng ta. Không, hận thù không thể là ngôn ngữ cuối cùng của người môn đệ Đức Kitô. Đây là một sứ điệp vô cùng quan trọng cho Giáo hội Việt Nam hôm nay và mai sau. Bởi vì nếu không đi vào hòa giải, không đi vào tha thứ, không đi vào chữa lành ký ức, thì quá khứ sẽ vẫn tiếp tục ăn mòn hiện tại, kể cả khi bề ngoài mọi thứ đã đổi.
Ngài còn dạy Giáo hội Việt Nam một điều rất đẹp: đừng khinh thường điều nhỏ. Trong một thế giới ưa cái lớn, cái nhanh, cái hiệu quả, cái dễ đo, ngài nhắc rằng Nước Trời lớn lên từ những điều nhỏ được làm bằng tình yêu lớn. Một giáo xứ được cứu không chỉ nhờ một đại hội long trọng, mà nhờ những người âm thầm cầu nguyện. Một gia đình được giữ không chỉ bằng những quyết định lớn, mà bằng lòng trung thành mỗi ngày. Một ơn gọi được bền không chỉ nhờ những lúc sốt sắng, mà nhờ những giây phút hiện tại được sống với Chúa. Một Hội Thánh được xây không chỉ nhờ công trình, mà nhờ các linh hồn. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận là quà tặng vì ngài trả lại cho Giáo hội cái nhìn Tin Mừng về điều nhỏ. Và cái nhìn ấy cực kỳ cần hôm nay, khi nhiều người dễ đo giá trị của mọi sự bằng quy mô và độ nổi.
Ngài cũng là quà tặng vì nơi ngài, Giáo hội Việt Nam có một hình ảnh rất đẹp của sự kết hợp giữa lòng đạo bình dân và chiều sâu thần học, giữa Đức Mẹ và Thánh Thể, giữa cầu nguyện và hành động, giữa nội tâm và sứ vụ, giữa truyền thống và canh tân. Đây là điểm rất quý. Có những người đi sâu vào suy tư thì dần xa những gì đơn sơ. Có những người giữ lòng đạo bình dân thì lại khó mở ra với chiều sâu suy niệm hay tầm nhìn Hội Thánh. Nơi ngài, hai chiều kích ấy hòa vào nhau rất đẹp. Ngài vừa rất đơn sơ của một người con Đức Mẹ, rất gắn với kinh nguyện, Thánh Thể, vừa rất sâu của một tâm hồn biết đọc Công đồng, biết suy tư về Hội Thánh, công lý, hòa bình, hy vọng, phẩm giá con người. Chính điều đó làm cho ngài trở nên gần với nhiều giới người trong Hội Thánh mà không mất chiều cao nội tâm.
Nếu phải rút ra những bài học thật cụ thể cho Giáo hội hôm nay từ quà tặng mang tên Nguyễn Văn Thuận, có lẽ có thể nói thế này. Một là, hãy trở về với Chúa là trung tâm, đừng để việc của Chúa chiếm chỗ của Chúa. Hai là, hãy làm cho Thánh Thể trở thành trái tim thực sự của đời sống Hội Thánh, chứ không chỉ là một nghi thức phải hoàn tất. Ba là, hãy dạy người tín hữu sống hiện tại với Chúa, thay vì chỉ sống bằng sợ hãi hay tiếc nuối. Bốn là, hãy xây một Giáo hội biết tha thứ, biết chữa lành ký ức, biết giữ trái tim không độc. Năm là, hãy đầu tư vào phần sâu của linh hồn hơn là chỉ vào bề mặt của cơ cấu. Sáu là, hãy nhớ rằng chứng từ mạnh nhất của Hội Thánh không luôn nằm ở quyền lực hay số lượng, mà ở những con người giữ được tình yêu trong nơi đáng ghét nhất, giữ được hy vọng trong nơi tối nhất, giữ được Chúa trong nơi tưởng như Ngài vắng nhất.
Có lẽ điều đẹp nhất là: Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận không dạy những bài học ấy bằng một diễn văn. Ngài dạy bằng chính đời mình. Và khi một con người dạy bằng đời mình, lời ấy đi rất sâu. Người ta có thể tranh luận với lý thuyết, nhưng khó tranh luận với một chứng từ thật. Người ta có thể thờ ơ với một bài giảng, nhưng khó quên một cuộc đời như thế. Người ta có thể lướt qua những khẩu hiệu đẹp, nhưng khó lướt qua ánh sáng của một linh hồn đã chịu đau nhiều đến thế mà vẫn sống mến yêu. Chính vì thế, ngài không chỉ là một bài học. Ngài là lời mời. Lời mời Giáo hội Việt Nam hôm nay hãy nhìn lại mình. Hãy hỏi mình đang bận xây gì và đang quên điều gì. Hãy hỏi mình có còn sống từ Thánh Thể không. Hãy hỏi mình có còn thật sự là Hội Thánh của hy vọng không. Hãy hỏi mình có đang chuyển ký ức đau thương thành hận thù âm thầm không. Hãy hỏi mình có đang đủ thuộc về Chúa để không sợ bị lấy khỏi những gì phụ không.
Và càng nghĩ đến ngài như một quà tặng, người ta càng thấy lòng biết ơn. Không phải kiểu tự hào ồn ào, nhưng là thứ biết ơn sâu, lặng, có pha cả kính sợ. Bởi Thiên Chúa đã không để Giáo hội Việt Nam đi qua thế kỷ đầy biến động mà không có những chứng nhân sáng. Ngài đã cho chúng ta có những vị tử đạo, những cộng đoàn kiên trung, những linh hồn âm thầm. Và trong thời gần chúng ta hơn, Ngài lại cho chúng ta Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận như một gương sáng rất gần, rất đọc được, rất sống được, rất đánh động được. Một người vừa mang lấy truyền thống đức tin của dân tộc mình, vừa mở ra tới tầm mức hoàn vũ của Hội Thánh. Một người vừa rất Việt Nam vừa rất Công giáo. Một người vừa rất đau khổ vừa rất sáng. Một người vừa đi qua nhà tù vừa bước vào trái tim thế giới bằng chứng từ hy vọng.
Nói cho cùng, một quà tặng chỉ thật sự có ý nghĩa khi được mở ra và đón nhận. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận là quà tặng của Thiên Chúa cho Giáo hội Việt Nam. Nhưng Giáo hội Việt Nam có thật sự mở món quà ấy ra chưa? Có thật sự đọc ngài không? Có thật sự học ngài không? Có thật sự để ngài sửa mình không? Có thật sự để ngài nhắc lại phần cốt lõi của đời sống đạo không? Hay chúng ta chỉ kính ngài, trích ngài, nhắc tên ngài trong các dịp trang trọng, rồi vẫn tiếp tục sống như cũ: bận rộn, phân tán, dễ cay đắng, dễ mệt, dễ nguội, dễ để công việc lấn át Chúa? Nếu thế thì món quà vẫn còn chưa được mở.
Cho nên, phần này không chỉ muốn ngợi ca Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận. Phần này còn muốn đặt một câu hỏi rất thật trước Giáo hội hôm nay: chúng ta có sẵn sàng để mình được một chứng nhân như ngài chất vấn không? Có sẵn sàng để mình bị buộc quay về trung tâm không? Có sẵn sàng tập lại những điều rất căn bản mà rất khó: cầu nguyện, Thánh Thể, hiện tại, tha thứ, hy vọng, hiệp thông, yêu Hội Thánh trưởng thành, làm điều nhỏ với tình yêu lớn không? Bởi đó chính là những gì ngài để lại. Và đó cũng là nơi món quà của Thiên Chúa có thể trở thành lương thực thật cho Hội Thánh Việt Nam hôm nay.
Và như thế, Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận là quà tặng không phải vì ngài làm chúng ta hãnh diện, nhưng vì ngài làm chúng ta phải hoán cải. Không phải vì ngài chỉ đứng đó để được ngắm nhìn, nhưng vì ngài mở ra một con đường phải bước theo. Không phải vì ngài làm đẹp thêm cho lịch sử Giáo hội Việt Nam, nhưng vì ngài giữ cho lịch sử ấy tiếp tục hướng về Đức Kitô. Không phải vì ngài giúp chúng ta kể một câu chuyện hay, nhưng vì ngài nhắc chúng ta sống một Tin Mừng thật.
Và có lẽ đó là món quà quý nhất mà một con người có thể trở thành trong tay Thiên Chúa.
PHẦN XIII: LỜI MỜI GỌI GỬI ĐẾN LINH MỤC, TU SĨ, GIỚI TRẺ, CÁC GIA ĐÌNH VÀ MỌI TÍN HỮU TỪ CHỨNG TỪ CỦA ĐỨC HỒNG Y NGUYỄN VĂN THUẬN
Có những cuộc đời sau khi khép lại vẫn còn tiếp tục nói. Không phải bằng tiếng vang của danh tiếng, không phải bằng hào quang còn sót lại của một nhân vật lớn, nhưng bằng một thứ tiếng nói sâu hơn, lặng hơn, đi thẳng vào lương tâm, vào cầu nguyện, vào cách con người nhìn lại chính mình. Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận là một cuộc đời như thế. Ngài không còn hiện diện giữa chúng ta bằng thân xác, nhưng ngài vẫn tiếp tục nói. Nói với linh mục đang mệt. Nói với tu sĩ đang nguội. Nói với người trẻ đang phân vân. Nói với các gia đình đang chao đảo. Nói với giáo dân đang bận rộn giữa đời mà lòng dễ khô đi. Nói với những ai đang đau. Nói với những ai đang hoạt động nhiều trong Hội Thánh nhưng ít còn thời gian ở lại với Chúa. Nói với những ai đã từng bị thương tổn và đang bị cám dỗ sống phần còn lại của đời mình trong âm thầm cay đắng. Chứng từ của ngài giống như một tiếng gọi. Không ồn ào. Không ép buộc. Nhưng rất thật. Và càng lắng, càng thấy đây không chỉ là những bài học để ngưỡng mộ, mà là những lời mời phải trả lời bằng chính đời sống.
Trước hết, đối với linh mục, Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận để lại một lời mời rất sâu, có lẽ cũng là một lời mời rất đau: hãy trở về với căn tính sâu nhất của mình. Bởi vì linh mục rất dễ bị cuốn vào công việc. Mà công việc của linh mục lại là công việc thánh, nên càng nguy hiểm hơn. Người linh mục có thể bận suốt ngày cho Thánh lễ, giải tội, giảng dạy, họp hành, xây dựng, quản trị, mục vụ, đi thăm viếng, lo cho giáo xứ, lo cho giáo dân, lo cho công trình, lo cho tài chính, lo cho đủ thứ. Bề ngoài, tất cả đều là việc của Chúa. Nhưng nếu không cẩn thận, chính những việc ấy sẽ dần làm mờ đi tương quan nền tảng giữa linh mục với Chúa Giêsu. Một linh mục có thể rất hữu ích mà không còn rất thân với Chúa. Có thể rất cần cho cộng đoàn mà lại đang dần mất trung tâm. Có thể rất được yêu mến mà bên trong bắt đầu khô. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đứng trước các linh mục như một lời nhắc rất mạnh: đừng để công việc của Chúa che khuất chính Chúa. Đừng để mình thành người quản lý thành thạo mà đánh mất trái tim của người tình. Đừng để mình quen với bàn thờ mà xa Đấng đang ở trên bàn thờ. Đừng để mình giảng rất nhiều mà ít còn để Lời Chúa xuyên qua mình.
