Kỹ năng sống

YÊU MẾN THÁNH GIÁ – Lm. Anmai, CSsR

 

 

YÊU MẾN THÁNH GIÁ

Làm sao để yêu mến Thánh Giá Chúa Giêsu

Một hành trình từ sợ hãi đến tình yêu

“Nếu ai muốn theo Tôi, hãy từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” (Mc 8,34)

Lm. Anmai, CSsR

Dâng

Con dâng cuốn sách nhỏ này dưới chân Thánh Giá Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã yêu con đến cùng.

Con dâng cho Đức Maria, người phụ nữ đứng vững dưới chân thập giá khi cả thế giới quay lưng.

Con dâng cho các thánh tử đạo Việt Nam, những người đã hôn Thánh Giá trước khi đổ máu.

Và con dâng cho anh chị em đang vác thánh giá thầm lặng: bệnh tật, cô đơn, thất bại, ơn gọi bị hiểu lầm, gia đình tan vỡ, đêm tối đức tin. Xin Chúa biến thánh giá của anh chị em thành nguồn sự sống.

Lm. Anmai, CSsR

Lời mở đầu

Có những điều trong đời sống đức tin ta nói rất nhiều nhưng yêu rất ít. Thánh Giá là một trong những điều ấy.

Ta đeo Thánh Giá trên ngực. Ta làm dấu Thánh Giá khi vào nhà thờ. Ta treo Thánh Giá trên tường. Ta hát “Kính chào Thánh Giá” trong Tuần Thánh. Nhưng khi thánh giá thật sự đến — không phải gỗ sơn son, mà là mất mát, bệnh tật, bị hiểu lầm, bị phản bội, bị bỏ rơi, đêm tối cầu nguyện không còn cảm xúc — ta sợ. Ta trốn. Ta hỏi Chúa: “Tại sao con?”

Cuốn sách này không viết để giải thích đau khổ cho xong chuyện. Đau khổ không cần một lời giải thích gọn ghẽ. Đau khổ cần một Người. Người ấy đang treo trên Thánh Giá, và Người ấy không giải thích: Người ấy ở lại.

Yêu mến Thánh Giá không phải là yêu đau đớn. Không ai lành mạnh lại yêu đau đớn vì chính đau đớn. Yêu mến Thánh Giá là yêu Chúa Giêsu đã yêu đến cùng trên cây gỗ ấy. Yêu mến Thánh Giá là chấp nhận rằng con đường yêu thương đích thực không vòng qua thập giá, nhưng đi xuyên qua thập giá.

Con viết sách này như một linh mục đã từng sợ Thánh Giá, đã từng cầu nguyện cho thánh giá được cất đi, đã từng nghĩ rằng đức tin mạnh thì đời phải êm. Rồi đời dạy tôi điều Kinh Thánh đã nói từ đầu: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Tôi và vì Tin Mừng thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (Mc 8,35).

Sách viết dài vì tình yêu Thánh Giá không thể nói vội. Nó phải được ngồi lại, nhìn lại, khóc lại, rồi đứng dậy. Từng chương là một bước. Đừng đọc như đọc báo. Đọc như cầu nguyện. Đọc rồi im lặng. Im lặng rồi sống.

Nếu sau khi đọc, anh chị em không “thích đau khổ” hơn — tốt. Tôi không muốn điều đó. Tôi chỉ mong một điều: anh chị em nhìn Thánh Giá và thấy một trái tim đang đập vì mình. Và từ trái tim ấy, anh chị em dám ôm lấy thánh giá đời mình không còn như kẻ thù, nhưng như chỗ Chúa đang đứng chờ.

Lm. Anmai, CSsR

CHƯƠNG I. THÁNH GIÁ KHÔNG PHẢI ĐỒ TRANG SỨC

Thánh Giá đã trở thành quá quen thuộc với người Kitô hữu. Quen đến độ đôi khi ta đi ngang qua một cây Thánh Giá mà không còn ngước nhìn. Quen đến độ ta có thể làm dấu Thánh Giá từ sáng đến tối nhưng lòng vẫn rất xa mầu nhiệm Thánh Giá. Quen đến độ Thánh Giá có thể nằm trên bàn thờ, trên bức tường phòng khách, trên cổ, trên chuỗi Mân Côi, trên áo, trên nhẫn, trên xe, trên mộ phần của người thân, nhưng lại không còn có sức lay động lương tâm ta. Có những điều vì quá quý mà ta thường xuyên đặt trước mắt; nhưng cũng chính vì chúng ở trước mắt quá lâu nên ta dễ không còn thấy nữa. Thánh Giá là một trong những thực tại như thế. Ta đã quen nhìn Thánh Giá bằng đôi mắt của người sống sau hai ngàn năm Kitô giáo. Ta nhìn một cây thập giá bằng gỗ quý, bằng bạc, bằng vàng, bằng đá cẩm thạch; ta nhìn những tượng chịu nạn được chạm trổ tinh xảo, được đặt giữa ánh nến, hoa tươi, hương thơm, thánh nhạc. Nhưng nếu muốn hiểu Thánh Giá là gì, ta phải cố gắng trở lại với cái nhìn của một người sống ở thế kỷ thứ nhất. Khi ấy, thập giá hoàn toàn không đẹp. Nó không phải một biểu tượng tôn giáo. Nó không phải vật trang sức. Không một bà mẹ nào đeo hình thập giá vào cổ con mình. Không một gia đình nào treo thập giá trang trọng trong phòng khách. Không một người nào nhìn thấy thập giá mà cảm thấy bình an. Thập giá là nỗi kinh hoàng. Thập giá là lời đe dọa của quyền lực. Thập giá là chỗ những kẻ bị coi là nguy hiểm, những nô lệ nổi loạn, những người bị kết án nặng nề bị treo lên để chết từ từ trong đau đớn và nhục nhã. Người bị đóng đinh không chỉ bị lấy đi mạng sống; người ấy còn bị lấy đi danh dự, bị lột trần phẩm giá trước công chúng, bị biến thành một lời cảnh cáo sống động cho bất cứ ai dám chống lại trật tự của đế quốc. Người bị đóng đinh chết giữa trời và đất, bị người qua đường nhìn ngó, chế giễu, khinh bỉ. Cái chết ấy được thiết kế không chỉ để giết một thân xác mà còn để nghiền nát một con người trong nhục nhã.

Bởi vậy, khi các Tông đồ bắt đầu rao giảng rằng Đức Giêsu thành Nadarét, Đấng đã bị đóng đinh, chính là Đấng Cứu Độ, đó không phải một thông điệp dễ nghe. Thánh Phaolô nói thẳng: “Chúng tôi rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ” (1 Cr 1,23). Hai chữ ấy cần được nghe cho thật kỹ: ô nhục và điên rồ. Kitô giáo khởi đi không phải từ một hình ảnh dễ chịu nhưng từ một nghịch lý gây sốc: Đấng mà Hội Thánh tuyên xưng là Con Thiên Chúa lại chết như một tên tử tội. Đấng mà Hội Thánh gọi là Vua lại đội mão bằng gai. Đấng mà Hội Thánh gọi là Đấng Cứu Độ lại không cứu chính mình khỏi những cây đinh. Đấng mà Hội Thánh gọi là Đấng Toàn Năng lại để mình bị trói, bị đánh, bị khạc nhổ, bị xét xử, bị lôi đi giữa đám đông, bị treo lên giữa hai kẻ gian. Đấng mà Hội Thánh tin là Sự Sống lại chết. Đó là điều không thể hiểu nếu ta chỉ nhìn bằng lôgic quyền lực của thế gian. Nhưng chính ở nơi thế gian chỉ nhìn thấy thất bại, Thiên Chúa lại tỏ lộ chiến thắng. Nơi con người chỉ nhìn thấy sự yếu đuối, Thiên Chúa biểu lộ sức mạnh của tình yêu. Nơi đám đông nhìn thấy một người bị loại bỏ, Thiên Chúa lại đang ôm lấy cả nhân loại. Nơi người ta nghĩ rằng mọi sự đã chấm hết, ơn cứu độ lại đang được hoàn tất.

  1. SỰ QUEN THUỘC CÓ THỂ LÀM TA MÙ

Điều nguy hiểm của đời sống đạo không phải lúc nào cũng là chối bỏ những điều thánh. Có một nguy hiểm tinh tế hơn nhiều: vẫn giữ những điều thánh nhưng không còn để chúng đụng đến mình. Ta vẫn đi lễ, vẫn làm dấu, vẫn đọc kinh, vẫn đeo Thánh Giá, vẫn có ảnh tượng trong nhà, nhưng tất cả có thể trở thành một lớp vỏ quen thuộc bảo đảm rằng ta “vẫn là người có đạo”, trong khi phía sâu của tâm hồn không còn run lên trước tình yêu Thiên Chúa. Một cây Thánh Giá vàng trên cổ có thể là một lời tuyên xưng đức tin. Nó cũng có thể chỉ là một món phụ kiện đẹp. Một cây Thánh Giá treo trong nhà có thể là dấu chỉ rằng căn nhà ấy muốn thuộc về Chúa. Nó cũng có thể chỉ là đồ vật được treo từ nhiều năm đến mức chẳng ai còn nhìn. Điều quyết định không phải cây Thánh Giá làm bằng gì, lớn hay nhỏ, đẹp hay đơn sơ. Điều quyết định là người mang nó có để cho Đức Kitô chịu đóng đinh mang lấy đời mình hay không.

Ta có thể đặt một câu hỏi làm mình khó chịu: nếu ngày mai việc mang Thánh Giá không còn được xã hội tôn trọng, tôi có còn mang không? Nếu đeo Thánh Giá có thể khiến tôi bị chế giễu, tôi có còn đeo không? Nếu công khai nhận mình là Kitô hữu có thể làm tôi mất cơ hội thăng tiến, tôi có còn nhận không? Nếu trung thành với Tin Mừng khiến tôi trở thành người không hợp thời, tôi có còn trung thành không? Nếu tha thứ cho một người làm tôi mất thể diện, tôi có tha không? Nếu bảo vệ sự thật khiến tôi bị cô lập, tôi có chọn sự thật không? Nếu không gian dối khiến tôi thiệt thòi, tôi có tiếp tục không gian dối không? Nếu sống khiết tịnh khiến tôi bị cho là cổ hủ, tôi có vẫn chọn sự trong sạch không? Nếu bảo vệ người yếu thế khiến tôi bị chống đối, tôi có dám đứng về phía họ không? Những câu hỏi ấy mới thực sự cho biết Thánh Giá trên cổ ta đang là một món trang sức hay một lời tuyên xưng.

Các thánh tử đạo Việt Nam không yêu một miếng gỗ. Các ngài không hôn Thánh Giá vì gỗ có phép màu. Các ngài hôn Thánh Giá vì trên cây gỗ ấy, các ngài nhận ra Đấng đã yêu mình đến cùng. Có những vị chỉ cần bước qua Thánh Giá là sống. Chỉ cần đặt chân lên Thánh Giá là được tha. Chỉ cần một cử chỉ tưởng như rất nhỏ là có thể trở về với gia đình, với vợ con, với cộng đoàn. Nhưng các ngài hiểu rằng vấn đề không phải là một vật nằm dưới đất. Vấn đề là Chúa Giêsu đang ở trong lương tâm mình. Bước qua Thánh Giá khi ấy không chỉ là bước qua một thanh gỗ; đó là nói rằng tình yêu của Đức Kitô không còn quan trọng hơn sự sống của tôi. Vì vậy, các ngài đã chọn chết. Không phải vì các ngài coi thường sự sống, nhưng chính vì các ngài biết sự sống có ý nghĩa khi thuộc về Đấng ban sự sống. Các ngài không đi tìm cái chết. Các ngài chọn sự trung thành. Và khi trung thành đòi phải trả giá bằng mạng sống, các ngài trả cái giá ấy.

Ngày nay phần lớn chúng ta không đứng trước một cây Thánh Giá đặt dưới đất với mệnh lệnh “hãy bước qua”. Nhưng đời sống mỗi ngày vẫn đặt trước ta những cây thập giá nhỏ hơn và những lựa chọn tương tự. Có những lúc ta phải chọn giữa danh dự và sự thật. Có những lúc phải chọn giữa lợi ích và lương tâm. Có lúc phải chọn giữa trả thù và tha thứ. Có lúc phải chọn giữa yên thân và đứng về phía người bị oan. Có lúc phải chọn giữa thành công và trung thực. Có lúc phải chọn giữa một tương quan sai trái và sự trung thành với Chúa. Có lúc phải chọn giữa việc bảo vệ hình ảnh của mình và việc nhận lỗi. Có lúc phải chọn giữa một lời nói dễ nghe nhưng giả dối và một lời chân thật được nói bằng yêu thương. Những lúc ấy, Thánh Giá không còn là vật ta đeo. Thánh Giá trở thành con đường ta phải đi.

Có người đeo Thánh Giá rất lớn nhưng cái tôi còn lớn hơn. Có người đặt Thánh Giá rất đẹp giữa nhà nhưng trong chính ngôi nhà ấy vợ chồng không nói với nhau, cha mẹ làm tổn thương con cái, anh em tranh giành tài sản, người già bị bỏ quên. Có người hôn Thánh Giá mỗi tối nhưng sáng hôm sau lại dùng lời nói đóng đinh người khác. Có người suy tôn Thánh Giá trong nhà thờ nhưng ra ngoài lại đóng đinh người nghèo bằng thái độ khinh thường, đóng đinh người yếu thế bằng sự im lặng, đóng đinh người khác bằng tin đồn, bằng vu khống, bằng những lời bình luận cay độc. Nếu thế, vấn đề không nằm ở Thánh Giá. Vấn đề là Thánh Giá chưa đi từ bức tường vào trái tim.

Thánh Giá chỉ có ý nghĩa khi ta để nó xét lại cách sống của mình. Nhìn Chúa bị đóng đinh mà vẫn kiêu căng thì chưa hiểu Thánh Giá. Nhìn Chúa trần trụi mà vẫn tham lam thì chưa hiểu Thánh Giá. Nhìn Chúa tha thứ cho kẻ đóng đinh mình mà vẫn ôm hận thì chưa hiểu Thánh Giá. Nhìn Chúa chịu nhục mà ta không chịu nổi một lời góp ý thì chưa hiểu Thánh Giá. Nhìn Chúa hiến mạng vì người khác mà ta chỉ lo giữ phần mình thì chưa hiểu Thánh Giá. Thánh Giá không phải để trang trí cho đời sống Kitô hữu. Thánh Giá được đặt giữa đời sống Kitô hữu để cắt bỏ những gì không thuộc về Đức Kitô.

  1. THÁNH GIÁ LÀ NƠI THIÊN CHÚA TỰ MẶC KHẢI ĐẾN CÙNG

Thiên Chúa đã nói với nhân loại bằng rất nhiều ngôn ngữ. Người nói bằng vẻ đẹp của tạo thành. Người nói qua lịch sử Israel. Người nói qua Lề Luật và các ngôn sứ. Người nói bằng những cuộc giải thoát. Người nói bằng lời hứa. Và sau cùng, “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Người Con” (x. Dt 1,1-2). Nhưng ngay cả khi Người Con đã đến, mạc khải ấy vẫn tiến đến một cao điểm. Cao điểm ấy không phải phép lạ hóa bánh ra nhiều. Không phải lúc Chúa khiến người chết sống lại. Không phải khi Chúa được tung hô lúc vào Giêrusalem. Cao điểm ấy là giờ Chúa bị treo trên Thánh Giá.

Điều này làm chúng ta kinh ngạc. Nếu con người được phép tưởng tượng Thiên Chúa tự giới thiệu mình, chắc hẳn ta sẽ nghĩ đến sấm chớp, vinh quang, sức mạnh khiến mọi vua chúa cúi đầu. Nhưng Thiên Chúa đã chọn tự giới thiệu mình bằng một thân thể đầy thương tích. Người nói về quyền năng bằng sự bất lực. Người nói về vinh quang bằng nhục nhã. Người nói về sự sống bằng cách đi vào cái chết. Người nói về chiến thắng bằng sự thất bại bề ngoài. Người nói về chính mình bằng tình yêu hiến mạng.

Thánh Phaolô đã diễn tả mầu nhiệm ấy trong bài thánh thi tuyệt đẹp của thư Philípphê: Đức Giêsu Kitô “vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,6-8). Có một chuyển động đi xuống không ngừng: từ địa vị Thiên Chúa xuống thân phận con người; từ con người xuống thân phận tôi tớ; từ đời sống xuống cái chết; và không phải bất cứ cái chết nào, mà là cái chết thập giá. Thiên Chúa đi xuống đến tận chỗ thấp nhất mà con người có thể rơi xuống. Vì thế không một con người nào có thể nói: “Nơi tôi đang ở, Thiên Chúa không biết.” Người đã xuống thấp hơn nữa. Không ai có thể nói: “Nỗi đau của tôi quá sâu, Thiên Chúa không thể hiểu.” Người đã đi vào đau khổ. Không ai có thể nói: “Tôi bị bỏ rơi nên Thiên Chúa xa tôi.” Chúa Giêsu đã kêu lên: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Không ai có thể nói: “Tôi bị người mình yêu phản bội nên Chúa không hiểu.” Người đã bị Giuđa phản bội bằng một nụ hôn. Không ai có thể nói: “Tôi bị người khác xét xử bất công.” Người đã đứng trước những phiên tòa bất công. Không ai có thể nói: “Tôi bị nhục mạ.” Người đã bị khạc nhổ. Không ai có thể nói: “Tôi đau đớn thể xác.” Tay chân Người đã bị xuyên thủng. Không ai có thể nói: “Tôi sợ chết.” Người đã đổ mồ hôi máu ở Ghếtsêmani.

Đó là lý do Thánh Giá không phải lý thuyết về đau khổ. Thánh Giá là Thiên Chúa bước vào đau khổ. Kitô giáo không trả lời câu hỏi “tại sao có đau khổ?” bằng một công thức triết học đơn giản. Kitô giáo chỉ vào Đức Kitô chịu đóng đinh và nói: Thiên Chúa ở đây. Người không đứng ngoài đời ta để giải thích. Người bước vào bên trong đời ta để mang lấy. Người không cứu nhân loại bằng cách ngồi trên trời ra lệnh cho đau khổ biến mất. Người cứu bằng cách bước xuống, mang lấy xác phàm, chia sẻ thân phận chúng ta, gánh lấy tội lỗi chúng ta và đi xuyên qua cái chết để mở đường sang sự sống.

Vì thế, khi quỳ trước Thánh Giá, ta không quỳ trước thất bại. Ta quỳ trước một tình yêu không giữ lại điều gì. Thiên Chúa đã cho đến Con Một. Người Con đã cho đến giọt máu cuối cùng. Khi cạnh sườn bị đâm, máu và nước chảy ra. Không còn gì để cho nữa. “Mọi sự đã hoàn tất.” Tình yêu đã đi đến tận cùng.

  1. KHÔNG YÊU THÁNH GIÁ THÌ KHÔNG HIỂU CHÚA GIÊSU

Có nhiều hình ảnh Chúa Giêsu làm ta dễ chịu. Ta thích Chúa đặt tay trên đầu trẻ nhỏ. Ta thích Chúa chữa người mù. Ta thích Chúa nâng người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội lên. Ta thích Chúa làm bánh hóa nhiều. Ta thích Chúa dẹp yên biển động. Ta thích Chúa Phục Sinh hiện ra trong ánh sáng. Tất cả những hình ảnh ấy đều thật. Nhưng nếu ta chỉ chọn những hình ảnh ấy và né tránh Thánh Giá, ta đang tự dựng nên một Chúa Giêsu theo sở thích của mình.

Chúa Giêsu không đến chỉ để làm cuộc đời ta dễ hơn. Người đến để cứu ta khỏi tội. Mà cứu khỏi tội nghĩa là đi đến tận gốc của bi kịch con người: sự khước từ Thiên Chúa, sự ích kỷ, bạo lực, tham lam, dối trá, kiêu căng, cái chết. Thánh Giá là nơi tất cả những bóng tối ấy dồn lại. Sự phản bội của Giuđa ở đó. Sự hèn nhát của Phêrô ở đó. Sự bất công của giới lãnh đạo ở đó. Sự lạnh lùng của Philatô ở đó. Sự tàn bạo của lính tráng ở đó. Tâm lý đám đông ở đó. Sự nhục mạ, khinh bỉ, bạo lực ở đó. Tội lỗi nhân loại dường như tụ lại quanh một Con Người vô tội. Nhưng ở giữa tất cả, Chúa Giêsu không đáp trả bằng thù hận. Người nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Đó là lúc ta hiểu quyền năng của Thiên Chúa khác quyền năng thế gian đến mức nào.

Quyền lực thế gian thắng bằng cách làm đối thủ yếu đi. Quyền năng của Thánh Giá thắng bằng cách yêu kẻ thù. Quyền lực thế gian giữ mạng sống mình. Đức Kitô trao mạng sống. Quyền lực thế gian trả đũa. Đức Kitô tha thứ. Quyền lực thế gian xây ngai trên thân xác kẻ thua cuộc. Đức Kitô biến chính thân xác bị tổn thương của mình thành nơi hòa giải.

Vì thế, muốn biết Chúa Giêsu là ai, ta phải đứng dưới chân Thánh Giá đủ lâu. Đừng vội chạy sang sáng Phục Sinh khi chưa ở lại chiều Thứ Sáu Thánh. Đừng muốn nhận ánh sáng mà không nhìn vết thương. Đừng muốn vương miện mà từ chối mão gai. Đừng muốn sự sống mới mà không chết đi cho con người cũ. Đừng nói “tôi yêu Chúa” nếu mỗi khi tình yêu đòi hy sinh ta lại quay lưng.

Thánh Gioan viết rằng Chúa Giêsu “yêu những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). Hai chữ “đến cùng” chứa cả Thánh Giá. Yêu đến cùng không phải yêu khi thuận lợi. Không phải yêu khi được đáp lại. Không phải yêu người dễ thương. Không phải yêu cho đến lúc mệt thì thôi. “Đến cùng” là tình yêu đi hết con đường dù phía trước là đau khổ. Chúa biết Phêrô sẽ chối mình nhưng vẫn rửa chân cho ông. Chúa biết Giuđa sẽ phản bội nhưng vẫn trao miếng bánh. Chúa biết các môn đệ sẽ chạy trốn nhưng vẫn trao Mình và Máu. Chúa biết đám đông từng tung hô sẽ la “đóng đinh nó đi”, nhưng vẫn đi lên Canvê vì chính đám đông ấy. Chúa biết nhân loại sẽ tiếp tục phạm tội sau Thánh Giá, nhưng vẫn hiến mạng.

Đó mới là tình yêu. Tình yêu luôn có giá. Nếu một điều không bao giờ buộc ta từ bỏ điều gì, có lẽ nó chưa phải tình yêu sâu. Cha mẹ yêu con sẽ mất ngủ. Người chăm sóc người bệnh sẽ mất thời gian và sức lực. Vợ chồng yêu nhau thật sẽ nhiều lần nuốt tự ái. Người tu sĩ trung thành với ơn gọi phải chết đi cho nhiều ý riêng. Linh mục yêu đoàn chiên sẽ phải chịu mệt, chịu hiểu lầm, chịu những lúc trao đi mà không được ghi nhận. Người Kitô hữu muốn tha thứ phải từ bỏ niềm khoái cảm được trả đũa. Muốn trung thành phải từ bỏ những dễ dãi. Muốn theo Chúa phải bỏ mình. Bởi vậy Chúa không nói: “Ai muốn theo Ta hãy tìm sự thoải mái.” Người nói: “Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.”

  1. THÁNH GIÁ KHÔNG CA TỤNG ĐAU KHỔ, NHƯNG BIẾN ĐỔI ĐAU KHỔ

Ở đây phải tránh một hiểu lầm rất nguy hiểm. Kitô giáo không dạy rằng đau khổ tự nó là điều tốt. Bệnh tật không tự nó tốt. Bạo lực không tốt. Bị xúc phạm không tốt. Nghèo đói không tốt. Bất công không tốt. Chúa Giêsu không đi tìm đau khổ để chứng minh mình thánh thiện. Người chữa bệnh. Người cho người đói ăn. Người giải thoát người bị áp bức. Người khóc trước mộ Lazarô. Người phản đối điều giả hình. Người không bảo chúng ta cứ để người khác hành hạ mình khi có thể ngăn chặn sự dữ.

Điều Thánh Giá nói là một điều khác: khi đau khổ không thể tránh khỏi, tình yêu vẫn có thể làm cho nó không trở thành vô nghĩa. Khi sự dữ làm tổn thương ta, ta vẫn có quyền quyết định liệu sự dữ có biến ta thành kẻ giống nó hay không. Người đóng đinh Chúa dùng bạo lực, nhưng họ không khiến Chúa trở thành kẻ bạo lực. Họ dùng hận thù, nhưng họ không làm Chúa căm ghét. Họ sỉ nhục, nhưng không lấy được phẩm giá của Người. Họ giết Người, nhưng không giết được tình yêu.

Đó là chiến thắng của Thánh Giá trước khi có buổi sáng Phục Sinh: cái ác có thể làm Chúa đau, nhưng không thể khiến Chúa ngừng yêu.

Biết bao lần trong đời, ta không kiểm soát được điều xảy đến, nhưng ta vẫn có thể chọn mình sẽ trở thành người thế nào qua điều ấy. Một biến cố đau có thể làm ta chai đá hoặc làm ta cảm thông hơn. Một lần bị phản bội có thể làm ta không còn tin ai hoặc làm ta hiểu sâu hơn nỗi đau của người bị phản bội. Một căn bệnh có thể làm ta cay đắng hoặc mở mắt ta về sự mong manh của đời người. Một thất bại có thể làm ta ghen ghét hoặc dạy ta khiêm tốn. Một lần bị hiểu lầm có thể làm ta trả đũa hoặc khiến ta cẩn trọng hơn khi phán xét người khác.

Thánh Giá không làm cho đau khổ biến mất ngay, nhưng Thánh Giá bảo đảm rằng không một đau khổ nào được trao cho Chúa mà hoàn toàn vô ích.

  1. CÂY THÁNH GIÁ TRÊN CỔ VÀ CÂY THÁNH GIÁ TRONG ĐỜI

Dễ mang một cây Thánh Giá nhỏ trên ngực. Khó mang người làm ta khó chịu trong lòng. Dễ hôn Thánh Giá trong phụng vụ. Khó hôn những bổn phận đơn điệu lặp đi lặp lại mỗi ngày. Dễ quỳ trước tượng Chúa chịu nạn. Khó cúi xuống phục vụ một người không biết ơn. Dễ hát về Thánh Giá. Khó im lặng khi bị xúc phạm. Dễ nói “con phó thác”. Khó phó thác khi kết quả không như ý.

Chúa không bảo ta sưu tập thập giá. Chúa bảo ta vác thập giá. Mà vác nghĩa là nó có sức nặng. Có lúc thập giá mang tên bệnh tật. Có lúc tên là tuổi già. Có lúc tên là đứa con khiến cha mẹ khóc. Có lúc tên là người bạn đời khó hiểu. Có lúc tên là cô đơn. Có lúc tên là thất bại. Có lúc tên là mặc cảm về quá khứ. Có lúc tên là một trách nhiệm không thể bỏ. Có lúc tên là một vết thương nhiều năm chưa lành. Có lúc tên là bổn phận âm thầm không ai khen.

Nhưng không phải mọi khổ đau đều tự động là Thánh Giá Chúa trao. Có những khổ đau do chính ta gây ra bởi tội lỗi, cố chấp, lựa chọn sai. Khi ấy, vác Thánh Giá không có nghĩa là đổ cho Chúa điều ta tự gây. Vác Thánh Giá có khi bắt đầu bằng việc nhận trách nhiệm: tôi đã sai, tôi cần sửa, tôi cần xin lỗi, tôi cần quay về. Chính sự khiêm tốn ấy cũng là một cây thập giá đối với cái tôi.

  1. THÁNH GIÁ VÀ CÁI TÔI

Có một cây thập giá mà người nào cũng sợ: cái chết của cái tôi. Không phải cái chết thể lý, nhưng cái chết của nhu cầu luôn đúng, luôn thắng, luôn được công nhận, luôn được khen, luôn giữ hình ảnh đẹp trước mặt người khác.

Bao nhiêu gia đình tan vỡ không vì vấn đề quá lớn mà vì không ai chịu xuống khỏi “thập giá” mình dựng lên để đóng đinh người kia. Bao nhiêu tình bạn mất đi chỉ vì không ai nói được câu “tôi xin lỗi”. Bao nhiêu cộng đoàn khổ sở vì mỗi người giữ ý mình như chân lý tuyệt đối. Bao nhiêu người phục vụ Chúa nhưng lại khổ tâm dữ dội khi người khác không nhận ra công lao mình. Ta có thể hiến rất nhiều thứ cho Chúa mà vẫn chưa hiến cái tôi.

Nhìn Đức Kitô trên Thánh Giá là nhìn Đấng đã hoàn toàn không bảo vệ cái tôi. Người không xuống khỏi Thánh Giá để chứng minh họ sai. Người không gọi đạo binh thiên thần để làm mọi kẻ chế giễu câm miệng. Người không cần thắng một cuộc tranh luận cuối cùng. Người phó mình vào tay Cha.

Có lúc nên giải thích. Có lúc cần bảo vệ sự thật. Nhưng cũng có lúc bình an chỉ đến khi ta thôi sống bằng nhu cầu được mọi người hiểu mình. Chúa Giêsu đã chết trong tình trạng bị nhiều người hiểu sai. Nhưng Người biết Cha hiểu Người. Có khi chỉ điều ấy thôi cũng đủ cho ta tiếp tục.

  1. THÁNH GIÁ DẠY TA THA THỨ

Không nơi nào lời tha thứ mạnh hơn trên đồi Canvê. “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Chúa không nói câu ấy trong một ngôi nhà tĩnh tâm. Người nói khi đinh đang giữ thân thể Người trên gỗ. Chính lúc đang bị tổn thương, Người cầu cho kẻ làm mình tổn thương.

Tha thứ Kitô giáo không phải giả vờ rằng điều xấu chưa xảy ra. Tha thứ không đổi sự ác thành điều tốt. Tha thứ không luôn có nghĩa là tiếp tục một tương quan độc hại. Tha thứ cũng không luôn làm vết thương lập tức biến mất. Tha thứ trước hết là từ chối để cái ác của người khác điều khiển phần còn lại của đời ta.

Khi ta ôm hận, người đã làm ta đau vẫn tiếp tục có một căn phòng trong tâm hồn ta. Họ có thể đã đi xa từ lâu, nhưng tiếng nói của họ, hành vi của họ, ký ức về họ vẫn tiếp tục quyết định tâm trạng và lựa chọn của ta. Tha thứ là giao quyền xét xử lại cho Thiên Chúa và nói: “Con không muốn sống đời còn lại như tù nhân của điều người ấy đã làm.”

Điều này rất khó. Có những tha thứ cần nhiều năm. Có vết thương phải vừa cầu nguyện, vừa chữa lành, vừa tìm sự giúp đỡ, vừa học đặt ranh giới. Nhưng mỗi bước tiến về phía tha thứ đều là một bước đi dưới bóng Thánh Giá.

  1. THÁNH GIÁ VÀ SỰ IM LẶNG CỦA THIÊN CHÚA

Trên Thánh Giá, có lúc Chúa Giêsu kinh nghiệm một sự im lặng ghê gớm: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Có lẽ đây là câu gần nhất với những thời điểm đen tối nhất của đời người.

Có lúc ta cầu mà không thấy câu trả lời. Có lúc ta đã sống tốt mà biến cố xấu vẫn đến. Có lúc ta xin chữa bệnh nhưng bệnh vẫn tiến triển. Có lúc ta cầu cho một gia đình được hòa thuận nhưng họ vẫn chia tay. Có lúc ta năn nỉ Chúa cho một người quay về nhưng người ấy cứ xa hơn. Có những ngày ta không chỉ đau mà còn không hiểu tại sao Thiên Chúa im lặng.

Thánh Giá nói rằng sự im lặng của Thiên Chúa không đồng nghĩa với sự vắng mặt của Thiên Chúa. Thứ Sáu Thánh tưởng như Cha im lặng, nhưng mầu nhiệm cứu độ đang diễn ra. Ngôi mộ tối thứ Bảy tưởng như mọi chuyện kết thúc, nhưng bình minh Phục Sinh đang đến.

Bởi thế, đức tin không luôn là cảm thấy Chúa gần. Có lúc đức tin chỉ là vẫn ở lại khi không cảm thấy gì. Vẫn cầu nguyện khi khô khan. Vẫn sống tử tế khi chẳng được phần thưởng tức thì. Vẫn tin rằng Chúa đang làm việc trong nơi mắt mình chưa thấy.

  1. TỪ THÁNH GIÁ ĐẾN NHỮNG THẬP GIÁ CỦA NGƯỜI KHÁC

Một người thật sự yêu Thánh Giá không chỉ học chịu đau khổ của mình; họ trở nên nhạy cảm hơn với nỗi đau của người khác. Nếu ta quỳ trước thân thể bị thương tích của Chúa mà không nhận ra thân thể bị thương của người nghèo, người bệnh, người cô đơn, người bị bỏ rơi, thì có gì đó chưa hoàn chỉnh.

Đức Kitô bị đóng đinh tiếp tục đi ngang đời ta dưới những khuôn mặt mà ta dễ tránh. Một cụ già cần người ngồi nghe chuyện. Một đứa trẻ thiếu tình thương. Một bệnh nhân chẳng ai thăm. Một người mất việc không dám kể. Một gia đình kiệt quệ vì món nợ. Một người mang lỗi lầm quá khứ và tin rằng không ai còn chấp nhận mình. Một người trên mạng đang bị đám đông ném đá. Một người bị hiểu lầm nhưng không có tiếng nói tự bảo vệ.

Nhiều khi ta muốn làm việc lớn cho Chúa nhưng Thánh Giá nằm ở một việc nhỏ trước mắt: dừng lại, nghe, không phán xét quá nhanh, cho một cơ hội, đưa một bàn tay.

  1. ĐỪNG XUỐNG KHỎI THÁNH GIÁ QUÁ SỚM

Những người chế giễu Chúa nói: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá.” Cám dỗ ấy vẫn còn. Ta cũng muốn chứng minh mình bằng cách xuống khỏi những nơi tình yêu đang đòi trung thành. “Nếu Chúa thương tôi, tại sao tôi phải chịu thế này?” “Nếu đây là ơn gọi đúng, tại sao lại khó?” “Nếu cuộc hôn nhân này có Chúa chúc phúc, tại sao có những ngày mệt đến vậy?” “Nếu phục vụ Chúa là điều tốt, tại sao bị hiểu lầm?”

Ta dễ đồng hóa ý Chúa với sự thuận lợi. Nhưng nhiều điều đẹp nhất trong đời chỉ sinh ra sau thời gian kiên trì. Hạt lúa phải chết mới sinh nhiều bông hạt. Người mẹ đau sinh mới có đứa con. Vàng qua lửa mới tinh luyện. Tình yêu qua thử thách mới biết nó sâu đến đâu.

Điều này không có nghĩa phải cố ở lại trong mọi hoàn cảnh nguy hiểm hay bất công. Nhưng nó nhắc ta đừng bỏ một con đường tốt chỉ vì con đường ấy có giá phải trả.

  1. HÔN THÁNH GIÁ LÀ HỌC HÔN CUỘC ĐỜI MÌNH

Trong phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh, khi tiến lên hôn kính Thánh Giá, ta thực hiện một cử chỉ rất sâu. Ta không chỉ hôn cây gỗ Chúa từng chết. Ta đang nói: “Lạy Chúa, con tin rằng tình yêu của Ngài mạnh hơn đau khổ. Con tin rằng khi con đặt đời con trong Ngài, ngay cả những điều con không hiểu cũng có thể được cứu chuộc.”

Có lẽ mỗi người đang mang một điều chưa chấp nhận được trong đời mình. Một tuổi thơ không đẹp. Một người thân đã mất. Một cơ thể không khỏe. Một giấc mơ không thành. Một sai lầm ta không thể quay lại sửa. Một hoàn cảnh gia đình mà ta từng ước khác đi. Một khả năng giới hạn. Một tuổi già ngày càng nhiều mất mát.

Ta không cần gọi những điều ấy là tốt. Nhưng ta có thể đặt chúng dưới Thánh Giá và xin Chúa đừng để chúng trở thành vô ích. “Lạy Chúa, nếu con không thể thay đổi điều này, xin điều này đừng làm con mất đi khả năng yêu thương.”

Đó là lúc một thập giá bắt đầu được biến đổi.

  1. THÁNH GIÁ KHÔNG KẾT THÚC Ở THÁNH GIÁ

Sau cùng phải nhớ: Kitô giáo không phải tôn giáo của thất bại. Ta tôn kính Thánh Giá bởi vì Đấng bị đóng đinh đã sống lại. Nếu không có Phục Sinh, Thánh Giá chỉ là một vụ hành hình. Nhưng vì Đức Kitô đã Phục Sinh, Thánh Giá trở thành cửa đi qua.

Người Kitô hữu không yêu đau khổ. Người Kitô hữu yêu Đức Kitô. Và vì yêu Đức Kitô, ta không bỏ Người khi con đường đi qua đau khổ.

Phục Sinh không xóa vết đinh. Đức Giêsu sống lại vẫn cho Tôma nhìn tay và cạnh sườn. Điều ấy tuyệt đẹp. Vết thương không biến mất, nhưng nó không còn là dấu của thất bại. Nó trở thành dấu của tình yêu chiến thắng.

Đó cũng có thể là câu chuyện đời ta. Có những vết thương sẽ luôn còn trong ký ức. Nhưng một ngày nào đó, nếu ta cho Chúa chạm tới, chính nơi từng làm ta xấu hổ nhất có thể trở thành nơi ta biết cảm thông nhất. Chính thất bại từng làm ta tưởng đời đã hết có thể khiến ta dịu dàng với người thất bại. Chính cô đơn từng làm ta khóc có thể giúp ta nhận ra người cô đơn giữa đám đông. Chính tội lỗi đã được tha có thể làm ta bớt ném đá người khác.

Ân sủng không luôn xóa quá khứ. Ân sủng biến đổi ý nghĩa của quá khứ.

Vì vậy, mỗi lần đeo một cây Thánh Giá, hãy nhớ mình đang mang trên người biểu tượng của một tình yêu có giá. Mỗi lần làm dấu Thánh Giá, hãy nhớ mình đang ghi trên thân thể mình dấu của Đấng đã hiến thân. Mỗi lần nhìn lên tượng Chúa chịu nạn, hãy dừng một chút và hỏi: “Lạy Chúa, Thánh Giá của Ngài hôm nay muốn thay đổi điều gì nơi con?”

Có thể Chúa muốn ta buông một mối hận. Có thể Chúa muốn ta xin lỗi. Có thể Chúa muốn ta trung thành thêm một ngày. Có thể Chúa muốn ta thôi chạy khỏi một bổn phận. Có thể Chúa muốn ta trở nên dịu dàng hơn. Có thể Chúa muốn ta ngừng đóng đinh người khác bằng lời nói. Có thể Chúa muốn ta tin Người giữa điều ta chưa hiểu.

Thánh Giá không phải một món đồ trang sức. Thánh Giá là một câu hỏi treo trước đời mỗi người Kitô hữu: Con có tin một tình yêu như thế không? Và con có dám yêu như thế không?

Ta có thể đeo Thánh Giá mà không thuộc về Thánh Giá. Nhưng cũng có thể một ngày, sau rất nhiều năm theo Chúa, ta bắt đầu hiểu rằng cây Thánh Giá nhỏ nằm trên ngực mình thực ra là một bản tóm tắt của toàn bộ Tin Mừng: Thiên Chúa yêu đến cùng; tội lỗi là thật; tha thứ là có thể; đau khổ không có lời cuối; cái chết không có lời cuối; tình yêu mới có lời cuối.

Ngày ấy, ta sẽ không còn nhìn Thánh Giá như một đồ vật quen thuộc nữa. Ta nhìn và biết: nơi ấy có một Người đã yêu tôi đến mức này.

Và có lẽ khi biết mình đã được yêu đến mức ấy, ta cũng bắt đầu đủ can đảm để yêu người khác thêm một chút, tha thứ thêm một chút, hy sinh thêm một chút, khiêm tốn thêm một chút, trung thành thêm một chút.

Bởi vì cuối cùng, người Kitô hữu không được nhận ra vì họ mang một cây Thánh Giá trên cổ.

Người Kitô hữu được nhận ra khi hình dáng của Thánh Giá dần hiện lên trong cách họ sống.

Hai cánh của Thánh Giá dang ngang là đôi tay mở ra với anh chị em.

Thân dọc của Thánh Giá hướng lên trời là một đời thuộc về Thiên Chúa.

Và ở điểm giao nhau là một trái tim đã học yêu như Đức Kitô.

Đó mới là Thánh Giá.

Đó mới là Kitô giáo.

Đó mới là con đường của người môn đệ.

Lm. Anmai, CSsR

CHƯƠNG II. THÁNH GIÁ TRONG KINH THÁNH: TỪ BÓNG ĐẾN HÌNH

Kinh Thánh không bắt đầu bằng một cây thập giá dựng trên đồi Canvê. Kinh Thánh bắt đầu bằng một khu vườn. Trong khu vườn ấy, Thiên Chúa và con người còn có thể ở gần nhau, con người chưa phải chạy trốn tiếng bước chân của Thiên Chúa, chưa phải cúi mặt vì xấu hổ, chưa biết đến nấm mồ, chưa biết đến tiếng khóc của người mẹ bên xác đứa con, chưa biết đến chiến tranh, phản bội, hận thù, bệnh tật và cái chết. Kinh Thánh bắt đầu bằng sự sống. Nhưng rồi tội lỗi đi vào lịch sử nhân loại, và cùng với tội lỗi là sợ hãi, đổ lỗi, chia rẽ và sự chết. Adam trốn. Eva xấu hổ. Người đàn ông đổ lỗi cho người đàn bà. Người đàn bà đổ lỗi cho con rắn. Ít lâu sau, Cain giết Abel. Đất đã mở miệng nhận máu người vô tội. Từ đó, lịch sử con người trở thành một lịch sử vừa đi tìm Thiên Chúa vừa chạy trốn Thiên Chúa; vừa khát sự sống vừa sản xuất sự chết; vừa muốn yêu vừa không ngừng làm tổn thương nhau. Thế nhưng điều kỳ lạ là ngay trong trang sách kể về sự sa ngã ấy, Thiên Chúa đã không nói lời cuối cùng bằng bản án. Người nói lời cuối cùng bằng một lời hứa. Giữa đống đổ vỡ của Eden, giữa nỗi xấu hổ của con người và sự gian trá của con rắn, vang lên lời tiên báo rằng dòng dõi người nữ sẽ đạp đầu con rắn, cho dù chính mình sẽ bị thương ở gót chân. Lời trong St 3,15 vì thế đã được truyền thống Kitô giáo đọc như tia sáng đầu tiên của Tin Mừng, như một bình minh rất xa báo trước ngày mà quyền lực của tội lỗi và sự chết sẽ bị đánh bại. Từ giây phút ấy, có thể nói toàn bộ lịch sử cứu độ bắt đầu đi về một ngọn đồi; toàn bộ Cựu Ước bắt đầu đi về một Cây; toàn bộ những hy lễ, những giao ước, những cuộc giải thoát, những người công chính đau khổ, những con chiên bị sát tế, những bàn thờ, những cuộc vượt qua, những lời tiên tri và những lời than van đều dần dần hội tụ về một điểm duy nhất: Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh và phục sinh. Thánh Giá chưa xuất hiện bằng hình dáng rõ ràng, nhưng bóng của Thánh Giá đã trải dài trên những trang đầu tiên của Kinh Thánh. Nếu đọc Cựu Ước trong ánh sáng của Đức Kitô, ta sẽ nhận ra Thiên Chúa đã kiên nhẫn chuẩn bị cho nhân loại hiểu một điều vô cùng khó hiểu: sự cứu độ không đến bằng sức mạnh thống trị, nhưng bằng tình yêu tự hiến; chiến thắng cuối cùng không đến bằng thanh gươm giết người khác, nhưng bằng đôi tay chấp nhận bị đóng đinh vì người khác; và quyền năng lớn nhất của Thiên Chúa không được biểu lộ khi Người tiêu diệt kẻ thù, nhưng khi Người yêu con người đến cùng.

  1. CÂY SỰ SỐNG VÀ CÂY THẬP GIÁ

Trong vườn Eden có cây sự sống. Cây ấy đứng giữa khu vườn như dấu chỉ rằng sự sống của con người không xuất phát từ chính con người. Con người không phải nguồn sống của chính mình. Con người nhận sự sống. Con người được sống bởi vì Thiên Chúa muốn họ sống. Nhưng cũng trong khu vườn ấy có một cây khác trở thành nơi thử thách tự do của con người. Con người muốn tự quyết định thiện ác. Con người muốn có sự sống mà không cần Đấng ban sự sống. Con người muốn làm chủ thế giới mà không cần thuộc về Thiên Chúa. Và bi kịch bắt đầu. Truyền thống Kitô giáo từ rất sớm đã nhìn thấy một sự đối chiếu sâu xa giữa cây trong Eden và cây trên đồi Golgotha. Một cây chứng kiến sự bất phục tùng của Adam; một cây chứng kiến sự vâng phục của Đức Kitô. Một cây gắn với bàn tay đưa ra để chiếm lấy; một cây gắn với đôi tay mở ra để trao ban. Adam cũ đưa tay lấy điều mình không được trao; Adam mới dang tay trao cả chính mình. Một cây dẫn đến sự chết; một cây trở thành cửa ngõ dẫn về sự sống. Nơi Adam, con người nói với Thiên Chúa: “Ý tôi chứ không phải ý Ngài.” Nơi Đức Giêsu, Con Người nói với Chúa Cha: “Xin đừng theo ý Con, nhưng xin theo ý Cha.” Lịch sử cứu độ vì thế có thể được đọc như hành trình Thiên Chúa đưa con người từ cây bất tuân trở lại cây vâng phục, từ cây của lòng kiêu ngạo trở lại cây của tình yêu, từ cây bị mất trong Eden đến Cây Sự Sống được trồng lại giữa thế gian trên đồi Sọ.

Thật đẹp khi phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh không chỉ nói: “Đây là Thánh Giá,” nhưng hát: “Đây là cây Thánh Giá, nơi treo Đấng Cứu Độ trần gian.” Chữ “cây” nghe thật lạ. Một dụng cụ hành hình lại được gọi là cây. Nhưng chính ở đó mầu nhiệm Kitô giáo bừng sáng. Thiên Chúa không tiêu hủy thế giới vật chất vì thế giới đã bị tội lỗi làm tổn thương; Người cứu thế giới từ bên trong. Gỗ từng được dùng để đóng một tử tội trở thành gỗ mang Đấng Cứu Độ. Đinh dùng để hành hạ trở thành dấu tích tình yêu. Ngọn đồi của tử hình trở thành bàn thờ. Nơi bị xem là ô nhục trở thành ngai của Vua. Một vật liệu bình thường của tạo thành được đưa vào chương trình cứu độ. Điều này nhắc chúng ta rằng Thiên Chúa có khả năng lấy chính những gì con người dùng để gây chết chóc mà biến thành cửa ngõ sự sống. Con người dựng Thánh Giá để giết Chúa; Thiên Chúa dùng chính Thánh Giá ấy để cứu con người. Con người đóng đinh Tình Yêu; Tình Yêu từ nơi bị đóng đinh lại tha thứ cho con người. Đó là nghịch lý không trí khôn trần gian nào có thể tự nghĩ ra.

Có lẽ mỗi người chúng ta cũng có một “cây” như thế trong cuộc đời. Một biến cố ta từng nghĩ chỉ có thể mang lại sự chết. Một căn bệnh. Một thất bại. Một sự phản bội. Một người ra đi. Một cuộc đời tưởng đã vỡ vụn. Một tuổi trẻ bị tổn thương. Một gia đình không như mình mong đợi. Một ơn gọi trải qua thử thách. Một lỗi lầm cứ quay lại trong ký ức. Một nỗi cô đơn không ai hiểu. Ta nhìn những điều ấy và nói: “Đây là nơi đời tôi đã chết.” Nhưng Thiên Chúa có thể nhìn cùng một chỗ ấy và nói: “Nếu con để Ta bước vào, đây có thể trở thành nơi sự sống bắt đầu lại.” Kitô giáo không nói đau khổ tự nó là tốt. Thập giá không phải là điều tốt vì nó gây đau. Đau vẫn là đau. Cái chết vẫn là kẻ thù. Điều kỳ diệu là tình yêu Thiên Chúa đủ mạnh để đi vào chính đau khổ ấy và biến đổi ý nghĩa của nó. Đó là lý do người Kitô hữu không thờ đau khổ. Chúng ta thờ một Thiên Chúa đã yêu giữa đau khổ. Và từ đó, cây chết trở thành Cây Sự Sống.

  1. ISAAC TRÊN NÚI MÔRIA: NGƯỜI CON VÁC CỦI

Có những trang Kinh Thánh không thể đọc nhanh. St 22 là một trong những trang như thế. Abraham đã chờ đợi Isaac gần như cả đời. Isaac không chỉ là một đứa con. Isaac là lời hứa. Isaac là tương lai. Isaac là dấu hiệu rằng Thiên Chúa trung tín. Thế rồi Abraham được gọi lên núi. Người cha dẫn con đi. Người con mang củi trên vai. Hai cha con cùng đi. Và Isaac hỏi một câu có lẽ làm trái tim Abraham tan vỡ: “Thưa cha!” Abraham đáp: “Cha đây, con!” Isaac hỏi: “Có lửa, có củi, nhưng con chiên để làm lễ toàn thiêu ở đâu?” Abraham chỉ có thể trả lời: “Thiên Chúa sẽ liệu.”

Người Kitô hữu đọc cảnh ấy và không thể không nhìn thấy một bóng dáng khác. Nhiều thế kỷ sau, một Người Con khác cũng đi lên một ngọn núi. Người Con ấy cũng mang gỗ trên vai. Nhưng lần này không có con chiên nào xuất hiện để thay thế Người. Chính Người là Con Chiên. Isaac được tha. Đức Giêsu bước đến cùng. Isaac mang củi nhưng không bị sát tế. Đức Kitô vác gỗ và hiến chính mình. Núi Môria vì thế trở thành một trong những bóng xa xôi của Núi Sọ.

Nhưng phải hiểu câu chuyện ấy thật cẩn thận. Thiên Chúa của Kinh Thánh không phải là một vị thần khát máu đòi cha mẹ giết con. Ngược lại, toàn bộ mặc khải tiến dần đến chỗ cho thấy Thiên Chúa loại bỏ thứ logic tôn giáo man rợ ấy. Abraham không giết Isaac. Thiên Chúa ngăn tay ông lại. Chính điều đó quan trọng. Và trong Đức Kitô, điều ta khám phá còn sâu hơn nữa: Thiên Chúa không đòi con người nộp con mình cho Người; Thiên Chúa trao Con Một của Người cho nhân loại. Thánh Giá không nói rằng con người phải làm một điều kinh khủng để thỏa mãn một Thiên Chúa giận dữ. Thánh Giá nói rằng chính Thiên Chúa đi đến tận nơi đau đớn nhất của phận người để cứu con người ra khỏi đó. “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một.” Trung tâm là tình yêu.

Abraham nói: “Thiên Chúa sẽ liệu.” Ông chưa thể biết lời ấy sẽ vang xa đến đâu. Thiên Chúa thật sự đã liệu. Người đã liệu một Con Chiên. Nhưng Con Chiên ấy không chỉ cứu Isaac. Người gánh tội trần gian. Người không chỉ được hiến dâng trên một ngọn núi cho một gia đình. Người hiến mình vì toàn thể nhân loại. Và vì thế mỗi lần nhìn Thánh Giá, ta có thể nghe vọng lại lời Abraham: “Thiên Chúa sẽ liệu.” Khi ta không biết đường đi, Thiên Chúa sẽ liệu. Khi đời ta đi đến nơi tưởng như không còn gì nữa, Thiên Chúa vẫn có thể liệu. Khi lời hứa dường như sắp bị tiêu tan, Thiên Chúa vẫn trung tín. Nhưng cách Thiên Chúa “liệu” không phải lúc nào cũng là cất thập giá khỏi ta. Có khi Người liệu bằng cách bước lên núi cùng ta. Có khi Người không làm cho con đường ngắn hơn nhưng làm cho ta không còn đi một mình.

  1. CON CHIÊN VƯỢT QUA: MÁU TRÊN KHUNG CỬA

Nếu muốn hiểu Thánh Giá, không thể bỏ qua biến cố Xuất Hành. Israel là dân nô lệ. Họ không tự giải thoát được mình. Pharaô mạnh hơn họ. Ai Cập có quân đội. Israel chỉ có tiếng kêu. Và Thiên Chúa nghe tiếng kêu ấy. Đêm Vượt Qua, mỗi gia đình sát tế một con chiên, lấy máu bôi lên khung cửa, ăn thịt chiên trong tư thế sẵn sàng lên đường. Đó là đêm giải phóng. Từ nô lệ sang tự do. Từ Ai Cập sang sa mạc. Từ thuộc về Pharaô sang thuộc về Thiên Chúa.

Nhiều thế kỷ sau, đúng trong bối cảnh Vượt Qua, Đức Giêsu bước vào cuộc Thương Khó. Không khó hiểu tại sao Hội Thánh gọi Người là “Chiên Thiên Chúa.” Người là cuộc Vượt Qua mới. Máu Người không bôi trên khung cửa bằng gỗ, nhưng chảy trên cây gỗ Thánh Giá. Máu ấy không chỉ đánh dấu một gia đình hay một dân tộc, nhưng thiết lập giao ước mới cho muôn dân. Trong cuộc Xuất Hành cũ, Israel đi qua Biển Đỏ để thoát khỏi Pharaô. Trong cuộc Vượt Qua mới, Đức Kitô đi qua cái chết để mở con đường thoát khỏi quyền lực sâu xa hơn Pharaô: tội lỗi và sự chết.

Bởi vậy Thánh Giá không thể tách khỏi Vượt Qua. Nếu chỉ nhìn Thánh Giá như một cái chết bi thảm, ta chưa hiểu. Thánh Giá là cửa. Đức Kitô đi qua cửa ấy. Người xuống tận đáy sự chết rồi từ đó mở ra sự sống. Người không tránh cái chết; Người xuyên qua nó. Người không đứng từ xa gọi con người ra khỏi mồ; Người bước vào mồ trước chúng ta. Từ đó, ngay cả cái chết cũng không còn là nơi vắng bóng Thiên Chúa. Người đã ở đó.

  1. CON RẮN ĐỒNG TRONG SA MẠC: HÃY NHÌN LÊN

Dân Israel trong sa mạc bị rắn độc cắn. Nọc độc đi vào thân thể và gây chết chóc. Môsê, theo lệnh Thiên Chúa, làm một con rắn bằng đồng rồi giương nó lên. Ai bị rắn cắn mà nhìn lên thì được sống. Câu chuyện trong Ds 21 thật kỳ lạ nếu đọc riêng lẻ. Nhưng Tin Mừng Gioan trao cho chúng ta chìa khóa: “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời.”

Chúa Giêsu nói về chính Thánh Giá bằng động từ “được giương cao.” Đối với người Rôma, bị giương lên thập giá là nhục nhã. Đối với Tin Mừng Gioan, chính lúc bị giương lên ấy lại là lúc vinh quang được tỏ lộ. Không phải vì nhục hình bỗng trở thành đẹp, nhưng bởi vì tình yêu của Đức Kitô được biểu lộ đến cùng ở đó.

Con rắn đồng dạy ta một điều rất đơn sơ: nhìn lên. Người bị rắn cắn không tự hút nọc độc ra khỏi mình. Họ không chữa mình. Họ nhìn. Trong đời sống thiêng liêng cũng vậy. Có lúc chúng ta nghĩ cứu độ có nghĩa là phải tự sửa mình cho thật tốt rồi mới dám đến với Chúa. Ta cố gắng. Ta thất bại. Ta xấu hổ. Ta lại cố. Ta lại thất bại. Cuối cùng ta tuyệt vọng vì tưởng mình phải tự cứu mình. Thánh Giá phá vỡ ảo tưởng đó. Hãy nhìn lên. Không phải nhìn vào thành tích của mình. Không phải nhìn vào sự đạo đức của mình. Không phải nhìn vào số lần mình đã thành công. Hãy nhìn Đấng chịu đóng đinh vì mình.

Nhưng nhìn Thánh Giá không dễ. Ta thích những cây thánh giá đẹp. Bằng vàng. Bằng bạc. Được đánh bóng. Được chạm trổ. Được đặt trên bàn thờ giữa hoa và nến. Không có gì sai với vẻ đẹp ấy, vì nghệ thuật muốn tôn kính mầu nhiệm. Nhưng có một nguy cơ là vẻ đẹp của nghệ thuật làm ta quên sự thật kinh hoàng của biến cố. Thánh Giá thật có máu. Có mồ hôi. Có hơi thở khó nhọc. Có môi khô vì khát. Có thân thể bị đánh đập. Có những lời chế nhạo. Có một người mẹ đứng nhìn con chết. Có các môn đệ bỏ chạy. Có một kẻ phản bội bằng nụ hôn. Có một người bạn chối Thầy ba lần. Có quân lính chia áo. Có bóng tối. Có lời kêu: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?”

Yêu mến Thánh Giá bắt đầu bằng việc dám nhìn. Dám nhìn không phải để say mê bạo lực, nhưng để hiểu giá của tình yêu. Tình yêu Kitô giáo không phải lời nói mềm mại. Nó đã đi qua đinh sắt. Khi người ta nói “Thiên Chúa yêu bạn,” Thánh Giá trả lời câu hỏi: “Yêu đến đâu?” Đến đây. Đến mức không rút tay khỏi đinh. Đến mức vẫn tha thứ cho kẻ đóng đinh mình. Đến mức trao Mẹ cho môn đệ. Đến mức không còn giữ lại gì.

  1. NGƯỜI TÔI TRUNG ĐAU KHỔ: MỘT GƯƠNG MẶT XUẤT HIỆN TRONG BÓNG TỐI

Isaia 52–53 là một trong những đoạn Kinh Thánh khiến người ta phải đọc chậm. Một nhân vật bí nhiệm xuất hiện: Người Tôi Trung của Đức Chúa. Người không đẹp đẽ theo cái nhìn người đời. Người bị khinh khi. Bị ruồng bỏ. Quen với đau khổ. Người mang lấy bệnh tật của người khác. Bị đâm vì tội lỗi của người khác. Bị nghiền nát vì lỗi lầm của người khác. Người như con chiên bị dẫn đến lò sát sinh mà không mở miệng.

Đọc những dòng ấy rồi mở các trình thuật Thương Khó, người Kitô hữu không thể không rùng mình trước sự tương hợp. Đức Giêsu bị khinh miệt. Bị đánh. Bị kết án dù vô tội. Im lặng trước những lời tố cáo. Bị đóng đinh giữa những người phạm pháp. Và cuối cùng được mai táng trong mộ của một người giàu là Giuse Arimathê. Điều các ngôn sứ mới nhìn thấy trong bóng tối nay hiện ra bằng xương bằng thịt trên đồi Canvê.

Nhưng điểm quan trọng nhất không phải là việc tìm những chi tiết “ứng nghiệm” như giải một câu đố. Điều quan trọng là nhận ra cách Thiên Chúa cứu độ. Người Tôi Trung không thắng bằng tiêu diệt đối thủ. Người chịu đau khổ mà vẫn trung thành. Người mang lấy gánh nặng của người khác. Trong Người, đau khổ không còn chỉ là hậu quả vô nghĩa; nó trở thành nơi tình yêu tự hiến.

Đây cũng là điều khiến Kitô giáo khác với thứ tôn giáo hứa rằng người tin đủ mạnh sẽ không bao giờ đau. Đức Kitô không nói như vậy. Người vô tội nhất lại là Người đau khổ nhất. Đức Maria đầy ân sủng đứng dưới chân Thánh Giá. Các Tông đồ sau này hầu hết chịu bách hại. Tin Mừng không bảo rằng nếu ta thuộc về Chúa thì cuộc đời sẽ không có Thứ Sáu Tuần Thánh. Tin Mừng nói rằng Thứ Sáu Tuần Thánh không còn là trang cuối cùng.

  1. THÁNH VỊNH CỦA NGƯỜI CÔNG CHÍ ĐAU KHỔ

Trên Thánh Giá, Đức Giêsu kêu: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Đó không phải một câu tuyệt vọng ngẫu nhiên. Đó là những lời mở đầu Thánh Vịnh 22. Thánh vịnh ấy bắt đầu trong cảm giác bị bỏ rơi nhưng kết thúc bằng niềm tín thác và lời ca tụng. Trong đó có hình ảnh người công chính bị chế giễu, bị bao vây, áo quần bị chia nhau.

Điều này cho thấy Thánh Giá nằm sâu trong lời cầu nguyện của Israel. Đức Giêsu chết với Thánh Kinh trên môi. Ngay cả khi mọi sự tối tăm, Người vẫn cầu nguyện. Người đem vào lời cầu nguyện cả cảm giác bị bỏ rơi. Đây là một bài học lớn cho chúng ta. Đức tin không có nghĩa là không bao giờ cảm thấy Chúa xa. Đức tin có nghĩa là ngay khi cảm thấy Chúa xa, ta vẫn gọi Người là “Thiên Chúa của con.” “Sao Ngài bỏ con?” nhưng vẫn là “Thiên Chúa của con.” Đó là đức tin trong đêm.

Có những lúc đời ta cũng đi vào Thánh Vịnh 22. Ta cầu mà chẳng thấy trả lời. Ta xin chữa lành mà bệnh vẫn còn. Ta cầu cho một người mà người ấy vẫn ra đi. Ta sống ngay mà vẫn bị hiểu lầm. Ta trung thành mà vẫn bị phản bội. Ta phục vụ mà bị quên. Ta yêu mà không được đáp lại. Khi ấy, Thánh Giá nói với ta rằng chính Đức Giêsu đã bước vào nơi ấy. Không có vực sâu đau khổ nào của con người mà Người đứng ngoài.

  1. ÔNG GIÔNA VÀ BA NGÀY TRONG LÒNG ĐẤT

Chúa Giêsu từng nhắc đến “dấu lạ Giôna.” Giôna ở trong bụng cá ba ngày rồi trở lại ánh sáng. Hình ảnh ấy trở thành một dấu chỉ về việc Đức Kitô bước vào lòng đất rồi sống lại. Thánh Giá vì thế không bao giờ đứng một mình. Nó hướng về ngôi mộ. Và ngôi mộ hướng về sáng Phục Sinh.

Điều này cực kỳ quan trọng. Nếu người Kitô hữu chỉ dừng lại ở đau khổ, Kitô giáo sẽ biến thành tôn giáo của buồn bã. Nhưng Thánh Giá Kitô giáo luôn là Thánh Giá của Đấng Phục Sinh. Người chịu đóng đinh chính là Người đã sống lại. Những dấu đinh vẫn còn trên thân thể phục sinh, nhưng chúng không còn là dấu thất bại. Chúng trở thành căn cước của tình yêu chiến thắng.

  1. CÁC SÁCH TIN MỪNG: MỌI CON ĐƯỜNG ĐỀU DẪN ĐẾN GIÊRUSALEM

Khi đọc các sách Tin Mừng thật kỹ, ta nhận ra Thánh Giá không phải chương cuối tình cờ thêm vào cuộc đời Đức Giêsu. Nó nằm ở trung tâm. Các thánh sử dành một phần rất lớn tác phẩm cho những ngày cuối đời Người, bởi họ hiểu rằng nếu không hiểu Thánh Giá, ta không thể hiểu Chúa Giêsu.

Tin Mừng Máccô đặc biệt rõ điều này. Nhịp kể ban đầu rất nhanh: Chúa giảng, chữa bệnh, trừ quỷ, gọi môn đệ, đám đông kéo đến. Người nổi tiếng. Nhưng ngay khi Phêrô tuyên xưng Người là Đấng Kitô, Chúa lập tức bắt đầu dạy rằng Con Người phải chịu đau khổ, bị loại bỏ, bị giết và sau ba ngày sẽ sống lại. Phêrô không chịu nổi. Ông kéo Chúa ra mà trách. Vì Phêrô muốn Đấng Kitô nhưng không muốn Thánh Giá. Và có lẽ đó cũng là cám dỗ của mọi thế hệ Kitô hữu: muốn Chúa quyền năng nhưng không muốn Chúa bị đóng đinh; muốn vinh quang nhưng không muốn con đường tự hạ; muốn Phục Sinh nhưng muốn bỏ qua Thứ Sáu Tuần Thánh.

Đức Giêsu quay lại nói một câu rất nặng: “Satan, lui lại đằng sau Thầy.” Tại sao? Vì một Đấng Mêsia không Thánh Giá chính là cám dỗ. Trong sa mạc, ma quỷ từng đề nghị Chúa một con đường không cần Thánh Giá: biến đá thành bánh, làm phép lạ ngoạn mục, nhận quyền lực các nước. Chúa từ chối. Và bây giờ qua Phêrô, cùng cám dỗ ấy trở lại: xin Thầy đừng chịu đau khổ. Nhưng Người vẫn đi về Giêrusalem.

Tin Mừng Luca diễn tả Đức Giêsu “cương quyết lên Giêrusalem.” Người biết điều gì đang chờ. Người vẫn đi. Tình yêu không bị kéo lê lên Golgotha; tình yêu tự nguyện bước tới. Đây là điều cần ghi sâu trong lòng: Đức Giêsu không phải nạn nhân bất lực của một biến cố ngoài dự tính. Người nói: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình.” Sự tự do ấy làm cho Thánh Giá trở thành lễ hiến dâng của tình yêu.

Tin Mừng Gioan còn đi xa hơn. Gioan gọi giờ Đức Giêsu chịu chết là “giờ” của Người, giờ Người được tôn vinh. Điều đó thật nghịch lý. Theo mắt người đời, Canvê là thất bại: môn đệ chạy hết, kẻ thù thắng, người bị đóng đinh chết trần trụi giữa hai tên tội phạm. Nhưng Gioan nhìn sâu hơn: chính nơi ấy tình yêu Thiên Chúa được tỏ trọn. Vinh quang của Thiên Chúa không phải là ánh hào quang khiến người khác khiếp sợ. Vinh quang của Thiên Chúa là tình yêu đến cùng.

  1. “KHI NÀO TÔI ĐƯỢC GIƯƠNG CAO”

Trong Tin Mừng Gioan, Đức Giêsu nói: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi.” “Giương cao” có hai nghĩa cùng một lúc: bị treo lên Thánh Giá và được tôn vinh. Con người hạ nhục Người; Thiên Chúa tôn vinh Người. Con người dựng Người lên như tội phạm; Người trở thành điểm quy tụ nhân loại.

Điều kỳ lạ là Đức Giêsu không nói: “Tôi sẽ ép mọi người.” Người nói: “Tôi sẽ kéo mọi người.” Thánh Giá có sức hút của tình yêu. Không phải thứ hấp lực của quyền lực, tiền bạc, thành công hay vẻ hào nhoáng. Là sức hút của một Người không còn giữ lại gì cho mình. Trước một tình yêu như thế, con người phải quyết định: hoặc quay đi, hoặc để lòng mình bị chạm.

  1. BỮA TIỆC LY VÀ THÁNH GIÁ: MỘT LỄ HIẾN DÂNG DUY NHẤT

Không thể hiểu Thánh Giá nếu tách nó khỏi Bữa Tiệc Ly. Trong đêm bị nộp, Đức Giêsu cầm lấy bánh và nói: “Này là Mình Thầy, bị nộp vì anh em.” Người cầm chén: “Này là Máu Thầy, máu Giao Ước.” Trước khi thân thể bị nộp cho quân lính, Người đã tự trao thân thể ấy cho các môn đệ. Trước khi máu chảy trên Canvê, Người đã trao chén.

Điều này cho thấy một sự thật rất đẹp: kẻ thù không phải là người đầu tiên “lấy” mạng Chúa. Chúa đã trao nó trước. Bạo lực của con người đến sau sự tự hiến của tình yêu. Vì thế Thánh Giá không chỉ là chuyện “Đức Giêsu bị giết.” Thánh Giá là chuyện “Đức Giêsu tự hiến.” Và Thánh Thể giữ cho mầu nhiệm ấy hiện diện giữa Hội Thánh qua mọi thế hệ.

Mỗi Thánh Lễ vì thế đưa chúng ta trở lại Canvê, không phải bằng cách đóng đinh Đức Kitô lần nữa, nhưng bằng cách cho Hội Thánh được tham dự vào lễ hiến dâng duy nhất của Người. Mỗi khi nghe: “Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con,” ta đang đứng trước logic của Thánh Giá: đời sống chỉ đạt tới sự viên mãn khi trở thành quà tặng.

  1. VƯỜN GHẾTSÊMANI: THÁNH GIÁ BẮT ĐẦU TRƯỚC KHI CÓ ĐINH

Thường ta nghĩ Thánh Giá bắt đầu khi Chúa vác cây gỗ. Nhưng Thánh Giá đã hiện diện trong vườn Ghếtsêmani. Ở đó chưa có đinh, nhưng đã có cuộc chiến của sự vâng phục. “Lạy Cha, nếu có thể, xin cho chén này rời khỏi Con. Nhưng đừng theo ý Con, một xin theo ý Cha.”

Câu ấy cho thấy Đức Giêsu không yêu đau khổ. Người không tìm đau khổ vì đau khổ. Người cầu xin nếu có thể thì chén ấy qua đi. Điều Người yêu là Chúa Cha và nhân loại. Vì tình yêu ấy, Người chấp nhận đi xuyên qua đau khổ.

Điều này chữa chúng ta khỏi một thứ linh đạo nguy hiểm coi mọi đau đớn như thể tự nó thánh thiện. Không. Kitô hữu không phải đi tìm thập giá một cách bệnh hoạn. Chúng ta không được tạo đau khổ cho mình hay cho người khác rồi gọi đó là ý Chúa. Thánh Giá chỉ có ý nghĩa khi nằm trong tình yêu, sự thật và sự vâng phục. Có những “thập giá” phải tháo xuống: bạo hành phải chấm dứt, bất công phải chống lại, người bị áp bức phải được bảo vệ, bệnh tật cần được chữa trị. Chúa Giêsu đã chữa bệnh, cho người đói ăn, bảo vệ người bị loại trừ. Người không thần thánh hóa đau khổ. Người cứu con người trong và khỏi đau khổ.

Nhưng có những đau khổ không thể tránh mà không phản bội tình yêu. Người mẹ thức đêm bên con bệnh. Người cha hy sinh cho gia đình. Người nói thật chấp nhận thiệt thòi. Người trung tín với lời hứa giữa những năm tháng khó khăn. Người tha thứ dù lòng đau. Người ở lại bên một bệnh nhân hấp hối. Những thập giá như thế không được tìm kiếm, nhưng khi tình yêu đòi hỏi, người Kitô hữu học nơi Đức Giêsu để nói: “Xin đừng theo ý con, nhưng xin theo ý Cha.”

  1. SIMON KYRÊNÊ: CÓ NHỮNG THẬP GIÁ TA KHÔNG CHỌN

Simon Kyrênê chỉ đang từ ngoài đồng về. Có lẽ ông không định gặp Đức Giêsu. Chắc chắn ông không lên kế hoạch vác Thánh Giá hôm ấy. Quân lính bắt ông vác đỡ. Một sự cố. Một phiền toái. Một đoạn đường bị ép buộc. Nhưng tên ông được ghi vào Tin Mừng mãi mãi.

Đời chúng ta có rất nhiều “Simon Kyrênê.” Có những thập giá ta không chọn. Một cú điện thoại thay đổi cả cuộc đời. Một chẩn đoán. Một biến cố gia đình. Một tai nạn. Một trách nhiệm bất ngờ. Một người cần mình trong khi mình đã kiệt sức. Ta có thể bắt đầu vác với sự miễn cưỡng. Nhưng nếu đi đủ gần Đức Giêsu, thập giá không chọn ấy có thể trở thành nơi gặp Người.

Và cũng có lúc ta được gọi làm Simon cho người khác. Không thể tháo thập giá của họ hoàn toàn, nhưng ta có thể ghé vai. Một cuộc điện thoại. Một lần lắng nghe. Một bữa cơm. Một chuyến thăm. Một sự hiện diện âm thầm. Một lời cầu nguyện. Một bàn tay. Trong Nước Thiên Chúa, những điều rất nhỏ ấy có thể là cách ta chạm vào chính cây Thánh Giá của Đức Kitô đang được mang trên vai anh chị em mình.

  1. ĐỨC MARIA DƯỚI CHÂN THÁNH GIÁ: TÌNH YÊU KHÔNG BỎ ĐI

Tin Mừng Gioan nói rất đơn giản: “Đứng gần Thánh Giá Đức Giêsu có thân mẫu Người.” Chỉ một chữ “đứng” thôi cũng đủ cho một đời suy niệm. Đức Maria không thể tháo đinh. Không thể đổi bản án. Không thể chết thay Con. Mẹ chỉ có thể đứng đó. Nhưng đôi khi tình yêu lớn nhất không phải là giải quyết vấn đề. Là không bỏ đi.

Có những đau khổ của người khác ta không thể sửa. Ta không có câu trả lời. Ta không có phép lạ. Ta không biết nói gì. Ta cảm thấy bất lực. Khi ấy Đức Maria dạy ta một sứ vụ rất lớn: đứng bên. Không chạy vì sợ phải nhìn đau khổ. Không đưa ra những lời rẻ tiền. Không nói: “Mọi chuyện rồi sẽ ổn” khi ta không biết. Chỉ đứng đó bằng một tình yêu trung tín.

Dưới chân Thánh Giá, Chúa Giêsu trao Mẹ cho người môn đệ và người môn đệ cho Mẹ. Chính giữa giờ chết, một gia đình mới được hình thành. Thánh Giá không chỉ tha tội cá nhân. Thánh Giá sinh ra cộng đoàn. Những người trước đó không phải mẹ con nay được trao cho nhau. Đó là Hội Thánh.

  1. “LẠY CHA, XIN THA CHO HỌ”

Nếu muốn biết quyền năng thật của Thánh Giá, hãy nghe lời này: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Đức Giêsu không chỉ chịu đau khổ. Người biến đau khổ thành tha thứ. Đây là nơi Thánh Giá phá vỡ vòng tròn bạo lực của thế giới.

Logic của thế gian rất đơn giản: anh làm tôi đau, tôi làm anh đau hơn; anh xúc phạm tôi, tôi bêu xấu anh; anh lấy của tôi, tôi lấy lại; anh làm gia đình tôi tổn thương, tôi sẽ nhớ suốt đời. Cứ thế, vết thương sinh vết thương. Một thế hệ truyền hận thù cho thế hệ sau.

Trên Thánh Giá, lần đầu tiên chuỗi ấy bị chặn lại bằng một tình yêu hoàn toàn tự do. Đinh đi vào tay Người, nhưng lời nguyền không đi ra khỏi miệng Người. Giáo đâm cạnh sườn Người, nhưng thù hận không chảy ra. Chỉ có máu và nước.

Đó có lẽ là phép lạ lớn nhất của Canvê.

  1. NGƯỜI TRỘM LÀNH: CÁNH CỬA CUỐI CÙNG VẪN MỞ

Bên cạnh Đức Giêsu có hai người bị đóng đinh. Một người nhạo báng. Một người nhìn thấy điều gì đó và nói: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Một đời người có thể đã đầy sai lầm, nhưng vào những phút cuối, ông quay đầu về phía Đức Kitô. Và Chúa trả lời: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.”

“Hôm nay.”

Không phải sau khi anh sửa được quá khứ. Không phải sau khi anh làm đủ việc lành để bù lại. Anh không còn thời gian xuống khỏi thập giá để thay đổi đời mình. Anh chỉ còn có thể trao lòng mình. Và điều đó đủ để lòng thương xót mở cửa.

Người trộm lành là niềm hy vọng cho những ai nghĩ mình đã quá muộn. Chừng nào còn hơi thở, con đường trở về vẫn mở. Không ai phải tuyệt vọng về lòng thương xót của Thiên Chúa.

  1. “TÔI KHÁT”

“Tôi khát.” Một trong những lời ngắn nhất từ Thánh Giá, nhưng sâu thẳm vô cùng. Chúa khát nước, tất nhiên. Một người bị mất máu, phơi nắng, chịu tra tấn sẽ khát. Kitô giáo không làm cho thân xác Đức Giêsu trở thành ảo ảnh. Người thật sự chịu đau.

Nhưng truyền thống thiêng liêng còn nghe trong lời “Tôi khát” một cơn khát khác: cơn khát con người. Đức Kitô khát tình yêu của chúng ta. Đấng tạo dựng đại dương lại nói “Tôi khát.” Người có thể ép con người yêu mình, nhưng tình yêu bị ép không còn là tình yêu. Vì thế Thiên Chúa đứng ngoài cửa mà gõ.

Thánh Giá cho thấy một Thiên Chúa khát chúng ta đến mức nào.

  1. “THẾ LÀ ĐÃ HOÀN TẤT”

Tin Mừng Gioan kể rằng trước khi tắt thở, Đức Giêsu nói: “Thế là đã hoàn tất.” Không phải: “Thế là hết.” Hai câu rất khác nhau. “Hết” là thất bại. “Hoàn tất” là sứ mạng đã đến nơi.

Điều gì được hoàn tất? Tình yêu đến cùng. Sự vâng phục đến cùng. Việc mặc khải gương mặt Chúa Cha đến cùng. Con đường mà Kinh Thánh đã đi từ Eden, qua Abraham, Môsê, các ngôn sứ, các Thánh Vịnh, giờ đây tới điểm hội tụ.

Cây đã xuất hiện.

Con Chiên đã được hiến tế.

Người Tôi Trung đã mang thương tích.

Con rắn đã được giương cao.

Vượt Qua mới đã bắt đầu.

Giao Ước mới được ký bằng máu.

Điều từng là bóng nay đã thành hình.

  1. CẠNH SƯỜN BỊ ĐÂM: TỪ TRÁI TIM MỞ RA SINH HỘI THÁNH

Một người lính lấy giáo đâm cạnh sườn Đức Giêsu, và lập tức máu cùng nước chảy ra. Các Giáo phụ nhìn nơi đó một biểu tượng sâu xa của các bí tích, đặc biệt Rửa Tội và Thánh Thể, và của Hội Thánh sinh ra từ cạnh sườn Đức Kitô như Eva xưa được hình thành từ cạnh sườn Adam.

Một lần nữa, bóng và hình gặp nhau. Adam ngủ, cạnh sườn mở ra, Eva xuất hiện. Đức Kitô bước vào giấc ngủ của cái chết, cạnh sườn mở ra, Hội Thánh được sinh thành. Adam cũ ở vườn Eden. Adam mới ở gần một khu vườn nơi có ngôi mộ.

Và trái tim Thiên Chúa từ đó không còn được trình bày như một ý niệm. Nó bị mở ra cho ta thấy.

Thiên Chúa yêu đến mức để trái tim mình bị đâm.

  1. CỰU ƯỚC KHÔNG PHẢI MỘT BỘ SƯU TẬP DỰ ĐOÁN, NHƯNG LÀ MỘT CUỘC CHUẨN BỊ

Nói rằng Thánh Giá đã được báo trước trong Cựu Ước không có nghĩa là biến Kinh Thánh thành một bộ mật mã nơi từng câu đều là dự đoán trực tiếp về Đức Giêsu. Kinh Thánh tinh tế hơn thế. Thiên Chúa giáo dục dân Người qua lịch sử. Người tạo nên một ngôn ngữ cứu độ: hy lễ, giao ước, vượt qua, chiên, máu, sa mạc, nước, bánh, người tôi trung, người công chính đau khổ, vua, tư tế, đền thờ. Khi Đức Giêsu xuất hiện, tất cả những dòng sông biểu tượng ấy gặp nhau nơi Người.

Vì thế, Cựu Ước không bị xóa bỏ. Nó nở hoa. Những điều trước kia chỉ mới là nét phác nay được chiếu sáng từ Đức Kitô. Và Đức Kitô cũng chỉ được hiểu đầy đủ khi đặt trong dòng lịch sử ấy.

  1. THÁNH GIÁ LÀ CHÌA KHÓA ĐỌC TOÀN BỘ KINH THÁNH

Sau Phục Sinh, trên đường Emmaus, Đức Giêsu gặp hai môn đệ đang thất vọng. Điều làm họ vỡ mộng chính là Thánh Giá. “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Israel.” Họ từng hy vọng. Thánh Giá dường như đã giết chết hy vọng ấy.

Chúa không trách họ vì đau. Người mở Kinh Thánh cho họ. Người giải thích rằng Đấng Kitô phải chịu đau khổ rồi mới vào vinh quang. Và khi Kinh Thánh được đọc dưới ánh sáng Thánh Giá – Phục Sinh, lòng họ bừng cháy.

Đây chính là kinh nghiệm của Hội Thánh. Ban đầu, Thánh Giá là scandal. Sau Phục Sinh, các môn đệ quay lại Kinh Thánh và bỗng những trang cũ sáng lên. Isaac. Con chiên. Biển Đỏ. Rắn đồng. Người Tôi Trung. Thánh Vịnh. Tất cả như những mảnh kính rời rạc bỗng tạo thành một cửa sổ lớn nhìn về Đức Kitô.

Vì thế, đọc Kinh Thánh Kitô giáo mà bỏ Thánh Giá ở ngoài là đánh mất trung tâm. Và đọc Thánh Giá mà không có toàn bộ Kinh Thánh phía sau là làm nó nghèo đi.

  1. TỪ “BÓNG” ĐẾN “HÌNH”, NHƯNG KHÔNG DỪNG Ở “HÌNH”

Từ Eden đến Golgotha là hành trình từ bóng đến hình. Nhưng câu chuyện chưa kết thúc ở Golgotha. Thánh Giá hướng đến Phục Sinh. Phục Sinh hướng đến Hiện Xuống. Hiện Xuống hướng đến Hội Thánh. Hội Thánh hướng đến ngày Đức Kitô trở lại. Và sách Khải Huyền cho chúng ta một hình ảnh cuối cùng thật kỳ lạ: ở trung tâm ngai Thiên Chúa là “Con Chiên như đã bị sát tế.”

Nghĩa là ngay trong vinh quang vĩnh cửu, căn cước của Đức Kitô vẫn mang dấu tình yêu tự hiến. Những thương tích không bị xóa như thể chúng là điều đáng xấu hổ. Chúng được biến đổi thành vinh quang. Thánh Tôma được mời đặt tay vào cạnh sườn. Đấng Phục Sinh vẫn mang dấu đinh.

Đó là một niềm hy vọng rất lớn cho chúng ta. Có lẽ trong Nước Trời, Thiên Chúa không đơn giản xóa quá khứ của chúng ta như thể nó chưa từng tồn tại. Người cứu chuộc nó. Những vết thương được chữa lành nhưng lịch sử tình yêu đi qua chúng không mất. Nỗi đau đã được dâng cho Chúa có thể trở thành vẻ đẹp mà hiện giờ ta chưa thể hình dung.

  1. DÁM NHÌN LÊN CÂY

Vậy cuối cùng, Kinh Thánh dẫn ta đến đâu? Dẫn ta đứng dưới một cây.

Không còn là cây ở Eden mà tay ta muốn giành lấy.

Là cây ở Golgotha nơi đôi tay Thiên Chúa mở ra cho ta.

Trên cây ấy, mọi câu hỏi lớn của con người gặp nhau. Thiên Chúa ở đâu khi người vô tội đau khổ? Ở đây. Thiên Chúa làm gì trước sự dữ? Người gánh lấy nó và chiến thắng nó bằng tình yêu. Con người đáng giá bao nhiêu? Đáng giá bằng máu Con Thiên Chúa. Tội lỗi nghiêm trọng đến đâu? Nghiêm trọng đến mức đưa Con Thiên Chúa lên Thánh Giá. Lòng thương xót lớn đến đâu? Lớn hơn cả tội đã đóng đinh Người. Cái chết mạnh đến đâu? Đủ mạnh để giết một con người, nhưng không đủ mạnh để giữ Đức Kitô trong mồ.

Vậy hãy nhìn lên.

Khi thấy mình tội lỗi, hãy nhìn lên.

Khi thấy mình thất bại, hãy nhìn lên.

Khi bị người khác kết án, hãy nhìn lên.

Khi chính mình không tha thứ nổi cho mình, hãy nhìn lên.

Khi bệnh tật làm thân xác yếu đi, hãy nhìn lên.

Khi người thân nằm xuống, hãy nhìn lên.

Khi cầu nguyện mà trời như im lặng, hãy nhìn lên.

Khi không còn hiểu Chúa đang làm gì, hãy nhìn lên.

Không phải mọi câu hỏi sẽ lập tức được trả lời. Thánh Giá không phải một công thức giải thích tất cả đau khổ. Thánh Giá còn lớn hơn một lời giải thích. Nó là một sự hiện diện. Thiên Chúa không đứng ngoài đau khổ để giảng cho con người một bài triết học. Người đi vào đau khổ và ở đó với chúng ta.

Có những lúc ta không cần một lời giải thích.

Ta cần biết mình không một mình.

Thánh Giá nói điều ấy.

Có một Người đã từng bị phản bội.

Có một Người đã từng bị hiểu lầm.

Có một Người đã từng bị bạn bè bỏ chạy.

Có một Người đã từng bị kết án oan.

Có một Người đã từng kêu lên vì cảm thấy bị bỏ rơi.

Có một Người đã từng khóc.

Có một Người đã từng chảy máu.

Có một Người đã từng chết.

Và Người ấy là Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

Đó là lý do người Kitô hữu treo Thánh Giá trong nhà, đặt Thánh Giá trên bàn thờ, làm dấu Thánh Giá khi thức dậy, trước khi ăn, trước khi đi đường, khi sợ hãi, trước khi ngủ và trước phút cuối đời. Không phải vì mê một vật thể. Nhưng vì Thánh Giá tóm gọn cả câu chuyện của chúng ta với Thiên Chúa. Từ cây bị mất trong Eden đến cây được dựng trên Golgotha; từ Adam giấu mình khỏi Thiên Chúa đến Đức Kitô dang tay tìm con người; từ con chiên của Abel đến Con Chiên Thiên Chúa; từ Isaac vác củi đến Đức Giêsu vác gỗ; từ máu chiên trên cửa nhà Israel đến máu Đức Kitô trên cây gỗ; từ rắn đồng được giương cao đến Con Người được giương cao; từ Người Tôi Trung bị nghiền nát đến Đấng chịu đóng đinh; từ Thánh Vịnh của người bị bỏ rơi đến tiếng cầu nguyện trên Canvê; từ ngôi mộ đến bình minh Phục Sinh.

Tất cả hội tụ nơi đây.

Một Cây.

Một thân thể.

Hai cánh tay mở.

Một trái tim bị đâm.

Một lời tha thứ.

Một lời: “Tôi khát.”

Một lời: “Thế là đã hoàn tất.”

Và sau đó là sự im lặng.

Nhưng sự im lặng ấy không kéo dài mãi.

Sáng ngày thứ nhất trong tuần, ngôi mộ trống.

Bởi vì Cây Sự Sống đã thực sự được trồng lại giữa thế gian.

Và từ ngày ấy, không thập giá nào của người tin còn có quyền nói rằng nó là lời cuối cùng. Có thể nó rất nặng. Có thể nó kéo dài nhiều năm. Có thể có những ngày ta chỉ đủ sức ôm lấy nó mà khóc. Nhưng sau Thánh Giá của Đức Kitô, người Kitô hữu biết một điều mà thế gian không thể lấy khỏi họ: Thứ Sáu Tuần Thánh có thật, nhưng Chúa Nhật Phục Sinh cũng có thật. Đinh có thật, nhưng ngôi mộ trống cũng có thật. Nước mắt có thật, nhưng lời hứa cũng có thật. Cái chết có thật, nhưng sự sống mạnh hơn cái chết.

Đó chính là toàn bộ đường đi của Kinh Thánh: từ một khu vườn bị mất đến một khu vườn có ngôi mộ trống; từ cây làm con người xa Thiên Chúa đến Cây đưa con người trở về với Thiên Chúa; từ bóng đến hình; từ lời hứa đến hoàn tất; từ sự chết đến sự sống; từ Adam đến Đức Kitô; từ tội lỗi đến ân sủng; từ lưu đày đến quê nhà.

Và ở chính giữa con đường ấy đứng một cây Thánh Giá.

Lm. Anmai, CSsR

CHƯƠNG III. CHÚA GIÊSU ÔM LẤY THÁNH GIÁ NHƯ THẾ NÀO

Yêu mến Thánh Giá không phải trước hết là học một lý thuyết về đau khổ, càng không phải là tập cho mình một thứ tâm lý thích chịu đựng, thích bị tổn thương, thích thất bại hay tìm kiếm những điều làm cho đời mình nặng nề hơn. Yêu mến Thánh Giá là học nơi Đấng đã ôm Thánh Giá trước chúng ta. Chúng ta không yêu một khúc gỗ. Chúng ta yêu Đấng đã để cho đôi tay mình bị đóng vào khúc gỗ ấy vì yêu. Chúng ta không tôn thờ đau khổ. Chúng ta thờ lạy một Thiên Chúa đã bước vào đau khổ của con người để không còn một đau khổ nào, nếu được kết hợp với Người, phải hoàn toàn vô nghĩa. Chúng ta không đi tìm thập giá, nhưng khi thập giá đến qua bệnh tật, tuổi già, thất bại, hiểu lầm, cô đơn, mất mát, phản bội, trách nhiệm, bổn phận, hy sinh, những giới hạn không thể thay đổi, những vết thương không thể một sớm một chiều chữa lành, chúng ta nhìn vào Đức Giêsu để học cách đi qua nó. Điều làm nên sự thánh thiện không phải là mình đau bao nhiêu, nhưng là mình yêu thế nào giữa đau khổ ấy. Điều làm nên giá trị cứu độ của thập giá không phải là sức nặng của nó, nhưng là tình yêu được đặt vào trong sức nặng ấy. Một người có thể chịu rất nhiều mà vẫn trở nên cay đắng. Một người khác có thể chịu ít hơn nhưng biết dâng, biết yêu, biết tha thứ, biết tín thác, và chính nơi ấy thập giá bắt đầu trở thành con đường cứu độ. Đức Giêsu đã không chỉ giảng về Thánh Giá. Người đã vác Thánh Giá. Người đã không chỉ bảo môn đệ từ bỏ mình. Người đã từ bỏ chính mình trước. Người đã không chỉ dạy phải tha thứ kẻ thù. Trên đỉnh đau khổ, Người đã cầu xin Cha tha cho những kẻ đóng đinh mình. Người không chỉ dạy phải tín thác. Trong giờ tối nhất, Người đã đặt linh hồn mình vào tay Cha. Vì thế, muốn hiểu Thánh Giá, hãy nhìn Đức Giêsu. Muốn biết cách sống với thập giá đời mình, hãy đi theo từng bước của Người, từ căn phòng Tiệc Ly đến Ghetsêmani, từ Ghetsêmani đến dinh thượng tế, từ dinh Philatô ra phố Giêrusalem, từ phố Giêrusalem lên đồi Golgotha, rồi từ Golgotha đến tiếng kêu cuối cùng: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Cả con đường ấy là một trường học của tình yêu, nơi Thiên Chúa không dạy chúng ta tránh né phận người nhưng dạy chúng ta sống phận người đến tận cùng trong tư cách người con.

  1. GHETSÊMANI: ÔM LẤY TRONG RUN RẨY

Muốn hiểu Chúa Giêsu đã ôm lấy Thánh Giá như thế nào, không được bắt đầu thẳng từ Núi Sọ. Trước Núi Sọ là Ghetsêmani. Trước những chiếc đinh là những giọt mồ hôi. Trước tiếng búa là một lời cầu nguyện run rẩy. Trước khi thân xác bị treo lên, tâm hồn Người đã đi qua một cơn hấp hối. Và đây là điều vô cùng quan trọng cho đời sống đức tin của chúng ta: Chúa Giêsu không bước vào cuộc Thương Khó như một anh hùng lạnh lùng không biết đau, không biết sợ, không biết buồn. Người không đi vào cái chết như một diễn viên đã biết trước kịch bản nên chỉ cần hoàn thành vai diễn. Tin Mừng cho chúng ta thấy một Đức Giêsu rất thật, rất người: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được.” Người sấp mình xuống đất. Người cầu xin: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho Con khỏi uống chén này.” Ở đó không có giả vờ. Ở đó không có thứ đạo đức tô son cho đau khổ. Ở đó không có một Con Thiên Chúa đứng ngoài thân phận loài người. Người thực sự run rẩy trước điều sắp đến. Người biết mình sắp bị phản bội. Người biết Giuđa đang đến. Người biết Phêrô rồi sẽ chối mình. Người biết đám đông từng tung hô rồi sẽ hô đóng đinh. Người biết roi da, mão gai, nhục nhã, sự cô đơn và cái chết đang chờ. Người không giả vờ rằng những điều ấy nhẹ nhàng. Và chính vì Người thực sự sợ nên sự vâng phục của Người mới có ý nghĩa. Nếu không có sự giằng co của ý muốn con người, thì lời “xin đừng theo ý Con, một theo ý Cha” sẽ chỉ là một câu nói. Nhưng trong Ghetsêmani, câu ấy là một sự hiến dâng. Ý riêng không bị xóa bỏ như thể không tồn tại; ý riêng được đặt vào trong tay Cha. Chúa Giêsu không nói: “Con không sợ.” Người nói: “Con sợ, nhưng Con tín thác.” Người không nói: “Chén này không đắng.” Người nói: “Chén này đắng, nhưng nếu đây là con đường của tình yêu, Con xin uống.” Người không nói: “Con không muốn sống.” Người rất muốn sống. Chính vì Người muốn sống nên việc dâng mạng sống mới là một hiến lễ thật. Chính nơi đây ta hiểu rằng yêu mến Thánh Giá không phải là tập nói “không sao” khi thật sự rất đau; không phải là che giấu nước mắt để người khác nghĩ mình mạnh; không phải là phủ nhận rằng mình đang sợ; không phải là khoác lên vết thương những câu đạo đức để khỏi nhìn thẳng vào nó. Ghetsêmani dạy ta được phép nói thật với Thiên Chúa. “Lạy Cha, con sợ.” “Lạy Cha, con mệt.” “Lạy Cha, con không muốn chuyện này xảy ra.” “Lạy Cha, con không hiểu tại sao.” “Lạy Cha, con muốn bỏ cuộc.” “Lạy Cha, con thấy cô đơn.” “Lạy Cha, con đã cố gắng nhiều rồi.” Một lời cầu nguyện thật bao giờ cũng quý hơn trăm lời cầu nguyện giả. Thiên Chúa không cần chúng ta diễn vai người mạnh trước mặt Người. Người biết chúng ta yếu. Người biết sự thật trước khi ta thú nhận. Người chỉ chờ ta đem sự thật ấy vào trong tương quan với Người.

Có những người cảm thấy có lỗi vì khi gặp thử thách họ sợ. Họ nghĩ một người có đức tin thì không được sợ, một linh mục thì không được mệt, một tu sĩ thì không được chán nản, một người cha người mẹ thì không được có lúc kiệt sức, một Kitô hữu thì khi bệnh nặng phải luôn mỉm cười. Nhưng Ghetsêmani nói ngược lại: sự thánh thiện không nằm ở chỗ không có sợ hãi; sự thánh thiện nằm ở chỗ đem nỗi sợ vào trong cầu nguyện. Đức Giêsu buồn đến chết được mà vẫn là Con yêu dấu của Cha. Đức Giêsu run rẩy mà vẫn hoàn toàn vâng phục. Đức Giêsu xin cho chén đắng cất khỏi mình mà vẫn là Đấng Cứu Độ. Vì thế, đừng biến đời sống thiêng liêng thành một cuộc trình diễn. Có lúc cầu nguyện không phải là hát Alleluia. Có lúc cầu nguyện là quỳ xuống mà nói: “Lạy Chúa, con chịu hết nổi rồi.” Có lúc đức tin không phải là thấy rõ con đường. Đức tin chỉ là không bỏ Cha khi đường đã tối. Có lúc hy vọng không phải là cảm thấy mọi việc sẽ tốt đẹp. Hy vọng chỉ là tiếp tục đặt tay mình vào tay Chúa khi chẳng còn cảm thấy gì. Ghetsêmani dạy ta một thứ can đảm khác hẳn can đảm của thế gian. Thế gian nghĩ can đảm là không sợ. Đức Giêsu cho thấy can đảm là sợ mà vẫn bước đi. Thế gian nghĩ mạnh mẽ là không khóc. Đức Giêsu khóc, buồn, run, đổ mồ hôi, rồi đứng dậy đối diện với kẻ đến bắt mình. Đó mới là sức mạnh cứu độ: sức mạnh không chối bỏ yếu đuối nhưng để tình yêu lớn hơn yếu đuối.

Trong Ghetsêmani, còn có một nỗi đau khác: sự cô đơn. Đức Giêsu muốn các môn đệ ở lại với Người. Người nói với họ: “Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy.” Điều ấy thật cảm động. Con Thiên Chúa nhập thể cũng muốn có người bên cạnh. Người không cần những lời giải thích thần học. Người chỉ cần họ thức. Nhưng họ ngủ. Người cầu nguyện, họ ngủ. Người hấp hối, họ ngủ. Người trở lại lần thứ hai, họ vẫn ngủ. Có những thập giá của chúng ta nặng không chỉ vì điều xảy ra, mà còn vì đúng lúc ta đau nhất, những người ta mong sẽ hiểu lại không hiểu; những người ta mong ở lại lại vắng mặt; những người từng nói yêu ta lại không biết phải làm gì trước nước mắt của ta. Nỗi đau ấy Đức Giêsu biết. Người không chỉ chịu khổ vì kẻ thù; Người còn chịu cái đau của tình bạn bất lực. Và như thế, nếu có lúc chúng ta phải cầu nguyện một mình, phải chiến đấu một mình, phải khóc khi chẳng ai biết, ta có thể nhớ rằng Ghetsêmani đã từng có một Người cũng như thế. Nhưng có một khác biệt quyết định: dù các môn đệ ngủ, Cha không ngủ. Dù Người không cảm thấy được nâng đỡ bởi con người, Người vẫn nói “Abba, Cha ơi.” Ghetsêmani không chỉ là nơi của sợ hãi; nó là nơi một Người Con bám lấy căn tính sâu nhất của mình giữa bóng tối. Chúa Giêsu không nói với số phận. Người nói với Cha. Người không nói với một quyền lực mù quáng. Người nói với Đấng Người yêu và biết rằng mình được yêu. Đó là bí quyết để mang thập giá: đừng chỉ hỏi “tại sao chuyện này xảy ra với tôi”, nhưng hãy giữ một tiếng “Cha” trong đau khổ. Có những câu hỏi sẽ chưa có đáp án, nhưng nếu ta còn gọi được Thiên Chúa là Cha, bóng tối chưa chiến thắng.

“Xin đừng theo ý Con, một theo ý Cha” không phải là một lời đầu hàng trước định mệnh. Đó là lời của tình yêu hoàn toàn tự do. Vâng phục Kitô giáo không có nghĩa là thôi suy nghĩ, thôi cảm xúc, thôi ước muốn. Vâng phục là đặt ước muốn của mình bên trong một tình yêu lớn hơn. Người con có thể nói với Cha điều mình muốn, nhưng sau cùng vẫn tin rằng Cha nhìn xa hơn mình. Trong đời chúng ta, có những Ghetsêmani rất dài. Một căn bệnh không khỏi. Một cuộc hôn nhân bị thương. Một đứa con khiến cha mẹ đau lòng. Một ơn gọi đi qua khô khan. Một người thân ra đi quá sớm. Một dự án tan vỡ. Một lời vu khống không thể thanh minh hết. Một tuổi già mất dần khả năng tự chủ. Một sự cô đơn kéo dài nhiều năm. Một trách nhiệm mà người khác không hiểu. Có khi ta đã cầu xin rất lâu mà tình hình vẫn không đổi. Khi ấy, lời cầu nguyện trưởng thành dần từ “xin thay đổi hoàn cảnh” sang “xin biến đổi con trong hoàn cảnh này”; từ “xin cất chén này” sang “nếu chén này phải ở lại, xin cho con biết uống với Chúa”; từ “xin đừng để đau” sang “xin đừng để đau làm con mất tình yêu.” Đó không phải là thụ động. Đó là chiến thắng sâu nhất của tự do: đau khổ có thể lấy đi sức khỏe, lấy đi danh tiếng, lấy đi tiền bạc, lấy đi nhiều điều, nhưng nó không nhất thiết lấy được tự do yêu của ta. Trong Ghetsêmani, Satan không chiến thắng được tự do ấy. Đức Giêsu vẫn yêu. Và vì Người vẫn yêu, Thánh Giá bắt đầu được biến đổi từ dụng cụ giết người thành bàn thờ của hiến lễ.

  1. CON ĐƯỜNG LÊN NÚI SỌ: ÔM LẤY TRONG NHỤC NHÃ CÔNG KHAI

Sau Ghetsêmani là một chuỗi dài những tổn thương không chỉ trên thân xác mà trên phẩm giá. Đức Giêsu bị bắt như một tên nguy hiểm dù Người chưa từng dùng bạo lực. Người bị trói. Người bị điệu đi giữa đêm. Người bị xét xử bởi những người đã phần nào quyết định bản án trước khi phiên tòa bắt đầu. Người bị tố cáo. Người bị nhạo báng. Người bị đánh. Phêrô, người từng thề “dù mọi người có vấp ngã, con cũng không”, lại nói: “Tôi không biết người ấy.” Đó không chỉ là một lời chối; đó là một nhát cắt vào tình bạn. Rồi buổi sáng đến, Chúa Giêsu bị đưa sang Philatô. Quyền lực chính trị nhìn vào Người và cân nhắc lợi ích. Đám đông chọn Baraba. Một người vô tội bị đổi lấy một kẻ phạm tội. Và điều kỳ lạ là chính trong cuộc đổi chỗ ấy đã có một biểu tượng của ơn cứu độ: Baraba được tự do vì Đức Giêsu chịu chết thay. Baraba là chúng ta. Người có tội được thả. Đấng vô tội mang án. Tin Mừng của Thánh Giá nằm ngay trong nghịch lý ấy.

Rồi Người bị đánh đòn. Bị đội mão gai. Bị khoác áo đỏ để làm trò cười. Người ta quỳ trước Người không để thờ mà để chế nhạo: “Vạn tuế vua dân Do Thái!” Chưa bao giờ con người lại vừa gần sự thật vừa xa sự thật đến thế. Người đúng là Vua. Nhưng họ nói điều thật bằng giọng mỉa mai. Họ trao vào tay Người một cây sậy. Họ khạc nhổ. Họ đập vào đầu Người. Một trong những đau đớn khủng khiếp nhất của đời người là bị biến thành trò cười trong chính điều thiêng liêng nhất của mình. Có người bị chế giễu vì đức tin. Có người bị cười vì nghèo. Có người bị cười vì thất bại. Có người bị khinh vì một quá khứ. Có người bị nói xấu bởi những người không bao giờ tìm hiểu đầy đủ sự thật. Có người mất công việc và cảm thấy mình vô dụng. Có người bệnh tật làm thân xác thay đổi đến mức không còn nhận ra hình ảnh mạnh mẽ của mình trước đây. Có người một thời được trọng vọng, đến tuổi già thấy ít ai hỏi han. Nhục nhã là một loại thập giá rất đặc biệt, vì nó không chỉ làm mình đau mà khiến mình nghi ngờ giá trị bản thân. Và Chúa Giêsu đã bước vào chính nơi ấy. Người để cho mình bị lột bỏ mọi thứ bên ngoài, để nói với chúng ta rằng phẩm giá sâu nhất của con người không nằm trong những gì người khác nói về mình. Họ có thể gọi Người là kẻ phạm thượng, nhưng Người vẫn là Con Cha. Họ có thể đội mão gai để chế giễu, nhưng Người vẫn là Vua. Họ có thể khạc nhổ, nhưng khuôn mặt ấy vẫn là dung nhan Thiên Chúa. Họ có thể lột áo, nhưng họ không thể lột căn tính Người Con. Đây là sức mạnh lớn lao cho những ai từng bị sỉ nhục: lời phán xét của người đời không phải lời cuối cùng về ta. Điều người khác gọi ta không nhất thiết là điều Thiên Chúa gọi ta. Có khi người đời thấy một kẻ thất bại, còn Chúa thấy một người con vẫn được yêu. Có khi người đời thấy một người hết thời, còn Chúa thấy một người đang tiến gần quê hương. Có khi người đời chỉ thấy vết sẹo, còn Chúa thấy chứng tích của một cuộc chiến đã vượt qua.

Chúa Giêsu vác thập giá giữa đường phố. Không có phòng riêng. Không có bức màn che. Thất bại của Người bị phơi bày. Người từng chữa người bại liệt giờ đây ngã xuống. Người từng cho người mù thấy giờ bị dẫn đi như kẻ bất lực. Người từng làm bánh hóa nhiều giờ đây không có lấy một ngụm nước. Người từng được đám đông tìm kiếm giờ chính đám đông nhìn Người bị dẫn đi xử tử. Đây là sự nghịch lý khủng khiếp của cuộc Thương Khó. Và chính nơi đó ta nhận ra một sự thật của đời người: có những thập giá không cho phép ta giữ nguyên hình ảnh về mình. Ta từng nghĩ mình mạnh, rồi một căn bệnh cho thấy ta mong manh. Ta từng nghĩ mình kiểm soát cuộc đời, rồi một biến cố bất ngờ chứng minh rằng không phải mọi thứ nằm trong tay ta. Ta từng nghĩ mình cần thiết, rồi một ngày công việc vẫn tiếp tục khi không còn ta. Ta từng nghĩ người khác hiểu mình, rồi một lời đồn có thể đảo lộn tất cả. Những lúc như vậy, cái chết đau nhất có khi không phải chết thân xác, mà là cái chết của hình ảnh ta dựng về chính mình. Thánh Giá của Đức Giêsu đi rất sâu vào chỗ ấy. Người không giữ lại cho mình vẻ ngoài của một Mêsia thành công. Người chấp nhận để người ta thấy một Mêsia yếu đuối. Và chính trong yếu đuối ấy, quyền năng cứu độ được bày tỏ.

Nhưng Chúa Giêsu không cô độc hoàn toàn trên con đường lên Núi Sọ. Có Simon thành Kyrênê bị bắt vác đỡ thập giá. Chi tiết ấy thật đẹp, vì nó nói rằng ngay cả Con Thiên Chúa nhập thể cũng chấp nhận sự giúp đỡ. Người không nói: “Đây là thập giá của Ta, không ai được đụng vào.” Người để một người khác mang cùng. Bao nhiêu người trong chúng ta mang thập giá nặng hơn mức cần thiết chỉ vì không biết nhận giúp đỡ! Ta muốn chứng minh mình mạnh. Ta sợ làm phiền. Ta sợ người khác biết mình yếu. Ta nghĩ tự lập là phẩm chất cao nhất. Nhưng trên đường Thánh Giá, Thiên Chúa đã để Simon tham dự. Nhận sự giúp đỡ không làm ta thấp đi. Có khi đó là cách Thiên Chúa cứu ta. Có khi một cuộc điện thoại, một người bạn, một linh mục, một bác sĩ, một người thân, một cộng đoàn, một bàn tay, một lời cầu nguyện chính là Simon mà Chúa gửi đến. Và ngược lại, có lúc ta được gọi làm Simon cho người khác. Không cần giải quyết cả cuộc đời họ. Simon không tháo được thập giá khỏi Chúa Giêsu. Ông chỉ mang cùng một đoạn đường. Nhưng một đoạn đường cũng quý biết bao. Có những người chúng ta không thể chữa bệnh cho họ, không thể làm người chết sống lại, không thể giải quyết món nợ, không thể thay đổi quá khứ, nhưng ta có thể ở bên. Có khi yêu không phải là cất thập giá đi. Yêu là đặt vai mình dưới một phần sức nặng.

Có những phụ nữ Giêrusalem khóc thương Chúa. Và Chúa quay lại nói với họ. Ngay giữa nỗi đau của mình, Người vẫn thấy nỗi đau người khác. Đây là dấu chỉ của một tình yêu đã trưởng thành đến tận cùng. Đau khổ thường làm ta co lại. Khi đau, ta dễ chỉ nhìn thấy mình. Ta nghĩ không ai đau bằng ta. Ta trở nên nhạy cảm với mọi điều người khác làm hay không làm. Điều ấy rất con người. Nhưng Chúa Giêsu cho thấy một lối vượt qua: đừng để đau khổ đóng trái tim lại. Ta có thể đau mà vẫn dịu dàng. Ta có thể bệnh mà vẫn hỏi thăm người khác. Ta có thể nghèo mà vẫn chia sẻ. Ta có thể bị hiểu lầm mà vẫn không vội kết án. Ta có thể mang thập giá mà vẫn nhìn thấy người bên cạnh đang mang thập giá khác. Khi đau khổ làm ta rộng lòng hơn, nó bắt đầu được cứu chuộc. Khi đau khổ khiến ta trở nên nhân hậu hơn với những người cũng đang khổ, Thánh Giá sinh hoa trái. Người từng nằm bệnh lâu thường hiểu bệnh nhân hơn. Người từng bị hiểu lầm có thể học đừng vội hiểu lầm người khác. Người từng cô đơn có thể trở nên người biết ngồi bên kẻ cô đơn. Người từng thất bại có thể biết nâng người đang ngã. Nếu điều đã làm ta đau lại làm ta biết thương hơn, ma quỷ đã thua một trận.

Chúa ngã trên đường. Kinh Thánh không kể trực tiếp ba lần ngã như truyền thống Đàng Thánh Giá, nhưng truyền thống ấy chạm đến một sự thật rất sâu về thân phận Người: thân xác đã kiệt quệ. Và hình ảnh Chúa ngã rồi đứng lên là một biểu tượng mạnh cho đời sống thiêng liêng. Nhiều người lầm tưởng yêu Thánh Giá nghĩa là không bao giờ ngã. Không phải. Con đường Thánh Giá có thể đầy những lần ngã. Điều quan trọng là ta còn hướng về Golgotha. Có những lần ngã vì yếu đuối. Có lần vì tội. Có lần vì mệt. Có lần vì gánh quá nặng. Có lần vì người khác xô mình. Thiên Chúa không chỉ nhìn khoảnh khắc ta nằm dưới đất. Người nhìn hướng ta đang muốn đi. Một vị thánh không phải là người chưa từng ngã. Vị thánh là người đã để cho ân sủng dựng mình lên rất nhiều lần. Vì thế đừng biến thất bại thành căn tính. “Tôi đã thất bại” khác với “tôi là kẻ thất bại.” “Tôi đã phạm tội” khác với “tôi chỉ là tội lỗi.” Phêrô ngã thê thảm, nhưng được dựng dậy. Người trộm lành có cả đời sai lầm, nhưng giờ cuối vẫn có thể quay về. Thánh Giá tuyên bố rằng khi còn có thể nhìn về Đức Giêsu, vẫn còn đường về.

  1. TRÊN THẬP GIÁ: ÔM LẤY CHO ĐẾN HƠI THỞ CUỐI

Cuối cùng Chúa Giêsu đến Golgotha. Người bị đóng đinh. Bàn tay từng chạm vào người phong hủi giờ bị xuyên thủng. Bàn chân từng đi tìm chiên lạc giờ bị cố định vào gỗ. Miệng từng giảng các Mối Phúc giờ khô khát. Thân thể từng bẻ bánh cho đám đông giờ trở nên tấm bánh bị bẻ ra cho thế gian. Trên Thánh Giá, Đức Giêsu không còn đi đâu, không còn giảng cho đám đông, không còn làm phép lạ theo cách người ta mong. Người bị giữ yên. Nhưng chính khi dường như không còn làm được gì, Người lại thực hiện công trình lớn nhất: trao chính mình. Có một bài học rất lớn ở đây cho người bệnh, người già, người bất lực, người không còn khả năng hoạt động như trước. Giá trị của đời ta không chỉ nằm trong điều ta làm. Có lúc điều đẹp nhất ta có thể làm là hiến dâng chính tình trạng bất lực của mình. Một người mẹ già không còn đi lại, nhưng lời cầu nguyện của bà có thể trở thành một Thánh Giá hiệp thông. Một linh mục bệnh không còn giảng nổi, nhưng sự kết hợp âm thầm với Chúa có thể trở thành một bài giảng sâu hơn nhiều bài giảng. Một người phải nằm viện lâu ngày có thể thấy mình vô dụng; Thánh Giá nói rằng tình yêu vẫn có thể hoạt động khi thân xác không còn hoạt động nhiều. Tại Golgotha, Chúa Giêsu cứu thế giới không bằng chạy khắp nơi mà bằng ở lại. Người ở lại trong tình yêu. Và đôi khi sứ mạng cuối cùng của đời ta cũng là học ở lại như thế.

Bảy lời trên Thánh Giá được truyền thống Kitô giáo gìn giữ như bảy cửa sổ mở vào trái tim Đức Kitô. Đó không phải những câu trích dẫn rời rạc. Đó là bản đồ của một tâm hồn đang yêu giữa tận cùng đau khổ. Nếu muốn biết Chúa Giêsu ôm lấy Thánh Giá thế nào, hãy nghe Người nói. Trong lúc đau nhất, điều bật ra khỏi miệng Người cho biết điều đầy trong tim Người. Và lạ thay, ta không nghe nguyền rủa. Không nghe “Ta sẽ trả thù.” Không nghe “Các ngươi sẽ biết tay.” Không nghe cay độc. Ta nghe Cha, tha thứ, Thiên Đàng, Mẹ, con, khát, hoàn tất, phó thác. Thập Giá ép thân xác Người đến tận giới hạn, nhưng thứ chảy ra vẫn là tình yêu. Đây là phép lạ lớn hơn nhiều phép lạ: một trái tim bị làm tổn thương mà không trở thành nguồn làm tổn thương người khác.

“LẠY CHA, XIN THA CHO HỌ, VÌ HỌ KHÔNG BIẾT VIỆC HỌ LÀM.”

Lời đầu tiên là lời tha thứ. Đức Giêsu không đợi họ xin lỗi. Những người đóng đinh Người chưa hối hận. Họ còn chia áo Người. Họ còn chế nhạo. Nhưng Người cầu xin Cha tha cho họ. Tha thứ ở đây không có nghĩa là gọi điều ác thành điều tốt. Đóng đinh người vô tội vẫn là tội. Phản bội vẫn là phản bội. Bạo lực vẫn là bạo lực. Tha thứ không phải phủ nhận công lý; tha thứ là từ chối để tội của kẻ khác quyết định mình trở thành người thế nào. Người ta có thể đóng đinh Chúa Giêsu, nhưng họ không thể biến Người thành kẻ hận thù. Họ kiểm soát thân xác Người, nhưng không kiểm soát trái tim Người. Đây là tự do tối thượng. Khi ta không tha, người làm ta đau có thể tiếp tục sống trong ta. Ta mang họ vào giấc ngủ, vào bữa ăn, vào cầu nguyện. Ta nói chuyện với người khác mà tâm trí vẫn ở trong vết thương cũ. Tha thứ không luôn là cảm xúc. Có khi ta phải tha hàng trăm lần cho cùng một ký ức. Mỗi lần vết đau trở lại, ta lại nói: “Lạy Chúa, con giao người ấy cho Chúa. Con không muốn điều họ đã làm tiếp tục quyết định trái tim con.” Có những vết thương sâu cần thời gian, cần ranh giới, cần chữa lành, đôi khi cần công lý và trách nhiệm. Tha thứ không buộc ta quay lại một mối quan hệ nguy hiểm. Nhưng tha thứ luôn mời ta đừng để lòng mình trở thành bản sao của người đã làm hại mình. Trên Thánh Giá, Đức Giêsu bị bạo lực nhưng không truyền bạo lực đi xa hơn. Bạo lực dừng lại ở Người. Căm thù đến với Người và được biến thành lời chuyển cầu. Đây chính là cách Thánh Giá cứu thế giới: nó phá chuỗi trả đũa. Ai xúc phạm tôi, tôi xúc phạm lại. Ai làm tôi đau, tôi làm họ đau hơn. Một gia đình có thể truyền cay đắng nhiều thế hệ chỉ vì không ai chịu dừng chuỗi ấy. Một cộng đoàn có thể chia rẽ hàng chục năm chỉ vì người nọ giữ lại lời người kia. Chúa Giêsu đứng giữa dòng độc ấy và nói: “Xin tha cho họ.” Học yêu Thánh Giá là học để một số chuỗi đau chấm dứt nơi mình.

“HÔM NAY, ANH SẼ ĐƯỢC Ở VỚI TÔI TRÊN THIÊN ĐÀNG.”

Bên cạnh Chúa là hai người tội phạm. Một người nhạo Người. Người kia nói một câu đơn sơ: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Không có thời gian sửa lại cuộc đời. Không còn thời gian đền bù tất cả. Không có thành tích để trình bày. Ông chỉ có một lời xin. Và Chúa trả lời: “Hôm nay, anh sẽ được ở với Tôi trên Thiên Đàng.” Đây là một trong những câu đầy hy vọng nhất của Tin Mừng. Cửa Thiên Đàng mở ra ngay bên một cây thập giá. Người bước vào đầu tiên theo lời hứa ấy không phải một người có hồ sơ đẹp; ông là một người đến giờ cuối mới biết quay đầu. Điều đó không khuyến khích trì hoãn sám hối; nó công bố sự bao la của lòng thương xót. Không ai được quyền tuyệt vọng về chính mình hay người khác. Khi còn một hơi thở hướng về Chúa, còn có hy vọng. Có cha mẹ đau vì con cái đã xa Chúa nhiều năm. Có người đau vì một quá khứ không thể sửa. Có người mang mặc cảm vì đã lãng phí quá nhiều thời gian. Người trộm lành đứng trên Golgotha như một chứng nhân rằng ân sủng có thể làm rất nhiều trong một khoảnh khắc thật lòng. Chúa không nói: “Anh đến trễ rồi.” Người nói: “Hôm nay.” Thiên Chúa là Đấng có thể làm cho một “hôm nay” cứu lại cả một “hôm qua.” Và điều người trộm lành xin cũng thật khiêm tốn: “Xin nhớ đến tôi.” Có lúc ta không biết cầu gì nữa, chỉ cần nói: “Lạy Chúa, xin nhớ đến con.” Trong Thánh Kinh, Thiên Chúa nhớ nghĩa là Người hành động trong giao ước của Người. Khi ta cảm thấy bị mọi người quên, Chúa không quên. Khi tên ta không còn được ai nhắc, Người vẫn biết. Khi đời ta dường như chẳng để lại thành tựu nào, việc được Chúa nhớ đã đủ để cứu một đời.

“THƯA BÀ, ĐÂY LÀ CON BÀ… ĐÂY LÀ MẸ CỦA ANH.”

Ngay trong giờ chết, Chúa Giêsu vẫn nghĩ đến những người Người để lại. Người nhìn Mẹ. Người nhìn người môn đệ Chúa yêu. Và Người trao họ cho nhau. Thánh Giá tạo ra một gia đình mới. Tội lỗi phân tán; Thánh Giá quy tụ. Sợ hãi làm các môn đệ chạy; tình yêu dưới chân Thánh Giá làm Mẹ và môn đệ đứng lại. Đây cũng là hình ảnh của Giáo Hội: không phải một tập hợp những người hoàn hảo, nhưng là những con người được trao cho nhau dưới chân Đức Kitô chịu đóng đinh. “Đây là mẹ con.” “Đây là con bà.” Kitô giáo không cho phép ta sống đức tin hoàn toàn riêng tư. Một người thật sự đứng dưới Thánh Giá phải học nhận lấy người khác như quà tặng và trách nhiệm. Đức Maria được trao cho người môn đệ. Người môn đệ được trao cho Đức Maria. Ta cũng được trao cho nhau. Có những người ta không chọn nhưng Chúa đặt vào đời ta. Một người già cần chăm sóc. Một đứa trẻ cần kiên nhẫn. Một anh chị em khó tính. Một người nghèo. Một người cô độc. Một cộng đoàn không hoàn hảo. Có lúc thập giá chính là học yêu người Chúa đã trao chứ không phải người ta tưởng mình sẽ yêu. Và Đức Maria đứng dưới Thánh Giá cho chúng ta một kiểu hiện diện tuyệt vời: Mẹ không tháo đinh. Mẹ không làm phép lạ. Mẹ không giải thích tại sao. Mẹ đứng đó. Có những lúc người đang đau không cần bài giảng. Họ cần một người đứng đó. Hiện diện có thể là hình thức cao nhất của tình yêu khi lời nói đã hết tác dụng.

“LẠY THIÊN CHÚA CỦA CON, LẠY THIÊN CHÚA CỦA CON, SAO NGÀI BỎ RƠI CON?”

Đây có lẽ là lời gây chấn động nhất trên Thánh Giá. Đức Giêsu lấy lời mở đầu Thánh Vịnh 22 để cầu nguyện. Người đi vào kinh nghiệm sâu thẳm của con người: cảm thấy Thiên Chúa vắng mặt. Cần phân biệt cảm thức bị bỏ rơi với việc Cha thật sự từ bỏ Con. Mầu nhiệm Ba Ngôi không bị tan vỡ. Nhưng trong nhân tính thật, Đức Giêsu đã bước vào bóng tối nơi con người có thể không còn cảm thấy sự hiện diện của Thiên Chúa. Chính vì thế, những người trải qua khô khan thiêng liêng, đêm tối đức tin, cảm giác lời cầu nguyện đụng trần, có thể tìm thấy nơi Người một người đồng hành. Đức tin không phải luôn luôn cảm thấy Chúa. Có những giờ ta tin trong bóng tối. Có những ngày câu “Chúa ở cùng con” không tạo ra cảm xúc gì. Có những lần quỳ trước Nhà Tạm mà lòng trống rỗng. Có những đám tang khiến mọi lời an ủi nghe quá nhỏ. Có những đau khổ khiến người ta hỏi “Chúa ở đâu?” Lời hỏi ấy không nhất thiết là thiếu đức tin. Chúa Giêsu đã nói nó. Điểm quyết định là Người vẫn gọi: “Thiên Chúa của con.” Ngay trong câu hỏi “sao Ngài bỏ con”, Người vẫn nói “của con.” Sợi dây tương quan được kéo căng đến cực độ nhưng không đứt. Đó là đức tin trong đêm tối: con không cảm thấy Ngài, nhưng con vẫn nói Ngài là Thiên Chúa của con. Con không hiểu Ngài, nhưng con vẫn nói với Ngài chứ không quay lưng. Con không thấy ánh sáng, nhưng con kêu lên trong hướng của ánh sáng. Hơn nữa, Thánh Vịnh 22 bắt đầu bằng tiếng kêu nhưng kết thúc bằng lời tín thác và ca tụng. Như thế, ngay cả tiếng kêu đau đớn của Đức Giêsu cũng nằm trong một lời cầu nguyện lớn hơn. Người không tuyệt vọng; Người cầu nguyện bằng chính Kinh Thánh trong giờ không còn sức. Điều này dạy ta một thói quen quý giá: hãy để Lời Chúa đi vào lòng mình khi bình an, để khi giông bão đến, Lời ấy có thể trở thành tiếng nói của ta. Có lúc ta quá đau để sáng tạo một lời cầu nguyện; lúc ấy một Thánh Vịnh có thể cầu thay cho ta.

“TÔI KHÁT.”

Chỉ hai chữ, nhưng mở ra nhiều tầng sâu. Trước hết, đó là cái khát rất thật của một thân xác mất máu, bị phơi dưới nắng, kiệt quệ. Đức Giêsu là người thật. Người khát. Thiên Chúa nhập thể không cứu chúng ta từ xa; Người đi vào những nhu cầu căn bản nhất của thân xác. Vì thế Kitô giáo không khinh thường thân xác. Cho người khát một ly nước là việc thánh. Chăm sóc người bệnh là việc thánh. Cho người đói ăn là việc thánh. Lau mồ hôi cho người hấp hối là việc thánh. Nhưng truyền thống thiêng liêng cũng nghe trong tiếng “Tôi khát” một cơn khát sâu hơn: cơn khát hoàn tất ý Cha, cơn khát tình yêu, cơn khát con người trở về với Thiên Chúa. Đấng Tạo Hóa lại nói với thụ tạo: “Ta khát.” Người khát lòng ta. Không phải vì Thiên Chúa thiếu điều gì nếu không có ta, nhưng vì tình yêu luôn khao khát sự đáp trả của người mình yêu. Đáng sợ nhất không phải là một Thiên Chúa phạt ta; cảm động nhất là một Thiên Chúa khát ta. Người đã đi đến Thánh Giá để tìm ta. Và hôm nay Người còn khát trong những người đói, người nghèo, người cô độc, người không ai lắng nghe, người già bị bỏ quên, trẻ em thiếu tình thương, người đau khổ trên giường bệnh. “Ta khát” vang lên trong rất nhiều khuôn mặt. Ta có thể treo Thánh Giá trong nhà mà vẫn để Chúa khát ngoài cửa. Ta có thể hôn Thánh Giá thứ Sáu Tuần Thánh mà không cho người gần mình một lời tử tế. Nếu yêu Thánh Giá, phải học nghe cơn khát của Đức Kitô trong cơn khát của con người.

“THẾ LÀ ĐÃ HOÀN TẤT.”

Không phải: “Thế là hết.” Mà là: “Đã hoàn tất.” Giữa hai câu có cả một Tin Mừng. “Hết” có thể là thất bại. “Hoàn tất” là một công trình được đưa đến mục tiêu. Trước mắt người đời, cuộc đời Chúa Giêsu dường như kết thúc trong thất bại: môn đệ tan tác, Người bị hành quyết, kẻ thù thắng thế. Nhưng từ bên trong kế hoạch cứu độ, mọi sự đang đi đến chỗ hoàn tất. Tình yêu đã đi đến cùng. Sự vâng phục đã đi đến cùng. Lời hứa đã đi đến cùng. Con Chiên đã hiến mình. Giao ước mới được đóng ấn trong máu. Đây là một lời rất cần cho thời đại thích đo mọi sự bằng kết quả thấy ngay. Có những cuộc đời nhìn bên ngoài như không thành công, nhưng trước mặt Thiên Chúa lại hoàn tất. Một người mẹ hy sinh cả đời cho gia đình mà chẳng ai biết tên có thể đã hoàn tất một ơn gọi rất đẹp. Một linh mục ở một nơi nhỏ, không nổi tiếng, trung thành dâng lễ và giải tội mấy chục năm có thể đã hoàn tất một sứ mạng lớn trong mắt Chúa. Một người bệnh chịu đựng với tín thác có thể làm điều mà thế gian không bao giờ thống kê được. Ta phải rất cẩn thận khi gọi ai đó thành công hay thất bại. Golgotha dạy rằng có những thất bại bề ngoài chính là nơi chiến thắng của Thiên Chúa. Điều ta cần hỏi cuối đời không phải chỉ là “tôi đã có bao nhiêu”, “bao nhiêu người biết đến tôi”, “tôi đã đạt thứ hạng nào”, nhưng “điều Chúa giao cho tôi, tôi đã yêu đến mức nào?” Sẽ tuyệt đẹp nếu cuối đời ta cũng có thể nói, với tất cả bất toàn của mình: con đã không làm mọi điều, nhưng điều Cha trao cho con, con đã cố trung thành; con đã ngã, đã yếu, đã nhiều lần sai, nhưng nhờ ơn Cha con vẫn đi đến đây. “Đã hoàn tất” không phải lời của một người chưa từng đau; đó là lời của một Người đã không để đau khổ làm mình bỏ cuộc.

“LẠY CHA, CON XIN PHÓ THÁC HỒN CON TRONG TAY CHA.”

Lời cuối cùng đưa ta trở về nơi mọi sự bắt đầu: Cha. Ở Ghetsêmani: “Lạy Cha.” Trên Thánh Giá: “Lạy Cha.” Giữa hai tiếng “Cha” là toàn bộ vực sâu của cuộc Thương Khó. Chúa Giêsu kết thúc không bằng một tiếng nguyền rủa, không bằng một câu hỏi, nhưng bằng sự phó thác. Người chết như Người đã sống: trong tương quan với Cha. “Trong tay Cha.” Hình ảnh ấy rất đẹp. Con người sợ chết một phần vì chết giống như rơi vào nơi mình không biết. Đức Giêsu biến cái chết thành một cuộc trao mình vào bàn tay. Người không rơi vào hư vô. Người rơi vào tay Cha. Đó là niềm hy vọng của Kitô hữu. Cuối cùng, điều chờ chúng ta không phải một khoảng trống mà là bàn tay. Ta đã từ bàn tay Thiên Chúa mà đến; ta sẽ trở về trong bàn tay ấy. Đức tin không làm ta không chết. Đức tin thay đổi cách ta nhìn cái chết. Cái chết vẫn đau vì phải chia lìa, nhưng nó không phải cánh cửa dẫn vào hư vô. Nó là bước cuối cùng của một hành trình phó thác. Và ta tập cho bước cuối ấy từ hôm nay bằng rất nhiều bước nhỏ: phó thác một ngày mới, phó thác công việc, phó thác người thân, phó thác điều ta không kiểm soát, phó thác tuổi già, phó thác sức khỏe, phó thác tương lai, phó thác cả những người mình yêu mà một ngày nào đó ta phải để họ đi. Người nào tập đặt mọi sự trong tay Cha mỗi ngày sẽ dần học được cách đặt cả linh hồn mình vào tay Cha khi giờ cuối đến.

  1. HỌC NÓI BẢY LỜI THÁNH GIÁ TRONG ĐỜI MÌNH

Yêu mến Thánh Giá cuối cùng không phải là ngắm Thánh Giá thật lâu rồi trở về đời sống không thay đổi. Ta phải học nói bảy lời ấy trong hoàn cảnh của mình. Khi bị tổn thương, học nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Khi thấy mình quá muộn để làm lại, học nghe: “Hôm nay con sẽ ở với Ta.” Khi gia đình bị rạn nứt, học nghe lời trao phó: “Đây là mẹ con, đây là con của mẹ.” Khi Chúa dường như im lặng, học kêu: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” mà vẫn giữ chữ “của con.” Khi gặp người nghèo, người cô độc, người cần được lắng nghe, học nghe Chúa nói: “Ta khát.” Khi phải kiên trì làm một việc tốt đến cùng, học hướng về câu: “Đã hoàn tất.” Khi không còn kiểm soát được tương lai, học nói: “Lạy Cha, con xin phó thác.” Đời sống Kitô hữu chính là để những lời cuối của Chúa trở thành lời của ta.

Có thể hôm nay thập giá của bạn là một người mà bạn rất khó tha thứ. Đừng ép mình phải có cảm xúc đẹp ngay. Hãy bắt đầu bằng một lời nguyện nhỏ: “Lạy Chúa, con chưa tha được, nhưng con muốn muốn tha. Xin làm trong con điều con chưa làm nổi.” Có thể thập giá là cảm giác đã quá muộn, quá nhiều lỗi lầm. Hãy nhìn người trộm lành. Có thể thập giá là một gia đình tan vỡ. Hãy đứng dưới chân Thánh Giá và xin Chúa dạy lại cách nhận nhau. Có thể thập giá là khô khan đức tin. Hãy cầm một Thánh Vịnh mà cầu khi không còn lời. Có thể thập giá là một cơn khát tình thương không ai hiểu. Hãy đem cái khát ấy đến với Đấng từng nói “Tôi khát.” Có thể thập giá là một công việc kéo dài không thấy kết quả. Hãy xin ơn trung thành hơn là nổi tiếng. Có thể thập giá là tuổi già, bệnh tật, hoặc nỗi sợ một ngày mình sẽ phải buông mọi sự. Hãy tập mỗi tối đặt đời mình trong tay Cha.

Thánh Giá không dạy ta tìm đau khổ. Chúa Giêsu đã chữa bệnh, làm cho người chết sống lại, giải thoát người bị quỷ ám, cho kẻ đói ăn. Kitô giáo không tôn thờ bệnh tật hay bất công. Khi có thể chữa bệnh, hãy chữa. Khi có thể ngăn bạo lực, hãy ngăn. Khi cần tìm sự trợ giúp, hãy tìm. Khi có thể rời một môi trường nguy hiểm, hãy rời. Không được dùng Thánh Giá để buộc người khác tiếp tục chịu lạm dụng. Không được gọi sự hèn nhát trước bất công là “vác thập giá.” Chúa Giêsu lên án giả hình và bất công rất mạnh mẽ. Nhưng có những đau khổ sau khi ta đã làm điều hợp lý vẫn còn đó. Có những giới hạn không thể xóa. Có những sự thật phải chấp nhận. Chính ở đây Thánh Giá trở thành trường học: điều không thể đổi bên ngoài có thể trở thành nơi ta được đổi bên trong.

Ta thường cầu xin Chúa lấy thập giá đi. Đó là lời cầu chính đáng. Chính Đức Giêsu cũng xin cất chén. Nhưng đôi khi phép lạ không phải là thập giá biến mất. Phép lạ là một con người trước kia cay đắng nay trở nên dịu dàng; một người từng sợ hãi nay biết tín thác; một vết thương từng làm ta khép kín nay giúp ta hiểu người khác; một mất mát từng tưởng chỉ đem chết chóc lại sinh ra lòng thương xót. Phục Sinh không có nghĩa rằng Thứ Sáu Tuần Thánh chưa từng xảy ra. Đức Kitô Phục Sinh vẫn mang dấu đinh. Điều được chữa lành không nhất thiết trở thành như chưa từng bị thương. Có những vết sẹo vẫn còn nhưng không còn chảy máu. Có những ký ức vẫn còn nhưng không còn điều khiển ta. Có những mất mát không được hoàn trả trên đời này nhưng được đặt trong hy vọng đời sau. Thánh Giá và Phục Sinh đi cùng nhau theo cách đó.

Yêu Thánh Giá vì thế là yêu Chúa Giêsu trong Thánh Giá. Là tin rằng không có vùng tối nào trong đời ta mà Người ngại bước vào. Ta sợ, Người đã sợ. Ta bị hiểu lầm, Người đã bị hiểu lầm. Ta bị phản bội, Người đã bị phản bội. Ta cô đơn, Người đã đi qua cô đơn. Ta bị nhục, Người đã bị nhục. Ta cảm thấy Chúa xa, Người đã kêu tiếng kêu của người bị bỏ rơi. Ta khát, Người đã khát. Ta phải buông, Người đã phó thác. Vì thế, Thánh Giá là nơi Chúa nói với con người: “Ta biết.” Không phải “Ta biết” như một người đọc hồ sơ. “Ta biết” vì Ta đã ở trong đó.

Và có lẽ vẻ đẹp sâu nhất của Đức Giêsu trên Thánh Giá là Người không để đau khổ làm mình thôi là Con. Người vẫn gọi Cha. Người không để kẻ thù làm mình thôi yêu. Người vẫn tha. Người không để bất lực làm mình thôi trao ban. Người vẫn trao Mẹ và môn đệ cho nhau. Người không để khô khát làm mình thôi khao khát cứu độ. Người không để bóng tối làm mình thôi cầu nguyện. Người không để cái chết biến mình thành tuyệt vọng. Người phó thác. Đó là điều ta xin học: xin đừng để điều xảy ra cho con quyết định con trở thành người nào; xin cho căn tính của con được quyết định bởi tình yêu Chúa. Con có thể bị từ chối nhưng không trở thành cay độc. Con có thể bị phản bội nhưng không trở thành phản bội. Con có thể bị xúc phạm nhưng không sống để xúc phạm lại. Con có thể mất rất nhiều mà không đánh mất khả năng yêu. Nếu điều ấy xảy ra, Thánh Giá đã bắt đầu mang hoa trái trong đời con.

Có ngày ta sẽ hiểu rằng thập giá lớn nhất không phải là những gì nằm trên vai mình, mà là cuộc chiến để vẫn yêu trong lúc mang chúng. Và chiến thắng lớn nhất không phải là xuống khỏi thập giá trước thời gian, mà là đi xuyên qua thập giá mà trái tim không bị biến dạng. Người ta đã thách Chúa Giêsu: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá.” Người không xuống. Không phải vì Người không thể, nhưng vì nếu Người xuống thì tình yêu dừng lại trước chỗ sâu nhất của đau khổ con người. Người ở lại để không một ai sau này có thể nói: “Thiên Chúa không biết nơi này.” Người ở lại trong căn bệnh. Người ở lại trong cô đơn. Người ở lại trong tiếng khóc của người mất người thân. Người ở lại trong phòng hồi sức. Người ở lại bên giường hấp hối. Người ở lại bên người bị phản bội. Người ở lại bên người bị bỏ rơi. Người ở lại trong mọi Golgotha của nhân loại. Và từ đó Người nói: “Con không ở đây một mình.”

Học yêu Thánh Giá là học ở lại với Người như Đức Maria, Gioan và những người phụ nữ đã ở lại. Có khi ta không làm được gì khác. Ta không giải quyết nổi câu hỏi. Ta không biết ngày mai ra sao. Ta không làm đau biến mất. Nhưng ta có thể ở lại. Ở lại với Chúa. Ở lại trong cầu nguyện. Ở lại với người đau khổ. Ở lại trong bổn phận. Ở lại trong sự trung tín. Thế giới thích những gì nhanh. Tình yêu thường được chứng minh bằng khả năng ở lại lâu. Chúa Giêsu “yêu họ đến cùng.” Thánh Giá chính là hình dạng của chữ “đến cùng.”

Và rồi sẽ đến một lúc mọi Ghetsêmani kết thúc, mọi con đường lên Núi Sọ kết thúc, mọi chiếc đinh được tháo xuống. Cái chết không có lời cuối. Nhưng muốn bước vào bình minh Phục Sinh, Chúa Giêsu đã không đi vòng qua Thánh Giá. Người đi xuyên qua. Đây là hy vọng của ta. Không phải mọi thập giá sẽ được giải quyết trên đời này theo cách ta mong, nhưng không một thập giá nào kết hợp với Đức Kitô sẽ rơi vào hư vô. Một giọt nước mắt được dâng có giá trị. Một sự hy sinh kín đáo có giá trị. Một lời tha thứ khó khăn có giá trị. Một ngày kiên nhẫn với người bệnh có giá trị. Một đêm thức bên người thân có giá trị. Một lần cắn răng không trả đũa có giá trị. Một lời cầu nguyện trong khô khan có giá trị. Một tiếng “xin vâng” giữa run rẩy có giá trị. Thiên Chúa có thể lấy tất cả những điều rất nhỏ ấy đặt vào mầu nhiệm Thánh Giá của Con Người và làm chúng sinh hoa trái mà ta chỉ biết đầy đủ trong đời sau.

Cho nên, nếu hôm nay ta đang ở Ghetsêmani, hãy nói thật với Cha. Nếu đang trên đường lên Núi Sọ, hãy nhận Simon Chúa gửi đến và cũng đừng ngại làm Simon cho người khác. Nếu đang nằm dưới sức nặng của thập giá, hãy nhớ ngã chưa phải là kết thúc. Nếu đang bị nhục nhã, hãy nhớ căn tính của ta nằm trong cái nhìn của Thiên Chúa. Nếu đang đứng dưới Thánh Giá của một người thân, hãy học với Đức Maria cách ở lại. Nếu đang mang lòng oán hận, hãy bắt đầu từ lời “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Nếu thấy đời mình đã quá muộn, hãy nghe lời dành cho người trộm lành: “Hôm nay.” Nếu cảm thấy Chúa xa, hãy vẫn gọi: “Thiên Chúa của con.” Nếu khát tình thương, hãy đặt cái khát của mình trong cơn khát của Đức Kitô. Nếu mệt vì một sứ mạng dài, hãy xin được trung tín cho đến ngày có thể nói: “Đã hoàn tất.” Và nếu một ngày mọi sự phải buông khỏi tay, xin cho lời cuối của đời ta được trở thành lời của Người: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”

Bởi vì cuối cùng, yêu mến Thánh Giá không phải là yêu cái chết. Là tin vào một tình yêu mạnh hơn cái chết. Không phải yêu đau khổ. Là yêu một Đấng đã bước vào đau khổ và mở một con đường xuyên qua nó. Không phải tôn vinh thất bại. Là nhận ra một chiến thắng mà mắt người đời không luôn nhìn thấy. Không phải buông xuôi cho số phận. Là tự do đặt đời mình trong tay Cha. Không phải trở thành người không biết khóc. Là biết khóc mà vẫn cầu nguyện. Không phải trở thành người không còn sợ. Là run rẩy mà vẫn nói “xin vâng.” Không phải không còn vết thương. Là để vết thương trở thành nơi tình yêu đi qua.

Thánh Giá sẽ luôn là mầu nhiệm. Ta không thể giải thích hết. Có những nỗi đau chỉ có thể quỳ xuống trước nó. Nhưng khi nhìn lên Đấng chịu đóng đinh, ta biết ít nhất một điều: Thiên Chúa không đứng xa. Người đã đến. Người đã ở đó. Người đã ôm lấy. Và bởi Người đã ôm lấy Thánh Giá trước chúng ta, không một người môn đệ nào phải ôm lấy thập giá đời mình một mình.

Lm. Anmai, CSsR

CHƯƠNG IV. ĐỨC MARIA: YÊU THÁNH GIÁ MÀ KHÔNG ĐÓNG ĐINH

Có những người được đóng đinh bằng đinh sắt. Có những người được đóng đinh bằng bệnh tật. Có những người được đóng đinh bằng thất bại, nghèo túng, phản bội, cô độc, hiểu lầm, mất mát. Và cũng có những người không mang trên thân thể mình một vết đinh nào, nhưng trái tim lại bị xuyên thủng từng ngày bởi nỗi đau của người mình yêu. Đức Maria thuộc về những người như thế. Mẹ không bị lính Rôma đóng đinh lên một cây gỗ. Không có chiếc đinh nào xuyên qua bàn tay Mẹ. Không có chiếc đinh nào xuyên qua bàn chân Mẹ. Không có ngọn giáo nào đâm vào cạnh sườn Mẹ. Nhưng nếu Thánh Giá được đo bằng chiều sâu của tình yêu, nếu đau khổ được đo không chỉ bằng những gì xảy đến trên thân xác mà còn bằng mức độ người ta gắn bó với người đang đau khổ, thì có lẽ không ai trong loài người đứng gần Thánh Giá của Đức Kitô như Maria. Mẹ không bị đóng đinh bằng đinh. Mẹ bị đóng đinh bằng tình mẫu tử. Mỗi chiếc đinh đóng vào tay Chúa Giêsu đều vọng vào lòng Mẹ. Mỗi nhát búa giáng xuống thân thể Con cũng như giáng vào ký ức của người Mẹ đã từng nâng những bàn tay ấy khi Con còn thơ bé. Mỗi giọt máu từ chân Chúa chảy xuống cũng làm Mẹ nhớ lại những bước chân đầu tiên của Con ở Nazareth. Mỗi lời nhục mạ dành cho Con đều như xé vào trái tim của một người Mẹ biết rất rõ Con mình vô tội. Và tiếng kêu cuối cùng của Chúa Giêsu trên đồi Canvê hẳn phải xuyên qua tâm hồn Mẹ sâu hơn bất cứ lưỡi gươm vật chất nào có thể làm được.

Ngày Đức Maria cùng thánh Giuse đem Hài Nhi Giêsu lên Đền Thờ, cụ già Simêon đã nói một lời lạ lùng: “Còn chính Bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn Bà” (Lc 2,35). Khi ấy Hài Nhi còn bé. Không có thập giá. Không có lính Rôma. Không có đồi Sọ. Không có mão gai. Không có tiếng đám đông gào lên: “Đóng đinh nó vào thập giá!” Không có máu. Không có mồ đá. Nhưng bóng của Thánh Giá đã đi qua cuộc đời Đức Maria từ rất sớm. Lời của Simêon không phải một lời đe dọa. Không phải Thiên Chúa đứng đó để báo trước rằng Người sẽ hành hạ một người Mẹ đạo đức. Lời ấy là một lời mô tả con đường của tình yêu. Ai yêu Đức Kitô thật sẽ không thể mãi mãi đứng ở vùng an toàn. Ai đi theo Đức Kitô thật sẽ có ngày phải đi đến nơi Người đi. Ai để cho Người bước sâu vào đời mình sẽ có lúc cảm thấy một lưỡi gươm nào đó đi xuyên qua chính nơi sâu nhất của tâm hồn mình. Kitô giáo chưa bao giờ hứa với chúng ta một tình yêu không đau. Chúa Giêsu không đến để dạy ta cách tránh mọi vết thương. Người đến để mặc khải cho ta một tình yêu mạnh hơn vết thương. Và Đức Maria là người đầu tiên học bài học ấy bằng toàn bộ cuộc đời mình.

Có một điều rất lạ trong Tin Mừng. Đức Maria được Thiên Chúa tuyển chọn. Mẹ đầy ân sủng. Mẹ được thiên thần chào kính. Mẹ cưu mang Ngôi Lời. Mẹ sinh Con Thiên Chúa. Mẹ giữ Con Thiên Chúa trong vòng tay. Mẹ sống trong căn nhà nơi Thiên Chúa làm người lớn lên. Nếu hiểu ân sủng theo kiểu của con người, ta có thể nghĩ rằng cuộc đời Maria phải được miễn trừ khỏi mọi đau khổ. Mẹ đã nói “xin vâng” với Thiên Chúa, tại sao Thiên Chúa không làm đời Mẹ dễ hơn? Mẹ đã trao tất cả cho Chúa, tại sao Chúa không bảo vệ Mẹ khỏi những cuộc chạy trốn, những hiểu lầm, những lo âu, những mất mát? Nhưng chính cuộc đời Maria cho ta thấy một chân lý rất sâu: được Chúa yêu không có nghĩa là được miễn Thánh Giá. Được Chúa chọn không có nghĩa là không phải khóc. Đầy ân sủng không có nghĩa là không bị lưỡi gươm đâm thâu. Có khi càng gần Chúa, ta càng cảm thấy sâu hơn những gì làm Chúa đau. Có khi càng yêu, ta càng dễ bị tổn thương. Không phải vì tình yêu là sai, nhưng bởi vì tình yêu thật luôn mở lòng mình ra, mà trái tim mở ra thì có khả năng đón nhận niềm vui rất lớn nhưng cũng có khả năng chịu đau rất sâu.

  1. ĐỨNG

Tin Mừng Gioan kể lại một cảnh cực kỳ ngắn nhưng chứa trong đó cả một đại dương thần học và linh đạo: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người…” (Ga 19,25). Thánh Gioan không mô tả nước mắt Mẹ. Không kể Mẹ nói gì. Không nói Mẹ làm gì đặc biệt. Ông chỉ viết: Mẹ đứng. Một động từ rất ngắn: đứng. Nhưng có những lúc trong đời, đứng là một hành vi anh hùng. Có những lúc chạy trốn dễ hơn đứng lại. Có những lúc nói dễ hơn im lặng. Có những lúc hành động dễ hơn bất lực nhìn người mình thương đau đớn. Và có những lúc điều khó nhất không phải là làm một điều gì, nhưng là ở lại.

Maria đứng.

Mẹ không ngất đi để khỏi nhìn thấy. Mẹ không chạy khỏi Canvê. Mẹ không giận dữ với Thiên Chúa. Mẹ không xông lên giật Chúa Giêsu khỏi Thánh Giá. Mẹ cũng không thể làm được điều ấy. Mẹ không có quyền lực của lính tráng. Mẹ không có thế lực chính trị. Mẹ không thể thương lượng với Philatô. Mẹ không thể thay đổi bản án. Mẹ không thể kéo những chiếc đinh ra khỏi tay Con. Và đây có lẽ là một trong những thập giá khủng khiếp nhất của tình yêu: yêu mà không cứu được người mình yêu khỏi đau khổ.

Chúng ta thường nghĩ yêu là phải làm được gì đó. Khi người khác bệnh, ta muốn chữa họ. Khi con cái gặp khó khăn, ta muốn giải quyết cho chúng. Khi người thân rơi vào khủng hoảng, ta muốn kéo họ ra. Khi cộng đoàn có vấn đề, ta muốn sửa. Khi bạn bè đau khổ, ta muốn tìm một lời khiến họ hết đau. Và nhiều khi ta làm được điều gì đó. Nhưng rồi có những lúc cuộc đời đẩy ta đến một bức tường bất lực. Bác sĩ nói không còn phương pháp điều trị. Đứa con đã trưởng thành và tự chọn một con đường mà cha mẹ không thể kiểm soát. Một người thân rơi vào nghiện ngập nhưng chưa muốn quay về. Một cuộc hôn nhân đang tan vỡ mà người ngoài không thể hàn gắn thay. Một linh mục đau khổ mà giáo dân chỉ có thể cầu nguyện. Một cộng đoàn bị chia rẽ mà không có giải pháp tức thì. Một người hấp hối mà ta biết chẳng còn lời nào có thể giữ họ lại. Một người đang chìm trong bóng tối nội tâm mà mọi lời khuyên đều trở nên bất lực. Khi ấy, ta sẽ làm gì?

Maria dạy ta: hãy đứng.

Đứng không có nghĩa là thụ động. Đứng không có nghĩa là lạnh lùng. Đứng không có nghĩa là buông xuôi. Đứng dưới chân Thánh Giá là hình thức cao nhất của sự hiện diện khi ta không còn khả năng kiểm soát tình huống. Đó là lời nói không lời: “Con không thể lấy đau khổ này khỏi anh, nhưng con sẽ không để anh chịu nó một mình.” “Mẹ không thể kéo con xuống khỏi thập giá, nhưng mẹ sẽ ở đây.” “Tôi không thể chữa căn bệnh của bạn, nhưng tôi sẽ ngồi cạnh giường bạn.” “Tôi không thể thay đổi quá khứ của anh, nhưng tôi không bỏ anh trong hiện tại.” Có những lúc sự hiện diện chính là thứ thuốc duy nhất ta còn có thể trao cho nhau.

Ta thường đánh giá quá thấp sức mạnh của hiện diện. Trong thời đại của tốc độ, con người thích giải pháp. Ta thích trả lời. Ta thích kế hoạch. Ta thích phương pháp. Ta thích sửa chữa. Nhưng có những nỗi đau không phải bài toán để giải. Có những giọt nước mắt không cần lời giải thích. Có những vết thương cần người ngồi bên cạnh hơn là cần người giảng đạo. Có những người đau khổ không cần nghe ta nói: “Rồi mọi chuyện sẽ ổn thôi”, vì đôi khi mọi chuyện không ổn theo cách ta mong. Họ cần biết rằng khi mọi chuyện không ổn, vẫn có một người không bỏ đi.

Dưới chân Thánh Giá, Maria không “giải quyết” Thánh Giá. Mẹ hiện diện với Thánh Giá.

Đó là một bài học rất lớn cho đời sống thiêng liêng. Có những thánh giá ta không thể thay đổi. Có những điều ta cầu xin nhiều năm nhưng Thiên Chúa không cất đi. Có những khuyết điểm ta chiến đấu rất lâu mà vẫn phải tiếp tục chiến đấu. Có những vết thương gia đình đi theo ta suốt đời. Có những ký ức không thể xóa. Có những mất mát không thể lấy lại. Có những câu hỏi ta mang vào cầu nguyện mà không nhận được một câu trả lời rõ ràng. Đức Maria dạy ta rằng đức tin không phải lúc nào cũng là hiểu. Đôi khi đức tin chỉ là đứng. Không hiểu nhưng đứng. Đau nhưng đứng. Không còn sức nhưng vẫn đứng. Không nhìn thấy bình minh nhưng vẫn không rời khỏi nơi Thiên Chúa đang bị đóng đinh.

Ta hãy nghĩ về cảnh Canvê. Những người từng đi theo Chúa Giêsu đâu cả rồi? Những người từng chen lấn xin Người chữa bệnh đâu? Những người từng ăn bánh Người hóa nhiều đâu? Những người từng tung hô Người khi vào Giêrusalem đâu? Phần lớn đã biến mất. Đám đông thường ở lại khi có phép lạ. Đám đông biến đi khi chỉ còn Thánh Giá. Nhưng Maria đứng. Tình yêu thật được kiểm chứng không phải ở lúc được nhận ơn, nhưng ở lúc chẳng còn gì để nhận. Người ta dễ theo Chúa khi cầu được ước thấy. Người ta dễ cảm động khi tham dự một thánh lễ đẹp. Người ta dễ sốt sắng khi mọi việc thuận lợi. Nhưng rồi đến một thời điểm Chúa không còn cho ta cảm giác gì. Cầu nguyện khô khan. Công việc thất bại. Người khác hiểu lầm. Bệnh tật xuất hiện. Tuổi già đến. Những người ta yêu ra đi. Khi đó, câu hỏi không còn là: “Tôi cảm thấy Chúa thế nào?” mà là: “Tôi còn đứng với Chúa không?”

Maria đứng.

Mẹ đứng với Người Con bị coi là thất bại. Đứng với một Đấng Mêsia không còn làm phép lạ cho mình. Đứng với một Vị Vua trần trụi. Đứng với Đấng mà người đời đang chế nhạo. Đứng với Người mà quyền lực tôn giáo và chính trị đã kết án. Đứng khi dường như mọi lời hứa của Thiên Chúa đã sụp đổ trước mắt. Thiên thần từng nói: “Người sẽ nên cao cả… triều đại Người sẽ vô cùng vô tận.” Vậy mà giờ đây Người đang chết như một tội phạm. Nếu Maria đánh giá Thiên Chúa bằng những gì mắt thấy lúc ấy, Mẹ có mọi lý do để thất vọng. Nhưng Mẹ không bỏ đi. Đức tin của Mẹ không bám vào diện mạo thành công của Con. Đức tin của Mẹ bám vào chính Thiên Chúa.

Đời chúng ta cũng có những giờ Canvê như thế. Có khi ta nhìn lại những năm tháng sống đạo và tự hỏi: tại sao chuyện này xảy ra? Có khi một người đã phục vụ Chúa cả đời rồi lại mang một căn bệnh nặng. Có khi một gia đình đạo đức lại gặp hết biến cố này đến biến cố khác. Có khi một người sống tử tế lại bị vu oan. Có khi người đã hy sinh rất nhiều lại nhận về sự vô ơn. Có khi ta cầu nguyện cho một người và người đó vẫn ra đi. Trong những giờ phút ấy, ta thường muốn có lời giải thích. Nhưng dưới chân Thánh Giá không có lời giải thích. Có Maria đứng đó. Chính sự đứng lại của Mẹ đã trở thành một lời tuyên xưng không thành tiếng: “Con không hiểu hết, nhưng con vẫn tin. Con không thể thay đổi điều đang xảy ra, nhưng con không bỏ Thiên Chúa.”

Đứng với người hấp hối. Đó có thể là một trong những việc thiêng liêng nhất một con người làm cho một con người khác. Không cần nói nhiều. Cầm tay họ. Đọc một kinh ngắn. Lau mồ hôi. Làm dấu Thánh Giá. Nói rằng ta ở đây. Có khi người hấp hối không còn nghe bằng tai, nhưng họ có thể cảm nhận bằng cách nào đó sự hiện diện của tình yêu. Đừng sợ sự bất lực ấy. Maria đã từng bất lực như thế trước cái chết của Con mình.

Đứng với con cái đi lạc. Có cha mẹ đau khổ vì con xa Chúa, xa gia đình, đi vào một lối sống khiến cha mẹ lo lắng. Yêu không có nghĩa là đồng ý với mọi lựa chọn. Nhưng yêu cũng không đồng nghĩa với từ bỏ. Maria dạy cha mẹ một tình yêu biết đau mà không chiếm hữu. Có những đứa con chỉ có thể trở về sau một hành trình rất dài. Trong quãng đường ấy, cha mẹ không thể sống thay chúng, nhưng có thể giữ ngọn đèn trong nhà. Có thể cầu nguyện. Có thể không đóng cửa. Có thể nhắc bằng chính sự trung thành của mình rằng vẫn còn một nơi để quay về.

Đứng với cộng đoàn đang tan. Có những cộng đoàn từng rất đẹp rồi một ngày xuất hiện xung đột, phe phái, nghi ngờ, lời ra tiếng vào. Phản ứng dễ nhất là bỏ đi. Nhưng đôi khi Chúa gọi một số người ở lại không phải để kiểm soát, không phải để chiến thắng phe này phe kia, mà để làm chứng rằng tình hiệp thông đáng được bảo vệ bằng sự kiên nhẫn. Ở lại không phải luôn luôn là đúng trong mọi hoàn cảnh, nhất là nơi có bạo lực hoặc lạm dụng, nhưng trong nhiều tình huống, sự trung thành thầm lặng của một người có thể là chiếc neo giữ một cộng đoàn khỏi đổ vỡ hoàn toàn.

Đứng với chính đêm tối của mình. Đây có lẽ là điều khó nhất. Ta thường có lòng thương người khác hơn thương chính mình. Khi người khác yếu đuối, ta dễ thông cảm; khi chính ta yếu đuối, ta kết án. Khi người khác thất bại, ta nói: “Không sao, làm lại”; khi ta thất bại, ta nói: “Mình vô dụng.” Maria dạy ta đứng cả với chính những phần đời đang đau trong ta. Không bỏ chạy khỏi bản thân. Không phủ nhận sự mệt mỏi. Không giả vờ mạnh. Không dùng những hoạt động tôn giáo để trốn khỏi vết thương thật. Đứng trước Chúa với tất cả những gì ta đang là.

Maria đứng như thế: hiện diện, nhưng không kiểm soát.

Đây là một trong những nét đẹp nhất của tình yêu Đức Maria. Mẹ yêu Chúa Giêsu sâu sắc hơn bất cứ thụ tạo nào, nhưng Mẹ không sở hữu Chúa Giêsu. Ngay từ đầu, Mẹ đã học trao Con. Sinh Con ra rồi đặt Con trong máng cỏ. Đem Con lên Đền Thờ. Mất Con ba ngày rồi nghe Người nói: “Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” Tại Cana, Mẹ nói với gia nhân: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Mẹ luôn chỉ về Người, không kéo Người về mình. Và cuối cùng dưới chân Thánh Giá, Mẹ phải làm điều khó nhất của một người Mẹ: để Con hoàn tất con đường mà Cha đã giao.

Có một thứ tình yêu bóp nghẹt vì muốn kiểm soát. Có một thứ tình yêu thao túng vì sợ mất. Có một thứ tình yêu dùng câu “tôi thương anh” để quyết định thay cuộc đời của anh. Nhưng Maria cho thấy tình yêu trưởng thành biết đứng gần mà không chiếm đoạt, biết đau mà không kiểm soát, biết trung thành mà không biến người mình yêu thành tài sản của mình.

Đó là cách Mẹ yêu Thánh Giá.

Không phải bằng cách thích đau khổ.

Không phải bằng cách tìm đau khổ.

Không phải bằng cách tôn thờ đau khổ.

Nhưng bằng cách không bỏ Đức Giêsu khi con đường của Người đi ngang qua đau khổ.

  1. THINH LẶNG SINH HOA

Kinh Thánh không ghi lại một lời nào của Đức Maria dưới chân Thánh Giá. Điều đó đáng suy nghĩ. Tại tiệc cưới Cana, Maria nói. Khi truyền tin, Maria nói. Trong bài Magnificat, Maria hát lên một trong những lời ca đẹp nhất của Kinh Thánh. Nhưng dưới chân Thánh Giá, Mẹ thinh lặng.

Có những lúc tình yêu nói rất nhiều. Có những lúc tình yêu chỉ còn có thể im lặng.

Thinh lặng của Maria không phải sự trống rỗng. Đó không phải thái độ của người chẳng còn gì để nói. Đó cũng không phải sự tê liệt cảm xúc. Thinh lặng ấy là một thứ thinh lặng đã đi qua cả một lịch sử lắng nghe Thiên Chúa. Người phụ nữ từng “ghi nhớ tất cả những điều ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng” giờ đây lại cất vào lòng một mầu nhiệm quá lớn để có thể nói thành lời.

Chúng ta sống trong một thời đại sợ thinh lặng. Ai cũng phải nói. Ai cũng phải bình luận. Có chuyện xảy ra, vài phút sau người ta đã có ý kiến. Có biến cố, người ta lập tức phân tích, phán đoán, quy trách nhiệm. Ngay cả trước nỗi đau của người khác, ta cũng thường cảm thấy mình phải nói điều gì đó. Nhưng đôi khi lời nói, dù có ý tốt, lại làm nỗi đau lớn hơn. Có người mất người thân, ta nói: “Chúa thương nên gọi về.” Có người mắc bệnh, ta nói: “Cứ tin đi, Chúa sẽ chữa.” Có người gặp biến cố, ta nói: “Chắc Chúa có ý.” Những câu ấy có thể đúng ở một bình diện nào đó, nhưng nếu nói quá nhanh, nó có thể trở nên lạnh lùng. Người đau khổ trước hết không cần một bài thần học. Họ cần một người ở cạnh.

Maria không giảng cho Chúa Giêsu dưới chân Thánh Giá.

Mẹ ở đó.

Thinh lặng đúng lúc là một hình thức của lòng thương xót. Nó nói: “Nỗi đau của anh quá lớn để tôi biến nó thành những câu dễ dãi.” Nó nói: “Tôi tôn trọng mầu nhiệm đang diễn ra nơi anh.” Nó nói: “Tôi không hiểu hết nên tôi không giả vờ hiểu.”

Có những người nói rất nhiều về Thánh Giá nhưng chưa bao giờ biết ngồi bên cạnh một người đang chịu thánh giá. Maria không nói một bài nào về đau khổ dưới chân Canvê. Mẹ mang đau khổ trong chính thân phận mình. Và có lẽ vì thế mà thinh lặng của Mẹ có sức mạnh hơn ngàn lời giải thích.

Thinh lặng ấy là một cung lòng mới.

Khi truyền tin, cung lòng Maria đón Ngôi Lời làm người. Dưới chân Thánh Giá, trái tim Maria lại mở ra để đón một gia đình mới. Chúa Giêsu nhìn Mẹ và người môn đệ Người yêu mến: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Rồi Người nói với môn đệ: “Đây là Mẹ của anh.” Tin Mừng kể: “Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.”

Một cuộc sinh nở mới diễn ra tại Canvê. Nhưng lần này không có máng cỏ. Có Thánh Giá. Không có tiếng hát thiên thần. Có tiếng nhạo báng. Không có mục đồng. Có lính tráng. Không có ánh sao. Có bóng tối. Và Maria một lần nữa trở thành Mẹ.

Ở Bêlem, Mẹ sinh Đầu của Nhiệm Thể là Đức Kitô. Ở Canvê, theo một nghĩa thiêng liêng, Mẹ nhận lấy các chi thể của Nhiệm Thể ấy nơi người môn đệ. Mẫu tính của Maria mở rộng. Mẹ không chỉ thuộc về Nazareth. Mẹ thuộc về Giáo Hội.

Điều đáng chú ý là mẫu tính ấy sinh ra trong đau khổ. Nhiều hoa trái thiêng liêng cũng sinh ra như thế. Ta muốn sinh hoa trái mà không muốn bị cắt tỉa. Ta muốn trưởng thành mà không trải qua khủng hoảng. Ta muốn yêu sâu nhưng không muốn dễ bị tổn thương. Ta muốn trở nên người nâng đỡ người khác nhưng không muốn chính mình từng biết đau. Nhưng thường chính những gì đã làm ta khóc lại trở thành nơi Thiên Chúa mở rộng trái tim ta.

Một người từng bệnh nặng có thể hiểu người bệnh theo cách mà sách vở không dạy được. Một người từng trải qua đổ vỡ có thể biết cách ngồi với người đang vỡ vụn. Một người từng bị hiểu lầm có thể học đừng vội kết án. Một người từng thất bại có thể dịu dàng hơn với người thất bại. Một người từng đi qua đêm tối đức tin có thể trở thành người bạn quý báu cho những ai đang không cảm thấy Thiên Chúa.