Ngài còn nói với linh mục bằng một lời mời khác, cũng rất mạnh: hãy chuẩn bị cho ngày mình không còn làm được như hôm nay. Đây là điều nhiều linh mục không muốn nghĩ đến. Nhưng ai sống linh mục đủ lâu sẽ hiểu, có thể có ngày sức khỏe yếu đi, có ngày bị hiểu lầm, có ngày bị giới hạn, có ngày công việc bị lấy bớt, có ngày không còn được sử dụng như trước, có ngày không còn đứng giữa đám đông như mình từng quen. Nếu căn tính linh mục bị cột quá chặt vào hiệu quả mục vụ, vào vai trò trung tâm, vào cảm giác được cần đến, thì những ngày ấy sẽ rất đau và rất nguy hiểm. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận nhắc linh mục rằng: đời linh mục sâu nhất không nằm ở chỗ anh làm được bao nhiêu, nhưng ở chỗ anh thuộc về Đức Kitô đến đâu. Nếu ngày mai Chúa chỉ còn cho anh hiện diện, cầu nguyện, đau bệnh, âm thầm dâng lễ nội tâm mà thôi, anh còn là linh mục trọn vẹn không? Câu hỏi ấy không phải để làm ai sợ, nhưng để cứu đời linh mục khỏi một thứ lệ thuộc tinh vi vào thành công.
Ngài cũng mời gọi linh mục hãy yêu Thánh Thể như trung tâm thật sự, không chỉ như bổn phận nghề nghiệp thiêng liêng. Một linh mục có thể cử hành Thánh lễ mỗi ngày mà dần dần đánh mất sự run rẩy nội tâm trước mầu nhiệm. Có thể đọc lời truyền phép rất chính xác mà lòng không còn cháy. Có thể sống giữa nhà tạm mà tâm hồn lại cứ lang thang ở những lo toan không bao giờ dứt. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, bằng chính cơn đói Thánh Thể trong tù, dạy các linh mục hôm nay biết xấu hổ thánh thiện trước sự quen quá dễ dàng của mình. Ngài như thì thầm: anh đang có điều mà tôi đã từng khát vô cùng trong những năm bị cắt đứt, vậy anh có thật sự quý không? Anh có thật sự sống từ bàn thờ không? Anh có thật sự để Thánh Thể định hình linh hồn mình không? Hay Thánh Thể chỉ còn là trung tâm phụng vụ mà không còn là trung tâm sự sống?
Đối với tu sĩ, chứng từ của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận cũng là một lời mời rất đặc biệt. Tu sĩ là người đã chọn Chúa như gia nghiệp, đã dâng cho Chúa những gì thân thiết nhất của đời mình: tự do chọn lựa theo ý riêng, đời sống gia đình riêng, nhiều bảo đảm trần thế. Nhưng chính vì thế, tu sĩ cũng rất dễ bị thử thách ở phần sâu nhất của lời khấn. Có thể sống đời cộng đoàn lâu năm mà dần dần đánh mất sự tươi mới của ơn gọi. Có thể trung thành bên ngoài mà bên trong chỉ còn là thói quen. Có thể giữ khuôn khổ đời tu rất tốt mà trái tim lại không còn mềm đủ trước Chúa. Có thể làm sứ vụ rất đẹp mà sâu bên trong đang âm thầm tìm kiếm chính mình. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận nói với tu sĩ rằng: đừng sống đời dâng hiến như người đã quen với Chúa đến mức không còn kinh ngạc vì Ngài nữa. Đừng để cộng đoàn chỉ là nơi sống chung mà không là nơi cùng nhau đi về trời. Đừng để lời khấn trở thành cơ chế bảo vệ bản thân thay vì là lửa thiêu đi cái tôi.
Ngài còn mời các tu sĩ học lại tự do nội tâm. Vì có khi bên ngoài tu sĩ đã từ bỏ nhiều, nhưng bên trong lại còn bám rất chặt vào ý riêng, vào hình ảnh của mình, vào cách mình muốn được hiểu, vào một vài vết thương chưa được chữa lành, vào một vài vùng an toàn kín đáo. Có những người mang áo dòng rất lâu mà lòng vẫn chưa thật sự nghèo. Vẫn còn lệ thuộc nhiều vào khen chê, vào vị trí, vào sự ưu ái, vào việc phải được công nhận. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, người đã bị lấy khỏi gần như mọi điểm tựa bên ngoài, dạy người tu rằng tự do thật không nằm ở việc mình có bao nhiêu khoảng trống cho mình, nhưng ở việc mình có thuộc về Chúa đến mức có thể buông được không. Người tu thật không phải người sống giữa nhà dòng nhiều năm. Người tu thật là người càng ngày càng ít bị cột bởi những điều không phải là Chúa.
Ngài còn mời gọi đời thánh hiến sống lại vẻ đẹp của điều nhỏ được làm bằng tình yêu lớn. Đây là bài học rất cần trong các cộng đoàn hôm nay, nơi đôi khi người ta dễ mệt với nhau vì những khác biệt nhỏ, những việc rất đời thường, những va chạm rất nhân loại. Nhiều tu sĩ có thể mơ đến những việc truyền giáo lớn, những sứ vụ xa, những công trình đẹp, nhưng lại mỏi mệt vì chén bát, vì giờ giấc, vì tính khí của chị em hay anh em trong cộng đoàn, vì những việc âm thầm không tên. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận nhắc rằng chính những điều nhỏ ấy mới là nơi tình yêu được thử thật. Một cộng đoàn không trở nên thánh nhờ lý tưởng đẹp được treo trên bảng, mà nhờ những hy sinh nhỏ, những tha thứ âm thầm, những giờ cầu nguyện trung tín, những bổn phận thường ngày được làm với lòng mến. Và đó là nơi đời dâng hiến trở nên hương thơm thật.
Đối với giới trẻ, lời mời từ chứng từ của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận lại mang một vẻ rất riêng. Người trẻ hôm nay sống trong một thế giới rất nhanh, rất nhiều lựa chọn, rất nhiều tiếng nói, rất nhiều áp lực phải thành công, phải nổi bật, phải xác định bản thân, phải có tương lai rõ ràng, phải không được tụt lại. Bởi thế, người trẻ rất dễ sống trong một thứ lo âu dài: lo mình không đủ giỏi, lo mình đi sai đường, lo mình bỏ lỡ đời mình, lo mình không rực rỡ, lo mình bị quên, lo mình không có chỗ đứng. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đi đến với người trẻ như một người cha hiền mà chắc, và nói: đừng để đời con bị nuốt mất bởi nỗi ám ảnh về tương lai. Hãy học sống giây phút hiện tại với Chúa. Hãy làm điều hôm nay thật tốt trong tình yêu. Hãy để Chúa dẫn con từng bước. Con không cần phải nắm trọn đời mình trong tay để sống có ý nghĩa. Con chỉ cần giữ Chúa và sống trung thành với ánh sáng Ngài cho con hôm nay.
Ngài cũng nói với người trẻ rằng: đừng sợ sự nhỏ bé. Thế giới hiện đại tôn thờ cái lớn, cái nhanh, cái được nhìn thấy. Người trẻ rất dễ cảm thấy nếu mình chưa làm được điều gì nổi, chưa có vị trí gì rõ, chưa có thành tựu nào đáng kể, thì đời mình đang vô nghĩa. Nhưng hình ảnh năm chiếc bánh và hai con cá của ngài là lời giải phóng kỳ diệu cho giới trẻ. Con không cần phải có thật nhiều rồi mới trao cho Chúa. Con không cần phải đợi mình hoàn hảo rồi mới bắt đầu sống đức tin nghiêm túc. Con không cần phải thành một nhân vật lớn rồi mới hữu ích cho Hội Thánh. Chỉ cần trao điều con có, dù rất nhỏ, với tất cả lòng yêu mến. Một lời cầu nguyện thật. Một lựa chọn trong sạch. Một quyết định không sống giả. Một sự trung tín trong học hành. Một hành động hiếu thảo với cha mẹ. Một việc bác ái âm thầm. Một lần đứng dậy sau sa ngã. Tất cả những điều ấy, trong tay Chúa, đều có thể trở thành bánh.
Ngài còn gửi đến người trẻ một lời mời rất cần thiết trong thời đại dễ sống theo cảm xúc: hãy đào sâu đời sống nội tâm. Người trẻ có thể rất nhiệt thành trong một giai đoạn, rất rung động trước một kỳ tĩnh tâm, một bài giảng, một nhân vật truyền cảm hứng, nhưng nếu không đi vào cầu nguyện bền bỉ, không tập thinh lặng, không yêu Lời Chúa, không gắn với Thánh Thể, thì nhiệt thành ấy rất dễ tắt nhanh. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận không mời người trẻ sống đức tin bằng cảm giác mạnh, nhưng bằng chiều sâu. Ngài như nói: đời con sẽ có những ngày không sốt sắng, những ngày không thấy gì, những ngày cầu nguyện khô, những ngày mỏi, những ngày bị hiểu lầm, những ngày bị lấy khỏi tay những gì con tưởng là mình cần. Nếu từ bây giờ con không cắm rễ đủ sâu trong Chúa, đến những ngày ấy con sẽ rất dễ trôi. Người trẻ rất cần nghe lời này, vì tương lai không được bảo đảm bằng tài năng hay nhiệt huyết, nhưng bằng gốc rễ.
Đối với các gia đình, Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận lại trao một lời mời cực kỳ đẹp và cực kỳ nền tảng: hãy làm cho gia đình thành nơi chuẩn bị các linh hồn cho Thiên Chúa. Gia đình hôm nay đứng trước nhiều sức ép: kinh tế, thời gian, đổ vỡ truyền thông giữa các thế hệ, ảnh hưởng của mạng xã hội, sự mệt mỏi của cha mẹ, nỗi cô đơn của con cái, sự chao đảo của giá trị. Trong bối cảnh ấy, rất dễ để gia đình chỉ còn là nơi cùng ở, cùng kiếm sống, cùng xoay xở, nhưng không còn là nơi cầu nguyện, nơi truyền đức tin, nơi học yêu thương, nơi tập tha thứ, nơi dạy con biết sống thật, biết hy sinh, biết thưa với Chúa. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận bằng chính đời mình nhắc lại vai trò không thể thay thế của gia đình. Chính từ một nền gia đình có đức tin, có cầu nguyện, có lòng kính mến Chúa và Đức Mẹ, một linh hồn mới được chuẩn bị để sau này đứng vững giữa đêm đen. Bài học này quá lớn cho các gia đình hôm nay.
Ngài như nói với cha mẹ: đừng chỉ lo cho con học giỏi, thành công, có nghề nghiệp, có chỗ đứng. Hãy lo cho con có linh hồn. Hãy dạy con cầu nguyện. Hãy dạy con yêu Thánh lễ. Hãy dạy con biết xưng tội. Hãy dạy con kính trọng sự thật. Hãy dạy con chịu trách nhiệm. Hãy dạy con biết tha thứ. Hãy dạy con rằng đời sống không chỉ là cuộc chạy đua giành lấy mọi thứ, nhưng là hành trình học thuộc về Chúa. Nếu gia đình chỉ chuẩn bị cho con cách tồn tại giữa đời mà không chuẩn bị cho con cách đứng vững trong đức tin, thì đến khi thử thách thật sự đến, con sẽ rất mong manh. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận là bằng chứng sống rằng những hạt giống tuổi thơ, những kinh nguyện trong gia đình, những nhân đức được gieo từ sớm, có thể cứu cả một đời người.
Ngài cũng gửi đến các gia đình một lời mời khác rất dịu mà rất thật: hãy học yêu nhau bằng lòng tha thứ mỗi ngày. Nhiều gia đình không đổ vỡ vì một biến cố lớn, mà vì những cay đắng nhỏ chồng chất lâu năm. Một lời chưa xin lỗi. Một vết thương nhỏ không được chữa. Một sự tự ái không chịu lùi. Một nỗi mệt kéo dài. Một kiểu sống chung nhưng không thật sự nhìn nhau nữa. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, người đã sống giữa hận thù mà vẫn mến yêu, như nói với các gia đình rằng: nếu không tha thứ, nhà sẽ dần lạnh; nếu không biết hạ mình, yêu thương sẽ dần thành bổn phận mệt mỏi; nếu không biết cầu nguyện với nhau và cho nhau, thì cùng sống một mái nhà cũng chưa chắc cùng chung một linh hồn. Gia đình cần học nơi ngài rằng tình yêu không sống được nếu chỉ chờ cảm xúc. Tình yêu phải đi qua quyết định, qua hy sinh, qua tha thứ, qua trung thành trong điều nhỏ.
Đối với mọi tín hữu, chứng từ của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận là một lời mời rất phổ quát và cũng rất trực diện: hãy sống đạo thật. Không chỉ giữ đạo. Không chỉ sinh hoạt đạo. Không chỉ mang danh Công giáo. Nhưng sống đạo thật. Sống với Chúa thật. Cầu nguyện thật. Xưng tội thật. Rước lễ thật. Yêu Hội Thánh thật. Yêu người thật. Tha thứ thật. Hy vọng thật. Bởi vì một trong những cám dỗ lớn nhất của người tín hữu là có thể ở rất gần những điều thánh mà lại sống ngày càng xa phần cốt lõi. Có thể đi lễ đều, nhưng ít cầu nguyện thật. Có thể tham gia sinh hoạt, nhưng lòng ít đổi. Có thể nói về Hội Thánh, nhưng thiếu bác ái. Có thể phê phán điều xấu rất nhanh, nhưng lại không chịu hoán cải chính mình. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận không nói bằng lời lên án, nhưng chính cuộc đời ngài làm cho chúng ta phải đỏ mặt một cách lành thánh: giữa lúc bị lấy mất gần như mọi nâng đỡ, ngài vẫn sống với Chúa như thế; còn chúng ta, khi còn quá nhiều thuận lợi, ta đang sống ra sao?
Ngài mời mọi tín hữu học hy vọng. Nhưng hy vọng ở đây không phải là lạc quan rẻ tiền. Không phải cứ mỉm cười là hy vọng. Không phải phủ nhận khó khăn là hy vọng. Hy vọng thật là biết rằng dù mình không hiểu hết, Chúa vẫn ở đó. Dù hiện tại tối, Chúa vẫn làm việc. Dù mình ít, Chúa vẫn có thể dùng cái ít ấy. Dù mình đau, đời mình vẫn không vô nghĩa. Dù Hội Thánh đi qua những mùa khó, Chúa vẫn là Chúa của Hội Thánh. Dù mình yếu, Chúa vẫn đủ. Đây là thứ hy vọng mà mọi tín hữu hôm nay rất cần. Vì thế giới không thiếu thông tin xấu, không thiếu lý do để bi quan, không thiếu chuyện làm người ta nản. Nhưng nếu tín hữu cũng sống như mọi người khác, cũng chỉ lo, sợ, bức bối, đổ lỗi, khép lòng, thì Tin Mừng sẽ sáng ở đâu? Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận như được ban cho Hội Thánh để dạy lại ngôn ngữ hy vọng ấy.
Ngài cũng mời mọi tín hữu hãy yêu Thánh Thể hơn. Yêu không phải theo nghĩa chỉ tham dự cho đủ, nhưng là để cho Thánh Thể trở thành trung tâm thật của cuộc sống. Một tín hữu nếu không sống từ Thánh Thể thì rất dễ bị đời sống thiêng liêng biến thành đạo đức rời rạc. Họ có thể đạo đức nhưng thiếu trung tâm. Có thể tốt nhưng thiếu nguồn. Có thể quảng đại một thời gian nhưng không đủ sức bền. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, chính nhờ cơn đói Thánh Thể của mình, như giúp chúng ta hiểu lại giá trị vô cùng lớn của việc được đến bàn thờ, được ở trước Nhà Tạm, được lãnh lấy Mình Thánh Chúa. Ngài như hỏi mỗi người tín hữu: anh chị có thật sự biết mình đang được nuôi bằng điều gì không? Hay anh chị đã quen với ân huệ đến mức coi nhẹ nó?
Và hơn hết, lời mời của ngài gửi đến mọi tín hữu là: đừng để đau khổ làm mình mất Chúa. Đây có lẽ là nơi chứng từ của ngài chạm vào mọi bậc sống, mọi hoàn cảnh, mọi lứa tuổi. Ai rồi cũng sẽ có lúc đau. Có người đau vì bệnh. Có người đau vì con cái. Có người đau vì hôn nhân. Có người đau vì bị phản bội. Có người đau vì bị hiểu lầm. Có người đau vì tuổi già. Có người đau vì thất bại. Có người đau vì tội lỗi của chính mình. Có người đau vì một lời cầu xin mãi chưa được đáp. Trong mọi nỗi đau ấy, cám dỗ lớn nhất không phải chỉ là buồn. Cám dỗ lớn nhất là mất Chúa. Không hẳn chối bỏ Chúa công khai, nhưng là dần dần sống như thể Ngài xa lắm, như thể Ngài không còn là nơi trú của lòng mình nữa. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đứng trước mọi tín hữu như một lời mời tha thiết: đau thì cứ đau, khóc thì cứ khóc, nhưng đừng buông Chúa. Đừng để bóng tối dạy mình cách sống. Đừng để vết thương trở thành tên mới của mình. Hãy giữ Chúa, vì nếu còn Chúa thì chưa mất điều chính yếu.
Nói cho cùng, lời mời từ chứng từ của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận gửi đến từng bậc sống khác nhau lại gặp nhau ở một chỗ: hãy sống phần cốt lõi. Linh mục hãy sống phần cốt lõi của linh mục. Tu sĩ hãy sống phần cốt lõi của đời thánh hiến. Người trẻ hãy sống phần cốt lõi của tuổi trẻ thuộc về Chúa. Gia đình hãy sống phần cốt lõi của mái ấm Kitô giáo. Giáo dân hãy sống phần cốt lõi của đời tín hữu. Và phần cốt lõi ấy không nằm ở vẻ ngoài, không nằm ở số lượng việc làm, không nằm ở cảm xúc, mà nằm ở tương quan thật với Chúa, ở Thánh Thể, ở cầu nguyện, ở tha thứ, ở hiện tại, ở hy vọng, ở lòng yêu Hội Thánh và ở sự trung thành trong điều nhỏ.
Có lẽ, khi đọc đến đây, mỗi người phải tự hỏi mình đang nghe thấy lời nào dành riêng cho mình từ cuộc đời ngài. Linh mục có thể nghe thấy tiếng gọi trở về với bàn thờ và giờ chầu. Tu sĩ có thể nghe thấy lời mời sống lại sự nghèo khó nội tâm. Người trẻ có thể nghe thấy lời mời đừng sống vội vàng, đừng chỉ đuổi theo tương lai mà quên Chúa của hiện tại. Các gia đình có thể nghe thấy tiếng gọi dựng lại góc cầu nguyện, dựng lại bầu khí đạo đức, dựng lại sự lắng nghe và tha thứ. Người tín hữu nói chung có thể nghe thấy lời nhắc đừng sống đạo theo quán tính nữa. Mỗi người nghe một điều. Nhưng tất cả đều được gọi về cùng một hướng: trở về với Đức Kitô.
Và đó cũng là vẻ đẹp cuối cùng của chứng từ Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận: ngài không kéo người ta về mình. Ngài luôn dẫn người ta về Chúa. Về Thánh Thể. Về hiện tại. Về niềm hy vọng. Về Tin Mừng. Về Hội Thánh. Về tình yêu. Vì thế, lời mời của ngài không phải là: hãy ngưỡng mộ tôi. Nhưng là: hãy sống với Chúa thật hơn. Hãy bám vào Chúa sâu hơn. Hãy để Ngài là trung tâm. Hãy làm điều nhỏ với tình yêu lớn. Hãy tha thứ. Hãy hy vọng. Hãy ở lại.
Và nếu mỗi bậc sống trong Hội Thánh hôm nay thật sự đón lấy lời mời ấy, thì có lẽ món quà mà Thiên Chúa ban qua cuộc đời Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận sẽ không chỉ còn là ký ức đẹp. Nó sẽ trở thành men sống trong lòng Giáo hội. Nó sẽ trở thành ánh sáng. Nó sẽ trở thành lương thực. Nó sẽ trở thành con đường.
PHẦN XIV: ĐỨC HỒNG Y NGUYỄN VĂN THUẬN VÀ TIẾNG GỌI SỐNG HY VỌNG, YÊU THƯƠNG VÀ THUỘC TRỌN VỀ CHÚA GIỮA THỜI ĐẠI HÔM NAY
Có những cuốn sách khi đi đến phần kết thì người viết chỉ còn việc gom lại những gì đã nói, khép lại những chương đã mở, đặt một dấu chấm sau cùng để người đọc có thể nhẹ nhàng rời trang sách. Nhưng cũng có những cuộc đời mà càng đi đến đoạn kết, người ta càng cảm thấy mình không đứng trước một cái kết, mà đứng trước một cánh cửa. Một cánh cửa mở ra cho chính đời sống mình. Một cánh cửa làm cho tất cả những gì mình vừa đọc, vừa suy niệm, vừa xúc động, vừa khâm phục, không thể ở yên trên giấy nữa. Nó đòi phải đi xuống đời thực. Nó đòi phải chạm vào cầu nguyện. Nó đòi phải sửa lại cách sống. Nó đòi phải hoán cải. Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận là một cuộc đời như thế. Và vì vậy, phần kết này không thể chỉ là lời tổng kết về ngài. Phần kết này phải là một cuộc đối diện của chúng ta trước tiếng gọi mà ngài vẫn đang tiếp tục gửi đến Hội Thánh và thế giới hôm nay: tiếng gọi sống hy vọng, yêu thương và thuộc trọn về Chúa giữa một thời đại đang có quá nhiều lý do để sợ hãi, để khép lòng, để phân tán và để đánh mất điều chính yếu.
Nếu phải nói thật, thời đại hôm nay là một thời đại rất cần Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận. Không phải vì chúng ta thiếu thông tin. Không phải vì chúng ta thiếu sách thiêng liêng. Không phải vì chúng ta thiếu những bài nói hay, những khóa học, những chương trình mục vụ, những sáng kiến mục tiêu cao đẹp. Điều chúng ta thiếu sâu hơn nhiều. Chúng ta thiếu những con người đã sống tới cùng điều họ nói. Chúng ta thiếu những chứng nhân mà cuộc đời họ đủ trong để lời họ không còn là lý thuyết. Chúng ta thiếu những khuôn mặt có thể đứng giữa hỗn loạn của thời đại mà vẫn nói về Chúa bằng một giọng không cay, nói về hy vọng bằng một giọng không giả, nói về tha thứ bằng một giọng không rẻ, nói về Hội Thánh bằng một giọng vừa đau vừa yêu, nói về hiện tại bằng một giọng đã đi qua đêm mà vẫn giữ được ánh sáng. Chúng ta thiếu những người như thế. Và vì thế, mỗi lần trở về với Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, người ta có cảm giác như được bước vào một vùng khí trời khác. Không phải để trốn khỏi đời, nhưng để nhớ lại đời sống Kitô hữu thật sự phải được thở bằng thứ khí nào.
Thời đại hôm nay đầy những lời hứa hẹn về tự do, nhưng lại sản sinh quá nhiều người bị trói buộc từ bên trong. Người ta có thể đi khắp nơi, phát biểu mọi thứ, bày tỏ bản thân không giới hạn, nhưng lòng thì bị trói bởi sợ hãi, bởi so sánh, bởi hình ảnh, bởi quá khứ, bởi tham vọng, bởi tổn thương, bởi sự nhìn nhận của người khác, bởi một nỗi đói không bao giờ được lấp đầy. Thời đại hôm nay đầy những công cụ kết nối, nhưng con người lại cô đơn hơn bao giờ hết. Đầy những cách để giải trí, nhưng nội tâm lại mỏi mệt hơn bao giờ hết. Đầy những khẩu hiệu về tình yêu, nhưng lại quá dễ gãy đổ trước va chạm, quá dễ bỏ cuộc trước khác biệt, quá dễ biến người khác thành đối tượng để dùng hay để phán xét. Đầy những lời nói về niềm tin, nhưng người ta lại khó ở yên trước Chúa trong thinh lặng. Đầy những hoạt động tôn giáo, nhưng không ít linh hồn lại khô héo. Chính trong một thế giới như thế, tiếng nói của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận vang lên không như một âm thanh cũ kỹ của quá khứ, nhưng như một lời ngôn sứ rất hợp thời: con người không thể sống nếu đánh mất trung tâm; Hội Thánh không thể sáng nếu đánh mất Chúa; linh hồn không thể bình an nếu đánh mất hiện tại; và không ai thật sự tự do nếu còn để hận thù, sợ hãi, tham vọng hay tuyệt vọng làm chủ lòng mình.