Đau khổ không tự động làm con người tốt hơn. Có đau khổ làm người ta cay đắng. Có vết thương làm người ta đóng kín. Nhưng khi đau khổ được mang vào trong tình yêu và trong ân sủng, nó có thể mở một không gian mới trong trái tim. Maria đã để lưỡi gươm đâm qua nhưng không để lưỡi gươm biến lòng Mẹ thành đá.

Đó là điều phi thường.

Ta hãy hình dung Mẹ có lý do để giận. Những người này đang giết Con Mẹ. Mẹ có thể oán họ. Mẹ có thể nguyền rủa họ. Nhưng Tin Mừng không ghi một lời nguyền rủa nào của Mẹ. Tại Canvê, Mẹ đứng gần Đấng đang cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Người Mẹ ấy đã để cho lời tha thứ của Con đi xuyên qua chính trái tim mình.

Có lẽ đây là một trong những thánh giá khó nhất: không để đau khổ biến mình thành người gây đau khổ.

Ta bị tổn thương rồi ta tổn thương người khác. Ta bị phản bội rồi ta không còn tin ai. Ta bị xúc phạm rồi ta trở nên cay nghiệt. Ta từng bị kiểm soát rồi ta kiểm soát người khác. Ta từng bị bỏ rơi rồi ta bám víu. Ta từng bị phán xét rồi ta thích phán xét. Đau khổ truyền từ người này sang người khác như một thứ di sản tối tăm.

Maria đứng dưới Thánh Giá nhưng không truyền lưỡi gươm cho người khác. Mẹ nhận nó vào lòng.

Đó là điều tình yêu cứu chuộc thực hiện nơi một con người: đau nhưng không trả đau bằng đau; bị thương nhưng không biến mình thành người làm người khác bị thương.

Thinh lặng của Maria vì thế không phải thinh lặng của nạn nhân cam chịu mọi điều vô lý. Kitô giáo không dạy người bị bạo hành phải im lặng để bạo hành tiếp tục. Không ai được lấy hình ảnh Maria dưới chân Thánh Giá để bắt một người phải ở lại trong hoàn cảnh nguy hiểm hay để che đậy tội ác. Thinh lặng của Maria là thinh lặng tự do của một tình yêu hoàn toàn kết hợp với Đức Kitô. Đó là thinh lặng của người không cần tự vệ cho cái tôi. Đó là thinh lặng không gieo thêm hận thù.

“Yêu mến Thánh Giá đôi khi không cần nói đúng. Cần ở đúng.”

Câu này rất quan trọng.

Ta có thể nói rất đúng thần học nhưng đứng sai chỗ. Ta có thể giải thích rất hay về đau khổ nhưng không ở bên người đau khổ. Ta có thể bảo vệ chân lý rất hùng hồn nhưng đứng về phía quyền lực hơn là đứng bên cạnh người bị tổn thương. Ta có thể giảng rất hay về lòng thương xót nhưng khi một người lầm lỗi cần ta, ta lại tránh họ.

Maria nói rất ít dưới chân Thánh Giá, nhưng Mẹ đứng đúng chỗ.

Mẹ đứng gần người bị kết án.

Mẹ đứng gần người bị chế nhạo.

Mẹ đứng gần người đang chết.

Mẹ đứng gần Đấng mà cả thế gian dường như đang quay lưng.

Đời Kitô hữu cuối cùng cũng sẽ được hỏi không chỉ: “Anh đã nói gì?” mà còn: “Anh đã đứng ở đâu?”

Khi người nghèo bị bỏ quên, ta đứng đâu?

Khi một người trong gia đình gặp khủng hoảng, ta đứng đâu?

Khi một người bị vu khống, ta đứng đâu?

Khi Giáo Hội mang thương tích vì tội lỗi của chính con cái mình, ta đứng đâu? Ta đứng với sự thật và hoán cải hay chỉ đứng để bảo vệ hình ảnh? Ta đứng với những người bị tổn thương hay chỉ lo thắng một cuộc tranh luận?

Maria đứng gần Thánh Giá.

Thinh lặng của Mẹ sinh hoa trái bởi vì đó là thinh lặng của hiệp thông.

Một người có thể im lặng vì sợ. Một người có thể im lặng vì ích kỷ. Một người có thể im lặng vì không muốn dính líu. Maria im lặng vì Mẹ đang ở hết mình với Đức Giêsu. Có những thinh lặng là bỏ rơi. Thinh lặng của Maria là hiện diện.

Từ đó ta học một cách cầu nguyện rất sâu. Không phải lúc nào vào nhà nguyện cũng phải nói. Có những giai đoạn ta chẳng biết nói gì với Chúa. Hãy ngồi đó. Hãy nhìn Thánh Giá. Hãy để Chúa nhìn ta. Hãy cho phép trái tim ở lại trước mặt Người. Cầu nguyện không phải lúc nào cũng là sản xuất tư tưởng đạo đức. Cầu nguyện trước hết là ở với Đấng ta yêu.

Có khi lời cầu nguyện đẹp nhất chỉ là: “Con ở đây.”

Maria đã cầu nguyện bằng cả sự hiện diện của Mẹ dưới chân Thánh Giá.

  1. ĐỒNG CÔNG KHÔNG PHẢI ĐỒNG ĐẲNG

Khi suy niệm về Đức Maria dưới chân Thánh Giá, ta phải bước đi với cả lòng yêu mến lẫn sự chính xác của đức tin. Truyền thống Công Giáo luôn nhìn nhận sự thông phần đặc biệt của Đức Maria trong mầu nhiệm Đức Kitô. Mẹ đã tự do đáp lại kế hoạch của Thiên Chúa. Mẹ cưu mang Đấng Cứu Thế. Mẹ trao Người cho thế gian. Mẹ đi với Người. Mẹ đau với Người. Mẹ đứng dưới Thánh Giá. Nhưng tất cả những điều ấy không bao giờ có nghĩa rằng Đức Maria là một Đấng Cứu Chuộc thứ hai song song với Đức Kitô.

Chỉ có một Đấng Cứu Chuộc.

Chỉ có một hy lễ cứu độ có giá trị tuyệt đối.

Chỉ có một Đấng Trung Gian duy nhất theo nghĩa nguồn mạch là Đức Giêsu Kitô.

Mọi ân sủng nơi Maria đều đến từ Đức Kitô.

Mọi sự cao cả của Mẹ là hoa trái công trình cứu độ của Con.

Mẹ không đứng cạnh Thánh Giá như một quyền lực song song. Mẹ đứng dưới Thánh Giá như người đầu tiên được Thánh Giá cứu chuộc cách kỳ diệu và như người cộng tác tự do, trọn vẹn vào chương trình của Thiên Chúa.

Nếu gọi sự thông phần ấy là “đồng công”, ta phải hiểu chữ ấy theo nghĩa lệ thuộc hoàn toàn: cùng cộng tác, cùng đáp trả, cùng hiến dâng trong Đức Kitô và nhờ Đức Kitô, chứ không hề có nghĩa đồng đẳng với Người. Khoảng cách giữa Đức Kitô và Đức Maria là khoảng cách giữa Đấng Cứu Chuộc và người được cứu chuộc, giữa Ngôi Lời nhập thể và một thụ tạo, dù là thụ tạo đầy ân sủng nhất.

Hiểu như thế không làm giảm vai trò của Maria. Trái lại, nó làm vẻ đẹp của Mẹ sáng hơn.

Mẹ không cần trở thành Thiên Chúa để trở nên vĩ đại.

Mẹ vĩ đại vì là thụ tạo đã để Thiên Chúa hành động trọn vẹn nơi mình.

Đó cũng là một bài học cho chúng ta.

Ta thường muốn làm những việc lớn. Ta muốn cứu người khác. Ta muốn sửa gia đình. Ta muốn thay đổi Giáo Hội. Ta muốn cứu cộng đoàn. Ta muốn làm điều gì đó để thế giới khá hơn. Khát vọng ấy có phần tốt. Nhưng nó cũng có thể giấu một cám dỗ: ta bắt đầu cư xử như thể mọi sự tùy thuộc vào ta.

Maria dưới chân Thánh Giá dạy ta giới hạn của mình.

Mẹ không cứu thế gian.

Mẹ đứng bên Đấng đang cứu thế gian.

Đó là khác biệt rất lớn.

Nhiều kiệt sức trong đời sống mục vụ đến từ việc người ta quên khác biệt ấy. Một linh mục nghĩ mình phải cứu giáo xứ. Một người cha nghĩ mình phải kiểm soát tất cả tương lai con cái. Một người làm việc tông đồ nghĩ nếu mình nghỉ thì mọi sự sẽ sụp đổ. Một người phục vụ nghĩ mình phải giải quyết hết mọi vấn đề của người khác. Dần dần, việc phục vụ biến thành gánh nặng không chịu nổi, bởi ta vô tình ngồi vào chỗ chỉ thuộc về Thiên Chúa.

Ta không phải Đấng Cứu Thế.

Đây không phải một tin buồn.

Đây là một tin giải phóng.

Ta có thể yêu mà không cần làm Thiên Chúa. Ta có thể phục vụ mà không cần kiểm soát mọi kết quả. Ta có thể gieo mà không cần ép hạt giống mọc. Ta có thể đồng hành mà không phải sống thay đời người khác. Ta có thể cầu nguyện mà không cần quyết định Thiên Chúa phải trả lời thế nào.

Maria làm điều Mẹ có thể.

Mẹ hiện diện.

Mẹ tin.

Mẹ hiến dâng.

Mẹ để Con hoàn tất sứ mạng.

Mẹ nhận Gioan.

Mẹ tiếp tục sống.

Có một điều rất cảm động: sau khi Chúa Giêsu chết, cuộc đời Maria vẫn tiếp tục. Đây cũng là một loại thánh giá. Người ta thường nghĩ đau nhất là lúc biến cố xảy ra. Nhưng nhiều khi đau thật sự bắt đầu sau đó. Đám tang xong, mọi người về. Những lời chia buồn dần thưa. Căn nhà im. Chiếc ghế trống. Một thói quen không còn. Một tiếng gọi không còn. Một người Mẹ đã từng sống gần ba mươi năm với Con giờ phải học cách sống mà không còn thấy Con bằng mắt.

Maria đã sống “ngày hôm sau” của Thánh Giá.

Có rất nhiều người đang sống ngày hôm sau của Thánh Giá. Người góa phụ sau khi chồng qua đời. Cha mẹ sau khi mất con. Người vừa mất việc. Người vừa rời khỏi một mối quan hệ. Người vừa trải qua phẫu thuật. Người vừa nhận một chẩn đoán thay đổi cả cuộc đời. Sau biến cố, cuộc đời không tự động trở lại bình thường. Có những người phải học cách thở lại, ăn lại, ngủ lại, cầu nguyện lại.

Maria có thể trở thành Mẹ của những ngày hôm sau.

Bởi Mẹ biết sống sau Canvê.

Và rồi Mẹ hiện diện giữa cộng đoàn môn đệ chờ đợi Chúa Thánh Thần. Đó là một chi tiết đẹp. Thánh Giá không biến Mẹ thành người khép kín mãi trong đau buồn. Mẹ vẫn ở giữa cộng đoàn. Đau khổ của Mẹ không phá hủy khả năng hiệp thông. Đây là dấu chỉ rất đẹp của một vết thương đã được ân sủng chạm tới.

Có những đau khổ khiến ta chỉ còn nhìn vào mình. Nhưng nếu để Chúa chữa lành, vết thương có thể trở thành cửa sổ nhìn ra người khác.

Ta không cứu thế gian, nhưng ta có thể từ chối đứng ngoài nỗi đau của thế gian.

Đó chính là con đường Maria.

Mẹ không cứu chuộc như Con, nhưng Mẹ không đứng ngoài công trình cứu chuộc.

Mẹ không bị đóng đinh, nhưng Mẹ không bỏ người bị đóng đinh.

Mẹ không đổ máu như Con, nhưng trái tim Mẹ bị xuyên thâu.

Mẹ không nói lời: “Mọi sự đã hoàn tất”, nhưng Mẹ ở đó khi mọi sự được hoàn tất.

Và đó cũng là cửa hẹp của mỗi Kitô hữu.

Ta không thể cứu hết người nghèo, nhưng ta có thể từ chối làm ngơ trước người nghèo bên cạnh.

Ta không thể chữa mọi người bệnh, nhưng ta có thể thăm một người bệnh.

Ta không thể giải quyết mọi cô đơn, nhưng ta có thể gọi điện cho một người lâu ngày không ai hỏi thăm.

Ta không thể sửa mọi bất công, nhưng ta có thể từ chối tham gia vào bất công nơi phần đời mình.

Ta không thể cứu một người khỏi mọi sai lầm, nhưng ta có thể giữ cánh cửa của lòng thương xót mở ra.

Ta không thể cất Thánh Giá của Chúa ra khỏi lịch sử, nhưng ta có thể đứng gần Thánh Giá.

Đây là một điều cần được nói rõ trong linh đạo Thánh Giá: yêu Thánh Giá không có nghĩa là yêu cái ác gây ra Thánh Giá. Đức Maria không yêu đinh sắt. Mẹ không yêu bạo lực Rôma. Mẹ không yêu bản án bất công. Mẹ không yêu tiếng chế nhạo. Mẹ yêu Chúa Giêsu. Và vì yêu Chúa Giêsu, Mẹ không bỏ Người khi Người bị đóng đinh.

Có một khác biệt lớn giữa yêu Thánh Giá và yêu đau khổ.

Kitô hữu không tìm đau khổ vì đau khổ.

Chúng ta tìm Đức Kitô.

Nhưng đôi khi khi tìm Đức Kitô, ta gặp Người trên Thánh Giá.

Khi ấy, ta không bỏ Người.

Đó là điều Maria dạy.

Nhiều người sợ linh đạo Thánh Giá vì nghĩ rằng nó ca tụng đau đớn, khuyến khích con người chịu đựng mọi bất công, hoặc nhìn cuộc đời bằng màu tối. Nếu hiểu như thế thì sai. Thánh Giá Kitô giáo không phải lời ca tụng bạo lực. Nó là bản cáo trạng lớn nhất đối với bạo lực, bởi chính Con Thiên Chúa trở thành nạn nhân của bạo lực. Thánh Giá cũng không nói rằng đau khổ tự nó tốt. Đau khổ là điều Thiên Chúa không dựng nên như mục đích cuối cùng. Nhưng Thánh Giá mặc khải một chân lý khác: khi đau khổ đi vào lịch sử con người, tình yêu Thiên Chúa có thể đi vào sâu hơn đau khổ.

Maria đứng ở giao điểm ấy.

Mẹ thấy điều ác tàn phá Con mình, nhưng Mẹ cũng tin Thiên Chúa chưa thua.

Chúng ta biết điều Maria chưa thấy trọn trong chiều Thứ Sáu ấy: Chúa Nhật Phục Sinh sẽ đến.

Nhưng Phục Sinh không xóa sự thật của Thứ Sáu.

Chúa Giêsu sống lại vẫn mang dấu đinh.

Tình yêu không giả vờ rằng vết thương chưa từng xảy ra. Tình yêu biến vết thương thành chứng tích của sự sống mạnh hơn cái chết.

Maria cũng vậy. Sau Phục Sinh, Mẹ không trở lại thành người Mẹ chưa từng đứng dưới Thánh Giá. Canvê trở thành một phần vĩnh viễn trong lịch sử tình yêu của Mẹ. Nhưng nó không phải chương cuối.

Đây là hy vọng cho chúng ta.

Có những điều không bao giờ trở lại như trước.

Có những mất mát không thể “bù”.

Có những vết thương để lại sẹo.

Đức tin không hứa rằng mọi sự sẽ trở lại như chưa có gì xảy ra.

Đức tin hứa điều lớn hơn: Thiên Chúa có thể tạo ra một sự sống mới ngay từ nơi mang sẹo.

Đó là mầu nhiệm Phục Sinh.

Và Maria là người đã đi qua toàn bộ hành trình ấy: từ “xin vâng” ở Nazareth đến “đứng” ở Canvê, từ giữ Con trong cung lòng đến trao Con cho thế gian, từ ôm Hài Nhi trong tay đến nhận xác Con từ Thánh Giá, từ lời hứa của thiên thần đến sự im lặng của mồ đá, rồi đến cộng đoàn đang đợi Thánh Thần.

Đời Mẹ dạy chúng ta rằng “xin vâng” với Thiên Chúa không phải một câu nói một lần rồi thôi.

Có cái “xin vâng” của Truyền Tin.

Có cái “xin vâng” khi phải lên đường về Bêlem.

Có cái “xin vâng” khi không tìm được chỗ trọ.

Có cái “xin vâng” khi phải chạy sang Ai Cập.

Có cái “xin vâng” khi Con bắt đầu rời nhà.

Có cái “xin vâng” khi không hiểu hết con đường của Con.

Có cái “xin vâng” ở Cana.

Và có cái “xin vâng” không thành tiếng dưới chân Thánh Giá.

Có những lời “xin vâng” nói bằng miệng.

Có những lời “xin vâng” chỉ có thể nói bằng cách đứng lại.

Có lẽ lời “xin vâng” lớn nhất của Maria không phải lời đẹp nhất, mà là lời không được ghi lại thành âm thanh.

Mẹ đứng.

Và vì Mẹ đứng, ta học được rằng có một sự thánh thiện không ồn ào. Có những người sẽ không bao giờ làm những việc nổi bật nhưng đời họ là một bài Magnificat thầm lặng. Một người mẹ chăm con khuyết tật hàng chục năm. Một người vợ chăm chồng bệnh. Một người chồng kiên trì bên người vợ mất trí nhớ. Một linh mục già vẫn cầu nguyện cho đoàn chiên dù không còn sức làm mục vụ. Một tu sĩ âm thầm chăm người bệnh. Một người con chăm cha mẹ tuổi già. Một người bạn không bỏ bạn mình trong lúc khủng hoảng. Không ai vỗ tay. Không có sân khấu. Nhưng dưới ánh sáng Thánh Giá, những sự hiện diện ấy thật lớn lao.

Bởi đôi khi tình yêu không có hình thức của chiến thắng.

Tình yêu có hình thức của một người đứng.

Và đây cũng là lý do Đức Maria gần người đau khổ. Khi ta cầu với Đức Mẹ trong giờ gian nan, ta không cầu với một người xa lạ với nước mắt. Ta cầu với một người Mẹ đã từng đứng cạnh cái chết. Mẹ biết bất lực là gì. Mẹ biết mất mát là gì. Mẹ biết cảm giác nhìn người mình yêu chịu đau mà không thể thay họ mang đau là gì.

Nên khi ta nói: “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử”, ta đang kêu cầu một người đã từng đứng trong giờ lâm tử của chính Con mình.

“Trong giờ lâm tử.”

Có lẽ đó là lúc tình mẫu tử của Maria dưới Thánh Giá trở nên đặc biệt gần chúng ta nhất. Ta xin Mẹ đứng cạnh ta như Mẹ từng đứng cạnh Chúa Giêsu. Không phải để ta khỏi chết. Không phải để ta không đau. Nhưng để trong giờ cuối, ta không cô độc.

Maria dạy chúng ta yêu Thánh Giá như thế.

Không tìm Thánh Giá.

Không tô hồng Thánh Giá.

Không dùng Thánh Giá để biện minh cho sự dữ.

Không đặt Thánh Giá trên vai người khác rồi bảo họ chịu đựng.

Nhưng khi Thánh Giá xuất hiện trên đường của người ta yêu, không bỏ họ.

Khi Thánh Giá xuất hiện trên đường đời mình, không bỏ Chúa.

Đó là linh đạo của Maria.

  1. NGƯỜI MẸ NHẬN LẤY THÂN XÁC BỊ THƯƠNG

Sau khi Chúa Giêsu chết, thân xác Người được hạ xuống khỏi Thánh Giá. Nghệ thuật Kitô giáo qua nhiều thế kỷ thường diễn tả cảnh Pietà: Đức Maria ôm xác Con. Dù Tin Mừng không mô tả chi tiết cảnh Mẹ ôm Con như trong các tác phẩm nghệ thuật, hình ảnh ấy đã trở thành một biểu tượng vô cùng mạnh mẽ của lòng đạo Kitô giáo, bởi nó quy tụ toàn bộ mầu nhiệm của một người Mẹ từ Bêlem đến Canvê.

Ngày xưa Mẹ đã ôm một Hài Nhi.

Bây giờ Mẹ ôm một thân xác đầy thương tích.

Cũng bàn tay ấy.

Cũng gương mặt ấy.

Cũng người Con ấy.

Nhưng khác biết bao.

Có lẽ không hình ảnh nào diễn tả rõ hơn sự thật này: tình yêu ở lại ngay cả khi vẻ đẹp bề ngoài đã bị phá hủy.

Khi Chúa Giêsu làm phép lạ, người ta muốn đi theo. Khi Người nói những lời uy quyền, đám đông thán phục. Khi Người hóa bánh, họ muốn tôn Người làm vua. Nhưng lúc thân xác Người đầy máu, méo mó vì thương tích, chẳng còn gì hấp dẫn theo mắt người đời, Maria vẫn nhận Người.

Đó là tình yêu.

Tình yêu thật không chỉ yêu người khác khi họ đáng yêu.

Tình yêu ở lại khi bệnh tật làm thay đổi gương mặt người ta.

Tình yêu ở lại khi tuổi già làm cơ thể yếu đi.

Tình yêu ở lại khi người ta thất bại.

Tình yêu ở lại khi người ta không còn gì để cho.

Và đó cũng là cách Thiên Chúa yêu ta.

Ta thường sợ Thiên Chúa chỉ yêu phiên bản tốt của mình: khi đạo đức, sạch sẽ, sốt sắng, thành công. Nhưng Thánh Giá cho thấy Thiên Chúa đến với phần xấu xí nhất, bị thương nhất, thất bại nhất của nhân loại.

Maria ôm thân xác bị thương của Con như Giáo Hội được gọi để ôm lấy Thân Thể Đức Kitô đang bị thương trong lịch sử.

Mỗi người nghèo là một vết thương.

Mỗi người bị bỏ rơi là một vết thương.

Mỗi trẻ em bị tổn thương là một vết thương.

Mỗi gia đình tan vỡ là một vết thương.

Mỗi người di cư tuyệt vọng là một vết thương.

Mỗi người già cô độc là một vết thương.

Mỗi người mang mặc cảm vì quá khứ là một vết thương.

Giáo Hội không chỉ được gọi để rao giảng một Đức Kitô vinh quang. Giáo Hội được gọi để nhận lấy thân xác bị thương của Đức Kitô nơi những người bé nhỏ.

Nếu ta yêu Thánh Giá trên bàn thờ mà khinh người đau khổ ngoài cửa nhà thờ, có điều gì đó chưa đúng.

Nếu ta hôn tượng chịu nạn vào Thứ Sáu Tuần Thánh nhưng không thể nhìn một người nghèo bằng phẩm giá, ta chưa học hết bài học của Maria.

Mẹ ôm lấy thân xác bị thương.

Và Mẹ không hỏi: “Tại sao Người lại để mình ra nông nỗi này?”

Mẹ nhận lấy.

Có những người cần được nhận lấy như thế. Không phải mọi hành vi của họ đều đúng. Không phải ta dung túng sự dữ. Nhưng con người sâu hơn lỗi lầm của họ. Có khi một người cần được nghe: “Anh đã làm sai, nhưng anh không chỉ là lỗi lầm ấy.” “Con đã thất bại, nhưng con vẫn là con.” “Anh đang nghiện, nhưng anh không chỉ là một người nghiện.” “Chị đang mang một quá khứ rất phức tạp, nhưng chị vẫn có phẩm giá.”

Maria dưới chân Thánh Giá cho ta một trái tim biết giữ người khác trong phẩm giá ngay cả khi cuộc đời họ bị biến dạng bởi thương tích.

  1. MARIA KHÔNG GIẢI THÍCH THIÊN CHÚA, MẸ TIN THIÊN CHÚA

Có một cám dỗ rất tinh vi của đời sống tôn giáo: muốn giải thích hết Thiên Chúa. Ta gặp một biến cố rồi tìm ngay lý do. Người này bệnh vì Chúa muốn thử. Người kia mất việc vì Chúa có kế hoạch. Người nọ gặp đau khổ vì Chúa muốn họ nên thánh.

Hãy cẩn thận.

Ta không biết đủ để nói thay Thiên Chúa về từng biến cố.

Maria dưới chân Thánh Giá không có một bản giải thích hoàn chỉnh. Mẹ có lời hứa. Mẹ có ký ức. Mẹ có đức tin. Nhưng mắt Mẹ đang nhìn thấy điều dường như ngược hẳn với lời đã hứa.

Mẹ không giải thích Thiên Chúa.

Mẹ tin Thiên Chúa.

Đây là khác biệt giữa đức tin và hệ thống giải thích.

Đức tin không phải lúc nào cũng trả lời câu “tại sao”.

Nhiều khi đức tin trả lời câu khác: “Tôi sẽ ở với ai trong lúc không biết tại sao?”

Maria ở với Chúa.

Có lẽ đây là điều ta cần nhất trong những giờ khủng hoảng. Không phải biết hết. Mà là biết mình thuộc về ai.

Con không biết vì sao bệnh này đến.

Nhưng con biết con thuộc về Chúa.

Con không biết vì sao người con thương phải ra đi.

Nhưng con biết con thuộc về Chúa.

Con không hiểu tại sao lời cầu nguyện này dường như không được đáp.

Nhưng con biết con thuộc về Chúa.

Đức tin của Maria là như thế.

Không phải đức tin của người có tất cả đáp án.

Mà là đức tin của người không rời khỏi Thiên Chúa khi đáp án chưa đến.

  1. HÃY ĐỂ ĐỨC MARIA DẠY TA ĐỨNG

Có lẽ cuối cùng, mỗi người trong chúng ta đều sẽ có một Canvê nào đó.

Không ai biết hình thức của nó.

Có người gặp sớm.

Có người gặp muộn.

Có người mang một thánh giá thấy rõ.

Có người mang một thánh giá chẳng ai biết.

Nhưng sẽ đến những lúc ta không còn quyền lực kiểm soát.

Khi ấy, hãy nhớ Đức Maria.

Khi không biết phải làm gì, hãy đứng.

Đứng trước Thánh Giá.

Đứng trong cầu nguyện.

Đứng trong sự thật.

Đứng cạnh người đau khổ.

Đứng mà không kiểm soát.

Đứng mà không chạy.

Đứng mà không nguyền rủa.

Đứng mà không tuyệt vọng.

Có thể nước mắt sẽ chảy.

Đứng không có nghĩa là không khóc.

Có thể lòng sẽ run.

Đứng không có nghĩa là không sợ.

Có thể ta sẽ tự hỏi hàng trăm lần: “Lạy Chúa, tại sao?”

Đứng không có nghĩa là không hỏi.

Nó chỉ có nghĩa là sau tất cả những câu hỏi ấy, ta vẫn không rời khỏi Người.

Đức Maria yêu Thánh Giá như thế.

Không phải vì Thánh Giá đẹp.

Mà vì Đức Giêsu ở trên đó.

Và nơi nào có Đức Giêsu, Maria ở đó.

Từ Nazareth đến Bêlem.

Từ Ai Cập đến Cana.

Từ những con đường Galilê đến Giêrusalem.

Và cuối cùng đến Canvê.

Mẹ không yêu khổ đau.

Mẹ yêu Con.

Và vì yêu Con, Mẹ không để đau khổ có quyền tách Mẹ khỏi Con.

Đó chính là điều thánh Phaolô sau này sẽ nói bằng ngôn ngữ khác: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô?” Gian truân ư? Khốn khổ ư? Bắt bớ ư? Đói khát ư? Trần truồng ư? Hiểm nguy ư? Gươm giáo ư?

Maria đã trả lời câu ấy trước khi Phaolô viết nó.

Mẹ trả lời bằng cách đứng.

Không gì tách Mẹ khỏi Con.

Ngay cả Thánh Giá.

Và có lẽ đó là hình thức sâu nhất của việc yêu Thánh Giá: không để chính Thánh Giá tách mình khỏi Đấng đang mang Thánh Giá.

Ta có thể đau mà vẫn yêu.

Ta có thể không hiểu mà vẫn tin.

Ta có thể bất lực mà vẫn hiện diện.

Ta có thể mất một điều rất quý mà vẫn không đánh mất Thiên Chúa.

Đây là tự do lớn nhất mà Maria dạy cho con người.

Thế gian có thể lấy nhiều thứ.

Có thể lấy sức khỏe.

Có thể lấy danh tiếng.

Có thể lấy tài sản.

Có thể lấy những người ta yêu.

Có thể lấy kế hoạch.

Có thể lấy tương lai như ta từng tưởng tượng.

Nhưng nếu ta giữ được Thiên Chúa, điều sâu nhất vẫn còn.

Maria đứng dưới Thánh Giá vì Mẹ biết điều ấy.

Con bị treo trước mắt Mẹ.

Mọi giấc mơ có thể dường như chết.

Nhưng Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa.

Ngày Thứ Sáu không phải ngày cuối cùng.

Đó là niềm hy vọng nảy sinh ngay trong lòng Thánh Giá.

Và vì thế, khi cuộc đời ta có những ngày chẳng còn biết làm gì, hãy xin Đức Maria dạy ta một động từ duy nhất:

Đứng.

Đứng gần Chúa.

Đứng gần người đau khổ.

Đứng trong sự thật.

Đứng trong lòng thương xót.

Đứng dưới Thánh Giá đủ lâu để nhận ra rằng ở ngay nơi tưởng như mọi sự đã hết, Thiên Chúa đang chuẩn bị một khởi đầu mà ta chưa nhìn thấy.

Maria không bị đóng đinh bằng đinh.

Maria bị đóng đinh bằng tình yêu.

Nhưng tình yêu ấy không chết trên Canvê.

Tình yêu ấy đi qua Thánh Giá.

Đi qua mồ đá.

Đi vào buổi sáng Phục Sinh.

Rồi trở thành trái tim mẫu tử mở rộng cho Giáo Hội và cho từng người chúng ta.

Vì thế, yêu mến Thánh Giá theo trường học của Đức Maria không phải là tập yêu đau khổ, nhưng là tập yêu Đức Kitô đến mức đau khổ không còn đủ sức làm ta bỏ Người; tập yêu con người đến mức khi ta không thể cất thánh giá khỏi vai họ, ta vẫn không bỏ họ một mình; tập khiêm tốn đến mức biết mình không phải Đấng Cứu Thế nhưng vẫn sẵn lòng cộng tác với Đấng Cứu Thế; tập thinh lặng khi lời nói không còn ích lợi; tập hiện diện khi hành động không còn khả thi; tập hy vọng khi mắt chưa thấy bình minh; và tập tin rằng nơi nào tình yêu trung thành đứng dưới Thánh Giá, nơi ấy Phục Sinh đã bắt đầu âm thầm nảy mầm.

CHƯƠNG IV. ĐỨC MARIA: YÊU THÁNH GIÁ MÀ KHÔNG ĐÓNG ĐINH

Có những người được đóng đinh bằng đinh sắt. Có những người được đóng đinh bằng bệnh tật. Có những người được đóng đinh bằng thất bại, nghèo túng, phản bội, cô độc, hiểu lầm, mất mát. Và cũng có những người không mang trên thân thể mình một vết đinh nào, nhưng trái tim lại bị xuyên thủng từng ngày bởi nỗi đau của người mình yêu. Đức Maria thuộc về những người như thế. Mẹ không bị lính Rôma đóng đinh lên một cây gỗ. Không có chiếc đinh nào xuyên qua bàn tay Mẹ. Không có chiếc đinh nào xuyên qua bàn chân Mẹ. Không có ngọn giáo nào đâm vào cạnh sườn Mẹ. Nhưng nếu Thánh Giá được đo bằng chiều sâu của tình yêu, nếu đau khổ được đo không chỉ bằng những gì xảy đến trên thân xác mà còn bằng mức độ người ta gắn bó với người đang đau khổ, thì có lẽ không ai trong loài người đứng gần Thánh Giá của Đức Kitô như Maria. Mẹ không bị đóng đinh bằng đinh. Mẹ bị đóng đinh bằng tình mẫu tử. Mỗi chiếc đinh đóng vào tay Chúa Giêsu đều vọng vào lòng Mẹ. Mỗi nhát búa giáng xuống thân thể Con cũng như giáng vào ký ức của người Mẹ đã từng nâng những bàn tay ấy khi Con còn thơ bé. Mỗi giọt máu từ chân Chúa chảy xuống cũng làm Mẹ nhớ lại những bước chân đầu tiên của Con ở Nazareth. Mỗi lời nhục mạ dành cho Con đều như xé vào trái tim của một người Mẹ biết rất rõ Con mình vô tội. Và tiếng kêu cuối cùng của Chúa Giêsu trên đồi Canvê hẳn phải xuyên qua tâm hồn Mẹ sâu hơn bất cứ lưỡi gươm vật chất nào có thể làm được.

Ngày Đức Maria cùng thánh Giuse đem Hài Nhi Giêsu lên Đền Thờ, cụ già Simêon đã nói một lời lạ lùng: “Còn chính Bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn Bà” (Lc 2,35). Khi ấy Hài Nhi còn bé. Không có thập giá. Không có lính Rôma. Không có đồi Sọ. Không có mão gai. Không có tiếng đám đông gào lên: “Đóng đinh nó vào thập giá!” Không có máu. Không có mồ đá. Nhưng bóng của Thánh Giá đã đi qua cuộc đời Đức Maria từ rất sớm. Lời của Simêon không phải một lời đe dọa. Không phải Thiên Chúa đứng đó để báo trước rằng Người sẽ hành hạ một người Mẹ đạo đức. Lời ấy là một lời mô tả con đường của tình yêu. Ai yêu Đức Kitô thật sẽ không thể mãi mãi đứng ở vùng an toàn. Ai đi theo Đức Kitô thật sẽ có ngày phải đi đến nơi Người đi. Ai để cho Người bước sâu vào đời mình sẽ có lúc cảm thấy một lưỡi gươm nào đó đi xuyên qua chính nơi sâu nhất của tâm hồn mình. Kitô giáo chưa bao giờ hứa với chúng ta một tình yêu không đau. Chúa Giêsu không đến để dạy ta cách tránh mọi vết thương. Người đến để mặc khải cho ta một tình yêu mạnh hơn vết thương. Và Đức Maria là người đầu tiên học bài học ấy bằng toàn bộ cuộc đời mình.

Có một điều rất lạ trong Tin Mừng. Đức Maria được Thiên Chúa tuyển chọn. Mẹ đầy ân sủng. Mẹ được thiên thần chào kính. Mẹ cưu mang Ngôi Lời. Mẹ sinh Con Thiên Chúa. Mẹ giữ Con Thiên Chúa trong vòng tay. Mẹ sống trong căn nhà nơi Thiên Chúa làm người lớn lên. Nếu hiểu ân sủng theo kiểu của con người, ta có thể nghĩ rằng cuộc đời Maria phải được miễn trừ khỏi mọi đau khổ. Mẹ đã nói “xin vâng” với Thiên Chúa, tại sao Thiên Chúa không làm đời Mẹ dễ hơn? Mẹ đã trao tất cả cho Chúa, tại sao Chúa không bảo vệ Mẹ khỏi những cuộc chạy trốn, những hiểu lầm, những lo âu, những mất mát? Nhưng chính cuộc đời Maria cho ta thấy một chân lý rất sâu: được Chúa yêu không có nghĩa là được miễn Thánh Giá. Được Chúa chọn không có nghĩa là không phải khóc. Đầy ân sủng không có nghĩa là không bị lưỡi gươm đâm thâu. Có khi càng gần Chúa, ta càng cảm thấy sâu hơn những gì làm Chúa đau. Có khi càng yêu, ta càng dễ bị tổn thương. Không phải vì tình yêu là sai, nhưng bởi vì tình yêu thật luôn mở lòng mình ra, mà trái tim mở ra thì có khả năng đón nhận niềm vui rất lớn nhưng cũng có khả năng chịu đau rất sâu.

  1. ĐỨNG

Tin Mừng Gioan kể lại một cảnh cực kỳ ngắn nhưng chứa trong đó cả một đại dương thần học và linh đạo: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người…” (Ga 19,25). Thánh Gioan không mô tả nước mắt Mẹ. Không kể Mẹ nói gì. Không nói Mẹ làm gì đặc biệt. Ông chỉ viết: Mẹ đứng. Một động từ rất ngắn: đứng. Nhưng có những lúc trong đời, đứng là một hành vi anh hùng. Có những lúc chạy trốn dễ hơn đứng lại. Có những lúc nói dễ hơn im lặng. Có những lúc hành động dễ hơn bất lực nhìn người mình thương đau đớn. Và có những lúc điều khó nhất không phải là làm một điều gì, nhưng là ở lại.

Maria đứng.

Mẹ không ngất đi để khỏi nhìn thấy. Mẹ không chạy khỏi Canvê. Mẹ không giận dữ với Thiên Chúa. Mẹ không xông lên giật Chúa Giêsu khỏi Thánh Giá. Mẹ cũng không thể làm được điều ấy. Mẹ không có quyền lực của lính tráng. Mẹ không có thế lực chính trị. Mẹ không thể thương lượng với Philatô. Mẹ không thể thay đổi bản án. Mẹ không thể kéo những chiếc đinh ra khỏi tay Con. Và đây có lẽ là một trong những thập giá khủng khiếp nhất của tình yêu: yêu mà không cứu được người mình yêu khỏi đau khổ.

Chúng ta thường nghĩ yêu là phải làm được gì đó. Khi người khác bệnh, ta muốn chữa họ. Khi con cái gặp khó khăn, ta muốn giải quyết cho chúng. Khi người thân rơi vào khủng hoảng, ta muốn kéo họ ra. Khi cộng đoàn có vấn đề, ta muốn sửa. Khi bạn bè đau khổ, ta muốn tìm một lời khiến họ hết đau. Và nhiều khi ta làm được điều gì đó. Nhưng rồi có những lúc cuộc đời đẩy ta đến một bức tường bất lực. Bác sĩ nói không còn phương pháp điều trị. Đứa con đã trưởng thành và tự chọn một con đường mà cha mẹ không thể kiểm soát. Một người thân rơi vào nghiện ngập nhưng chưa muốn quay về. Một cuộc hôn nhân đang tan vỡ mà người ngoài không thể hàn gắn thay. Một linh mục đau khổ mà giáo dân chỉ có thể cầu nguyện. Một cộng đoàn bị chia rẽ mà không có giải pháp tức thì. Một người hấp hối mà ta biết chẳng còn lời nào có thể giữ họ lại. Một người đang chìm trong bóng tối nội tâm mà mọi lời khuyên đều trở nên bất lực. Khi ấy, ta sẽ làm gì?

Maria dạy ta: hãy đứng.

Đứng không có nghĩa là thụ động. Đứng không có nghĩa là lạnh lùng. Đứng không có nghĩa là buông xuôi. Đứng dưới chân Thánh Giá là hình thức cao nhất của sự hiện diện khi ta không còn khả năng kiểm soát tình huống. Đó là lời nói không lời: “Con không thể lấy đau khổ này khỏi anh, nhưng con sẽ không để anh chịu nó một mình.” “Mẹ không thể kéo con xuống khỏi thập giá, nhưng mẹ sẽ ở đây.” “Tôi không thể chữa căn bệnh của bạn, nhưng tôi sẽ ngồi cạnh giường bạn.” “Tôi không thể thay đổi quá khứ của anh, nhưng tôi không bỏ anh trong hiện tại.” Có những lúc sự hiện diện chính là thứ thuốc duy nhất ta còn có thể trao cho nhau.

Ta thường đánh giá quá thấp sức mạnh của hiện diện. Trong thời đại của tốc độ, con người thích giải pháp. Ta thích trả lời. Ta thích kế hoạch. Ta thích phương pháp. Ta thích sửa chữa. Nhưng có những nỗi đau không phải bài toán để giải. Có những giọt nước mắt không cần lời giải thích. Có những vết thương cần người ngồi bên cạnh hơn là cần người giảng đạo. Có những người đau khổ không cần nghe ta nói: “Rồi mọi chuyện sẽ ổn thôi”, vì đôi khi mọi chuyện không ổn theo cách ta mong. Họ cần biết rằng khi mọi chuyện không ổn, vẫn có một người không bỏ đi.

Dưới chân Thánh Giá, Maria không “giải quyết” Thánh Giá. Mẹ hiện diện với Thánh Giá.

Đó là một bài học rất lớn cho đời sống thiêng liêng. Có những thánh giá ta không thể thay đổi. Có những điều ta cầu xin nhiều năm nhưng Thiên Chúa không cất đi. Có những khuyết điểm ta chiến đấu rất lâu mà vẫn phải tiếp tục chiến đấu. Có những vết thương gia đình đi theo ta suốt đời. Có những ký ức không thể xóa. Có những mất mát không thể lấy lại. Có những câu hỏi ta mang vào cầu nguyện mà không nhận được một câu trả lời rõ ràng. Đức Maria dạy ta rằng đức tin không phải lúc nào cũng là hiểu. Đôi khi đức tin chỉ là đứng. Không hiểu nhưng đứng. Đau nhưng đứng. Không còn sức nhưng vẫn đứng. Không nhìn thấy bình minh nhưng vẫn không rời khỏi nơi Thiên Chúa đang bị đóng đinh.

Ta hãy nghĩ về cảnh Canvê. Những người từng đi theo Chúa Giêsu đâu cả rồi? Những người từng chen lấn xin Người chữa bệnh đâu? Những người từng ăn bánh Người hóa nhiều đâu? Những người từng tung hô Người khi vào Giêrusalem đâu? Phần lớn đã biến mất. Đám đông thường ở lại khi có phép lạ. Đám đông biến đi khi chỉ còn Thánh Giá. Nhưng Maria đứng. Tình yêu thật được kiểm chứng không phải ở lúc được nhận ơn, nhưng ở lúc chẳng còn gì để nhận. Người ta dễ theo Chúa khi cầu được ước thấy. Người ta dễ cảm động khi tham dự một thánh lễ đẹp. Người ta dễ sốt sắng khi mọi việc thuận lợi. Nhưng rồi đến một thời điểm Chúa không còn cho ta cảm giác gì. Cầu nguyện khô khan. Công việc thất bại. Người khác hiểu lầm. Bệnh tật xuất hiện. Tuổi già đến. Những người ta yêu ra đi. Khi đó, câu hỏi không còn là: “Tôi cảm thấy Chúa thế nào?” mà là: “Tôi còn đứng với Chúa không?”

Maria đứng.

Mẹ đứng với Người Con bị coi là thất bại. Đứng với một Đấng Mêsia không còn làm phép lạ cho mình. Đứng với một Vị Vua trần trụi. Đứng với Đấng mà người đời đang chế nhạo. Đứng với Người mà quyền lực tôn giáo và chính trị đã kết án. Đứng khi dường như mọi lời hứa của Thiên Chúa đã sụp đổ trước mắt. Thiên thần từng nói: “Người sẽ nên cao cả… triều đại Người sẽ vô cùng vô tận.” Vậy mà giờ đây Người đang chết như một tội phạm. Nếu Maria đánh giá Thiên Chúa bằng những gì mắt thấy lúc ấy, Mẹ có mọi lý do để thất vọng. Nhưng Mẹ không bỏ đi. Đức tin của Mẹ không bám vào diện mạo thành công của Con. Đức tin của Mẹ bám vào chính Thiên Chúa.

Đời chúng ta cũng có những giờ Canvê như thế. Có khi ta nhìn lại những năm tháng sống đạo và tự hỏi: tại sao chuyện này xảy ra? Có khi một người đã phục vụ Chúa cả đời rồi lại mang một căn bệnh nặng. Có khi một gia đình đạo đức lại gặp hết biến cố này đến biến cố khác. Có khi một người sống tử tế lại bị vu oan. Có khi người đã hy sinh rất nhiều lại nhận về sự vô ơn. Có khi ta cầu nguyện cho một người và người đó vẫn ra đi. Trong những giờ phút ấy, ta thường muốn có lời giải thích. Nhưng dưới chân Thánh Giá không có lời giải thích. Có Maria đứng đó. Chính sự đứng lại của Mẹ đã trở thành một lời tuyên xưng không thành tiếng: “Con không hiểu hết, nhưng con vẫn tin. Con không thể thay đổi điều đang xảy ra, nhưng con không bỏ Thiên Chúa.”

Đứng với người hấp hối. Đó có thể là một trong những việc thiêng liêng nhất một con người làm cho một con người khác. Không cần nói nhiều. Cầm tay họ. Đọc một kinh ngắn. Lau mồ hôi. Làm dấu Thánh Giá. Nói rằng ta ở đây. Có khi người hấp hối không còn nghe bằng tai, nhưng họ có thể cảm nhận bằng cách nào đó sự hiện diện của tình yêu. Đừng sợ sự bất lực ấy. Maria đã từng bất lực như thế trước cái chết của Con mình.

Đứng với con cái đi lạc. Có cha mẹ đau khổ vì con xa Chúa, xa gia đình, đi vào một lối sống khiến cha mẹ lo lắng. Yêu không có nghĩa là đồng ý với mọi lựa chọn. Nhưng yêu cũng không đồng nghĩa với từ bỏ. Maria dạy cha mẹ một tình yêu biết đau mà không chiếm hữu. Có những đứa con chỉ có thể trở về sau một hành trình rất dài. Trong quãng đường ấy, cha mẹ không thể sống thay chúng, nhưng có thể giữ ngọn đèn trong nhà. Có thể cầu nguyện. Có thể không đóng cửa. Có thể nhắc bằng chính sự trung thành của mình rằng vẫn còn một nơi để quay về.

Đứng với cộng đoàn đang tan. Có những cộng đoàn từng rất đẹp rồi một ngày xuất hiện xung đột, phe phái, nghi ngờ, lời ra tiếng vào. Phản ứng dễ nhất là bỏ đi. Nhưng đôi khi Chúa gọi một số người ở lại không phải để kiểm soát, không phải để chiến thắng phe này phe kia, mà để làm chứng rằng tình hiệp thông đáng được bảo vệ bằng sự kiên nhẫn. Ở lại không phải luôn luôn là đúng trong mọi hoàn cảnh, nhất là nơi có bạo lực hoặc lạm dụng, nhưng trong nhiều tình huống, sự trung thành thầm lặng của một người có thể là chiếc neo giữ một cộng đoàn khỏi đổ vỡ hoàn toàn.

Đứng với chính đêm tối của mình. Đây có lẽ là điều khó nhất. Ta thường có lòng thương người khác hơn thương chính mình. Khi người khác yếu đuối, ta dễ thông cảm; khi chính ta yếu đuối, ta kết án. Khi người khác thất bại, ta nói: “Không sao, làm lại”; khi ta thất bại, ta nói: “Mình vô dụng.” Maria dạy ta đứng cả với chính những phần đời đang đau trong ta. Không bỏ chạy khỏi bản thân. Không phủ nhận sự mệt mỏi. Không giả vờ mạnh. Không dùng những hoạt động tôn giáo để trốn khỏi vết thương thật. Đứng trước Chúa với tất cả những gì ta đang là.

Maria đứng như thế: hiện diện, nhưng không kiểm soát.

Đây là một trong những nét đẹp nhất của tình yêu Đức Maria. Mẹ yêu Chúa Giêsu sâu sắc hơn bất cứ thụ tạo nào, nhưng Mẹ không sở hữu Chúa Giêsu. Ngay từ đầu, Mẹ đã học trao Con. Sinh Con ra rồi đặt Con trong máng cỏ. Đem Con lên Đền Thờ. Mất Con ba ngày rồi nghe Người nói: “Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” Tại Cana, Mẹ nói với gia nhân: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Mẹ luôn chỉ về Người, không kéo Người về mình. Và cuối cùng dưới chân Thánh Giá, Mẹ phải làm điều khó nhất của một người Mẹ: để Con hoàn tất con đường mà Cha đã giao.

Có một thứ tình yêu bóp nghẹt vì muốn kiểm soát. Có một thứ tình yêu thao túng vì sợ mất. Có một thứ tình yêu dùng câu “tôi thương anh” để quyết định thay cuộc đời của anh. Nhưng Maria cho thấy tình yêu trưởng thành biết đứng gần mà không chiếm đoạt, biết đau mà không kiểm soát, biết trung thành mà không biến người mình yêu thành tài sản của mình.

Đó là cách Mẹ yêu Thánh Giá.

Không phải bằng cách thích đau khổ.

Không phải bằng cách tìm đau khổ.

Không phải bằng cách tôn thờ đau khổ.

Nhưng bằng cách không bỏ Đức Giêsu khi con đường của Người đi ngang qua đau khổ.

  1. THINH LẶNG SINH HOA

Kinh Thánh không ghi lại một lời nào của Đức Maria dưới chân Thánh Giá. Điều đó đáng suy nghĩ. Tại tiệc cưới Cana, Maria nói. Khi truyền tin, Maria nói. Trong bài Magnificat, Maria hát lên một trong những lời ca đẹp nhất của Kinh Thánh. Nhưng dưới chân Thánh Giá, Mẹ thinh lặng.

Có những lúc tình yêu nói rất nhiều. Có những lúc tình yêu chỉ còn có thể im lặng.

Thinh lặng của Maria không phải sự trống rỗng. Đó không phải thái độ của người chẳng còn gì để nói. Đó cũng không phải sự tê liệt cảm xúc. Thinh lặng ấy là một thứ thinh lặng đã đi qua cả một lịch sử lắng nghe Thiên Chúa. Người phụ nữ từng “ghi nhớ tất cả những điều ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng” giờ đây lại cất vào lòng một mầu nhiệm quá lớn để có thể nói thành lời.

Chúng ta sống trong một thời đại sợ thinh lặng. Ai cũng phải nói. Ai cũng phải bình luận. Có chuyện xảy ra, vài phút sau người ta đã có ý kiến. Có biến cố, người ta lập tức phân tích, phán đoán, quy trách nhiệm. Ngay cả trước nỗi đau của người khác, ta cũng thường cảm thấy mình phải nói điều gì đó. Nhưng đôi khi lời nói, dù có ý tốt, lại làm nỗi đau lớn hơn. Có người mất người thân, ta nói: “Chúa thương nên gọi về.” Có người mắc bệnh, ta nói: “Cứ tin đi, Chúa sẽ chữa.” Có người gặp biến cố, ta nói: “Chắc Chúa có ý.” Những câu ấy có thể đúng ở một bình diện nào đó, nhưng nếu nói quá nhanh, nó có thể trở nên lạnh lùng. Người đau khổ trước hết không cần một bài thần học. Họ cần một người ở cạnh.

Maria không giảng cho Chúa Giêsu dưới chân Thánh Giá.

Mẹ ở đó.

Thinh lặng đúng lúc là một hình thức của lòng thương xót. Nó nói: “Nỗi đau của anh quá lớn để tôi biến nó thành những câu dễ dãi.” Nó nói: “Tôi tôn trọng mầu nhiệm đang diễn ra nơi anh.” Nó nói: “Tôi không hiểu hết nên tôi không giả vờ hiểu.”

Có những người nói rất nhiều về Thánh Giá nhưng chưa bao giờ biết ngồi bên cạnh một người đang chịu thánh giá. Maria không nói một bài nào về đau khổ dưới chân Canvê. Mẹ mang đau khổ trong chính thân phận mình. Và có lẽ vì thế mà thinh lặng của Mẹ có sức mạnh hơn ngàn lời giải thích.

Thinh lặng ấy là một cung lòng mới.

Khi truyền tin, cung lòng Maria đón Ngôi Lời làm người. Dưới chân Thánh Giá, trái tim Maria lại mở ra để đón một gia đình mới. Chúa Giêsu nhìn Mẹ và người môn đệ Người yêu mến: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Rồi Người nói với môn đệ: “Đây là Mẹ của anh.” Tin Mừng kể: “Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.”

Một cuộc sinh nở mới diễn ra tại Canvê. Nhưng lần này không có máng cỏ. Có Thánh Giá. Không có tiếng hát thiên thần. Có tiếng nhạo báng. Không có mục đồng. Có lính tráng. Không có ánh sao. Có bóng tối. Và Maria một lần nữa trở thành Mẹ.

Ở Bêlem, Mẹ sinh Đầu của Nhiệm Thể là Đức Kitô. Ở Canvê, theo một nghĩa thiêng liêng, Mẹ nhận lấy các chi thể của Nhiệm Thể ấy nơi người môn đệ. Mẫu tính của Maria mở rộng. Mẹ không chỉ thuộc về Nazareth. Mẹ thuộc về Giáo Hội.

Điều đáng chú ý là mẫu tính ấy sinh ra trong đau khổ. Nhiều hoa trái thiêng liêng cũng sinh ra như thế. Ta muốn sinh hoa trái mà không muốn bị cắt tỉa. Ta muốn trưởng thành mà không trải qua khủng hoảng. Ta muốn yêu sâu nhưng không muốn dễ bị tổn thương. Ta muốn trở nên người nâng đỡ người khác nhưng không muốn chính mình từng biết đau. Nhưng thường chính những gì đã làm ta khóc lại trở thành nơi Thiên Chúa mở rộng trái tim ta.

Một người từng bệnh nặng có thể hiểu người bệnh theo cách mà sách vở không dạy được. Một người từng trải qua đổ vỡ có thể biết cách ngồi với người đang vỡ vụn. Một người từng bị hiểu lầm có thể học đừng vội kết án. Một người từng thất bại có thể dịu dàng hơn với người thất bại. Một người từng đi qua đêm tối đức tin có thể trở thành người bạn quý báu cho những ai đang không cảm thấy Thiên Chúa.

Đau khổ không tự động làm con người tốt hơn. Có đau khổ làm người ta cay đắng. Có vết thương làm người ta đóng kín. Nhưng khi đau khổ được mang vào trong tình yêu và trong ân sủng, nó có thể mở một không gian mới trong trái tim. Maria đã để lưỡi gươm đâm qua nhưng không để lưỡi gươm biến lòng Mẹ thành đá.

Đó là điều phi thường.

Ta hãy hình dung Mẹ có lý do để giận. Những người này đang giết Con Mẹ. Mẹ có thể oán họ. Mẹ có thể nguyền rủa họ. Nhưng Tin Mừng không ghi một lời nguyền rủa nào của Mẹ. Tại Canvê, Mẹ đứng gần Đấng đang cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Người Mẹ ấy đã để cho lời tha thứ của Con đi xuyên qua chính trái tim mình.

Có lẽ đây là một trong những thánh giá khó nhất: không để đau khổ biến mình thành người gây đau khổ.

Ta bị tổn thương rồi ta tổn thương người khác. Ta bị phản bội rồi ta không còn tin ai. Ta bị xúc phạm rồi ta trở nên cay nghiệt. Ta từng bị kiểm soát rồi ta kiểm soát người khác. Ta từng bị bỏ rơi rồi ta bám víu. Ta từng bị phán xét rồi ta thích phán xét. Đau khổ truyền từ người này sang người khác như một thứ di sản tối tăm.

Maria đứng dưới Thánh Giá nhưng không truyền lưỡi gươm cho người khác. Mẹ nhận nó vào lòng.

Đó là điều tình yêu cứu chuộc thực hiện nơi một con người: đau nhưng không trả đau bằng đau; bị thương nhưng không biến mình thành người làm người khác bị thương.

Thinh lặng của Maria vì thế không phải thinh lặng của nạn nhân cam chịu mọi điều vô lý. Kitô giáo không dạy người bị bạo hành phải im lặng để bạo hành tiếp tục. Không ai được lấy hình ảnh Maria dưới chân Thánh Giá để bắt một người phải ở lại trong hoàn cảnh nguy hiểm hay để che đậy tội ác. Thinh lặng của Maria là thinh lặng tự do của một tình yêu hoàn toàn kết hợp với Đức Kitô. Đó là thinh lặng của người không cần tự vệ cho cái tôi. Đó là thinh lặng không gieo thêm hận thù.

“Yêu mến Thánh Giá đôi khi không cần nói đúng. Cần ở đúng.”

Câu này rất quan trọng.

Ta có thể nói rất đúng thần học nhưng đứng sai chỗ. Ta có thể giải thích rất hay về đau khổ nhưng không ở bên người đau khổ. Ta có thể bảo vệ chân lý rất hùng hồn nhưng đứng về phía quyền lực hơn là đứng bên cạnh người bị tổn thương. Ta có thể giảng rất hay về lòng thương xót nhưng khi một người lầm lỗi cần ta, ta lại tránh họ.

Maria nói rất ít dưới chân Thánh Giá, nhưng Mẹ đứng đúng chỗ.

Mẹ đứng gần người bị kết án.

Mẹ đứng gần người bị chế nhạo.

Mẹ đứng gần người đang chết.

Mẹ đứng gần Đấng mà cả thế gian dường như đang quay lưng.

Đời Kitô hữu cuối cùng cũng sẽ được hỏi không chỉ: “Anh đã nói gì?” mà còn: “Anh đã đứng ở đâu?”

Khi người nghèo bị bỏ quên, ta đứng đâu?

Khi một người trong gia đình gặp khủng hoảng, ta đứng đâu?

Khi một người bị vu khống, ta đứng đâu?

Khi Giáo Hội mang thương tích vì tội lỗi của chính con cái mình, ta đứng đâu? Ta đứng với sự thật và hoán cải hay chỉ đứng để bảo vệ hình ảnh? Ta đứng với những người bị tổn thương hay chỉ lo thắng một cuộc tranh luận?

Maria đứng gần Thánh Giá.

Thinh lặng của Mẹ sinh hoa trái bởi vì đó là thinh lặng của hiệp thông.

Một người có thể im lặng vì sợ. Một người có thể im lặng vì ích kỷ. Một người có thể im lặng vì không muốn dính líu. Maria im lặng vì Mẹ đang ở hết mình với Đức Giêsu. Có những thinh lặng là bỏ rơi. Thinh lặng của Maria là hiện diện.

Từ đó ta học một cách cầu nguyện rất sâu. Không phải lúc nào vào nhà nguyện cũng phải nói. Có những giai đoạn ta chẳng biết nói gì với Chúa. Hãy ngồi đó. Hãy nhìn Thánh Giá. Hãy để Chúa nhìn ta. Hãy cho phép trái tim ở lại trước mặt Người. Cầu nguyện không phải lúc nào cũng là sản xuất tư tưởng đạo đức. Cầu nguyện trước hết là ở với Đấng ta yêu.

Có khi lời cầu nguyện đẹp nhất chỉ là: “Con ở đây.”

Maria đã cầu nguyện bằng cả sự hiện diện của Mẹ dưới chân Thánh Giá.

  1. ĐỒNG CÔNG KHÔNG PHẢI ĐỒNG ĐẲNG

Khi suy niệm về Đức Maria dưới chân Thánh Giá, ta phải bước đi với cả lòng yêu mến lẫn sự chính xác của đức tin. Truyền thống Công Giáo luôn nhìn nhận sự thông phần đặc biệt của Đức Maria trong mầu nhiệm Đức Kitô. Mẹ đã tự do đáp lại kế hoạch của Thiên Chúa. Mẹ cưu mang Đấng Cứu Thế. Mẹ trao Người cho thế gian. Mẹ đi với Người. Mẹ đau với Người. Mẹ đứng dưới Thánh Giá. Nhưng tất cả những điều ấy không bao giờ có nghĩa rằng Đức Maria là một Đấng Cứu Chuộc thứ hai song song với Đức Kitô.

Chỉ có một Đấng Cứu Chuộc.

Chỉ có một hy lễ cứu độ có giá trị tuyệt đối.

Chỉ có một Đấng Trung Gian duy nhất theo nghĩa nguồn mạch là Đức Giêsu Kitô.

Mọi ân sủng nơi Maria đều đến từ Đức Kitô.

Mọi sự cao cả của Mẹ là hoa trái công trình cứu độ của Con.

Mẹ không đứng cạnh Thánh Giá như một quyền lực song song. Mẹ đứng dưới Thánh Giá như người đầu tiên được Thánh Giá cứu chuộc cách kỳ diệu và như người cộng tác tự do, trọn vẹn vào chương trình của Thiên Chúa.

Nếu gọi sự thông phần ấy là “đồng công”, ta phải hiểu chữ ấy theo nghĩa lệ thuộc hoàn toàn: cùng cộng tác, cùng đáp trả, cùng hiến dâng trong Đức Kitô và nhờ Đức Kitô, chứ không hề có nghĩa đồng đẳng với Người. Khoảng cách giữa Đức Kitô và Đức Maria là khoảng cách giữa Đấng Cứu Chuộc và người được cứu chuộc, giữa Ngôi Lời nhập thể và một thụ tạo, dù là thụ tạo đầy ân sủng nhất.

Hiểu như thế không làm giảm vai trò của Maria. Trái lại, nó làm vẻ đẹp của Mẹ sáng hơn.

Mẹ không cần trở thành Thiên Chúa để trở nên vĩ đại.

Mẹ vĩ đại vì là thụ tạo đã để Thiên Chúa hành động trọn vẹn nơi mình.

Đó cũng là một bài học cho chúng ta.

Ta thường muốn làm những việc lớn. Ta muốn cứu người khác. Ta muốn sửa gia đình. Ta muốn thay đổi Giáo Hội. Ta muốn cứu cộng đoàn. Ta muốn làm điều gì đó để thế giới khá hơn. Khát vọng ấy có phần tốt. Nhưng nó cũng có thể giấu một cám dỗ: ta bắt đầu cư xử như thể mọi sự tùy thuộc vào ta.

Maria dưới chân Thánh Giá dạy ta giới hạn của mình.

Mẹ không cứu thế gian.

Mẹ đứng bên Đấng đang cứu thế gian.

Đó là khác biệt rất lớn.

Nhiều kiệt sức trong đời sống mục vụ đến từ việc người ta quên khác biệt ấy. Một linh mục nghĩ mình phải cứu giáo xứ. Một người cha nghĩ mình phải kiểm soát tất cả tương lai con cái. Một người làm việc tông đồ nghĩ nếu mình nghỉ thì mọi sự sẽ sụp đổ. Một người phục vụ nghĩ mình phải giải quyết hết mọi vấn đề của người khác. Dần dần, việc phục vụ biến thành gánh nặng không chịu nổi, bởi ta vô tình ngồi vào chỗ chỉ thuộc về Thiên Chúa.

Ta không phải Đấng Cứu Thế.

Đây không phải một tin buồn.

Đây là một tin giải phóng.

Ta có thể yêu mà không cần làm Thiên Chúa. Ta có thể phục vụ mà không cần kiểm soát mọi kết quả. Ta có thể gieo mà không cần ép hạt giống mọc. Ta có thể đồng hành mà không phải sống thay đời người khác. Ta có thể cầu nguyện mà không cần quyết định Thiên Chúa phải trả lời thế nào.

Maria làm điều Mẹ có thể.

Mẹ hiện diện.

Mẹ tin.

Mẹ hiến dâng.

Mẹ để Con hoàn tất sứ mạng.

Mẹ nhận Gioan.

Mẹ tiếp tục sống.

Có một điều rất cảm động: sau khi Chúa Giêsu chết, cuộc đời Maria vẫn tiếp tục. Đây cũng là một loại thánh giá. Người ta thường nghĩ đau nhất là lúc biến cố xảy ra. Nhưng nhiều khi đau thật sự bắt đầu sau đó. Đám tang xong, mọi người về. Những lời chia buồn dần thưa. Căn nhà im. Chiếc ghế trống. Một thói quen không còn. Một tiếng gọi không còn. Một người Mẹ đã từng sống gần ba mươi năm với Con giờ phải học cách sống mà không còn thấy Con bằng mắt.

Maria đã sống “ngày hôm sau” của Thánh Giá.

Có rất nhiều người đang sống ngày hôm sau của Thánh Giá. Người góa phụ sau khi chồng qua đời. Cha mẹ sau khi mất con. Người vừa mất việc. Người vừa rời khỏi một mối quan hệ. Người vừa trải qua phẫu thuật. Người vừa nhận một chẩn đoán thay đổi cả cuộc đời. Sau biến cố, cuộc đời không tự động trở lại bình thường. Có những người phải học cách thở lại, ăn lại, ngủ lại, cầu nguyện lại.

Maria có thể trở thành Mẹ của những ngày hôm sau.

Bởi Mẹ biết sống sau Canvê.

Và rồi Mẹ hiện diện giữa cộng đoàn môn đệ chờ đợi Chúa Thánh Thần. Đó là một chi tiết đẹp. Thánh Giá không biến Mẹ thành người khép kín mãi trong đau buồn. Mẹ vẫn ở giữa cộng đoàn. Đau khổ của Mẹ không phá hủy khả năng hiệp thông. Đây là dấu chỉ rất đẹp của một vết thương đã được ân sủng chạm tới.

Có những đau khổ khiến ta chỉ còn nhìn vào mình. Nhưng nếu để Chúa chữa lành, vết thương có thể trở thành cửa sổ nhìn ra người khác.

Ta không cứu thế gian, nhưng ta có thể từ chối đứng ngoài nỗi đau của thế gian.

Đó chính là con đường Maria.

Mẹ không cứu chuộc như Con, nhưng Mẹ không đứng ngoài công trình cứu chuộc.

Mẹ không bị đóng đinh, nhưng Mẹ không bỏ người bị đóng đinh.

Mẹ không đổ máu như Con, nhưng trái tim Mẹ bị xuyên thâu.

Mẹ không nói lời: “Mọi sự đã hoàn tất”, nhưng Mẹ ở đó khi mọi sự được hoàn tất.

Và đó cũng là cửa hẹp của mỗi Kitô hữu.

Ta không thể cứu hết người nghèo, nhưng ta có thể từ chối làm ngơ trước người nghèo bên cạnh.

Ta không thể chữa mọi người bệnh, nhưng ta có thể thăm một người bệnh.

Ta không thể giải quyết mọi cô đơn, nhưng ta có thể gọi điện cho một người lâu ngày không ai hỏi thăm.

Ta không thể sửa mọi bất công, nhưng ta có thể từ chối tham gia vào bất công nơi phần đời mình.

Ta không thể cứu một người khỏi mọi sai lầm, nhưng ta có thể giữ cánh cửa của lòng thương xót mở ra.

Ta không thể cất Thánh Giá của Chúa ra khỏi lịch sử, nhưng ta có thể đứng gần Thánh Giá.

Đây là một điều cần được nói rõ trong linh đạo Thánh Giá: yêu Thánh Giá không có nghĩa là yêu cái ác gây ra Thánh Giá. Đức Maria không yêu đinh sắt. Mẹ không yêu bạo lực Rôma. Mẹ không yêu bản án bất công. Mẹ không yêu tiếng chế nhạo. Mẹ yêu Chúa Giêsu. Và vì yêu Chúa Giêsu, Mẹ không bỏ Người khi Người bị đóng đinh.

Có một khác biệt lớn giữa yêu Thánh Giá và yêu đau khổ.

Kitô hữu không tìm đau khổ vì đau khổ.

Chúng ta tìm Đức Kitô.

Nhưng đôi khi khi tìm Đức Kitô, ta gặp Người trên Thánh Giá.

Khi ấy, ta không bỏ Người.

Đó là điều Maria dạy.

Nhiều người sợ linh đạo Thánh Giá vì nghĩ rằng nó ca tụng đau đớn, khuyến khích con người chịu đựng mọi bất công, hoặc nhìn cuộc đời bằng màu tối. Nếu hiểu như thế thì sai. Thánh Giá Kitô giáo không phải lời ca tụng bạo lực. Nó là bản cáo trạng lớn nhất đối với bạo lực, bởi chính Con Thiên Chúa trở thành nạn nhân của bạo lực. Thánh Giá cũng không nói rằng đau khổ tự nó tốt. Đau khổ là điều Thiên Chúa không dựng nên như mục đích cuối cùng. Nhưng Thánh Giá mặc khải một chân lý khác: khi đau khổ đi vào lịch sử con người, tình yêu Thiên Chúa có thể đi vào sâu hơn đau khổ.

Maria đứng ở giao điểm ấy.

Mẹ thấy điều ác tàn phá Con mình, nhưng Mẹ cũng tin Thiên Chúa chưa thua.

Chúng ta biết điều Maria chưa thấy trọn trong chiều Thứ Sáu ấy: Chúa Nhật Phục Sinh sẽ đến.

Nhưng Phục Sinh không xóa sự thật của Thứ Sáu.

Chúa Giêsu sống lại vẫn mang dấu đinh.

Tình yêu không giả vờ rằng vết thương chưa từng xảy ra. Tình yêu biến vết thương thành chứng tích của sự sống mạnh hơn cái chết.

Maria cũng vậy. Sau Phục Sinh, Mẹ không trở lại thành người Mẹ chưa từng đứng dưới Thánh Giá. Canvê trở thành một phần vĩnh viễn trong lịch sử tình yêu của Mẹ. Nhưng nó không phải chương cuối.

Đây là hy vọng cho chúng ta.

Có những điều không bao giờ trở lại như trước.

Có những mất mát không thể “bù”.

Có những vết thương để lại sẹo.

Đức tin không hứa rằng mọi sự sẽ trở lại như chưa có gì xảy ra.

Đức tin hứa điều lớn hơn: Thiên Chúa có thể tạo ra một sự sống mới ngay từ nơi mang sẹo.

Đó là mầu nhiệm Phục Sinh.

Và Maria là người đã đi qua toàn bộ hành trình ấy: từ “xin vâng” ở Nazareth đến “đứng” ở Canvê, từ giữ Con trong cung lòng đến trao Con cho thế gian, từ ôm Hài Nhi trong tay đến nhận xác Con từ Thánh Giá, từ lời hứa của thiên thần đến sự im lặng của mồ đá, rồi đến cộng đoàn đang đợi Thánh Thần.

Đời Mẹ dạy chúng ta rằng “xin vâng” với Thiên Chúa không phải một câu nói một lần rồi thôi.

Có cái “xin vâng” của Truyền Tin.

Có cái “xin vâng” khi phải lên đường về Bêlem.

Có cái “xin vâng” khi không tìm được chỗ trọ.

Có cái “xin vâng” khi phải chạy sang Ai Cập.

Có cái “xin vâng” khi Con bắt đầu rời nhà.

Có cái “xin vâng” khi không hiểu hết con đường của Con.

Có cái “xin vâng” ở Cana.

Và có cái “xin vâng” không thành tiếng dưới chân Thánh Giá.

Có những lời “xin vâng” nói bằng miệng.

Có những lời “xin vâng” chỉ có thể nói bằng cách đứng lại.

Có lẽ lời “xin vâng” lớn nhất của Maria không phải lời đẹp nhất, mà là lời không được ghi lại thành âm thanh.

Mẹ đứng.

Và vì Mẹ đứng, ta học được rằng có một sự thánh thiện không ồn ào. Có những người sẽ không bao giờ làm những việc nổi bật nhưng đời họ là một bài Magnificat thầm lặng. Một người mẹ chăm con khuyết tật hàng chục năm. Một người vợ chăm chồng bệnh. Một người chồng kiên trì bên người vợ mất trí nhớ. Một linh mục già vẫn cầu nguyện cho đoàn chiên dù không còn sức làm mục vụ. Một tu sĩ âm thầm chăm người bệnh. Một người con chăm cha mẹ tuổi già. Một người bạn không bỏ bạn mình trong lúc khủng hoảng. Không ai vỗ tay. Không có sân khấu. Nhưng dưới ánh sáng Thánh Giá, những sự hiện diện ấy thật lớn lao.

Bởi đôi khi tình yêu không có hình thức của chiến thắng.

Tình yêu có hình thức của một người đứng.

Và đây cũng là lý do Đức Maria gần người đau khổ. Khi ta cầu với Đức Mẹ trong giờ gian nan, ta không cầu với một người xa lạ với nước mắt. Ta cầu với một người Mẹ đã từng đứng cạnh cái chết. Mẹ biết bất lực là gì. Mẹ biết mất mát là gì. Mẹ biết cảm giác nhìn người mình yêu chịu đau mà không thể thay họ mang đau là gì.

Nên khi ta nói: “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử”, ta đang kêu cầu một người đã từng đứng trong giờ lâm tử của chính Con mình.

“Trong giờ lâm tử.”

Có lẽ đó là lúc tình mẫu tử của Maria dưới Thánh Giá trở nên đặc biệt gần chúng ta nhất. Ta xin Mẹ đứng cạnh ta như Mẹ từng đứng cạnh Chúa Giêsu. Không phải để ta khỏi chết. Không phải để ta không đau. Nhưng để trong giờ cuối, ta không cô độc.

Maria dạy chúng ta yêu Thánh Giá như thế.

Không tìm Thánh Giá.

Không tô hồng Thánh Giá.

Không dùng Thánh Giá để biện minh cho sự dữ.

Không đặt Thánh Giá trên vai người khác rồi bảo họ chịu đựng.

Nhưng khi Thánh Giá xuất hiện trên đường của người ta yêu, không bỏ họ.

Khi Thánh Giá xuất hiện trên đường đời mình, không bỏ Chúa.

Đó là linh đạo của Maria.

  1. NGƯỜI MẸ NHẬN LẤY THÂN XÁC BỊ THƯƠNG

Sau khi Chúa Giêsu chết, thân xác Người được hạ xuống khỏi Thánh Giá. Nghệ thuật Kitô giáo qua nhiều thế kỷ thường diễn tả cảnh Pietà: Đức Maria ôm xác Con. Dù Tin Mừng không mô tả chi tiết cảnh Mẹ ôm Con như trong các tác phẩm nghệ thuật, hình ảnh ấy đã trở thành một biểu tượng vô cùng mạnh mẽ của lòng đạo Kitô giáo, bởi nó quy tụ toàn bộ mầu nhiệm của một người Mẹ từ Bêlem đến Canvê.

Ngày xưa Mẹ đã ôm một Hài Nhi.

Bây giờ Mẹ ôm một thân xác đầy thương tích.

Cũng bàn tay ấy.

Cũng gương mặt ấy.

Cũng người Con ấy.

Nhưng khác biết bao.

Có lẽ không hình ảnh nào diễn tả rõ hơn sự thật này: tình yêu ở lại ngay cả khi vẻ đẹp bề ngoài đã bị phá hủy.

Khi Chúa Giêsu làm phép lạ, người ta muốn đi theo. Khi Người nói những lời uy quyền, đám đông thán phục. Khi Người hóa bánh, họ muốn tôn Người làm vua. Nhưng lúc thân xác Người đầy máu, méo mó vì thương tích, chẳng còn gì hấp dẫn theo mắt người đời, Maria vẫn nhận Người.

Đó là tình yêu.

Tình yêu thật không chỉ yêu người khác khi họ đáng yêu.

Tình yêu ở lại khi bệnh tật làm thay đổi gương mặt người ta.

Tình yêu ở lại khi tuổi già làm cơ thể yếu đi.

Tình yêu ở lại khi người ta thất bại.

Tình yêu ở lại khi người ta không còn gì để cho.

Và đó cũng là cách Thiên Chúa yêu ta.

Ta thường sợ Thiên Chúa chỉ yêu phiên bản tốt của mình: khi đạo đức, sạch sẽ, sốt sắng, thành công. Nhưng Thánh Giá cho thấy Thiên Chúa đến với phần xấu xí nhất, bị thương nhất, thất bại nhất của nhân loại.

Maria ôm thân xác bị thương của Con như Giáo Hội được gọi để ôm lấy Thân Thể Đức Kitô đang bị thương trong lịch sử.

Mỗi người nghèo là một vết thương.

Mỗi người bị bỏ rơi là một vết thương.

Mỗi trẻ em bị tổn thương là một vết thương.

Mỗi gia đình tan vỡ là một vết thương.

Mỗi người di cư tuyệt vọng là một vết thương.

Mỗi người già cô độc là một vết thương.

Mỗi người mang mặc cảm vì quá khứ là một vết thương.

Giáo Hội không chỉ được gọi để rao giảng một Đức Kitô vinh quang. Giáo Hội được gọi để nhận lấy thân xác bị thương của Đức Kitô nơi những người bé nhỏ.

Nếu ta yêu Thánh Giá trên bàn thờ mà khinh người đau khổ ngoài cửa nhà thờ, có điều gì đó chưa đúng.

Nếu ta hôn tượng chịu nạn vào Thứ Sáu Tuần Thánh nhưng không thể nhìn một người nghèo bằng phẩm giá, ta chưa học hết bài học của Maria.

Mẹ ôm lấy thân xác bị thương.

Và Mẹ không hỏi: “Tại sao Người lại để mình ra nông nỗi này?”

Mẹ nhận lấy.

Có những người cần được nhận lấy như thế. Không phải mọi hành vi của họ đều đúng. Không phải ta dung túng sự dữ. Nhưng con người sâu hơn lỗi lầm của họ. Có khi một người cần được nghe: “Anh đã làm sai, nhưng anh không chỉ là lỗi lầm ấy.” “Con đã thất bại, nhưng con vẫn là con.” “Anh đang nghiện, nhưng anh không chỉ là một người nghiện.” “Chị đang mang một quá khứ rất phức tạp, nhưng chị vẫn có phẩm giá.”

Maria dưới chân Thánh Giá cho ta một trái tim biết giữ người khác trong phẩm giá ngay cả khi cuộc đời họ bị biến dạng bởi thương tích.

  1. MARIA KHÔNG GIẢI THÍCH THIÊN CHÚA, MẸ TIN THIÊN CHÚA

Có một cám dỗ rất tinh vi của đời sống tôn giáo: muốn giải thích hết Thiên Chúa. Ta gặp một biến cố rồi tìm ngay lý do. Người này bệnh vì Chúa muốn thử. Người kia mất việc vì Chúa có kế hoạch. Người nọ gặp đau khổ vì Chúa muốn họ nên thánh.

Hãy cẩn thận.

Ta không biết đủ để nói thay Thiên Chúa về từng biến cố.

Maria dưới chân Thánh Giá không có một bản giải thích hoàn chỉnh. Mẹ có lời hứa. Mẹ có ký ức. Mẹ có đức tin. Nhưng mắt Mẹ đang nhìn thấy điều dường như ngược hẳn với lời đã hứa.

Mẹ không giải thích Thiên Chúa.

Mẹ tin Thiên Chúa.

Đây là khác biệt giữa đức tin và hệ thống giải thích.

Đức tin không phải lúc nào cũng trả lời câu “tại sao”.

Nhiều khi đức tin trả lời câu khác: “Tôi sẽ ở với ai trong lúc không biết tại sao?”

Maria ở với Chúa.

Có lẽ đây là điều ta cần nhất trong những giờ khủng hoảng. Không phải biết hết. Mà là biết mình thuộc về ai.

Con không biết vì sao bệnh này đến.

Nhưng con biết con thuộc về Chúa.

Con không biết vì sao người con thương phải ra đi.

Nhưng con biết con thuộc về Chúa.

Con không hiểu tại sao lời cầu nguyện này dường như không được đáp.

Nhưng con biết con thuộc về Chúa.

Đức tin của Maria là như thế.

Không phải đức tin của người có tất cả đáp án.

Mà là đức tin của người không rời khỏi Thiên Chúa khi đáp án chưa đến.

  1. HÃY ĐỂ ĐỨC MARIA DẠY TA ĐỨNG

Có lẽ cuối cùng, mỗi người trong chúng ta đều sẽ có một Canvê nào đó.

Không ai biết hình thức của nó.

Có người gặp sớm.

Có người gặp muộn.

Có người mang một thánh giá thấy rõ.

Có người mang một thánh giá chẳng ai biết.

Nhưng sẽ đến những lúc ta không còn quyền lực kiểm soát.

Khi ấy, hãy nhớ Đức Maria.

Khi không biết phải làm gì, hãy đứng.

Đứng trước Thánh Giá.

Đứng trong cầu nguyện.

Đứng trong sự thật.

Đứng cạnh người đau khổ.

Đứng mà không kiểm soát.

Đứng mà không chạy.

Đứng mà không nguyền rủa.

Đứng mà không tuyệt vọng.

Có thể nước mắt sẽ chảy.

Đứng không có nghĩa là không khóc.

Có thể lòng sẽ run.

Đứng không có nghĩa là không sợ.

Có thể ta sẽ tự hỏi hàng trăm lần: “Lạy Chúa, tại sao?”

Đứng không có nghĩa là không hỏi.

Nó chỉ có nghĩa là sau tất cả những câu hỏi ấy, ta vẫn không rời khỏi Người.

Đức Maria yêu Thánh Giá như thế.

Không phải vì Thánh Giá đẹp.

Mà vì Đức Giêsu ở trên đó.

Và nơi nào có Đức Giêsu, Maria ở đó.

Từ Nazareth đến Bêlem.

Từ Ai Cập đến Cana.

Từ những con đường Galilê đến Giêrusalem.

Và cuối cùng đến Canvê.

Mẹ không yêu khổ đau.

Mẹ yêu Con.

Và vì yêu Con, Mẹ không để đau khổ có quyền tách Mẹ khỏi Con.

Đó chính là điều thánh Phaolô sau này sẽ nói bằng ngôn ngữ khác: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô?” Gian truân ư? Khốn khổ ư? Bắt bớ ư? Đói khát ư? Trần truồng ư? Hiểm nguy ư? Gươm giáo ư?

Maria đã trả lời câu ấy trước khi Phaolô viết nó.

Mẹ trả lời bằng cách đứng.

Không gì tách Mẹ khỏi Con.

Ngay cả Thánh Giá.

Và có lẽ đó là hình thức sâu nhất của việc yêu Thánh Giá: không để chính Thánh Giá tách mình khỏi Đấng đang mang Thánh Giá.

Ta có thể đau mà vẫn yêu.

Ta có thể không hiểu mà vẫn tin.

Ta có thể bất lực mà vẫn hiện diện.

Ta có thể mất một điều rất quý mà vẫn không đánh mất Thiên Chúa.

Đây là tự do lớn nhất mà Maria dạy cho con người.

Thế gian có thể lấy nhiều thứ.

Có thể lấy sức khỏe.

Có thể lấy danh tiếng.

Có thể lấy tài sản.

Có thể lấy những người ta yêu.

Có thể lấy kế hoạch.

Có thể lấy tương lai như ta từng tưởng tượng.

Nhưng nếu ta giữ được Thiên Chúa, điều sâu nhất vẫn còn.

Maria đứng dưới Thánh Giá vì Mẹ biết điều ấy.

Con bị treo trước mắt Mẹ.

Mọi giấc mơ có thể dường như chết.

Nhưng Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa.

Ngày Thứ Sáu không phải ngày cuối cùng.

Đó là niềm hy vọng nảy sinh ngay trong lòng Thánh Giá.

Và vì thế, khi cuộc đời ta có những ngày chẳng còn biết làm gì, hãy xin Đức Maria dạy ta một động từ duy nhất:

Đứng.

Đứng gần Chúa.

Đứng gần người đau khổ.

Đứng trong sự thật.

Đứng trong lòng thương xót.

Đứng dưới Thánh Giá đủ lâu để nhận ra rằng ở ngay nơi tưởng như mọi sự đã hết, Thiên Chúa đang chuẩn bị một khởi đầu mà ta chưa nhìn thấy.

Maria không bị đóng đinh bằng đinh.

Maria bị đóng đinh bằng tình yêu.

Nhưng tình yêu ấy không chết trên Canvê.

Tình yêu ấy đi qua Thánh Giá.

Đi qua mồ đá.

Đi vào buổi sáng Phục Sinh.

Rồi trở thành trái tim mẫu tử mở rộng cho Giáo Hội và cho từng người chúng ta.

Vì thế, yêu mến Thánh Giá theo trường học của Đức Maria không phải là tập yêu đau khổ, nhưng là tập yêu Đức Kitô đến mức đau khổ không còn đủ sức làm ta bỏ Người; tập yêu con người đến mức khi ta không thể cất thánh giá khỏi vai họ, ta vẫn không bỏ họ một mình; tập khiêm tốn đến mức biết mình không phải Đấng Cứu Thế nhưng vẫn sẵn lòng cộng tác với Đấng Cứu Thế; tập thinh lặng khi lời nói không còn ích lợi; tập hiện diện khi hành động không còn khả thi; tập hy vọng khi mắt chưa thấy bình minh; và tập tin rằng nơi nào tình yêu trung thành đứng dưới Thánh Giá, nơi ấy Phục Sinh đã bắt đầu âm thầm nảy mầm.

CHƯƠNG VI. THÁNH GIÁ KHÔNG PHẢI HÌNH PHẠT CỦA MỘT THIÊN CHÚA GIẬN DỮ

Một trong những rào cản lớn nhất khiến người ta không thể yêu mến Thánh Giá chính là một hình ảnh sai lạc về Thiên Chúa. Có những người lớn lên với một Thiên Chúa luôn cau mặt, một Thiên Chúa ngồi trên cao ghi từng lỗi lầm, chờ con người phạm tội để trừng phạt, một Thiên Chúa mà cơn giận chỉ có thể được làm nguôi bằng máu. Rồi khi nhìn lên Thánh Giá, người ta tưởng rằng Chúa Cha là Đấng đòi máu, còn Chúa Con là nạn nhân phải chết để thỏa mãn cơn thịnh nộ của Cha. Nếu mang hình ảnh ấy trong lòng, rất khó để yêu Thánh Giá. Người ta có thể sợ Thánh Giá, có thể cúi đầu trước Thánh Giá, có thể tuân phục Thánh Giá như một bản án, nhưng rất khó yêu. Bởi làm sao có thể yêu một biểu tượng mà ta tưởng là nơi một người Cha giết Con mình? Làm sao có thể gọi Thiên Chúa là Tình Yêu nếu phía sau đồi Golgotha lại là một Thiên Chúa cần nhìn thấy máu thì mới chịu tha thứ? Nhưng Tin Mừng không nói như thế. Đức tin của Hội Thánh không nói như thế. Chúa Giêsu cũng chưa bao giờ nói về Cha như thế. Ngược lại, chính Người nói: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Khởi điểm của Thánh Giá không phải là cơn giận. Khởi điểm của Thánh Giá là tình yêu. Không phải vì Thiên Chúa ghét nhân loại nên Đức Kitô phải chết; nhưng vì Thiên Chúa yêu nhân loại đến cùng nên Đức Kitô đi vào tận nơi sâu nhất của tội lỗi và sự chết để đưa con người trở về. Chúa Cha không đứng xa nhìn Con chịu nạn như một quan tòa lạnh lùng. Chúa Con không bị ép buộc bước lên Golgotha như một nạn nhân bất lực. Chúa Thánh Thần không vắng mặt trong giờ ấy. Mầu nhiệm Thánh Giá là mầu nhiệm của Ba Ngôi Thiên Chúa trong tình yêu: Cha ban Con, Con tự hiến mình, và Thánh Thần làm cho sự tự hiến ấy trở thành lễ dâng của tình yêu tuyệt đối. Thánh Giá không chia rẽ Ba Ngôi; Thánh Giá biểu lộ chiều sâu của tình yêu Ba Ngôi dành cho nhân loại. Nếu không bắt đầu từ điều này, chúng ta sẽ hiểu sai mọi sự.

  1. TỘI ĐÃ TẠO THẬP GIÁ; TÌNH YÊU ĐÃ BIẾN THẬP GIÁ

Phải nói thật rõ: Thiên Chúa không sáng chế ra hình phạt đóng đinh. Con người sáng chế ra nó. Đế quốc sáng chế ra nó. Sự tàn nhẫn của con người sáng chế ra nó. Lòng kiêu căng, bạo lực, sợ hãi, tham quyền, đố kỵ và cơ chế đàn áp đã dựng nên những cây thập giá từ rất lâu trước khi Đức Giêsu bước lên Golgotha. Những chiếc đinh không phải từ trời rơi xuống. Chúng được rèn bởi bàn tay con người. Bản án không được viết trên trời. Nó được tuyên dưới đất. Roi da không nằm trong tay Chúa Cha. Nó nằm trong tay binh lính. Gai không được kết bởi các thiên thần. Nó được kết bởi những kẻ muốn chế nhạo một người đã không làm gì ngoài yêu thương và nói sự thật. Judas bán Thầy. Các thượng tế âm mưu. Philatô biết Người vô tội nhưng vẫn rửa tay. Đám đông bị kích động. Các môn đệ bỏ chạy. Phêrô chối Thầy. Binh lính chế nhạo. Kẻ qua đường lắc đầu. Tội lỗi của cả một thế giới dường như hội tụ trên một thân xác. Vì thế, nếu muốn biết điều gì đã tạo nên thập giá, câu trả lời trước hết không phải là “ý muốn của Thiên Chúa” theo nghĩa Thiên Chúa thích đau khổ, nhưng là tội lỗi của con người. Tham vọng đóng đinh. Hận thù đóng đinh. Sợ mất quyền lực đóng đinh. Hèn nhát đóng đinh. Dối trá đóng đinh. Sự im lặng của người biết điều đúng mà không dám bảo vệ nó cũng đóng đinh. Và nếu thành thật, ta không thể đứng ngoài câu chuyện ấy. Thập giá không chỉ là tội của những người đã sống hai ngàn năm trước. Mỗi khi ta làm nhục một người yếu thế, mỗi khi ta dùng người khác như một phương tiện, mỗi khi ta bóp méo sự thật để bảo vệ lợi ích của mình, mỗi khi ta dửng dưng trước tiếng khóc của ai đó, mỗi khi ta lấy danh nghĩa đạo đức để nghiền nát một người, mỗi khi ta thấy bất công nhưng quay mặt đi, một chiếc đinh mới lại được đóng đâu đó trong lịch sử.

Nhưng điều lạ lùng của Tin Mừng nằm ở đây: con người tạo ra thập giá, còn Thiên Chúa biến thập giá thành nơi cứu độ. Con người dùng thập giá để giết; Thiên Chúa dùng chính nơi ấy để ban sự sống. Con người dùng thập giá để làm nhục; Thiên Chúa làm nó trở thành ngai của Đức Vua. Con người dùng thập giá để loại bỏ; Thiên Chúa làm nó thành nơi quy tụ. Con người đóng Đức Giêsu ra ngoài thành; Người từ bên ngoài thành kéo cả nhân loại vào trong trái tim Thiên Chúa. Đây là nghịch lý kỳ diệu nhất của đức tin Kitô giáo: Thiên Chúa không thắng sự dữ bằng cách sử dụng một sự dữ lớn hơn. Người để sự dữ dùng hết sức mạnh của nó trên thân thể Đức Kitô, rồi làm cho sức mạnh ấy cạn kiệt trước tình yêu. Hận thù đập vào Người, nhưng không làm Người hận. Bạo lực đập vào Người, nhưng không biến Người thành kẻ bạo lực. Sự phản bội đập vào Người, nhưng không làm Người phản bội tình yêu. Sự nhục mạ đập vào Người, nhưng không khiến Người nguyền rủa. Cái chết nuốt lấy Người, nhưng cuối cùng cái chết lại bị sự sống nuốt lấy. Thập Giá vì thế là nơi tội lỗi đi đến tận cùng và phát hiện rằng nó không thể đi xa hơn tình yêu.

Ta thường nghĩ quyền năng là khả năng ngăn người khác làm mình đau. Trên Golgotha, Thiên Chúa mạc khải một quyền năng khác: quyền năng có thể bị làm đau mà vẫn không ngừng yêu. Ta thường nghĩ chiến thắng là tiêu diệt kẻ thù. Đức Kitô chiến thắng bằng cách biến kẻ thù thành người có thể được tha thứ. Ta thường nghĩ công lý là trả lại đúng điều người khác đã làm cho mình. Đức Giêsu nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Chính ở đây, Thánh Giá phá vỡ vòng tròn cổ xưa của bạo lực: anh làm tôi đau, tôi làm anh đau hơn; anh xúc phạm tôi, tôi xúc phạm lại; anh giết người của tôi, tôi giết người của anh. Vòng tròn ấy có thể kéo dài qua nhiều thế hệ. Nhưng trên Thánh Giá, có Một Người chịu nhận vào mình hậu quả của vòng tròn ấy mà không chuyển nó sang người kế tiếp. Người để bạo lực dừng lại nơi mình. Đó là một trong những ý nghĩa sâu nhất của cứu chuộc.

  1. CHÚA CHA KHÔNG PHẢI MỘT VỊ THẦN KHÁT MÁU

Trong lịch sử tôn giáo của nhân loại, con người từng nghĩ phải dâng lễ vật để làm nguôi các thần linh. Càng sợ thần linh, lễ vật càng lớn. Có những nền văn hóa thậm chí đã dâng mạng sống con người. Tâm thức ấy rất dễ len vào đức tin Kitô giáo nếu ta không cẩn thận: ta tưởng tội làm Chúa giận, Chúa đòi một cái giá, và cái giá ấy là máu Con Một. Nhưng Tin Mừng đảo ngược logic ấy. Không phải nhân loại đem một lễ vật lên để làm dịu Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa ban Con Một cho nhân loại. Không phải con người trao Đức Giêsu cho Thiên Chúa để xin được tha. Thiên Chúa trao Đức Giêsu cho con người bởi vì Người đã yêu. Động từ căn bản là “ban”: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một.” Tình yêu đi trước hy lễ. Lòng thương xót đi trước sự đáp trả. Ân sủng đi trước mọi nỗ lực chuộc lỗi.

Thánh Phaolô viết: “Thiên Chúa đã cho thế gian được hòa giải với Người trong Đức Kitô” (x. 2 Cr 5,19). Hãy để ý: không phải Thiên Chúa cần được thuyết phục để thôi ghét nhân loại. Chính Thiên Chúa chủ động hòa giải. Chính Người đi tìm Adam đang trốn. Chính Người gọi Abraham. Chính Người nghe tiếng dân Israel dưới ách Ai Cập. Chính Người sai các ngôn sứ. Chính Người đến trong Con Một. Toàn bộ Kinh Thánh là câu chuyện Thiên Chúa tìm kiếm con người nhiều hơn con người tìm kiếm Thiên Chúa. Từ vườn Eden, tiếng hỏi đầu tiên đã vang lên: “Ngươi ở đâu?” Không phải vì Thiên Chúa không biết Adam đang ở đâu, nhưng vì Adam không còn biết mình đang ở đâu. Và toàn bộ lịch sử cứu độ là câu trả lời của Thiên Chúa cho sự lạc mất ấy: Ta sẽ đến tìm con.

Nếu nhìn Thánh Giá như nơi Chúa Cha trừng phạt Chúa Con thay cho chúng ta, ta dễ vô tình tạo ra sự đối lập giữa Cha và Con: Cha giận, Con hiền; Cha đòi nợ, Con trả nợ; Cha muốn giết, Con chịu chết. Nhưng Đức Giêsu nói: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14,9). Người không đến để bảo vệ chúng ta khỏi một Người Cha đáng sợ. Người đến để cho ta biết Cha thật sự là ai. Lòng thương xót của Đức Giêsu là lòng thương xót của Cha. Nước mắt của Đức Giêsu trước mộ Lazarô là nước mắt của Cha. Sự chạnh lòng của Người trước đám đông đói khát là sự chạnh lòng của Cha. Bàn tay Người chạm vào người phong hủi là bàn tay của Cha. Lời tha thứ Người nói với người phụ nữ tội lỗi là lời của Cha. Và trái tim bị đâm thâu trên Thánh Giá là cửa mở vào chính trái tim Thiên Chúa.

Điều này không có nghĩa là tội không nghiêm trọng hay công lý không quan trọng. Trái lại, Thánh Giá cho thấy tội nghiêm trọng đến mức nào. Tội không chỉ là vi phạm một quy định. Tội phá vỡ tương quan, làm thương tổn con người, biến người thành nô lệ, gây ra những hậu quả đôi khi kéo dài nhiều thế hệ. Cứu độ không phải là Thiên Chúa giả vờ như chẳng có chuyện gì xảy ra. Cứu độ là Thiên Chúa bước vào chính những hậu quả ấy và chữa lành từ bên trong. Người không phủ nhận công lý; Người đưa công lý đến chỗ hoàn tất bằng lòng thương xót. Công lý của Thiên Chúa không đơn giản là “ai làm gì thì nhận lại y như thế”. Công lý của Thiên Chúa muốn làm cho cái đã vỡ được phục hồi, người đã mất được tìm lại, tội nhân được biến đổi, nạn nhân được chữa lành, và sự dữ bị tước mất tương lai.

  1. CHÚA GIÊSU TỰ HIẾN, KHÔNG PHẢI MỘT NẠN NHÂN BỊ ĐẨY VÀO CHỖ CHẾT

Chúa Giêsu nói một câu rất quan trọng: “Mạng sống của Tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính Tôi tự ý hy sinh mạng sống mình” (x. Ga 10,18). Câu ấy không phủ nhận rằng Người thực sự bị bắt, bị xét xử, bị tra tấn và bị giết. Về mặt lịch sử, Người là nạn nhân của một vụ hành hình bất công. Nhưng về mặt sâu xa của sứ mạng, Người không bị đẩy vào cái chết một cách bất lực. Người chọn trung thành đến cùng với tình yêu, dù biết sự trung thành ấy sẽ đưa Người đến Thánh Giá. Người có thể im lặng để sống. Người có thể thỏa hiệp để sống. Người có thể tránh Giêrusalem. Người có thể dùng quyền lực để bảo vệ mình. Người có thể biến các môn đệ thành đội quân. Người có thể cầu xin Cha và “mười hai đạo binh thiên thần” sẽ đến. Nhưng Người không chọn con đường ấy. Người chọn ở lại trong tình yêu.

Đây là điểm rất quan trọng khi nói rằng Đức Kitô “vâng phục cho đến chết”. Không được hiểu sự vâng phục ấy như một người Con run sợ làm theo lệnh một Người Cha độc đoán. Đó là sự hiệp nhất ý muốn trong tình yêu. Ý Cha là cứu con người. Ý Con cũng là cứu con người. Điều Chúa Giêsu thực hiện chính là điều trái tim Người muốn. “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy” (x. Ga 4,34). Trong Ghetsêmani, Người run sợ thật sự. Người không yêu đau đớn. Người không tìm đau đớn. Người cầu xin: “Nếu có thể, xin cho con khỏi uống chén này.” Nhưng rồi Người nói: “Tuy vậy, xin đừng theo ý Con, mà xin theo ý Cha.” Điều này không phải là sự đầu hàng của một kẻ bị áp bức. Đây là hành động tự do của Người Con đặt toàn bộ cuộc đời vào tình yêu của Cha, dù không còn nhìn thấy con đường nào ngoài bóng tối.

Vì thế, yêu mến Thánh Giá không phải là yêu bạo lực. Yêu mến Thánh Giá là yêu Tình Yêu đã không bỏ chạy khi phải trả giá. Là yêu Tự Do đã dùng chính tự do của mình để tự hiến. Là chiêm ngắm một con người mà không một quyền lực nào có thể buộc Người ngừng yêu. Người bị lột áo nhưng không ai lột được lòng thương xót của Người. Người bị lấy tự do thân xác nhưng không ai lấy được tự do nội tâm. Người bị đóng tay chân nhưng tình yêu của Người không bị đóng đinh. Người bị treo bất động nhưng chính từ nơi tưởng như hoàn toàn bất lực ấy, Người thực hiện hành vi tự do lớn nhất: trao ban chính mình.

  1. THÁNH GIÁ KHÔNG NÓI: “THIÊN CHÚA THÍCH CON ĐAU”

Đây là điều phải nói cho những người đã từng chịu đau khổ quá nhiều. Có những người nghe giảng về Thánh Giá rồi tưởng rằng càng đau thì càng đẹp lòng Chúa. Họ tưởng bệnh tật tự nó là thánh thiện, thất bại tự nó là thánh thiện, bị người khác làm nhục tự nó là thánh thiện. Có những người thậm chí cảm thấy tội lỗi khi mong mình được chữa lành, được đối xử công bằng, được thoát khỏi một hoàn cảnh độc hại. Họ nghĩ: “Có lẽ đây là thánh giá Chúa gửi. Mình phải chịu.” Và đôi khi chính cách nói đạo đức thiếu phân định đã giữ một con người ở lại trong bạo hành lâu hơn đáng lẽ họ phải chịu.

Nhưng hãy nhìn Chúa Giêsu. Người chữa bệnh. Người làm cho người mù thấy. Người cho người què đi. Người giải thoát người bị quỷ ám. Người cho kẻ đói ăn. Người trả lại phẩm giá cho người bị xã hội khinh thường. Người không đi dọc Galilê và nói với các bệnh nhân: “Hãy giữ bệnh của anh chị vì bệnh sẽ làm anh chị nên thánh.” Người chữa họ. Người không nói với người phụ nữ bị bắt quả tang ngoại tình: “Cứ để họ ném đá chị vì đó là thánh giá.” Người bảo những kẻ cầm đá nhìn lại tội của chính mình. Người không ca tụng những gánh nặng vô lý mà các lãnh đạo tôn giáo đặt lên vai dân chúng. Người lên án họ vì chất gánh nặng lên vai người khác mà chính mình không động ngón tay vào.

Do đó, không phải mọi đau khổ đều là “thánh giá Chúa gửi”. Có đau khổ là hậu quả tự nhiên của thân phận hữu hạn: bệnh tật, tuổi già, mất mát, chia ly, sự bất toàn của thế giới. Có đau khổ là hậu quả của lựa chọn của chính ta. Có đau khổ do tội của người khác. Có đau khổ do bạo lực, bóc lột, kỳ thị, tham nhũng, chiến tranh, bất công xã hội. Có những đau khổ không phải để được “ôm lấy” theo nghĩa giữ nguyên chúng, nhưng phải được chống lại. Người Kitô hữu không được thần thánh hóa nghèo đói khi có thể giúp người nghèo thoát nghèo. Không được gọi bạo hành gia đình là “thánh giá” để buộc nạn nhân tiếp tục chịu đựng. Không được dùng lời “vâng phục” để bảo vệ sự lạm quyền. Không được nói với người đang bị tổn thương rằng “cứ chịu đi vì Chúa cũng chịu”. Nếu một cây thập giá được dựng lên bởi tội lỗi và chúng ta có thể tháo nó xuống, thì tháo nó xuống có thể là việc đạo đức phải làm.

Có những thánh giá phải vác. Nhưng có những thập giá phải tháo xuống. Cần phân biệt hai điều ấy bằng cầu nguyện, lương tâm, sự khôn ngoan, sự đồng hành và những hoa trái cụ thể.

  1. CÓ NHỮNG THÁNH GIÁ PHẢI VÁC

Có những điều trong đời không thể tránh. Ta không thể bắt thời gian ngừng lại. Không thể giữ người ta yêu mãi bên mình. Không thể khiến thân xác này bất tử. Không thể buộc mọi người hiểu mình. Không thể xóa mọi hậu quả của quá khứ. Có những vết thương dù đã được chữa vẫn còn sẹo. Có những lời xin lỗi không thể làm điều đã xảy ra chưa từng xảy ra. Có những cánh cửa một khi đóng sẽ không mở lại theo cách cũ. Có những người rời đi mãi mãi. Có những ước mơ không thành. Có những lời cầu xin không được đáp theo cách ta mong. Có những giới hạn ta phải học để sống cùng.

Những điều ấy có thể trở thành thánh giá. Không phải vì Chúa thích ta đau, mà bởi trong một thế giới chưa hoàn tất, có những đau khổ không thể loại trừ hoàn toàn. Khi ấy, câu hỏi thay đổi. Không còn là: “Làm sao để tôi không bao giờ đau?” nhưng là: “Làm sao để đau khổ này không làm tôi mất khả năng yêu?” Đây chính là nơi Thánh Giá của Đức Kitô trở thành ánh sáng. Đức Giêsu không dạy ta rằng đau khổ là tốt. Người dạy ta rằng ngay cả khi đau khổ không thể tránh, nó cũng không có quyền quyết định ta sẽ trở thành người thế nào.

Bạn có thể mất một người mà vẫn không đánh mất lòng biết ơn vì đã từng được yêu. Bạn có thể mang một bệnh mà vẫn không để bệnh trở thành căn tính duy nhất của mình. Bạn có thể bị hiểu lầm mà không biến mình thành cay độc. Bạn có thể trải qua thất bại mà không để thất bại quyết định giá trị của mình. Bạn có thể già đi mà vẫn tiếp tục sinh hoa trái. Bạn có thể đứng trước một điều không thể thay đổi mà vẫn chọn tín thác. Khi ấy, một điều đau đớn không còn chỉ là đau đớn. Nó trở thành nơi tình yêu trưởng thành.

Đó là “vác thánh giá”. Không phải tìm thêm đau khổ. Không phải từ chối thuốc men. Không phải từ chối sự giúp đỡ. Không phải cấm mình khóc. Không phải giả vờ mạnh mẽ. Vác thánh giá nghĩa là: điều này đang xảy ra, tôi không thể thay đổi nó ngay lúc này, nhưng tôi sẽ không để nó lấy mất Đức Kitô khỏi tôi. Tôi sẽ không để nỗi đau biến tôi thành điều tôi không muốn trở thành. Tôi sẽ khóc, nhưng tôi không tuyệt vọng. Tôi sẽ ngã, nhưng tôi sẽ đứng lên. Tôi sẽ cần người khác giúp, và tôi chấp nhận được giúp. Tôi sẽ nói với Chúa cả sự giận dữ của mình. Và rồi, từng ngày, tôi học đặt cây thánh giá ấy bên cạnh cây Thánh Giá của Người.

  1. CÓ NHỮNG THẬP GIÁ PHẢI THÁO XUỐNG

Nhưng cũng có những đau khổ không được phép gọi là ý Chúa. Một người vợ bị đánh đập không có bổn phận phải xem những cú đánh là “thánh giá”. Một đứa trẻ bị lạm dụng không được dạy rằng im lặng là vâng lời. Một nhân viên bị bóc lột không nhất thiết phải coi bóc lột là dịp nên thánh mà không được tìm công lý. Một cộng đoàn bị lãnh đạo bằng sợ hãi không nên dùng đức vâng phục để hợp thức hóa lạm quyền. Một người bị bắt nạt, bị làm nhục, bị lợi dụng, bị kiểm soát, bị thao túng tâm lý không cần chứng minh sự thánh thiện bằng cách tiếp tục để điều ấy diễn ra.

Đôi khi tháo một người xuống khỏi thập giá cũng chính là đứng về phía Thánh Giá Đức Kitô.

Có một nghịch lý đáng suy nghĩ: nhiều Kitô hữu rất sẵn sàng nhìn Chúa Giêsu trên Thánh Giá nhưng lại không nhận ra Người trong những người đang bị đóng đinh hôm nay. Chúng ta quỳ trước tượng chịu nạn nhưng có thể đi ngang một người đang bị nghiền nát bởi cơ chế bất công. Chúng ta hôn chân Chúa ngày Thứ Sáu Tuần Thánh nhưng có thể không muốn chạm vào những bàn chân bẩn của người nghèo. Chúng ta suy niệm năm dấu thánh nhưng ngại nhìn những vết thương thật của xã hội. Nếu Thánh Giá là nơi Thiên Chúa đứng về phía người bị tổn thương, thì tôn kính Thánh Giá cũng phải làm ta nhạy cảm trước những cây thập giá con người tiếp tục dựng cho nhau.

Có khi việc vác thánh giá của tôi chính là giúp người khác tháo thập giá của họ.

Có khi tôi phải chịu mất lòng để bảo vệ một người yếu thế.

Có khi tôi phải trả giá vì nói sự thật.

Có khi tôi phải mất một vị trí vì không chịu hợp tác với điều sai.

Có khi tôi phải đi qua một thời gian cô độc vì từ chối tham gia vào một cơ chế gây tổn thương.

Đó mới thật sự là thánh giá: cái giá của tình yêu, không phải sự cam chịu trước tội lỗi.

  1. KHÔN NGOAN LÀ BIẾT CÂY NÀO PHẢI VÁC VÀ CÂY NÀO PHẢI THÁO

Một trong những công việc khó nhất của đời sống thiêng liêng là phân định. Nếu ta gọi mọi đau khổ là thánh giá, ta có thể rơi vào thụ động. Nếu ta gọi mọi đau khổ là điều phải loại bỏ, ta có thể trở nên người không chịu nổi bất kỳ hy sinh nào. Đức tin trưởng thành nằm ở giữa hai cực đoan ấy.

Có những lúc phải kiên trì. Có những lúc phải rời đi.

Có những lúc phải im lặng. Có những lúc phải lên tiếng.

Có những lúc tha thứ nghĩa là tiếp tục đồng hành. Có những lúc tha thứ không có nghĩa là tiếp tục cho người khác quyền làm hại mình.

Có những lúc vâng phục là đường thánh thiện. Có những lúc phải nói: “Điều này không đúng.”

Có những lúc chịu đựng là tình yêu. Có những lúc tiếp tục chịu đựng lại là dung dưỡng sự dữ.

Làm sao biết?

Hãy nhìn hoa trái. Điều này đang dẫn tôi đến gần Thiên Chúa hơn hay đang nghiền nát phẩm giá Chúa ban? Sự chịu đựng của tôi có giúp sự thật và tình yêu lớn lên hay chỉ giúp một người khác tiếp tục phạm tội mà không bị chất vấn? Tôi đang kiên nhẫn vì yêu hay vì sợ? Tôi đang ở lại vì trung thành hay vì không dám thay đổi? Tôi đang hy sinh vì tự do hay vì bị thao túng? Tôi đang mang một thánh giá hay đang bị ai đó đặt một cây thập giá lên vai rồi bảo rằng đó là ý Chúa?

Phân định cần cầu nguyện, nhưng không chỉ cầu nguyện trong cô lập. Cần hội ý với những người khôn ngoan. Cần sự thật. Cần lương tâm được huấn luyện. Cần can đảm nhìn vào thực tế, kể cả thực tế đau lòng. Và trong những trường hợp bạo hành hay nguy hiểm, cần tìm sự trợ giúp thích hợp chứ không chỉ cố chịu một mình. Thiên Chúa có thể dùng cộng đoàn, chuyên viên, pháp luật, y khoa, tâm lý, những người đáng tin và nhiều phương thế khác để đưa một người ra khỏi tình trạng nguy hiểm.

  1. CHÚA GIÊSU KHÔNG TÌM THẬP GIÁ; NGƯỜI TRUNG THÀNH VỚI TÌNH YÊU

Đây là một phân biệt căn bản. Chúa Giêsu không lên đường tìm kiếm đau đớn. Người lên đường tìm con người. Đau đớn tìm đến Người bởi vì một thế giới đầy tội lỗi không chịu nổi thứ tình yêu tự do Người mang đến. Người không yêu cái đinh. Người yêu những bàn tay đang đóng đinh mình. Người không yêu roi da. Người yêu những người đang lạc mất trong bạo lực. Người không yêu cái chết. Người yêu Cha và yêu nhân loại đến độ không để nỗi sợ chết làm Người phản bội sứ mạng.

Điều Chúa Giêsu yêu không phải là Thánh Giá xét như dụng cụ tra tấn. Điều Người yêu là nhân loại đang ở phía bên kia Thánh Giá.

Đó là lý do Người bước qua nó.

Khi người mẹ thức đêm bên giường con bệnh, chị không yêu mất ngủ. Chị yêu con. Khi một người cha làm thêm nhiều giờ để con được học, ông không yêu mệt nhọc. Ông yêu con. Khi một người chăm sóc cha mẹ già phải hy sinh thời gian và tự do, họ không yêu kiệt sức. Họ yêu cha mẹ. Khi một linh mục đi xa để mang các Bí tích đến cho một người đang hấp hối, ngài không yêu con đường khó. Ngài yêu người cần được gặp Chúa. Khi một người dám nói sự thật dù biết mình sẽ bị thiệt, người ấy không yêu thiệt thòi. Người ấy yêu sự thật.

Ta hiểu Thánh Giá khi hiểu điều này.

Kitô hữu không phải người yêu đau khổ.

Kitô hữu là người yêu đến độ chấp nhận cái giá của tình yêu.

  1. ĐAU KHỔ KHÔNG CỨU ĐỘ; TÌNH YÊU TRONG ĐAU KHỔ MỚI MỞ RA ƠN CỨU ĐỘ

Không phải cứ đau nhiều là nên thánh nhiều. Hai người có thể chịu cùng một biến cố nhưng đi về hai hướng khác nhau. Một người để nỗi đau làm mình cay độc. Người kia để nỗi đau mở lòng mình ra với nỗi đau của người khác. Một người biến vết thương thành vũ khí. Người kia biến vết thương thành cửa sổ của lòng cảm thông. Một người nói: “Vì tôi đã từng đau, tôi sẽ làm người khác đau.” Người kia nói: “Vì tôi biết đau là gì, tôi không muốn ai phải đau như tôi.”

Đau khổ tự nó không tự động làm ai thánh.

Nó có thể làm người ta sâu hơn, nhưng cũng có thể làm người ta cứng hơn.

Điều biến đổi đau khổ là tình yêu, ân sủng và cách ta đáp trả.

Trên Golgotha có ba cây thập giá. Cả ba người đều đau. Nhưng đau khổ không tự tạo nên cùng một kết quả. Điều khác biệt nằm ở tương quan với Đức Kitô. Một người khép lại trong chế nhạo. Một người mở lòng: “Lạy Ngài, khi nào về Nước Ngài, xin nhớ đến tôi.” Và Đức Giêsu trả lời: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” Cùng một buổi chiều. Cùng một ngọn đồi. Cùng đau đớn. Nhưng nơi một trái tim, đau khổ trở thành cánh cửa.

  1. THÁNH GIÁ LÀ NƠI THIÊN CHÚA ĐỨNG CÙNG NGƯỜI ĐAU KHỔ

Một trong những điều an ủi sâu xa nhất của đức tin Kitô giáo không phải là lời giải thích cho mọi đau khổ. Thật ra có những đau khổ chúng ta không thể giải thích. Một đứa trẻ chết. Một người tốt mắc bệnh nặng. Một gia đình đổ vỡ dù đã cố gắng. Một tai nạn vô nghĩa. Một cuộc chiến lấy đi những người vô tội. Trước những điều ấy, mọi câu trả lời quá nhanh đều trở nên tàn nhẫn.

Kitô giáo không trao cho ta một công thức có thể giải thích mọi giọt nước mắt.

Kitô giáo trao cho ta một Thiên Chúa đã khóc.

Không phải một Thiên Chúa đứng ngoài đau khổ để giảng cho ta bài học về đau khổ, mà là Emmanuel – Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta. Người nằm trong máng cỏ của người nghèo. Người chạy trốn như một đứa trẻ tị nạn. Người mất cha nuôi. Người bị quê hương khước từ. Người bị bạn phản bội. Người bị người thân cận nhất bỏ chạy. Người bị vu cáo. Người bị đánh. Người bị lột trần. Người bị đóng đinh. Người kêu: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?”

Vì thế, khi ta đi vào những đêm tối nhất, ta không thể nói: “Thiên Chúa không biết.” Người biết.

Có những điều ta không hiểu, nhưng ta có thể nói: “Ngài đã ở đây trước con.”

Có những nước mắt không được giải thích, nhưng được chia sẻ.

Có những câu hỏi không nhận được câu trả lời ngay, nhưng nhận được một sự hiện diện.

Và đôi khi một sự hiện diện đáng giá hơn một câu trả lời.

  1. TỪ “TẠI SAO?” ĐẾN “LẠY CHÚA, NGÀI Ở ĐÂU TRONG ĐIỀU NÀY?”

Khi đau khổ, câu hỏi tự nhiên nhất là: “Tại sao?” Tại sao là con? Tại sao bây giờ? Tại sao Chúa không ngăn? Tại sao người ấy ra đi? Tại sao người xấu dường như thắng? Tại sao con cầu nguyện mãi mà chẳng thấy gì?

Không có gì sai khi hỏi.

Các Thánh Vịnh đầy những câu hỏi như thế.

Chính Chúa Giêsu trên Thánh Giá cũng cầu bằng lời Thánh Vịnh: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?”

Đức tin không bắt ta giả vờ rằng ta hiểu điều mình không hiểu.

Nhưng dần dần, câu hỏi có thể đổi hình.

Không chỉ: “Tại sao điều này xảy ra?”

Mà còn: “Lạy Chúa, Ngài ở đâu trong điều này?”

“Con có thể yêu thế nào giữa điều này?”

“Điều gì cần phải chết trong con để con tự do hơn?”

“Con cần ai đồng hành?”

“Có ai khác đang đau như con mà con có thể hiểu hơn từ hôm nay?”

“Điều gì con không thể thay đổi và phải học trao lại?”

“Điều gì con có thể thay đổi và phải can đảm đứng lên?”

Đây là lúc đau khổ bắt đầu được đưa vào mầu nhiệm Phục Sinh.

  1. THÁNH GIÁ KHÔNG PHẢI CHẶNG CUỐI

Nếu Thánh Giá kết thúc ở chiều Thứ Sáu, Kitô giáo chỉ là một tôn giáo của thất bại. Nếu mồ vẫn đóng, Thánh Giá chỉ là một bi kịch khác trong lịch sử dài của những người vô tội bị giết. Nhưng Kitô giáo tuyên xưng: Người đã sống lại.

Điều này thay đổi tất cả.

Yêu Thánh Giá không bao giờ được tách khỏi Phục Sinh.

Ta không cúi trước sự chết như thể sự chết là lời cuối. Ta cúi trước tình yêu đã đi xuyên qua sự chết.

Ta không tôn thờ vết thương vì vết thương. Ta chiêm ngắm những vết thương đã trở thành dấu chỉ chiến thắng.

Đấng Phục Sinh vẫn mang dấu đinh. Ngài không xóa chúng. Điều ấy thật đẹp. Phục Sinh không có nghĩa quá khứ bị xóa. Nó có nghĩa quá khứ không còn quyền định nghĩa tương lai.

Vết thương vẫn còn, nhưng đã đổi nghĩa.

Điều từng là dấu của sự nhục nhã trở thành dấu của tình yêu.

Điều từng là bằng chứng của thất bại trở thành bằng chứng của chiến thắng.

Đây cũng là hy vọng của chúng ta. Có thể Chúa không xóa mọi vết sẹo của ta trong đời này. Nhưng Người có thể biến chúng. Một ngày kia ta có thể nhìn lại điều từng khiến mình tan nát và nói: “Tôi không chọn chuyện ấy. Tôi không gọi chuyện ấy là tốt. Nhưng Thiên Chúa đã không để nó trở nên vô ích.”

Đó là quyền năng Phục Sinh.

  1. ĐỪNG ĐỔ CHO CHÚA NHỮNG THẬP GIÁ CHÚNG TA DỰNG CHO NHAU

Có một điều rất đáng sợ: con người gây đau khổ cho nhau rồi nói “ý Chúa”. Một cơ chế bất công tồn tại lâu năm rồi người ta nói: “Chúa đã sắp xếp.” Một người lạm quyền rồi nói với cấp dưới: “Đây là thánh giá anh phải vác.” Một gia đình dung túng bạo hành rồi bảo nạn nhân: “Ráng chịu vì gia đình.” Một cộng đoàn im lặng trước sai trái rồi giải thích: “Để giữ bình an.”

Không. Bình an không phải là sự im lặng của người bị buộc phải câm.

Bình an của Đức Kitô gắn với sự thật.

Ta phải rất cẩn thận khi nói “Chúa gửi thánh giá này cho anh chị”. Nhiều khi chính con người đã dựng nó. Có khi chính chúng ta góp một chiếc đinh rồi lại bảo nạn nhân rằng đó là ý Chúa.

Nếu thực sự yêu Thánh Giá Đức Kitô, ta phải tự hỏi: tôi đang vác thánh giá của ai, hay tôi đang đặt thập giá lên vai ai?

Có lời nói nào của tôi trở thành chiếc đinh không?

Có thái độ nào của tôi trở thành mão gai không?

Có sự dửng dưng nào của tôi giống cái rửa tay của Philatô không?

Có sự im lặng nào của tôi giống đám đông đứng nhìn không?

Có lần nào tôi giống Phêrô: biết Người nhưng sợ liên lụy?

Đây là cách Thánh Giá xét xử chúng ta: không bằng kết án nhưng bằng ánh sáng.

  1. THÁNH GIÁ MẠC KHẢI MỘT THIÊN CHÚA KHÔNG BỎ CHẠY

Có lẽ đây là điều đẹp nhất để giữ lại: Thiên Chúa không bỏ chạy khỏi nơi con người đau nhất.

Người không đứng ngoài.

Người đi vào.

Người đi vào thân phận người.

Đi vào đói khát.

Đi vào mệt mỏi.

Đi vào cô đơn.

Đi vào phản bội.

Đi vào sợ hãi.

Đi vào cái chết.

Thánh Giá nói với ta rằng không có vùng tối nào của đời người mà Thiên Chúa nói: “Chỗ đó Ta không vào.”

Không.

Người đã vào.

Nếu con đang ở trong bệnh viện, Người biết giường bệnh.

Nếu con đang đứng bên quan tài người mình yêu, Người biết mộ là gì.

Nếu con bị phản bội, Người biết nụ hôn Judas.

Nếu con bị hiểu lầm, Người biết phiên tòa của những lời vu cáo.

Nếu con cảm thấy lời cầu nguyện của mình không được nghe, Người biết tiếng kêu trong bóng tối.

Nếu con cảm thấy bị mọi người bỏ lại, Người biết các môn đệ bỏ chạy.

Nếu con cảm thấy như cả Thiên Chúa cũng im lặng, Người đã kêu: “Sao Ngài bỏ con?”

Không phải mọi câu hỏi được giải đáp trên Thánh Giá.

Nhưng không nỗi đau nào còn hoàn toàn cô độc.

  1. YÊU THÁNH GIÁ LÀ YÊU MỘT TÌNH YÊU KHÔNG RÚT LUI

Vì thế, cuối cùng, khi Kitô hữu nói “con yêu Thánh Giá”, điều ấy không thể có nghĩa “con thích đau”. Nó có nghĩa: con yêu Chúa Giêsu, Đấng đã yêu con đến mức không quay lui. Con yêu một tình yêu không mặc cả. Một tình yêu không chỉ ở bên con khi đời đẹp. Một tình yêu đi vào tận địa ngục của con người. Một tình yêu để cho người tội lỗi chạm vào mình, làm tổn thương mình, đóng đinh mình, mà vẫn mở đường cho họ trở về.

Yêu Thánh Giá nghĩa là xin được yêu như thế.

Không tìm đau, nhưng không chạy khỏi điều đúng chỉ vì điều đúng phải trả giá.

Không tìm sự nhục nhã, nhưng không bán lương tâm để được người khác khen.

Không tự làm khổ mình, nhưng sẵn sàng hy sinh khi tình yêu đòi hỏi.

Không giữ người khác trên thập giá, nhưng giúp họ xuống.

Không gọi bất công là thánh giá.

Không dùng Thiên Chúa để hợp thức hóa đau khổ.

Không dùng lời “hy sinh” để che giấu bạo hành.

Và khi gặp điều không thể thay đổi, không để nó cướp mất niềm tin rằng Phục Sinh vẫn còn ở phía trước.

Thánh Giá không phải dấu hiệu rằng Thiên Chúa ghét thế gian.

Thánh Giá là nơi Thiên Chúa nói điều ngược lại: “Ta yêu thế gian này đến độ Ta sẽ không bỏ nó.”

Thánh Giá không nói rằng Chúa Cha cần máu để bình tĩnh lại.

Thánh Giá nói rằng tình yêu Thiên Chúa đã bước vào nơi máu đang chảy để cầm máu cho nhân loại.

Thánh Giá không nói rằng bạo lực cứu được chúng ta.

Thánh Giá nói rằng tình yêu mạnh hơn bạo lực.

Thánh Giá không nói rằng đau khổ là tốt.

Thánh Giá nói rằng ngay cả đau khổ cũng không thể ngăn Thiên Chúa yêu.

Thánh Giá không nói: “Hãy đi tìm đau khổ.”

Thánh Giá nói: “Khi tình yêu phải trả giá, đừng bỏ tình yêu.”

Thánh Giá không nói: “Hãy im lặng trước bất công.”

Thánh Giá nói: “Đừng cứu mình bằng cách trở thành kẻ đóng đinh người khác.”

Thánh Giá không bảo người bị nghiền nát tiếp tục nằm đó.

Thánh Giá gọi những người đứng gần hãy giống Nicôđêmô và Giuse Arimathê: hãy bước tới, tháo Người xuống.

Và có lẽ đây là câu hỏi cuối cùng của chương này: trước Thánh Giá, tôi là ai?

Tôi là người đóng đinh?

Người đứng nhìn?

Người bỏ chạy?

Người rửa tay?

Người chế nhạo?

Người khóc?

Người đứng lại?

Người giúp tháo đinh?

Hay người đang bị treo trên một cây thập giá nào đó?

Dù tôi là ai, Đức Kitô vẫn ở đó.

Nếu tôi là người tội lỗi, Người tha thứ.

Nếu tôi là người bỏ chạy, Người sẽ tìm lại như đã tìm Phêrô.

Nếu tôi là người đau khổ, Người đứng cùng tôi.

Nếu tôi đang mang một cây thánh giá không thể tránh, Người bảo: “Ta ở đây.”

Nếu tôi đang bị đóng vào một thập giá do tội của người khác, Người không bảo tôi yêu chiếc đinh; Người muốn sự thật và tự do cho tôi.

Nếu tôi đang đặt thập giá lên vai người khác, Người gọi tôi hoán cải.

Nếu tôi đang đứng cạnh một người đau khổ, Người hỏi: “Con có ở lại không?”

Và nếu một ngày nào đó mọi thứ trong đời ta dường như chỉ còn là một chiều Thứ Sáu, hãy nhớ rằng Thiên Chúa không dừng câu chuyện ở Thứ Sáu.

Sau Thánh Giá còn có ngôi mộ.

Sau ngôi mộ còn có tảng đá được lăn ra.

Sau đêm còn có buổi sáng.

Sau tiếng khóc của Maria Mađalêna còn có một tiếng gọi tên: “Maria!”

Sau thất bại của các môn đệ còn có Galilê.

Sau Phêrô chối Thầy còn có bờ hồ và câu hỏi: “Con có yêu Thầy không?”

Sau những dấu đinh còn có một thân xác phục sinh.

Và sau mọi cây thánh giá mà ta phải mang trong Đức Kitô, lời cuối cùng không thuộc về đau khổ.

Lời cuối cùng thuộc về tình yêu.

Lời cuối cùng thuộc về sự sống.

Lời cuối cùng thuộc về Thiên Chúa.

Bởi vậy, ta có thể quỳ trước Thánh Giá mà không sợ một Thiên Chúa giận dữ. Ta quỳ trước một Thiên Chúa bị thương vì yêu. Ta không nhìn lên Golgotha để thấy một Người Cha tàn nhẫn. Ta nhìn để thấy tình yêu Ba Ngôi cúi xuống tận cùng thân phận con người. Ta không thấy một Thiên Chúa yêu đau khổ. Ta thấy một Thiên Chúa yêu con người đến mức đi xuyên qua đau khổ để tìm con người.

Và từ hôm nay, khi làm dấu Thánh Giá, có lẽ ta hãy chậm hơn một chút.

Nhân danh Cha – Đấng đã yêu thế gian.

Và Con – Đấng đã tự hiến vì yêu.

Và Thánh Thần – Đấng làm cho tình yêu ấy được đổ vào lòng chúng ta.

Rồi xin một ơn rất đơn sơ:

“Lạy Chúa, xin đừng để con dựng thêm thập giá cho bất cứ ai. Xin cho con đủ sức vác những thánh giá con không thể tránh. Xin cho con đủ khôn ngoan để tháo xuống những thập giá do bất công dựng nên. Xin cho con đủ khiêm nhường để nhận người khác giúp con khi con không còn sức. Xin đừng để nỗi đau biến con thành người gây đau. Xin đừng để vết thương biến thành vũ khí. Xin biến những dấu đinh của đời con thành cửa mở cho lòng thương xót. Và khi con không hiểu gì nữa, xin cho con vẫn tin điều cuối cùng con nhìn thấy nơi Đức Giêsu chịu đóng đinh: Ngài đã yêu con đến cùng.”

Đó mới là mầu nhiệm của Thánh Giá.

Không phải cơn giận đã thắng.

Tình yêu đã thắng.

Không phải Thiên Chúa đòi máu.

Thiên Chúa đã trao chính mình.

Không phải đau khổ là lời cuối.

Phục Sinh mới là lời cuối.

Lm. Anmai, CSsR

CHƯƠNG VII. TỪ SỢ THÁNH GIÁ ĐẾN YÊU THÁNH GIÁ

Không ai sinh ra đã yêu Thánh Giá. Không ai vừa mở mắt chào đời đã có thể bình thản nói với đau khổ rằng: “Tôi đón nhận bạn.” Bản năng của con người là tìm sự sống, tránh sự chết; tìm niềm vui, tránh đau đớn; tìm được yêu, tránh bị bỏ rơi; tìm thành công, tránh thất bại; tìm sức khỏe, tránh bệnh tật; tìm ánh sáng, tránh bóng tối. Điều ấy không xấu. Chính Chúa Giêsu trong vườn Ghếtsêmani cũng không giả vờ rằng đau khổ là dễ chịu. Người đã buồn sầu, xao xuyến, đổ mồ hôi như máu và cầu xin: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Vì vậy, hành trình yêu Thánh Giá không phải là hành trình tiêu diệt cảm xúc con người, cũng không phải huấn luyện một trái tim trở nên chai đá trước đau khổ. Yêu Thánh Giá không có nghĩa là khi đau thì không được khóc, khi mất thì không được tiếc, khi bệnh thì không được mong khỏi, khi bị phản bội thì không được buồn, khi đứng trước cái chết thì không được sợ. Nếu hiểu như thế, Kitô giáo sẽ trở thành một thứ chủ nghĩa khắc kỷ khoác áo đạo đức. Tin Mừng không dạy con người hóa đá; Tin Mừng dạy trái tim biết yêu giữa những điều làm nó tan vỡ. Thánh Giá không được yêu bởi vì gỗ của nó cứng, đinh của nó sắc, máu của nó đỏ hay cái chết của nó đau. Thánh Giá được yêu bởi vì trên Thánh Giá có một Đấng đã yêu ta đến cùng. Kitô hữu không mê đau khổ. Kitô hữu mê Đức Kitô. Và vì mê Đức Kitô, người Kitô hữu dần dần học cách không bỏ Người khi con đường của Người đi qua đồi Canvê. Đó là cả một hành trình rất dài: từ chạy trốn đến chịu đựng, từ chịu đựng đến đón nhận, từ đón nhận đến hiến dâng, và từ hiến dâng đến một thứ tình yêu rất sâu mà chỉ những ai đã khóc rất nhiều trước mặt Chúa mới hiểu được. Hành trình ấy không phải chiếc thang mà một khi đã bước lên bậc trên thì không bao giờ tụt xuống. Nó giống một con đường quanh co hơn. Có ngày ta tưởng mình đã yêu Thánh Giá, ngày hôm sau lại chỉ muốn ném nó xuống. Có lúc ta nói được “xin vâng”, rồi chỉ vài giờ sau lại hỏi: “Tại sao là con?” Có những người đã sống đời tu bốn mươi năm mà vẫn có những buổi sáng muốn chạy. Có người đã chăm sóc người bệnh nhiều năm mà đôi khi vẫn thấy lòng nổi loạn. Có bà mẹ đã hy sinh cả đời cho con mà có đêm vẫn khóc vì quá mệt. Có bệnh nhân từng rất bình an nhưng khi cơn đau tăng lên lại sợ hãi như lần đầu. Điều đó không có nghĩa đức tin đã thất bại. Điều đó chỉ cho thấy ta vẫn là người. Thánh thiện không phải là hết yếu đuối; thánh thiện là trong yếu đuối vẫn biết quay trở về với Chúa.

  1. BẬC MỘT: CHẠY

Phêrô chạy. Các môn đệ chạy. Ta cũng chạy. Đêm Chúa bị bắt, những người từng quả quyết rằng sẽ sống chết với Thầy đã bỏ Thầy mà trốn. Phêrô từng nói rất mạnh: “Dầu mọi người có vấp ngã vì Thầy đi nữa, con đây cũng chẳng bao giờ vấp ngã.” Nhưng vài giờ sau, trước câu hỏi của một người đầy tớ gái, ông đã run sợ và chối rằng không biết Đức Giêsu là ai. Con người là thế. Khi ngồi bên bàn Tiệc Ly, lời trung thành nói rất dễ. Khi trong tay người khác có quyền bắt mình, đánh mình, giết mình, câu trả lời trở nên khó hơn rất nhiều. Vì thế, hãy cẩn thận khi phán xét những người đang chạy khỏi thánh giá của họ. Ta chưa chắc đã can đảm hơn họ nếu đứng trong cùng hoàn cảnh. Người ta chạy khỏi bệnh bằng cách phủ nhận kết quả xét nghiệm. Người ta chạy khỏi tuổi già bằng cách sống như thể mình sẽ không bao giờ chết. Người ta chạy khỏi thất bại bằng cách đổ lỗi. Người ta chạy khỏi cô đơn bằng một mối quan hệ vội vàng. Người ta chạy khỏi tổn thương bằng rượu, trò chơi, mạng xã hội, công việc, tiền bạc, những cuộc vui triền miên. Người ta chạy khỏi một gia đình đổ vỡ bằng cách giả vờ mọi sự bình thường. Người ta chạy khỏi tiếng gọi của Chúa bằng cách làm mình luôn bận. Người ta chạy khỏi lương tâm bằng cách tạo thật nhiều tiếng động. Người ta chạy khỏi sự thật về mình bằng cách nói thật nhiều về lỗi của người khác. Có cả những kiểu chạy rất đạo đức: làm việc tông đồ không ngừng để khỏi phải đối diện với sự trống rỗng trong lòng; nói chuyện về Thiên Chúa rất nhiều để khỏi phải ngồi im trước mặt Thiên Chúa; chăm sóc mọi người nhưng không bao giờ cho phép mình được chăm sóc; giảng về Thánh Giá rất hay nhưng hễ ai làm tổn thương mình thì lập tức dựng lên cả một hệ thống phòng thủ. Chạy không có nghĩa hết là môn đệ. Phêrô chạy mà Chúa vẫn tìm Phêrô. Các môn đệ bỏ Người mà Chúa Phục Sinh vẫn hiện ra giữa họ và nói: “Bình an cho anh em.” Người không mở đầu bằng bản cáo trạng: “Tại sao các anh bỏ tôi?” Người mở đầu bằng bình an. Đó là một trong những nét đẹp nhất của lòng thương xót: Chúa không đợi ta trở nên anh hùng rồi mới yêu ta. Người yêu ta cả khi ta đang trốn. Người biết địa chỉ của những căn phòng khóa kín nơi các môn đệ sợ hãi đang ngồi. Người đi xuyên qua những cánh cửa ta đã khóa để đến gặp ta. Vì thế, nếu đang chạy, đừng giả bộ mình không chạy. Đừng trang điểm nỗi sợ thành lòng can đảm. Đừng lấy những câu đạo đức để che một trái tim đang hoảng loạn. Hãy nói với Chúa: “Con đang sợ. Con chưa muốn điều này. Con muốn chạy. Con không đủ sức.” Lời cầu nguyện thật bao giờ cũng tốt hơn một sự anh hùng giả. Chúa có thể làm việc với một trái tim sợ nhưng thành thật; Người rất khó đi vào một trái tim sợ nhưng cứ giả vờ mạnh. Yêu bắt đầu khi người chạy chịu quay mặt lại. Có thể ta chưa quay lại để ôm Thánh Giá. Chỉ cần quay lại để nhìn Đức Kitô đang đứng đó. Đừng bắt đầu bằng gỗ. Hãy bắt đầu bằng khuôn mặt của Người. Kẻ nào chỉ nhìn thánh giá sẽ sợ; kẻ nào nhìn Đấng chịu đóng đinh lâu đủ có thể bắt đầu yêu.

  1. BẬC HAI: CHỊU ĐỰNG

Chịu đựng đã là một ân sủng lớn. Đừng coi thường chữ “chịu”. Có những ngày toàn bộ đời sống thiêng liêng của một người chỉ còn là không bỏ cuộc. Không làm được gì lớn, không cảm được gì đẹp, không cầu nguyện được sốt sắng, không nhìn thấy lối ra, nhưng vẫn ở lại. Ở lại với cuộc hôn nhân đang rất khó. Ở lại bên người bệnh. Ở lại với một cộng đoàn không dễ sống. Ở lại với bổn phận. Ở lại với một căn bệnh kéo dài. Ở lại trong đời tu khi cảm xúc ban đầu đã biến mất. Ở lại với Chúa khi lời cầu nguyện khô khan. Có những sự ở lại trước mặt người đời trông rất tầm thường nhưng trước mặt Thiên Chúa lại là một hành vi anh hùng. Nhiều người chịu đựng thánh giá không phải vì đã hiểu, nhưng vì không còn con đường nào khác. Bệnh không khỏi. Người thân không trở về. Người bạn đời không thay đổi nhanh như mong muốn. Một quyết định trong quá khứ không thể xóa. Một biến cố đã xảy ra không thể làm cho chưa từng xảy ra. Tuổi trẻ đã đi qua. Người chết không thể bước lại qua cánh cửa. Một phần cơ thể đã mất. Một cơ hội đã qua. Một lời nói đã thốt ra. Một vết thương vẫn còn đó. Khi thực tại trở nên không thể thương lượng, con người bắt đầu học chịu đựng. Chịu đựng chưa phải yêu. Đôi khi người ta chịu chỉ vì không còn lựa chọn. Nhưng đừng coi thường giai đoạn ấy. Hạt lúa nằm dưới đất cũng không lập tức trổ bông. Nó phải ở trong bóng tối trước. Có những người sống nhiều năm trong bậc chịu đựng trước khi một tia sáng nhỏ của đón nhận xuất hiện. Có người cầu nguyện suốt mười năm chỉ để một ngày nói được: “Lạy Chúa, con chưa hiểu, nhưng con thôi chống lại Ngài.” Đó đã là một phép lạ. Chúng ta thường quá nóng ruột với hành trình thiêng liêng của người khác. Thấy ai than nhiều, ta bảo họ thiếu đức tin. Thấy ai khóc, ta bảo phải phó thác. Thấy ai chưa bình an, ta lập tức đưa câu Kinh Thánh. Nhưng có những nỗi đau cần được ngồi cạnh trước khi được giải thích. Có những giọt nước mắt phải được khóc hết trước khi lời “xin vâng” có thể bật ra. Chúa Giêsu cũng đã để Maria và Mácta khóc trước mồ Ladarô. Người không đứng đó giảng ngay rằng “Ta là sự sống lại.” Tin Mừng nói một câu rất ngắn nhưng rất lớn: “Đức Giêsu liền khóc.” Người khóc cùng họ. Thiên Chúa không khinh sự chịu đựng của ta. Người bước vào đó. Người ngồi cạnh giường bệnh. Người đi vào hành lang bệnh viện. Người ở trong căn bếp nơi người vợ âm thầm khóc. Người ở với linh mục già một mình trong căn phòng tối. Người ở với người mẹ nhìn đứa con lạc đường. Người ở với người trẻ cố gắng sống thêm một ngày giữa sự tuyệt vọng. Có những ngày yêu Thánh Giá chỉ có nghĩa là không tự tử, không bỏ lễ, không bỏ nhà, không buông tay người bệnh, không trả đũa, không ký vào một quyết định trong cơn giận, không bỏ Chúa. Đừng xem nhẹ những chiến thắng bé như thế. Nhiều vị thánh được xây nên bằng hàng ngàn lần “không bỏ” rất nhỏ.

  1. BẬC BA: ĐÓN NHẬN

Đón nhận khác chịu đựng ở chỗ ý muốn bắt đầu tham gia. Người chịu đựng nói: “Tôi không có cách nào khác.” Người đón nhận bắt đầu nói: “Nếu điều này đã ở đây và hiện giờ không thể cất đi, xin Chúa dạy tôi sống nó với Ngài.” Đó là một chuyển động rất tinh tế nhưng sâu xa. Thánh giá có thể vẫn nặng như cũ, căn bệnh vẫn thế, người khác vẫn chưa đổi, hoàn cảnh vẫn chưa mở ra, nhưng thái độ của linh hồn bắt đầu đổi. Ta thôi dùng tất cả năng lượng để chống lại việc nó tồn tại. Ta bắt đầu hỏi một câu khác. Trước đây ta hỏi: “Tại sao điều này xảy ra?” Bây giờ ta hỏi thêm: “Chúa ở đâu trong điều này?” Trước đây ta hỏi: “Bao giờ nó hết?” Bây giờ ta hỏi thêm: “Trong lúc nó chưa hết, con phải sống thế nào?” Trước đây ta chỉ thấy điều mình mất. Bây giờ, rất từ từ, ta bắt đầu nhận ra điều Chúa có thể sinh ra giữa mất mát ấy. Đón nhận không có nghĩa gọi cái xấu là tốt. Đây là điểm rất quan trọng. Kitô giáo không dạy người bị bạo hành phải nói rằng bạo hành là Thánh Giá Chúa gửi và cứ để người khác đánh mình. Không. Có những “thánh giá” cần phải được đặt xuống vì thật ra đó là tội của người khác đang áp lên ta. Có những hoàn cảnh phải rời đi. Có những bất công phải tố cáo. Có những bệnh phải chữa. Có những mối quan hệ phải đặt ranh giới. Có những nơi làm việc phải thay đổi. Có những cơn nghiện phải điều trị. Có những hành vi phạm pháp phải đưa ra ánh sáng. Đón nhận Thánh Giá không phải là hợp thức hóa cái ác. Chúa Giêsu đón nhận cuộc Thương Khó nhưng Người không gọi sự phản bội của Giuđa là tốt, không gọi lời chứng gian là tốt, không gọi sự hèn nhát của Philatô là tốt. Điều ác vẫn là điều ác. Nhưng tình yêu Thiên Chúa có thể bước vào giữa điều ác và không để điều ác nói lời cuối cùng. Đó là mầu nhiệm. Đón nhận nghĩa là ta không trao quyền tối hậu cho những gì đã xảy ra. Ta nói: “Điều này đã làm tôi đau, nhưng nó sẽ không quyết định tôi trở thành ai. Điều này đã lấy khỏi tôi một phần cuộc đời, nhưng nó không lấy được khả năng yêu. Điều này đã làm tôi khóc, nhưng tôi không để nó biến mình thành kẻ cay độc.” Khi một người có thể nói như vậy, Thánh Giá bắt đầu sinh hoa.

  1. BẬC BỐN: YÊU

Yêu Thánh Giá là điều rất dễ bị hiểu lầm. Có người nghe cụm từ ấy rồi tưởng rằng một Kitô hữu tốt phải thích đau khổ. Không phải vậy. Chúa Giêsu không dạy ta đi tìm roi để bị đánh, đi tìm bệnh để mắc, đi tìm người xấu để bị phản bội. Khổ đau tự nó không phải một bí tích. Có người đau rất nhiều nhưng trở nên cay độc hơn. Có người bị thử thách nhưng trở nên ích kỷ hơn. Có người mang thánh giá nhưng dùng thánh giá của mình để hành hạ cả nhà. Vì thế, không phải cứ đau là tự động thánh thiện. Điều làm Thánh Giá cứu độ không phải lượng đau, mà là lượng tình yêu. Hai người có thể mang cùng một căn bệnh; một người đóng cửa hoàn toàn trong oán hận, người kia từ từ biến căn phòng bệnh thành nơi cầu nguyện. Hai người có thể cùng chịu bất công; một người dành phần đời còn lại để trả thù, người kia đấu tranh cho công lý nhưng không để lòng mình bị đầu độc. Hai người có thể cùng mất một người thân; một người không còn khả năng yêu vì sợ mất lần nữa, người kia từ chính nỗi đau ấy trở nên dịu dàng hơn với những ai đang chịu tang. Thánh Giá được yêu khi đau khổ thôi là trung tâm và Đức Kitô trở thành trung tâm. Người yêu Thánh Giá không còn hỏi trước hết: “Bao giờ cái này hết?” mà hỏi: “Lạy Chúa, trong cái này, con có thể yêu Ngài và yêu người thế nào?” Câu hỏi ấy đổi tất cả. Người chăm chồng bệnh bắt đầu nói: “Hôm nay con có thể lau mặt cho anh ấy như lau mặt Chúa.” Người mẹ có đứa con hư hỏng bắt đầu nói: “Con không cứu được nó, nhưng con có thể không ngừng yêu và cầu nguyện.” Linh mục gặp chống đối bắt đầu hỏi: “Con có thể nói sự thật mà không cay độc thế nào?” Người bệnh nằm một chỗ hỏi: “Con có thể biến những giờ bất động này thành lời cầu cho người khác không?” Người già không còn làm được nhiều bắt đầu hiểu rằng đôi bàn tay run vẫn có thể chắp lại. Khi ấy, điều tưởng như vô dụng bắt đầu có giá trị hiến dâng. Đau vẫn đau. Nhưng đau không còn vô nghĩa. Đó chính là một trong những ân sủng lớn nhất của Thánh Giá: tình yêu không luôn lấy đau đi, nhưng có thể biến đau thành của lễ.

Yêu Thánh Giá còn là khi ta thôi mặc cả với Chúa. Lúc đầu ta cầu: “Lạy Chúa, con sẽ trung thành nếu Ngài chữa con.” Sau đó, một ngày nào đó, linh hồn trưởng thành đủ để nói: “Lạy Chúa, xin chữa con nếu đó là ý Ngài; nhưng dù được chữa hay không, con vẫn muốn thuộc về Ngài.” Đó là một bước rất lớn. Không còn dùng lòng đạo đức để mua phép lạ. Không còn lấy việc lành làm điều kiện buộc Chúa phải trả công theo cách mình muốn. Yêu Chúa vì Chúa. Theo Chúa không chỉ khi Người dẫn qua đồng cỏ xanh, mà cả khi Người đưa qua thung lũng tối. Đây là đức tin của ba thanh niên trong sách Đanien khi đứng trước lò lửa: Thiên Chúa có thể cứu chúng tôi, nhưng cho dù Người không cứu theo cách các ông nghĩ, chúng tôi vẫn không thờ thần của các ông. Đây là đức tin đã đi qua giao dịch và bước vào tương quan. Ta không còn nói: “Nếu Chúa làm điều này thì con mới tin.” Ta nói: “Dù con chưa hiểu điều Chúa làm, con vẫn bám lấy Chúa.” Đó là lúc Thánh Giá bắt đầu trở thành nơi gặp gỡ.

Nhưng bậc yêu không phải một trạng thái ổn định mãi mãi. Người yêu vẫn có ngày muốn chạy. Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã sống những tháng cuối trong đau đớn thể xác và bóng tối đức tin. Mẹ Têrêsa Calcutta đã phục vụ giữa một kinh nghiệm nội tâm khô khan kéo dài. Các thánh không phải những người không bao giờ vật lộn; họ là những người vật lộn mà không bỏ tương quan. Có khi sáng ta dâng thánh giá rất đẹp, chiều ta lại than. Đừng thất vọng. Hành trình thiêng liêng không phải thang máy đưa thẳng lên tầng thánh thiện. Nó giống đường núi: đi, nghỉ, trượt, đứng dậy, vòng qua, có khi tưởng mình quay lại chỗ cũ nhưng thực ra đã ở cao hơn. Điều quan trọng không phải hôm nay ta đang ở bậc nào. Điều quan trọng là hướng ta đang quay. Một người đang chạy nhưng quay về phía Chúa có thể gần Người hơn một người đang vác rất giỏi nhưng chỉ để tự hào về mình.

  1. ĐỪNG TỰ CHẾ TẠO THÁNH GIÁ

Trong hành trình học yêu Thánh Giá, cần một phân định rất quan trọng: không phải mọi đau khổ đều là Thánh Giá Chúa muốn ta giữ. Có những đau khổ là hậu quả của sự thiếu khôn ngoan mà ta cần sửa. Có người làm việc đến kiệt sức rồi gọi đó là hy sinh. Không. Có khi đó chỉ là không biết giới hạn. Có người không chịu chữa bệnh rồi bảo phó thác. Không. Có khi đó là thiếu trách nhiệm. Có người để mình bị xúc phạm vô hạn rồi gọi đó là khiêm nhường. Không. Khiêm nhường không đồng nghĩa với cho phép điều ác tiếp diễn. Có người chi tiêu vô trách nhiệm rồi khi nợ nần thì nói Chúa gửi thánh giá. Không. Đó có thể là hậu quả của lựa chọn. Có người nói những lời cay nghiệt, làm cả nhà xa lánh rồi than rằng mình bị cô đơn vì theo Chúa. Chưa chắc. Có khi đó chỉ là kết quả của tính khí chưa được hoán cải. Yêu Thánh Giá không có nghĩa yêu sự hỗn loạn do chính mình tạo ra. Đôi lúc hành vi đạo đức nhất là sửa một thói quen, xin lỗi một người, đi khám bệnh, tìm một nhà tham vấn, lập một ngân sách, ngủ đủ, cắt bớt việc, đặt một giới hạn, rời một môi trường độc hại, thú nhận một sai lầm. Có những thánh giá Chúa không yêu cầu ta vác; Người yêu cầu ta đặt xuống.

Cũng có những người vô tình đóng thánh giá cho người khác rồi khuyên họ vui lòng vác. Đây là điều cần phải nói rất mạnh. Một người chồng gia trưởng không thể xúc phạm vợ rồi bảo vợ “hãy vác thánh giá.” Một bề trên thiếu công bằng không thể lấy đức vâng lời làm lý do bắt người dưới im lặng trước sai trái. Một cha mẹ không thể gây áp lực bệnh hoạn lên con rồi nói đó là giáo dục hy sinh. Một cộng đoàn không thể đối xử tàn nhẫn với một thành viên rồi bảo người ấy phải nên thánh bằng chịu đựng. Thánh Giá của Đức Kitô không bao giờ là giấy phép cho người mạnh áp bức người yếu. Người đóng đinh Chúa không trở thành công chính chỉ vì nạn nhân của họ nên thánh. Tội vẫn là tội. Công lý vẫn cần được thực thi. Yêu Thánh Giá không bao giờ loại bỏ trách nhiệm sửa chữa những cơ cấu và hành vi gây đau khổ.

  1. NHỮNG TRỢ LỰC ĐỂ ĐI TỪ SỢ ĐẾN YÊU

Không ai tự mình đi được hành trình này. Ý chí đơn thuần không đủ. Ta cần ân sủng. Và Giáo Hội đã trao cho ta những nơi ân sủng chạm tới đời sống rất cụ thể.

Trước hết là Thánh Thể. Mỗi Thánh lễ là trường học của Thánh Giá. Không phải vì Chúa Giêsu bị đóng đinh lại lần nữa, nhưng hy tế duy nhất của Người được làm cho hiện diện cách bí tích. Trên bàn thờ, bánh trở nên Thân Mình được trao, rượu trở nên Máu được đổ ra. Hai động từ ấy định nghĩa đời Kitô hữu: trao và đổ. “Này là Mình Thầy, hiến tế vì anh em.” Ai rước lễ mà không muốn trở nên một chút giống điều mình rước thì chưa đi vào chiều sâu của Thánh Thể. Ta đến bàn thờ không chỉ để nhận Chúa; ta đến để học trở thành tấm bánh. Một tấm bánh bị bẻ ra cho người khác. Một chén rượu được rót. Thánh Thể dạy rằng sự sống thật không nằm ở giữ chặt mà ở trao ban. Người muốn yêu Thánh Giá mà xa bàn thờ rất dễ biến Thánh Giá thành một ý tưởng luân lý. Nhưng Thánh Giá trước hết là một ngôi vị được gặp trong bí tích. Khi ta quỳ trước Thánh Thể với một nỗi đau chưa hiểu, có khi không cần nói gì. Chỉ ở đó. Để Người chịu đóng đinh nhìn ta. Có những điều lý trí không giải thích được nhưng sự hiện diện chữa được.

Thứ đến là Lời Chúa. Ai muốn học yêu Thánh Giá hãy sống lâu với những bản văn Thương Khó. Đừng chỉ đọc chúng trong Tuần Thánh. Hãy đọc chậm. Dừng lại ở Ghếtsêmani. Dừng ở cái hôn của Giuđa. Dừng ở ánh mắt giữa Chúa và Phêrô. Dừng ở sự im lặng trước Hêrôđê. Dừng ở Simon Kyrênê. Dừng ở những người phụ nữ Giêrusalem. Dừng ở tên trộm bên phải. Dừng ở lời “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Dừng ở tiếng kêu: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Dừng ở “Mọi sự đã hoàn tất.” Mỗi câu là một trường học. Isaia 53 dạy ta nhìn Người Tôi Trung mang lấy đau khổ của nhiều người. Thánh Vịnh 22 cho phép ta biết rằng cầu nguyện có thể chứa cả tiếng kêu bị bỏ rơi. Thánh Phaolô dạy rằng sức mạnh Thiên Chúa được biểu lộ trong yếu đuối. Lời Chúa không luôn trả lời câu hỏi “tại sao”, nhưng thường trả lời câu hỏi quan trọng hơn: “Ai ở với tôi trong điều này?” Và câu trả lời là: Đấng Chịu Đóng Đinh.

Bí tích Hòa Giải cũng là trợ lực lớn. Có những thánh giá ta đang vác nặng hơn cần thiết vì tội chưa được thú nhận, vì một mối oán chưa chịu buông, vì một đời sống hai mặt, vì một thói quen đang gặm nhấm lương tâm. Không phải mọi đau khổ do tội, nhưng tội chắc chắn làm đau khổ phức tạp hơn. Người bệnh đã nặng mà còn mang thêm mặc cảm. Người gặp khủng hoảng còn mang theo một bí mật. Người bị tổn thương lại nuôi trả thù. Bí tích Hòa Giải không luôn thay đổi hoàn cảnh bên ngoài, nhưng có thể lấy đi một tảng đá khỏi linh hồn. Có những thánh giá nhẹ đi không phải vì hoàn cảnh đổi mà vì lòng được hòa giải với Chúa, với mình và dần dần với người khác.

Cộng đoàn cũng là một ân sủng. Thánh giá cô độc rất dễ thành tuyệt vọng. Chúa Giêsu đã cần Simon Kyrênê. Không phải vì quyền năng thần linh của Người thiếu, nhưng vì trong chương trình cứu độ, Thiên Chúa muốn một con người được phép đặt vai dưới thanh gỗ của một Con Người khác. Hình ảnh ấy đủ để xây cả một linh đạo. Có những thánh giá không cần lời giải; cần một bờ vai. Không cần bài giảng; cần bát cháo. Không cần câu Kinh Thánh gửi qua điện thoại; cần một chuyến xe đưa đi bệnh viện. Không cần nói “cố lên”; cần ngồi cạnh. Không cần hỏi “tại sao anh buồn?”; có khi chỉ cần nói “tôi ở đây.” Cộng đoàn Kitô hữu thật không phải nơi mọi người trình diễn sự mạnh mẽ, mà là nơi người yếu được phép yếu mà không bị loại. Nơi người đang mang thánh giá không bị biến thành đề tài tò mò. Nơi người thất bại vẫn còn ghế để ngồi. Nơi người khóc không bị bảo là thiếu đức tin. Nếu Giáo Hội là Thân Thể Đức Kitô, thì khi một chi thể đau, các chi thể khác phải cảm thấy. Và một trong những cách đẹp nhất để yêu Thánh Giá là giúp người khác vác thánh giá của họ.

Đàng Thánh Giá là một trợ lực nữa. Đừng coi đó chỉ là việc đạo đức mùa Chay. Đàng Thánh Giá là trường nhìn. Ta học nhìn Đức Kitô trong từng khuôn mặt. Chặng Chúa bị kết án nhắc ta đến những người bị xét xử bất công. Chặng Chúa vác Thánh Giá nhắc ta đến những ai đang gánh một đời nặng nề. Chặng Chúa ngã nhắc ta rằng ngã không đồng nghĩa với hết đường. Chặng Chúa gặp Mẹ nhắc ta đến nỗi đau của những người không thể cứu người mình yêu. Chặng Simon giúp Chúa nhắc ta đừng đi qua đời ai mà không đặt vai vào. Chặng Veronica nhắc ta rằng một cử chỉ nhỏ giữa biển tàn nhẫn cũng có giá trị đời đời. Chặng Chúa bị lột áo nhắc ta đến những người bị tước phẩm giá. Chặng đóng đinh nhắc ta đến những người không còn khả năng tự tháo mình khỏi hoàn cảnh. Chặng Chúa chết nhắc rằng có những lúc ta phải để một điều gì đó trong mình chết: tự ái, tham vọng, ảo tưởng, nhu cầu kiểm soát. Chặng hạ xác và mai táng nhắc ta rằng có những thời kỳ Thiên Chúa dường như hoàn toàn im lặng. Nhưng Đàng Thánh Giá không kết thúc trong hư vô. Mọi chặng đều mang trong mình lời hứa của sáng Phục Sinh.

  1. TỪ “TẠI SAO?” ĐẾN “ĐỂ LÀM GÌ?”

Một dấu chỉ trưởng thành quan trọng trong hành trình yêu Thánh Giá là câu hỏi của ta thay đổi. Khi mới đau, ta thường hỏi “Tại sao?” Tại sao Chúa để chuyện này xảy ra? Tại sao là con? Tại sao người tốt phải đau? Tại sao con đã cầu nguyện mà không được? Những câu ấy không sai. Kinh Thánh đầy những câu ấy. Ông Gióp hỏi. Các Thánh Vịnh hỏi. Các ngôn sứ hỏi. Chính Chúa Giêsu cũng thốt lên trên Thánh Giá: “Sao Ngài bỏ con?” Thiên Chúa không sợ câu hỏi của ta. Nhưng có một lúc, nếu ân sủng dẫn đủ sâu, một câu hỏi khác xuất hiện: “Điều này có thể được dùng để làm gì?” Không phải “tại sao nó xảy ra” mà “bây giờ nó đã xảy ra, con có thể dâng nó thế nào?” Đây là lúc con người lấy lại tự do. Ta không chọn được biến cố, nhưng có thể chọn cách đáp lại. Ta không chọn được vết thương, nhưng có thể chọn không dùng vết thương để làm người khác bị thương. Ta không chọn được mất mát, nhưng có thể chọn để mất mát làm mình nhân hậu hơn. Ta không chọn được bệnh, nhưng có thể chọn cách đối xử với y tá, bác sĩ, người nhà trong những ngày bệnh. Ta không chọn được tuổi già, nhưng có thể chọn biến tuổi già thành một trường cầu nguyện. Ta không chọn được cái chết đến lúc nào, nhưng có thể từng ngày học đặt sự sống vào tay Chúa.

Viktor Frankl từng nhận xét rằng khi con người không còn thay đổi được hoàn cảnh, họ được mời gọi thay đổi chính mình. Kitô giáo còn đi xa hơn: không chỉ thay đổi chính mình bằng ý chí, mà để Đức Kitô đi vào trong hoàn cảnh ấy và biến nó thành một nơi hiệp thông. Đây là mầu nhiệm của Thánh Giá: cái mà thế gian dùng để giết lại trở thành nơi sự sống được mở ra. Cây xử tử trở thành Cây Sự Sống. Vết thương trở thành nguồn nước. Cạnh sườn bị đâm trở thành cửa mở. Ngôi mộ trở thành nơi bắt đầu của Tin Mừng Phục Sinh. Thiên Chúa có một khả năng kỳ lạ: Người không cần điều ác để làm điều tốt, nhưng một khi điều ác đã xảy ra, Người có thể không để nó bị phí. Không giọt nước mắt nào phải hoàn toàn vô ích nếu được đặt trong tay Người.

  1. YÊU THÁNH GIÁ KHÔNG PHẢI YÊU MÌNH ĐAU, MÀ YÊU CHÚA KHI MÌNH ĐAU

Đây có lẽ là câu cần giữ lại. Kitô hữu không được gọi để yêu cơn đau; được gọi để yêu Chúa trong cơn đau. Không yêu mất mát; yêu Chúa khi mất mát. Không yêu phản bội; yêu Chúa giữa phản bội. Không yêu thất bại; yêu Chúa trong thất bại. Không yêu căn bệnh; yêu Chúa khi bệnh. Không yêu cái chết; yêu Đấng đã bước qua cái chết và phá vỡ nó từ bên trong. Chính vì thế, khi được chữa bệnh, hãy vui. Khi thoát khỏi thử thách, hãy tạ ơn. Khi một vấn đề được giải quyết, đừng tiếc rằng mình mất cơ hội vác thánh giá. Thiên Chúa không cần ta đau để Người được vinh quang. Người muốn ta yêu. Khi có thể yêu trong niềm vui, hãy yêu trong niềm vui. Khi buộc phải đi qua nước mắt, hãy yêu trong nước mắt. Điều làm một đời đẹp không phải số lượng thánh giá, mà là mức độ tình yêu.

Có khi thánh giá lớn nhất không phải một biến cố bên ngoài mà là chính bản thân ta. Tính nóng của mình. Những ký ức chưa được chữa lành. Một khuynh hướng lập đi lập lại. Một giới hạn không thể vượt. Một tính cách khiến ta phải chiến đấu mỗi ngày. Ta có thể rất dễ thương với cả thế giới nhưng không chịu nổi chính mình. Khi ấy, yêu Thánh Giá cũng có nghĩa học kiên nhẫn với tiến trình Chúa đang thực hiện trong mình. Không dung túng tội, nhưng cũng không khinh ghét bản thân. Phêrô phải học sống với ký ức ba lần chối Thầy. Phaolô phải sống với “cái dằm trong thân xác” mà ông đã xin Chúa cất đi nhiều lần. Chúa không cất, nhưng nói: “Ơn Ta đủ cho con.” Có những điều Chúa chữa bằng cách lấy đi. Có những điều Người chữa bằng cách cho ta đủ ân sủng để sống cùng nó mà không còn bị nó thống trị. Cả hai đều là phép lạ.

  1. KHI THÁNH GIÁ TRỞ THÀNH LỜI CẦU

Có một mức sâu hơn của yêu Thánh Giá: biến điều mình chịu thành lời chuyển cầu. Đây không phải phép thuật, không phải giao dịch với Thiên Chúa, nhưng là hiệp thông với hy tế Đức Kitô. Thánh Phaolô đã nói một câu rất táo bạo: “Tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh.” Không phải cuộc Khổ Nạn Đức Kitô thiếu giá trị. Nhưng Đức Kitô cho phép các chi thể của Người được tham dự vào tình yêu hiến tế ấy. Người mẹ thức đêm bên con bệnh có thể nói: “Lạy Chúa, con dâng đêm nay cho một người mẹ khác đang cô độc.” Người bệnh ung thư có thể nói: “Con dâng cơn đau này cho những ai hôm nay tuyệt vọng.” Linh mục già yếu có thể nói: “Con dâng sự bất lực này cho những linh mục trẻ.” Người bị hiểu lầm có thể cầu cho những ai đang bị xét oan. Người đang chờ một kết quả xét nghiệm có thể cầu cho những người không đủ tiền chữa bệnh. Khi làm như vậy, thánh giá không co lại, nhưng trái tim mở rộng. Đau khổ vốn có xu hướng thu người ta vào chính mình. Hiến dâng phá vòng tròn ấy. Nó biến “nỗi đau của tôi” thành một phần của lời cầu cho “nỗi đau của chúng ta.” Đây là cách Thánh Giá sinh ra hiệp thông.

  1. BẬC SÂU NHẤT: ĐỂ THÁNH GIÁ LÀM TA GIỐNG CHÚA

Cuối cùng, yêu Thánh Giá không phải để trở thành một con người chịu đựng giỏi. Mục tiêu không phải sức chịu đau. Mục tiêu là nên giống Đức Kitô. Một thánh giá chỉ thật sự có ích khi làm ta yêu hơn, hiền hơn, thật hơn, tự do hơn, nhân hậu hơn. Nếu sau mười năm đau khổ ta trở nên cay nghiệt hơn, có lẽ thánh giá chưa đi vào mầu nhiệm Phục Sinh. Nếu một đời hy sinh làm ta nghĩ mình có quyền khinh những người yếu hơn, ta đã biến hy sinh thành kiêu ngạo. Nếu đau khổ khiến ta bắt người khác phải trả nợ tình cảm, ta chưa thực sự dâng nó. Thánh Giá của Đức Kitô sinh ra tha thứ: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Sinh ra lòng thương người đau: “Hôm nay anh sẽ ở với tôi trên Thiên Đàng.” Sinh ra tình mẫu tử mới: “Đây là mẹ của anh.” Sinh ra phó thác: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Nếu ta vác Thánh Giá với Đức Kitô, dần dần những câu ấy cũng phải mọc lên trong đời ta.