Điều làm cho tiếng gọi của ngài mạnh không phải là nó mới lạ. Thật ra, những gì ngài nói đều rất Tin Mừng, rất nền tảng, rất quen. Chính Chúa Giêsu cũng đã dạy hãy ở lại trong tình yêu Người, hãy đừng lo lắng quá về ngày mai, hãy tha thứ, hãy làm men trong lòng thế giới, hãy vác thập giá mình mà theo Người. Nhưng điều khiến lời ấy nơi ngài có sức đánh động là vì nó đi ra từ một cuộc đời đã sống chính những điều rất quen ấy trong những hoàn cảnh cực không quen. Ai cũng biết phải hy vọng. Nhưng hy vọng trong nhà tù thì khác. Ai cũng biết phải tha thứ. Nhưng tha thứ cho những người đã lấy khỏi mình tự do và tương lai thì khác. Ai cũng biết phải cầu nguyện. Nhưng cầu nguyện trong im lặng bị áp đặt, trong đêm tối dài dằng dặc, trong cảm giác bị cắt khỏi mọi nâng đỡ thường ngày thì khác. Ai cũng biết phải yêu Hội Thánh. Nhưng yêu Hội Thánh khi đời mình đã bị bẻ ra và mọi con đường quen thuộc bị đóng lại thì khác. Chính vì đã đi vào cái “khác” ấy, ngài trả lại cho những chân lý quen thuộc của Tin Mừng một sức nặng mới. Không phải nặng vì lý thuyết phức tạp, nhưng nặng vì thật.
Và vì thế, lời kết lớn này trước hết phải là một lời mời gọi sống hy vọng. Nhưng hy vọng mà Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận để lại không phải là thứ hy vọng của những người chưa từng nếm bóng tối. Không phải là lạc quan rút gọn. Không phải là thái độ luôn giữ vẻ sáng sủa bên ngoài để không bị xem là yếu. Không phải là cách nói tích cực để tự vượt qua cảm giác tiêu cực. Hy vọng của ngài sâu hơn nhiều. Hy vọng là biết rằng Chúa vẫn đang làm việc ngay cả khi ta không hiểu gì cả. Hy vọng là tin rằng đêm tối không có tiếng nói cuối cùng. Hy vọng là giữ cho lòng mình còn mở, dù hoàn cảnh mời gọi mình khép lại. Hy vọng là sống hôm nay với Chúa thay vì chết dần trong tiếc nuối hôm qua hoặc sợ hãi ngày mai. Hy vọng là biết rằng cái ít ỏi của đời mình, nếu được trao vào tay Chúa, vẫn có thể thành bánh cho người khác. Hy vọng là không để sự dữ định nghĩa số phận mình. Hy vọng là không để đau khổ lấy mất niềm tin rằng đời mình vẫn có thể sinh hoa trái ngay trong lúc bị bẻ ra.
Thời đại hôm nay cần học lại kiểu hy vọng ấy biết bao. Bởi con người đang bị mỏi vì quá nhiều điều bất định. Người trẻ lo về tương lai. Người trưởng thành lo về gia đình, kinh tế, công việc, sức khỏe. Người già lo về cô đơn, bệnh tật, những năm tháng cuối đời. Nhiều người lo về tình hình xã hội, về Giáo hội, về thế giới, về chiến tranh, về những giá trị đang tan ra. Và trong tất cả những nỗi lo ấy, cám dỗ lớn nhất là bắt đầu sống như thể sự dữ mạnh hơn Chúa, như thể bóng tối đang lên ngôi, như thể mình không còn gì ngoài việc cầm cự. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đi vào giữa cơn cám dỗ ấy và nói một lời rất hiền mà rất mạnh: không, con đừng nhường tâm hồn mình cho bóng tối. Con có thể đau. Con có thể khóc. Con có thể không hiểu. Nhưng đừng tuyệt vọng. Đừng để tuyệt vọng mặc lấy giọng nói của sự thông minh. Đừng để bi quan được gọi tên là thực tế. Đừng để những điều xấu của thời đại làm con đánh mất lòng tin vào Thiên Chúa đang hiện diện trong thời đại này. Hãy hy vọng. Không phải vì hoàn cảnh dễ. Nhưng vì Chúa là thật.
Nhưng cùng với hy vọng, ngài còn để lại tiếng gọi sống yêu thương. Đây là điểm làm cho cuộc đời ngài trở nên rất giống Tin Mừng. Không phải chỉ vì ngài đã chịu đau. Mà vì ngài đã không dùng đau khổ như lý do để thôi yêu. Một thế giới bị rạn nứt, phân cực, nghi kỵ, dễ kết án, dễ chia phe, dễ biến người khác thành kẻ thù rất cần chứng từ ấy. Một Hội Thánh mà ở bình diện con người vẫn có thể bị thương tích bởi hiểu lầm, bởi va chạm, bởi những giới hạn của nhau, cũng rất cần chứng từ ấy. Một gia đình sống lâu năm với nhau cũng có thể bị bào mòn bởi những mệt mỏi, tự ái, thất vọng tích tụ, cũng rất cần chứng từ ấy. Một người trẻ bị tổn thương trong tình bạn, trong tình yêu, trong gia đình, lại càng rất cần chứng từ ấy. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận như nói với tất cả: đừng để trái tim con đóng lại. Đừng để phần xấu nơi người khác làm phần xấu nơi con lớn lên. Đừng vì bị thương mà sống phần còn lại của đời mình như một pháo đài. Đừng gọi cay đắng là trưởng thành. Đừng gọi lạnh lùng là mạnh mẽ. Hãy yêu. Yêu không phải vì người khác luôn xứng đáng, nhưng vì con không muốn đánh mất chính linh hồn mình.
Nói thế không có nghĩa là tình yêu Kitô giáo là thứ tình yêu mù quáng, bỏ qua sự thật, dung dưỡng mọi điều sai. Không. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận không để lại cho chúng ta một thứ đạo đức mềm yếu. Ngài không dạy phủ nhận điều ác. Ngài cũng không biến hòa giải thành sự giả vờ rằng không có gì đau. Điều ngài dạy sâu hơn nhiều: hãy giữ cho sự thật luôn đi cùng bác ái, và hãy giữ cho bác ái không bao giờ bị trục xuất khỏi sự thật. Có thể nói không với điều sai mà không ghét người sai. Có thể đau vì điều ác mà không để điều ác cư trú trong lòng mình. Có thể nhớ những gì đã xảy ra mà không để ký ức ấy biến thành thuốc độc. Có thể đứng về phía công lý mà không lấy hận thù làm nhiên liệu. Đây là một trình độ rất cao của tình yêu. Nhưng chính thời đại hôm nay cần trình độ đó hơn bao giờ hết. Vì nếu chỉ có sự thật mà không có tình yêu, con người sẽ cắt nhau bằng danh nghĩa đúng đắn. Còn nếu chỉ có một thứ dịu dàng không sự thật, người ta sẽ sớm nhân danh hòa bình để bỏ mặc điều xấu. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận dạy chúng ta con đường khó hơn, nhưng là con đường của Chúa Giêsu.
Và tiếng gọi thứ ba, có lẽ cũng là tiếng gọi sâu nhất, là thuộc trọn về Chúa. Đây chính là đáy của toàn bộ chứng từ ngài. Nếu không có điều này, mọi thứ khác chỉ còn là đạo đức đẹp. Chính vì ngài thuộc về Chúa đủ thật nên mới có thể hy vọng như thế, yêu thương như thế, tha thứ như thế, thanh thoát như thế, tự do như thế. Thuộc về Chúa không phải là cảm giác sốt sắng. Không phải là một vài giờ cầu nguyện sâu. Không phải là thuộc về bằng lời nói. Thuộc về Chúa là để cho Chúa có quyền trên đời mình. Là để cho Ngài lớn hơn kế hoạch của mình. Là để cho Ngài được giữ chỗ trung tâm ngay cả khi mình không hiểu cách Ngài dẫn. Là bám lấy Ngài hơn là bám lấy những gì mình đang làm cho Ngài. Là chấp nhận rằng có ngày Chúa chỉ muốn mình ở với Ngài, thay vì làm những điều to lớn theo mắt thế gian. Là dần dần để mọi lớp bám víu khác bị bóc đi, để cuối cùng phần còn lại sâu nhất là một linh hồn biết mình thuộc về Ai.
Thời đại hôm nay sợ thuộc về. Con người rất thích nói về tự do như khả năng không bị ai đụng tới. Nhưng Tin Mừng lại nói đến một thứ tự do khác: tự do của kẻ thuộc về đúng Đấng. Khi không thuộc về Chúa, người ta sẽ thuộc về đủ thứ khác: thuộc về cái tôi, thuộc về ý riêng, thuộc về sự công nhận, thuộc về ký ức đau buồn, thuộc về tham vọng, thuộc về thành công, thuộc về nỗi sợ, thuộc về những thứ thị phi vô nghĩa. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận giúp chúng ta hiểu rằng thuộc về Chúa không làm con người mất mình. Trái lại, đó là con đường duy nhất để người ta không bị những ông chủ giả làm nô lệ. Thuộc về Chúa không làm người ta kém tự do. Trái lại, chỉ khi thuộc về Chúa, người ta mới thật sự tự do trước khen chê, trước được mất, trước hoàn cảnh, trước chính cái tôi nặng nề của mình.
Và cũng chính ở đây mà lời kết này phải trở thành một lời mời cho mỗi người đọc hãy tự hỏi: trong thời đại hôm nay, tôi đang thuộc về ai? Tôi đang được điều gì định hình? Điều gì đang là trung tâm của tôi? Công việc? Danh dự? Tương lai? Quá khứ? Sự công nhận? Một nỗi đau chưa lành? Một thứ nghiện bận rộn? Một sự tự thương thân âm thầm? Hay thật sự là Chúa? Câu hỏi ấy không dễ. Nhưng nếu không hỏi, người ta sẽ sống rất lâu mà không biết đời mình đang được xây trên nền nào. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận không để ta trốn câu hỏi ấy. Càng đọc ngài, càng bị buộc phải trả lời.
Có lẽ, khi đứng trước cuộc đời ngài, mỗi người cũng phải can đảm tự hỏi mình một câu khác: nếu hôm nay Chúa cho phép một phần những gì tôi đang bám bị lấy đi, tôi còn giữ được Chúa không? Nếu ngày mai tôi không còn làm được như hiện giờ, tôi còn có thể yêu Chúa bằng cách khác không? Nếu một biến cố bất ngờ bẻ đường đời tôi, tôi sẽ phản ứng thế nào? Tôi có đủ nội tâm để không đánh mất trung tâm không? Tôi có thực sự cầu nguyện không? Tôi có thật sự yêu Thánh Thể không? Tôi có thật sự sống từng ngày với Chúa không? Tôi có thật sự thuộc về Hội Thánh không? Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận không đòi ta trả lời bằng những lời lớn. Ngài chỉ mời ta bắt đầu từ hôm nay. Từ giây phút hiện tại. Từ điều nhỏ. Từ một lần trở về trước Nhà Tạm. Từ một quyết định thôi không nuôi một cay đắng nữa. Từ một lời cầu xin thật lòng. Từ một lần chọn Chúa hơn cái tôi. Từ một việc âm thầm nhưng được làm bằng tất cả tình yêu.
Và chính ở đây, lời kết lớn này trở thành lời mời gọi rất cụ thể cho Hội Thánh hôm nay. Hãy làm cho Thánh Thể trở lại trung tâm. Hãy dạy người ta cầu nguyện thật. Hãy đừng quá say mê xây bề mặt mà quên xây linh hồn. Hãy đừng dùng quá nhiều năng lượng để tranh thắng trong những điều phụ mà đánh mất phần chính yếu. Hãy chữa lành ký ức bằng tha thứ. Hãy sống hy vọng giữa những thử thách chứ đừng chỉ nói về hy vọng khi mọi thứ dễ chịu. Hãy nuôi dưỡng người trẻ bằng chiều sâu chứ không chỉ bằng cảm hứng. Hãy giúp các gia đình trở thành Hội Thánh tại gia thật chứ không chỉ là đơn vị sinh hoạt. Hãy giúp linh mục và tu sĩ giữ Chúa hơn giữ công việc. Hãy làm cho Hội Thánh trở nên nơi người ta có thể gặp ánh sáng của Tin Mừng chứ không chỉ gặp một cơ cấu bận rộn.
Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận còn nhắc chúng ta một điều rất dịu dàng mà rất nghiêm túc: đời sống Kitô hữu không được phép chỉ là cầm cự. Nhiều người hôm nay sống đạo như người giữ cho mình đừng sụp thôi. Họ không còn dám hy vọng lớn. Không còn dám mơ đến sự thánh thiện. Không còn nghĩ mình có thể thật sự thuộc trọn về Chúa. Không còn nghĩ mình có thể sống yêu thương đến độ không bị hận thù cai trị. Họ chỉ giữ một vài thực hành, một vài bổn phận, một vài giới hạn để đời đức tin không tắt hẳn. Nhưng Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đứng đó và nói: không, con được gọi nhiều hơn thế. Con được gọi nên thánh. Con được gọi sống hy vọng. Con được gọi yêu đến cùng. Con được gọi thuộc về Chúa thật. Con được gọi để cuộc đời mình, dù ít ỏi đến đâu, vẫn có thể trở thành bánh cho người khác. Đây là tiếng gọi lớn. Và cũng là tiếng gọi đẹp nhất. Không phải gọi ta làm những điều khổng lồ trước mắt thế gian. Nhưng gọi ta đi vào mức độ thật của tình yêu.
Có một vẻ đẹp rất đặc biệt nơi ngài mà phần kết này không thể không nhắc lại: ngài không làm người ta sợ thánh thiện. Nhiều khi ta đọc đời các thánh, các chứng nhân lớn, ta thấy họ quá cao, quá khác, quá xa. Nhưng nơi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, dù cuộc đời ngài lớn lao, người ta vẫn thấy một con đường có thể bước vào. Không vì nó dễ, nhưng vì nó bắt đầu từ những điều rất người, rất cụ thể, rất mỗi ngày. Một lời cầu nguyện trong đêm. Một quyết định tha thứ. Một giờ chầu. Một cử chỉ không cay độc. Một giây phút hiện tại được sống với Chúa. Một lòng yêu Hội Thánh trưởng thành. Một hành vi chọn Chúa hơn cái tôi. Những điều ấy, ai cũng có thể bắt đầu. Và chính vì thế, ngài không chỉ là ngọn núi cao để ngắm. Ngài là con đường để đi.
Khi khép lại cuốn sách này, có lẽ điều quý nhất không phải là ta nhớ được bao nhiêu dữ kiện về cuộc đời Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, dù các dữ kiện ấy rất đáng trân trọng. Điều quý nhất là liệu ta có để cho đời ngài đánh động đời mình không. Liệu từ hôm nay, ta có cầu nguyện khác đi không. Liệu ta có quý Thánh Thể hơn không. Liệu ta có bớt oán hờn một chút không. Liệu ta có bớt sống bị kéo bởi ngày mai và biết sống hôm nay với Chúa hơn không. Liệu ta có để cho công việc lui lại một bước để Chúa bước lên trung tâm không. Liệu ta có yêu Hội Thánh sâu hơn, trưởng thành hơn, bớt than hơn, bớt đứng ngoài hơn không. Liệu ta có dám tin rằng ngay cả đời mình, với tất cả những ít ỏi, những giới hạn, những dang dở, cũng có thể trở thành năm chiếc bánh và hai con cá trong tay Chúa không.
Nếu câu trả lời bắt đầu là có, dù chỉ một chút, thì cuộc đời Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận vẫn đang tiếp tục sinh hoa trái. Nếu một linh mục nhờ ngài mà trở về với giờ chầu, một tu sĩ nhờ ngài mà sống lời khấn thật hơn, một người trẻ nhờ ngài mà bớt sống vội và bắt đầu cầu nguyện, một gia đình nhờ ngài mà tập tha thứ cho nhau, một giáo dân nhờ ngài mà sống Thánh lễ sâu hơn, một người đau khổ nhờ ngài mà không buông Chúa, thì chứng từ của ngài vẫn đang tiếp tục sống. Và đó cũng là vẻ đẹp lạ lùng của những cuộc đời thuộc về Chúa: họ qua đi, nhưng không biến mất. Họ trở thành hạt giống.
Vì thế, lời kết lớn này không phải là một lời chia tay với Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận. Đúng hơn, đây là một lời trao lại. Trao lại ngài cho Hội Thánh hôm nay. Trao lại tiếng gọi của ngài cho linh hồn mỗi người. Trao lại ánh sáng ngài đã giữ trong nhà tù cho những vùng tối của thời đại này. Trao lại linh đạo của ngài cho những ai đang bận mà mệt, đang đau mà khép, đang hoạt động mà thiếu trung tâm, đang giữ đạo mà chưa thật sự sống đạo. Trao lại chứng từ của ngài như một ngọn đèn không chói nhưng rất khó tắt.
Và có lẽ, nếu phải để lại một câu cuối cùng sau tất cả, thì đó có thể là thế này: Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận vẫn đang nói với chúng ta, bằng chính cuộc đời mình, rằng giữa thời đại hôm nay, vẫn có thể sống hy vọng, vẫn có thể sống yêu thương, vẫn có thể thuộc trọn về Chúa. Không phải vì đời dễ. Nhưng vì Chúa là thật. Không phải vì bóng tối đã hết. Nhưng vì ánh sáng mạnh hơn. Không phải vì ta có nhiều. Nhưng vì cái ít của ta, nếu được trao vào tay Người, vẫn có thể trở thành bánh cho cả thế giới.
PHẦN XV: KHI MỘT CUỘC ĐỜI TRỞ THÀNH BÀI GIẢNG, KHI MỘT NGƯỜI TÙ TRỞ THÀNH ÁNH SÁNG, KHI MỘT TÂM HỒN THUỘC TRỌN VỀ CHÚA TRỞ THÀNH QUÀ TẶNG CHO GIÁO HỘI
Và bây giờ, khi đi đến trường đoạn cuối cùng này, có lẽ điều cần làm không phải chỉ là nhắc lại một lần nữa những chặng đường của Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, không phải chỉ là gom các ý tưởng đã đi qua, không phải chỉ là khép lại cuốn sách bằng một vài hàng cảm động để người đọc nhẹ nhàng đặt sách xuống rồi trở về với nhịp sống cũ. Không. Nếu cuộc đời ngài chỉ để được kể lại, thì chúng ta đã phụ cuộc đời ấy. Nếu chứng từ của ngài chỉ để được ngưỡng mộ, thì chúng ta đã đứng quá xa ánh sáng mà Thiên Chúa muốn chiếu qua ngài. Nếu những trang này chỉ để làm lòng người ấm lên trong chốc lát, rồi sau đó mỗi người lại quay về với chính lối sống phân tán, bận rộn, mệt mỏi, cay đắng, hời hợt, nguội lạnh của mình, thì món quà mà Thiên Chúa trao qua cuộc đời Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận vẫn còn nằm nguyên trong hộp, chưa được mở ra thật sự.
Bởi vì cuộc đời này không xin được thương hại. Cuộc đời này không xin được thêu thành huyền thoại. Cuộc đời này không cần thêm một lớp hào quang nhân tạo. Cuộc đời này chỉ xin một điều: được đọc trong ánh sáng của Thiên Chúa và được đón nhận như một lời mời hoán cải. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận không đứng trước chúng ta như một tượng đài lạnh. Ngài đứng như một ngọn lửa. Không cháy kiểu làm người ta choáng mắt, nhưng cháy kiểu âm thầm đi vào bên trong, làm lộ ra những gì còn ẩm, còn nặng, còn tối, còn giả, còn bám, còn chưa thật thuộc về Chúa nơi mỗi chúng ta. Ngài không bảo chúng ta phải trở thành bản sao của ngài. Ngài không kéo ánh nhìn của Giáo hội về phía đời mình để rồi dừng ở đó. Ngài chỉ làm đúng điều một chứng nhân phải làm: mở một con đường về phía Đức Kitô.
Và con đường ấy, nhìn bề ngoài, thật lạ lùng. Bởi nó không bắt đầu từ chiến thắng hữu hình. Nó không bắt đầu từ thành công. Nó không bắt đầu từ quyền lực. Nó không bắt đầu từ một đời êm ả. Nó đi qua gia đình, qua tuổi thơ, qua chủng viện, qua đời linh mục, qua lửa mục vụ, qua những thao thức lớn cho Hội Thánh, rồi đột ngột bị bẻ gãy bởi năm 1975, bị ném vào tù đày, biệt giam, cô độc, thiếu thốn, bị cắt khỏi đoàn chiên, bị cắt khỏi mọi con đường quen thuộc để phục vụ. Và chính ở nơi tưởng như mọi sự đã bị chặn lại ấy, Thiên Chúa lại bắt đầu viết những dòng đẹp nhất. Không phải vì đau khổ tự nó là đẹp. Không phải vì bất công tự nó mang ơn cứu độ. Nhưng vì trong chính nơi đau khổ và bất công ấy, một con người đã không đánh mất Chúa. Một con người đã không để mình trở nên cay đắng. Một con người đã không nhường trung tâm nội tâm cho bóng tối. Một con người đã để cho ân sủng mạnh hơn những gì đang cố phá hủy mình. Và từ đó, cả cuộc đời ngài trở thành một bài giảng. Không phải bài giảng đọc trên bục giảng, nhưng bài giảng viết bằng ngày tháng, bằng xiềng xích, bằng sự trung tín, bằng Thánh Thể, bằng tha thứ, bằng hiện tại, bằng tình yêu không chịu tắt.
Nếu ta phải nói Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận là ai, thì thật ra không một danh xưng nào đủ. Nói ngài là một vị giám mục, đúng nhưng chưa đủ. Nói ngài là một vị hồng y, đúng nhưng chưa đủ. Nói ngài là một người tù vì đức tin, đúng nhưng chưa đủ. Nói ngài là một tác giả thiêng liêng lớn, đúng nhưng chưa đủ. Nói ngài là chứng nhân hy vọng, đúng nhưng vẫn còn chưa chạm hết chiều sâu. Bởi vì nơi ngài, tất cả những điều đó chỉ là những cánh cửa dẫn đến một điều sâu hơn: ngài là một con người đã thật sự thuộc về Chúa. Và chính vì thuộc về Chúa, ngài mới có thể đi qua những gì ngài đã đi qua mà không đánh mất linh hồn. Chỉ một câu đó thôi cũng đủ để giải thích toàn bộ cuộc đời ngài. Không phải ngài mạnh vì khí chất. Không phải ngài sáng vì thông minh. Không phải ngài bền vì được bảo vệ khỏi thử thách. Ngài bền vì ngài thuộc về Chúa. Ngài sáng vì ngài ở trong Chúa. Ngài tự do vì ngài chọn Chúa hơn tất cả những gì từng làm thành khung đỡ cho cuộc đời mình.