Rồi sẽ có lúc, có lẽ rất muộn, ta nhìn lại một đoạn đường đau và nhận ra điều kỳ lạ: mình không muốn biến cố đau ấy xảy ra lần nữa, nhưng cũng không muốn đánh mất con người mà ân sủng đã làm mình trở thành qua biến cố đó. Người từng bệnh nặng nói: “Tôi không muốn bệnh lại, nhưng sau bệnh tôi biết quý từng ngày hơn.” Người từng thất bại nói: “Tôi không muốn thất bại ấy, nhưng nếu không có nó, có lẽ tôi vẫn kiêu ngạo.” Người từng mất mát nói: “Tôi sẽ không bao giờ nói cái chết ấy là tốt, nhưng qua nó tôi học yêu người còn sống sâu hơn.” Người từng bị tổn thương nói: “Tôi không cảm ơn điều xấu họ đã làm, nhưng tôi cảm ơn Chúa vì Người không để điều ấy phá hủy tôi.” Đó là Phục Sinh âm thầm. Không xóa vết đinh. Chúa Phục Sinh vẫn mang vết thương. Nhưng vết thương không còn chảy máu; nó phát sáng. Các môn đệ nhận ra Người qua những vết ấy. Có lẽ một ngày kia, những vết thương của ta cũng trở thành nơi người khác nhận ra lòng thương xót Chúa.

Vì thế, từ sợ Thánh Giá đến yêu Thánh Giá là hành trình của cả một đời. Đừng vội. Đừng ép mình phải nói “con yêu thánh giá này” khi trong lòng còn đang gào khóc. Hãy bắt đầu ở nơi mình đang đứng. Nếu đang chạy, hãy để Chúa tìm. Nếu đang chịu, hãy xin sức ở lại. Nếu đang đón nhận, hãy xin thêm tự do. Nếu đã có thể dâng, hãy dâng. Nếu có ngày yêu được, đừng tự hào; đó là ân sủng. Và nếu ngày mai lại sợ, hãy quay lại từ đầu. Đức Kitô không mệt vì phải tìm ta nhiều lần. Phêrô đã chạy, nhưng cuối đời chính ông cũng giang tay trên một thập giá. Khoảng cách giữa hai hình ảnh ấy là cả một đời được tình yêu đào tạo. Người thanh niên từng sợ một người đầy tớ gái đã trở thành một cụ già có thể trao mạng sống. Không phải vì Phêrô bỗng trở nên mạnh, nhưng vì sau nhiều năm ông đã hiểu điều Chúa hỏi bên bờ hồ Tibêria: “Con có yêu Thầy không?” Cuối cùng, bí mật của Thánh Giá nằm trong câu hỏi ấy. Không phải: “Con chịu được bao nhiêu?” Không phải: “Con mạnh đến đâu?” Không phải: “Con có đau mà không khóc được không?” Nhưng: “Con có yêu Thầy không?” Nếu câu trả lời vẫn là “Lạy Chúa, Chúa biết mọi sự; Chúa biết con yêu Chúa”, thì ngay cả đôi vai yếu cũng có thể vác một đoạn đường. Và khi quá nặng, chính Đấng đã vác Thánh Giá trước ta sẽ đặt vai dưới thánh giá của ta.

Rốt cuộc, ta không đi tìm Thánh Giá. Ta đi tìm Đức Kitô. Nhưng nếu tìm Đức Kitô thật, một lúc nào đó ta sẽ gặp Người đang vác Thánh Giá. Khi ấy, ta có thể chạy như các môn đệ, có thể đứng xa như Phêrô, có thể khóc như các phụ nữ Giêrusalem, có thể bị ép vác như Simon, có thể đứng dưới chân Thập Giá như Đức Maria. Dù ta đang ở đâu, Người vẫn mời: “Hãy theo Thầy.” Và từng ngày, rất chậm, điều ta từng khiếp sợ có thể trở thành nơi ta nhận ra Người gần nhất. Thánh Giá không còn chỉ là nơi ta mất. Nó trở thành nơi ta trao. Không còn chỉ là nơi ta đau. Nó trở thành nơi ta yêu. Không còn chỉ là dấu của cái chết. Nó trở thành cửa dẫn vào sự sống. Và một ngày, khi bước qua thánh giá cuối cùng là cái chết, ta sẽ hiểu trọn vẹn điều mà ở đời này ta chỉ học từng chút một: không một thánh giá nào được ôm cùng Đức Kitô lại kết thúc ở Canvê. Sau chiều thứ Sáu luôn có bình minh ngày thứ Nhất. Sau “mọi sự đã hoàn tất” là “Người không còn ở đây; Người đã sống lại.” Sau mọi lần ta trao mình vào tay Chúa là đôi tay của Cha đang mở ra đón lấy. Khi ấy, ta sẽ không còn cần học yêu Thánh Giá nữa, bởi Thánh Giá đã hoàn tất nhiệm vụ của nó: đưa ta vào vòng tay của Đấng ta yêu.

Lm. Anmai, CSsR

CHƯƠNG VIII. “VÁC THẬP GIÁ MÌNH HẰNG NGÀY” NGHĨA LÀ GÌ

Có một chi tiết rất nhỏ trong Tin Mừng Luca nhưng nếu đọc chậm, ta sẽ thấy chi tiết ấy có sức nặng của cả một đời người. Chúa Giêsu nói: “Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23). Hai chữ “hằng ngày” làm cho lời mời gọi của Chúa đi ra khỏi những giờ phút đặc biệt và bước thẳng vào căn bếp, phòng ngủ, bàn làm việc, bệnh viện, nhà dưỡng lão, tu viện, giáo xứ, lớp học, công trường, con đường đầy bụi, những buổi sáng chẳng có gì đáng nhớ và những buổi tối ta chỉ mong được nằm xuống vì đã quá mệt. Nếu Chúa chỉ nói “hãy vác thập giá”, ta có thể tưởng tượng đến một biến cố lớn, một cuộc tử đạo, một hy sinh phi thường, một giờ phút anh hùng mà ta phải nghiến răng vượt qua. Nhưng Chúa lại thêm “hằng ngày”. Nghĩa là Thánh Giá không chỉ xuất hiện ở những khúc quanh dữ dội của đời người; Thánh Giá đi vào nhịp sống bình thường. Nó có thể nằm trong chiếc đồng hồ báo thức lúc sáng sớm, trong một người ta phải gặp mỗi ngày dù không hợp tính, trong một căn bệnh không đủ nặng để người khác thương nhưng đủ dai dẳng để làm ta mệt, trong một trách nhiệm không ai khen, trong một bổn phận đã làm suốt hai mươi năm đến mức không còn cảm giác mới mẻ, trong một lời xin lỗi phải nói dù lòng tự ái còn đau, trong một lần chọn im lặng để khỏi làm tổn thương người khác, trong một lần tiếp tục cầu nguyện dù chẳng thấy lòng sốt sắng, trong một lần đứng dậy làm điều phải làm khi không còn ai nhìn thấy. “Hằng ngày” có nghĩa là Thiên Chúa không chỉ chờ ta trong những giờ phút vĩ đại. Người chờ ta trong những chuyện rất nhỏ. Và chính ở những chuyện nhỏ ấy, đời môn đệ được tạo thành.

Điều đầu tiên phải hiểu là Chúa nói: “vác thập giá mình”. Không phải thập giá của thiên hạ. Không phải thập giá ta tự chế tạo. Không phải thập giá ta tưởng tượng rằng nếu được trao thì mình sẽ vác rất đẹp. Thập giá mình là thập giá đang có thật trong cuộc đời mình, trong hoàn cảnh mình, trong thân phận mình, trong những giới hạn mình không chọn và những trách nhiệm mình đã tự do nhận lấy. Có một sự trớ trêu rất người là ta thường vác thập giá của người khác trong trí tưởng tượng giỏi hơn vác thập giá của chính mình trong thực tế. Nhìn một gia đình khác, ta bảo: “Nếu tôi là người chồng ấy, tôi sẽ biết cư xử.” Nhìn một linh mục khác, ta bảo: “Nếu tôi ở giáo xứ ấy, tôi sẽ làm khác.” Nhìn một người đang bệnh, ta nói: “Nếu là tôi, tôi sẽ tin tưởng Chúa hơn.” Nhìn một người đang nghèo, ta nói: “Nếu biết tính toán thì đâu đến nỗi.” Nhìn một người đang có con cái khó dạy, ta đưa ra cả một bài giáo dục rất hay. Ta rất dễ anh hùng trong cuộc đời của người khác. Nhưng đời sống thiêng liêng không được chấm điểm bằng những phương án giả định. Chúa không hỏi ta sẽ làm gì nếu sinh vào gia đình kia, mang căn bệnh kia, có tài năng kia, chịu thử thách kia. Chúa hỏi: với đời con đang có, con có theo Thầy không? Với người đang sống bên cạnh con, con có yêu không? Với sức khỏe này, tuổi tác này, quá khứ này, những mất mát này, những bổn phận này, con có trung tín không? Với chính con người thật của con, không phải con người tưởng tượng, con có để Thầy dẫn đi không?

Thập giá mình nhiều khi rất không lãng mạn. Nó không có nhạc nền. Nó không có ánh sáng sân khấu. Nó chẳng làm ai ngưỡng mộ. Có khi đó là một người cha đi làm mỗi ngày, lưng đau, đầu óc căng thẳng, nhưng vẫn cố gắng kiếm tiền lương thiện nuôi gia đình. Có khi là một người mẹ đêm thức mấy lần vì con bệnh rồi sáng vẫn phải dậy lo cho cả nhà. Có khi là người con chăm cha mẹ già, nghe đi nghe lại một câu chuyện hàng trăm lần mà vẫn cố trả lời nhẹ nhàng. Có khi là một người sống đời thánh hiến phải ở trong một cộng đoàn với những anh chị em không phải ai cũng hợp ý, phải tiếp tục cầu nguyện chung, ăn chung, làm việc chung và tập yêu thương qua những va chạm rất nhỏ. Có khi là một linh mục phải trung thành với những việc mục vụ không ai thấy: nghe một người nói rất lâu, đi xức dầu giữa đêm, dâng lễ với chỉ vài người hiện diện, chuẩn bị bài giảng trong mệt mỏi, mang trong lòng nhiều chuyện của giáo dân mà không thể kể lại với ai. Có khi thập giá là chính thân xác đang già. Hôm qua ta còn đi nhanh, hôm nay đi chậm. Hôm qua nhớ rất rõ, hôm nay bắt đầu quên. Hôm qua làm được nhiều việc, hôm nay phải nhờ người khác. Có người chịu được đau bệnh nhưng không chịu nổi cảm giác mình trở nên lệ thuộc. Chính chỗ ấy lại có thể trở thành thập giá rất sâu: học để người khác phục vụ mình mà không cáu gắt, học nhận sự yếu đuối mà không cay đắng, học tin rằng giá trị của mình không nằm ở chỗ mình còn hữu dụng bao nhiêu.

Có những thập giá đến từ tính khí của chính ta. Ta nóng nảy và mỗi ngày phải tập chậm lại. Ta dễ lo và mỗi ngày phải học phó thác. Ta thích được công nhận và mỗi ngày phải học làm điều tốt mà không cần ai thấy. Ta nhạy cảm và thường bị tổn thương bởi những câu người khác nói rất vô tình; thập giá không phải là biến mình thành cục đá không biết đau, nhưng là học cách mang nỗi đau ấy đến với Chúa để nó không trở thành độc tố làm ta làm đau người khác. Ta hay xét đoán và mỗi ngày phải chiến đấu để nhìn người khác bằng lòng thương xót. Ta có quá khứ không đẹp và mỗi ngày phải chọn tin rằng ơn Chúa lớn hơn điều đã xảy ra. Ta có một vết thương lâu năm và phải mất nhiều năm để học tha thứ. Không có tiếng vỗ tay cho những chiến thắng ấy. Không ai biết một người đã phải chiến đấu bao nhiêu mới giữ được một câu không nói ra. Không ai biết một người đã khóc thế nào trong phòng trước khi bước ra ngoài với nụ cười bình an. Không ai biết một người đã phải quỳ bao lâu mới đủ sức nói: “Lạy Chúa, con xin tha.” Nhưng trời biết. Thiên Chúa biết. Và rất nhiều điều không lên báo lại được ghi trong lòng Thiên Chúa.

“Vác thập giá mình hằng ngày” cũng có nghĩa là không chạy trốn khỏi thực tại bằng những mộng tưởng đạo đức. Có những người rất thích những việc đạo đức lớn nhưng lại khó sống tử tế trong nhà. Có người có thể đi hành hương xa nhưng không thể bước mấy mét sang phòng bên để làm hòa. Có người có thể khóc trong một giờ chầu nhưng vẫn dùng lời cay nghiệt với người sống cùng mình. Có người rất xúc động khi đọc chuyện các thánh tử đạo nhưng không chịu nổi một lời góp ý nhỏ. Có người ao ước “dâng đời cho Chúa” nhưng lại muốn Chúa nhận đời mình theo điều kiện: đừng để ai chạm vào tự ái của con, đừng thay đổi kế hoạch của con, đừng bắt con sống với người con không thích, đừng để con thất bại, đừng để con già, đừng để con bị hiểu lầm. Nhưng chính những điều ta muốn loại khỏi hành trình lại thường là nơi Chúa dạy ta nên giống Đức Kitô. Đức tin không đưa ta ra khỏi đời thực. Đức tin đưa Đức Kitô vào đời thực. Và nơi nào cuộc đời chạm vào ta, nơi ấy có thể trở thành nơi gặp Chúa.

“Hằng ngày” cũng là một lời giải độc cho cơn nghiện những điều phi thường. Con người thích cao trào. Ta thích một cuộc tĩnh tâm làm mình bừng cháy, một bài giảng khiến mình xúc động, một lần cầu nguyện cảm nhận Chúa rất gần. Những điều ấy quý. Nhưng không ai sống cả đời trên núi Hiển Dung. Phêrô từng muốn dựng ba lều trên núi, nhưng Đức Giêsu đưa các môn đệ xuống núi. Dưới núi có người bệnh. Có đám đông. Có tranh cãi. Có thất bại. Có đường lên Giêrusalem. Có thập giá. Đời Kitô hữu cũng vậy. Có những ngày lòng đầy lửa; rồi có hàng trăm ngày chẳng cảm thấy gì. Có những lúc ta thấy cầu nguyện thật dễ; rồi có những buổi sáng phải ngồi trước mặt Chúa mà lòng khô như đất. Nếu chỉ trung thành khi có cảm xúc, ta chưa yêu Chúa; ta chỉ đang yêu cảm giác về Chúa. Tình yêu thật bắt đầu trưởng thành khi ta vẫn ở lại dù cảm xúc rút lui. Một người mẹ không chỉ yêu con khi đứa trẻ cười. Một người chồng không chỉ yêu vợ khi mọi chuyện êm đẹp. Một người tu sĩ không chỉ thuộc về Chúa trong những ngày khấn dòng. Một linh mục không chỉ thuộc về Chúa trong ngày truyền chức. Một Kitô hữu không chỉ tin Chúa trong ngày nhận bí tích. Giao ước được sống trong từng ngày sau đó.

Chính vì thế, sự thánh thiện Công Giáo ít được quyết định bởi một đêm anh hùng hơn ta tưởng. Nó được quyết định bởi thứ Hai, thứ Ba, thứ Tư, thứ Năm. Bởi những sáng phải thức dậy khi thân xác muốn ngủ thêm. Bởi việc đến đúng giờ. Bởi làm công việc được giao cho đến nơi đến chốn. Bởi trả một món nợ. Bởi không gian lận khi không ai biết. Bởi ngừng nói khi biết câu tiếp theo sẽ làm người khác đau. Bởi kiểm soát một ánh mắt, một cú nhấp chuột, một ham muốn, một cơn nóng. Bởi kiên nhẫn với một người già kể chuyện chậm chạp. Bởi dọn chén sau bữa ăn. Bởi trả lời một tin nhắn cần thiết. Bởi giữ lời đã hứa. Bởi xin lỗi khi sai. Bởi đứng dậy sau khi phạm tội để đi xưng tội thay vì buông xuôi. Bởi cầu nguyện năm phút thật lòng thay vì mơ về một giờ cầu nguyện mà chẳng bao giờ làm. Bởi tiếp tục tử tế với một người chưa từng biết ơn. Bởi từ chối nói xấu dù nhóm bạn đang rất hào hứng. Bởi không chia sẻ một tin chưa kiểm chứng. Bởi làm điều đúng dù thiệt cho mình. Đó là “hằng ngày”. Nó bình thường đến độ ta dễ coi thường. Nhưng Nước Trời thường lớn lên trong những điều bình thường ấy.

Chúng ta thường nghĩ thập giá phải là cái gì gây đau. Không hẳn. Thập giá trước hết là nơi tình yêu phải trả giá. Mà tình yêu chân thật luôn có giá. Yêu một người nghĩa là thời gian của ta không còn hoàn toàn thuộc về ta. Làm cha mẹ nghĩa là nhiều đêm ngủ của ta không còn thuộc về ta. Kết hôn nghĩa là ta không thể lúc nào cũng chỉ hỏi “tôi muốn gì?” Đời tu nghĩa là ta từ bỏ nhiều khả năng chính đáng để thuộc về Chúa theo một cách riêng. Linh mục trao cả đời để trở nên người của cộng đoàn và của bàn thờ. Người phục vụ người nghèo trao thời giờ. Người chăm bệnh nhân trao sức lực. Người tha thứ trao quyền trả đũa. Người giữ lòng trong sạch từ bỏ những thỏa mãn trái với tình yêu. Người nói thật từ bỏ lợi ích của gian dối. Người trung thành với bổn phận từ bỏ cám dỗ bỏ cuộc mỗi khi chán. Thập giá xuất hiện ở điểm tình yêu đòi ta bước ra khỏi cái tôi.

Nhưng ở đây cần một phân biệt rất quan trọng: từ bỏ mình không có nghĩa là hủy bỏ chính mình. Chúa nói “từ bỏ mình”, không nói “khinh ghét mình”. Đức Kitô không đến để phá hủy nhân vị; Người đến để cứu nhân vị. Người không biến môn đệ thành những con người không có ý chí, không có nhu cầu, không có giới hạn, không có cảm xúc. Chính Chúa Giêsu có ý muốn. Trong Vườn Dầu, Người nói rất rõ: “Xin cất chén này xa Con.” Người có cảm xúc: Người vui, buồn, giận, khóc, mệt, đói, khát. Người cần nghỉ. Người lên thuyền tìm nơi vắng. Người ngủ. Người có những người bạn thân. Người tránh đám đông khi chưa đến giờ. Người không chữa mọi bệnh nhân trên toàn Palestina. Người không đáp ứng mọi đòi hỏi người ta đặt lên Người. Người yêu đến tận cùng nhưng không sống như một người không có ranh giới.

Bởi vậy, “từ bỏ mình” phải được hiểu đúng. Đó là từ bỏ cái tôi muốn làm chúa. Từ bỏ đòi hỏi mọi sự phải xoay quanh ý mình. Từ bỏ nhu cầu phải luôn đúng. Từ bỏ thói quen dùng người khác để phục vụ cái tôi. Từ bỏ sự dính bén làm ta không còn tự do trước tiền bạc, danh tiếng, quyền lực, khoái lạc, sự công nhận. Từ bỏ cái tôi muốn kiểm soát Thiên Chúa. Nhưng không phải từ bỏ phẩm giá. Không phải từ bỏ khả năng suy nghĩ. Không phải chấp nhận bị lạm dụng. Không phải coi sức khỏe là vô nghĩa. Không phải từ chối nghỉ ngơi. Không phải để bất cứ ai nhân danh Chúa bắt ta chịu những điều trái với lẽ phải. Có những người mang một lương tâm bệnh hoạn vì đã nghe sai về Thánh Giá. Họ tưởng càng đau càng thánh. Họ cảm thấy có lỗi khi vui. Họ sợ nghỉ ngơi vì nghĩ nghỉ là ích kỷ. Họ không dám nói “không” vì nghĩ Kitô hữu phải chịu mọi sự. Họ ở trong những mối quan hệ độc hại mà không tìm trợ giúp vì nghĩ đó là “thập giá Chúa gửi”. Không. Thập Giá Đức Kitô cứu con người khỏi sự dữ; nó không phong thánh cho sự dữ. Đức Giêsu chịu khổ vì yêu và vì trung thành với chân lý, không phải vì Người thích đau khổ. Kitô giáo không thờ đau khổ. Kitô giáo thờ Đấng đã đi vào đau khổ để biến nó thành con đường tình yêu và sự sống.

Có những cái ách ta cần tháo xuống chứ không phải vác. Một người bị bạo hành cần được bảo vệ chứ không được khuyên “cố chịu vì Chúa”. Một người kiệt sức cần nghỉ ngơi, cần chữa trị, cần sắp xếp lại đời sống, chứ không phải tiếp tục tự vắt kiệt mình để chứng minh sự hy sinh. Một người bị giao quá nhiều trách nhiệm có thể cần học nói “không”. Một người đang sống dưới sự thao túng có thể cần dựng lại ranh giới. Một người có vấn đề tâm lý cần được giúp đỡ chuyên môn; đi trị liệu không phải là thiếu đức tin. Một người bệnh cần uống thuốc. Một người tu sĩ cần ngủ. Một linh mục cần ngày nghỉ. Một người mẹ cần có lúc nhờ người khác trông con. Một người đang đau cần được khóc. Chúa Giêsu không cứu chúng ta bằng cách dạy ta giả vờ không đau. Người cứu ta bằng cách đi vào nơi ta đau và ở đó với ta.

Vậy làm sao phân biệt đâu là thập giá cần vác và đâu là ách sai cần tháo? Một tiêu chuẩn có thể rất hữu ích: Thập Giá của Đức Kitô dẫn sâu hơn vào sự thật và tình yêu, dù có đau. Ách của sự dữ dẫn vào dối trá, hủy hoại và mất phẩm giá. Thập Giá có thể làm ta mệt nhưng sâu xa làm ta tự do hơn. Ách độc hại làm ta ngày càng sợ hãi, nhỏ bé, bị kiểm soát. Thập Giá có thể đòi ta ở lại trong một bổn phận khó, nhưng không biến ta thành đồ vật cho người khác sử dụng. Thập Giá có thể đòi tha thứ, nhưng tha thứ không có nghĩa xóa bỏ mọi hậu quả hay để người gây hại tiếp tục gây hại. Thập Giá có thể đòi kiên nhẫn với một người khó tính, nhưng không đòi ta chịu bạo lực. Thập Giá đòi chết cho cái tôi ích kỷ, không đòi chết cho phẩm giá Thiên Chúa đã ban.

Một trong những thập giá khó nhất mỗi ngày là chấp nhận giới hạn. Ta muốn làm nhiều hơn sức. Ta muốn cứu những người ta yêu. Ta muốn giải quyết hết mọi vấn đề. Ta muốn mọi người hiểu mình. Ta muốn người khác thay đổi nhanh hơn. Ta muốn cầu nguyện một lần rồi hết yếu đuối. Ta muốn sau một lần xưng tội sẽ không còn bị cám dỗ. Ta muốn sau một khóa tĩnh tâm sẽ trở thành thánh. Nhưng Chúa thường thánh hóa ta rất chậm. Người dạy ta đi từng bước. Chúng ta phải học vác cả sự chậm chạp ấy. Có những người đau vì con cái đi sai đường. Họ đã khuyên, đã khóc, đã cầu nguyện. Cuối cùng họ phải học rằng mình là cha mẹ chứ không phải là Đấng Cứu Thế. Có những mục tử đau vì cộng đoàn không như mong ước. Họ phải học rằng Hội Thánh là của Chúa, không phải dự án cá nhân. Có những người đau vì người bạn đời không thay đổi. Họ phải phân định điều gì mình có trách nhiệm làm và điều gì phải giao cho Thiên Chúa. Đôi khi thập giá là phải buông điều ta không thể kiểm soát.

Thập giá hằng ngày còn là học ở lại. Ở lại với một quyết định tốt khi sự hứng khởi ban đầu qua đi. Ở lại trong lời khấn. Ở lại trong lời hứa. Ở lại bên một người bệnh. Ở lại với một cộng đoàn. Ở lại với giờ cầu nguyện. Ở lại với bổn phận. Tất nhiên có những hoàn cảnh buộc phải rời đi vì sự thật và sự an toàn, nhưng trong rất nhiều tình huống bình thường, cám dỗ của ta là bỏ ngay khi khó. Văn hóa hiện đại rất giỏi dạy con người đổi. Điện thoại chậm thì đổi. Ứng dụng không thích thì xóa. Nội dung không hấp dẫn thì lướt qua. Người ta cũng dễ mang não trạng ấy vào tương quan: khó chịu thì rời, chán thì đổi, bị tổn thương thì cắt. Nhưng tình yêu giao ước có một từ rất khác: ở lại. Đức Maria đứng dưới chân Thập Giá. Người môn đệ được yêu đứng đó. Họ không giải quyết được gì. Họ chỉ ở lại. Có những lúc sự hiện diện trung thành chính là một hình thức thánh thiện.

“Hằng ngày” cũng có nghĩa là mỗi ngày phải bắt đầu lại. Hôm qua vác tốt không bảo đảm hôm nay sẽ vác tốt. Hôm qua cầu nguyện sốt sắng không miễn ta khỏi giờ cầu nguyện hôm nay. Hôm qua ta đã tha thứ nhưng hôm nay ký ức lại đau. Ta lại phải tha thêm một lần. Hôm qua ta quyết sống khiêm tốn nhưng sáng nay có người chạm tự ái, ta lại phải bắt đầu. Hôm qua ta ăn uống điều độ, hôm nay lại phải chọn. Hôm qua ta chiến thắng cơn giận, hôm nay lại có thử thách khác. Đời thiêng liêng không phải là một chiến thắng duy nhất. Nó là hàng ngàn lần quay về. Chính chữ “hằng ngày” bảo vệ ta khỏi tuyệt vọng. Nếu hôm qua ta ngã, hôm nay vẫn là một ngày mới. Chúa không nói: “Ai một lần vác thập giá hoàn hảo thì theo Tôi.” Người nói “hằng ngày”. Nghĩa là hôm nay ta lại có thể bắt đầu.

Thập giá hằng ngày nhiều khi đến qua những điều ta không chọn, nhưng cũng nhiều khi đến qua những chọn lựa yêu thương rất chủ động. Ta không nên ngồi đợi thập giá rơi xuống đầu. Có những hy sinh ta tự do đón nhận vì yêu. Nhịn một lời để giữ hòa khí. Dành thời gian thăm người cô đơn. Bớt một khoản chi để giúp người nghèo. Tắt điện thoại để lắng nghe một người. Dậy sớm cầu nguyện. Giữ chay. Tập tiết độ. Chọn làm việc khó nhưng cần. Dành thời gian học hỏi để phục vụ tốt hơn. Bỏ một thói quen làm mình lệ thuộc. Đây không phải là tìm đau khổ vì đau khổ. Đây là huấn luyện con tim để nó tự do. Một vận động viên chịu kỷ luật không phải vì ghét cơ thể nhưng vì muốn cơ thể đạt đến điều lớn hơn. Người môn đệ cũng thế. Kỷ luật Kitô giáo không nhằm nghiền nát tự do nhưng nhằm giải phóng tự do khỏi những cơn thèm và những xung động nhỏ.

Đặc biệt, có một thập giá rất âm thầm là phải sống với chính mình. Ta có thể đổi công việc, đổi nhà, đổi cộng đoàn, đổi môi trường; nhưng đi đâu ta cũng mang bản thân theo. Những vết thương chưa chữa, lòng ghen chưa nhận, sự kiêu ngạo chưa đối diện, nỗi sợ chưa gọi tên, chúng đi theo. Nhiều người nghĩ vấn đề nằm hết ở người khác. Nhưng càng trưởng thành, ta càng nhận ra có những điều Chúa muốn làm không phải bằng cách đổi hoàn cảnh, mà bằng cách đổi ta ở trong hoàn cảnh. Có một câu hỏi đáng sợ nhưng cứu độ: “Điều gì trong tôi cần chết để Đức Kitô sống rõ hơn?” Có thể là nhu cầu kiểm soát. Có thể là thói tự thương hại. Có thể là sự cay đắng. Có thể là việc luôn muốn người khác công nhận. Có thể là một hình ảnh lý tưởng về bản thân mà ta phải bảo vệ bằng mọi giá. Có thể là tham vọng phải thành công. Có thể là thói so sánh. Có thể là một mối giận mà ta dùng để định nghĩa mình. Vác thập giá là để những cái ấy bị đóng đinh dần dần.

Nhưng phải nhớ: cái chết Kitô giáo luôn hướng đến phục sinh. Nếu một kiểu “hy sinh” làm ta ngày càng khép kín, cay đắng, kiêu ngạo, thì phải xem lại. Người thật sự vác Thập Giá với Đức Kitô không trở nên cứng như đá. Họ thường mềm hơn. Họ biết thương người đau. Họ bớt xét đoán. Họ không còn cần chứng minh mình. Họ có một thứ bình an rất lạ. Không phải vì đời dễ, mà vì họ không còn đánh nhau với mọi điều không theo ý mình. Họ biết có những trận phải chiến đấu và có những điều phải trao. Họ biết lúc nói và lúc im. Họ biết khóc mà không tuyệt vọng. Họ biết vui mà không cảm thấy có lỗi. Đó là hoa trái của Thập Giá được vác trong hiệp thông với Chúa, chứ không phải chỉ nghiến răng chịu.

Thập giá hằng ngày cũng làm chúng ta ra khỏi ảo tưởng rằng mình có thể tự cứu mình. Có những ngày ta làm rất tốt và dễ kiêu. Rồi Chúa để ta thấy lại sự yếu đuối. Ta tưởng mình đã hết nóng; rồi một câu nói làm ta nổi giận. Ta tưởng mình đã tha; rồi ký ức trở về. Ta tưởng mình khiêm; rồi bị người khác xem thường mới thấy lòng mình đau thế nào. Những thất bại ấy không nhất thiết có nghĩa ta đi lùi. Đôi khi chúng là ánh sáng. Chúa cho ta thấy sự thật sâu hơn về mình để ta bớt tin vào sức riêng. Phêrô phải khóc sau ba lần chối Thầy. Sau đó ông mới có thể trở thành người chăn chiên không dựa vào sự tự tin của mình nhưng dựa vào lòng thương xót. Có những thập giá Chúa không lấy đi ngay vì chính nơi ấy Người giữ ta ở lại trong sự nghèo khó trước mặt Người.

Trong đời mục vụ, có một thập giá đặc biệt là làm điều tốt mà không thấy kết quả. Ta gieo mà không được gặt. Ta giảng mà người ta vẫn thế. Ta khuyên mà người ta không nghe. Ta cầu nguyện mà hoàn cảnh chưa đổi. Ta yêu thương một người nhưng họ không hiểu. Ta phục vụ nhiều năm rồi bị quên. Ta làm một việc trong âm thầm và người khác nhận lời khen. Những lúc ấy, cám dỗ rất lớn là hỏi: “Có đáng không?” Thập Giá trả lời bằng chính sự hiện diện của nó. Theo tiêu chuẩn của chiều thứ Sáu Tuần Thánh, sứ vụ của Đức Giêsu có vẻ thất bại. Người bị bỏ, bị giết, bị đặt trong mồ. Nhưng tình yêu không được đo bằng kết quả tức thời. Một hạt lúa phải chết trong đất. Có những công việc của ta có thể chỉ sinh trái sau khi ta không còn ở đó. Vác thập giá hằng ngày là làm điều đúng vì nó đúng, yêu vì tình yêu là ý Chúa, không mặc cả rằng Chúa phải cho ta thấy thành công ngay.

Có một thập giá khác cũng rất thật: bị hiểu lầm. Không ai thích. Ta muốn giải thích. Muốn tự bảo vệ. Muốn người ta biết sự thật. Có lúc cần nói để bảo vệ công lý. Nhưng cũng có lúc càng giải thích càng rối. Đức Giêsu đã có lúc im lặng trước những lời cáo buộc. Người không biến đời mình thành một chiến dịch quản trị hình ảnh. Vác thập giá có khi là để Thiên Chúa biết mình ngay cả khi một số người hiểu sai. Đây là điều cực khó đối với thời đại của mạng xã hội, nơi con người dễ sống dưới ánh mắt của đám đông. Một bình luận tiêu cực có thể chiếm cả tâm trí. Một lời đồn có thể làm ta mất ngủ. Ta muốn đính chính tất cả. Nhưng nếu phải sống để điều khiển mọi cách người khác nghĩ về mình, ta sẽ thành nô lệ. Chỉ có một ánh mắt cuối cùng ta phải sống trước: ánh mắt Thiên Chúa.

“Hằng ngày” còn là nhận từng ngày như một phần đời đủ cho ta sống. “Ngày nào có cái khổ của ngày ấy.” Ta thường vác cả thập giá của ngày mai khi Chúa chỉ trao thập giá hôm nay. Ta sợ bệnh sẽ nặng thế nào, con cái sẽ ra sao, tiền bạc tương lai thế nào, tuổi già sẽ thế nào, cộng đoàn rồi sẽ thế nào. Đầu óc ta dựng ra hàng chục cây thập giá chưa có thật rồi cố vác cùng lúc. Vì thế ta kiệt sức trước khi sự việc xảy ra. Chúa nói “hằng ngày” như thể dạy ta chia nhỏ đời sống thành từng ngày ân sủng. Hôm nay đủ cho hôm nay. Sáng nay, con cần trung tín đến trưa. Chiều nay, con cần yêu đến tối. Đêm nay, con giao ngày mai cho Cha. Ân sủng thường được ban theo ngày, giống manna trong sa mạc. Dân Israel không được tích trữ quá mức. Mỗi sáng lại nhặt. Người môn đệ cũng vậy. Chúng ta không được ban một kho sức mạnh đủ cho ba mươi năm. Ta được ban đủ cho hôm nay. Ngày mai, nếu ta còn sống, sẽ có ân sủng của ngày mai.

Và đôi khi vác thập giá hằng ngày rất đơn giản là chấp nhận hôm nay mình chỉ có thể làm ít hơn hôm qua. Người trẻ thường nghĩ hy sinh là làm thật nhiều. Người già có thể phải học một kiểu hy sinh khác: cho phép mình không làm được nữa. Một người từng phục vụ rất mạnh mẽ nay bệnh phải nằm một chỗ; nếu họ chỉ định nghĩa giá trị đời mình bằng năng suất, họ sẽ đau gấp đôi. Nhưng trong Đức Kitô, có một sự sinh hoa trái không lệ thuộc vào hoạt động. Một người nằm trên giường bệnh có thể trở thành một nhà truyền giáo bằng sự phó thác. Một người không còn nói được nhiều có thể rao giảng bằng bình an. Một người già cầu nguyện cho gia đình có thể đang nâng đỡ cả những điều mình không nhìn thấy. Thập giá tuổi già có thể là trao lại vai trò, chấp nhận người trẻ làm khác, thôi kiểm soát, tập đón nhận sự chăm sóc. Đó cũng là kenosis, sự tự hủy theo gương Đức Kitô.

Có lẽ điều đẹp nhất trong lời “vác thập giá mình hằng ngày mà theo Tôi” là ba chữ cuối: “theo Tôi”. Kitô giáo không phải là một chương trình chịu đựng. Chúa không đứng xa chỉ vào cây thập giá rồi nói: “Vác đi.” Người đi trước. Thập giá ta chỉ có ý nghĩa Kitô giáo nếu được vác sau lưng Người. Nếu không có “theo Tôi”, lời mời gọi chỉ còn là chủ nghĩa khổ hạnh lạnh lùng. Nhưng có Đức Giêsu đi trước, con đường đổi khác. Người biết mệt. Người biết ngã. Người biết bị phản bội. Người biết cô đơn. Người biết thân xác đau. Người biết bị hiểu sai. Người biết sợ chết. Vì thế khi ta vác thập giá, ta không giải thích đau khổ cho một Thiên Chúa chưa từng đau. Ta đi cùng một Thiên Chúa đã mang thương tích.

Và hơn nữa, Người không chỉ đi trước; Người còn ở trong ta. Phaolô nói: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.” Có những thập giá vượt sức ta. Chúng ta không cần giả vờ mạnh. Simon thành Kyrênê đã phải giúp Đức Giêsu vác thập giá. Chi tiết ấy cũng nói điều rất quan trọng: vác “thập giá mình” không có nghĩa phải vác một mình. Hội Thánh là nơi người này giúp người kia mang gánh nặng. Một người xin giúp đỡ không phải là môn đệ yếu. Một người chia sẻ nỗi đau với bạn hữu không phải là thiếu đức tin. Một người đến với linh hướng, bác sĩ, chuyên viên tâm lý, cộng đoàn, gia đình để xin nâng đỡ đang làm điều rất người và rất Kitô giáo. Đôi khi Chúa chính là người bước đến dưới hình dáng một Simon thành Kyrênê.

Ta cũng có thể là Simon của người khác, nhưng phải cẩn thận: giúp họ vác chứ không giành lấy cuộc đời họ. Có những kiểu giúp đỡ làm người khác yếu đi vì ta làm thay mọi thứ. Tình yêu trưởng thành biết nâng đỡ mà vẫn tôn trọng tự do. Cha mẹ không thể sống cuộc đời của con. Linh mục không thể quyết định thay lương tâm của giáo dân. Người bạn không thể chữa hết mọi vết thương của bạn mình. Chúng ta đi cạnh nhau, không thay thế nhau. Mỗi người cuối cùng đều phải thưa “xin vâng” với Thiên Chúa bằng tự do của chính mình.

Trong thực hành, vác thập giá hằng ngày có thể bắt đầu bằng một câu hỏi rất đơn giản mỗi sáng: “Lạy Chúa, hôm nay thập giá của con là gì?” Đừng lập tức tìm điều to. Có thể câu trả lời là: kiên nhẫn với người này. Làm công việc kia cho tử tế. Không than phiền. Gọi điện cho cha mẹ. Đi khám bệnh. Uống thuốc đúng giờ. Xin lỗi. Hoàn thành bổn phận. Không quay lại một thói quen xấu. Dành thời gian cầu nguyện. Tha thứ thêm một chút. Chấp nhận rằng kế hoạch hôm nay bị thay đổi. Đừng tìm thập giá ngày mai. Hỏi Chúa về hôm nay.

Buổi tối, lại có thể hỏi: “Con đã vác thế nào?” Không phải để kết án mình. Để nhìn thấy ân sủng. Có thể ta đã vác rất vụng. Có lúc ta quăng xuống. Có lúc ta than. Có lúc ta làm người khác đau. Thì xin lỗi Chúa và bắt đầu lại. Thánh thiện không phải là chưa từng làm rơi thập giá. Thánh thiện là mỗi lần rơi lại để Chúa đỡ đứng dậy. Đường Thánh Giá của Chúa có ba lần ngã theo truyền thống đạo đức. Ngã không xóa con đường. Điều quyết định là Người đứng dậy và tiếp tục đi vì yêu.

Sau cùng, “vác thập giá mình hằng ngày” không phải là lời mời sống một cuộc đời u tối. Nghịch lý của Tin Mừng là chính khi cái tôi ích kỷ chết đi, niềm vui sâu hơn được sinh ra. Người sống chỉ để tránh mọi khó chịu sẽ ngày càng mong manh. Người sống chỉ để tìm dễ chịu sẽ không bao giờ đủ. Nhưng người biết trao mình vì yêu sẽ gặp một niềm vui mà thế gian không tạo được. Một người mẹ mệt nhưng nhìn con ngủ có thể có niềm vui ấy. Một linh mục sau một ngày kiệt sức nhưng biết một người đã được hòa giải với Chúa có thể có niềm vui ấy. Một người đã tha thứ sau nhiều năm có thể cảm được sự tự do ấy. Một người đã trung thành qua một giai đoạn khô khan có thể nhận ra lòng mình sâu hơn. Thập Giá không phải ngõ cụt. Sau Thập Giá là Phục Sinh. Nhưng muốn đến sáng Phục Sinh, không thể bỏ qua chiều thứ Sáu.

Có lẽ ta đã nhiều lần cầu: “Lạy Chúa, xin cất thập giá này đi.” Lời cầu ấy không sai. Chính Chúa Giêsu đã cầu như thế. Nhưng rồi đời Kitô hữu dần dần học thêm một lời cầu khác: “Lạy Chúa, nếu cây thập giá này chưa được cất đi, xin đừng để con vác nó một mình. Xin dạy con vác sao cho nó không làm con cay đắng. Xin đừng để nỗi đau biến con thành người gây đau. Xin cho con nhận ra đâu là thập giá phải ôm và đâu là cái ách phải tháo. Xin cho con biết yêu bản thân đúng cách để có thể từ bỏ cái tôi sai cách. Xin cho con biết nghỉ khi phải nghỉ, chiến đấu khi phải chiến đấu, im lặng khi phải im lặng, nói khi phải nói, ở lại khi phải ở lại và ra đi khi sự thật đòi con phải ra đi. Xin cho con đừng vác ngày mai trước giờ. Xin cho con đủ ân sủng cho hôm nay.”

Và có thể đó là điều Chúa mong nhất nơi ta: không phải ta hứa sẽ anh hùng suốt đời. Chỉ cần hôm nay. Hôm nay bước sau Người một bước. Hôm nay đừng bỏ Người. Hôm nay mang phần được trao. Hôm nay đứng dậy nếu đã ngã. Hôm nay làm điều thiện đang nằm trước mặt. Hôm nay yêu người đang ở bên cạnh. Hôm nay từ bỏ một chút cái tôi. Hôm nay tin thêm một chút. Hôm nay trao thêm một chút. Rồi sáng mai lại bắt đầu.

Bởi vì cuối cùng, cây thập giá không được vác bằng sức của một quyết tâm khổng lồ kéo dài cả đời. Nó được vác bằng hàng ngàn tiếng “xin vâng” nhỏ. Xin vâng khi tỉnh dậy. Xin vâng trong gian bếp. Xin vâng trên bàn làm việc. Xin vâng ở giường bệnh. Xin vâng trong cộng đoàn. Xin vâng giữa một cuộc tranh luận. Xin vâng khi bị hiểu lầm. Xin vâng khi phải xin lỗi. Xin vâng khi phải nhận mình già. Xin vâng khi phải buông một điều. Xin vâng khi phải bắt đầu lại. Những tiếng “xin vâng” ấy có thể không ai nghe. Nhưng chúng ghép lại thành một cuộc đời môn đệ.

Một ngày nào đó, khi con đường hoàn tất, ta có thể ngạc nhiên nhận ra rằng những điều nhỏ bé mình từng nghĩ chẳng đáng kể lại chính là nơi Thiên Chúa làm công việc sâu nhất. Những lần không trả đũa. Những buổi sáng vẫn cầu nguyện. Những bữa cơm vẫn nấu. Những viên thuốc vẫn uống. Những lời xin lỗi vẫn nói. Những người vẫn chăm. Những lời hứa vẫn giữ. Những giọt nước mắt vẫn dâng. Những ngày tưởng như giống hệt nhau lại chính là những viên đá xây nên sự thánh thiện.

“Vác thập giá mình hằng ngày” vì thế không có nghĩa là mỗi ngày phải đi tìm đau khổ. Nó có nghĩa là mỗi ngày hãy yêu đủ thật để chấp nhận cái giá của tình yêu; hãy sống đủ thật để không chạy trốn bổn phận; hãy khiêm tốn đủ để nhận giới hạn; hãy tự do đủ để từ chối những cái ách không đến từ Chúa; hãy tin đủ để không tuyệt vọng khi ngã; và hãy ở gần Đức Kitô đủ để mỗi cây thập giá cuối cùng trở thành một con đường.

Thập giá của hôm nay có thể rất nhỏ. Đừng coi thường nó. Đặt nó lên vai. Nhìn Đấng đang đi trước. Và bước.

Ngày mai, nếu Chúa cho thêm một ngày, ta lại vác.

Bởi vì con đường nên thánh không chỉ đi qua những giờ phút ta sẵn sàng chết cho Chúa. Nó đi qua vô số ngày rất bình thường trong đó ta học sống cho Chúa.

Lm. Anmai, CSsR

CHƯƠNG IX. THÁNH GIÁ TRONG GIA ĐÌNH

Gia đình là nơi người ta học yêu đầu tiên, và cũng là nơi người ta dễ bị thương nhất. Ta có thể giữ khoảng cách với một người ngoài, có thể thôi gặp một người bạn, có thể rời khỏi một môi trường, nhưng gia đình đi theo ta rất sâu. Ta không chọn cha mẹ sinh ra mình. Ta không chọn anh chị em của mình. Cha mẹ không thể chọn tính khí của từng đứa con. Vợ chồng khi bước vào hôn nhân cũng không bao giờ biết hết con người thật của nhau. Ta không điều khiển được bệnh tật sẽ ghé vào gia đình lúc nào, không biết con cái lớn lên sẽ chọn điều gì, không thể viết lại những năm tháng đã qua, không thể bắt người khác phải trưởng thành đúng lúc mình muốn. Vì thế, gia đình vừa là trường học tình yêu, vừa là nơi thánh giá gần nhất, thường xuyên nhất và khó yêu nhất. Những thánh giá ngoài đời đôi khi còn cho ta cơ hội nghỉ ngơi, nhưng thánh giá trong gia đình thường ngồi cùng bàn ăn, ngủ dưới cùng mái nhà, hiện diện trong những câu nói quen thuộc, trong những im lặng dài, trong ánh mắt của người ta đã biết quá rõ. Có những thánh giá gia đình không ồn ào, không ai ngoài nhà biết, nhưng mỗi ngày lấy đi một chút sức của người mang nó. Một người vợ sống bên người chồng ngày càng bệnh nặng. Một người chồng nhìn vợ thay đổi sau nhiều năm đau yếu. Một người mẹ đêm nào cũng thức chờ đứa con chưa chịu quay về. Một người cha không biết làm sao nói với con rằng mình thương nó. Một người con trưởng thành vẫn mang vết thương từ những lời cha mẹ nói hàng chục năm trước. Một gia đình vẫn đi lễ chung nhưng lâu rồi không còn thật sự nói chuyện với nhau. Một người góa bụa mỗi tối vẫn vô thức quay sang phía giường trống. Một đôi vợ chồng nhiều năm mong con mà mỗi lần nghe tin ai có thai lại vừa mừng cho người ta vừa đau cho mình. Một người mẹ có đứa con bỏ đạo. Một người cha nhìn đứa con thành công nhưng xa gia đình, xa đức tin, xa mọi điều ông từng gieo. Gia đình là nơi những thánh giá ấy có khuôn mặt, có tên, có lịch sử. Và chính vì vậy, gia đình cũng là nơi Thánh Giá Đức Kitô có thể trở nên rất thật.

  1. THÁNH GIÁ CỦA SỰ TRUNG THÀNH

Hôn nhân Công Giáo mang hình Thánh Giá không phải vì Giáo Hội thích đặt gánh nặng lên đời người, càng không phải vì Giáo Hội cho rằng càng đau khổ thì càng thánh thiện. Hôn nhân mang hình Thánh Giá bởi vì mọi tình yêu muốn đi đến cùng đều phải học tự hiến. Ngày cưới là ngày vui, và niềm vui ấy là thật. Những bó hoa, những lời chúc, chiếc nhẫn, lời hứa trước bàn thờ, tiếng cười của gia đình, bữa tiệc, những tấm hình đẹp, tất cả đều thật. Nhưng ngày cưới không phải toàn bộ hôn nhân. Hôn nhân thật bắt đầu rất nhiều sau khi hoa đã tàn, khách đã về, áo cưới đã cất, những bức hình đã nằm trong album. Hôn nhân thật bắt đầu khi hai con người không còn đứng trước đám đông mà đứng trước nhau trong đời thường, khi mỗi người bắt đầu thấy không chỉ những nét đáng yêu mà cả những giới hạn, vết thương, thói quen khó chịu, sự ích kỷ, tính nóng nảy, nỗi sợ, những điều mình từng tưởng người kia sẽ thay đổi nhưng không thay đổi. Khi ấy, lời hứa “khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi mạnh khỏe cũng như lúc đau yếu” bắt đầu mang trọng lượng. Trung thành trong ngày vui không khó. Trung thành khi cảm xúc xuống mới khó. Trung thành khi người kia không còn làm mình rung động như những năm đầu mới khó. Trung thành khi kinh tế kiệt quệ, khi công việc thất bại, khi một người bệnh lâu năm, khi nhan sắc đổi thay, khi tuổi tác làm tính tình khác đi, khi cuộc sống đầy những việc nhỏ nhàm chán mới khó. Nhưng chính ở những chỗ ấy, tình yêu thôi là một cảm xúc và bắt đầu trở thành một hành vi tự hiến. Có khi tình yêu trong hôn nhân không còn được diễn tả bằng những lời lãng mạn mà bằng việc người này thức đêm đưa thuốc cho người kia, bằng việc đi làm về vẫn bước vào bếp, bằng việc nhẫn nại nghe một câu chuyện đã nghe nhiều lần, bằng việc đỡ người bạn đời đi từng bước sau một cơn tai biến, bằng việc ngồi im bên nhau trong một ngày chẳng ai biết nói gì. Có những cuộc hôn nhân không còn rực rỡ bên ngoài nhưng lại rất đẹp trước mặt Thiên Chúa, vì một người đã học yêu người kia không bằng cảm giác mà bằng sự hiện diện.

Tuy nhiên, cần nói rõ: trung thành không đồng nghĩa với chịu bạo hành. Thánh Giá không bao giờ được dùng để buộc một người tiếp tục chịu đánh đập, lạm dụng, đe dọa, hủy hoại nhân phẩm hay đặt bản thân và con cái trong nguy hiểm. Nói với một nạn nhân rằng “hãy vác thánh giá của mình” trong khi bỏ mặc họ dưới bạo lực là xúc phạm chính Thánh Giá. Đức Kitô chịu đóng đinh để giải thoát con người khỏi sự dữ, không phải để hợp thức hóa sự dữ. Trung thành Kitô giáo cần đi cùng sự thật, công lý, ranh giới lành mạnh và sự phân định. Có những lúc yêu một người nghĩa là không tiếp tục che giấu điều sai của họ. Có những lúc bảo vệ gia đình nghĩa là phải tìm sự giúp đỡ, phải tách mình khỏi nguy hiểm, phải đặt giới hạn rõ ràng. Không phải mọi chịu đựng đều là thánh giá Chúa muốn. Có những chịu đựng chỉ kéo dài sự dữ. Nhưng bên ngoài những hoàn cảnh bạo lực ấy, vẫn còn biết bao thánh giá bình thường của đời sống chung: khác tính, khác thói quen, khác cách chi tiêu, khác cách nuôi con, khác tốc độ trưởng thành, khác nhu cầu tình cảm, khác cách diễn tả yêu thương. Những điều ấy không hào hùng, nhưng chính chúng làm hôn nhân trở thành một trường học của Thánh Giá.

Nhiều người bước vào hôn nhân với một ảo tưởng: người kia sẽ làm tôi hạnh phúc. Nhưng hôn nhân Kitô giáo đặt một câu hỏi khác: tôi sẽ học yêu người này thế nào? Hạnh phúc không biến mất, nhưng trọng tâm thay đổi. Khi cả hai chỉ hỏi “anh/chị có làm tôi hạnh phúc không?”, hôn nhân rất dễ trở thành nơi mặc cả. Khi cả hai bắt đầu hỏi “hôm nay tôi có thể trao chính mình thế nào?”, hôn nhân bước vào logic Thánh Giá. Đức Kitô không hỏi các môn đệ: các con đã làm cho Thầy đủ hạnh phúc chưa? Người rửa chân cho họ ngay cả khi biết họ sẽ bỏ mình. Đó không có nghĩa người vợ hay người chồng phải chấp nhận mọi lỗi lầm của nhau mà không lên tiếng. Tình yêu thật biết nói sự thật. Nhưng sự thật ấy được nói để cứu, không để nghiền nát. Một người vợ có thể nói với chồng rằng anh đang làm mình tổn thương mà vẫn yêu anh. Một người chồng có thể đặt giới hạn với hành vi sai trái của vợ mà vẫn trung thành với giao ước. Thánh Giá không giết tiếng nói. Thánh Giá thanh luyện tiếng nói khỏi thù hận.

Hôn nhân nhiều khi không chết vì một biến cố lớn mà vì vô số điều nhỏ. Một câu nói không được xin lỗi. Một sự coi thường kéo dài. Một thói quen chỉ trích. Một sự lạnh nhạt. Một đời sống quá bận đến mức không còn thời gian nhìn nhau. Một người luôn nghĩ mình đúng. Một người luôn chờ người kia thay đổi trước. Những vết nứt nhỏ nếu không được chữa sẽ lớn dần. Vì vậy, vác thánh giá trong hôn nhân đôi khi không phải chịu đựng thêm, mà là can đảm ngồi xuống và nói thật. Là dám nói “anh sai rồi”. Là dám nói “em đã làm anh đau”. Là dám hỏi “chúng ta còn đang sống như vợ chồng hay chỉ đang ở chung một nhà?”. Là dám tìm người đồng hành, cố vấn, linh mục hay chuyên gia khi cần. Là dám cầu nguyện chung khi đã lâu không còn muốn nhìn nhau. Có những thánh giá không được chữa bằng thêm im lặng. Có những thánh giá cần được mang bằng một cuộc đối thoại thật.

  1. THÁNH GIÁ LÀM CHA MẸ

Sinh một đứa con là chấp nhận trái tim mình từ nay sẽ đi ra ngoài thân thể. Trước khi có con, một người có thể tưởng mình yêu sâu. Nhưng khi có một đứa trẻ, họ bắt đầu hiểu một thứ tình yêu không còn hoàn toàn thuộc quyền kiểm soát. Con đau, cha mẹ đau. Con thất bại, cha mẹ buồn. Con đi xa, cha mẹ nhớ. Con làm điều sai, cha mẹ vừa giận vừa xót. Con trưởng thành, cha mẹ phải học một bài rất khó: yêu mà không sở hữu.

Có những cha mẹ nghĩ rằng nếu mình nuôi con tốt thì con chắc chắn sẽ trở thành người mình mong. Nhưng con cái không phải sản phẩm. Chúng là những con người tự do. Cha mẹ gieo rất nhiều nhưng không thể điều khiển mọi hoa trái. Một người mẹ có thể cầu nguyện suốt hai mươi năm nhưng đứa con vẫn bỏ lễ. Một người cha có thể sống rất tử tế nhưng con vẫn đưa ra lựa chọn sai. Khi ấy, thánh giá làm cha mẹ trở thành một câu hỏi về niềm tin: tôi tin rằng Chúa yêu con tôi còn hơn tôi yêu nó không?

Đức Maria đã đi con đường ấy. Mẹ nhận Con, nuôi Con, giữ Con trong lòng, rồi từng bước phải để Con đi. Khi Chúa Giêsu mười hai tuổi ở lại Đền Thờ, Maria đã không hiểu hết. Khi Chúa bắt đầu sứ vụ, Người đi ra khỏi căn nhà Nadarét. Mẹ không giữ Người lại. Khi Người bị chống đối, Mẹ không thể xóa con đường ấy. Và cuối cùng, Mẹ đứng dưới Thánh Giá. Có lẽ không có thánh giá nào làm cha mẹ sợ hơn việc nhìn con mình đau mà không thể chịu thay. Maria đã trải qua điều đó. Mẹ không tháo được đinh. Không cất được mão gai. Không đuổi được lính. Mẹ chỉ đứng. Nhưng có những lúc đứng lại là hình thức tình yêu lớn nhất ta có thể trao.

Cha mẹ Kitô hữu phải học ba động từ: gieo, cầu và đứng. Gieo bằng đời sống, không chỉ bằng lời. Một đứa trẻ có thể quên nhiều bài giáo lý nhưng sẽ nhớ cha mẹ đối xử với nhau thế nào. Nó sẽ nhớ người cha có biết xin lỗi hay không. Nó sẽ nhớ người mẹ có biết tha thứ hay không. Nó sẽ nhớ tiền bạc có được đặt cao hơn con người hay không. Nó sẽ nhớ khi gia đình gặp khủng hoảng, người lớn chạy đến với Chúa hay chạy vào đổ lỗi nhau. Đức tin của con cái thường được truyền bằng bầu khí hơn bằng bài giảng.

Sau khi gieo, cha mẹ phải cầu. Có những vùng trong đời con cái cha mẹ không thể bước vào. Khi con lớn, có những điều nó không kể. Có những quyết định cha mẹ không thể ép. Chính lúc ấy, lời cầu nguyện trở thành cánh tay dài của tình yêu. Nhiều bà mẹ đã cầu cho con lâu hơn thời gian các bà còn được sống cạnh con. Có những lời cầu không được thấy kết quả ngay. Nhưng cầu nguyện không phải cách điều khiển Thiên Chúa bắt Người làm theo ý cha mẹ. Cầu là trao đứa con lại cho Đấng đã ban nó.

Và rồi phải đứng. Đứng cạnh một đứa con thất bại mà không làm nó xấu hổ thêm. Đứng cạnh đứa con bệnh tật. Đứng gần con khi nó làm sai nhưng vẫn cho nó biết rằng nhà còn cửa để trở về. Đứng mà không đồng lõa với điều xấu. Đứng mà không ngừng nói sự thật. Đứng như người cha trong dụ ngôn đứa con hoang đàng: không chạy theo vào miền xa, không tài trợ cho sự phá phách, nhưng khi con trở về thì cửa nhà vẫn mở.

  1. KHI CON CÁI KHÔNG ĐI THEO CON ĐƯỜNG CHA MẸ MONG

Một trong những thánh giá âm thầm nhất của nhiều gia đình Công Giáo là con cái xa Chúa. Cha mẹ đã rửa tội cho con, cho con học giáo lý, đưa con đi lễ, dạy con cầu nguyện, nhưng rồi một ngày con không còn đi nhà thờ. Có người công khai chống đức tin. Có người không chống nhưng thờ ơ. Có người nói: “Con vẫn tin Chúa, nhưng con không cần Giáo Hội.” Có người sống một đời hoàn toàn khác điều cha mẹ mong.

Đau ở đây không chỉ là lo cho đời con. Đau còn là cảm giác thất bại: “Tôi đã làm sai ở đâu?” Có cha mẹ tự hành hạ mình nhiều năm bằng câu ấy. Tự xét mình là cần. Có thể có những điều phải xin lỗi: đã quá cứng, đã biến đức tin thành ép buộc, đã làm gương không tốt. Nhưng sau khi nhìn nhận phần trách nhiệm của mình, cũng phải nhớ rằng không cha mẹ nào là Thiên Chúa. Con cái có tự do. Ngay cả Thiên Chúa cũng không ép con người yêu Người.

Khi con xa đạo, nhiều cha mẹ càng nói càng làm con xa hơn. Lúc ấy cần phân định lại ngôn ngữ tình yêu. Có khi ít giảng hơn và sống nhiều hơn. Ít kết án hơn và cầu nhiều hơn. Đừng biến mỗi bữa cơm thành tòa án tôn giáo. Đừng để đứa con cảm thấy rằng muốn được cha mẹ yêu thì trước hết phải trở thành đúng mẫu. Chúa Giêsu ngồi ăn với người tội lỗi trước khi đời họ thay đổi.

Điều đó không có nghĩa cha mẹ không còn nói về đức tin. Nhưng lời nói sẽ có sức khác khi phát ra từ sự bình an hơn là hoảng sợ. Một người con có thể đóng cửa trước lý luận, nhưng rất khó quên hình ảnh người mẹ âm thầm cầu nguyện cho mình mà không chì chiết. Rất khó quên người cha vẫn yêu mình khi mình thất bại.

Có những cha mẹ sẽ không thấy con quay về trong đời mình. Đó là một thánh giá rất thật. Họ gieo nhưng không gặt. Nhưng Nước Trời không phụ thuộc vào việc ta có sống đủ lâu để nhìn thấy mùa gặt hay không.

  1. THÁNH GIÁ KHI CON CÁI LÀM TA THẤT VỌNG

Cha mẹ thường có những giấc mơ cho con trước khi con có giấc mơ cho chính nó. Ta mong con học giỏi, có nghề ổn định, lập gia đình tốt, sống đạo tốt, thành người tử tế. Những ước mơ ấy tự chúng không xấu. Nhưng nếu không cẩn thận, tình yêu dễ biến thành dự án. Ta không còn yêu người con đang có, mà yêu hình ảnh đứa con mình muốn có.

Có đứa con học không giỏi. Có đứa con chậm hơn anh chị em. Có đứa con chọn nghề cha mẹ không hiểu. Có đứa con rất khác tính mình. Có đứa con mang những giới hạn khiến cha mẹ phải thay đổi toàn bộ kế hoạch đời mình. Khi ấy, thánh giá không chỉ nằm nơi đứa con. Thánh giá nằm ở việc cha mẹ phải chôn đi hình ảnh đứa con lý tưởng để đón nhận đứa con thật.

Tình yêu trưởng thành nói: “Con không phải là dự án để cha mẹ hoàn thành. Con là một con người mà cha mẹ được trao để yêu, hướng dẫn và rồi một ngày phải để con bước đi.”

  1. THÁNH GIÁ CỦA NHỮNG NGƯỜI CON ĐỐI VỚI CHA MẸ

Nói về gia đình không thể chỉ nói cha mẹ hy sinh. Có những người con mang thánh giá rất nặng vì cha mẹ. Có người lớn lên trong gia đình lạnh lẽo. Có người bị cha mẹ so sánh suốt tuổi thơ. Có người không bao giờ nghe một câu “cha tự hào về con”. Có người mang ký ức về những cuộc cãi vã. Có người bị kiểm soát đến tuổi trưởng thành. Có người phải chăm cha mẹ già trong lúc bản thân cũng kiệt quệ.

Điều răn “thảo kính cha mẹ” không có nghĩa phủ nhận những vết thương thật. Tha thứ không phải nói rằng chuyện xảy ra không nghiêm trọng. Một người có thể kính trọng cha mẹ nhưng vẫn cần đặt ranh giới. Có thể tha thứ nhưng không thể quay lại sự gần gũi như cũ. Có thể yêu nhưng vẫn phải thừa nhận: “Điều cha/mẹ đã làm với con là sai.”

Một trong những việc chữa lành khó nhất là thôi chờ cha mẹ trở thành những người họ chưa bao giờ có khả năng trở thành. Có người năm mươi tuổi vẫn đang chờ người cha tám mươi tuổi nói một câu xin lỗi. Có người cả đời mong mẹ hiểu mình. Có lúc sự bình an chỉ đến khi ta trao nỗi thiếu ấy cho Chúa và nói: “Con sẽ không để đời mình mắc kẹt mãi trong điều con đã không nhận được.”

Điều đó không làm vết thương nhỏ đi. Nhưng nó trao tương lai lại cho ta.

  1. THÁNH GIÁ HIẾM MUỘN

Có những nỗi đau đặc biệt khó nói vì xã hội xem chúng quá bình thường để hiểu, nhưng người mang lại cảm thấy mỗi ngày. Hiếm muộn là một trong những nỗi đau như thế. Một đôi vợ chồng có thể đã cầu rất nhiều, chữa trị rất nhiều, hy vọng nhiều lần rồi thất vọng nhiều lần. Mỗi chu kỳ lại hy vọng. Mỗi kết quả âm tính lại như một cánh cửa đóng.

Điều đau hơn nữa là những câu hỏi vô ý: “Bao giờ có em bé?” “Sao cưới lâu vậy chưa sinh?” “Chắc hai vợ chồng kế hoạch hả?” Người hỏi có thể không có ác ý, nhưng người nghe phải nuốt nỗi đau.

Trong cộng đoàn Kitô hữu, ta cần học một nền văn hóa tế nhị hơn. Không phải nỗi đau nào cũng cần lời khuyên. Không phải cứ nói “Chúa có kế hoạch” là người khác thấy được an ủi. Có những lúc câu đúng thần học nhưng sai thời điểm vẫn có thể làm người ta đau.

Người hiếm muộn cần được nhìn như những con người có đầy đủ phẩm giá và ơn gọi, không phải như một gia đình “thiếu cái gì đó”. Hôn nhân của họ không kém giá trị vì chưa có con. Đời sống họ không vô nghĩa. Khả năng sinh hoa trái của một đời Kitô hữu rộng hơn khả năng sinh học. Tuy vậy, đừng dùng chân lý ấy để vội vàng phủ lên nỗi đau thực. Trước hết phải cho phép họ được buồn.

Có lẽ điều đẹp nhất cộng đoàn có thể làm nhiều lúc chỉ là ngồi cạnh.

  1. THÁNH GIÁ ĐỔ VỠ

Có những cuộc hôn nhân đổ vỡ. Dù lý do là gì, hiếm khi chỉ có một người đau. Vợ chồng đau, con cái đau, cha mẹ hai bên đau, những người thân cũng đau. Và người ly thân hay ly dị nhiều khi còn mang thêm cảm giác xấu hổ khi bước vào nhà thờ, như thể mọi người biết câu chuyện của họ.

Cộng đoàn Kitô hữu phải rất cẩn thận ở đây. Giáo Hội bảo vệ sự bất khả phân ly của hôn nhân, nhưng Giáo Hội không được biến sự thật ấy thành hòn đá ném vào người đang chảy máu. Chúa Giêsu không tương đối hóa sự thật, nhưng Người luôn gặp người cụ thể bằng lòng thương xót.

Một người có hôn nhân tan vỡ có thể mang trong mình hàng trăm câu hỏi. “Tôi đã sai ở đâu?” “Tại sao Chúa không cứu cuộc hôn nhân này?” “Các con sẽ thế nào?” “Tôi còn thuộc về Giáo Hội không?” Có người thậm chí không dám đi lễ vì sợ ánh nhìn người khác.

Yêu Thánh Giá ở đây nghĩa là cộng đoàn biết nói: “Bạn vẫn có chỗ ở đây.” Không đồng nghĩa với việc mọi chọn lựa đều đúng. Nhưng không ai phải đạt đời sống hoàn hảo rồi mới được Hội Thánh yêu.

  1. THÁNH GIÁ GÓA BỤA

Góa bụa có một sự im lặng riêng. Người ngoài thường đến an ủi vài ngày rồi trở về đời sống mình. Người ở lại phải bước vào một ngôi nhà đã khác hẳn. Một chiếc ghế trống. Một đôi dép không còn người mang. Một số điện thoại vẫn nằm trong danh bạ nhưng không thể gọi. Một thói quen nhỏ bỗng trở thành mũi dao.

Người góa không chỉ mất một con người. Họ mất một phần lịch sử chung. Người đã cùng mình nhớ những kỷ niệm mà chẳng ai khác nhớ. Người biết những chuyện nhỏ chẳng cần kể. Người có mặt trong những năm tháng quan trọng. Khi người ấy ra đi, một phần ngôn ngữ của cuộc đời cũng đi theo.

Đức tin vào sự sống lại không xóa nỗi buồn. Ta không nên nói với người góa: “Đừng khóc, người ấy đang ở với Chúa.” Chính Chúa Giêsu đã khóc trước mộ Lazarô dù Người biết Lazarô sẽ sống lại. Nước mắt không chống lại đức tin. Nước mắt có khi là hình thức tình yêu tiếp tục sau cái chết.

Thánh giá góa bụa cần thời gian. Không có lịch trình chuẩn. Có người sau một năm đã có thể nhắc đến người mất với nụ cười. Có người mười năm sau vẫn khóc khi nghe một bài hát quen. Đừng bắt người khác phải đau đúng tốc độ mình cho là hợp lý.

  1. THÁNH GIÁ BỆNH TẬT TRONG GIA ĐÌNH

Khi một người bệnh lâu ngày, cả gia đình bệnh theo một nghĩa nào đó. Lịch sinh hoạt đổi. Tiền bạc đổi. Tâm trạng đổi. Người chăm sóc có thể kiệt sức nhưng không dám nói vì sợ bị coi là ích kỷ. Họ yêu người bệnh, nhưng có những ngày họ chỉ muốn được ngủ một đêm trọn vẹn. Có những lúc họ cáu. Sau đó họ lại tự trách.

Ta cần nói với những người chăm sóc: mệt không có nghĩa là thiếu yêu thương. Chúa Giêsu cũng mệt. Nghỉ ngơi không phản bội người bệnh. Nhờ người khác giúp không phải yếu đuối. Nếu người chăm sóc kiệt quệ hoàn toàn, tình yêu cũng khó tiếp tục lành mạnh.

Thánh Giá trong bệnh tật thường không rực rỡ. Nó là những viên thuốc đúng giờ, những lần thay băng, những chuyến bệnh viện, những đêm thức, những cuộc điện thoại với bác sĩ, những bữa ăn nguội.

Và có khi chính những việc ấy là phụng vụ kín đáo của một gia đình.

  1. THÁNH GIÁ TUỔI GIÀ

Tuổi già đưa vào gia đình một bài học rất khó: chấp nhận sự lệ thuộc. Một người từng mạnh mẽ nay cần người khác dìu. Người từng nuôi con nay phải để con chăm mình. Người từng tự quyết mọi việc nay không còn nhớ rõ. Điều ấy có thể rất nhục đối với người già.

Con cái cũng chịu thách đố. Chăm cha mẹ già có lúc rất mệt. Cha mẹ có thể lặp lại một câu nhiều lần. Có thể khó tính hơn. Có thể không nhớ mình vừa nói gì. Có thể trở thành phụ thuộc.

Một xã hội đánh giá người theo năng suất sẽ rất khó hiểu phẩm giá tuổi già. Nhưng Thánh Giá nói rằng một con người không mất giá trị khi không còn hữu dụng. Đức Kitô trên Thánh Giá không còn “làm” gì theo tiêu chuẩn năng suất. Tay Người bị đóng. Chân Người bị đóng. Nhưng chính lúc ấy Người đang trao ban chính mình.

Người già trong gia đình cũng vậy. Đôi khi đóng góp lớn nhất của họ không còn là lao động mà là sự hiện diện, ký ức, lời cầu nguyện, sự mong manh giúp những người trẻ học yêu.

  1. THÁNH GIÁ CỦA NHỮNG BỮA CƠM IM LẶNG

Có những gia đình không cãi nhau, nhưng đã rất lâu không trò chuyện. Mỗi người một điện thoại. Một người xem tivi. Một người ăn nhanh rồi về phòng. Không có chiến tranh, nhưng cũng không còn hiệp thông.

Thánh giá ở đây là sự xa nhau dù ở chung nhà. Nó rất hiện đại và rất phổ biến.

Có khi cứu một gia đình không bắt đầu bằng điều lớn mà bằng việc đặt điện thoại xuống trong bữa cơm. Hỏi nhau một câu thật. Nghe câu trả lời đến cùng. Không sửa ngay, không phán ngay.

Gia đình được chữa không chỉ bằng những quyết định lớn mà bằng hàng ngàn cử chỉ nhỏ lặp lại.

  1. THÁNH GIÁ CỦA LỜI XIN LỖI

Trong gia đình, câu khó nói nhất đôi khi chỉ có ba chữ: “Tôi xin lỗi.”

Ta dễ xin lỗi người ngoài hơn người nhà. Vì với người nhà, cái tôi có lịch sử dài hơn. Ta nhớ những lần họ cũng sai. Ta sợ rằng nếu mình xin lỗi trước, họ sẽ thắng.

Nhưng tình yêu không phải cuộc thi xem ai thắng.

Một lời xin lỗi đúng lúc có thể cứu nhiều năm. Người cha xin lỗi con không mất uy quyền; ông dạy con thế nào là trách nhiệm. Người chồng xin lỗi vợ không yếu đi. Người vợ thừa nhận mình sai không làm mình nhỏ hơn.

Thánh Giá là nơi Đức Kitô không giữ lấy danh dự cho mình. Gia đình chỉ được chữa khi mỗi thành viên thôi đặt danh dự của cái tôi cao hơn hiệp thông.

  1. THÁNH GIÁ THA THỨ TRONG GIA ĐÌNH

Tha thứ cho người lạ đôi khi dễ hơn người nhà, vì người nhà biết chính xác chỗ nào làm ta đau nhất. Một câu nói của người ngoài có thể quên sau vài ngày. Một câu của cha, mẹ, vợ, chồng hay anh em có thể nhớ ba mươi năm.

Tha thứ trong gia đình vì vậy thường là hành trình lâu dài. Nó không phải một cảm xúc đến trong một lần cầu nguyện. Có người phải tha cùng một ký ức nhiều lần. Mỗi lần nhớ lại, vết đau sống lại, và họ lại phải trao nó cho Chúa.

Tha thứ không luôn đồng nghĩa hòa giải hoàn toàn. Hòa giải cần hai phía. Tha thứ có thể bắt đầu từ một phía. Ta có thể từ bỏ thù hận dù người kia chưa xin lỗi. Nhưng để xây lại lòng tin, người làm sai cần trách nhiệm.

Đây là điểm rất quan trọng. Kitô giáo không dạy lòng tin mù quáng. Tha thứ là ân sủng. Lòng tin phải được xây lại bằng sự thật.

  1. THÁNH GIÁ KHÔNG ĐƯỢC TRUYỀN SANG THẾ HỆ SAU

Một trong những bi kịch gia đình là những vết thương được truyền từ đời này sang đời khác. Một người cha từng bị đánh khi nhỏ rồi đánh con. Một người mẹ từng bị khinh thường rồi vô thức khinh con. Một gia đình quen không nói cảm xúc thì thế hệ sau cũng không biết nói.

Thánh Giá của Đức Kitô đến để cắt chuỗi ấy.

Có thể cha mẹ ta không biết yêu theo cách ta cần vì chính họ cũng chưa từng được yêu như vậy. Hiểu điều ấy không xóa trách nhiệm của họ, nhưng có thể giúp ta không truyền tiếp vết thương.

Một người Kitô hữu có thể nói: “Điều này đã xảy ra với tôi, nhưng nó sẽ dừng ở tôi.”

Đó là một hình thức rất đẹp của việc vác Thánh Giá.

  1. GIA ĐÌNH KHÔNG CẦN HOÀN HẢO MỚI THÁNH

Đôi khi ta tưởng gia đình thánh phải luôn yên ấm, con cái ngoan, cha mẹ gương mẫu, mọi người cùng đi lễ, không có vết nứt. Nhưng Thánh Kinh không cho ta một hình ảnh lý tưởng hóa như vậy. Gia phả của Chúa Giêsu đầy những con người phức tạp. Chính gia đình Nadarét cũng biết cảnh phải trốn sang Ai Cập, sống nghèo, mất con ba ngày, đối diện sự hiểu lầm, cuối cùng Maria mất Con trên Thánh Giá.

Một gia đình thánh không phải gia đình không có thập giá. Gia đình thánh là gia đình biết đem thập giá vào trong tình yêu của Thiên Chúa.

Có thể nhà ấy vẫn có người khó tính. Có người chưa thay đổi. Có vấn đề chưa giải quyết hết. Nhưng trong nhà ấy người ta vẫn tập xin lỗi, tập cầu nguyện, tập nói thật, tập tha thứ, tập bắt đầu lại.

Sự thánh thiện gia đình thường được xây bằng những lần bắt đầu lại.

  1. KHI KHÔNG THỂ SỬA NGƯỜI KHÁC

Một trong những nguồn khổ lớn nhất trong gia đình là muốn sửa người khác. Người vợ muốn chồng thay đổi. Chồng muốn vợ thay đổi. Cha mẹ muốn con thay đổi. Con muốn cha mẹ hiểu mình. Mỗi người nghĩ: nếu người kia khác đi, tôi sẽ bình an.

Nhưng có những điều ta không có quyền năng thay đổi.

Ta có thể nói, khuyên, cầu, đặt giới hạn. Nhưng ta không thể sống thay tự do của người khác.

Yêu Thánh Giá trong gia đình là học phân biệt giữa điều mình phải làm và điều phải trao cho Chúa. Có những thánh giá nặng không phải vì vấn đề quá lớn mà vì ta cứ cố kiểm soát điều không thuộc quyền mình.

Bình an đến khi ta nói: “Con sẽ làm phần của con. Phần còn lại, con trao cho Chúa.”

  1. HÃY ĐỨNG CẠNH, ĐỪNG GIẢI THÍCH BỪA

Khi ai đó trong gia đình mất con, mất vợ, mất chồng, ly hôn, hiếm muộn, có con bệnh nặng, có con bỏ nhà, phản ứng tự nhiên của người chung quanh là tìm câu gì đó để nói.

Nhưng không phải lúc nào cũng cần nói.

Maria dưới chân Thánh Giá không giảng cho Chúa Giêsu về ý nghĩa đau khổ. Gioan không đứng bên Maria để giải thích “mọi sự đều có kế hoạch”. Họ đứng.

Có những lúc hiện diện là thần học đẹp nhất.

Ngồi với người đang khóc. Nấu một bữa ăn. Chở họ đi bệnh viện. Trông trẻ giúp một buổi. Gọi điện sau ba tháng, khi mọi người khác đã quên.

Đó là cách Hội Thánh đứng dưới Thánh Giá của một gia đình.

  1. THÁNH GIÁ VÀ PHỤC SINH TRONG GIA ĐÌNH

Không gia đình nào chỉ có Thứ Sáu Thánh. Có những bình minh Phục Sinh đến rất nhỏ. Một người con sau nhiều năm gọi điện về. Hai vợ chồng sau thời gian lạnh nhạt lần đầu cầu nguyện lại với nhau. Một người cha sáu mươi tuổi cuối cùng nói được với con: “Cha thương con.” Một vết thương lâu năm bắt đầu được nhắc mà không còn đầy giận dữ. Một bệnh nhân mỉm cười sau đêm đau. Một người góa bắt đầu có thể sống tiếp mà không cảm thấy mình phản bội người đã mất.

Phục Sinh trong gia đình thường không ầm ĩ. Nó đến trong những dấu rất nhỏ rằng sự sống vẫn đang thắng.

Nhưng điều đẹp nhất của đức tin Kitô giáo là lời hứa rằng không thập giá nào có lời cuối. Có những gia đình không được chữa hoàn toàn trong đời này. Có những cha mẹ chết mà chưa thấy con quay về. Có những người góa mang nỗi nhớ đến tận cuối đời. Có những cuộc chia ly không được nối lại.

Nhưng đức tin nói rằng Thiên Chúa vẫn đang viết câu cuối.

Thánh Giá không phải dấu chấm hết.

  1. GIA ĐÌNH LÀ NƠI TA HỌC YÊU THÁNH GIÁ BẰNG NHỮNG VIỆC NHỎ

Rốt cuộc, yêu Thánh Giá trong gia đình hiếm khi là làm điều anh hùng. Nó là hàng trăm việc nhỏ không ai chụp hình.

Thức dậy khi đứa bé khóc.

Nhịn một câu châm chọc.

Nói lời xin lỗi trước.

Nghe người già kể lại một chuyện lần thứ mười.

Đưa người bệnh đi khám.

Không bỏ cuộc với một đứa con khó.

Đặt điện thoại xuống khi vợ muốn nói.

Đi làm khi mệt vì còn cả nhà đang cần.

Cầu nguyện cho người đã làm mình đau.

Không kể xấu người nhà cho thiên hạ chỉ để mình được đứng về phía đúng.

Những điều ấy rất nhỏ.

Nhưng Thánh Giá cũng được dựng bằng hai thanh gỗ rất đơn sơ.

Gia đình có thể là nơi ta khổ nhất vì người khác, nhưng cũng có thể là nơi ta được biến đổi nhất nhờ họ. Người chồng khó tính có thể dạy ta kiên nhẫn. Người vợ yếu đuối có thể dạy ta dịu dàng. Đứa con bướng bỉnh có thể dạy ta cầu nguyện. Cha mẹ già có thể dạy ta biết mình cũng sẽ một ngày yếu đi.

Không phải vì những khó khăn ấy tự chúng tốt. Nhưng ân sủng có thể dùng cả những điều ấy để làm ta giống Đức Kitô hơn.

Và có lẽ đến cuối đời, ta mới nhận ra những điều từng làm mình mệt nhất lại cũng là những điều dạy mình yêu nhất.

  1. ĐỨNG DƯỚI THÁNH GIÁ CỦA NHAU

Có lẽ đây là ơn gọi đẹp nhất của gia đình Kitô hữu: không phải cất hết thánh giá cho nhau — vì nhiều thánh giá không thể cất — nhưng đừng để ai trong nhà phải vác một mình.

Maria không thể xuống khỏi chân Thánh Giá để cứu Con. Gioan không thể thay đổi điều đang xảy ra. Nhưng sự hiện diện của họ nói: “Con không một mình.”

Có khi đó là tất cả một người đang đau cần.

Trong một gia đình, ta không nhất thiết giải quyết được bệnh tật của nhau. Không giải được mọi khủng hoảng. Không sửa được quá khứ. Không bảo đảm được tương lai.

Nhưng ta có thể ở lại.

Ta có thể nói bằng cả đời mình: “Anh đau, em ở đây.” “Con sai, nhưng cha mẹ chưa bỏ con.” “Cha già rồi, con vẫn ở đây.” “Mẹ không còn nhớ con là ai, nhưng con vẫn nhớ mẹ là ai.” “Anh không chữa được bệnh cho em, nhưng anh sẽ không để em đi qua những ngày này một mình.”

Đó chính là hình Thánh Giá.

Một tình yêu không luôn giải cứu khỏi đau khổ, nhưng từ chối bỏ người mình yêu một mình trong đau khổ.

Và có lẽ đây cũng là điều Thiên Chúa làm với mọi gia đình. Người không hứa một mái nhà không có nước mắt. Người không hứa con cái sẽ luôn như cha mẹ mong. Người không hứa vợ chồng sẽ không trải qua khủng hoảng. Người không hứa bệnh tật sẽ không đến. Người không hứa cái chết sẽ tránh cửa nhà ta.

Người chỉ hứa một điều lớn hơn: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày.”

Ở cùng.

Đó là ngôn ngữ của Thánh Giá.

Thiên Chúa đã không đứng ngoài đau khổ của gia đình nhân loại. Người bước vào. Người sinh trong một gia đình. Người biết thế nào là phải chạy trốn. Người biết lao động trong một căn nhà bình thường. Người biết mất người cha trần thế. Người biết mẹ mình đứng dưới chân Thánh Giá.

Vì thế, không một gia đình nào quá rối để Đức Kitô không bước vào.