Có lẽ điểm kỳ diệu nhất nơi ngài là: càng bị lấy đi nhiều thứ, điều cốt lõi càng hiện rõ. Khi còn công việc, còn sứ vụ hữu hình, còn giáo phận, còn hoạt động, người ta vẫn có thể nói về tình yêu với Chúa, về lòng nhiệt thành, về tinh thần phục vụ. Nhưng chỉ khi những điều ấy bị lấy đi, ta mới biết một người đang bám vào gì. Nếu ngài chỉ bám vào công việc của Chúa, đời ngài đã gãy khi công việc ấy bị cắt ngang. Nếu ngài chỉ bám vào vai trò mục tử theo nghĩa bên ngoài, đời ngài đã rơi vào vô nghĩa khi bị nhốt lại. Nếu ngài chỉ bám vào những nâng đỡ hữu hình của Hội Thánh, ngài đã chết dần trong cô độc. Nhưng điều xảy ra lại khác. Chính trong lúc mọi cái phụ bị bóc đi, điều chính lại sáng lên: Chúa là đủ. Thánh Thể là đủ. Giây phút hiện tại là nơi đủ để yêu. Của lễ âm thầm vẫn là một hình thức phục vụ thật. Tha thứ là con đường giữ linh hồn khỏi tối. Hội Thánh vẫn là nơi mình thuộc về, dù mình không còn đứng giữa Hội Thánh như trước. Đây không phải là những ý tưởng đẹp. Đây là xương thịt của cả một cuộc đời.
Và có lẽ, điều làm cho ngài trở thành quà tặng đặc biệt cho Giáo hội Việt Nam chính là ở đây: giữa một lịch sử đã đi qua quá nhiều đau thương, ngài không dạy chúng ta cách giữ vết thương như căn tính. Ngài dạy chúng ta cách để vết thương được cứu chuộc. Giữa một bối cảnh mà con người rất dễ lấy ký ức đau buồn để nuôi lớn nghi ngại, giận dữ, phòng thủ, ngài dạy cách tha thứ. Giữa một thế giới ưa đo mọi giá trị bằng hiệu quả, ngài dạy cách quý điều nhỏ. Giữa một Hội Thánh có thể dễ rơi vào cám dỗ bận rộn vì Chúa mà ít sống với Chúa, ngài dạy chọn chính Chúa hơn việc của Chúa. Giữa một thời đại mà người ta nói nhiều về tự do nhưng lại sống rất bị trói buộc bởi nỗi sợ, nỗi đau, tham vọng, quá khứ, ngài dạy tự do nội tâm. Giữa một thời mà nhiều tín hữu vẫn có thể giữ đạo mà chưa sống đạo, ngài dạy trở về với phần cốt lõi: Thánh Thể, cầu nguyện, hiện tại, tha thứ, hy vọng, hiệp thông, thuộc về.
Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, vì thế, không chỉ là một món quà để Giáo hội Việt Nam tự hào. Ngài là món quà để Giáo hội Việt Nam bị chất vấn. Bị đánh thức. Bị kéo trở về với Tin Mừng nguyên tuyền. Bị hỏi rằng: các con đang sống gì vậy? Các con có còn sống từ Chúa không? Các con có còn để Thánh Thể là trung tâm không? Các con có còn tin vào sức mạnh của điều nhỏ được làm bằng tình yêu lớn không? Các con có còn biết tha thứ không? Các con có còn là Hội Thánh của hy vọng không? Các con có còn giữ lòng mình khỏi đen đi giữa những va chạm của đời sống, của mục vụ, của lịch sử, của cộng đoàn không? Hay các con đang dần thay linh đạo bằng cơ chế, thay cầu nguyện bằng bận rộn, thay hiệp thông bằng phe nhóm, thay niềm hy vọng bằng một kiểu cầm cự ngoan đạo, thay thuộc về bằng một kiểu đứng ngoài phán xét?
Và không chỉ Giáo hội Việt Nam. Cả thế giới hôm nay cũng cần ngài. Cần ngài vì thế giới quá giỏi về phương tiện mà quá nghèo về chiều sâu. Quá nhanh về thông tin mà quá mong manh trong linh hồn. Quá nhiều tiếng nói mà quá thiếu thinh lặng. Quá nhiều kết nối mà quá ít hiệp thông thật. Quá nhiều công cụ để nói về hạnh phúc mà lại quá nhiều con người không biết sống bình an. Quá nhiều ngôn ngữ về tự do mà lại quá nhiều trái tim bị trói. Trong một thế giới như thế, Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận hiện ra như chứng từ rằng con người không sống được chỉ bằng không gian bên ngoài, nhưng bằng không gian bên trong. Không sống được chỉ bằng việc được làm điều mình muốn, nhưng bằng việc biết mình thuộc về ai. Không sống được chỉ bằng việc kiểm soát đời mình, nhưng bằng việc phó thác đời mình cho Đấng lớn hơn. Không sống được chỉ bằng việc tránh đau khổ, nhưng bằng cách yêu trong đau khổ mà không đánh mất Thiên Chúa.
Ngài dạy cho thế giới một thứ ngôn ngữ mà thế giới ngày nay rất quên: ngôn ngữ của hiện tại. Thế giới hôm nay sống bị xé giữa quá khứ và tương lai. Người ta tiếc, người ta sợ, người ta chạy, người ta dự đoán, người ta ám ảnh, người ta lo lường, người ta sống như thể hiện tại chỉ là cây cầu để chạy tới một điểm nào đó xa hơn. Nhưng Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận nhắc rằng chính hiện tại mới là nơi gặp Chúa. Chính hiện tại mới là nơi có thể yêu. Chính hiện tại mới là nơi cứu linh hồn khỏi bị xé đôi bởi tiếc nuối và sợ hãi. Đây không phải là một khẩu hiệu “sống cho hiện tại” theo kiểu nông cạn của thế gian. Đây là mặc khải thiêng liêng: Thiên Chúa không chờ ta ở một ngày mai tưởng tượng. Ngài ở trong giây phút ta đang sống. Và nếu ta bỏ giây phút ấy, ta bỏ chính cuộc gặp với Ngài. Đây là ánh sáng lớn cho cả một thời đại đang kiệt sức vì không biết ở đâu với chính mình.
Ngài cũng dạy cho thế giới một thứ ngôn ngữ khác mà thời đại này gần như không còn hiểu đúng: ngôn ngữ của tha thứ. Không phải tha thứ như một chiến lược để dễ sống hơn. Không phải tha thứ như một cách xử lý tâm lý cho bớt nặng lòng. Nhưng tha thứ như một chiến thắng thiêng liêng. Tha thứ như việc không cho phép sự dữ có tiếng nói cuối cùng trong linh hồn mình. Tha thứ như cách bảo vệ sự sống bên trong khỏi bị nhiễm độc. Tha thứ như hành vi của người chọn Chúa hơn vết thương. Một thế giới đang bị xé nát bởi phân cực, hận thù, chia phe, trả đũa, nghi ngờ, kết án, sẽ không được cứu chỉ bằng những cơ chế hòa giải bên ngoài. Thế giới cần những linh hồn biết tha thứ thật. Và Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận là một chứng từ rất sáng cho điều đó.
Nhưng trên tất cả, ngài dạy cho cả thế giới lẫn Hội Thánh điều duy nhất thật sự cứu con người: thuộc trọn về Chúa. Đó là điểm lớn nhất. Điểm đẹp nhất. Điểm làm cho tất cả những điều khác có ánh sáng. Bởi không thuộc về Chúa, người ta sẽ sớm biến hy vọng thành lạc quan tâm lý, biến tha thứ thành kỹ năng, biến hiện tại thành mẹo sống, biến Thánh Thể thành nghi thức, biến Hội Thánh thành tổ chức, biến mục vụ thành nghề, biến đời tu thành nếp sống, biến linh mục thành vai trò, biến đức tin thành văn hóa. Nhưng khi thuộc về Chúa thật, mọi sự trở lại đúng chỗ. Hy vọng có nền. Tha thứ có lửa. Hiện tại có ý nghĩa. Thánh Thể là trái tim. Hội Thánh là mái nhà. Sứ vụ là hiến lễ. Đời sống là quà tặng. Đau khổ là nơi được cứu chuộc. Và cái ít ỏi của đời người không còn phải xấu hổ nữa, vì trong tay Chúa, nó có thể thành bánh cho muôn người.
Cho nên, nếu có ai hỏi rằng sau cùng, Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận muốn nói gì với thời đại hôm nay, có lẽ câu trả lời không cần dài: hãy giữ Chúa. Hãy giữ Chúa khi làm việc. Hãy giữ Chúa khi không còn làm được gì. Hãy giữ Chúa khi đời đang sáng. Hãy giữ Chúa khi mọi sự tối đi. Hãy giữ Chúa khi được hiểu. Hãy giữ Chúa khi bị hiểu sai. Hãy giữ Chúa khi còn nhiều người quanh mình. Hãy giữ Chúa trong cô độc. Hãy giữ Chúa khi trẻ. Hãy giữ Chúa khi già. Hãy giữ Chúa trong thành công. Hãy giữ Chúa trong thất bại. Hãy giữ Chúa trong gia đình. Hãy giữ Chúa trong ơn gọi. Hãy giữ Chúa trong nhà tù hữu hình và vô hình. Vì nếu còn Chúa, ta chưa mất điều chính yếu. Và nếu mất Chúa, thì dù còn rất nhiều thứ khác, đời ta vẫn đang nghèo.
Có lẽ, đây cũng là lúc phải nói với người đọc rằng cuốn sách này, dù đã đi qua nhiều phần, nhiều tầng, nhiều chặng, vẫn chỉ mới đứng ở ngưỡng cửa của một mầu nhiệm. Cuộc đời Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận không thể được chứa hết trong chữ. Cũng như không một bài giảng nào chứa hết Tin Mừng. Điều quan trọng không phải là ta đã hiểu hết ngài hay chưa. Điều quan trọng là ta có dám để cuộc đời ấy động vào đời mình hay chưa. Có dám để lời chứng ấy làm mình mất yên ổn thánh thiện hay chưa. Có dám để ngài cắt vào những chỗ ta đang bám, đang sợ, đang giả, đang nguội, đang cay, đang bận mà rỗng, đang hoạt động mà thiếu Chúa hay chưa. Nếu có, thì cuốn sách này chưa thật sự kết thúc. Nó chỉ bắt đầu đi vào đời sống.
Vì thế, trường đoạn kết mở rộng này không khép lại như một cánh cửa đóng. Nó mở ra như một lời công bố, một lời trao gửi, một lời nguyện, một lời mời bước theo. Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận không chỉ là chứng nhân của một thời đã qua. Ngài là ánh sáng cho hôm nay. Là bài giảng cho hôm nay. Là tiếng gọi cho hôm nay. Là lời nhắc cho hôm nay. Là món quà cho hôm nay. Và giữa thời đại của quá nhiều bận rộn, quá nhiều lo âu, quá nhiều bóng tối, quá nhiều lời nói nhưng quá ít sự thật được sống, ngài vẫn đang đứng đó như một con người của Tin Mừng mà chỉ cần nhìn lâu một chút, ai cũng phải thấy lòng mình bị hỏi.
Ngài hỏi các linh mục: con có yêu Ta hơn công việc của Ta không?
Ngài hỏi các tu sĩ: con có thật sự nghèo trong lòng không?
Ngài hỏi người trẻ: con đang chạy đi đâu, và con có giữ Chúa trong bước chạy ấy không?
Ngài hỏi các gia đình: nhà con có còn là nơi chuẩn bị linh hồn cho trời không?
Ngài hỏi mọi tín hữu: con có đang sống đạo thật, hay chỉ đang giữ một hình thức quen thuộc?
Ngài hỏi cả Hội Thánh: con có còn là Hội Thánh của Thánh Thể, của hy vọng, của tha thứ và của lòng thuộc về không?
Và khi tất cả những câu hỏi ấy đi qua, điều còn lại không phải là áp lực, nhưng là một niềm an ủi rất sâu. Bởi vì nếu Thiên Chúa đã làm được điều kỳ diệu ấy nơi cuộc đời của một con người bằng xương bằng thịt như Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, thì Ngài vẫn còn có thể làm việc trong chúng ta. Không nhất thiết theo cùng cách. Không nhất thiết qua những thử thách giống nhau. Nhưng cùng một ân sủng ấy vẫn còn. Cùng một Chúa ấy vẫn còn. Cùng một Thánh Thể ấy vẫn còn. Cùng một Tin Mừng ấy vẫn còn. Cùng một lời mời gọi thuộc về, hy vọng, yêu thương, tha thứ, sống hiện tại, giữ điều chính yếu, vẫn còn. Điều còn thiếu chỉ là ta có mở lòng đủ để đón lấy hay không.
Và thế là, khép lại tác phẩm này, điều ta muốn làm không phải chỉ là cúi đầu trước một cuộc đời đẹp, nhưng là quỳ xuống trước Thiên Chúa của cuộc đời ấy. Chính Ngài mới là nguồn. Chính Ngài mới là ánh sáng. Chính Ngài mới là Đấng làm cho nhà tù không thắng được một linh hồn. Chính Ngài mới là Đấng làm cho một người bị bẻ ra trở thành bánh cho cả thế giới. Chính Ngài mới là Đấng làm cho một người tù trở thành chứng nhân hy vọng. Chính Ngài mới là Đấng làm cho một người con của Giáo hội Việt Nam trở thành quà tặng cho Hội Thánh hoàn vũ. Và nếu có điều gì đẹp nơi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, thì sau cùng, tất cả đều là phản chiếu của Chúa Giêsu.
Xin cho chúng ta đừng chỉ đọc ngài. Xin cho chúng ta học ngài.
Xin cho chúng ta đừng chỉ cảm phục ngài. Xin cho chúng ta bước theo điều nơi ngài đã bước theo Chúa.
Xin cho chúng ta đừng chỉ nhắc tên ngài trong những dịp trang trọng. Xin cho chúng ta để đời ngài sửa lại đời mình.
Xin cho chúng ta, giữa thời đại hôm nay, biết sống hy vọng khi dễ tuyệt vọng, biết sống yêu thương khi dễ khép lòng, biết sống thuộc trọn về Chúa khi quá nhiều thứ đang kéo mình ra xa Ngài.
Xin cho chúng ta biết làm điều nhỏ với tình yêu lớn.
Xin cho chúng ta biết chọn Chúa hơn công việc của Chúa.
Xin cho chúng ta biết yêu Thánh Thể như trung tâm thật của đời mình.
Xin cho chúng ta biết sống hiện tại như nơi duy nhất Chúa đang đợi ta.
Xin cho chúng ta biết yêu Hội Thánh trưởng thành hơn, sâu hơn, hiệp thông hơn.
Xin cho chúng ta biết tha thứ để không nhường linh hồn mình cho bóng tối.
Xin cho chúng ta biết tin rằng cái ít ỏi của đời mình, nếu được đặt vào tay Chúa, vẫn có thể trở thành bánh.
Và xin cho ánh sáng từ cuộc đời Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận không chỉ còn nằm trên những trang sách, nhưng đi vào đời sống của chúng ta, vào gia đình chúng ta, vào giáo xứ chúng ta, vào cộng đoàn chúng ta, vào các chủng viện, các nhà dòng, các nhóm trẻ, vào từng linh hồn đang mệt, đang đau, đang lo, đang tìm, đang chờ, đang khát một con đường thật.
Vì con đường ấy có thật.
Ngài đã đi.
Và ngài vẫn đang chỉ cho chúng ta.
PHẦN PHỤ LỤC KẾT CUỐI
LỜI NGUYỆN DÂNG LÊN CHÚA THEO TINH THẦN ĐỨC HỒNG Y NGUYỄN VĂN THUẬN
Lạy Chúa Giêsu,
con đến trước mặt Chúa không phải với sự mạnh mẽ của riêng con, không phải với thành công của con, không phải với những gì con đã làm được, nhưng với tất cả sự nghèo nàn, yếu đuối, bấp bênh và giới hạn của đời con. Con đến với Chúa như một người biết rằng nếu không có Chúa, lòng con sẽ nhanh chóng lạc hướng; nếu không có Chúa, những bận rộn của con sẽ nuốt mất phần sâu nhất của linh hồn con; nếu không có Chúa, con sẽ dễ biến đau khổ thành cay đắng, biến thất bại thành tuyệt vọng, biến vết thương thành chỗ trú ngụ lâu dài của bóng tối.
Lạy Chúa,
xin dạy con biết chọn Chúa hơn công việc của Chúa. Xin dạy con biết yêu Chúa hơn cảm giác được hữu ích cho Chúa. Xin đừng để con quá bận rộn với những điều con làm cho Chúa đến mức quên chính Chúa đang chờ con trong thinh lặng, trong Nhà Tạm, trong Lời Chúa, trong giây phút hiện tại, trong những điều rất nhỏ mà con thường đi qua quá nhanh. Xin cho con biết dừng lại. Xin cho con biết quỳ xuống. Xin cho con biết ở lại. Xin cho con biết rằng phần đẹp nhất của đời mình không phải là phần được người ta nhìn thấy, nhưng là phần được Chúa nhìn thấy.
Lạy Chúa,
xin dạy con sống giây phút hiện tại. Xin cứu con khỏi nỗi ám ảnh về quá khứ, khỏi những nuối tiếc kéo dài, khỏi những vết thương con cứ chạm đi chạm lại để rồi càng đau càng khép. Xin cứu con khỏi nỗi lo âu về tương lai, khỏi sự sợ hãi không ngừng, khỏi thói quen muốn kiểm soát mọi điều rồi mệt lả vì nhận ra con không thể. Xin dạy con sống hôm nay với Chúa. Xin cho con biết rằng hôm nay là nơi ân sủng đang chờ. Hôm nay là nơi con có thể yêu. Hôm nay là nơi con có thể tha thứ. Hôm nay là nơi con có thể làm điều nhỏ với tình yêu lớn. Hôm nay là nơi con có thể thuộc về Chúa thật hơn ngày hôm qua.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,
xin cho con biết yêu Chúa hơn. Không chỉ yêu bằng lời nói. Không chỉ yêu bằng thói quen đi lễ. Không chỉ yêu bằng những cử chỉ bề ngoài. Nhưng yêu thật. Yêu đến mức thấy Chúa là lương thực không thể thiếu. Yêu đến mức thấy một ngày không có cầu nguyện là một ngày tâm hồn khô lại. Yêu đến mức thấy Nhà Tạm không phải là một góc quen thuộc của nhà thờ, nhưng là trái tim của đời sống con. Xin cho con biết run lên vì được rước Chúa. Xin cho con biết xấu hổ thánh thiện vì nhiều lần con đã quen quá dễ với ân huệ lớn lao này. Xin cho con biết trở về. Xin cho con biết ngồi yên trước Chúa. Xin cho con biết để Thánh Thể dạy con thế nào là hiến dâng, thế nào là bẻ ra, thế nào là sống cho người khác mà không mất Chúa.
Lạy Chúa,
xin dạy con biết tha thứ. Con yếu lắm. Có những điều làm con đau rất lâu. Có những người làm con tổn thương đến mức chỉ cần nhớ lại là lòng con đã nặng. Có những ký ức khiến con muốn khép lại. Có những oan ức khiến con muốn giữ quyền kết án. Nhưng lạy Chúa, con không muốn sống phần còn lại của đời mình dưới quyền của những vết thương. Con không muốn bóng tối ở trong con. Con không muốn sự dữ đi qua đời con rồi tiếp tục sống trong lòng con. Xin cho con biết tha thứ, không phải vì điều ác là nhỏ, nhưng vì Chúa lớn hơn. Xin cho con biết trao lại cho Chúa điều con không thể tự gỡ. Xin cho con biết buông nỗi cay đắng mà con đã ôm quá lâu. Xin cho con biết giữ linh hồn mình trong ánh sáng.
Lạy Chúa,
xin cho con biết yêu Hội Thánh. Không phải bằng một thứ tình yêu non nớt chỉ biết vui khi mọi sự thuận lòng mình. Không phải bằng một thứ gắn bó cảm tính chỉ kéo dài khi con còn được dùng, còn được hiểu, còn được công nhận. Nhưng bằng tình yêu trưởng thành. Tình yêu biết đau mà vẫn ở lại. Tình yêu biết cầu nguyện thay vì chỉ than trách. Tình yêu biết xây thay vì chỉ đứng ngoài nhìn. Tình yêu biết hiệp thông ngay cả khi phải đi qua những giới hạn rất người của anh chị em mình. Xin cho con đừng yêu Hội Thánh như yêu một hình ảnh lý tưởng do con dựng nên. Xin cho con yêu Hội Thánh như yêu Hiền Thê của Chúa, như yêu người mẹ thiêng liêng của con.
Lạy Chúa,
xin nhận lấy cái ít ỏi của con. Con không có nhiều. Có khi con chỉ có một lời cầu nguyện yếu ớt. Có khi con chỉ có một lòng muốn tốt nhưng rất mong manh. Có khi con chỉ có một ngày sống bình thường đầy những mệt mỏi và giới hạn. Có khi con chỉ có vài giọt nước mắt, một nỗi đau không nói được, một cố gắng âm thầm không ai biết. Nhưng lạy Chúa, con xin trao cho Chúa tất cả. Xin đừng để con khinh thường những gì nhỏ bé nơi đời con. Xin cho con tin rằng nếu đặt vào tay Chúa, cả những điều bé nhỏ ấy cũng có thể trở thành bánh.
Lạy Chúa Giêsu,
xin cho con thuộc trọn về Chúa. Không nửa vời. Không theo cảm xúc. Không chỉ trong những ngày sốt sắng. Nhưng trong mọi mùa của đời con. Khi mạnh và khi yếu. Khi được an ủi và khi khô khan. Khi được hiểu và khi cô đơn. Khi thành công và khi thất bại. Khi có nhiều và khi bị lấy mất nhiều. Xin cho Chúa là điều chính yếu còn lại. Xin cho khi mọi cái phụ sụp xuống, Chúa vẫn đứng. Xin cho con có thể mất nhiều thứ mà không mất Chúa. Vì nếu còn Chúa, đời con chưa mất điều quan trọng nhất.
Amen.
LỜI NGUYỆN CHO LINH MỤC
Lạy Chúa Giêsu Thượng Tế đời đời,
xin thương đến các linh mục của Chúa. Xin gìn giữ các ngài trong trái tim Chúa. Xin đừng để các ngài trở nên quá bận rộn với công việc đến mức quên mất tương quan sống động với Chúa là nguồn mọi hoa trái. Xin cứu các ngài khỏi cám dỗ sống bằng hiệu quả, bằng sự công nhận, bằng những thành công mục vụ hữu hình, mà quên rằng điều Chúa cần nhất nơi các ngài là một trái tim thuộc trọn về Chúa.
Xin cho các linh mục yêu Thánh Thể với lòng tươi mới mỗi ngày. Xin cho bàn thờ không trở thành chỗ quen thuộc đến mức mất đi sự run rẩy thánh thiêng. Xin cho giờ chầu không trở thành bổn phận, nhưng là nơi trú ngụ. Xin cho lời giảng của các ngài đi ra từ cầu nguyện. Xin cho việc mục vụ của các ngài đi ra từ tình yêu. Xin cho các ngài biết sống âm thầm, biết vui với điều nhỏ, biết ở lại khi khô khan, biết hiền lành khi bị hiểu lầm, biết can đảm khi phải bảo vệ sự thật, biết khiêm nhường khi được khen, biết thanh thoát khi bị lấy mất vai trò, và biết giữ Chúa hơn giữ mọi điều khác.
Xin nâng đỡ những linh mục đang mệt. Xin chữa lành những linh mục đang bị thương. Xin tìm lại những linh mục đang nguội. Xin an ủi những linh mục đang cô đơn. Xin gìn giữ những linh mục trung tín mà ít ai biết đến. Xin cho mọi linh mục nhớ rằng trước khi là người của công việc, họ là người của Chúa; trước khi là mục tử trước mặt cộng đoàn, họ là người con quỳ trước mặt Cha.
Amen.
LỜI NGUYỆN CHO TU SĨ
Lạy Chúa,
xin thương đến những người đã dâng đời cho Chúa trong đời thánh hiến. Xin giữ cho ngọn lửa ban đầu của họ đừng tắt giữa những ngày đều đều, giữa những va chạm cộng đoàn, giữa những công việc lặp đi lặp lại, giữa những khô khan thiêng liêng mà không phải ai cũng nhìn thấy. Xin cho đời tu của họ không chỉ là một nếp sống đúng quy định, nhưng là một tình yêu đang lớn lên từng ngày.