Không một cuộc hôn nhân nào quá nhiều vết thương để không thể cầu xin ân sủng.

Không một người con nào đi xa đến mức Thiên Chúa không thể tìm.

Không một người góa nào cô độc đến mức Chúa không ngồi bên cạnh.

Không một người cha, người mẹ nào khóc vì con mà Đức Maria không hiểu.

Và không một thánh giá gia đình nào, nếu được đặt vào tay Đức Kitô, lại hoàn toàn vô nghĩa.

Có lẽ ta sẽ không bao giờ yêu mọi thánh giá trong gia đình mình. Có những điều ta chỉ có thể học mang, học phó thác, học đi từng ngày. Nhưng yêu Thánh Giá không có nghĩa yêu sự đau đớn. Yêu Thánh Giá là yêu Đức Kitô đang hiện diện ngay trong nơi đời ta bị đau.

Một ngày nào đó, khi tất cả những điều tạm qua đi, có thể ta sẽ hiểu rằng Thiên Chúa đã dùng chính căn nhà rất không hoàn hảo ấy để dạy ta một thứ tình yêu mà không cuốn sách nào có thể dạy.

Một tình yêu biết ở lại.

Một tình yêu biết tha.

Một tình yêu biết khóc.

Một tình yêu biết bắt đầu lại.

Một tình yêu biết buông.

Một tình yêu biết chờ.

Một tình yêu không chiếm hữu.

Một tình yêu không phải lúc nào cũng được đáp lại.

Một tình yêu mang hình Thánh Giá.

Và chính ở đó, giữa những bữa cơm rất thường, những căn phòng rất bình thường, những câu chuyện không ai ngoài gia đình biết, mầu nhiệm Thánh Giá tiếp tục được sống.

Không bằng những cây đinh bằng sắt.

Mà bằng sự trung thành.

Không bằng mão gai.

Mà bằng những hy sinh chẳng ai khen.

Không bằng tiếng đám đông chế giễu.

Mà bằng những im lặng người ta phải chịu vì muốn giữ hòa bình.

Không bằng ba giờ hấp hối trên đồi Canvê.

Mà bằng ba mươi, bốn mươi, năm mươi năm ở lại cạnh một con người với tất cả những giới hạn của họ.

Và nếu đời sống gia đình có lúc làm ta cảm thấy mình đang đứng dưới chân Thánh Giá, hãy nhớ rằng chính nơi chân Thánh Giá ấy đã có một gia đình mới được sinh ra, khi Chúa Giêsu nói với Maria: “Thưa Bà, đây là con của Bà,” và nói với người môn đệ: “Đây là mẹ của anh.”

Ngay trong giờ đau nhất, Đức Kitô vẫn tạo nên tương quan.

Ngay trong cái chết, Người vẫn sinh ra gia đình.

Bởi vậy, Thánh Giá trong gia đình không chỉ nói về đau khổ.

Nó nói về một tình yêu vẫn có thể được sinh ra giữa đau khổ.

Và đó là hy vọng của mọi mái nhà Kitô hữu.

Lm. Anmai, CSsR

CHƯƠNG X. THÁNH GIÁ ƠN GỌI

Ơn gọi nào cũng có một thánh giá riêng. Không có ơn gọi Kitô hữu nào được thiết kế như một lối thoát khỏi đau khổ, cũng không có bậc sống nào là vùng đất miễn nhiễm với những giới hạn, thất vọng, hiểu lầm, từ bỏ, cô đơn và những lần phải chết đi cho chính mình. Người kết hôn có thánh giá của đời sống hôn nhân và gia đình; người sống độc thân có thánh giá của đời sống độc thân; linh mục có thánh giá của linh mục; tu sĩ có thánh giá của đời thánh hiến; người giáo dân sống giữa đời có thánh giá của việc giữ đức tin giữa một thế giới nhiều khi đi ngược lại Tin Mừng. Bởi thế, chọn một ơn gọi không phải là chọn con đường ít thánh giá nhất, nhưng là tự do thưa với Chúa rằng: “Con xin nhận hình thức yêu thương mà Chúa mời con bước vào, cùng với tất cả niềm vui, ân sủng, trách nhiệm và thánh giá thuộc về nó.” Có một lối nghĩ khá nguy hiểm cho rằng đời tu, đời linh mục hay đời độc thân vì Nước Trời là một con đường “cao” đến mức người bước vào đó sẽ được che chở khỏi những va đập rất người của cuộc sống. Thực tế không phải vậy. Ơn gọi càng thật thì con người càng phải đi sâu vào mầu nhiệm tự hiến. Mà tự hiến luôn bao hàm một hình thức chết đi. Không phải cái chết bệnh hoạn của việc ghét bỏ chính mình, nhưng là cái chết của hạt lúa mì chấp nhận rơi xuống đất để sinh nhiều bông hạt. Không phải cái chết của nhân phẩm, nhưng là cái chết của ích kỷ. Không phải cái chết của tự do, nhưng là cái chết của thứ tự do khép kín chỉ muốn giữ mình cho mình. Không phải cái chết của niềm vui, nhưng là cái chết của ảo tưởng rằng niềm vui chỉ có thể có khi mọi sự diễn ra đúng ý mình.

Ơn gọi linh mục, đời thánh hiến và đời độc thân vì Nước Trời mang một hình thánh giá rất đặc trưng. Người bước vào đó tự nguyện từ bỏ một số chỗ dựa tự nhiên rất quý giá của đời sống con người để trở nên dấu chỉ rằng chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể là cùng đích tối hậu của trái tim. Nhưng chính vì từ bỏ những chỗ dựa tự nhiên ấy, họ cũng phải đi qua những vùng nội tâm mà người ngoài có thể không hiểu được. Một linh mục có thể đứng trước hàng ngàn người, nói chuyện với rất nhiều người, được nhiều người quý mến, nhưng khi cánh cửa phòng khép lại, vẫn có thể đối diện với một sự cô đơn sâu sắc. Một tu sĩ sống giữa cộng đoàn đông người vẫn có thể cảm thấy không ai thật sự hiểu mình. Một người sống khiết tịnh vì Nước Trời vẫn có một trái tim cần được yêu, cần được nhìn nhận, cần có sự gần gũi, tình bạn, hơi ấm con người. Một người đã khấn khó nghèo vẫn có nhu cầu được an toàn. Một người đã khấn vâng phục vẫn có trí khôn, sáng kiến, cá tính và những thao thức rất riêng. Lời khấn không xóa bản tính con người. Ân sủng không biến một con người thành thiên thần. Và nếu ai cố sống ơn gọi bằng cách phủ nhận những nhu cầu nhân bản căn bản của mình, sớm muộn họ sẽ trả giá bằng những đổ vỡ âm thầm. Thánh giá ơn gọi không phải là trở thành người không còn biết đau, không còn cần tình thân, không còn biết mệt, không còn biết buồn, không còn cần được lắng nghe. Trái lại, thánh giá ơn gọi chính là mang tất cả sự mong manh rất người ấy vào trong tương quan với Đức Kitô, để từ đó học một cách yêu trưởng thành hơn, tự do hơn và chân thật hơn.

  1. CÔ ĐƠN THÁNH VÀ CÔ ĐƠN ĐỘC HẠI

Có một thứ cô đơn thuộc về chính cấu trúc của đời sống thiêng liêng. Không ai có thể bước vào nơi sâu nhất của tâm hồn ta thay ta. Không ai có thể tin thay ta, cầu nguyện thay ta, yêu Chúa thay ta, chết thay ta, trả lời trước mặt Chúa thay ta. Dù ta thuộc một gia đình rất tốt, sống trong một cộng đoàn rất yêu thương hay được bao quanh bởi nhiều người, vẫn có một căn phòng sâu kín trong trái tim mà chỉ có Thiên Chúa bước vào trọn vẹn được. Đó là cô đơn thánh. Đó là sa mạc nơi Chúa nói với lòng ta. Đó là đêm mà tiếng ồn của thế giới lắng xuống để con người bắt đầu nghe được câu hỏi quan trọng nhất: “Ta là ai đối với con?” Đó là Ghetsêmani riêng của mỗi người, nơi những người thân có thể ở gần nhưng không thể uống chén thay ta. Chính Chúa Giêsu cũng đi vào một sự cô độc như thế. Các môn đệ ngủ. Những người từng tung hô Người biến mất. Phêrô chối Người. Trên thập giá, Người thốt lên lời của Thánh Vịnh: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Người Con không thôi hiệp nhất với Chúa Cha, nhưng trong nhân tính, Người đi vào tận cùng cảm nghiệm của con người bị bỏ rơi. Vì thế có những lúc một linh mục, một tu sĩ, một người tận hiến phải học ở lại trong cô đơn mà không vội chạy trốn. Không phải mọi khoảng trống đều cần được lấp ngay bằng điện thoại, công việc, giải trí, tương quan, mạng xã hội hay những cuộc trò chuyện vô tận. Có những khoảng trống nếu ta kiên nhẫn ở lại, nó sẽ biến thành nhà nguyện. Có những đêm nếu ta không bật ngay mọi thứ ánh sáng nhân tạo, ta sẽ thấy một thứ ánh sáng khác đang mọc lên. Có những giây phút ta tưởng mình không còn ai, nhưng chính nơi đó Chúa bắt đầu trở nên đủ.

Tuy nhiên, phải nói thật rõ: không phải mọi cô đơn đều thánh. Có những sự cô đơn không phải là sa mạc Chúa dẫn vào, nhưng là hậu quả của đời sống mất cân bằng, của cơ cấu thiếu lành mạnh, của tính khí không được chữa lành, của việc không biết xây dựng tình bạn, hoặc của một môi trường cộng đoàn đã mất khả năng hiệp thông. Có những người gọi sự cô lập của mình là “đời sống nội tâm”, trong khi thật ra họ đang đóng kín vì sợ tổn thương. Có người gọi việc không tin ai là “khôn ngoan”, trong khi thật ra họ đã bị thất vọng quá nhiều. Có người gọi sự xa cách cộng đoàn là “tìm Chúa”, trong khi thật ra họ không còn khả năng chịu đựng sự khác biệt của anh chị em. Có người tự hào rằng mình “chỉ cần Chúa”, nhưng cách họ sống cho thấy câu ấy đôi khi là một lớp áo rất thiêng che phủ một trái tim đang bị tổn thương sâu. Thiên Chúa không cứu chúng ta bằng cách làm cho chúng ta bớt người đi. Chúa Giêsu cần Chúa Cha, nhưng Người cũng cần Đức Maria, cần Giuse, cần bạn hữu, cần các môn đệ, cần Lazarô, Martha và Maria. Người khóc trước mồ Lazarô. Người muốn các môn đệ ở lại với mình trong Ghetsêmani. Người không xấu hổ vì cần tình bạn con người. Một đời tu trưởng thành vì thế không phải là đời sống trong đó người ta càng ngày càng ít cần ai, nhưng là đời sống trong đó người ta học cần người khác một cách tự do, trong sáng và không chiếm hữu.

Phân định giữa cô đơn thánh và cô đơn độc hại là điều vô cùng cần thiết. Cô đơn thánh làm trái tim rộng ra; cô đơn độc hại làm trái tim co lại. Cô đơn thánh dẫn ta về với Chúa rồi đưa ta trở lại với anh em bằng một tình yêu sâu hơn; cô đơn độc hại làm ta càng ngày càng cay đắng, nghi ngờ, lạnh lùng và khép kín. Cô đơn thánh có thể đau nhưng vẫn giữ trong ta một mạch hy vọng; cô đơn độc hại khiến ta thấy đời vô nghĩa, thấy mình không đáng được yêu, thấy mọi tương quan là gánh nặng. Cô đơn thánh giúp ta bớt lệ thuộc vào sự tán thưởng; cô đơn độc hại khiến ta khát được công nhận đến mức có thể tìm bù trừ bằng quyền lực, tiền bạc, thành công, tình cảm không thích hợp hay một đời sống bí mật. Vì thế đừng phong thánh cho mọi sự cô đơn. Có những cô đơn cần được cầu nguyện; cũng có những cô đơn cần được nói ra. Có những cô đơn cần được mang đến trước Thánh Thể; cũng có những cô đơn cần được chia sẻ với người đồng hành thiêng liêng, bề trên đáng tin, anh em cộng đoàn, một người bạn trưởng thành, hoặc khi cần, với chuyên viên tâm lý có năng lực. Ân sủng không chống lại việc chăm sóc sức khỏe tâm lý. Khi tâm hồn bị thương, tìm sự trợ giúp không phải là phản bội thánh giá; nhiều khi đó chính là một cách vác thánh giá trong sự thật.

Đặc biệt đối với linh mục và tu sĩ, một nguy cơ lớn là trở thành người phục vụ mọi người nhưng không để ai chăm sóc mình. Người khác đến với ta để xưng tội, tâm sự, xin lời khuyên, nhờ cầu nguyện, xin nâng đỡ, và dần dần ta có thể quen với vị trí người cho đến mức cảm thấy xấu hổ khi mình cần được nhận. Ta khuyên người khác nghỉ ngơi nhưng mình không nghỉ. Ta bảo người khác tìm người để tâm sự nhưng mình giữ tất cả trong lòng. Ta giảng về sự yếu đuối nhưng rất sợ để ai thấy mình yếu. Ta nói Thiên Chúa yêu con người như họ là, nhưng chính ta lại cố chứng minh giá trị của mình bằng hiệu năng. Đó là một nghịch lý đau đớn. Người mục tử cũng cần được mục tử hóa. Người chữa lành cũng cần được chữa lành. Người giải tội cũng cần đi xưng tội. Người đồng hành cũng cần được đồng hành. Người thường xuyên nói lời Chúa cho người khác cũng cần một nơi được ngồi im và để lời Chúa nói với mình.

Có những linh mục bị hiểu lầm bởi chính những người mình phục vụ. Có khi một quyết định mục vụ bị diễn giải sai. Có khi lòng tốt bị lợi dụng. Có khi cố gắng bị xem là bổn phận đương nhiên. Có khi chỉ một sơ suất nhỏ che khuất nhiều năm âm thầm phục vụ. Có khi đám đông hôm qua còn tung hô, hôm nay quay sang chỉ trích. Đó là thánh giá mục tử. Nhưng cũng cần rất tỉnh táo: không phải cứ bị phê bình là đang chịu bách hại vì Tin Mừng. Đôi khi người khác góp ý vì ta thật sự có điều cần sửa. Đôi khi ta gọi sự phản đối là “thánh giá” để khỏi phải nhìn lại mình. Đức khiêm nhường của thánh giá không chỉ giúp ta chịu được bất công; nó còn giúp ta nhận ra khi người khác nói đúng về ta. Người môn đệ trưởng thành không hỏi trước hết: “Ai đúng ai sai?”, mà hỏi: “Trong điều này, Chúa muốn thanh luyện điều gì trong con?”

  1. THÁNH GIÁ TRUNG THÀNH VỚI LỜI KHẤN

Lời khấn không phải là một chiếc khung bên ngoài, nhưng phải là hình thức của một tình yêu bên trong. Khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục chỉ có ý nghĩa Kitô giáo khi chúng trở thành những cách rất cụ thể để một con người nói với Đức Kitô: “Con thuộc về Chúa và con muốn yêu như Chúa đã yêu.” Nếu tách khỏi tình yêu, lời khấn trở thành luật. Nếu tách khỏi tương quan với Chúa, lời khấn trở thành gánh. Nếu tách khỏi tự do nội tâm, lời khấn trở thành một hình thức chịu đựng. Và khi ấy, người ta có thể giữ lời khấn bên ngoài mà trái tim đã rời đi từ lâu.

Khó nghèo không chỉ là không sở hữu. Có người sở hữu rất ít nhưng lại bị tiền bạc ám ảnh suốt ngày. Có người không có tài sản riêng nhưng lại bám víu vào chức vụ, tiện nghi, quyền quyết định, danh tiếng hoặc ảnh hưởng. Khó nghèo Tin Mừng trước hết là sự tự do: tôi không để vật chất quyết định tôi là ai. Tôi không cần sở hữu để chứng minh giá trị mình. Tôi không biến cộng đoàn thành nơi cung cấp mọi tiện nghi cho mình trong khi tôi vẫn tự nhận là nghèo. Tôi không dùng lời khấn khó nghèo để lãng mạn hóa cảnh nghèo của người khác. Người nghèo thật không thấy nghèo là thơ. Họ thấy nghèo là thiếu thuốc cho con, là không đủ tiền học, là mất việc, là không biết ngày mai ăn gì. Một tu sĩ sống khó nghèo thật không phải để diễn lại nỗi khổ của người nghèo, nhưng để trở nên gần họ, chia sẻ sự mong manh với họ và làm chứng rằng của cải không phải là Chúa. Thánh giá của khó nghèo đôi khi rất nhỏ: dùng đồ cũ hơn mình muốn, không mua thứ mình thích dù có thể, không đòi điều kiện đặc biệt, chấp nhận đời sống chung có những giới hạn. Nhưng sâu hơn, khó nghèo là thánh giá của việc từ bỏ nhu cầu làm chủ mọi sự. Một người nghèo thật trước mặt Thiên Chúa có thể nói: “Lạy Chúa, con không sở hữu cả ngày mai.”

Khiết tịnh vì Nước Trời có lẽ là một trong những lời khấn dễ bị hiểu lầm nhất. Khiết tịnh không phải là không có nhu cầu tình cảm. Không phải là không biết rung động. Không phải là trái tim đông lạnh. Không phải là sợ giới tính hay coi thân xác là điều xấu. Khiết tịnh Kitô giáo là dâng toàn bộ khả năng yêu thương cho Chúa để trái tim trở nên rộng hơn chứ không hẹp lại. Người khiết tịnh không được mời gọi yêu ít đi mà yêu nhiều hơn, nhưng yêu theo cách không chiếm hữu. Đây là một thánh giá rất thật, bởi trái tim con người vốn muốn có một người riêng cho mình và muốn được là người riêng của một ai đó. Trong đời hôn nhân, khát vọng ấy có một hình thức chính đáng rất đẹp. Trong đời độc thân vì Nước Trời, người ta tự do đặt khát vọng ấy vào trong một cách thuộc về khác: thuộc về Đức Kitô và thuộc về dân Người. Nhưng đừng tô hồng. Có những tối người tận hiến thấy cô đơn. Có những khoảnh khắc nhìn một gia đình hạnh phúc và tự hỏi cuộc đời mình nếu đi con đường kia sẽ thế nào. Có những lúc nhu cầu được ôm, được ở bên, được quan tâm trở nên rất thật. Có những lúc người ta cảm thấy mình đứng ngoài những niềm vui bình thường của nhân loại. Đó không phải là bằng chứng ơn gọi sai. Nó có thể là phần thánh giá của ơn gọi. Nhưng cách mang thánh giá ấy phải trưởng thành. Không phải bằng cách đàn áp tình cảm, nhưng bằng cách học hiểu tình cảm. Không phải bằng cách xấu hổ vì mình cần được yêu, nhưng bằng cách để nhu cầu ấy được thanh luyện. Không phải bằng cách cắt đứt mọi tương quan, nhưng bằng cách xây dựng những tình bạn trong sáng, có ranh giới, có tự do và có trách nhiệm. Một người khiết tịnh trưởng thành không phải người không bao giờ bị hấp dẫn, nhưng là người biết mình đang cảm gì, biết ranh giới ở đâu, biết đưa mọi sự ra ánh sáng và biết chọn lại điều mình đã hiến dâng.

Vâng phục cũng mang thánh giá riêng. Vâng phục không phải là tắt trí khôn. Không phải là không có ý kiến. Không phải là biến người lớn thành trẻ nhỏ. Vâng phục Kitô giáo đặt nền trên sự vâng phục của Đức Kitô đối với Chúa Cha, và sự vâng phục ấy là một hành vi tự do của tình yêu. “Không phải ý con, nhưng xin theo ý Cha.” Có lúc ý của ta trùng với điều được yêu cầu và vâng phục rất nhẹ. Nhưng cũng có lúc ta thấy rõ một hướng khác, ta nghĩ mình có lý, ta có kinh nghiệm, ta đã cầu nguyện, nhưng quyết định cuối cùng không giống điều ta mong. Khi ấy vâng phục trở thành thánh giá. Tuy nhiên, vâng phục không bao giờ đồng nghĩa với việc chấp nhận điều trái luân lý, lạm dụng, bạo lực hay sự xâm phạm phẩm giá. Không ai có quyền nhân danh vâng phục để buộc người khác phạm tội, che giấu tội, im lặng trước lạm dụng hay từ bỏ lương tâm. Một nền văn hóa tu trì lành mạnh phải luôn phân biệt giữa vâng phục và sự phục tùng mù quáng. Vâng phục thật giúp tự do lớn lên; lạm dụng quyền lực làm tự do teo lại. Vâng phục thật đưa cả bề trên lẫn người dưới quyền về với ý Chúa; lạm dụng quyền lực đặt ý riêng của một người lên vị trí của Thiên Chúa. Đó không phải là thánh giá Tin Mừng và không được phép thiêng liêng hóa.

Thánh giá của trung thành với lời khấn thường không nằm ở những biến cố phi thường. Nó nằm trong sự lặp lại. Khấn một lần có thể rất cảm động; sống lời khấn bốn mươi năm mới thật sự là trường học của tình yêu. Ngày tuyên khấn có hoa, có nến, có bài hát, có những lời rất đẹp. Nhưng sau đó là những ngày thứ Hai bình thường, những công việc rất quen, những khuôn mặt cộng đoàn đã gặp hàng ngàn lần, những khác biệt không biến mất, những vết thương cũ lâu lành, những trách nhiệm lặp lại. Trung thành là nghệ thuật nói lại lời “xin vâng” khi cảm xúc ban đầu không còn. Trong hôn nhân cũng vậy. Trong chức linh mục cũng vậy. Trong bất cứ ơn gọi nào cũng vậy. Thiên Chúa không chỉ hỏi ta một lần: “Con có yêu Ta không?” Người hỏi lại câu ấy bằng hình thức khác mỗi ngày.

Có một thánh giá khác rất âm thầm trong đời linh mục và tu sĩ: bị đòi hỏi vừa thánh thiện vừa hiệu năng. Người ta muốn linh mục cầu nguyện sâu nhưng cũng phải quản trị giỏi, giảng hay, giao tiếp tốt, làm truyền thông tốt, biết tâm lý, hiểu tài chính, có thời gian cho mọi người, không bao giờ mệt, không được cáu, không được sai. Tu sĩ có thể rơi vào một guồng máy hoạt động đến mức căn tính người được thánh hiến dần bị thay bằng căn tính người làm việc. Khi thành công, ta thấy mình có giá trị. Khi thất bại, ta thấy mình vô dụng. Đó là một thánh giá đặc biệt của thời đại hiệu năng. Tin Mừng nhắc rằng trước khi làm bất cứ điều gì cho Chúa, ta đã được Chúa yêu. Chúa Giêsu gọi Nhóm Mười Hai trước hết “để các ông ở với Người”, rồi mới sai đi. Nếu đảo thứ tự ấy, sứ vụ sẽ ăn hết đời sống thiêng liêng. Khi ấy người ta nói về Chúa nhưng ít ở với Chúa, làm việc cho Giáo Hội nhưng tâm hồn kiệt sức, chăm sóc cộng đoàn nhưng không còn khả năng cầu nguyện.

Một phần của thánh giá ơn gọi vì thế là học giới hạn. Không ai cứu được tất cả. Không linh mục nào có thể giải quyết mọi vấn đề của giáo dân. Không tu sĩ nào có thể đáp ứng hết mọi nhu cầu cộng đoàn. Không người giáo dân nào có thể gánh cả thế giới. Chỉ có một Đấng Cứu Thế, và đó không phải là ta. Có những người phục vụ lâu năm nhưng chưa học được điều này, vì thế họ mang cả những thập giá Chúa không trao. Họ ôm trách nhiệm của mọi người, cảm thấy có lỗi khi nghỉ, hoảng sợ khi nói “không”, tưởng rằng nếu mình dừng lại mọi sự sẽ sụp đổ. Đó không phải lúc nào cũng là bác ái. Đôi khi đó là một hình thức kiêu ngạo tinh vi: ta tưởng mình không thể thiếu. Thánh giá của người phục vụ đôi khi lại chính là chấp nhận rằng mình hữu hạn, rằng người khác có thể làm thay, rằng công việc của Chúa vẫn tiếp tục khi ta ngủ.

  1. THÁNH GIÁ CỦA NGƯỜI GIÁO DÂN SỐNG GIỮA ĐỜI

Không phải chỉ linh mục và tu sĩ mới có “thánh giá ơn gọi”. Nếu nói như thế, chúng ta vô tình làm nghèo giáo huấn của Giáo Hội về ơn gọi nên thánh phổ quát. Người giáo dân được mời gọi nên thánh ngay trong cấu trúc bình thường của đời sống: gia đình, nghề nghiệp, kinh tế, văn hóa, khoa học, nghệ thuật, xã hội, chính trị, giáo dục, công nghệ, truyền thông. Bàn làm việc có thể là bàn thờ. Căn bếp có thể là nơi dâng lễ. Phòng bệnh có thể thành nhà nguyện. Chiếc xe chở con đi học mỗi sáng có thể là nơi luyện đức kiên nhẫn. Một hợp đồng được ký cách ngay thẳng có thể là hành vi thờ phượng. Một lần từ chối hối lộ có thể là một thánh giá. Một người kinh doanh chấp nhận mất lợi nhuận thay vì gian dối đang mang thánh giá. Một công chức không làm điều trái lương tâm dù bị gây khó dễ đang vác thánh giá. Một bác sĩ tôn trọng phẩm giá bệnh nhân giữa áp lực thương mại đang vác thánh giá. Một giáo viên giữ sự công bằng khi có người muốn chạy điểm đang vác thánh giá. Một người trẻ giữ đức tin giữa môi trường chế giễu tôn giáo đang vác thánh giá. Một người làm truyền thông từ chối tung tin sai dù biết tin giật gân sẽ đem lại nhiều lượt xem đang vác thánh giá. Một người cha đi làm về mệt nhưng vẫn ngồi xuống nghe con nói đang vác thánh giá. Một người mẹ thức đêm bên đứa con bệnh đang vác thánh giá. Một người con chăm cha mẹ già ngày này qua ngày khác đang vác thánh giá. Đó là những bàn thờ mà nhiều khi không có khăn trắng, không có nến, không có ai vỗ tay, nhưng Thiên Chúa thấy.

Thánh giá của người giáo dân còn là thánh giá của việc giữ lương tâm giữa những vùng xám của đời sống. Trong nhà thờ, nhiều nguyên tắc nghe rất rõ. Nhưng ở công ty, trên thị trường, trong chính trị, trong nghiên cứu, trong quản trị, mọi sự thường phức tạp hơn. Người giáo dân phải đem Tin Mừng vào những nơi mà không có sẵn câu trả lời cho từng chi tiết. Họ phải phân định. Họ phải trả giá. Đôi khi trung thực khiến họ mất cơ hội. Đôi khi từ chối thỏa hiệp khiến họ chậm thăng tiến. Đôi khi bảo vệ người yếu khiến họ bị xem là gây phiền. Đôi khi nói sự thật khiến họ mất lòng cấp trên. Đôi khi tha thứ khiến bạn bè bảo họ yếu. Đôi khi giữ sự trong sạch trong tình cảm khiến người khác cho rằng họ lỗi thời. Đó là thánh giá ngôn sứ. Ngôn sứ không phải người chỉ nói lớn. Ngôn sứ là người sống sự thật đến mức đời họ trở thành một câu hỏi cho người khác.

Giáo Hội cần cẩn thận đừng khiến giáo dân có cảm giác chỉ những gì diễn ra quanh cung thánh mới là “việc Chúa”. Một người mẹ nuôi con tử tế đang làm việc Chúa. Một kỹ sư xây cây cầu an toàn đang phục vụ công ích. Một doanh nhân trả lương xứng đáng đang sống Tin Mừng xã hội. Một nhà khoa học tìm kiếm sự thật đang cộng tác với Đấng Tạo Hóa. Một nghệ sĩ làm cho thế giới đẹp hơn đang chạm tới một tia phản chiếu của vẻ đẹp Thiên Chúa. Một người lao động âm thầm làm tốt công việc của mình đang dâng lễ bằng mồ hôi. Nếu ta chỉ tôn vinh những hoạt động trực tiếp trong giáo xứ mà không nhận ra sứ mạng của giáo dân giữa đời, ta sẽ làm cho Tin Mừng bị giới hạn trong khuôn viên nhà thờ. Nhưng Đức Kitô muốn men đi vào bột, muốn ánh sáng đi vào bóng tối, muốn muối đi vào món ăn. Người giáo dân chính là những người được sai vào đó.

Thánh giá của đời hôn nhân cũng cần được nói đến với tất cả sự kính trọng. Ngày cưới người ta nói “khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe”. Khi nói câu ấy, nhiều người trẻ chưa biết mình đang hứa lớn đến mức nào. Tình yêu hôn nhân không chỉ là cảm giác yêu nhau; nó là quyết định tiếp tục yêu một con người thay đổi qua thời gian. Có ngày người bạn đời rất dễ yêu. Có ngày họ mệt mỏi, cáu gắt, thất bại, bệnh tật, già đi. Có lúc hôn nhân đi qua khủng hoảng, hiểu lầm, im lặng. Trung thành khi ấy trở thành thánh giá. Nhưng thánh giá không có nghĩa là chấp nhận bạo lực gia đình, nghiện ngập không được xử lý hay lạm dụng kéo dài. Cũng ở đây, không được dùng ngôn ngữ hy sinh để giam con người trong nguy hiểm. Tin Mừng bảo vệ phẩm giá con người. Thánh giá của tình yêu không bao giờ là cái cớ cho người này hủy hoại người kia.

Cha mẹ có thánh giá riêng. Khi con nhỏ, thánh giá có thể là mất ngủ. Khi con lớn, thánh giá có thể là buông tay. Có những cha mẹ chịu được việc hy sinh tiền bạc cho con nhưng rất khó chịu được việc con không sống đúng điều mình mong. Thánh giá lúc ấy là nhận ra con thuộc về Chúa trước khi thuộc về ta. Có những người mẹ cầu nguyện nhiều năm cho một đứa con xa Chúa. Có những người cha lặng lẽ mang nỗi đau khi con thất bại. Có những gia đình có người bệnh lâu năm và đời sống của cả nhà được tổ chức quanh một chiếc giường. Những nơi đó có những thánh lễ không có linh mục nhưng có một thứ hiến tế rất sâu của đời sống: từng bữa cơm, từng viên thuốc, từng lần lau người, từng đêm thức. Thiên Chúa không bỏ sót những của lễ ấy.

  1. THÁNH GIÁ CỦA VIỆC Ở LẠI

Mỗi ơn gọi đều có một khoảnh khắc người ta muốn bỏ đi. Không nhất thiết bỏ ơn gọi theo nghĩa chính thức; đôi khi là bỏ đi trong lòng. Ta vẫn sống cùng nhà nhưng lòng đã xa. Vẫn làm mục vụ nhưng không còn lửa. Vẫn mang áo dòng nhưng tâm hồn chỉ còn thực hiện bổn phận. Vẫn ở trong hôn nhân nhưng thôi không còn đối thoại. Vẫn đi lễ nhưng không chờ đợi gì nơi Chúa. Một trong những hình thức sâu nhất của thánh giá ơn gọi là ở lại khi mọi cảm xúc nâng đỡ đã rút đi. Nhưng “ở lại” không có nghĩa là cố chấp trước một hoàn cảnh rõ ràng sai trái. Ở lại Tin Mừng là ở lại trong sự thật và tình yêu. Đôi khi vì sự thật, người ta phải rời một vị trí, thay đổi một cộng đoàn, xin trợ giúp, tạm dừng một công việc hay thiết lập ranh giới. Nhưng có nhiều lúc không có vấn đề luân lý nghiêm trọng nào cả; chỉ có sự nhàm chán và mệt mỏi. Khi ấy trung thành là tiếp tục tưới một mảnh đất không thấy cây mọc.

Đức Maria đứng dưới chân thập giá. Mẹ không giải quyết được tình hình. Mẹ không tháo được đinh. Mẹ không cứu Con khỏi chết. Mẹ chỉ ở lại. Có những ơn gọi được cứu không phải nhờ một hành động lớn, mà nhờ một người chịu ở lại thêm một ngày, cầu nguyện thêm một lần, nói thêm một lời dịu dàng, xin lỗi thêm một lần, không đóng sầm cánh cửa. Có những cộng đoàn tồn tại vì một vài người vẫn kiên trì yêu khi tình yêu không còn dễ. Có những gia đình không tan vì một người chịu học lại cách lắng nghe. Có những ơn gọi linh mục được hồi sinh sau một thời gian khô khan vì người linh mục ấy vẫn trung thành với giờ cầu nguyện dù không cảm gì.

Nhưng phải thêm một điều rất quan trọng: ở lại với Chúa khác với ở lại trong những cơ cấu gây hủy hoại. Người Kitô hữu không được huấn luyện để chịu đựng mọi thứ nhân danh thập giá. Chúa Giêsu mang thập giá vì yêu và tự do. Người cũng đối diện với kẻ giả hình, chất vấn bất công và từ chối để người ta tùy tiện thao túng giờ của Người. Có lúc Người rút lui. Có lúc Người đi nơi khác. Có lúc Người im lặng. Có lúc Người lên tiếng rất mạnh. Vác thập giá không có nghĩa là đánh mất khả năng phân định. Càng yêu thập giá thật, ta càng phải từ chối những “thập giá giả” do bạo lực, lạm dụng, thao túng tâm linh hoặc bất công tạo ra mà con người có trách nhiệm phải sửa đổi.

  1. THÁNH GIÁ CỦA VIỆC KHÔNG ĐƯỢC NHÌN THẤY

Một trong những thánh giá nặng nhất trong bất cứ ơn gọi nào là làm điều tốt mà không được nhìn nhận. Con người cần được công nhận, đó là nhu cầu bình thường. Một lời cảm ơn có thể làm ta ấm lòng cả ngày. Nhưng đời sống không phải lúc nào cũng công bằng trong việc ghi nhận. Có người làm ít nhưng được thấy nhiều; có người làm nhiều nhưng chẳng ai biết. Có người xuất hiện trên sân khấu; có người dọn sân khấu sau khi mọi người về. Trong Giáo Hội cũng vậy. Có những người phục vụ nhiều năm mà tên không bao giờ được nhắc. Có những linh mục ở những nơi nhỏ bé, không có bài giảng lan truyền, không có công trình nổi tiếng, nhưng ngày nào cũng cử hành Thánh lễ, thăm bệnh nhân, giải tội và chôn cất người chết. Có những nữ tu sống âm thầm cả đời trong nhà bếp, bệnh xá hoặc trường học. Có những giáo dân lặng lẽ giữ giáo xứ bằng những công việc chẳng ai chụp hình. Nước Trời đầy những người vô danh như thế.

Thánh giá này thanh luyện câu hỏi: “Tôi làm cho ai?” Nếu ta chỉ sống được khi có người biết, ta chưa thật sự tự do. Có một sự bình an lớn khi một người có thể làm điều tốt rồi để nó rơi vào thinh lặng. Chúa Cha thấy trong nơi kín đáo. Một người sống ơn gọi sâu sẽ dần dần bớt cần khán giả. Không phải họ không còn vui khi được cảm ơn, nhưng họ không sống nhờ lời cảm ơn. Không phải họ coi thường sự công nhận, nhưng họ không đặt căn tính mình ở đó. Thánh giá của vô danh có thể trở thành một ân sủng lớn, vì nó trả lại linh hồn cho cái nhìn duy nhất thật sự quyết định ta là ai: cái nhìn của Thiên Chúa.

  1. THÁNH GIÁ CỦA NHỮNG GIỚI HẠN CÁ NHÂN

Mỗi người đi vào ơn gọi với cả quà tặng lẫn vết thương. Khấn dòng không xóa tính nóng. Chịu chức không tự động chữa mọi mặc cảm. Kết hôn không làm những vết thương tuổi thơ biến mất. Có người mang vào ơn gọi nỗi sợ bị bỏ rơi, nhu cầu được công nhận, sự bất an, tính cầu toàn hoặc thói quen kiểm soát. Những điều ấy có thể ngủ yên một thời gian rồi bộc lộ dưới áp lực. Khi ấy một phần thánh giá ơn gọi chính là chấp nhận rằng mình phải làm việc trên chính mình.

Có người thích nghĩ việc nên thánh chỉ là cầu nguyện nhiều hơn. Nhưng đôi khi nên thánh là học cách giao tiếp. Là đi xin lỗi. Là học quản lý cơn giận. Là nhận trị liệu tâm lý cho một vết thương cũ. Là thú nhận mình ghen tị. Là nhìn nhận một kiểu tương quan không lành mạnh. Là học nghỉ mà không thấy tội lỗi. Là nói “tôi không biết”. Là chấp nhận mình không có năng khiếu ở một số lĩnh vực. Là thôi so sánh. Đó là những thánh giá không lộng lẫy nhưng rất thật.

Một sự cám dỗ lớn là muốn có một thánh giá đẹp. Ta sẵn sàng hy sinh trong những việc người khác thấy, nhưng khó chịu với thánh giá của chính tính khí mình. Ta muốn đi truyền giáo xa nhưng lại không chịu nổi người ở phòng bên. Ta muốn giúp người nghèo nhưng không kiên nhẫn với người cộng tác. Ta muốn tử đạo cho Đức Kitô nhưng không chịu nổi một lời góp ý. Có lẽ vì thế Thiên Chúa rất thường dùng những điều nhỏ để cứu ta khỏi ảo tưởng về chính mình. Người không luôn gửi cho ta những cuộc thử thách lớn. Người gửi một người trái tính. Một kế hoạch bị hoãn. Một lời phê bình. Một cơn mệt. Một lần không được chọn. Những điều đó trở thành đục và búa âm thầm tạc lại cái tôi.

  1. THÁNH GIÁ VÀ NIỀM VUI ƠN GỌI

Nói nhiều về thánh giá không có nghĩa ơn gọi là một câu chuyện buồn. Trái lại, chính nơi thánh giá được mang trong tình yêu, niềm vui sâu nhất xuất hiện. Có niềm vui của người cha nhìn con trưởng thành sau bao năm hy sinh. Có niềm vui của người mẹ thấy căn nhà mình trở thành nơi các con luôn muốn trở về. Có niềm vui của linh mục sau một ngày rất mệt nhưng biết một người đã tìm lại hy vọng trong tòa giải tội. Có niềm vui của tu sĩ không có nhiều thứ riêng nhưng cảm thấy đời mình thuộc trọn về Chúa. Có niềm vui của người giáo dân biết mình đã từ chối gian dối dù mất lợi ích. Niềm vui ấy khác khoái cảm. Nó sâu hơn. Nó không nhất thiết ồn ào. Nó là cảm giác đời mình có ý nghĩa.

Chúa Giêsu không nói: “Hãy vác thập giá vì đau khổ là tốt.” Người nói: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo.” Trung tâm của câu không phải thập giá, mà là “theo Ta”. Thánh giá chỉ có ý nghĩa khi nó nằm trên con đường theo Đức Kitô. Nếu tách thánh giá khỏi Đức Kitô, ta chỉ còn đau. Khi gắn với Đức Kitô, đau có thể trở thành của lễ. Nếu tách hy sinh khỏi tình yêu, nó trở thành cay đắng. Khi gắn với tình yêu, hy sinh sinh hoa trái.

Vì thế, câu hỏi cuối cùng của thánh giá ơn gọi không phải là: “Tôi đã chịu khổ bao nhiêu?” nhưng là: “Qua tất cả những điều này, tôi đã yêu như thế nào?” Có người chịu rất nhiều nhưng trở nên cay nghiệt. Có người chịu ít hơn nhưng để mỗi thử thách mở lòng mình. Không phải số lượng đau khổ làm nên sự thánh thiện. Chính tình yêu biến thập giá thành con đường phục sinh.

Một linh mục không nên tự hào vì mình cô đơn, nhưng có thể dâng cô đơn để trái tim mình rộng hơn cho đoàn chiên. Một tu sĩ không nên tự hào vì thiếu thốn, nhưng có thể để khó nghèo giải phóng mình khỏi sự lệ thuộc vật chất. Một người giáo dân không cần tìm khó khăn, nhưng có thể biến những khó khăn của việc sống ngay thẳng thành chứng tá. Một đôi vợ chồng không cần lý tưởng hóa khủng hoảng, nhưng có thể để việc cùng nhau vượt qua khủng hoảng làm tình yêu sâu hơn. Một người sống độc thân không cần xấu hổ vì những lúc trống trải, nhưng có thể để khoảng trống ấy mở ra cho một tình phụ tử, mẫu tử thiêng liêng rộng lớn.

Cuối cùng, thánh giá ơn gọi là một lời mời rất riêng. Chúa không bảo ta vác thánh giá của người khác. Người nói: “thập giá mình”. Có nghĩa là có một cách yêu mà chỉ ta có thể sống. Có những người chỉ ta có thể phục vụ. Có những hy sinh chỉ ta có thể dâng. Có những nơi chỉ ta được sai đến. Và cũng có những giới hạn Chúa không đòi ta vượt qua. Sự thánh thiện không phải là sao chép cuộc đời một vị thánh khác. Phêrô có đường của Phêrô. Gioan có đường của Gioan. Maria có đường của Maria. Phaolô có đường của Phaolô. Mỗi người có một Golgotha và một buổi sáng Phục Sinh khác nhau.

Có lẽ đến một lúc, người ta thôi hỏi: “Tại sao ơn gọi của tôi khó thế?” và bắt đầu hỏi: “Lạy Chúa, trong chính điều khó này, Chúa đang dạy con yêu thế nào?” Khi ấy thánh giá không nhẹ hơn ngay, nhưng ta thay đổi cách mang nó. Từ gánh nặng nó trở thành cuộc gặp gỡ. Từ điều chỉ muốn thoát, nó trở thành nơi ta tìm thấy Chúa. Từ dấu thất bại, nó trở thành dấu của sự thuộc về.

Và có lẽ bí mật lớn nhất của mọi ơn gọi nằm ở đây: Thiên Chúa không hứa lấy hết thánh giá khỏi vai ta, nhưng Người hứa đi cùng. Nhiều khi điều cứu một ơn gọi không phải là hoàn cảnh đổi khác mà là khám phá rằng trong chính nơi ta tưởng mình bị bỏ lại, Đức Kitô đã đứng đó từ lâu. Người đã mang thánh giá trước ta. Người biết mùi gỗ. Người biết sức nặng. Người biết cảm giác bị hiểu lầm, bị bỏ rơi, bị phản bội, bị mệt đến mức ngã xuống. Vì thế khi ta nói: “Lạy Chúa, con không mang nổi nữa”, Người không trả lời từ một ngai vàng xa xôi. Người trả lời từ chính con đường lên Golgotha: “Ta biết.”

Thánh giá ơn gọi không phải bằng chứng rằng Chúa đã thôi yêu ta. Nhiều khi nó là nơi tình yêu ấy đi vào tận chiều sâu. Nhưng chỉ khi thánh giá được mang trong sự thật, tự do, hiệp thông và phân định. Không tô hồng đau khổ. Không thiêng liêng hóa lạm dụng. Không gọi bệnh hoạn là hy sinh. Không gọi cô lập là thánh thiện. Không gọi kiệt sức là lòng nhiệt thành. Không gọi sự thao túng là vâng phục. Không gọi sự vô cảm là khiết tịnh. Không gọi sự thiếu trách nhiệm là phó thác. Thánh giá của Đức Kitô luôn đi cùng sự thật, sự sống và tình yêu.

Và nếu một ngày người linh mục nhìn lại những năm tháng của mình, người tu sĩ nhìn lại hành trình khấn dòng, đôi vợ chồng nhìn lại đời sống gia đình, người giáo dân nhìn lại những năm tháng làm việc giữa đời, có lẽ điều đẹp nhất không phải là nói: “Tôi đã không bao giờ mệt, không bao giờ nghi ngờ, không bao giờ muốn bỏ cuộc.” Điều đẹp nhất có lẽ là: “Tôi đã nhiều lần mệt. Tôi đã có lúc muốn bỏ. Tôi đã có những đêm không hiểu Chúa đang làm gì. Nhưng bằng một ân sủng nào đó, tôi vẫn ở lại. Và giờ tôi biết: không phải tôi trung thành giữ lấy Chúa cho bằng Chúa đã trung thành giữ lấy tôi.”

Đó chính là ân sủng thẳm sâu của thánh giá ơn gọi. Ta tưởng mình đang vác thập giá theo Chúa. Một ngày kia nhìn lại, ta mới nhận ra: trong rất nhiều đoạn đường, chính Đấng chịu đóng đinh đã vác cả thập giá lẫn chúng ta.

Lm. Anmai, CSsR

CHƯƠNG XI. THÁNH GIÁ BỆNH TẬT VÀ GIÀ NUA

Thân xác là nơi thánh giá ngồi xuống không xin phép. Có những thánh giá người ta còn có thể nhìn thấy từ xa và chuẩn bị phần nào để đón nhận; có những thánh giá đến từ một quyết định, một sự lựa chọn, một trách nhiệm, một lời khấn, một tương quan, một hoàn cảnh mà ít nhiều ta còn có thể gọi tên, cân nhắc, thương lượng, trì hoãn hoặc tìm cách thay đổi. Nhưng bệnh tật thì nhiều khi không như thế. Một buổi sáng người ta thức dậy và thấy thân xác mình không còn nghe lời mình nữa. Một lần khám định kỳ bỗng trở thành khởi đầu của những tháng ngày bệnh viện. Một cơn đau tưởng bình thường hóa ra là dấu hiệu của căn bệnh dài lâu. Một tai biến chỉ trong ít phút có thể biến một người đang đi lại, nói cười và tự lo liệu mọi sự thành người cần người khác đỡ ngồi, đỡ ăn, thay áo, lau mặt. Một kết quả xét nghiệm có thể chia đời người thành hai phần rất rõ: trước ngày biết mình bệnh và sau ngày biết mình bệnh. Khi ấy, thánh giá không còn chỉ là một hình ảnh treo trên tường hay một mầu nhiệm được suy niệm trong nhà thờ; thánh giá đi vào trong máu, xương, thần kinh, hơi thở, giấc ngủ, bữa ăn, bước chân, trí nhớ, khả năng tự chủ và cả lòng tự trọng của một con người. Bệnh tật lột đi khỏi ta rất nhiều ảo tưởng mà khi khỏe mạnh ta cứ tưởng đó là bản chất của mình. Ta tưởng mình mạnh. Ta tưởng mình cần thiết. Ta tưởng mình làm chủ lịch trình. Ta tưởng ngày mai sẽ giống hôm nay. Ta tưởng thân xác phải phục vụ ý muốn của ta. Ta tưởng chỉ cần cố gắng là có thể giải quyết phần lớn những điều khó khăn. Rồi bệnh đến và nhẹ nhàng hoặc dữ dội nói với ta rằng: không, con không làm chủ tất cả. Có những đêm con không thể bắt mình ngủ. Có những buổi sáng con muốn đứng lên nhưng đôi chân không chịu. Có những cơn đau mà ý chí không làm chúng biến mất. Có những tế bào trong cơ thể con đang hoạt động ngoài sự kiểm soát của con. Có những điều bác sĩ giỏi cũng không thể hứa chắc. Có những người từng điều khiển cả một cơ quan, một cộng đoàn, một doanh nghiệp, một gia đình, cuối cùng phải chờ một người khác dìu vào nhà vệ sinh. Thân xác khi ấy trở thành một trường dạy sự thật. Nó dạy sự thật về giới hạn, về sự mong manh, về tính thụ tạo, về việc ta đã nhận sự sống chứ không tự tạo ra sự sống, về việc ta có thể chăm sóc thân xác nhưng không sở hữu thân xác như một ông chủ tuyệt đối. Và chính ở đây, nếu được đón nhận trong đức tin, bệnh tật có thể trở thành một nơi rất sâu của cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa.

Người bệnh tốt lành không phải là người lúc nào cũng mỉm cười. Đừng biến sự thánh thiện thành một thứ diễn xuất. Đừng bắt người bệnh phải tỏ ra bình an để làm cho người khỏe dễ chịu. Đừng bắt một người đang đau phải nói những câu đạo đức đúng lúc chỉ vì chúng ta không biết phải làm gì trước nỗi đau của họ. Chúa Giêsu tại Ghếtsêmani đã không giả vờ rằng chén đắng không đắng. Người đã buồn sầu, xao xuyến, đổ mồ hôi như máu, xin các môn đệ ở lại với mình và thưa với Cha: “Nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Đó không phải là yếu đức tin. Đó là sự thật của một trái tim đang đi vào đau khổ. Một người bệnh có thể khóc. Có thể sợ. Có thể mệt mỏi. Có thể có những ngày cầu nguyện rất dễ và những ngày không đọc nổi một kinh. Có thể có lúc rất bình an và có lúc thấy lòng nổi loạn. Có thể hỏi: “Tại sao lại là con?” Có thể buồn vì thấy mình trở thành gánh nặng. Có thể tức giận vì mất tự do. Có thể tủi thân khi bạn bè dần ít đến. Có thể thấy sợ khi nhìn người thân đứng ngoài phòng bệnh nói nhỏ với bác sĩ. Tất cả những điều đó tự nó không làm người ấy xa Thiên Chúa. Điều quan trọng không phải là không bao giờ run sợ, nhưng là trong nỗi run sợ ấy, từ từ học cách để cho Chúa bước vào. Người bệnh tốt lành không phải là người vui vẻ giả tạo, nhưng là người dần dần trao thân xác mình cho Chúa như Đức Kitô đã trao thân xác Người trên thập giá: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Có khi lời phó thác ấy được nói bằng miệng. Có khi chỉ là một cái thở dài. Có khi chỉ là ánh mắt hướng về cây thánh giá. Có khi chỉ là việc không tuyệt vọng dù chẳng còn biết nói gì. Có khi là việc chấp nhận cho người khác chăm sóc mình. Có khi là việc bằng lòng uống thuốc, làm điều trị, tập vật lý trị liệu, ăn uống theo chế độ, giữ kỷ luật điều trị dù rất mệt. Phó thác không đồng nghĩa với bỏ cuộc. Phó thác là làm điều mình có thể rồi đặt điều mình không thể vào tay Thiên Chúa.

  1. CẦU XIN CHỮA LÀNH VÀ SẴN SÀNG VÁC

Cầu xin được chữa lành và sẵn sàng vác thánh giá không đối nghịch nhau. Đây là điều cần được nói rất rõ, bởi đôi khi người ta đã vô tình làm cho người bệnh cảm thấy tội lỗi chỉ vì họ cầu mong được khỏi. Có người nghĩ rằng người thánh thiện phải lập tức chấp nhận bệnh, không nên xin chữa, không nên than, không nên tìm cách giảm đau, như thể đau càng nhiều thì càng đạo đức. Đó không phải Tin Mừng. Chúa Giêsu đã chữa bệnh. Người chạm vào người phong cùi. Người mở mắt người mù. Người cho người bại liệt đứng dậy. Người chữa người phụ nữ bị băng huyết. Người làm cho kẻ điếc nghe được, kẻ câm nói được. Người chạnh lòng trước đau khổ thể xác của con người. Chính Hội Thánh, tiếp nối lòng thương xót ấy, từ lâu đã xây bệnh viện, chăm sóc người đau yếu, cổ võ y khoa, trao ban Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân, cầu nguyện cho người bệnh được nâng đỡ và nếu đẹp lòng Chúa thì được phục hồi sức khỏe. Xin được chữa lành không phải là chống lại thánh giá. Xin chữa lành là tuyên xưng rằng sự sống là quà tặng quý giá, thân xác có giá trị, bệnh tật không phải điều thiện tự thân và Thiên Chúa là Chúa của sự sống.

Người bệnh hoàn toàn có thể nói: “Lạy Chúa, xin chữa con.” Không cần phải thêm ngay một câu đạo đức để làm dịu lời xin ấy. Hãy cứ nói thật. “Con muốn sống. Con còn muốn ở với gia đình. Con còn những việc muốn làm. Con sợ chết. Con sợ đau. Xin Chúa thương con.” Một lời cầu như thế có thể chân thật hơn nhiều lời hoa mỹ. Anh mù Bartimê khi được Chúa hỏi muốn gì đã không nói một câu cao siêu. Anh thưa: “Lạy Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.” Người phong cùi không nói rằng mình xin dâng căn bệnh để nên thánh. Ông thưa: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch.” Giairô xin cho con gái mình sống. Hai chị em Mácta và Maria gửi tin cho Chúa: “Người Thầy thương mến đang đau nặng.” Tin Mừng đầy những lời cầu xin rất người như thế. Đó là những lời cầu được thốt lên từ sự yếu đuối nhưng cũng từ niềm tin rằng Thiên Chúa quan tâm đến thân xác con người.

Tuy nhiên, đức tin Kitô giáo không dừng lại ở câu: “Xin chữa con.” Có một câu khác khó hơn, sâu hơn, thường phải học rất lâu: “Nhưng nếu con chưa được chữa, xin đừng để con xa Chúa.” Đây là nơi thánh giá bắt đầu trở thành đường môn đệ. Có những người cầu xin và được chữa. Có những người được chữa một phần. Có những người y khoa có thể giúp họ sống thêm nhiều năm nhưng không lấy khỏi hoàn toàn căn bệnh. Có người phải sống cả đời với một giới hạn. Có người không khỏi. Có người chết dù cả cộng đoàn đã cầu nguyện rất nhiều. Đức tin không được xây trên một công thức rằng cầu đủ mạnh thì chắc chắn khỏi bệnh. Nếu ta biến bệnh thành thước đo đức tin — “Nếu anh đủ tin thì anh đã khỏi”, “Nếu chị thật sự tín thác thì Chúa sẽ chữa”, “Nếu gia đình cầu nguyện đúng cách thì bệnh sẽ biến mất” — ta đang đặt lên vai người bệnh một thánh giá khác mà Thiên Chúa không đặt: thánh giá của mặc cảm tội lỗi. Đó là một thứ bạo lực thiêng liêng. Nó khiến người bệnh vừa đau thân xác vừa phải tự hỏi phải chăng mình không được chữa vì mình kém tin, không đủ tốt, không đủ thánh thiện. Tin Mừng không cho phép chúng ta làm như vậy.

Nhiều vị thánh đã chết trong bệnh. Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu chết vì bệnh lao khi còn rất trẻ. Thánh Gioan Phaolô II đi những năm cuối đời với thân xác ngày càng suy yếu trước mắt cả thế giới. Thánh Phanxicô Assisi cuối đời mang nhiều bệnh tật. Không ai có thể nói những con người ấy thiếu đức tin. Sự thánh thiện không được đo bằng số lần ta thoát bệnh. Đức tin cũng không phải là quyền lực bắt Thiên Chúa làm theo ý ta. Đức tin là dám xin hết lòng nhưng vẫn giữ lòng mình trong tay Chúa khi câu trả lời của Người khác điều ta mong. Đức tin là biết rằng nếu Chúa chữa, Người vẫn là Chúa; nếu bệnh kéo dài, Người vẫn là Chúa; nếu ta sống, Người vẫn là Chúa; nếu ta phải bước qua cái chết, Người vẫn là Chúa. Chính ở đây, sự sẵn sàng vác thánh giá không phải là thái độ thụ động hay bi quan. Nó là lời tuyên xưng: “Dù hoàn cảnh này không thay đổi ngay, tình yêu của Chúa dành cho con không thay đổi. Dù thân xác con yếu đi, phẩm giá của con không giảm. Dù con không còn hữu dụng như trước, con vẫn đáng được yêu. Dù con không hiểu, con vẫn thuộc về Chúa.”

Có một điều rất khó trong bệnh tật: người ta thường đồng nhất giá trị bản thân với khả năng hoạt động. Khi khỏe, tôi chăm gia đình, làm việc, phục vụ, giảng dạy, kiếm tiền, lái xe, tổ chức, giúp người khác. Khi bệnh, tất cả đảo ngược: người khác phải chăm tôi. Điều đó làm nhiều người đau hơn cả cơn đau thể xác. Họ thấy mình vô dụng. Họ nói: “Tôi chỉ làm phiền người khác.” Đây là một trong những dối trá cần được chữa lành. Giá trị một con người không đến từ hiệu năng. Một đứa trẻ sơ sinh không làm được gì mà vẫn được yêu. Một người già nằm bất động không vì thế mà mất phẩm giá. Một người bệnh không thể phục vụ như trước vẫn là một nhân vị được Thiên Chúa yêu đến mức Đức Kitô đã chết cho người ấy. Có lúc thánh giá của bệnh tật chính là để ta học lại điều nền tảng này: trước khi ta làm gì cho Chúa, ta đã được Chúa yêu. Trước khi ta hữu ích cho ai, ta đã quý giá. Trước khi ta có thể cho đi, ta đã sống nhờ nhận lãnh.

Chính việc phải nhận sự chăm sóc đôi khi là một hình thức khó nghèo sâu sắc. Có người suốt đời thích giúp người khác nhưng rất khó để người khác giúp mình. Cho đi làm ta cảm thấy mạnh. Nhận lãnh làm ta thấy mình yếu. Nhưng Tin Mừng cũng có một linh đạo của việc nhận. Chúa Giêsu đã để người phụ nữ xức dầu cho chân Người. Người đã nhận nước từ người phụ nữ Samari. Người nhận sự tiếp đón của Mácta và Maria. Trên đường lên Núi Sọ, Người nhận sự trợ giúp của Simon thành Kyrênê. Người để người khác chạm vào thân xác mình sau khi chết, hạ xuống khỏi thập giá, tẩm liệm, đặt vào mồ. Có những lúc yêu mến Thánh Giá không phải là mạnh mẽ làm mọi sự, mà là khiêm tốn để người khác đỡ mình. Để một người con đút cho mình từng muỗng cháo. Để một y tá thay băng. Để người khác dìu mình đi. Để ai đó nghe mình than. Để một người bạn cầu nguyện bên giường. Để linh mục xức dầu. Để cộng đoàn mang mình khi mình không còn đủ sức tự đi. Đó cũng là một cách sống mầu nhiệm Thân Thể Đức Kitô: khi một chi thể yếu, những chi thể khác mang nó.

Có những người bệnh còn phải vác một thánh giá khác: đau mà người khác không thấy. Những căn bệnh mạn tính, những cơn đau kéo dài, những giới hạn thần kinh, những đêm mất ngủ, những tác dụng phụ của thuốc, những cơn kiệt sức mà người ngoài nhìn vào không hiểu. Họ có thể nghe những lời vô tình: “Trông vẫn khỏe mà”, “Cố lên là được”, “Đừng nghĩ đến bệnh nữa”, “Có gì đâu mà buồn.” Không phải mọi đau khổ đều hiện ra trên khuôn mặt. Vì thế lòng thương xót đòi ta chậm lại trước phán đoán. Có người đang chiến đấu một trận rất lớn chỉ để làm những việc mà với người khác là bình thường. Khi ấy, một trong những việc bác ái đẹp nhất là tin lời họ khi họ nói họ đau.

Đau đớn cũng đặt ra một câu hỏi thiêng liêng rất lớn: đau khổ có ý nghĩa gì? Kitô giáo không dạy rằng đau khổ tự nó là tốt. Nếu đau khổ tự nó là tốt, Chúa Giêsu đã không chữa người bệnh. Điều cứu độ không nằm trong cơn đau, nhưng trong tình yêu có thể được sống ngay giữa cơn đau. Thập giá của Đức Kitô không cứu thế giới vì gỗ, đinh, máu và đau đớn tự chúng có sức cứu. Thập giá cứu vì trên đó Con Thiên Chúa yêu đến cùng, vâng phục đến cùng, tự hiến đến cùng. Tội lỗi đã dựng thập giá; tình yêu đã biến thập giá thành nơi cứu độ. Cũng vậy, bệnh tật không tự động làm một người nên thánh. Bệnh có thể làm người ta cay đắng, đóng kín, tuyệt vọng. Nhưng khi được trao vào tay Chúa, bệnh tật có thể trở thành nơi đức tin được thanh luyện, lòng kiêu hãnh được tháo gỡ, lòng cảm thông được mở rộng, những điều thật sự quan trọng hiện ra và tình yêu được sống trong một hình thức rất nghèo nhưng rất tinh tuyền.

Người bệnh nhiều khi cầu nguyện cho thế giới theo một cách chính họ không nhận ra. Một bà cụ nằm nhiều năm trên giường có thể tưởng đời mình chẳng còn ích gì. Nhưng nếu mỗi sáng bà thưa: “Lạy Chúa, con dâng hôm nay cho Chúa”, lời dâng ấy không hề nhỏ. Một người cha đang điều trị ung thư nhưng vẫn cố nói lời dịu dàng với con có thể đang giảng một bài giảng về đức tin mạnh hơn nhiều bài nói từ bục giảng. Một tu sĩ đau yếu vẫn giữ lòng hiền hòa với người chăm sóc đang làm cho lời khấn của mình sáng lên theo một cách khác. Một linh mục không còn đủ sức làm mục vụ nhưng kiên nhẫn cầu nguyện cho đoàn chiên có thể đang sống thiên chức linh mục ở tầng sâu nhất: tự hiến chính mình. Trong mầu nhiệm hiệp thông các thánh, không có tình yêu nào bị lãng phí. Một tiếng “xin vâng” thầm lặng trên giường bệnh có thể mang sức nặng đời đời.

  1. GIÀ: THÁNH GIÁ CHẬM

Già là một thứ thánh giá rất lạ vì nó thường không đến như một biến cố. Nó đến chậm. Nó không gõ cửa một lần; nó vào từng chút. Một hôm chữ trên sách bắt đầu nhỏ quá. Một hôm người ta phải tăng âm lượng điện thoại. Một hôm bước cầu thang quen thuộc làm chân mỏi hơn. Một hôm người ta quên tên một người mình rất quen. Một hôm phải nhờ người khác đọc hộ tin nhắn. Một hôm không còn lái xe được nữa. Một hôm những cuộc họp vẫn diễn ra nhưng không ai còn hỏi ý kiến mình. Một hôm con cháu nói về những điều mình không hiểu. Một hôm căn nhà vẫn là căn nhà ấy nhưng các tiếng động ban đêm làm mình sợ hơn. Một hôm nhìn vào gương và bất chợt nhận ra khuôn mặt của cha mẹ ngày xưa đang dần hiện trên khuôn mặt mình. Già không ồn. Già lấy dần. Nó lấy mắt, lấy tai, lấy sức, lấy tốc độ, lấy trí nhớ, lấy sự độc lập, đôi lúc lấy cả vị trí xã hội và cảm giác mình còn cần thiết.

Bởi vậy thánh giá tuổi già không chỉ là đau lưng, đau gối hay bệnh tật. Có một thánh giá sâu hơn: học cách rời khỏi trung tâm. Suốt nhiều năm, một người có thể là người quyết định trong nhà, người được hỏi ý, người quản lý tiền, người tổ chức mọi chuyện. Rồi từ từ các con bắt đầu quyết định thay. Điều ấy có thể rất khó. Có người già trở nên cáu gắt không hẳn vì tính xấu tăng lên, nhưng vì họ đang đau bởi cảm giác mất quyền tự chủ. Có người hỏi đi hỏi lại không phải để gây phiền, nhưng vì trí nhớ đã không giữ được câu trả lời. Có người hay kể chuyện cũ không phải vì họ không biết người khác đã nghe, nhưng vì quá khứ đang trở thành vùng đất chắc chắn nhất khi hiện tại càng lúc càng xa lạ. Có người bám vào một món đồ cũ vì món đồ ấy giữ một phần ký ức của họ. Có người không muốn bỏ ngôi nhà dù con cái thấy việc chuyển đi là hợp lý, bởi căn nhà ấy không chỉ là tường và mái: ở đó có tiếng cười của người bạn đời đã mất, có bước chân con cái khi còn nhỏ, có bàn ăn của hàng chục năm gia đình.

Nếu muốn đồng hành với tuổi già, ta phải học tôn trọng thế giới nội tâm ấy. Đừng chỉ nhìn người già như bài toán chăm sóc. Đừng quyết định mọi thứ cho họ chỉ vì nhanh hơn. Họ có thể chậm nhưng vẫn có phẩm giá. Họ có thể cần trợ giúp nhưng vẫn cần được hỏi. Một cụ già có thể mất khả năng nhớ ngày tháng nhưng không mất quyền được đối xử dịu dàng. Có khi việc yêu thương họ là nhắc lại một câu lần thứ mười mà không tỏ vẻ khó chịu. Có khi là chờ họ cài chiếc nút áo thật lâu thay vì giành làm hộ. Có khi là để họ kể lại câu chuyện mà ta đã nghe một trăm lần bởi câu chuyện ấy chính là một phần đời họ đang cố giữ lại.

Tuổi già cũng có một sự nghèo rất sâu: chứng kiến thế giới tiếp tục mà không cần đến mình như trước. Người khác đảm nhiệm công việc ta từng làm. Người trẻ biết những điều ta không biết. Cơ quan có người mới. Cộng đoàn có người mới. Những dự án ta từng gánh giờ người khác tiếp tục. Nếu không sống trong đức tin, điều này có thể trở thành nỗi cay đắng lớn. Người ta bám vào quyền lực, vai trò, danh xưng vì sợ rằng khi những điều đó mất thì mình cũng mất. Nhưng chính ở đây tuổi già có thể trở thành một cuộc thanh luyện rất đẹp: Chúa từ từ hỏi ta, “Nếu không còn chức vụ, con là ai? Nếu không còn ai cần lời khuyên của con, con là ai? Nếu không còn làm được những điều con từng làm, con có tin rằng con vẫn là con của Cha không?” Những câu hỏi ấy khó hơn nhiều bài giáo lý.

Yêu mến Thánh Giá lúc già là học trở nên nghèo đúng nghĩa. Không phải nghèo vì không có gì, nhưng nghèo vì không còn bám vào gì để chứng minh mình. Nghèo đến mức danh dự không còn cần được bảo vệ bằng mọi giá. Nghèo đến mức chấp nhận rằng người khác sẽ làm khác mình. Nghèo đến mức không cần cuộc đời phải xoay quanh ý mình. Nghèo đến mức mỗi ngày có thể nói như Gioan Tẩy Giả: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Có một vẻ đẹp rất lớn nơi người già đã đi qua cuộc thanh luyện này. Họ không còn cần hơn thua. Họ không còn muốn kiểm soát. Họ biết cười trước những giới hạn của mình. Họ vui khi người trẻ thành công. Họ nói ít nhưng lời có trọng lượng. Họ trở thành nơi người khác cảm thấy bình an. Đó là tuổi già đã đi qua thánh giá mà thành phúc lành.

Nhưng cũng đừng lãng mạn hóa tuổi già. Có những tuổi già rất cô đơn. Có người sống giữa thành phố đông người nhưng cả ngày không ai nói chuyện. Có người có nhiều con nhưng các con đều bận. Có người ở viện dưỡng lão và cứ chiều chiều nhìn cửa. Có người cầm điện thoại nhưng không biết gọi cho ai vì sợ làm phiền. Có người mất bạn đời sau năm mươi năm chung sống rồi phải học ngủ một mình trong căn phòng từng có hai người. Có người những ngày lễ là những ngày buồn nhất vì chúng nhắc rằng gia đình từng đông hơn. Có người nghe người khác nói về tương lai nhưng bản thân biết tương lai của mình ngày càng ngắn. Những thánh giá ấy không nằm trên phim chụp X-quang. Bác sĩ không kê thuốc được cho chúng. Nhưng chúng có thật.

Vì thế, xã hội nào chỉ tôn vinh người trẻ, tốc độ, năng suất và vẻ đẹp thể lý là xã hội dễ làm người già bị đóng đinh lần thứ hai. Tuổi già không phải rác thải của đời người. Người già không phải phần đời đã hết giá trị. Một nền văn minh được đo không chỉ bằng cách nó giáo dục trẻ em nhưng còn bằng cách nó đối xử với người già. Giáo Hội càng phải là nơi người già cảm thấy rằng họ không bị loại khỏi sự sống cộng đoàn. Họ có thể không chạy chương trình, nhưng họ mang ký ức. Họ có thể không sử dụng thành thạo công nghệ, nhưng họ giữ những câu chuyện. Họ có thể không nói nhanh, nhưng họ đã đi qua nhiều mùa đời. Họ nhắc thế hệ trẻ rằng thế giới không bắt đầu từ chúng ta.

Trong tuổi già, ký ức đức tin trở nên đặc biệt quý giá. Có những cụ không còn nhớ nhiều điều, nhưng vẫn nhớ kinh Kính Mừng. Có người lẫn nhiều, nhưng nghe một bài thánh ca quen thì môi bắt đầu hát. Có người không còn đọc sách được nhưng vẫn lần chuỗi. Những điều đó nói với ta rằng đức tin khi được sống suốt đời có thể đi sâu hơn trí nhớ ý thức. Nó trở thành một thứ ký ức của thân xác và linh hồn. Bởi vậy, những thói quen cầu nguyện nhỏ hôm nay không nhỏ. Một người trẻ học làm dấu thánh giá mỗi sáng có thể đang gieo một hạt sẽ cứu họ khỏi cô đơn tám mươi năm sau. Người tập đọc Thánh Kinh, tham dự Thánh Lễ, lần chuỗi, cầu nguyện trong gia đình hôm nay đang tạo nên những con đường nội tâm mà khi tuổi già làm mờ nhiều thứ, linh hồn vẫn còn biết đường trở về.

Tuổi già cũng dạy ta về sự chết. Khi còn trẻ, cái chết là một ý tưởng. Khi già, cái chết bắt đầu có tên của bạn bè. Từng người một đi trước. Một ghế trong nhóm trống. Một số điện thoại không còn gọi được. Một người bạn đồng lớp mất. Một người anh em trong cộng đoàn ra đi. Một người bạn đời nằm xuống. Nghĩa trang bắt đầu có nhiều người quen hơn. Điều đó có thể làm người già sợ, nhưng cũng có thể làm họ khôn ngoan. Thánh Vịnh nói: “Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống, ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan.” Người trẻ thường sống như thể thời gian vô tận. Người già biết một ngày không phải thứ có thể lãng phí mãi. Có người tuổi già trở nên dịu hơn vì họ biết đời ngắn. Có người chủ động làm hòa. Có người gọi cho đứa con đã xa cách. Có người xin lỗi. Có người trả lại món nợ cũ. Có người chuẩn bị di chúc để con cháu khỏi tranh cãi. Có người chuẩn bị tang lễ. Có người nói về cái chết mà không bệnh hoạn, nhưng như người chuẩn bị cho chuyến đi cuối.

Kitô hữu không yêu cái chết. Chúng ta yêu sự sống. Nhưng chúng ta không tuyệt vọng trước cái chết vì Đức Kitô đã bước qua nó. Tuổi già có thể là mùa con người học câu cuối cùng của Kinh Tin Kính bằng chính thân xác mình: “Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau.” Khi mắt mờ đi, ta được mời tin vào điều chưa thấy. Khi tai nghe kém, ta được mời lắng nghe tiếng khác sâu hơn. Khi chân yếu, ta được mời để Chúa dẫn. Khi bàn tay không còn nắm chắc, ta được mời mở tay. Toàn bộ tiến trình già đi, nếu được sống trong đức tin, có thể trở thành một cuộc tập buông để một ngày có thể buông cả sự sống mà không rơi vào hư vô, nhưng rơi vào tay Cha.

  1. ĐỒNG HÀNH NGƯỜI BỆNH

Thăm viếng thể xác là một việc thương xót. “Ta đau yếu, các ngươi đã thăm Ta.” Chúa không nói: Ta đau yếu, các ngươi đã giải thích tại sao Ta đau. Người nói: các ngươi đã thăm Ta. Nhiều khi sự hiện diện quý hơn giải thích. Chúng ta thường sợ sự bất lực của mình trước người bệnh nên cố lấp đầy căn phòng bằng lời. Nhưng phòng bệnh không phải bục giảng. Người đau không phải một đề tài thần học. Họ là một con người. Đừng bước vào phòng bệnh với một bài giảng có sẵn. Hãy bước vào như người đứng dưới thập giá.

Đứng dưới thập giá nghĩa là gì? Đức Maria không tháo được đinh. Gioan không làm Chúa Giêsu hết đau. Các phụ nữ đứng đó không thay đổi bản án. Nhưng họ ở lại. Có lúc điều tốt nhất ta làm được cho người bệnh chính là ở lại. Ngồi trên chiếc ghế cạnh giường. Nắm tay nếu họ muốn. Hỏi nhỏ: “Hôm nay có đau nhiều không?” Rồi nghe. Không vội sửa. Không vội giảng. Không vội kể trường hợp của một người khác đã khỏi thần kỳ như thể người trước mặt chỉ cần cố gắng giống người kia. Đừng nói: “Chúa thử thách vì Chúa yêu” khi người ta vừa nhận chẩn đoán nặng. Đừng nói: “Có lẽ Chúa cần một thiên thần” với người mẹ đang mất con. Đừng nói: “Thôi, ai rồi cũng chết” với một người đang sợ. Những câu đó có thể đúng một mảnh nào đó trong một bối cảnh nào đó, nhưng nói sai lúc có thể trở thành dao.

Lòng thương xót bắt đầu bằng việc để nỗi đau của người khác được là nỗi đau. Chúa Giêsu đến mộ Lazarô đã khóc. Người biết Người sẽ làm gì, nhưng Người vẫn khóc. Điều đó rất quan trọng. Đứng trước đau khổ, chân lý không hủy nước mắt. Đức tin không loại bỏ tang thương. Hy vọng không cấm người ta buồn. Có khi ta không cần nói: “Đừng khóc.” Hãy để họ khóc. Có những giọt nước mắt cần được chảy để trái tim không hóa đá.

Ngồi im cũng là phục vụ. Trong một thế giới nơi ai cũng muốn nói, người biết im lặng bên đau khổ là một quà tặng. Không phải sự im lặng lạnh lùng, nhưng sự im lặng có hiện diện: “Tôi ở đây. Tôi không bỏ anh một mình.” Có khi người bệnh ngủ và người thăm chỉ ngồi đó mười phút. Chẳng có cuộc trò chuyện nào, nhưng khi họ tỉnh và thấy có người ở bên, họ biết mình chưa bị bỏ quên.

Đồng hành người bệnh cũng đòi sự tế nhị. Người bệnh không phải tài sản chung để ai cũng được hỏi mọi chi tiết. Đừng tò mò quá mức. Đừng mang chuyện bệnh của họ đi kể nếu họ không muốn. Đừng biến bệnh của người khác thành nội dung trên mạng xã hội chỉ để chứng minh mình quan tâm. Phẩm giá cần được bảo vệ ngay trong sự yếu đuối. Người bệnh có quyền giữ những điều riêng tư. Có những thông tin y tế chỉ gia đình và người hữu trách cần biết.

Chăm sóc lâu dài cũng là thánh giá cho người chăm. Điều này cần được nói vì đôi khi mọi sự chú ý đều hướng về bệnh nhân mà quên rằng người bên cạnh họ cũng đang kiệt sức. Một người vợ chăm chồng mất trí nhớ nhiều năm có thể cạn sức. Một người con chăm mẹ liệt có thể vừa yêu mẹ vừa có lúc bực bội. Một người thân thức đêm liên tục có thể trở nên dễ cáu. Điều đó không nhất thiết có nghĩa họ thiếu tình yêu. Thân xác có giới hạn. Người chăm sóc cũng cần ngủ, cần được thay ca, cần được lắng nghe. Không ai nên bị ép phải trở thành anh hùng hai mươi bốn giờ mỗi ngày.

Cộng đoàn Kitô hữu đồng hành tốt không chỉ nói “chúng tôi cầu nguyện cho gia đình”, nhưng biết biến lời cầu thành việc cụ thể. Có thể mang một bữa ăn. Có thể thay nhau ở với người bệnh để người chăm chính đi nghỉ. Có thể chở đi khám. Có thể giúp làm giấy tờ. Có thể thăm ngắn nhưng đều. Có thể nhớ gọi điện. Có thể hỗ trợ chi phí trong âm thầm. Tình yêu nhập thể luôn có hình hài. Người Samari nhân hậu không chỉ cảm thương. Ông xuống ngựa, lại gần, băng bó vết thương, đổ dầu và rượu, đặt người bị nạn lên vật cưỡi, đưa đến quán trọ và trả tiền chăm sóc. Lòng thương xót Kitô giáo không chỉ là cảm xúc. Nó có lịch, có đôi tay, có thời gian, có tiền, có mệt.

Người đồng hành cũng cần biết lúc nào nên nói về Bí tích Xức Dầu. Nhiều gia đình sợ mời linh mục vì nghĩ Xức Dầu đồng nghĩa với sắp chết. Thật đáng tiếc. Bí tích này không chỉ dành cho giây phút cuối. Đó là bí tích của Chúa Kitô chữa lành, nâng đỡ người đang đau bệnh nghiêm trọng hoặc yếu nhiều vì tuổi già. Đừng đợi người bệnh mê man rồi mới gọi linh mục chỉ vì sợ họ hoảng. Khi còn tỉnh, họ có thể xưng tội, lãnh Xức Dầu, rước lễ, cầu nguyện, hòa giải, cảm nghiệm sự hiện diện của Giáo Hội một cách trọn vẹn hơn. Có biết bao người sau khi lãnh bí tích đã bình an sâu xa, dù bệnh chưa khỏi.

Và nếu bệnh tiến dần về cái chết, đồng hành lại bước vào một vùng thánh thiêng hơn nữa. Lúc ấy đừng nói dối người bệnh chỉ vì ta sợ. Tất nhiên cần khôn ngoan, tế nhị và phù hợp hoàn cảnh, nhưng cũng đừng cướp của người ta cơ hội chuẩn bị linh hồn. Có người cần nói lời cuối với con. Có người cần xin lỗi. Có người cần hòa giải. Có người muốn lãnh các bí tích. Có người có điều chưa dặn. Cái chết không nên bị đẩy ra khỏi căn phòng như một điều cấm kỵ đến mức người sắp chết phải giả vờ không biết để làm người sống bớt sợ.

Có một nghệ thuật Kitô giáo rất đẹp là giúp một người chết trong bình an. Không phải làm cho cái chết đẹp lên. Cái chết vẫn là kẻ thù cuối cùng. Nhưng ta có thể làm cho người ấy không phải đi một mình. Có thể đọc Thánh Vịnh. Có thể lần chuỗi. Có thể nói nhỏ bên tai: “Chúng con ở đây.” Có thể xin họ tha thứ. Có thể nói: “Ba cứ bình an. Chúng con thương ba.” Có những người giữ sự sống lại vì lo cho người thân; một lời cho phép họ đi trong bình an đôi khi là món quà cuối. Trong giây phút ấy, căn phòng bệnh có thể trở thành một nhà nguyện. Một hơi thở yếu dần có thể trở thành lời cầu. Bàn tay một người con nắm tay cha có thể trở thành hình ảnh rất thật của Thiên Chúa đang đón lấy con mình.

Thánh giá bệnh tật và già nua cuối cùng buộc chúng ta hỏi: ta tin gì về con người? Nếu con người chỉ là khả năng sản xuất, thì người bệnh và người già dần trở thành gánh nặng. Nếu giá trị của một người được đo bằng hiệu suất, trí nhớ, sức khỏe, ngoại hình và khả năng tự lập, thì nhiều người sẽ bị xem như đã hết giá trị trước khi họ chết. Nhưng Kitô giáo công bố một điều hoàn toàn khác: phẩm giá con người đến từ việc họ được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, được Đức Kitô cứu chuộc và được gọi vào sự sống đời đời. Vì thế người nằm bất động vẫn có phẩm giá. Người mất trí nhớ vẫn có phẩm giá. Người không còn nhận ra con mình vẫn có phẩm giá. Người không nói được vẫn có phẩm giá. Người phải được đút ăn từng muỗng vẫn có phẩm giá. Không có giai đoạn nào của đời người mà phẩm giá biến mất.

Và có lẽ chính những người yếu nhất lại đang giữ cho thế giới còn là người. Một em bé buộc người lớn học dịu dàng. Một người bệnh buộc gia đình học chậm lại. Một cụ già buộc con cháu nhớ rằng tình yêu không được đo bằng hiệu suất. Những ai không thể “đóng góp” theo tiêu chuẩn kinh tế lại đang âm thầm hỏi toàn xã hội một câu rất lớn: các người có thể yêu một người chỉ vì người ấy là người không?

Thánh giá bệnh tật không được chọn. Thánh giá tuổi già phần lớn cũng không được chọn. Nhưng cách ta mang nó, cách ta đứng bên người đang mang nó, có thể trở thành một chọn lựa của tình yêu. Có người bệnh không khỏi nhưng gia đình được chữa. Có người già đi nhưng lòng trở nên trẻ. Có người mất sức nhưng tìm lại được Chúa. Có người phải nằm xuống nhưng lần đầu tiên biết để người khác yêu mình. Có người không còn nói nhiều nhưng sự hiện diện của họ trở thành một lời cầu. Có những căn phòng bệnh nơi người ta học yêu sâu hơn cả nhiều lớp giáo lý.

Ngày cuối cùng, mỗi người chúng ta rất có thể sẽ phải đi vào sự nghèo mà chương này đang nói đến. Có thể mắt ta sẽ yếu. Tai ta sẽ kém. Tay ta run. Bước chân ta chậm. Trí nhớ ta không còn như trước. Có thể ta phải trao chìa khóa xe cho người khác. Có thể ta phải nhờ người khác mặc áo. Có thể một ngày chính ta sẽ nằm trên chiếc giường và nhìn người thân đứng quanh. Nếu hôm nay ta học yêu người bệnh, ta đang chuẩn bị cho chính mình. Nếu hôm nay ta tôn trọng người già, ta đang dọn đường cho tuổi già của mình. Nếu hôm nay ta học rằng con người đáng yêu không vì sức mạnh, ta sẽ bớt hoảng khi sức mạnh của ta rời đi.

Và khi mọi sức lực rời đi, vẫn còn một điều không ai có thể lấy: ta thuộc về Đức Kitô. Thánh Phaolô nói: “Dầu sống, dầu chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa.” Đó là nền móng sâu nhất dưới mọi thánh giá bệnh tật. Tôi có thể mất sức nhưng không mất Chúa. Tôi có thể mất trí nhớ nhưng Chúa không quên tôi. Tôi có thể không còn gọi được tên Người, nhưng Người vẫn gọi đúng tên tôi. Tôi có thể không còn hiểu những gì diễn ra quanh mình, nhưng tình yêu Người không phụ thuộc vào khả năng hiểu của tôi. Khi tôi không còn đủ sức nắm tay Chúa, Chúa vẫn nắm tay tôi.

Có lẽ cuối cùng đó là điều người bệnh và người già cần nghe nhất, không nhất thiết bằng lời mà bằng cả cách chúng ta hiện diện: “Ông không bị bỏ quên. Bà không phải gánh nặng. Cha vẫn thuộc về gia đình này. Mẹ vẫn quý giá. Anh vẫn là anh. Chị vẫn là chị. Dù bệnh đã lấy đi nhiều thứ, nó không lấy được phẩm giá. Dù tuổi già lấy dần sức mạnh, nó không lấy được tên mà Thiên Chúa đã gọi từ đời đời.”

Thánh giá của bệnh tật rất thật. Thánh giá của tuổi già rất chậm. Nhưng trên mọi thánh giá ấy, Đức Kitô đã đi trước. Người biết thế nào là thân xác đau. Người biết thế nào là khát. Người biết thế nào là không tự xuống khỏi thập giá. Người biết thế nào là để kẻ khác cởi áo mình, chạm vào thân xác mình, mang xác mình đi. Không nơi nào của thân phận con người hoàn toàn xa lạ với Người. Vì vậy người bệnh không nằm một mình. Người già không bước một mình. Ngay cả trong căn phòng tối nhất, vẫn có một Đấng đã mang dấu đinh đang ngồi bên giường.

Và rồi, phía bên kia mọi suy yếu, phía bên kia mọi phòng bệnh, phía bên kia mọi tiếng máy thở và bước chân chậm chạp, đức tin chúng ta còn dám nói một điều rất lớn: thân xác này sẽ sống lại. Chính thân xác từng mỏi mòn sẽ được đổi mới. Chính đôi mắt từng mờ sẽ thấy. Chính đôi tai từng kém sẽ nghe. Chính đôi chân từng không bước nổi sẽ đứng lên trong một trời mới đất mới. Kitô giáo không hứa ta sẽ mãi mãi thoát khỏi mọi bệnh trên đời này. Kitô giáo hứa điều lớn hơn: cái chết không phải tiếng nói cuối. Đức Kitô Phục Sinh là tiếng nói cuối. Vì thế người môn đệ có thể vừa xin được chữa lành hôm nay, vừa chuẩn bị bước vào sự sống đời đời; vừa điều trị hết sức, vừa phó thác hết lòng; vừa khóc, vừa hy vọng; vừa sợ, vừa tin.

Yêu mến Thánh Giá trong bệnh tật và tuổi già không phải là yêu cơn đau, không phải là khước từ thuốc men, không phải là tìm khổ, không phải là buộc mình cười khi lòng muốn khóc. Yêu mến Thánh Giá là không để cơn đau cắt đứt mình khỏi tình yêu. Là giữa lúc thân xác nói “con yếu”, linh hồn vẫn học nói “Chúa ở đây”. Là giữa lúc đời lấy đi từng thứ, ta khám phá điều không ai lấy được. Là đến cuối cùng, khi chẳng còn gì để dâng ngoài chính sự yếu đuối của mình, ta đặt nó vào tay Đức Kitô và nói: “Lạy Chúa, thân xác này Chúa đã ban cho con. Con đã sống trong nó, làm việc trong nó, yêu thương bằng nó, phạm tội bằng nó, cầu nguyện bằng nó, khóc bằng nó, cười bằng nó. Hôm nay nó mỏi rồi. Con xin trao lại cho Chúa. Xin giữ lấy con.”

Và có lẽ lúc đó, thánh giá không còn chỉ là vật ta vác. Thánh giá trở thành nơi Đấng chịu đóng đinh cúi xuống vác chính ta.

CHƯƠNG XII. THÁNH GIÁ THẤT BẠI, NHỤC NHÃ VÀ ĐÊM TỐI ĐỨC TIN

Có những thánh giá người ta có thể nhìn thấy: một thân xác mang bệnh, một đôi chân không còn bước nổi, một căn phòng bệnh viện, một chiếc xe lăn, một mái đầu rụng tóc vì hóa trị, một khuôn mặt hằn dấu thời gian, một nấm mồ còn mới. Nhưng cũng có những thánh giá không ai nhìn thấy được bằng mắt. Chúng không chảy máu trên da thịt nhưng chảy máu trong lòng. Chúng không làm người ta phải bó bột một cánh tay nhưng có thể làm cả linh hồn như bị gãy. Đó là thất bại. Đó là nhục nhã. Đó là bị hiểu lầm. Đó là một công trình mình đã dốc cả cuộc đời để xây dựng bỗng tan. Đó là một sứ vụ mình tưởng Chúa trao mà cuối cùng dường như chẳng sinh được hoa trái gì. Đó là một ơn gọi mà có những ngày nhìn lại, ta tự hỏi trong run rẩy: “Lạy Chúa, có phải con đã đi nhầm đường không?” Đó là khi một linh mục tận tụy nhiều năm mà đến một ngày bị người ta quay lưng; khi một tu sĩ từng trao tất cả tuổi trẻ cho cộng đoàn mà rồi lại bị chính những người cùng mái nhà làm tổn thương; khi một người phục vụ âm thầm bị người khác nhận hết công lao; khi một người sống ngay thẳng lại bị vu oan; khi người muốn bảo vệ sự thật lại trở thành người bị nghi ngờ; khi người đã trung thành rất lâu lại gặp một biến cố khiến tất cả quá khứ dường như bị phủ một màu tối. Và có một thánh giá còn sâu hơn nữa: cầu nguyện mà không cảm thấy gì, vào nhà thờ mà lòng khô như đất hạn, đọc Lời Chúa mà chữ nghĩa rơi xuống tâm hồn như hạt giống rơi trên đá, quỳ trước Thánh Thể mà tưởng như trước mặt mình chỉ còn im lặng, kêu “Lạy Chúa” mà không nghe một tiếng vọng trở về. Đó là thánh giá của thất bại, của nhục nhã và của đêm tối đức tin. Những thánh giá ấy đặc biệt đau bởi vì chúng đánh vào nơi sâu nhất của căn tính con người. Bệnh tật khiến ta hỏi: “Tại sao thân xác tôi thế này?” Nhưng thất bại có thể khiến ta hỏi: “Tôi còn là ai?” Bị mất tiền khiến ta mất một phần những gì mình có; bị mất danh dự có thể làm ta tưởng mình mất chính mình. Một lời phê bình sai về công việc làm ta buồn; một lời tố cáo sai về nhân cách có thể khiến ta sụp đổ. Và khi sự nhục nhã xảy ra ngay trong đời sống đức tin, nỗi đau lại càng sâu: “Con đã phục vụ Chúa, tại sao Chúa để chuyện này xảy ra? Con đã cố sống tử tế, tại sao con lại trở thành người bị nghi ngờ? Con đã trao đời con cho Chúa, tại sao cuối cùng con lại thấy trống rỗng đến thế?” Có những câu hỏi không thể trả lời bằng một câu giáo lý thuộc lòng. Có những vết thương không được chữa bằng lời khuyên “cố lên”. Có những đêm không thể làm sáng bằng vài câu đạo đức. Muốn hiểu những thánh giá này, ta phải đi thật sâu vào mầu nhiệm Thập Giá Đức Kitô, bởi vì chính Người cũng đã bước vào thất bại, nhục nhã, bị hiểu lầm, bị phản bội và bóng tối đến tận cùng.

  1. THẤT BẠI KHÔNG TỰ ĐỘNG LÀ DẤU CHÚA BỎ

Con người rất dễ đồng hóa thành công với phúc lành. Làm được việc thì tưởng Chúa thương. Được nhiều người quý thì tưởng mình đang đi đúng đường. Công việc phát triển thì tưởng chắc chắn đó là ý Chúa. Nhà thờ đông thì thấy vui; nhóm sinh hoạt đông thì thấy thành công; bài giảng được nhiều người nghe thì tưởng mình đang phục vụ hữu hiệu; một bài viết được chia sẻ rộng rãi thì tưởng rằng Tin Mừng đang chiến thắng. Ngược lại, khi thất bại, ta rất dễ nghĩ mình đã bị Chúa bỏ: chương trình không thành, người ta không hưởng ứng, cộng đoàn chia rẽ, việc mình xây nhiều năm bị người khác phá đi, sức khỏe không còn đủ để làm điều mình muốn, trách nhiệm bị lấy khỏi tay, tiếng nói không còn được nghe. Nhưng Tin Mừng dạy ta một chân lý nghiêm khắc: thành công bên ngoài không phải lúc nào cũng là dấu Thiên Chúa hài lòng, và thất bại bên ngoài không phải lúc nào cũng là dấu Thiên Chúa đã rời bỏ. Nếu lấy thành công làm thước đo tuyệt đối cho ý Chúa, ta sẽ không thể hiểu ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Bởi vì, nếu chỉ nhìn bằng con mắt của thế gian, ngày Thứ Sáu ấy là một thất bại toàn diện. Đức Giêsu đã bắt đầu rao giảng với những đám đông đi theo Người. Người chữa bệnh. Người trừ quỷ. Người làm cho người què đi được, người mù thấy được, người chết sống lại. Người nói với uy quyền khiến dân chúng kinh ngạc. Có lúc hàng ngàn người vây quanh Người. Có lúc người ta muốn tôn Người làm vua. Các môn đệ đã có thể nghĩ: Nước Thiên Chúa sắp đến trong vinh quang. Nhưng rồi mọi sự đổi chiều. Người bị phản bội bởi một người trong Nhóm Mười Hai. Người bị bỏ rơi bởi những người từng tuyên bố sẽ chết với Người. Phêrô chối Người. Đám đông từng reo hò có thể không còn đó. Các nhà lãnh đạo tôn giáo lên án Người. Chính quyền Rôma hành hình Người. Người chết giữa hai tên tội phạm. Tấm bảng trên đầu biến tước hiệu của Người thành lời chế nhạo. Người bị lột áo. Người bị phơi bày trước đám đông. Người bị cười nhạo ngay trong lúc hấp hối. Và cuối cùng, Người được đặt vào một ngôi mộ mượn của người khác. Nếu lịch sử dừng ở chiều Thứ Sáu, ai dám gọi đó là thành công? Nếu một người chỉ đứng dưới chân đồi Canvê lúc hoàng hôn hôm ấy và không biết chuyện gì sẽ xảy ra sau đó, người ấy có thể nói: “Dự án của ông Giêsu Nadaret đã kết thúc. Người ta đã giết ông. Các môn đệ đã tan. Mọi hy vọng đã chôn trong mộ.” Nhưng Thiên Chúa chưa nói lời cuối cùng. Đây là điều người môn đệ phải khắc sâu vào lòng: đừng bao giờ đặt dấu chấm nơi Thiên Chúa mới đặt dấu phẩy. Đừng tự viết đoạn kết trong lúc câu chuyện của Chúa vẫn đang tiếp tục. Sáng Phục Sinh không phủ nhận Thứ Sáu Tuần Thánh. Những lỗ đinh vẫn còn. Cạnh sườn vẫn mang vết thương. Đức Kitô Phục Sinh không xuất hiện như thể chưa từng bị đóng đinh. Người sống lại với những dấu đinh. Nghĩa là Thiên Chúa không cứu bằng cách xóa lịch sử đau khổ, nhưng bằng cách đi xuyên qua nó và biến đổi ý nghĩa của nó. Chính vì thế, khi đời ta bước vào một “chiều Thứ Sáu”, điều quan trọng nhất chưa chắc là tìm ngay câu trả lời, mà là đừng tuyệt vọng viết chữ “hết”. Có những thất bại hôm nay ta chưa hiểu. Có những lần bị lấy mất trách nhiệm sau này mới thấy là Chúa giải thoát ta khỏi một điều đã trở thành thần tượng. Có một cánh cửa đóng lại để một cánh cửa khác mở ra. Có những công trình ta xây nhưng người khác gặt. Có những hạt giống gieo xuống mà người gieo chết trước khi thấy mùa. Có những điều ta tưởng hoàn toàn vô ích nhưng nhiều năm sau mới nhận ra đã âm thầm thay đổi một đời người. Và cũng có những thất bại không bao giờ được giải thích trọn vẹn ở đời này. Đức tin không hứa với ta rằng cuối cùng ta sẽ hiểu mọi biến cố; đức tin hứa rằng ngay cả khi không hiểu, ta vẫn có thể trao lịch sử mình vào bàn tay Đấng hiểu. Yêu Thánh Giá trong thất bại không phải nói rằng thất bại là tốt. Thất bại đau là đau. Mất một công trình mình dốc sức xây dựng vẫn là mất. Bị loại khỏi một trách nhiệm mình yêu vẫn làm lòng đau. Bị một người hiểu lầm vẫn khiến ta muốn khóc. Kitô giáo không bảo con người phải giả bộ: “Không sao, con vui lắm.” Chúa Giêsu ở Ghetsêmani không giả bộ. Người buồn đến chết được. Người xin cho chén đắng qua đi. Nhưng giữa nỗi buồn ấy, Người vẫn giữ lại một sợi dây nối với Cha: “Xin đừng theo ý Con, nhưng xin theo ý Cha.” Có những lúc đức tin của ta cũng chỉ còn một sợi dây rất mảnh như thế. Không còn cảm xúc. Không còn hăng hái. Không còn lời cầu nguyện đẹp. Chỉ còn một câu: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con chưa muốn bỏ Chúa.” Có khi đó chính là một trong những lời tuyên xưng đức tin đẹp nhất đời người. Bởi tin khi mọi sự thuận lợi chưa chắc khó. Tin khi đường sáng chưa chắc khó. Nhưng vẫn trao mình cho Chúa lúc chẳng thấy gì, ấy là đức tin đã được đưa qua lửa.

Thất bại còn có một công việc âm thầm khác: nó bóc khỏi ta ảo tưởng rằng ta là vị cứu tinh. Trong đời phục vụ, nhất là đời sống mục vụ, người ta rất dễ bắt đầu làm việc vì Chúa rồi dần dần tưởng rằng công việc của Chúa phụ thuộc vào mình. Ta nói “việc Chúa”, nhưng trong lòng lại sợ rằng nếu mình không có mặt thì mọi sự sẽ sụp. Ta gọi đó là nhiệt thành, nhưng đôi khi bên dưới nhiệt thành là nhu cầu được cần đến. Ta muốn phục vụ, nhưng cũng muốn công sức được nhìn nhận. Ta muốn Tin Mừng được loan báo, nhưng cũng vui đặc biệt khi người ta nhớ tên mình. Thất bại đến như một lưỡi dao cắt những dây ràng buộc ấy. Nó hỏi ta: nếu không ai biết việc này do con làm, con còn làm không? Nếu người khác tiếp tục công việc của con và làm tốt hơn con, con có vui không? Nếu Chúa dùng một người khác thay vì dùng con, con có còn chúc tụng Chúa không? Nếu cuối đời không còn ai nhắc tên con nhưng những hạt giống con gieo vẫn sinh hoa trái, điều đó có đủ cho con không? Đấy là những câu hỏi rất đau, bởi cái tôi thiêng liêng tinh vi hơn cái tôi trần thế. Ta có thể bỏ tiền, bỏ tiện nghi, bỏ nhiều thú vui, nhưng rất khó bỏ nhu cầu được công nhận là người đã hy sinh. Ta có thể chấp nhận nghèo vật chất dễ hơn chấp nhận nghèo danh dự. Ta có thể sống trong căn phòng đơn sơ mà vẫn muốn cư ngụ trong trí nhớ của người khác. Thánh Giá của thất bại có thể là trường học cuối cùng dạy ta một điều rất đơn giản: Giáo Hội thuộc về Đức Kitô, không thuộc về ta; Nước Thiên Chúa là công trình của Thiên Chúa, không phải công trình của ta; ta được vinh dự cộng tác, nhưng không ai trong chúng ta là không thể thay thế. Khi hiểu được điều đó, thất bại không còn nhất thiết hủy diệt ta. Nó có thể làm ta nhỏ lại, mà nhỏ lại trước mặt Thiên Chúa không phải là mất mát. Có khi đó là cứu độ.

  1. NHỤC NHÃ: KHI THÁNH GIÁ ĐỤNG ĐẾN DANH DỰ

Đau thân xác đã khó; đau danh dự có lúc còn khó hơn. Một vết thương ngoài da có thể lành sau vài tuần. Một lời vu oan có thể nằm trong lòng hàng chục năm. Một người có thể chịu bệnh rất can đảm nhưng lại hoàn toàn suy sụp vì bị hiểu lầm. Bởi vì con người không chỉ cần sống; con người còn cần được nhìn nhận như mình thật sự là. Ta muốn người khác hiểu lòng mình. Ta muốn sự thật được biết. Ta muốn điều tốt mình đã làm không bị xuyên tạc. Vì thế, khi bị người ta gán cho một động cơ mình không có, nói về mình một điều mình không làm, hay diễn giải một hành động tốt theo nghĩa xấu, ta đau đến tận căn. Có người mất ngủ không phải vì mất tiền mà vì một câu nói. Có người chịu khổ được nhưng không chịu nổi sự nhục nhã. Có người sẵn sàng tha thứ cho kẻ làm mình thiệt hại nhưng không quên nổi kẻ làm mình mất danh dự. Thánh Giá Đức Kitô chạm đúng vùng ấy. Người không chỉ chịu đau. Người chịu nhục. Người bị gọi là kẻ phạm thượng. Người bị kết án như tội nhân. Người bị đặt giữa những kẻ phạm pháp. Người bị chế nhạo với vương miện gai. Người bị khoác áo như một ông vua giả. Người bị tát. Người bị khạc nhổ. Người bị thách thức: nếu là Con Thiên Chúa thì xuống khỏi thập giá đi. Điều đau nhất của lời chế nhạo ấy là nó đánh thẳng vào căn tính: “Nếu ông thật là…” Cám dỗ ở sa mạc cũng bắt đầu như vậy: “Nếu ông là Con Thiên Chúa…” Và trên Canvê, cám dỗ trở lại ở hình thức cuối cùng: chứng minh mình đi. Hãy xuống khỏi thập giá. Hãy cho mọi người thấy họ sai. Hãy làm một phép lạ để cứu danh dự. Nhưng Chúa Giêsu không xuống. Người có thể cứu danh dự bằng quyền năng, nhưng Người chọn cứu nhân loại bằng tình yêu. Có những lúc trong đời, điều khó nhất không phải là làm cho sự thật sáng tỏ, mà là chịu đựng một khoảng thời gian trong đó sự thật chưa được nhìn nhận. Điều này không có nghĩa ta không được tự bảo vệ, không được trình bày sự thật, không được dùng những phương thế chính đáng để minh oan. Công lý là điều phải tìm kiếm. Danh dự con người là điều phải bảo vệ. Một người bị vu khống không có nghĩa vụ phải im lặng để chứng minh rằng mình khiêm nhường. Một người bị cáo buộc sai có quyền nói rõ sự thật. Một người bị xâm hại có quyền lên tiếng. Yêu Thánh Giá không bao giờ đồng nghĩa với yêu sự dối trá. Nhưng sau khi đã làm tất cả những gì chính đáng, vẫn có những điều nằm ngoài khả năng ta. Ta không thể bắt mọi người hiểu mình. Ta không thể sửa từng lời đồn. Ta không thể chạy đến từng người để giải thích. Ta không thể sống cả đời trong phiên tòa tưởng tượng, nơi mình không ngừng tranh luận với những người không có mặt. Có lúc, để sống, ta phải trao danh dự mình cho Thiên Chúa. Không phải vì danh dự không đáng quý, nhưng vì nếu danh dự trở thành thần tượng, người khác chỉ cần nói một câu là có thể cướp mất bình an của ta.

Người môn đệ trưởng thành dần khi có thể nói: “Lạy Chúa, Chúa biết sự thật về con. Nếu con sai, xin sửa con. Nếu con có lỗi, xin cho con đủ khiêm nhường để nhận. Nếu con bị oan, xin cho con đủ sức nói điều cần nói nhưng không biến cả đời mình thành cuộc chiến minh oan. Và nếu có những người đến cuối đời vẫn hiểu sai con, xin cho con tin rằng cái nhìn của Chúa đủ cho con.” Đây không phải là thái độ dễ dàng. Nó là hoa trái của một cuộc đóng đinh sâu xa. Cái tôi muốn kiểm soát hình ảnh của mình trong lòng mọi người phải chết. Nhu cầu phải được tất cả công nhận phải chết. Thói quen xây giá trị bản thân trên lời khen phải chết. Và khi những điều ấy chết, một sự tự do mới bắt đầu. Người ta có thể khen ta mà ta không bay. Người ta có thể chê ta mà ta không chết. Khen hay chê vẫn có giá trị để phân định, nhưng không còn là phán quyết cuối cùng về căn tính của ta. Phán quyết cuối cùng thuộc về Thiên Chúa. Con là ai? Con là người Chúa biết. Người khác có thể nhìn đúng một phần, sai một phần, hoặc hoàn toàn sai. Chính con cũng có thể nhìn sai về mình. Chỉ Thiên Chúa thấy trọn. Vì thế, Thánh Giá của nhục nhã, nếu được mang trong chân lý, có thể giải phóng ta khỏi một nhà tù: nhà tù của ánh mắt người đời.

  1. BỊ THƯƠNG TRONG NHÀ CHÚA

Có những vết thương ngoài Giáo Hội, và cũng có những vết thương xảy ra ngay trong lòng Giáo Hội hữu hình. Nói điều này làm nhiều người khó chịu. Người ta sợ nói về thương tích trong Giáo Hội sẽ làm người khác mất đức tin. Nhưng sự thật không phá Giáo Hội; tội lỗi mới phá Giáo Hội. Ánh sáng không làm vết thương thối; chính việc che kín một vết thương nhiễm trùng mới làm nó nguy hiểm. Một người có thể bị tổn thương bởi một linh mục cư xử thiếu mục tử. Một chủng sinh có thể bị tổn thương bởi cách đào tạo thiếu nhân bản. Một tu sĩ có thể bị cộng đoàn loại trừ hoặc đối xử bất công. Một giáo dân tận tụy có thể bị xem thường. Một người trẻ có thể rời xa nhà thờ vì đã gặp cách hành xử hoàn toàn trái với Tin Mừng từ những người họ từng tin tưởng. Có những nạn nhân bị tổn thương sâu sắc hơn nữa bởi lạm dụng quyền lực, lạm dụng lương tâm, lạm dụng tình dục, thao túng thiêng liêng hoặc sự im lặng của những người đáng lẽ phải bảo vệ họ. Những điều đó phải được gọi đúng tên. Không phải tất cả đau khổ trong Giáo Hội đều là “thánh giá Chúa gửi”. Có những đau khổ do tội lỗi con người gây ra. Có những cấu trúc sai cần sửa. Có những người gây hại cần chịu trách nhiệm. Có những nạn nhân cần được lắng nghe, bảo vệ, đồng hành và chữa lành. Không được lấy ngôn ngữ Thánh Giá để bắt một người tiếp tục chịu lạm dụng. Không được nói với nạn nhân: “Hãy vâng lời, hãy hy sinh, hãy tha thứ, đó là thánh giá của con,” trong khi sự dữ vẫn đang tiếp diễn. Tha thứ không xóa công lý. Khiêm nhường không xóa sự thật. Vâng phục Kitô giáo không bao giờ biến tội lỗi thành điều hợp pháp. Và yêu Giáo Hội không có nghĩa biến Giáo Hội thành một thần tượng không được phép nhìn vào vết thương của mình.

Cũng cần nói thật rằng vết thương đến từ “nhà Chúa” thường đau hơn vết thương bên ngoài. Khi một người xa lạ làm ta tổn thương, ta đau vì hành vi của họ. Khi một người ta tin tưởng trong đức tin làm ta tổn thương, chính hình ảnh Thiên Chúa trong ta có thể bị rung chuyển. Người ta tự hỏi: “Nếu đây là người của Chúa, Chúa ở đâu? Nếu cộng đoàn là gia đình, tại sao gia đình lại đối xử với tôi như vậy? Nếu Giáo Hội nói về lòng thương xót, tại sao tôi lại không được thương xót?” Vết thương thiêng liêng nguy hiểm vì nó có thể khiến người ta lẫn Chúa với người đại diện cho Chúa. Một linh mục có thể thất bại; Đức Kitô không vì thế thất bại. Một tu sĩ có thể sai; Tin Mừng không vì thế sai. Một cộng đoàn có thể cư xử bất công; Thiên Chúa không vì thế trở thành bất công. Một người có chức vụ trong Giáo Hội có thể phản bội sứ mạng; Đức Kitô không vì thế phản bội ta. Phân biệt được điều này đôi khi mất nhiều năm. Có người cần một hành trình rất dài để học lại rằng Thiên Chúa không giống người đã làm họ tổn thương nhân danh Thiên Chúa. Có người nghe từ “vâng phục” mà sợ, bởi từ ấy từng được dùng để kiểm soát họ. Có người nghe “hy sinh” mà đau, bởi hy sinh từng được dùng để đòi họ im lặng. Có người nghe “tha thứ” mà giận, bởi người ta yêu cầu họ tha thứ trước khi ai đó chịu trách nhiệm. Với những người ấy, mục vụ không bắt đầu bằng lời khuyên. Nó bắt đầu bằng lắng nghe. Đôi khi điều thánh thiện nhất ta có thể làm cho một người bị tổn thương bởi Giáo Hội là ngồi xuống và nói: “Điều anh chị đã trải qua thực sự đau. Nếu đã có bất công, bất công ấy không trở thành đúng chỉ vì nó xảy ra trong môi trường đạo đức.” Chỉ một câu ấy có thể cứu một linh hồn khỏi ý nghĩ rằng Thiên Chúa đứng về phía kẻ làm họ đau.

Nhưng ở phía khác, người bị thương cũng đứng trước một thách đố: làm sao không để tội của một người cướp mất Chúa khỏi đời mình. Đây là một cuộc chiến lâu dài. Có người vì một linh mục làm họ tổn thương mà không muốn nhìn một linh mục nào nữa. Có người vì một cộng đoàn làm họ đau mà không còn muốn bước vào nhà thờ. Có người vì một người đạo đức giả mà kết luận tất cả tôn giáo là giả. Phản ứng ấy có thể hiểu được, nhưng nếu ở lại mãi trong đó thì kẻ gây thương tích đã lấy quá nhiều. Họ đã làm ta đau một lần; đừng trao cho họ quyền tách ta khỏi nguồn sự sống suốt phần đời còn lại. Chúa Giêsu lớn hơn mọi linh mục. Thánh Thể lớn hơn mọi người cử hành bất xứng. Lời Chúa lớn hơn mọi người giảng không sống điều mình giảng. Giáo Hội thánh thiện không phải vì mọi thành viên thánh thiện, nhưng vì Đức Kitô là Đầu và Thánh Thần vẫn hoạt động trong một cộng đoàn gồm những tội nhân được cứu chuộc. Yêu Giáo Hội trưởng thành không phải là tô hồng Giáo Hội. Tình yêu trẻ con nói: “Mẹ tôi không bao giờ sai.” Tình yêu trưởng thành có thể nói: “Mẹ tôi có những vết thương, những giới hạn, những điều cần sửa, nhưng tôi vẫn yêu mẹ và vì yêu nên tôi không muốn căn bệnh bị che giấu.” Cũng vậy, yêu Giáo Hội không phải bảo vệ mọi hành vi của người trong Giáo Hội. Có khi chính vì yêu Giáo Hội mà ta phải nói sự thật. Có khi vì yêu Giáo Hội mà phải yêu cầu trách nhiệm. Có khi vì yêu Giáo Hội mà phải đứng về phía nạn nhân. Có khi trung thành không phải im lặng mà là lên tiếng với sự thật, bằng bác ái, bằng công lý, bằng ước muốn chữa lành chứ không bằng lòng trả thù.

Và người lên tiếng cũng cần giữ tâm hồn mình khỏi một cám dỗ khác: từ nạn nhân biến thành người sống bằng oán giận. Công lý và trả thù không phải một. Chữa lành và quên hết không phải một. Tha thứ và tái lập ngay sự tin tưởng không phải một. Một người có thể tha thứ nhưng vẫn cần khoảng cách. Có thể không nuôi hận nhưng vẫn yêu cầu người gây hại chịu trách nhiệm. Có thể cầu nguyện cho người làm mình đau nhưng không đưa mình trở lại môi trường nguy hiểm. Có thể yêu Giáo Hội nhưng vẫn nói rằng một cách hành xử nào đó là sai. Sự trưởng thành Kitô giáo nằm ở chỗ giữ được nhiều chân lý cùng một lúc: tôi đã bị thương; điều ấy là thật. Người làm tôi đau đã sai; điều ấy cần được gọi tên. Tôi không muốn phủ nhận công lý. Nhưng tôi cũng không muốn biến vết thương thành căn tính duy nhất của mình. Tôi lớn hơn điều người ta đã làm cho tôi. Đức Kitô có thể dẫn tôi ra khỏi ngôi mộ mà người khác tưởng đã chôn tôi trong đó. Đấy cũng là một hình thức Phục Sinh.

  1. KHI NGƯỜI ANH EM TRỞ THÀNH THÁNH GIÁ

Không phải mọi thương tích trong cộng đoàn đều là lạm dụng hay bất công nghiêm trọng. Nhiều đau khổ đơn giản đến từ việc con người sống gần nhau. Một cộng đoàn gồm những người thánh thiện vẫn có thể làm nhau đau, bởi chưa ai hoàn toàn thánh. Hai người đều yêu Chúa nhưng tính tình hoàn toàn khác nhau. Người này nói thẳng; người kia nhạy cảm. Người này nhanh; người kia chậm. Người này thích trật tự; người kia linh hoạt. Người này cần yên lặng; người kia cần trò chuyện. Người này thấy một chuyện là nguyên tắc; người kia thấy đó chỉ là chi tiết. Và thế là ma sát xảy ra. Trong đời sống tu trì hay đời sống Giáo Hội, có một ảo tưởng rất nguy hiểm: nghĩ rằng vì tất cả đều đi theo Chúa nên tự nhiên sẽ dễ sống với nhau. Không. Đôi khi ở với những người cùng theo Chúa lại là một trường khổ chế rất thật. Người ta không được chọn anh em như chọn bạn. Chúa đặt những con người khác nhau vào cùng một nhà để dạy họ yêu. Và yêu một người mình không chọn khó hơn yêu một người rất hợp với mình. Có những thánh giá không cần tìm. Chúng ăn cùng bàn với ta. Chúng dùng chung hành lang. Chúng dự cùng cuộc họp. Chúng có số điện thoại của ta. Chúng biết điểm yếu của ta. Và rất có thể trong mắt họ, ta cũng là một thánh giá.

Ở đây cần một sự khiêm nhường đặc biệt. Khi kể về những người làm mình khổ, ta thường quên rằng mình cũng làm người khác khổ. Ta nhớ rất rõ những lời người khác nói sai với mình nhưng quên những lúc mình nóng nảy. Ta dễ thấy người khác thiếu tế nhị nhưng không nhận ra những cách mình áp đặt. Ta kể mình đã nhẫn nhịn thế nào nhưng không biết người khác cũng đang nhẫn nhịn với mình. Điều này không phủ nhận những bất công thật. Nhưng trong những xung đột bình thường, một câu hỏi rất có ích là: “Tôi có thể thay đổi điều gì nơi mình?” Không phải để nhận hết lỗi. Không phải để biến mình thành người chịu trận. Chỉ để nhớ rằng người Kitô hữu không đi vào xung đột với mục tiêu duy nhất là chứng minh mình đúng. Mục tiêu là sự thật và hiệp thông. Đôi khi tôi đúng về nội dung nhưng sai về cách. Đôi khi ý tôi tốt nhưng giọng tôi làm người khác đau. Đôi khi tôi bảo vệ nguyên tắc nhưng cái tôi đang lẩn vào đó. Đôi khi tôi nói rằng mình chiến đấu cho sự thật, nhưng thật ra tôi đang chiến đấu cho nhu cầu chiến thắng. Thánh Giá của đời chung bóc những lớp ấy rất hiệu quả. Nó biến nhà dòng, gia đình, giáo xứ, cộng đoàn thành xưởng mài của đức ái. Nếu ta không bỏ đi, nếu ta không đóng cửa trái tim, nếu ta vẫn tiếp tục học xin lỗi, học tha thứ, học nói thật mà không sát thương, học đặt giới hạn mà không căm ghét, học chịu đựng những điều không cần phải thắng, thì chính những người làm ta khó chịu có thể góp phần làm ta nên thánh nhiều hơn những người luôn khen ta.

  1. ĐÊM TỐI ĐỨC TIN: KHI THIÊN CHÚA DƯỜNG NHƯ IM LẶNG

Có lẽ thánh giá bí mật nhất là khi chính Thiên Chúa dường như biến mất. Không phải ta không còn tin về mặt lý trí. Ta vẫn đọc kinh. Vẫn đi lễ. Vẫn biết giáo lý. Vẫn tuyên xưng Kinh Tin Kính. Nhưng trong lòng, nơi từng có lửa, giờ chỉ còn tro. Những câu kinh từng làm ta xúc động giờ như những từ xa lạ. Một đoạn Tin Mừng từng soi sáng bỗng không nói gì. Nhà chầu vẫn đó nhưng trái tim không còn cảm được sự hiện diện. Người khác kể họ cảm nhận Chúa gần, còn mình chỉ nghe một sự im lặng dày đặc. Và rồi nỗi sợ đến: “Có phải tôi đã mất đức tin? Có phải Chúa đã bỏ tôi? Có phải bao nhiêu năm qua chỉ là ảo tưởng?” Đây là nơi cần phân định rất tinh tế. Không phải mọi khô khan đều là “đêm tối huyền nhiệm”. Có lúc ta khô khan vì mệt. Có lúc vì stress. Có lúc vì trầm cảm hay kiệt sức tâm lý. Có lúc vì lịch cầu nguyện không phù hợp. Có lúc vì ta đang sống hai mặt và lương tâm mất bình an. Có lúc vì đời sống tinh thần cần được điều chỉnh. Vì thế không nên lãng mạn hóa mọi bóng tối và gọi tất cả là “đêm tối của các thánh”. Nhưng cũng không nên kết luận rằng mất cảm xúc là mất đức tin. Cảm xúc và đức tin có liên hệ nhưng không đồng nhất. Một người đang yêu vợ mình không phải lúc nào cũng cảm thấy tình yêu mãnh liệt. Một người mẹ thức trắng chăm con bệnh có thể chẳng cảm thấy gì ngoài mệt mỏi, nhưng chính việc bà vẫn ở đó cho thấy tình yêu. Tương tự, có những thời kỳ đức tin không còn được nâng đỡ bởi sự ngọt ngào. Ta cầu nguyện không phải vì thích cầu nguyện mà vì trung thành. Ta đi lễ không phải vì lòng rung động mà vì biết mình cần Đức Kitô. Ta làm việc bác ái mà không thấy được an ủi. Ta đọc một kinh Kính Mừng như người đi trong đêm đặt từng bàn chân lên con đường mình không nhìn rõ. Và rất có thể, chính trong thời kỳ ấy, đức tin đang trở nên tinh tuyền hơn.

Mẹ Têrêsa Calcutta là một chứng từ thường được nhắc đến về điều này. Bên ngoài, người ta thấy một nữ tu nhỏ bé dành đời mình cho những người nghèo nhất trong những người nghèo. Bên trong, qua những thư từ thiêng liêng được biết sau này, người ta mới thấy rằng Mẹ đã trải qua những thời kỳ rất dài của cảm giác bóng tối và sự vắng mặt của Thiên Chúa. Điều ấy làm nhiều người kinh ngạc, bởi ta tưởng thánh nhân phải luôn “cảm thấy Chúa”. Nhưng nếu sự thánh thiện chỉ là cảm giác gần Chúa, thì người nào có khí chất dễ xúc động sẽ có lợi thế hơn người khác. Không. Sự thánh thiện nằm sâu hơn cảm xúc. Một người có thể cảm thấy Chúa gần nhưng đời sống vẫn đầy ích kỷ. Một người khác không cảm thấy gì nhưng vẫn mỗi ngày dậy sớm để phục vụ người hấp hối, vẫn chạm vào những thân xác người khác không muốn chạm, vẫn cười với người bị bỏ rơi, vẫn cầu nguyện trong bóng tối. Ai yêu hơn? Chính bóng tối làm lộ bản chất của tình yêu: ta yêu Chúa vì Chúa hay vì cảm giác Chúa đem lại? Khi không còn an ủi, ta còn ở lại không? Khi lời cầu nguyện không “cho” ta gì, ta còn cầu nguyện không? Khi phục vụ không khiến ta thấy mình tốt, ta còn phục vụ không? Khi Thiên Chúa dường như im lặng, ta còn chọn Người không? Đó là một cuộc thanh luyện đau đớn.

Kinh Thánh không xa lạ với kinh nghiệm này. Các Thánh Vịnh đầy những tiếng kêu: “Lạy Chúa, sao Ngài bỏ con?” “Đến bao giờ Ngài còn quên con?” “Sao Ngài ẩn mặt?” Đây không phải tiếng của người vô thần. Đây là tiếng của người có đức tin đang đau vì không cảm thấy Đấng mình tin. Chỉ người tin mới đau vì Thiên Chúa im lặng. Người không quan tâm đến Chúa thì Chúa im lặng hay không đâu có thành vấn đề. Chính việc bạn đau vì không cảm thấy Chúa đã cho thấy Chúa quan trọng với bạn biết bao. Trên thập giá, Đức Giêsu cũng cất tiếng: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Câu ấy đủ để mọi người đang trải qua bóng tối biết rằng họ không ở một mình. Con Thiên Chúa đã đi đến tận đáy của kinh nghiệm con người. Người biết cảm giác cầu nguyện giữa bóng tối. Người biết thế nào là tiếng kêu dường như rơi vào im lặng. Nhưng ngay trong câu “sao Ngài bỏ con”, Người vẫn nói “Thiên Chúa của con”. Đó là một chi tiết kỳ diệu. Bóng tối chưa lấy được chữ “của con”. Cảm giác bị bỏ vẫn không làm đứt tương quan. Có thể đó là toàn bộ bí mật của đêm tối đức tin: “Lạy Chúa, con không thấy Chúa, nhưng Chúa vẫn là Chúa của con. Con không cảm được Chúa, nhưng con vẫn gọi Chúa. Con không hiểu Chúa đang làm gì, nhưng con chưa muốn sống như thể Chúa không hiện hữu.”

  1. ĐỪNG ĐO ĐỨC TIN BẰNG CẢM GIÁC

Một trong những nhầm lẫn gây đau cho người đạo đức là dùng cảm giác làm nhiệt kế của đời sống thiêng liêng. Cầu nguyện thấy sốt sắng thì nghĩ hôm nay gần Chúa. Cầu nguyện chia trí thì nghĩ hôm nay xa Chúa. Đi lễ xúc động thì thấy lễ “hay”. Không xúc động thì thấy lễ “khô”. Nghe một bài giảng làm mình khóc thì tưởng đó là tác động mạnh của Chúa; nghe một chân lý khó chịu thì cho rằng không hợp với mình. Nhưng cảm xúc là quà, không phải nền móng. Chúa có thể dùng cảm xúc. Chúa không khinh cảm xúc. Đức Giêsu khóc, vui, buồn, chạnh lòng thương. Nhưng đức tin không thể lệ thuộc hoàn toàn vào cảm xúc. Nếu không, đời sống thiêng liêng sẽ như chiếc thuyền không neo, ngày nào biển êm thì bình an, ngày nào sóng lớn thì tưởng Chúa biến mất. Người trưởng thành học nhận cảm xúc nhưng không làm nô lệ cho cảm xúc. Hôm nay tôi cảm thấy Chúa gần: tạ ơn. Ngày mai không cảm thấy gì: vẫn cầu nguyện. Hôm nay tôi thấy yêu ơn gọi: tạ ơn. Ngày mai thấy mọi thứ nặng nề: vẫn giữ lời cam kết. Hôm nay tôi thích phục vụ: tạ ơn. Ngày mai thấy mệt và không được ghi nhận: vẫn làm điều thiện trong khả năng. Chính sự ổn định này là dấu của tình yêu trưởng thành.

Hãy nhìn hôn nhân. Một đôi vợ chồng sống với nhau năm mươi năm không phải năm mươi năm đều tràn cảm xúc lãng mạn. Có những ngày họ giận. Có ngày mệt. Có thời kỳ gần nhau. Có thời kỳ khô cằn. Nhưng tình yêu được chứng minh không chỉ ở những khoảnh khắc cảm động mà ở việc họ vẫn chọn nhau qua những mùa khác nhau của đời. Đời sống với Thiên Chúa cũng vậy. Có tuần trăng mật thiêng liêng, và cũng có sa mạc. Có núi Tabor và có Ghetsêmani. Có ngày lòng cháy bừng như hai môn đệ Emmaus, và có ngày cùng họ phải bước một con đường dài với gương mặt buồn rầu. Chúa vẫn là Chúa trong cả hai. Nếu chỉ nhận Chúa khi lòng mình sốt sắng, ta chưa nhận Chúa; ta đang nhận một trạng thái tâm lý. Đức tin trưởng thành dần khi ta có thể nói: “Con cảm được hay không cảm được, Chúa vẫn là Chúa. Con hiểu hay không hiểu, Chúa vẫn trung tín. Con vui hay buồn, sự thật không đổi.” Đây là tự do.

  1. KHI CẦU NGUYỆN TRỞ THÀNH SA MẠC

Có những người sau nhiều năm cầu nguyện bước vào một giai đoạn kỳ lạ: họ không còn biết nói gì với Chúa. Trước kia có thể cầu nguyện một giờ mà thấy nhanh. Bây giờ mười phút như cả buổi. Trước kia đọc Kinh Thánh câu nào cũng thấy hay. Bây giờ đọc đi đọc lại mà lòng trống. Trước kia chầu Thánh Thể là niềm vui. Bây giờ ngồi trước nhà chầu chỉ thấy mệt. Cám dỗ đầu tiên là bỏ. “Không hiệu quả thì làm làm gì?” Nhưng chính cách đặt câu hỏi ấy cho thấy ta đã vô thức biến cầu nguyện thành một phương tiện sản xuất cảm giác. Cầu nguyện không phải máy bán hàng: bỏ mười phút vào rồi lấy bình an ra. Cầu nguyện trước hết là tương quan. Có những lúc tương quan được sống bằng lời; có những lúc bằng sự hiện diện. Một người mẹ ngồi bên giường con đang mê man không cần nói gì. Người con có thể không nghe. Nhưng việc bà ở đó đã là tình yêu. Có khi cầu nguyện trong sa mạc cũng vậy: “Lạy Chúa, con không biết nói gì. Con chỉ ở đây.” Một câu ấy đủ. Có thể đọc chậm một Thánh Vịnh. Có thể lần chuỗi. Có thể chỉ lặp tên Giêsu. Có thể ngồi trong thinh lặng. Có thể nói thật: “Con chán. Con mệt. Con không cảm thấy Chúa. Nhưng con đến.” Chúa không cần ta diễn trước mặt Người. Một lời cầu nguyện vụng về mà thật còn đẹp hơn một lời cầu nguyện hoa mỹ mà lòng không có mặt.

Đừng khinh những hình thức cầu nguyện đơn giản trong đêm tối. Khi tâm hồn không còn khả năng suy niệm sâu, lời kinh Hội Thánh có thể cưu mang ta. Kinh Lạy Cha ta đã đọc hàng chục ngàn lần vẫn có thể trở thành chiếc dây để bám. Chuỗi Mân Côi có thể là nhịp bước của người đi đêm. Thánh Vịnh có thể cho ta mượn tiếng nói khi ta không còn tiếng nói. Phụng vụ đặc biệt quý giá vì khi ta không đủ sức tự cầu nguyện, Hội Thánh cầu nguyện cùng ta và cho ta. Có những ngày ta đến lễ không mang được gì ngoài thân xác mệt mỏi của mình. Nhưng chính thân xác đã đến ấy là một lời cầu nguyện. Đừng đánh giá thấp sự trung thành của đôi chân đưa ta đến nhà thờ khi trái tim chưa theo kịp. Đôi khi thân xác giữ đức tin hộ linh hồn qua một mùa tối.

  1. ƠN GỌI TƯỞNG ĐÃ LẦM

Một thánh giá rất sâu của đời sống dâng hiến là có lúc nhìn lại và tự hỏi: “Có phải tôi đã chọn sai?” Câu hỏi này đáng sợ vì nó không chỉ đụng đến hiện tại mà đụng đến cả quá khứ. Một linh mục có thể sau nhiều năm phục vụ bước vào khủng hoảng: “Nếu ngày ấy mình chọn đời sống khác thì sao?” Một tu sĩ có thể thấy cộng đoàn trở thành nơi đau khổ hơn nơi bình an. Một người sống độc thân vì Nước Trời có thể nhìn bạn bè có gia đình, con cháu và cảm thấy một khoảng trống rất thật. Điều nguy hiểm là khi người ta nghĩ rằng có câu hỏi như vậy nghĩa là ơn gọi đã sai. Không nhất thiết. Một quyết định đúng không làm mọi ngày sau đó dễ. Một hôn nhân đúng vẫn có mùa khủng hoảng. Một ơn gọi thật vẫn có Ghetsêmani. Đức Maria nói “xin vâng”, nhưng lời xin vâng ấy dẫn Mẹ đến Ai Cập, đến những năm ẩn dật, đến mất Con ba ngày, và cuối cùng đến dưới chân thập giá. Nếu Mẹ đo sự đúng đắn của lời xin vâng bằng mức độ dễ chịu, Mẹ đã có rất nhiều lý do để nghi ngờ.

Tuy nhiên, cũng không được dùng “trung thành” để cấm mọi phân định. Có những trường hợp cần xem xét nghiêm túc với những người có trách nhiệm và những vị đồng hành khôn ngoan. Không phải mọi khủng hoảng giống nhau. Không phải cứ đau là phải ở nguyên mọi hoàn cảnh. Nhưng việc phân định phải khác với hoảng loạn. Trong khủng hoảng, trí nhớ thường chọn lọc. Ta lý tưởng hóa con đường mình không đi và chỉ nhìn mặt xấu con đường mình đang đi. Người độc thân tưởng hôn nhân chỉ có bữa cơm gia đình ấm áp; người có gia đình đôi khi lại tưởng đời độc thân chỉ có tự do. Người tu sĩ nhìn thế gian từ bên trong tu viện và thấy tự do; người sống giữa thế gian nhìn tu viện từ bên ngoài và thấy bình an. Mọi ơn gọi đều có thập giá mà người ngoài không thấy. Vì thế câu hỏi không phải: “Con đường nào không đau?” Không có. Câu hỏi là: “Đâu là nơi tôi đã được gọi để yêu cho đến cùng?” Và khi không chắc chắn, đừng quyết định lớn trong cơn bão nếu chưa cần. Hãy tìm người khôn ngoan. Hãy chăm sóc sức khỏe tâm lý. Hãy ngủ đủ nếu có thể. Hãy đưa thân xác ra khỏi kiệt sức. Hãy trở lại những động lực ban đầu. Hãy nhớ những lần Chúa đã dẫn. Hãy phân biệt chán nản tạm thời với một tiếng gọi thực sự cần xét lại. Và trên hết, đừng nghĩ Chúa là người giăng bẫy: chỉ cần ta chọn nhầm một lần ở tuổi hai mươi thì Người sẽ khoanh tay nhìn ta hỏng cả đời. Thiên Chúa lớn hơn những lựa chọn không hoàn hảo của ta. Ngay cả nơi con người sai, ân sủng vẫn có thể mở đường. Không có lịch sử nào quá rối để Người không thể bắt đầu một chương mới.

  1. THẤT BẠI MỤC VỤ VÀ CÁM DỖ ĐẾM CON SỐ

Đời mục vụ hôm nay có một cám dỗ mới nhưng rất cũ dưới hình thức hiện đại: đo hoa trái bằng con số. Bao nhiêu người dự? Bao nhiêu lượt xem? Bao nhiêu người theo dõi? Bao nhiêu lượt chia sẻ? Bao nhiêu người tham gia chương trình? Những con số có ích. Chúng có thể giúp đánh giá phương pháp. Không nên khinh dữ liệu. Nhưng khi con số trở thành tiêu chuẩn tối hậu của thành công mục vụ, Tin Mừng bị biến thành sản phẩm. Chúa Giêsu đã có lúc nói với đám đông, nhưng Người cũng dành thời gian cho Nicôđêmô ban đêm, cho người phụ nữ Samari bên giếng, cho người mù bên đường, cho Giakêu trên cây, cho Phêrô sau thất bại. Một linh hồn không phải “một đơn vị tương tác”. Một người trở về với Chúa có thể không làm tăng con số nào nhìn thấy được. Một cuộc trò chuyện trong phòng bệnh có thể không ai biết nhưng thay đổi giờ cuối của một đời người. Một linh mục ngồi nghe một người đau khổ suốt hai giờ không có hình ảnh đẹp để đăng, nhưng có thể đó là mục vụ sâu nhất trong tuần. Nước Thiên Chúa thường lớn lên theo cách không tạo tiếng động.

Người làm mục vụ phải học chấp nhận rằng mình gieo nhiều hơn gặt. Có người giảng một bài chẳng ai phản hồi. Hai mươi năm sau, một người gặp lại và nói: “Thưa cha, hôm đó có một câu cha nói đã giữ con lại.” Người giảng thậm chí không nhớ bài ấy. Có người dạy giáo lý cho một thiếu nhi nghịch ngợm, tưởng chẳng có gì vào đầu. Nhiều năm sau người ấy trở lại với Chúa nhờ một điều nhỏ đã nghe. Ta không kiểm soát mùa gặt. Phaolô trồng, Apôlô tưới, Thiên Chúa làm cho lớn lên. Người muốn thấy mọi kết quả trong đời mình dễ trở thành người chiếm hữu công trình của Chúa. Có những cây ta trồng để người sau ngồi dưới bóng. Có những nền móng ta đào mà người khác xây nhà. Có những cuộc cải cách ta khởi đầu mà ta không sống đủ lâu để thấy kết quả. Môsê dẫn dân bốn mươi năm mà không bước vào Đất Hứa. Điều ấy không làm đời ông thất bại. Có lẽ một trong những hành vi đức tin đẹp nhất cuối đời là có thể đứng ở ngưỡng cửa một công trình chưa hoàn thành và nói: “Lạy Chúa, phần của con đến đây. Phần còn lại là của Chúa.”

  1. KHI NGƯỜI TỐT BỊ HIỂU LẦM

Người sống tử tế thường âm thầm mong rằng ít nhất người ta sẽ hiểu mình tử tế. Nhưng Tin Mừng không hứa điều đó. Đức Giêsu chữa lành mà bị nói là nhờ quyền quỷ. Người ăn với người tội lỗi thì bị gọi là bạn bè của quân thu thuế. Người giữ luật theo tinh thần thì bị tố phá luật. Người là Sự Thật lại bị kết án bởi lời chứng gian. Vì thế, đừng xây đời mình trên hy vọng rằng nếu ta đủ tốt thì mọi người sẽ hiểu. Họ có thể không hiểu. Người ta nhìn hành động nhưng không thấy động cơ. Người ta nghe một phần câu chuyện. Người ta tin phiên bản đến tai trước. Người ta mang những tổn thương riêng rồi diễn giải ta qua vết thương của họ. Và ta cũng làm tương tự với người khác. Nhận biết giới hạn ấy giúp ta nhân hậu hơn. Khi bị hiểu lầm, đừng vội nghĩ tất cả những người hiểu lầm mình đều ác. Có thể họ thiếu thông tin. Có thể họ đang sợ. Có thể họ đã từng bị tổn thương bởi một người giống ta. Có thể cách ta trình bày làm họ hiểu sai. Sự thật cần rõ, nhưng bác ái giúp ta không biến mọi hiểu lầm thành cuộc chiến thiện-ác.

Có một sự nghèo khó thiêng liêng rất sâu là chấp nhận mình không thể kiểm soát câu chuyện người khác kể về mình. Ta chỉ có thể kiểm soát cách mình sống. Thời gian có thể làm sáng một số điều; có điều thời gian cũng không làm sáng. Nhưng người môn đệ không sống để giành chiến thắng trong mọi phiên tòa dư luận. Đức Giêsu đã có lúc im lặng trước Hêrôđê. Im lặng ấy không phải yếu. Có câu hỏi xứng đáng được trả lời; có cuộc tranh luận chỉ nuôi thêm ồn ào. Khôn ngoan là biết lúc nào phải nói và lúc nào trao phần còn lại cho Chúa.

  1. ĐỪNG TỰ BIẾN MÌNH THÀNH THÁNH TỬ ĐẠO

Nói về thập giá thất bại và nhục nhã cũng cần một cảnh báo. Cái tôi có thể dùng cả đau khổ để nuôi chính nó. Có người luôn kể mình là nạn nhân. Mọi người đều chống họ. Mọi lời góp ý đều là bách hại. Mọi bất đồng đều là “thánh giá”. Mọi thất bại đều do người khác ghen. Đây không phải linh đạo Thánh Giá. Người yêu Thánh Giá thật không nghiện vai nạn nhân. Họ vẫn tự xét mình. Nếu bị phê bình, họ hỏi: “Có phần nào đúng không?” Nếu một công việc thất bại, họ không chỉ nói “Chúa thử thách” mà còn hỏi: “Tôi đã chuẩn bị đủ chưa? Tôi có sai phương pháp không? Tôi có nghe người khác không?” Nếu cộng đoàn xung đột, họ không tự động phong mình thành người công chính giữa những kẻ xấu. Thánh Giá không miễn ta khỏi trách nhiệm. Có những “thất bại vì Tin Mừng”, nhưng cũng có thất bại vì thiếu khôn ngoan. Có những người bị hiểu lầm vì sống sự thật; cũng có người bị hiểu lầm vì giao tiếp kém. Có những người bị chống đối vì can đảm; cũng có người bị chống vì kiêu căng mà tưởng mình can đảm. Phân định thành thật rất cần.

Hãy nhìn Đức Giêsu. Người biết khi nào mình vô tội, nhưng Người không xây căn tính trên vai nạn nhân. Ngay trên thập giá, Người vẫn nhìn đến người khác: tha thứ cho kẻ đóng đinh, trao Mẹ cho môn đệ, mở cửa thiên đàng cho người trộm lành. Đau khổ không làm Người co lại quanh bản thân. Đó là dấu phân biệt quan trọng. Một thánh giá được mang với Chúa dần làm trái tim rộng hơn. Một nỗi đau bị cái tôi chiếm hữu thường làm trái tim hẹp hơn. Nếu sau nhiều năm bị thương, tôi chỉ còn nói về mình, chỉ còn nhìn mọi việc qua vết thương mình, chỉ còn muốn mọi người xác nhận mình đúng, thì tôi cần chữa lành sâu hơn. Thánh Giá không phải căn tính cuối cùng của Kitô hữu. Phục Sinh mới là lời cuối.

  1. KHI KHÔNG CÒN GÌ NGOÀI SỰ TRUNG THÀNH

Có những giai đoạn trong đời không thể làm điều gì anh hùng. Ta chỉ có thể trung thành với những điều nhỏ. Thức dậy. Đọc một kinh. Làm công việc trước mặt. Không nói câu độc ác mình rất muốn nói. Không viết tin nhắn trả đũa. Đi ngủ mà không giải quyết được mọi chuyện. Sáng hôm sau lại đứng dậy. Đây có thể là đời sống thiêng liêng trong đêm tối. Người ta thường nghĩ thánh thiện là những quyết định lớn, nhưng đôi khi thánh thiện là không bỏ đi trong một ngày rất bình thường. Là ở lại với Chúa thêm một ngày. Là không buông một lời khấn chỉ vì hôm nay thấy trống. Là không bỏ người phối ngẫu trong một cơn tức. Là không bỏ việc thiện chỉ vì không ai cảm ơn. Là không bỏ Thánh Lễ vì tâm hồn khô. Là không trả thù dù có cơ hội. Là không để nỗi nhục biến mình thành người cay độc. Một ngày như thế rồi một ngày nữa. Hạt cát của trung thành tích lại thành sa mạc thánh thiện.

Có những người cuối đời nhìn lại và không có một câu chuyện lớn để kể. Họ không sáng lập gì. Không viết sách. Không nổi tiếng. Không ai dựng tượng. Họ chỉ sống trung thành. Một bà mẹ cầu nguyện cho con ba mươi năm. Một linh mục ở một giáo xứ nhỏ, giải tội, dâng lễ, chôn người chết, rửa tội trẻ nhỏ, không ai biết ngoài giáo dân của ngài. Một tu sĩ chăm bếp cả đời. Một người bệnh chịu đau mà vẫn cố nói lời dịu dàng với người chăm mình. Một giáo dân bị hiểu lầm nhưng không để lòng hóa độc. Những cuộc đời ấy có thể không được thế gian gọi là thành công, nhưng trong Nước Trời, tiêu chuẩn khác. “Khá lắm, hỡi người đầy tớ tài giỏi và trung thành.” Chúa không nói: “Khá lắm, vì con nổi tiếng.” Người nói “trung thành”.

  1. ĐÊM TỐI KHÔNG PHẢI ĐÊM CUỐI CÙNG

Một điều cần nói với người trong đêm: đừng đưa ra phán quyết cuối cùng về cuộc đời mình lúc tâm hồn đang tối. Khi đau, não và trái tim có xu hướng nói bằng những từ tuyệt đối: “Không bao giờ nữa.” “Chẳng còn gì.” “Tất cả đều vô ích.” “Không ai hiểu.” “Chúa đã bỏ tôi.” Nhưng đêm có ngôn ngữ của đêm. Đừng nhầm ngôn ngữ ấy với toàn bộ sự thật. Elijah dưới cây kim tước từng xin chết. Một ngày trước ông còn đối diện với các ngôn sứ Baal; một ngày sau ông kiệt sức và muốn kết thúc. Thiên Chúa không giảng cho ông một bài dài. Người cho ông ngủ và ăn. Chi tiết ấy rất đẹp. Có những khủng hoảng “thiêng liêng” cần trước hết một giấc ngủ. Có những lúc ta không cần thêm một cuốn sách đạo đức mà cần gặp bác sĩ. Có những nỗi buồn cần linh hướng, và có những nỗi buồn cần chuyên gia tâm lý; đôi khi cần cả hai. Ân sủng không chống lại tự nhiên. Tìm trợ giúp không phải thiếu đức tin.

Nếu bóng tối kéo dài, nếu xuất hiện tuyệt vọng sâu, nếu tâm trí liên tục nói rằng đời không đáng sống, đừng cô lập. Hãy nói với một người đáng tin và tìm sự trợ giúp chuyên môn thích hợp. Thánh Giá không đòi ta chống chọi một mình. Chính Đức Giêsu đã để Simon Kyrênê vác thập giá với Người. Có lúc lòng khiêm nhường không phải là chịu thêm mà là thừa nhận: “Tôi cần một Simon.” Không phải ai giúp ta cũng giải quyết được vấn đề. Nhưng họ có thể đi bên cạnh. Trong đêm tối, một bàn tay không thay thế bình minh, nhưng giúp ta sống cho đến khi bình minh đến.

  1. “LẠY CHÚA, CON TIN; NHƯNG XIN NÂNG ĐỠ LÒNG TIN YẾU KÉM CỦA CON”

Đức tin trưởng thành không phải đức tin không có câu hỏi. Nó là đức tin mang câu hỏi đến với Chúa thay vì dùng câu hỏi làm lý do chạy khỏi Người. Một người cha trong Tin Mừng đã nói một câu rất thật: “Tôi tin! Nhưng xin Thầy giúp lòng tin yếu kém của tôi.” Hai điều tưởng mâu thuẫn cùng tồn tại trong một câu: tôi tin và tôi yếu tin. Đấy là rất nhiều chúng ta. Ta tin, nhưng có ngày run. Ta yêu Chúa, nhưng có ngày giận. Ta muốn trung thành, nhưng có ngày muốn chạy. Ta cầu nguyện, nhưng có ngày cầu nguyện chỉ là một tiếng thở dài. Thiên Chúa không sợ sự pha trộn ấy. Người chỉ cần ta đem nó đến cho Người.

Có lẽ trong đêm tối, đừng cố nói những lời mình chưa sống nổi. Đừng bắt mình phải tuyên bố: “Con vui vì đau khổ này.” Có thể bạn chưa vui. Hãy nói thật hơn: “Lạy Chúa, con ghét điều này. Con không hiểu. Con muốn nó chấm dứt. Nhưng xin đừng để nó làm con xa Chúa.” Đó đã là lời cầu nguyện rất lớn. Hoặc: “Con chưa tha được. Nhưng xin cho con muốn học tha.” Hoặc: “Con chưa tin rằng chuyện này có ý nghĩa. Nhưng xin giữ con khỏi tuyệt vọng.” Hoặc chỉ đơn giản: “Giêsu ơi, con đây.” Thiên Chúa làm việc với sự thật. Người không cần diễn xuất thiêng liêng.

  1. NHỮNG VẾT THƯƠNG SAU PHỤC SINH

Khi Đức Giêsu sống lại, Người vẫn mang dấu đinh. Điều này nói với ta điều gì? Cứu độ không nhất thiết làm quá khứ chưa từng xảy ra. Có những vết thương lành nhưng để sẹo. Một người từng bị phản bội có thể tha thứ nhưng ký ức vẫn còn. Một người từng bị bất công trong cộng đoàn có thể tiếp tục yêu Giáo Hội nhưng không còn ngây thơ như trước. Một người từng rơi vào đêm tối có thể tìm lại bình an nhưng sẽ không trở lại kiểu đức tin đơn giản ngày xưa. Và điều ấy không nhất thiết là mất mát. Vết sẹo có thể trở thành một dạng khôn ngoan.

Chúa Phục Sinh cho Tôma chạm vào vết thương. Chính nơi từng là dấu của thất bại trở thành nơi nhận biết Chúa: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con.” Điều này kỳ diệu. Vết thương không còn chỉ nói: “Người đã bị đóng đinh.” Nó nói: “Người bị đóng đinh đã sống lại.” Có thể một ngày, điều hôm nay chỉ làm ta khóc sẽ trở thành nơi ta có thể nâng một người khác. Người từng bị hiểu lầm biết cách lắng nghe người bị hiểu lầm. Người từng mất danh dự biết sự nguy hiểm của lời đồn. Người từng trải qua khô khan biết không nên phán xét người khác bằng vẻ sốt sắng bên ngoài. Người từng bị tổn thương trong Giáo Hội, nếu được chữa lành đúng cách, có thể trở thành người giúp Giáo Hội nhân bản và an toàn hơn. Người từng thất bại trở nên dịu dàng với người thất bại. Người từng đi qua đêm tối không còn ném những câu đạo đức dễ dàng vào người đang khóc. Vết thương đã trở thành cửa của lòng thương xót.

Đó là điều Chúa có thể làm, nhưng không được ép thời gian. Đừng nói với người vừa bị thương: “Sau này anh sẽ thấy có ích.” Có những lời đúng về thần học nhưng sai về thời điểm. Trước ngôi mộ Lazarô, Đức Giêsu biết vài phút nữa Người sẽ cho Lazarô sống lại, nhưng Người vẫn khóc. Người không nói với Maria: “Đừng khóc, lát nữa ổn thôi.” Người bước vào nỗi đau của họ. Đấy là cách chúng ta phải đồng hành. Hy vọng Kitô giáo không phủ nhận nước mắt. Phục Sinh không chế giễu Thứ Sáu Tuần Thánh. Ta có quyền khóc trong ngày Thứ Sáu vì biết Chúa Nhật sẽ đến; và chính vì biết Chúa Nhật sẽ đến, ta không cần tự sát tinh thần trong ngày Thứ Sáu.

  1. ĐỪNG XUỐNG KHỎI THẬP GIÁ CHỈ ĐỂ CHỨNG MINH MÌNH ĐÚNG

Một trong những cám dỗ đau nhất khi bị nhục là muốn làm điều gì đó thật mạnh để cho mọi người thấy. Muốn trả lời ngay. Muốn công bố mọi bằng chứng. Muốn làm người kia đau như mình đau. Muốn lấy lại hình ảnh bằng bất cứ giá nào. Có lúc cần phản hồi và minh bạch. Nhưng có lúc phản ứng tức thời chỉ làm ta trở thành điều mình đang chống. Thập Giá dạy một quyền năng lạ: quyền năng không phải lúc nào cũng sử dụng quyền năng. Đức Giêsu có thể gọi đạo binh thiên thần. Người không làm. Không phải vì bất lực, nhưng vì Người tự do.

Người bị xúc phạm mà phải trả đũa ngay là người vẫn bị kẻ xúc phạm điều khiển. Người tự do có thể dừng lại. Hỏi: điều tôi sắp nói có phục vụ sự thật hay chỉ xả giận? Tôi muốn sửa sai hay hạ nhục? Tôi muốn bảo vệ người yếu hay bảo vệ cái tôi? Nếu im lặng, có ai khác bị hại không? Nếu nói, nên nói với ai và theo cách nào? Bác ái không phải im lặng trong mọi trường hợp; khôn ngoan không phải nói trong mọi trường hợp. Cả hai cần phân định.

  1. THÁNH GIÁ VÀ SỰ THẬT VỀ BẢN THÂN

Thất bại cũng có thể là tấm gương soi. Có những thành công khiến ta không còn thấy mình. Người ta khen quá lâu, ta bắt đầu tin mình thật sự như lời khen. Ta được trọng vọng và tưởng đó là căn tính. Đến khi thất bại, lớp trang điểm rơi. Ta thấy mình yếu. Thấy mình cần người khác. Thấy bao điều tưởng do tài năng hóa ra nhờ hoàn cảnh. Thấy những người từng vây quanh biến mất khi ta không còn vị trí. Đau, nhưng thật. Và sự thật là nền của tự do.

Phêrô phải thất bại trước khi trở thành Phêrô mà Giáo Hội cần. Trước Thương Khó, ông rất tự tin: dù mọi người vấp ngã, con không. Ông yêu Chúa thật, nhưng chưa biết mình. Ba lần chối Thầy đập vỡ hình ảnh anh hùng ông có về bản thân. Sau Phục Sinh, Đức Giêsu không hỏi: “Con còn tin mình mạnh hơn những người này không?” Người hỏi: “Con có yêu Thầy không?” Phêrô không còn khoe. Ông chỉ nói: “Thầy biết.” Một con người đã vỡ khác với con người chưa vỡ. Người chưa vỡ nói về sức mạnh mình; người đã vỡ nói về điều Chúa biết. Có khi thất bại lớn nhất đời lại là nơi ta thôi làm môn đệ của hình ảnh mình và bắt đầu làm môn đệ thật của Đức Kitô.

  1. Ở LẠI CHIỀU THỨ SÁU

Phần lớn đời sống đức tin không diễn ra trong sáng Chúa Nhật. Nó diễn ra giữa chiều Thứ Sáu và bình minh Chúa Nhật. Ta biết lời hứa Phục Sinh nhưng chưa thấy nó hoàn tất trong câu chuyện mình. Ta biết Chúa có thể chữa lành nhưng bệnh vẫn còn. Ta biết sự thật cuối cùng chiến thắng nhưng tiếng oan chưa được gỡ. Ta biết Giáo Hội thuộc về Chúa nhưng những vết thương trong Giáo Hội vẫn đau. Ta biết Chúa hiện diện nhưng cầu nguyện vẫn tối. Ta biết ơn gọi có ý nghĩa nhưng hôm nay vẫn thấy cô đơn. Ta biết Thiên Chúa có thể viết thẳng trên những đường cong nhưng trang giấy trước mặt vẫn quá rối.

Yêu Thánh Giá là ở lại nơi khoảng giữa ấy mà không tự viết đoạn cuối. Là đứng với Đức Maria khi xác Chúa vẫn còn trên thập giá. Mẹ chưa thấy mộ trống. Mẹ chưa nghe thiên thần nói Người sống lại. Trước mắt Mẹ chỉ có Con chết. Nhưng Mẹ ở đó. Có một loại đức tin không cần hiểu để ở lại. Đó là đức tin của Mẹ. Và có lẽ những lúc sâu nhất của đời, Chúa không đòi ta giải thích mầu nhiệm, chỉ mời ta đứng. Đứng dưới chân thập giá. Đứng khi không cứu được tình hình. Đứng khi không trả lời được. Đứng khi chỉ còn tình yêu. Đứng cho đến khi Chúa tự viết chương tiếp theo.

Nếu hôm nay bạn đang trong một chiều Thứ Sáu như thế, xin đừng tự kết án mình vì đang buồn. Đừng nghĩ nước mắt là thiếu đức tin. Đừng nghĩ câu hỏi là phản bội. Đừng tưởng người thánh thiện phải luôn bình thản. Hãy khóc nếu cần. Hãy nghỉ nếu mệt. Hãy tìm một người có thể lắng nghe. Hãy nói sự thật nếu đang bị đối xử bất công. Hãy tìm trợ giúp nếu tâm hồn quá tải. Hãy cầu nguyện được bao nhiêu thì cầu. Nếu không nói được lời dài, gọi tên Chúa. Nếu không đọc được cả Thánh Vịnh, đọc một câu. Nếu không đứng nổi, hãy ngồi. Nếu không đi nổi, hãy để người khác dìu. Chỉ đừng tuyệt vọng đóng cánh cửa cuối cùng với Thiên Chúa.

Và nếu tất cả những gì bạn có thể nói hôm nay là: “Lạy Chúa, con không hiểu,” thì hãy thêm một chữ nhỏ: “nhưng”. “Con không hiểu, nhưng con vẫn ở đây.” “Con đau, nhưng con chưa muốn bỏ Chúa.” “Con không cảm thấy Chúa, nhưng con vẫn gọi tên Chúa.” Chữ “nhưng” ấy có thể là cây cầu rất nhỏ bắc qua một vực thẳm rất lớn.

Một ngày nào đó, có thể ở đời này, có thể chỉ trong vĩnh cửu, ta sẽ nhìn lại và thấy Thiên Chúa đã hiện diện cả ở những nơi ta tưởng Người vắng mặt. Ta sẽ thấy Người ở bên khi ta thất bại. Người đứng gần khi ta bị nhục. Người khóc cùng ta khi ta bị người trong nhà Chúa làm tổn thương. Người giữ một sợi chỉ đức tin khi tay ta đã gần buông. Người không ngăn mọi Thứ Sáu Tuần Thánh, nhưng Người cũng không bao giờ để Thứ Sáu Tuần Thánh trở thành ngày cuối cùng.

Đấy là niềm hy vọng của người Kitô hữu. Không phải “mọi chuyện sẽ dễ”. Không phải “người tốt không bị oan”. Không phải “ai trung thành cũng thành công”. Không phải “cầu nguyện nhiều thì luôn cảm được Chúa”. Không phải “ở trong Giáo Hội thì không bao giờ bị thương”. Niềm hy vọng của chúng ta sâu hơn tất cả điều ấy: Đức Kitô đã đi vào thất bại và chiến thắng nó từ bên trong; đã đi vào nhục nhã và biến nó thành vinh quang; đã bước vào tiếng kêu bị bỏ rơi và trao mình hoàn toàn cho Cha; đã xuống tận mồ và làm chính ngôi mộ thành cửa mở sang sự sống.

Vì thế, người yêu Thánh Giá không phải người yêu thất bại, không phải người tìm nhục nhã, không phải người khoái đau khổ, không phải người biện minh cho bất công, cũng không phải người biến bóng tối thành lý tưởng. Người yêu Thánh Giá là người, khi những điều ấy không thể tránh, không để chúng tách mình khỏi Đức Kitô. Họ có thể khóc nhưng vẫn nắm lấy Người. Có thể hỏi nhưng không bỏ Người. Có thể bị thương bởi Giáo Hội nhưng vẫn tìm Đức Kitô ở giữa lòng Giáo Hội và góp phần thanh luyện Giáo Hội. Có thể không cảm thấy Chúa nhưng vẫn thưa “Lạy Chúa”. Có thể thất bại trước mắt thế gian nhưng không đánh mất lòng trung tín. Có thể mất danh dự trước mặt người đời nhưng vẫn gìn giữ lương tâm trước mặt Thiên Chúa.

Cuối cùng, có lẽ trong đêm tối chúng ta không cần một Thiên Chúa giải thích mọi sự. Chúng ta cần một Thiên Chúa đã chịu đóng đinh. Một Thiên Chúa biết thế nào là bị phản bội. Một Thiên Chúa biết thế nào là bị vu oan. Một Thiên Chúa biết thế nào là bị bạn bè bỏ chạy. Một Thiên Chúa biết thế nào là cầu nguyện giữa đêm. Một Thiên Chúa mang vết thương ngay cả sau Phục Sinh. Một Thiên Chúa có thể nói với ta không phải từ một ngai vàng xa lạ nhưng từ giữa những dấu đinh: “Ta biết.”

Và đôi khi, “Ta biết” là đủ.

Khi mọi lời giải thích trở thành quá nhỏ trước nỗi đau, vẫn còn Thánh Giá. Khi mọi người không hiểu ta, vẫn còn Đấng bị hiểu lầm. Khi người thân bỏ ta, vẫn còn Đấng đã bị phản bội bằng một nụ hôn. Khi nhà Chúa làm ta đau, vẫn còn chính Chúa của ngôi nhà ấy đang mang những vết thương của dân Người. Khi lời cầu nguyện hóa thành sa mạc, vẫn còn Đấng từng kêu lên trong bóng tối. Khi tất cả công việc ta xây tưởng như đổ xuống, vẫn còn ngôi mộ chiều Thứ Sáu — ngôi mộ mà sáng Chúa Nhật trở thành trống không.

Cho nên, nếu đang thất bại, đừng vội gọi đời mình là thất bại. Nếu đang bị nhục, đừng trao giá trị của mình cho miệng lưỡi thế gian. Nếu đang bị thương trong Giáo Hội, hãy tìm sự thật, công lý và chữa lành, nhưng đừng để tội lỗi của con người cướp Đức Kitô khỏi bạn. Nếu đang ở trong đêm tối đức tin, đừng đo lòng tin bằng cảm giác. Hãy nhìn xem: bạn vẫn tìm Chúa chứ? Vẫn khát sự thật chứ? Vẫn muốn yêu chứ? Vẫn đau vì sợ xa Chúa chứ? Nếu còn những điều ấy, có thể dưới lớp tro vẫn còn một đốm lửa mà chính Chúa đang giữ.

Và nếu không nhìn thấy cả đốm lửa ấy nữa, hãy cho phép người khác giữ đèn bên cạnh mình một thời gian. Đức tin không phải cuộc hành trình đơn độc. Khi bạn không cầu nguyện nổi, Hội Thánh cầu nguyện cho bạn. Khi bạn không hát nổi, người bên cạnh hát thay. Khi bạn không đứng nổi, có Simon Kyrênê. Khi bạn không thấy bình minh, hãy để người đã từng đi qua đêm nói với bạn rằng trời vẫn sáng dù cửa sổ phòng bạn chưa thấy.

Bởi đêm tối không phải là Thiên Chúa.

Thất bại không phải là Thiên Chúa.

Nhục nhã không phải là Thiên Chúa.

Vết thương không phải là Thiên Chúa.

Thánh Giá cũng không phải là lời cuối cùng.

Đấng chịu đóng đinh và sống lại mới là lời cuối cùng.

Và vì Người sống, nên ngay cả nơi ta tưởng mọi sự đã chết, vẫn còn một điều mà bóng tối không thể chôn: hy vọng.

CHƯƠNG XIII. LÒNG THƯƠNG XÓT CHẢY TỪ CẠNH SƯỜN

Có một chi tiết trong trình thuật Thương Khó của Tin Mừng Gioan mà Hội Thánh đã đứng lại chiêm ngắm suốt hai ngàn năm và dường như càng nhìn càng không bao giờ nhìn hết: “Một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra” (Ga 19,34). Chúa Giêsu đã chết. Người không còn nói nữa. Không còn lời nào từ miệng Người. Không còn dụ ngôn. Không còn bài giảng trên núi. Không còn tiếng gọi “hãy theo Thầy”. Không còn lời tha thứ công khai. Không còn đôi tay đặt trên người bệnh. Không còn bước chân đi tìm người tội lỗi. Nhưng chính lúc Người đã im lặng hoàn toàn, cạnh sườn Người lại lên tiếng. Chính lúc trái tim Người đã ngừng đập theo nhịp sinh học, Trái Tim ấy lại bắt đầu nói một thứ ngôn ngữ mà lịch sử Hội Thánh sẽ không bao giờ nói hết được: máu và nước. Người ta lấy giáo đâm vào Người như để xác nhận rằng Người đã chết, nhưng chính từ vết thương cuối cùng ấy lại mở ra một dòng sự sống. Người ta tưởng rằng cây giáo kết thúc câu chuyện Đức Giêsu; nhưng cây giáo ấy lại mở một cánh cửa. Người ta tưởng rằng đâm vào cạnh sườn Người là hành vi cuối cùng của bạo lực con người; nhưng Thiên Chúa biến chính hành vi ấy thành mặc khải cuối cùng của lòng thương xót. Con người trao cho Thiên Chúa một vết thương; Thiên Chúa trao lại cho con người một dòng ân sủng. Con người đâm; Thiên Chúa mở. Con người làm chảy máu; Thiên Chúa làm chảy sự sống. Con người đóng lại cuộc đời Đức Giêsu bằng một nhát giáo; Thiên Chúa mở ra đời sống Hội Thánh từ chính cạnh sườn bị đâm ấy. Đây là điều kỳ diệu của Thánh Giá: không một sự dữ nào con người ném vào Thiên Chúa mà tình yêu Thiên Chúa không thể biến thành một nơi để ân sủng trào ra. Tội lỗi của chúng ta đã làm Người bị thương, nhưng vết thương ấy lại trở thành nơi chúng ta được chữa lành. Sự độc ác của chúng ta mở cạnh sườn Người, nhưng chính cạnh sườn mở ra ấy lại trở thành nơi trú ẩn cho chúng ta. Vì thế, không thể nói đến yêu mến Thánh Giá mà không nói đến lòng thương xót. Thánh Giá không sản xuất ra những con người cay nghiệt. Thánh Giá thật không làm trái tim cứng hơn. Ai càng đứng gần Thánh Giá thật, người ấy càng phải mềm đi; càng thấy mình được tha, càng phải biết tha; càng thấy Chúa chịu thương tích vì mình, càng khó có thể vui khi làm người khác bị thương. Nếu một người càng cầu nguyện trước Thánh Giá mà càng khinh người tội lỗi, càng kết án người yếu đuối, càng thích nói lời cay nghiệt, càng hả hê trước sự sụp đổ của người khác, càng muốn đóng cửa trước người sa ngã, thì phải đặt một câu hỏi rất nghiêm túc: người ấy đang chiêm ngắm Thánh Giá của Đức Kitô hay chỉ đang chiêm ngắm một biểu tượng do chính mình tạo ra? Bởi vì trên Thánh Giá thật có một Con Người đang chết cho chính những kẻ đóng đinh mình. Trên Thánh Giá thật có một Đấng cầu nguyện cho những người làm Người đau. Trên Thánh Giá thật có một Trái Tim bị mở ra chứ không khép lại. Người ta có thể đeo Thánh Giá mà không có lòng thương xót. Người ta có thể đặt Thánh Giá trên bàn thờ mà trái tim vẫn lạnh. Người ta có thể nói về hy sinh, đau khổ, đền tội, kỷ luật, công lý, luân lý, chân lý rất nhiều mà vẫn chưa bước vào mầu nhiệm cạnh sườn bị đâm. Bởi dấu chỉ chắc chắn rằng ta đang đi vào lòng Thánh Giá là ta bắt đầu hiểu rằng lòng thương xót không phải một phụ lục mềm yếu của Kitô giáo; lòng thương xót chính là hình dạng của tình yêu khi tình yêu gặp một con người đang bị thương vì tội lỗi, vì yếu đuối, vì thất bại, vì lầm đường, vì bất lực, vì chính những lựa chọn sai của mình. Trên Canvê, Đức Giêsu không chết cho một nhân loại lý tưởng. Người chết cho một nhân loại vừa phản bội Người, bỏ trốn khỏi Người, nhạo báng Người, kết án Người và đóng đinh Người. Không ai dưới chân Thánh Giá có thể khoe mình vô tội. Phêrô vừa chối Thầy. Giuđa vừa phản bội. các môn đệ đã chạy trốn. đám đông đã đổi tiếng tung hô thành tiếng “đóng đinh nó vào thập giá”. giới lãnh đạo tôn giáo đã tham gia vào việc kết án. Philatô biết Người vô tội nhưng rửa tay. lính tráng chế giễu. một tên gian phi sỉ nhục. Và chính cho thế giới ấy mà cạnh sườn Đức Giêsu mở ra. Nghĩa là lòng thương xót của Thiên Chúa không bắt đầu sau khi nhân loại đã ăn năn đủ đẹp. Lòng thương xót bắt đầu trong lúc con người còn đang làm tổn thương Người. Đây là điều làm Thánh Giá trở thành Tin Mừng chứ không chỉ là một bi kịch.