Xin giải thoát họ khỏi những bám víu tinh vi của lòng mình. Xin cho họ nghèo thật trong tâm hồn. Xin cho họ sống khiết tịnh như một trái tim rộng mở cho Chúa và cho con người. Xin cho họ vâng phục không như người bị buộc, nhưng như người tín thác. Xin cho các cộng đoàn tu trì biết sống với nhau trong bác ái, nhẫn nại, tha thứ và chân thành. Xin cho họ biết yêu nhau bằng những điều rất nhỏ, biết hy sinh âm thầm, biết cầu nguyện cho nhau, biết sửa dạy nhau trong dịu dàng và biết cùng nhau quay về với điều chính yếu là Chúa.
Xin đừng để đời thánh hiến bị cạn dần vì công việc, vì cơ cấu, vì nặng nề nhân loại. Xin cho những người được thánh hiến trở thành dấu chỉ sống động của Nước Trời, của niềm hy vọng, của tự do nội tâm và của một tình yêu không thuộc trọn về trần gian nữa.
Amen.
LỜI NGUYỆN CHO NGƯỜI TRẺ
Lạy Chúa Giêsu,
xin thương đến người trẻ hôm nay. Xin thương những tâm hồn đang sống giữa quá nhiều tiếng gọi, quá nhiều chọn lựa, quá nhiều áp lực phải thành công, phải hơn người, phải có tương lai rõ ràng, phải không bị lạc lại phía sau. Xin thương những người trẻ đang mạnh bên ngoài nhưng mệt bên trong. Xin thương những người trẻ đang cười nhiều nhưng lòng rất cô đơn. Xin thương những người trẻ đang khát điều lớn nhưng lại dễ bị cuốn vào những điều nhỏ nhặt và chóng qua.
Xin cho họ gặp được Chúa thật. Không chỉ như một ý niệm tôn giáo, không chỉ như một bổn phận gia đình truyền lại, nhưng như Đấng sống, Đấng gọi tên họ, Đấng yêu họ, Đấng có kế hoạch đẹp cho đời họ. Xin cho họ đừng sống vội đến mức không còn nghe được tiếng Chúa. Xin cho họ biết cầu nguyện, biết thinh lặng, biết yêu Lời Chúa, biết quý Thánh lễ, biết giữ sự trong sạch của tâm hồn giữa một thế giới dễ làm lòng người phân tán.
Xin cho người trẻ đừng sợ sự nhỏ bé. Xin cho họ biết rằng một đời đáng sống không phải là đời rực rỡ nhất trước mắt người đời, nhưng là đời thật nhất trước mặt Chúa. Xin cho họ biết dâng cái ít ỏi của mình cho Chúa. Xin cho họ biết chọn điều đúng dù khó. Xin cho họ biết đứng dậy sau sa ngã. Xin cho họ biết tìm những người hướng dẫn thiêng liêng tốt. Xin cho họ biết yêu cha mẹ, yêu sự thật, yêu điều thiện, yêu ơn gọi Chúa dành cho mình.
Amen.
LỜI NGUYỆN CHO CÁC GIA ĐÌNH
Lạy Chúa là nguồn mạch mọi tình yêu,
xin chúc lành cho các gia đình. Xin gìn giữ những gia đình đang bình an để họ đừng quên cầu nguyện và biết ơn. Xin nâng đỡ những gia đình đang nặng gánh cơm áo, bệnh tật, áp lực, căng thẳng và mỏi mệt. Xin chữa lành những gia đình đang có vết thương không nói được. Xin kéo gần lại những người trong cùng một mái nhà mà tâm hồn đã đi quá xa nhau. Xin cứu những gia đình khỏi sự lạnh dần, khỏi sống cạnh nhau mà không còn thật sự gặp nhau, khỏi những im lặng nặng nề, khỏi những tự ái kéo dài, khỏi những lời làm đau mà không ai chịu xin lỗi.
Xin làm cho mỗi gia đình trở thành Hội Thánh tại gia thật. Xin cho các bậc cha mẹ biết cầu nguyện với con cái và cho con cái. Xin cho gia đình biết dành chỗ cho Chúa trong nhà mình, không chỉ bằng ảnh tượng treo trên tường, mà bằng giờ kinh, bằng thói quen trở về với nhau, bằng sự tha thứ, bằng sự lắng nghe, bằng sự trung thành với Thánh lễ và đời sống bí tích. Xin cho cha mẹ đừng chỉ lo cho con có tương lai trần thế, nhưng biết lo cho linh hồn con. Xin cho con cái biết hiếu thảo, biết kính trọng cha mẹ, biết thương gia đình mình, biết nhận ra những hy sinh âm thầm của cha mẹ.
Xin cho các gia đình học yêu nhau bằng những điều nhỏ mỗi ngày. Xin cho mỗi mái nhà, dù nghèo hay giàu, dù đơn sơ hay đầy đủ, vẫn có thể trở thành nơi Chúa được yêu mến, nơi con người được lớn lên trong sự thật, nơi các linh hồn được chuẩn bị cho Nước Trời.
Amen.
LỜI NGUYỆN CHO MỌI TÍN HỮU
Lạy Chúa,
xin thương đến Dân Chúa đang bước đi giữa lòng thế giới hôm nay. Xin cho chúng con đừng chỉ giữ đạo bằng thói quen, nhưng sống đạo bằng trái tim. Xin đừng để chúng con quen với những điều thánh đến mức không còn rung động. Xin cho chúng con biết quay về với Bí tích Hòa Giải, với Thánh Thể, với Lời Chúa, với cầu nguyện, với sự thật của lòng mình. Xin cứu chúng con khỏi lối sống phân tán, khỏi sự bận rộn làm khô linh hồn, khỏi thứ đạo đức chỉ còn là bề mặt.
Xin cho chúng con biết yêu Hội Thánh trưởng thành hơn. Biết cầu nguyện cho nhau nhiều hơn là phán xét nhau. Biết xây nhiều hơn là than. Biết hiệp thông nhiều hơn là chia phe. Biết tha thứ nhiều hơn là nhớ lỗi. Biết sống hy vọng giữa một thế giới dễ tuyệt vọng. Biết giữ tâm hồn sáng giữa một thế giới dễ làm lòng người mệt và tối đi.
Xin cho mỗi người chúng con, trong bậc sống riêng của mình, biết làm điều nhỏ với tình yêu lớn. Xin cho chúng con không xấu hổ vì sự bé nhỏ của mình, nhưng biết đem cả sự bé nhỏ ấy đặt vào tay Chúa. Xin cho chúng con tin rằng điều ít ỏi của một đời sống bình thường, nếu được thánh hóa, vẫn có thể trở thành bánh cho người khác.
Amen.
KẾT RẤT CHẬM
Giờ đây,
khi khép lại những trang cuối cùng này,
xin đừng vội khép lại trái tim mình.
Xin đừng chỉ nhớ đến một vị hồng y.
Xin đừng chỉ nhớ đến một người tù.
Xin đừng chỉ nhớ đến một cuộc đời đẹp.
Xin nhớ đến một ngọn lửa.
Một ngọn lửa đã cháy giữa đêm.
Một ngọn lửa đã không tắt giữa cô độc.
Một ngọn lửa đã không đầu hàng giữa hận thù.
Một ngọn lửa đã giữ ánh sáng của Chúa cho cả Hội Thánh.
Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
không chỉ để lại cho chúng ta một ký ức.
Ngài để lại một con đường.
Con đường ấy không trải bằng những ngày dễ chịu.
Con đường ấy đi qua thập giá.
Đi qua chờ đợi.
Đi qua thinh lặng.
Đi qua nước mắt.
Đi qua những điều bị lấy mất.
Đi qua những đêm không biết khi nào sáng.
Nhưng con đường ấy không dẫn vào tuyệt vọng.
Con đường ấy dẫn vào Chúa.
Ngài nhắc chúng ta rằng
người ta có thể lấy đi nhiều thứ khỏi đời ta,
nhưng không ai có thể lấy Chúa khỏi ta
nếu chính ta không buông Ngài ra.
Ngài nhắc chúng ta rằng
điều chính yếu không phải là ta làm được bao nhiêu cho Chúa,
nhưng là ta có thật sự thuộc về Chúa không.
Ngài nhắc chúng ta rằng
một giây phút hiện tại được sống với tất cả tình yêu
quý hơn rất nhiều
so với những giấc mơ lớn mà ta chưa bao giờ bắt đầu sống.
Ngài nhắc chúng ta rằng
điều nhỏ không hề nhỏ
nếu được đặt vào tay Thiên Chúa.
Ngài nhắc chúng ta rằng
tha thứ không làm ta yếu đi,
nhưng trả lại tự do cho linh hồn ta.
Ngài nhắc chúng ta rằng
Thánh Thể không phải là một thói quen đạo đức,
nhưng là trái tim của đời sống Kitô hữu.
Ngài nhắc chúng ta rằng
Hội Thánh không chỉ là nơi để ta sinh hoạt,
nhưng là nơi để ta thuộc về,
để ta yêu,
để ta cầu nguyện,
để ta cùng nhau bước về trời.
Và giờ đây,
giữa thời đại hôm nay,
giữa những xao động của lòng người,
giữa những lo âu chưa dứt,
giữa những vết thương còn đau,
giữa những mỏi mệt âm thầm,
giữa những lần ta muốn buông xuôi,
xin hãy nghe thật chậm lời mời của cuộc đời ấy:
Hãy giữ Chúa.
Hãy giữ Chúa trong lòng mình.
Hãy giữ Chúa trong gia đình mình.
Hãy giữ Chúa trong ơn gọi mình.
Hãy giữ Chúa trong đau khổ.
Hãy giữ Chúa trong thành công.
Hãy giữ Chúa trong cô độc.
Hãy giữ Chúa khi bị hiểu lầm.
Hãy giữ Chúa khi không còn gì trong tay.
Vì nếu còn Chúa,
ta chưa mất điều quan trọng nhất.
Xin cho chúng ta
biết sống hy vọng khi người khác buông xuôi.
Biết sống yêu thương khi người khác khép lòng.
Biết sống thật khi người khác chỉ giữ vẻ ngoài.
Biết cầu nguyện khi người khác chỉ chạy theo tiếng ồn.
Biết quỳ xuống khi người khác chỉ muốn chứng tỏ mình.
Biết làm điều nhỏ với tình yêu lớn.
Biết chọn Chúa hơn mọi sự.
Biết thuộc trọn về Chúa
giữa chính thời đại này.
Và nếu một ngày nào đó
đời ta cũng bị bẻ ra,
xin cho ta đừng sợ.
Nếu một ngày nào đó
mọi chỗ dựa phụ bị lấy đi,
xin cho ta đừng hoảng.
Nếu một ngày nào đó
ta phải bước vào đêm,
xin cho ta nhớ
đã có một người đi trước,
đã có một chứng nhân giữ lửa,
đã có một người con của Giáo hội Việt Nam
đã chứng minh cho ta thấy
rằng giữa đêm tối,
vẫn có thể sống hy vọng;
giữa hận thù,
vẫn có thể sống mến yêu;
giữa tù ngục,
vẫn có thể tự do;
giữa mất mát,
vẫn có thể thuộc trọn về Chúa.
Và xin cho khi khép lại những dòng này,
chúng ta không chỉ khép sách,
nhưng mở lòng.
Không chỉ dừng ở cảm động,
nhưng bước vào hoán cải.
Không chỉ nhớ đến một cuộc đời đẹp,
nhưng bắt đầu sống đẹp hơn.
Không chỉ nói về ánh sáng,
nhưng thật sự giữ lấy ánh sáng.
Vì Chúa vẫn còn đó.
Thánh Thể vẫn còn đó.
Hội Thánh vẫn còn đó.
Con đường vẫn còn đó.
Và tiếng gọi nên thánh
vẫn còn đó.
Amen.
Lm. Anmai, CSsR