  1. ĐỪNG BỦN XỈN VỚI LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA

Một trong những nghịch lý đáng buồn nhất của đời sống đạo là có những người tin rằng Thiên Chúa rộng lượng với mình nhưng lại rất tiết kiệm khi nói đến lòng thương xót dành cho người khác. Họ dễ tin Chúa tha cho những lỗi của họ, nhưng khó tin rằng Chúa cũng có thể tha cho người họ không ưa. Họ sẵn sàng đọc kinh “xin tha nợ chúng con” nhưng trong lòng lại âm thầm thêm một câu: “còn người kia thì xin Chúa nhớ xử cho công bằng”. Họ muốn lòng thương xót cho mình, nhưng công lý nghiêm khắc cho người khác. Họ muốn Chúa hiểu hoàn cảnh của họ, nhưng lại không muốn hiểu hoàn cảnh của người bên cạnh. Họ muốn Chúa nhìn thấy những vết thương nằm phía sau lỗi lầm của họ, nhưng khi nhìn người khác thì chỉ nhìn thấy lỗi lầm mà không nhìn thấy vết thương. Đó là một thứ bủn xỉn thiêng liêng. Và bủn xỉn với lòng thương xót là một cách sống ngược với Thánh Giá, bởi Thánh Giá là sự hoang phí của tình yêu Thiên Chúa. Trên Thánh Giá, Thiên Chúa không cứu chúng ta bằng vài giọt máu cho vừa đủ. Người trao chính Con Một. Người không tính toán: người này đáng bao nhiêu, người kia đáng bao nhiêu. Chúa Giêsu không giang một tay cho người đạo đức và giữ một tay lại đối với người tội lỗi. Hai tay Người đều bị đóng đinh và mở ra cho mọi phía. Không có tư thế nào trên Thánh Giá giống một Trái Tim keo kiệt. Người nghèo nhất cũng có thể đến. Kẻ xấu hổ nhất cũng có thể đến. Người đã hỏng một phần đời cũng có thể đến. Người mang một quá khứ quá nặng cũng có thể đến. Người đã phạm lại cùng một tội quá nhiều lần cũng có thể đến. Người đã bỏ nhà thờ nhiều năm cũng có thể đến. Người đã phản bội lời khấn cũng có thể đến. Người đã làm gia đình tan vỡ cũng có thể đến. Người vừa bước ra khỏi một thất bại luân lý cay đắng cũng có thể đến. Không phải vì tội của họ không nghiêm trọng, nhưng vì máu Đức Kitô còn nghiêm trọng hơn tội. Không phải vì sự dữ không có hậu quả, nhưng vì lòng thương xót của Thiên Chúa có khả năng đi vào tận nơi hậu quả ấy và mở lại một con đường. Kitô giáo không dạy rằng tội chẳng đáng kể. Nếu tội chẳng đáng kể, Thánh Giá là thừa. Chính vì tội là thật, tội gây chết, tội phá hủy con người, tội làm méo mó tương quan, tội có thể nghiền nát cả một đời sống, nên Thánh Giá mới nghiêm trọng đến thế. Nhưng chính Thánh Giá cũng nói rằng tội không phải thực tại tối hậu. Không một tội nào lớn hơn Đấng bị đóng đinh. Không một vực sâu nào sâu đến mức lòng thương xót không thể cúi xuống. Không một đêm tối nào dày đến mức máu Con Chiên không thể chạm tới. Thương xót không phải bảo rằng tội không còn là tội. Thương xót là nhìn thẳng vào tội, gọi đúng tên nó, không biện minh, không tô hồng, không giả vờ rằng hậu quả không có, nhưng sau tất cả vẫn nói: “Đây chưa phải câu cuối cùng về con người này.” Tội nói: hết rồi. Lòng thương xót nói: chưa. Tội nói: mày là những gì mày đã làm. Lòng thương xót nói: con còn là người được Thiên Chúa gọi tên. Tội nói: đóng cửa lại. Lòng thương xót nói: đứng lên và trở về. Tội nói: hãy trốn. Lòng thương xót nói: hãy ra ánh sáng. Tội nói: không còn mặt mũi. Lòng thương xót nói: Cha vẫn đang nhìn con như một người con. Đó là lý do trong dụ ngôn người cha nhân hậu, người cha không phủ nhận rằng đứa con đã bỏ nhà; ông không bảo rằng chuyện đó chẳng sao. Nhưng điều đầu tiên ông làm khi con trở về không phải là đọc bản cáo trạng. Ông chạy ra. Ông ôm. Ông hôn. Ông mặc áo. Ông đeo nhẫn. Ông mở tiệc. Bởi mục tiêu của lòng thương xót không phải làm cho tội trở nên nhẹ, mà làm cho người tội lỗi có thể sống lại. Nếu ta nhân danh luân lý mà làm người khác tuyệt vọng, ta đã bảo vệ luật nhưng không bảo vệ được con người. Nếu ta nhân danh chân lý mà làm một người tin rằng đời họ chỉ còn đáng vứt đi, thì chân lý ấy đã bị ta sử dụng sai, bởi Đức Kitô là Chân Lý nhưng Chân Lý ấy đã để người phụ nữ ngoại tình ra về với lời: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu. Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa” (Ga 8,11). Cả hai vế đều phải giữ. “Tôi không lên án chị” và “đừng phạm tội nữa”. Bỏ vế thứ hai thì lòng thương xót biến thành dễ dãi. Bỏ vế thứ nhất thì chân lý biến thành đá ném. Đức Kitô giữ cả hai trong cùng một Trái Tim. Hội Thánh cũng phải học giữ cả hai. Người môn đệ cũng phải học giữ cả hai. Mục tử lại càng phải học giữ cả hai. Một người đến tòa giải tội không cần một linh mục nói tội của họ không sao; họ cần một linh mục đủ chân thật để giúp họ gọi tội là tội, nhưng cũng đủ thấm máu Thánh Giá để họ ra khỏi tòa giải tội không với cảm giác bị nghiền nát, mà với cảm giác mình vừa được dựng dậy. Một đứa con trở về nhà sau một thất bại không cần cha mẹ hợp thức hóa mọi điều nó đã làm; nó cần biết rằng căn nhà vẫn còn một cánh cửa. Một người tu sĩ vấp ngã không cần cộng đoàn phủ nhận sự nghiêm trọng của biến cố; người ấy cần một cộng đoàn biết sửa nhưng không giết, biết bảo vệ sự thật nhưng không biến sự thật thành dụng cụ thanh toán, biết phân định nhưng không hả hê. Một Giáo Hội không biết khóc trước sự sa ngã của con cái mình sẽ dễ trở thành một tòa án lạnh. Nhưng một Giáo Hội đã sinh ra từ cạnh sườn Đức Kitô phải mang ký ức của máu và nước trong chính cách mình đối xử với người yếu.

Cũng phải nói điều này thật rõ: lòng thương xót không loại bỏ công lý. Có những hành vi cần chịu trách nhiệm. Có những tổn thương cần được sửa chữa. Có những tội phạm cần được điều tra. Có những người nguy hiểm cần bị ngăn chặn để bảo vệ nạn nhân. Có những chức vụ không thể tiếp tục như chưa từng có chuyện gì. Có những hậu quả không thể xóa chỉ bằng một lời xin lỗi. Tha thứ không đồng nghĩa với phủ nhận sự thật. Hòa giải không phải lúc nào cũng có nghĩa trở lại mối tương quan cũ. Lòng thương xót không yêu cầu người bị bạo hành quay lại ở bên kẻ bạo hành. Lòng thương xót không bắt nạn nhân im lặng để giữ “danh dự”. Lòng thương xót càng không thể là cái cớ che đậy tội ác. Trái lại, chính vì yêu con người mà lòng thương xót muốn sự thật được đưa ra ánh sáng, bởi chỉ ánh sáng mới chữa lành. Nhưng sự khác biệt nằm ở chỗ: công lý Kitô giáo không tìm cách hủy diệt con người phạm lỗi. Nó tìm sự thật, trách nhiệm, sự đền bù, bảo vệ người yếu, và nếu có thể, mở đường hoán cải. Chúa Giêsu chịu đóng đinh giữa hai tên gian phi. Người không tháo họ khỏi thập giá. Hậu quả pháp lý của đời họ vẫn còn. Nhưng với tên gian phi biết quay về, Người mở thiên đàng: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,43). Đây là một hình ảnh rất mạnh: hậu quả có thể còn, nhưng lòng thương xót vẫn có thể mở một cánh cửa mà không ai đóng được. Vì thế, đừng bao giờ đánh đồng việc một người phải chịu hậu quả với việc Thiên Chúa đã từ bỏ người đó. Hai điều khác nhau. Một người có thể mất chức vụ mà không mất linh hồn. Một người có thể phải ở tù mà vẫn có thể trở nên thánh. Một người có thể mất danh tiếng nhưng tìm lại được Thiên Chúa. Một người có thể không phục hồi được quá khứ nhưng vẫn có thể bắt đầu lại từ ngày hôm nay. Một số người chúng ta quá chú ý đến việc “người ấy còn xứng đáng làm gì không” mà quên câu hỏi lớn hơn: “người ấy còn có thể được cứu không?” Và câu trả lời từ cạnh sườn Đức Kitô luôn là: có. Bao lâu con người còn sống, cánh cửa trở về chưa bị khóa từ phía Thiên Chúa.

  1. THƯƠNG XÓT BẢN THÂN MỘT CÁCH THẬT

Có một loại người rất dễ thương xót người khác nhưng hoàn toàn không biết thương xót chính mình. Họ nghe giảng về lòng Chúa thương xót thì gật đầu, nhưng trong sâu thẳm vẫn giữ một bản án chống lại chính họ. Họ đi xưng tội, được linh mục giải tội, đọc kinh đền tội, nhưng về nhà lại tiếp tục mở hồ sơ cũ ra xử lại. Thiên Chúa đã đóng hồ sơ, họ mở lại. Thiên Chúa nói “Ta tha”, họ nói “nhưng con chưa tha cho con”. Thiên Chúa nói “hãy đứng lên”, họ nói “con phải nằm đây thêm một thời gian cho xứng”. Thiên Chúa nói “máu Con Ta đủ”, họ nói “không, con cần phải tự phạt thêm”. Điều này đôi khi khoác áo khiêm nhường, nhưng thực ra có thể là một dạng kiêu ngạo rất kín đáo: ta tin bản án của mình về mình hơn tin phán quyết của Thiên Chúa. Ta cho rằng sự nghiêm khắc của mình đạo đức hơn lòng thương xót của Chúa. Ta làm như thể Thánh Giá chưa đủ. Ta thêm những cây thập giá do chính mình dựng lên để đóng mình vào đó. Nhưng Đức Kitô không chết để chúng ta có thêm lý do ghét chính mình. Người chết để cứu chúng ta khỏi tội, mà một phần của ơn cứu độ là cho chúng ta khả năng nhìn chính mình bằng đôi mắt của Thiên Chúa. Thương xót bản thân không có nghĩa là nuông chiều mình, không bao giờ nhận lỗi, đổ lỗi cho hoàn cảnh, tránh trách nhiệm, hay tự an ủi bằng những lời giả tạo. Thương xót bản thân Kitô giáo là dám nhìn vào sự thật về mình mà không bỏ chạy khỏi tình yêu của Chúa. Nó nói: “Tôi đã làm điều sai này. Tôi chịu trách nhiệm. Tôi phải sửa nếu có thể. Tôi phải thay đổi. Nhưng tôi không chỉ là điều sai ấy. Tôi vẫn là một người được Đức Kitô yêu đến chết.” Đó là một thái độ rất khác với tự bào chữa. Tự bào chữa nói: tôi không có lỗi. Lòng thương xót nói: tôi có lỗi nhưng tôi không bị bỏ. Tự bào chữa trốn khỏi thập giá. Lòng thương xót bước đến thập giá. Tự lên án mình thì đứng dưới thập giá nhưng không dám nhận máu. Khiêm nhường thật quỳ xuống và nói: “Lạy Chúa, con đã phạm tội. Và con tin máu Chúa lớn hơn tội con.” Câu thứ hai đôi khi khó hơn câu thứ nhất. Có những người dễ thú nhận mình xấu hơn là tin mình được yêu. Dễ nói “con là kẻ tội lỗi” hơn là để Chúa nói “con là con của Ta”. Bởi vì nếu tin mình được yêu, ta phải buông một căn tính mà ta đã ôm quá lâu: căn tính của người thất bại, người không xứng đáng, người đã hỏng, người luôn luôn làm sai. Có khi chúng ta đã đau quá lâu đến mức nỗi đau trở thành một phần của cách ta nhận diện mình. Nếu Chúa chữa lành, ta không biết mình sẽ là ai nữa. Nhưng Thánh Giá không chỉ tha một hành vi. Thánh Giá muốn trả lại căn tính. Phêrô không chỉ được tha ba lần chối Thầy; ông được trao lại sứ mạng: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy.” Người con hoang đàng không chỉ được phép ngủ ở chuồng gia súc; nó được mặc áo của con. Tên gian phi không chỉ được giảm án; anh được hứa thiên đàng. Maria Mađalêna không chỉ được giải thoát khỏi quá khứ; bà trở thành người loan báo Tin Mừng Phục Sinh. Phaolô không chỉ được tha vì đã bách hại Hội Thánh; ông trở thành Tông đồ dân ngoại. Lòng thương xót không chỉ xóa bảng. Nó viết một trang mới.

Một số người giữ nỗi ân hận như thể nó là bằng chứng rằng họ thật lòng sám hối. Và đúng, thống hối là cần. Một trái tim không bao giờ đau vì tội mình là trái tim chưa hiểu tội. Nhưng thống hối và tuyệt vọng là hai điều khác nhau. Thống hối nhìn lên Chúa. Tuyệt vọng chỉ nhìn vào mình. Thống hối khóc nhưng vẫn bước về nhà Cha. Tuyệt vọng ngồi ở bãi heo và nói: “Không còn đường.” Thống hối biết mình không xứng nhưng vẫn tin Cha còn yêu. Tuyệt vọng biến sự bất xứng thành một thần tượng lớn hơn lòng thương xót. Có những người xưng đi xưng lại một tội đã được tha vì họ không chịu tin rằng bí tích đã thật sự làm điều Hội Thánh nói. Có những người tiếp tục trừng phạt thân xác, tâm trí, các mối quan hệ của mình nhiều năm vì một lỗi cũ. Họ từ chối niềm vui vì cho rằng vui là không xứng. Họ phá những điều tốt đang đến với mình vì sâu trong lòng họ tin mình không đáng được hạnh phúc. Họ chọn những mối quan hệ độc hại vì nghĩ đó là án phạt mình phải chịu. Họ không dám nhận lời khen. Không dám bắt đầu lại. Không dám đến gần Chúa với bình an. Nhưng hãy nhìn cạnh sườn bị đâm. Máu chảy ra không phải để chúng ta đứng từ xa và nói: “Con biết máu ấy cứu người khác, nhưng không cứu nổi con.” Nói như thế nghe có vẻ khiêm nhường, nhưng lại là phủ nhận hiệu năng của Thánh Giá. Nếu máu Đức Kitô không đủ cho bạn, thì nó đủ cho ai? Nếu Người có thể tha cho Phêrô, Phaolô, người phụ nữ ngoại tình, tên gian phi, những kẻ đóng đinh Người, thì tại sao bạn lại tự cho mình một vị trí kỳ lạ là người duy nhất nằm ngoài tầm với của lòng thương xót? Không ai quá nhỏ để được Chúa nhìn thấy, nhưng cũng không ai quá lớn để tội của mình có thể vượt quá Thánh Giá. Khiêm nhường thật không nói “tội tôi lớn quá”. Khiêm nhường thật nói “tội tôi lớn, nhưng Chúa lớn hơn”.

  1. MÁU VÀ NƯỚC: HỘI THÁNH SINH RA TỪ MỘT VẾT THƯƠNG

Các Giáo phụ từ rất sớm đã đọc hình ảnh máu và nước chảy từ cạnh sườn Đức Kitô như dấu chỉ các Bí tích và sự khai sinh của Hội Thánh. Như Eva được lấy từ cạnh sườn Adam đang ngủ, Hội Thánh được sinh ra từ cạnh sườn Adam mới khi Người ngủ giấc chết trên Thập Giá. Hình ảnh ấy rất đẹp, nhưng cũng rất nghiêm trọng: Hội Thánh sinh ra từ một vết thương. Nguồn gốc sâu xa của Hội Thánh không phải quyền lực, tổ chức, ảnh hưởng hay thành công. Hội Thánh đến từ cạnh sườn một Người bị đóng đinh. Điều này phải luôn luôn được nhớ mỗi khi Hội Thánh có nguy cơ say mê quyền lực hơn phục vụ, giữ thể diện hơn chữa lành, xây tường hơn mở cửa, giữ ghế hơn quỳ xuống rửa chân. Hội Thánh càng xa cạnh sườn bị đâm, Hội Thánh càng dễ trở thành một cơ cấu lạnh. Hội Thánh càng trở về cạnh sườn ấy, Hội Thánh càng nhớ mình tồn tại để dẫn người ta đến sự sống. Nước gợi đến Rửa Tội: nơi con người được sinh lại, được rửa sạch, được đưa vào sự sống của Đức Kitô. Máu gợi đến Thánh Thể: nơi chính sự sống của Đức Kitô được trao như lương thực. Hai dòng ấy nói rằng Kitô giáo không chỉ là một hệ thống đạo đức để người tốt trở nên tốt hơn. Kitô giáo là việc một nhân loại chết khát được đặt miệng vào cạnh sườn Đấng Cứu Thế mà uống lấy sự sống. Chúng ta không tự cứu mình bằng ý chí đạo đức. Ta được sinh từ nước. Ta được nuôi bằng máu. Ơn cứu độ đến như quà. Và nếu là quà, ta phải học nhận trước khi học trao.

Mỗi lần một người bước xuống nước Rửa Tội, dòng nước từ cạnh sườn vẫn đang chảy. Mỗi lần linh mục nâng chén thánh, máu từ cạnh sườn vẫn đang chảy. Mỗi lần một tội nhân quỳ xuống trong tòa giải tội và đứng lên được tha, cạnh sườn ấy vẫn đang mở. Mỗi khi một người bị tổn thương tìm được nơi trú trong cộng đoàn Kitô hữu, cạnh sườn ấy vẫn đang mở. Mỗi khi ai đó tưởng mình bị loại khỏi mọi bàn ăn mà lại được Hội Thánh đón vào với lòng tôn trọng, dòng nước ấy vẫn đang chảy. Còn mỗi khi chúng ta đóng cánh cửa mà Chúa đã mở, mỗi khi biến bí tích thành phần thưởng cho người hoàn hảo hơn là thuốc chữa cho người đang cần, mỗi khi làm một người sợ đến gần Chúa vì cảm giác không xứng, mỗi khi dùng đạo để làm ai đó nhục nhã, ta phải tự hỏi mình có đang đặt một tảng đá trước cạnh sườn đã mở hay không.

  1. TRÁI TIM BỊ ĐÂM KHÔNG CÒN GÌ ĐỂ GIỮ LẠI

Thánh Gioan không dùng từ “Trái Tim” trong Ga 19,34, nhưng truyền thống Kitô giáo đã không ngừng nhìn cạnh sườn mở ấy và nhận ra Trái Tim Đức Giêsu. Một trái tim bị đâm là một trái tim không còn giữ gì cho riêng mình. Người đã trao lời. Trao sức. Trao thời gian. Trao thân xác. Trao Mẹ cho môn đệ. Trao môn đệ cho Mẹ. Trao Thần Khí. Và rồi cạnh sườn mở ra như dấu hiệu rằng ngay cả phần kín nhất cũng không còn khóa. Đây là tình yêu đến tận cùng. Nhiều tình yêu con người vẫn giữ một phòng khóa bên trong: “Tôi yêu anh, nhưng đến đây thôi. Tôi tha, nhưng chuyện kia thì không. Tôi cho, nhưng đừng chạm vào chỗ này. Tôi phục vụ, nhưng phải biết ơn tôi. Tôi hy sinh, nhưng phải trả lại cho tôi bằng sự nhìn nhận.” Trái Tim Đức Kitô khác. Người cho đến khi không còn gì để cho. Và thật lạ, chính lúc Người không còn gì thì lại là lúc mọi sự tuôn ra. Trong đời thiêng liêng cũng vậy. Có khi ta tưởng sự phong phú nằm trong việc tích trữ: tích trữ uy tín, sức khỏe, người ủng hộ, cảm giác an toàn, khả năng kiểm soát. Nhưng rất nhiều khi điều sâu nhất lại bắt đầu từ một vết mở. Người chưa từng bị thương có thể nói đúng về đau khổ; người đã được Chúa đi qua vết thương thường nói khác. Không phải vì đau khổ tự nó thánh hóa. Đau khổ cũng có thể làm con người cay độc. Nhưng một vết thương được đưa vào Trái Tim Chúa có thể trở thành cửa. Có những người sau khi đi qua bệnh tật trở nên dịu dàng với bệnh nhân. Có người sau khi trải qua một lần bị hiểu lầm không còn vội kết án. Có người từng nghèo nên biết giữ phẩm giá cho người nghèo. Có người từng thất bại nên biết cách đứng cạnh kẻ thất bại mà không giảng đạo. Có người từng được tha một món nợ rất lớn nên từ đó không còn hứng thú với việc đòi những món nợ nhỏ. Đó là lúc vết thương cá nhân được nối với cạnh sườn Đức Kitô và bắt đầu chảy ra lòng thương xót.

Nhưng cũng phải cẩn thận: không phải mọi vết thương đều tự động làm người ta tốt hơn. Có người bị phản bội rồi trở thành người không còn tin ai. Có người bị làm nhục rồi bắt đầu làm nhục người khác. Có người từng bị kiểm soát rồi khi có quyền lại kiểm soát người dưới mình. Có người từng nghèo rồi khi giàu lại khinh người nghèo. Có người từng bị đối xử khắt khe trong đời tu rồi sau này lại đối xử khắt khe với lớp trẻ vì nghĩ: “Tôi từng chịu được thì chúng nó cũng phải chịu.” Đó là lúc vết thương không được chữa mà được truyền. Thánh Giá không mời gọi chúng ta truyền đau khổ xuống thế hệ sau. Thánh Giá mời gọi đưa đau khổ vào trong Trái Tim Chúa để chuỗi truyền đau ấy dừng lại ở mình. Có những gia đình cần một người quyết định: “Từ tôi, bạo lực sẽ dừng.” Có những cộng đoàn cần một người nói: “Những gì tôi từng chịu sẽ không trở thành lý do để tôi bắt người sau chịu.” Có những linh mục cần nói: “Tôi từng bị đối xử lạnh, nhưng tôi không để sự lạnh đó trở thành phong cách mục vụ của tôi.” Đó chính là cách lòng thương xót chảy từ cạnh sườn qua cạnh sườn của chúng ta.

  1. NGƯỜI ĐƯỢC THA NHIỀU SẼ YÊU NHIỀU

Chúa Giêsu từng nói về người phụ nữ tội lỗi: “Tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều” (x. Lc 7,47). Câu ấy hé lộ một quy luật kỳ lạ của đời sống thiêng liêng: ý thức mình được thương xót làm phát sinh khả năng yêu. Người nghĩ rằng mình gần như không cần được tha thường dễ khắt khe. Người biết mình đang sống nhờ ơn tha thứ thường mềm hơn. Đây là lý do ký ức về lòng thương xót rất quan trọng. Ta phải nhớ mình đã từng được Chúa kéo khỏi đâu. Không phải để sống mãi trong mặc cảm, nhưng để đừng trở nên kiêu ngạo. Mỗi vị mục tử nên giữ trong lòng ký ức mình cũng là một tội nhân được gọi. Mỗi người làm cha mẹ nên nhớ mình từng là đứa trẻ bướng bỉnh. Mỗi người lớn tuổi nên nhớ mình từng non nớt. Mỗi người đạo đức nên nhớ có những thời điểm mình cũng lạnh. Mỗi người đứng vững hôm nay nên nhớ có thể đã từng có ngày mình suýt ngã. Ký ức này tạo ra sự dịu dàng. Người ta thường tàn nhẫn nhất khi quên mình cũng được cứu bởi ân sủng.

Hãy nhìn Phêrô. Sau ba lần chối Thầy, ông không thể còn làm mục tử như một người chưa bao giờ biết thất bại. Khi Chúa trao lại đoàn chiên, Người trao đoàn chiên cho một người đã từng khóc vì chính sự yếu đuối của mình. Có lẽ đó là một phần trong việc chuẩn bị Phêrô làm mục tử: ông cần biết từ bên trong thế nào là muốn can đảm mà lại hèn, muốn trung thành mà lại ngã, yêu thật mà vẫn có thể phản bội trong một giờ phút sợ hãi. Từ đó, khi gặp một chiên yếu, ông có thể nhớ mình. Khi gặp một người thất bại, ông có thể nhớ sân dinh thượng tế. Khi gặp một người xấu hổ, ông có thể nhớ tiếng gà gáy. Và khi gặp một người muốn trở về, ông có thể nhớ bờ hồ nơi Chúa không nhắc ông ba lần “con đã chối Thầy”, nhưng ba lần hỏi “con có yêu mến Thầy không?” Lòng thương xót không xóa ký ức. Nó biến ký ức thành sứ vụ.

  1. LÒNG THƯƠNG XÓT KHÔNG PHẢI CẢM XÚC MỀM YẾU

Có một hiểu lầm phổ biến: người ta nghĩ thương xót là mềm lòng, dễ xúc động, hay khóc, không dám nói điều khó. Nhưng lòng thương xót của Đức Kitô không yếu. Người có thể tha cho người phụ nữ ngoại tình và đồng thời nói “đừng phạm tội nữa”. Người có thể thương người thanh niên giàu có rồi nói một đòi hỏi làm anh buồn bã bỏ đi. Người có thể khóc thương Giêrusalem nhưng vẫn nói những lời cảnh tỉnh rất mạnh. Người có thể tha thứ cho Phêrô rồi trao cho ông trách nhiệm đến chết. Lòng thương xót không loại bỏ yêu cầu nên thánh. Trái lại, lòng thương xót làm cho nên thánh trở thành điều có thể. Nếu một đứa trẻ ngã, người cha không nằm xuống bảo nó cứ nằm. Ông nâng nó dậy để nó tiếp tục đi. Nếu một người đang chìm trong nghiện ngập, thương xót không phải đưa thêm thứ đang giết họ. Thương xót là bước vào với họ, chịu phiền, chịu khó, có khi phải nói “không”, đặt giới hạn, tìm cách chữa trị, kiên trì khi họ tái ngã nhưng cũng không đồng lõa. Có những lúc thương xót nói bằng giọng rất dịu. Có lúc thương xót phải nói một câu khó. Có lúc thương xót ôm. Có lúc thương xót ngăn. Có lúc thương xót im. Có lúc thương xót phải lên tiếng bảo vệ nạn nhân. Điều quyết định không phải hình thức mềm hay cứng, mà là câu hỏi: điều tôi đang làm có thật sự tìm sự sống cho người này không?

  1. CÓ NHỮNG NGƯỜI KHÔNG CẦN MỘT BÀI GIẢNG, HỌ CẦN MỘT CẠNH SƯỜN MỞ

Rất nhiều người mang những vết thương mà họ không cần thêm lý thuyết ngay lúc đầu. Một người vừa mất con có thể không cần nghe giải thích về Quan Phòng trong năm phút đầu. Người ấy cần ai đó ngồi bên. Một người vừa thú nhận một thất bại lớn không cần ngay lập tức nghe cả một chương luân lý. Họ cần biết người trước mặt chưa khinh họ. Một người đã sống nhiều năm trong mặc cảm không cần thêm một ánh mắt kết án. Họ cần gặp một đôi mắt giống đôi mắt Đức Giêsu nhìn Phêrô sau khi ông chối Thầy. Có những thời điểm lòng thương xót là ở lại. Đức Maria dưới chân Thập Giá không làm được gì để tháo đinh. Mẹ đứng. Và có lẽ một trong những hình thức lòng thương xót sâu nhất là đứng bên một nỗi đau mình không thể sửa. Xã hội hiện đại rất thích giải pháp. Nhưng không phải mọi đau khổ đều có giải pháp ngay. Có những tang tóc không giải được. Có bệnh không chữa được. Có hôn nhân đã đổ vỡ không quay lại như cũ. Có quá khứ không viết lại. Có cái chết không đảo ngược. Khi ấy, lòng thương xót mang hình dáng của sự hiện diện. Không nói “mọi chuyện rồi sẽ ổn” khi mình không biết. Không ép người đau phải tích cực. Không trách họ thiếu đức tin vì họ còn khóc. Chỉ ở đó. Cạnh sườn mở không nói; nó chảy.

  1. ĐỪNG BIẾN TÒA GIẢI TỘI THÀNH TÒA ÁN TUYỆT VỌNG

Nếu có một nơi trong đời sống Hội Thánh phải mang rõ hương vị của cạnh sườn bị đâm thì đó là Bí tích Hòa Giải. Người bước vào đó thường đã mang đủ xấu hổ. Có người phải đấu tranh nhiều tháng mới dám đi xưng một tội. Có người ngồi ngoài nhà thờ rất lâu rồi mới bước vào. Có người nói câu đầu mà giọng run. Có người đã chuẩn bị để bị mắng. Có người từng có trải nghiệm xấu nên nhiều năm không trở lại. Một linh mục ngồi trong tòa giải tội phải nhớ mình không phải chủ nhân của lòng thương xót. Mình là người phân phát điều mình cũng đang sống nhờ. Quyền tha tội là quyền kinh khủng và dịu dàng: quyền tuyên bố trên một đời người rằng “Thiên Chúa không giữ con trong quá khứ.” Dĩ nhiên cần hướng dẫn. Dĩ nhiên cần giúp hối nhân thấy sự thật. Dĩ nhiên có những trường hợp đòi phân định kỹ, đền bù, sửa chữa, tránh dịp tội. Nhưng mọi điều ấy phải diễn ra trong ánh sáng của câu cuối: “Cha tha tội cho con.” Nếu một hối nhân bước ra mà hiểu rõ tội hơn nhưng tuyệt vọng hơn về Thiên Chúa, có gì đó đã sai. Nếu họ ra mà nghĩ Chúa ghê tởm họ, ta chưa cho họ gặp Tin Mừng. Kỷ luật có chỗ. Giáo luật có chỗ. Nhưng trái tim của bí tích là cạnh sườn mở.

  1. LÒNG THƯƠNG XÓT TRONG GIA ĐÌNH

Không nơi nào cần lòng thương xót thường xuyên như gia đình, bởi không nơi nào người ta biết điểm yếu của nhau rõ như trong nhà. Ngoài xã hội người ta có thể giữ hình ảnh; về nhà mặt nạ rơi. Vợ biết chồng yếu ở đâu. Chồng biết vợ dễ đau ở đâu. Cha mẹ biết con đã thất bại chỗ nào. Anh chị em nhớ những lỗi cũ của nhau nhiều năm. Vì vậy gia đình có thể là nơi chữa lành nhất hoặc nơi nhắc lại bản án lâu nhất. Có nhà mà mỗi lần cãi nhau, toàn bộ hồ sơ hai mươi năm được mở ra. Một lỗi năm nào cũng được dùng lại. Một câu nói cũ vẫn trở thành vũ khí. Người ta nói đã tha nhưng vẫn giữ đạn. Cạnh sườn Đức Kitô mời gia đình học một nghệ thuật khó: không phủ nhận lịch sử, nhưng không biến lịch sử thành nhà tù. Khi một người đã thật sự thay đổi, đừng bắt họ sống mãi dưới tên gọi cũ. Khi một đứa con trở về, đừng mỗi bữa cơm lại nhắc ngày nó đã bỏ nhà. Khi người bạn đời thật lòng sửa, đừng dùng quá khứ như một dây cương để kiểm soát. Tha thứ không làm mất ký ức, nhưng nó lấy nọc độc ra khỏi ký ức. Ta vẫn nhớ nhưng không dùng điều đã nhớ để làm đau.

  1. THƯƠNG XÓT NGƯỜI KHÓ THƯƠNG

Thương người đáng thương tương đối dễ. Thương người khó thương mới là nơi Thánh Giá bắt đầu. Có những người do tính cách, quá khứ, cách nói, sự ích kỷ, những lỗi lặp lại khiến ta chỉ cần thấy tên họ đã mệt. Chúa không bắt ta giả vờ rằng họ dễ chịu. Lòng thương xót không phải cảm thấy thích mọi người. Nó là chọn không đối xử với họ thấp hơn phẩm giá mà Chúa dành cho họ. Có khi ta phải giữ khoảng cách. Có khi không thể thân. Có khi cần ranh giới rất rõ. Nhưng ngay cả khi phải nói không, ta vẫn có thể không nuôi ý muốn họ bị hủy diệt. Đó là ranh giới giữa công lý và trả thù. Trả thù muốn người kia đau để mình nhẹ. Công lý muốn sự thật được lập lại. Lòng thương xót còn đi xa hơn: sau khi sự thật được lập lại, vẫn mong người kia được hoán cải. Điều này không dễ. Chỉ cạnh sườn bị đâm mới dạy được. Vì chính Đức Giêsu nhìn những người đóng đinh mình và cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Người không nói “họ không làm gì sai”. Người nói “xin tha”. Tha chỉ có nghĩa khi có một điều thật sự cần tha.

  1. LÒNG THƯƠNG XÓT VÀ NHỮNG VẾT THƯƠNG CỦA HỘI THÁNH

Có những người bị thương bởi chính Hội Thánh. Có người bị một linh mục nói một câu khiến họ xa nhà thờ nhiều năm. Có người từng bị cộng đoàn loại trừ. Có người đã tố cáo một bất công nhưng không được nghe. Có người bị tổn thương bởi lạm dụng quyền lực, lạm dụng thiêng liêng hoặc những hình thức nghiêm trọng hơn. Khi ấy, lời mời trở về với lòng thương xót không thể chỉ được nói với người bị thương. Hội Thánh cũng phải biết xin thương xót bằng cách thú nhận lỗi mình, sửa cơ chế, bảo vệ nạn nhân, chịu trách nhiệm. Không thể lấy lòng thương xót để bảo nạn nhân “hãy tha đi” trong khi người có quyền không chịu thay đổi. Đó là dùng một từ thánh để che một bất công. Lòng thương xót thật luôn đi cùng sự thật. Cạnh sườn Đức Kitô mở vì Người đã bị đâm thật. Kitô giáo không xóa vết đâm khỏi câu chuyện. Tin Mừng không viết: “mọi sự đều ổn”. Gioan ghi lại cây giáo. Nghĩa là muốn nói về chữa lành, phải dám gọi tên vết thương. Một cộng đoàn trưởng thành không phải cộng đoàn không có vết thương, nhưng là cộng đoàn không che vết thương bằng son phấn đạo đức.

  1. KHI TA KHÔNG THỂ THA NGAY

Có người nghe lời mời tha thứ rồi thấy mình có tội vì không thể tha ngay. Nhưng tha thứ thường là một hành trình. Có vết thương nhỏ có thể tha trong một ngày. Có vết thương cần nhiều năm. Có vết thương mỗi lần nhớ lại vẫn đau. Không nên biến tha thứ thành một mệnh lệnh bạo lực mới đối với người đang bị thương. Có khi bước đầu tiên chỉ là cầu nguyện: “Lạy Chúa, con chưa tha nổi. Xin làm trong con điều con chưa làm được.” Đó đã là một lời cầu rất thật. Không cần giả vờ mình đã bình an khi chưa bình an. Không cần gặp lại người làm mình đau nếu điều đó nguy hiểm. Không cần phục hồi mọi tương quan. Tha thứ trước hết là dần dần trao quyền xét xử cuối cùng cho Thiên Chúa, không để người đã làm mình đau tiếp tục chiếm toàn bộ nội tâm. Và đôi khi tha thứ bắt đầu bằng việc ngừng mong họ bị hủy diệt. Rồi Chúa dẫn đi tiếp.

  1. MỖI LẦN RƯỚC LỄ LÀ ĐỂ MỘT TRÁI TIM KHÁC ĐI VÀO MÌNH

Nếu máu từ cạnh sườn liên hệ đến Thánh Thể, thì mỗi lần rước lễ ta đang đón nhận Trái Tim đã bị mở. Điều đáng sợ là ta có thể rước Trái Tim ấy rồi ra khỏi nhà thờ với trái tim đóng. Ta có thể nói “Amen” trước Mình Thánh rồi từ chối người anh em. Ta có thể uống chén giao ước rồi giữ thù. Thánh Thể không chỉ để an ủi cá nhân. Thánh Thể muốn thay tim. Ta rước Đấng đã tha cho kẻ giết mình; nếu qua nhiều năm ta vẫn không nhúc nhích một milimét về phía tha thứ, cần hỏi ta đang để Thánh Thể biến đổi điều gì. Ta rước Đấng đã hạ mình; nếu càng đạo đức càng kiêu, có gì đó không đúng. Ta rước Đấng tự hiến; nếu càng sống đạo càng chỉ bảo vệ mình, ta chưa để Thánh Thể đi đến chỗ sâu. Thánh Augustinô từng diễn tả mầu nhiệm Thánh Thể như lời mời trở thành điều ta lãnh nhận. Ta rước Thân Thể Đức Kitô để trở thành Thân Thể Đức Kitô cho thế giới. Nghĩa là người khác phải có thể gặp một phần cạnh sườn mở của Chúa trong cách ta sống.

  1. ĐỂ VẾT THƯƠNG CỦA TA TRỞ THÀNH GIẾNG NƯỚC

Không ai đi hết đời mà không bị thương. Câu hỏi không phải “tôi có bị thương không”, mà là “vết thương ấy sẽ trở thành gì”. Nó có thể trở thành một cái giếng độc, nơi ta múc lên cay đắng cho mọi người uống. Hoặc nó có thể được nối với cạnh sườn Đức Kitô và trở thành giếng nước thương xót. Có những người đẹp nhất không phải vì đời họ ít đau, mà vì họ đã không để đau khổ làm họ trở nên độc. Họ đã khóc đủ để nước mắt rửa đi sự cay nghiệt. Họ đã quỳ đủ lâu để Chúa lấy những mảnh vỡ ra khỏi tay họ. Họ có một sự dịu dàng mà sách vở không dạy. Khi bạn nói một lỗi, họ không giật mình vì họ đã thấy lòng người. Khi bạn khóc, họ không vội sửa vì họ biết có những đêm cần được khóc hết. Khi bạn ngã, họ không nói “tôi đã bảo rồi”, vì họ nhớ mình từng nằm. Người như thế là một bí tích sống của lòng thương xót.

  1. LỜI CUỐI LÀ MÁU

Con người thường sống vì sợ lời cuối. Một lỗi có lời cuối không? Một lần phản bội có lời cuối không? Một cuộc hôn nhân thất bại có lời cuối không? Một đời tu đổ vỡ có lời cuối không? Một căn bệnh có lời cuối không? Một cái chết có lời cuối không? Thánh Giá trả lời bằng cạnh sườn mở: không. Không phải vì những điều ấy không thật, nhưng vì còn một thực tại thật hơn: máu. Máu ở đây không phải hình ảnh bạo lực. Máu là sự sống đã được trao. Trong Thánh Kinh, máu thuộc về sự sống. Khi Đức Kitô đổ máu, Người trao sự sống. Vì vậy “lời cuối là máu” nghĩa là lời cuối thuộc về sự sống được trao trong tình yêu. Tội có thể nói một câu rất lớn, nhưng máu nói lớn hơn. Quá khứ có thể kết án, nhưng máu biện hộ. Ma quỷ có thể nhắc tội, nhưng máu nhắc giao ước. Lương tâm có thể run, nhưng máu nói: “Đã hoàn tất.” Cạnh sườn bị đâm là nơi Chúa dạy chúng ta một lần nữa rằng Thiên Chúa không đứng xa đau khổ con người. Người mang vết thương vào chính thân xác Phục Sinh. Sau Phục Sinh, Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ và cho họ xem tay và cạnh sườn. Người không xóa dấu đinh. Phục Sinh không làm như Thứ Sáu Tuần Thánh chưa từng xảy ra. Phục Sinh biến vết thương thành chứng tích của tình yêu chiến thắng. Có lẽ thiên đàng không phải nơi ta quên mọi vết thương; có lẽ đó là nơi mọi vết thương được đọc lại trong ánh sáng của tình yêu và không còn sức giết chúng ta nữa.

Vì vậy, người yêu Thánh Giá hãy xin một ơn rất cụ thể: xin cho trái tim mình giống cạnh sườn Chúa hơn. Đừng xin chỉ chịu đau giỏi hơn. Xin yêu rộng hơn. Đừng xin chỉ biết hy sinh nhiều hơn. Xin biết thương xót hơn. Đừng tự hào vì mình chịu được bao nhiêu. Hãy hỏi từ những gì mình chịu, có ai được chữa lành không. Có những người mang Thánh Giá nhiều năm nhưng ngày càng khó tính, ngày càng cay, ngày càng xét đoán. Đó là dấu thánh giá chưa đi đến trái tim. Còn có người đau rất nhiều nhưng vẫn giữ được một giọng nói hiền, một ánh mắt không khinh, một bàn tay còn biết đưa ra cho người khác; đó là phép lạ của ân sủng. Cuối cùng, yêu mến Thánh Giá không phải là yêu đau khổ. Là yêu Đấng trên Thánh Giá đến mức cho phép Trái Tim Người làm trái tim ta giống Người. Và dấu giống Người rõ nhất không phải ta chịu được bao nhiêu đinh, mà là sau tất cả những gì đâm vào ta, ta còn để lòng thương xót chảy ra hay không.

Khi người lính đâm ngọn giáo vào cạnh sườn Chúa, có lẽ ông không biết mình đang mở một cánh cửa cho cả nhân loại. Có nhiều điều người khác làm đau ta họ cũng không biết hậu quả. Nhưng ta có một lựa chọn: để vết đâm ấy chỉ là nơi máu ta mất đi, hay để Chúa biến nó thành nơi nước sự sống chảy ra. Không phải bằng sức mình. Không phải bằng việc ép mình “phải tốt”. Nhưng bằng cách mang vết thương của mình đến đặt trong vết thương của Người. Một vết thương chạm một Vết Thương. Một trái tim đau chạm Trái Tim bị đâm. Và từ đó có thể xảy ra điều kỳ diệu nhất trong đời Kitô hữu: thứ đã từng làm ta đau không còn chỉ là nguồn cay đắng; nó trở thành nơi ta hiểu người khác hơn. Thứ từng khiến ta khóc trở thành nơi ta biết lau nước mắt. Thứ từng làm ta xấu hổ trở thành nơi ta không còn làm người khác xấu hổ. Thứ từng làm ta cần được tha trở thành nơi ta biết tha. Đó là chiến thắng âm thầm của Thánh Giá.

Một ngày kia, khi tất cả những tranh cãi của chúng ta đã im, khi mọi vị trí, chức vụ, danh dự, thành công đã qua, điều có lẽ còn lại trước mặt Chúa là câu hỏi rất đơn sơ: máu từ cạnh sườn Con Ta đã đi qua đời con đến được với ai? Ai đã được nhẹ đi vì con? Ai đã dám trở về vì gặp con? Ai đã tin Chúa còn thương họ vì ánh mắt của con không kết án? Ai đã không tự tử trong tâm hồn vì một câu con nói? Ai đã đứng dậy sau sa ngã vì con đã không đạp thêm? Ai đã thấy Giáo Hội như một mái nhà vì cánh cửa con đã mở? Và cũng có thể Chúa sẽ cho ta thấy những khoảnh khắc rất nhỏ mà ta không nhớ: một lần không nói câu cay nghiệt, một lần chịu nghe lâu hơn, một tin nhắn hỏi thăm, một lần tha món nợ, một lần giữ kín điều người khác thú nhận, một lần bảo vệ danh dự người bị nói xấu, một lần đón một người mà mọi người tránh, một lần ngồi bên giường bệnh mà không biết nói gì. Những giọt lòng thương xót nhỏ ấy đều đến từ một nguồn duy nhất: cạnh sườn đã bị đâm trên đồi Canvê.

Xin cho chúng ta đừng bao giờ quen với cạnh sườn ấy. Xin đừng nhìn Thánh Giá như một đồ vật. Xin mỗi lần nhìn cây Thánh Giá, ta nhớ rằng ở đó có một Trái Tim đã mở vì mình. Ta không được cứu bởi vì ta chưa từng ngã; ta được cứu vì khi ta ngã, có một Đấng đã xuống thấp hơn chỗ ta ngã. Ta không được cứu vì đời ta sạch sẽ; ta được cứu vì có máu đã rửa. Ta không được cứu vì ta đủ xứng; ta được cứu vì Người yêu đến cùng. Và một khi đã biết mình sống nhờ lòng thương xót, ta không còn quyền sống bủn xỉn với lòng thương xót nữa. Chúng ta có thể phải nói sự thật, có thể phải sửa, phải đặt giới hạn, phải bảo vệ người yếu, phải chịu trách nhiệm, nhưng xin đừng bao giờ làm những điều đó với một trái tim thích kết án. Người Kitô hữu không được phép vui trước sự hư mất của bất cứ ai. Người môn đệ Đấng bị đâm phải luôn giữ một chỗ trong lòng cho hy vọng rằng người tội lỗi còn có thể trở về.

Và nếu hôm nay chính ta là người đang mệt, đang xấu hổ, đang tự kết án mình, đang nghĩ mình đã đi quá xa, thì đừng đứng ngoài. Hãy đến cạnh sườn. Đừng giải quyết mọi thứ trước rồi mới đến. Hãy đến như mình đang là. Mang theo tội. Mang theo nỗi sợ. Mang theo quá khứ. Mang theo điều ta không dám nói với ai. Cạnh sườn ấy đã mở rồi. Ta không cần mở. Ta chỉ cần bước đến. Hãy để nước rửa điều ta không tự rửa nổi. Hãy để máu nói điều lòng ta không dám tin: con vẫn còn được yêu. Và khi đã uống được một ngụm lòng thương xót ấy, hãy đứng dậy, quay về cuộc đời, và đừng giữ nó cho riêng mình.

CHƯƠNG XIV. THÁNH GIÁ VÀ PHỤC SINH KHÔNG RỜI NHAU

Có một sai lầm rất dễ len vào đời sống đạo: nói về Thánh Giá mà quên Phục Sinh, hoặc nói về Phục Sinh mà muốn đi vòng qua Thánh Giá. Sai lầm thứ nhất làm Kitô giáo biến thành một tôn giáo của buồn bã, chịu đựng, cam phận và khắc khổ; sai lầm thứ hai biến Kitô giáo thành một thứ lạc quan dễ dãi, một lời hứa rằng cứ tin Chúa thì mọi sự rồi sẽ êm đẹp, người bệnh sẽ khỏi, việc làm sẽ thuận, gia đình sẽ yên, ước muốn sẽ thành và đời sống sẽ ít nước mắt hơn. Cả hai đều không phải Tin Mừng. Tin Mừng là Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh và đã sống lại. Không phải một Đức Giêsu chịu đóng đinh mà thôi. Cũng không phải một Đức Giêsu sống lại mà không từng bị đóng đinh. Người Phục Sinh chính là Đấng đã bị đóng đinh. Và Đấng chịu đóng đinh chính là Đấng đã phục sinh. Thánh Giá và Phục Sinh không phải hai câu chuyện đặt cạnh nhau; đó là một mầu nhiệm duy nhất của tình yêu đi qua cái chết để mở đường vào sự sống. Bởi vậy, khi người Kitô hữu ngước nhìn Thánh Giá, họ không nhìn một thất bại cuối cùng. Khi người Kitô hữu mừng Phục Sinh, họ cũng không quên rằng ánh sáng Chúa Nhật đã mọc lên từ bóng tối Thứ Sáu Tuần Thánh. Không có chiều Canvê thì bình minh Phục Sinh trở thành một thứ ánh sáng rẻ tiền. Không có ngôi mộ trống thì Canvê trở thành ngõ cụt. Hội Thánh không cho phép chúng ta chọn một nửa Tin Mừng dễ chịu hơn với tính khí mình. Người thích khổ chế có thể muốn giữ Thứ Sáu Tuần Thánh và nghi ngờ mọi niềm vui. Người thích thoải mái có thể muốn giữ Chúa Nhật Phục Sinh mà tránh mọi hy sinh. Nhưng Đức Kitô không cho phép ta cắt đôi Người. Tay Người phục sinh vẫn mang dấu đinh. Cạnh sườn Người phục sinh vẫn mang vết giáo. Đó là một chi tiết hết sức quan trọng. Chúa có thể sống lại với một thân thể hoàn toàn không dấu vết. Người có thể xóa hết mọi thương tích như thể Canvê chưa từng xảy ra. Nhưng Người đã không làm thế. Người hiện ra với các môn đệ và nói với Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy” (x. Ga 20,27). Vết thương vẫn còn. Nhưng đó không còn là vết thương của thất bại. Đó là thương tích đã được tôn vinh. Dấu đinh từng là dấu của bạo lực nay trở thành dấu của tình yêu. Cạnh sườn từng bị đâm bởi lòng hận thù nay trở thành cửa mở cho lòng thương xót. Những dấu tích của đau khổ không bị Thiên Chúa chối bỏ; chúng được đưa vào vinh quang. Và đó là một trong những lời an ủi sâu nhất dành cho con người: Chúa không cứu chúng ta bằng cách giả bộ rằng những gì đã xảy ra chưa bao giờ xảy ra. Người cứu bằng cách biến đổi ý nghĩa của điều đã xảy ra. Có những vết thương đời này không thể xóa khỏi ký ức. Có những cái chết không thể làm lại. Có những năm tháng đã mất. Có những lời đã nói mà không rút lại được. Có những phản bội đã để dấu trong lòng. Có những bệnh tật để lại khuyết tật. Có những thất bại làm đời người đi sang một con đường hoàn toàn khác. Phục Sinh không bảo rằng tất cả những điều ấy chưa từng xảy ra. Phục Sinh nói rằng tất cả những điều ấy không nhất thiết có quyền nói lời cuối cùng. Thiên Chúa có thể lấy một điều không thể sửa và đặt nó vào một câu chuyện lớn hơn. Thiên Chúa có thể lấy một vết thương và làm cho từ đó chảy ra lòng cảm thông. Thiên Chúa có thể lấy một thất bại và làm nó thành trường dạy khiêm nhường. Thiên Chúa có thể lấy một mất mát và làm trái tim con người rộng ra để biết thương những người đang mất mát. Thiên Chúa có thể lấy chính cái chết – điều cuối cùng không ai trong chúng ta có thể tự mình thắng – và biến nó thành cửa đi vào sự sống. Đó là Phục Sinh.

  1. HY VỌNG KHÔNG PHẢI LẠC QUAN

Có một khác biệt rất lớn giữa lạc quan tự nhiên và hy vọng Kitô giáo. Lạc quan thường nói: “Rồi mọi chuyện sẽ tốt đẹp.” Hy vọng Kitô giáo không nhất thiết nói như thế. Có những chuyện không tốt đẹp theo nghĩa mà ta hiểu. Có những người cầu xin chữa bệnh nhưng vẫn chết. Có những cha mẹ cầu nguyện cho con trở về nhưng lúc nhắm mắt vẫn chưa thấy nó trở về. Có những người sống tử tế nhưng vẫn bị oan. Có những người phục vụ Chúa cả đời rồi kết thúc trong cô đơn. Có những cuộc hôn nhân không được chữa lành như ta mong. Có những cộng đoàn không thay đổi. Có những lời cầu nguyện tưởng như rơi vào thinh lặng. Nếu hy vọng Kitô giáo chỉ có nghĩa “rồi chuyện sẽ ổn theo mong muốn của tôi”, thì đức tin sẽ sụp đổ ngay khi đời không diễn ra như dự tính. Nhưng hy vọng sâu hơn rất nhiều. Hy vọng nói: dù chuyện này không kết thúc theo cách tôi muốn, Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa. Dù tôi không hiểu, Chúa vẫn trung tín. Dù tôi phải đi qua bóng tối, bóng tối không lớn hơn Chúa. Dù tôi chết, cái chết không giữ được tôi mãi. Dù ngày hôm nay giống Thứ Sáu Tuần Thánh, lịch sử của Thiên Chúa không kết thúc vào chiều Thứ Sáu. Hy vọng Kitô giáo không cần phải phủ nhận nước mắt mới đứng vững. Đức Maria đứng dưới chân Thập Giá không lạc quan. Không có bằng chứng tự nhiên nào ở giờ ấy để nói: “Mọi việc đang thuận lợi.” Con của Mẹ đang chết. Các môn đệ đã chạy. Quyền lực xem ra thuộc về Philatô, quân lính, các thủ lãnh và đám đông. Nếu đánh giá bằng mắt thường, tất cả đã thất bại. Nhưng Mẹ đứng. Đó là hy vọng. Hy vọng không phải lúc nào cũng hát lớn. Đôi khi hy vọng chỉ là không bỏ đi. Đôi khi hy vọng là sáng dậy và tiếp tục cầu nguyện khi lời cầu nguyện hôm qua chưa được trả lời. Đôi khi hy vọng là tiếp tục sống tử tế trong một môi trường nơi sự tử tế không được thưởng. Đôi khi hy vọng là ở cạnh một người hấp hối mà không thể cứu họ. Đôi khi hy vọng là vẫn tin vào tình yêu sau khi đã bị phản bội. Đôi khi hy vọng là vẫn bước vào nhà thờ khi lòng không cảm thấy gì. Đôi khi hy vọng chỉ là nói: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con vẫn ở đây.” Đó không phải yếu đuối. Đó là một trong những hình thức mạnh nhất của đức tin.

Lạc quan cần những dấu hiệu thuận lợi. Hy vọng có thể sống trong những dấu hiệu bất lợi. Lạc quan nhìn dự báo thời tiết rồi nói trời sẽ đẹp. Hy vọng đứng giữa cơn bão và tin rằng ngay cả nếu thuyền chìm, mình vẫn ở trong tay Chúa. Lạc quan dựa nhiều vào hoàn cảnh. Hy vọng dựa vào Đấng đã sống lại. Vì thế Thánh Phaolô có thể viết về một niềm hy vọng ngay giữa những bách hại, lao tù, roi đòn và nguy hiểm. Ngài không ngây thơ. Ngài biết thân xác sẽ chết. Ngài biết thế gian không tự động trở nên công bằng. Ngài biết các cộng đoàn Kitô hữu cũng có chia rẽ, ghen tương và phản bội. Nhưng ngài đã gặp Đấng Phục Sinh. Và từ cuộc gặp ấy, toàn bộ cách nhìn của ngài về đau khổ đổi khác. Nếu Đức Kitô đã sống lại, thì không đau khổ nào còn tuyệt đối. Nếu Đức Kitô đã sống lại, thì cái chết không còn là bức tường mà chỉ còn là cánh cửa. Nếu Đức Kitô đã sống lại, thì tình yêu không phải một giấc mơ đẹp của người yếu nhưng là sức mạnh đã chiến thắng mồ. Chính vì thế, hy vọng Kitô giáo không ngây thơ. Nó là hy vọng đã đi qua mồ. Nó biết Thứ Sáu Tuần Thánh là có thật. Nó biết tiếng búa đóng đinh là có thật. Nó biết mồ đá là có thật. Nhưng nó cũng biết phiến đá đã được lăn ra. Kitô hữu không tin vì chưa từng thấy đau khổ. Kitô hữu tin ngay giữa đau khổ bởi vì Đức Kitô đã đi vào tận đáy đau khổ ấy và từ đó bước ra.

Có những giai đoạn trong đời ta không thể “nghĩ tích cực” mà giải quyết. Một người mẹ vừa mất con không cần nghe những câu như: “Đừng buồn nữa, Chúa có chương trình.” Một người bị ung thư không cần nghe: “Hãy tin mạnh hơn thì sẽ khỏi.” Một người vừa bị phản bội không cần được khuyên: “Thôi bỏ qua đi, nghĩ vui lên.” Đó không phải hy vọng. Đôi khi đó chỉ là cách chúng ta trốn khỏi nỗi đau của người khác vì ta không chịu nổi khi phải đứng cạnh họ trong bóng tối. Đức Giêsu không làm thế. Trước mồ Lazarô, Người khóc. Người biết chỉ vài phút nữa Người sẽ gọi Lazarô ra khỏi mồ. Vậy mà Người vẫn khóc. Phục Sinh không hủy nước mắt. Phục Sinh làm cho nước mắt có một chân trời. Chúng ta được phép khóc, nhưng không phải khóc như người không còn hy vọng. Chúng ta được phép buồn, nhưng nỗi buồn không được quyền tuyên bố rằng mọi sự đã hết. Chúng ta được phép sợ, nhưng sợ không phải Chúa. Chúng ta được phép ngã quỵ, nhưng ngay trên đất nơi ta ngã xuống, bàn tay của Đấng Phục Sinh vẫn có thể chạm đến.

Một trong những hình thức tinh tế của thiếu đức tin là nghĩ rằng hy vọng phải làm ta không còn đau. Không. Đôi khi càng hy vọng càng đau, bởi vì ta càng yêu. Mẹ Maria hy vọng nhưng Mẹ vẫn bị lưỡi gươm đâm thâu. Các môn đệ tin Chúa phục sinh nhưng rồi nhiều người vẫn chết tử đạo. Niềm hy vọng Kitô giáo không gây tê. Nó không làm trái tim thành đá. Ngược lại, nó cho phép ta yêu sâu đến mức dám chịu đau mà không tuyệt vọng. Người không hy vọng đôi khi chọn không yêu nữa để khỏi bị thương. Người hy vọng dám yêu vì biết rằng cuối cùng tình yêu thuộc về phía chiến thắng. Đó là lý do các thánh có thể trao đời mình cho người nghèo, bệnh nhân, người hấp hối, những nơi chẳng có gì bảo đảm thành công. Họ không làm vì tin mọi bệnh nhân sẽ khỏi, mọi người nghèo sẽ hết nghèo, mọi người tội lỗi sẽ hoán cải. Họ làm vì biết không một hành động yêu thương nào trong Đức Kitô là vô ích. Một ly nước trao vì danh Người không mất. Một giờ ngồi cạnh người cô đơn không mất. Một lời tha thứ trong nước mắt không mất. Một hy sinh âm thầm không ai biết không mất. Một lời kinh đọc bên giường bệnh không mất. Tất cả được gieo vào đất của Phục Sinh.

  1. VÁC THÁNH GIÁ VÌ PHÍA KIA CÓ SỰ SỐNG

Người Kitô hữu không vác Thánh Giá vì đau khổ tự nó là điều tốt. Điều này phải được nói thật rõ, bởi lịch sử thiêng liêng đôi khi bị hiểu sai đến mức người ta nghĩ càng khổ càng thánh, càng đau càng đẹp lòng Chúa. Không. Đau khổ tự nó là một sự dữ của thế giới bị thương. Bệnh tật không phải điều thiện. Chiến tranh không phải điều thiện. Bị lạm dụng không phải điều thiện. Bất công không phải điều thiện. Bị sỉ nhục không phải điều thiện. Cái chết không phải điều thiện. Đức Giêsu không đi khắp Galilê phát bệnh cho người ta để họ có thánh giá; Người chữa bệnh. Người không để đám đông đói để họ học hy sinh; Người cho họ ăn. Người không bảo chị em Marta và Maria rằng Lazarô chết là tốt; Người khóc và gọi ông ra khỏi mồ. Nhưng rồi có một loại đau khổ không thể tránh nếu ta muốn trung thành với tình yêu. Chính đau khổ ấy mới mang hình Thánh Giá. Tha thứ có thể làm đau. Trung tín có thể làm đau. Nói sự thật có thể làm đau. Chăm một người bệnh nhiều năm có thể làm đau. Giữ lời khấn có thể làm đau. Nuôi một đứa con khó khăn có thể làm đau. Không trả đũa khi bị xúc phạm có thể làm đau. Từ bỏ một mối tương quan tội lỗi có thể làm đau. Chấp nhận tuổi già có thể làm đau. Và cuối cùng, chấp nhận chết trong tay Chúa chắc chắn là một cuộc từ bỏ lớn. Người Kitô hữu không yêu cái đau trong những điều ấy. Người Kitô hữu yêu Đấng đang chờ mình phía bên kia cái đau. Họ không tôn thờ gỗ. Họ ôm Thánh Giá vì trên gỗ ấy có Đức Kitô. Và họ bước qua gỗ vì phía sau nó có ngôi mộ mở.

Nếu không có Phục Sinh, yêu Thánh Giá sẽ là một thứ điên rồ. Thánh Phaolô nói thẳng điều ấy trong 1 Côrintô 15: nếu Đức Kitô không sống lại, lời rao giảng là vô ích, đức tin là hão huyền, và chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người. Kitô giáo đặt tất cả vào một biến cố: Đức Giêsu, Đấng bị đóng đinh, đã sống lại. Không phải Người sống mãi trong ký ức môn đệ. Không phải giáo huấn của Người “phục sinh” theo nghĩa tượng trưng. Nhưng Thiên Chúa đã cho Người trỗi dậy từ cõi chết. Thân xác từng được đặt trong mồ không còn ở đó. Người đã hiện ra. Người đã ăn với các môn đệ. Người đã cho họ chạm đến. Người đã biến những kẻ đang trốn vì sợ thành những chứng nhân dám chết cho điều họ đã thấy. Toàn bộ đức tin của Hội Thánh đứng trên nền này. Vì thế mỗi lần ta vác một Thánh Giá trong Đức Kitô, ta không bước vào một đường hầm vô tận. Có một lối ra. Lối ra ấy có thể không nằm trong lịch sử hiện tại theo cách ta mong, nhưng nó có thật. Không Thánh Giá nào trung thành với Đức Kitô kết thúc ở nghĩa địa.

Điều ấy thay đổi cách ta chịu đau rất sâu. Người tuyệt vọng hỏi: “Bao giờ mới hết?” Người hy vọng có thể hỏi thêm: “Lạy Chúa, trong điều này Chúa đang dẫn con đi đâu?” Không phải câu hỏi thứ hai luôn có câu trả lời ngay. Có khi cả đời ta không hiểu. Ông Gióp không được cho lời giải thích toàn bộ về khổ đau của mình. Đức Maria dưới chân Thánh Giá cũng không được thiên thần hiện ra giải thích từng chi tiết. Nhưng đức tin không nhất thiết đòi biết bản đồ. Đức tin cần biết người dẫn đường. Chúng ta không biết hết con đường, nhưng biết Đấng đã đi qua nó. Chúa Giêsu đã xuống đến tận nơi con người sợ nhất: phản bội, cô độc, đau thể xác, nhục nhã, cảm giác bị bỏ rơi và cuối cùng là sự chết. Không còn vực nào ta có thể rơi xuống mà Người chưa xuống trước. Điều ấy làm cho Thánh Giá Kitô giáo khác với mọi định mệnh mù. Khi tôi đau, tôi không đứng một mình trước một vũ trụ im lặng. Có Một Người đã từng nói: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Có Một Người đã từng run sợ đến đổ mồ hôi máu. Có Một Người đã từng bị bạn bè bỏ chạy. Có Một Người đã từng bị lột áo, bị chế nhạo, bị đóng đinh và chết. Và Người ấy đã sống lại. Vì thế khi tôi bước vào bóng tối, tôi không bước vào một nơi Chúa xa lạ. Tôi bước vào nơi Người đã đi qua và để lại dấu chân.

  1. CHÚA NHẬT KHÔNG XÓA THỨ SÁU TUẦN THÁNH

Một điều rất đẹp trong mầu nhiệm Phục Sinh là Chúa không làm quá khứ biến mất. Người cứu quá khứ. Người không bảo Phêrô: “Chuyện anh chối Thầy không xảy ra.” Người gặp Phêrô và hỏi ba lần: “Con có yêu Thầy không?” Ba lần yêu không xóa ba lần chối như người ta dùng cục tẩy xóa chữ. Ba lần yêu chữa ba lần chối bằng cách đưa nó vào một câu chuyện mới. Sau đó Phêrô, người đã từng nói “Tôi không biết người ấy”, sẽ dành đời mình để nói cho thế giới biết Người ấy là ai. Đó là Phục Sinh. Nó không viết lại quá khứ theo nghĩa phủ nhận nó. Nó cứu quá khứ bằng cách không để quá khứ quyết định tương lai.

Có người mang mặc cảm hàng chục năm vì một tội đã phạm. Họ đã xưng tội, đã sửa đổi, nhưng trong lòng vẫn nghĩ: “Đời tôi bị hỏng rồi.” Họ tin vào tha thứ về mặt giáo lý nhưng không để Phục Sinh đi vào lịch sử riêng của mình. Phục Sinh nói rằng vết thương có thể còn nhưng nó không còn quyền định danh ta. Phêrô có thể nhớ tiếng gà gáy đến cuối đời, nhưng ông không còn chỉ là “kẻ chối Thầy”. Ông là Phêrô được tha thứ, được gọi lại, được trao chiên của Thầy, được sai đi. Maria Mađalêna có quá khứ, nhưng Tin Mừng nhớ chị như người đầu tiên được sai đi báo tin Phục Sinh cho các môn đệ. Phaolô từng bắt bớ Hội Thánh, nhưng chính người từng bắt bớ ấy trở thành tông đồ của Tin Mừng. Thiên Chúa không cần những con người không có quá khứ. Người cần những con người để Người làm cho quá khứ trở thành chứng tá về ân sủng.

Cũng vậy, có những gia đình mang các vết đinh. Có câu nói đã làm tổn thương. Có ngoại tình. Có nghiện ngập. Có chia rẽ. Có những năm cha con không nói chuyện. Có những lần người ta không ở bên nhau lúc cần nhất. Phục Sinh không bảo hãy giả vờ mọi chuyện chưa từng xảy ra. Có những vết thương cần được gọi tên, xin lỗi, chữa trị, đôi khi cần cả nhiều năm. Nhưng Phục Sinh chống lại câu tuyên án: “Chúng ta sẽ mãi mãi chỉ là như thế.” Không. Trong Đức Kitô, cái chết không được quyền nói “mãi mãi”. Khi ta nhìn tay Chúa Phục Sinh, ta thấy bằng chứng rằng một vết thương có thể trở thành cửa của hiệp thông. Chính từ cạnh sườn bị đâm mà truyền thống Hội Thánh chiêm ngắm nước và máu chảy ra. Điều đã được dùng để giết Người trở thành nơi sự sống tuôn trào. Đó là logic của Thiên Chúa.

  1. NGÔI MỘ TRỐNG KHÔNG CÓ NGHĨA ĐỜI HẾT MỒ

Sau khi Chúa sống lại, các môn đệ vẫn còn đau khổ. Phêrô vẫn chịu bách hại. Phaolô vẫn bị đánh đập. Giacôbê bị giết. Gioan sống lưu đày. Các Kitô hữu tiên khởi vẫn mất người thân. Phục Sinh không tạo ra một vùng miễn nhiễm khỏi đau khổ cho người tin. Đây là điều ta cần nhớ mỗi khi cám dỗ nghĩ: “Nếu Chúa yêu tôi, sao chuyện này xảy ra?” Chúa Cha yêu Chúa Con vô hạn, mà Chúa Con vẫn đi qua Canvê. Tình yêu của Thiên Chúa không luôn được đo bằng số đau khổ Người cất khỏi đời ta. Tình yêu ấy còn được thấy nơi việc Người ở với ta trong đau khổ và không để nó nuốt chửng ta.

Ngôi mộ trống không có nghĩa từ nay sẽ không còn nghĩa trang. Nó có nghĩa nghĩa trang không còn tiếng nói cuối cùng. Người Kitô hữu vẫn khóc trong đám tang. Hội Thánh không cấm khóc. Đức Giêsu khóc trước mồ Lazarô. Nhưng ngay giữa nghi thức an táng, Hội Thánh vẫn tuyên xưng sự sống lại. Một trong những hình ảnh mạnh nhất của đức tin là linh mục rảy nước thánh trên quan tài. Thân xác ấy sắp được đặt xuống đất, nhưng Hội Thánh nhắc rằng thân xác ấy đã từng được dìm vào nước Rửa Tội. Người này thuộc về Đức Kitô. Đất nhận thân xác, nhưng đất không sở hữu nó vĩnh viễn. Cái chết lấy đi sự hiện diện trước mắt, nhưng cái chết không thể cắt người đã chịu phép Rửa khỏi Đức Kitô. Nếu ta thực sự tin điều ấy, cách ta sống sẽ thay đổi. Ta bớt hoảng loạn trước chuyện mất. Ta vẫn đau, nhưng không tuyệt đối hóa điều tạm. Ta biết có những thứ đáng mất để giữ lấy điều không mất.

  1. ĐỪNG BIẾN PHỤC SINH THÀNH “VUI LÊN”

Có một thứ Kitô giáo rất sợ nỗi buồn. Nó nghĩ người có đức tin phải luôn tươi cười, luôn mạnh, luôn nói “tạ ơn Chúa” bằng một giọng không run. Kiểu đạo ấy đôi khi rất tàn nhẫn với người đang đau. Nó bắt người đau phải diễn. Nó khiến người đang khủng hoảng cảm thấy mình có tội vì không vui. Nhưng Phục Sinh không phải mệnh lệnh “vui lên”. Phục Sinh là một biến cố xảy ra trước cả khi các môn đệ kịp vui. Sáng Chúa Nhật, Maria Mađalêna đang khóc. Hai môn đệ Emmau đang thất vọng. Nhóm Mười Một đang khóa cửa vì sợ. Tôma đang nghi ngờ. Chúa Phục Sinh đến với từng người ngay trong trạng thái ấy. Người không đứng ngoài cửa quát: “Có đức tin thì mở cửa ra và vui lên!” Người đi vào cửa đóng. Người gọi tên Maria giữa nước mắt. Người bước cùng hai môn đệ thất vọng hàng cây số trước khi họ nhận ra Người. Người cho Tôma chạm vào vết thương. Đó là cách Đấng Phục Sinh chữa lành: Người không khinh tiến trình của con người.

Vì vậy, một cộng đoàn thực sự phục sinh không phải là cộng đoàn không ai khóc. Đó là cộng đoàn người đang khóc không phải khóc một mình. Không phải nơi không ai nghi ngờ, nhưng là nơi người đang nghi ngờ không bị đẩy ra ngoài. Không phải nơi không có vết thương, nhưng là nơi vết thương được mang đến trước ánh sáng của Chúa. Không phải nơi ai cũng khỏe, nhưng là nơi người yếu vẫn có chỗ. Hội Thánh của Phục Sinh không phải phòng trưng bày những người hoàn hảo. Hội Thánh là cộng đoàn những người đã được Đấng mang thương tích quy tụ.

  1. THƯƠNG TÍCH ĐƯỢC TÔN VINH

Có lẽ một trong những mầu nhiệm đẹp nhất của thân thể Chúa Phục Sinh là những vết thương không biến mất. Ta có thể hỏi: trên trời, các thương tích đời ta có còn không? Ta không biết theo nghĩa vật lý thế nào. Nhưng dấu đinh trên thân thể Chúa cho ta một trực giác thần học rất mạnh: điều được chịu trong tình yêu không bị quên. Thiên Chúa không quên nước mắt. Không một đêm thức cạnh giường bệnh nào biến mất. Không một lần người mẹ nhịn phần mình cho con bị quên. Không một lời khấn trung thành giữa khô khan bị mất. Không một hành động tha thứ đắt giá bị mất. Không một vết thương vì sự thật bị mất. Không một hy sinh âm thầm vì Nước Trời bị mất.

Trong thế gian, ta thường xấu hổ về vết sẹo. Ta muốn che. Ta muốn người khác nghĩ mình chưa bao giờ gãy. Nhưng nơi Chúa Giêsu, vết sẹo lại là căn cước của tình yêu. Khi hiện ra, Người không đưa cho các môn đệ xem vương miện. Người đưa tay. “Hãy nhìn tay Thầy.” Như thể Người nói: các con muốn biết có đúng là Thầy không? Hãy nhìn nơi Thầy đã yêu đến cùng. Vết thương trở thành chữ ký của Đức Kitô.

Nếu vậy, có lẽ những nơi ta từng bị thương cũng có thể trở thành nơi người khác nhận ra Chúa trong ta. Người từng nghiện và được giải thoát có thể hiểu người đang vật lộn với nghiện ngập theo cách người chưa từng trải không hiểu. Người từng mất con có thể ngồi im cạnh người mẹ vừa mất con mà không nói những câu dễ dãi. Người từng thất bại có thể đỡ người đang thất bại khỏi nhục. Người từng trải đêm tối đức tin có thể không hoảng khi thấy người khác nghi ngờ. Người từng được tha thứ nhiều có thể bớt khắc nghiệt với tội nhân. Vết thương không tự động làm ta thánh. Nó có thể làm ta cay độc. Nhưng nếu được đưa vào Đức Kitô, vết thương có thể trở thành cửa lòng thương xót.

  1. ĐỪNG TÌM PHỤC SINH MÀ KHÔNG CHẾT ĐI

Nếu một nguy cơ là yêu đau khổ, nguy cơ đối nghịch là muốn có sức mạnh Phục Sinh mà không chịu chết cho cái tôi. Ta muốn bình an nhưng không muốn tha thứ. Ta muốn đời sống mới nhưng không muốn bỏ tội cũ. Ta muốn cộng đoàn đổi mới nhưng không muốn chính mình thay đổi. Ta muốn hôn nhân phục sinh nhưng không muốn chết cho sự ích kỷ. Ta muốn đời tu sinh hoa trái nhưng không muốn chết cho danh vọng, quyền lực, chiếm hữu và tự ái. Ta muốn Hội Thánh thánh thiện nhưng không muốn sám hối. Ta muốn sáng Chúa Nhật mà không muốn bước vào chiều Thứ Sáu.

Mọi Phục Sinh thật đều có một cái chết đứng trước nó. Hạt lúa phải rơi xuống đất. Người môn đệ phải mất mạng sống mình. Con người cũ phải bị đóng đinh. Có những điều Chúa không chữa bằng cách làm nó mạnh thêm; Người chữa bằng cách cho nó chết. Có một cái tôi trong ta cần chết: cái tôi luôn phải đúng, luôn phải được công nhận, luôn phải thắng, luôn muốn người khác hiểu mình, luôn tính toán xem mình được gì. Nếu cái tôi ấy không chịu chết, nó sẽ dùng cả tôn giáo để tự bảo vệ. Nó có thể giảng về Thánh Giá mà không bao giờ chịu đóng đinh lòng kiêu căng. Nó có thể rao Phục Sinh mà không bao giờ cho phép Thiên Chúa làm mới mình.

Vì vậy, sống Phục Sinh không chỉ là hát Alleluia. Sống Phục Sinh là dám để Chúa chôn những gì phải chôn. Có những thói quen phải chết. Có những tham vọng phải chết. Có những mối quan hệ sai trái phải chết. Có những hình ảnh ta cố giữ về bản thân phải chết. Có khi ngay cả một giấc mơ đẹp cũng phải chết để nhường chỗ cho điều Chúa muốn. Và những cái chết ấy thường đau. Nhưng Kitô hữu dám để chúng xảy ra vì biết Thiên Chúa không bao giờ chôn điều gì trong Đức Kitô mà không có ý định cho một sự sống mới mọc lên.

  1. ĐỪNG TÌM THÁNH GIÁ MÀ QUÊN NIỀM VUI

Ngược lại, có những người Công giáo dường như nghi ngờ niềm vui. Họ nghĩ đạo đức phải nghiêm nghị. Họ dễ nói về hy sinh nhưng khó hưởng một bữa ăn ngon với lòng biết ơn. Dễ nói về nước mắt nhưng ngại tiếng cười. Dễ nhớ mình là tội nhân nhưng quên mình là con được yêu. Điều đó cũng không hoàn toàn theo Tin Mừng. Đức Giêsu dự tiệc cưới. Người ăn với bạn hữu. Người ví Nước Trời với tiệc cưới. Sau Phục Sinh, Người chuẩn bị bữa sáng cho các môn đệ bên bờ hồ. Kitô giáo không chỉ có chay tịnh. Nó có đại lễ. Không chỉ có Mùa Chay. Nó có năm mươi ngày Phục Sinh. Không chỉ có Thứ Sáu. Nó có Chúa Nhật.

Biết vui cũng là một hành vi đức tin. Người biết đón nhận một niềm vui trong sạch đang tuyên xưng rằng sáng tạo của Thiên Chúa là tốt. Một bữa ăn gia đình. Một tiếng trẻ con cười. Một ngày trời đẹp. Một người bạn trung thành. Một bài thánh ca. Một chén cà phê sau giờ kinh. Một cái ôm. Một buổi tối bình yên. Không cần phải cảm thấy có lỗi vì những điều ấy. Thánh Giá không được trao để làm ta ghét cuộc sống. Chúa chịu chết vì yêu cuộc sống và muốn cứu cuộc sống khỏi sự chết. Người Kitô hữu càng đi sâu vào mầu nhiệm Thánh Giá đúng nghĩa càng phải biết trân trọng những quà tặng nhỏ. Người từng đứng gần cái chết thường biết một hơi thở đáng quý thế nào. Người từng mất bình an mới hiểu một buổi sáng yên tĩnh đáng biết ơn ra sao. Người từng đói biết quý miếng bánh. Thánh Giá, khi được sống trong ánh sáng Phục Sinh, không làm đời xám đi; nó dạy ta nhìn sự sống với lòng biết ơn sâu hơn.

  1. MỖI THÁNH LỄ LÀ THÁNH GIÁ VÀ PHỤC SINH

Trong đời sống Công giáo, không nơi nào sự kết hợp giữa Thánh Giá và Phục Sinh rõ hơn Thánh Lễ. Chúng ta không “đóng đinh Chúa lại”. Chúng ta đi vào mầu nhiệm duy nhất của cuộc Vượt Qua. “Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại.” Hai vế luôn đi cùng nhau. Chúng ta loan truyền Chúa chịu chết. Chúng ta tuyên xưng Chúa sống lại. Bàn thờ vừa mang dấu hy tế vừa là bàn tiệc. Mình Chúa bị trao ban chính là Mình Chúa phục sinh nuôi Hội Thánh. Máu đổ ra chính là Máu giao ước ban sự sống.

Mỗi lần đến Thánh Lễ, ta mang theo những Thứ Sáu của mình: bệnh, lo, lỗi, thất bại, những người ta đang nhớ, những chuyện chưa giải quyết. Ta đặt tất cả vào hy tế Đức Kitô. Và rồi ta nhận Mình Đấng Phục Sinh. Đây là một cử chỉ khủng khiếp đẹp: ta mang cái chết của mình đến và nhận sự sống của Người. Ta mang sự nghèo nàn đến và nhận chính Người. Có lẽ nhiều người đi lễ lâu năm nhưng chưa bao giờ nhìn Thánh Lễ bằng cách ấy. Nếu hiểu, mỗi Thánh Lễ sẽ là trường học của hy vọng. Ta không ra khỏi nhà thờ với lời bảo đảm rằng mọi vấn đề được giải quyết. Ta ra với một điều còn lớn hơn: Đấng đã thắng sự chết ở trong ta.

  1. NGƯỜI KITÔ HỮU LÀ NGƯỜI CỦA “NGÀY THỨ BA”

Có một lối sống rất đặc biệt của người tin Phục Sinh: họ biết đợi ngày thứ ba. Kinh Thánh đầy những khoảng chờ. Ápraham chờ. Israel chờ. Các ngôn sứ chờ. Đức Maria chờ. Các môn đệ chờ từ chiều Thứ Sáu đến sáng Chúa Nhật. Khoảng giữa lời hứa và hoàn tất luôn là vùng đức tin.

Chúng ta thường tuyệt vọng vì đánh giá Chúa vào “ngày thứ hai”. Ta cầu một tuần rồi bảo Chúa không nghe. Ta cố tha thứ vài tháng rồi bảo lòng mình không đổi. Ta làm điều đúng một thời gian rồi nản vì không thấy hoa trái. Nhưng Thiên Chúa có thời gian của Người. “Ngày thứ ba” không phải lúc nào cũng là bảy mươi hai giờ. Có những ngày thứ ba kéo dài nhiều năm. Có những ngày thứ ba chỉ đến bên kia cái chết. Đức tin là không đóng cuốn sách khi Thiên Chúa chưa viết xong.

Hạt giống dưới đất nhìn giống chết trước khi nảy. Bào thai trong lòng mẹ vô hình với thế giới nhưng đang lớn. Men trong bột làm việc trong kín đáo. Nước Trời thường như thế. Vì vậy, đừng khinh những mùa không thấy gì. Có khi Chúa đang phục sinh một điều bên dưới mặt đất mà ta chưa nhận ra. Đừng đào hạt giống lên mỗi ngày để kiểm tra nó có mọc không. Hãy trung tín tưới đất.

  1. CÂU CUỐI CÙNG KHÔNG THUỘC VỀ SỰ CHẾT

Mầu nhiệm Phục Sinh cuối cùng là cuộc tranh chấp về ai được nói câu cuối. Tội nói: “Ngươi đã hỏng.” Đức Kitô nói: “Ta tha cho ngươi.” Thất bại nói: “Đời ngươi vô ích.” Đức Kitô nói: “Hãy theo Ta.” Bệnh tật nói: “Thân xác ngươi đang suy tàn.” Đức Kitô nói: “Ta là sự sống lại và là sự sống.” Mộ phần nói: “Đến đây là hết.” Đức Kitô nói: “Hãy ra khỏi mồ.”

Người Kitô hữu không phủ nhận tiếng nói của thế gian. Họ chỉ không trao cho nó câu cuối. Chúng ta nghe bác sĩ. Chúng ta nhìn sự thật. Chúng ta khóc người chết. Chúng ta nhìn nhận thất bại. Chúng ta thú tội mình. Nhưng sau tất cả, ta quay về phía ngôi mộ trống và hỏi: Ai là Chúa? Không phải ung thư. Không phải tiền bạc. Không phải quyền lực. Không phải tội lỗi. Không phải cái chết. Đức Giêsu Kitô là Chúa.

Đây là lý do một Kitô hữu hấp hối vẫn có thể nói “Amen”. Không phải vì họ không sợ chết. Chúa Giêsu ở Ghetsêmani đã run sợ. Nhưng họ có thể trao mình cho Đấng đã bước qua cửa ấy. Có một vẻ đẹp rất sâu nơi những người già đã đi gần hết hành trình, thân xác yếu, trí nhớ chậm, nhiều thứ đã rơi khỏi tay, nhưng vẫn lần hạt và nói tên Giêsu. Thế gian có thể nghĩ họ đang mất tất cả. Đức tin nhìn thấy họ đang đến gần hơn với Đấng là tất cả.

  1. VÁC THÁNH GIÁ NHƯ NGƯỜI ĐANG ĐI VỀ PHỤC SINH

Vì thế, cách người Kitô hữu vác Thánh Giá phải mang một sắc thái khác. Không cúi mặt như người bị kết án vô vọng. Không khoe đau khổ như huân chương. Không tìm đau khổ. Không thần thánh hóa bất công. Không cấm người ta tìm chữa lành. Không bảo nạn nhân ở lại nơi đang bị hủy diệt nhân danh “vác thập giá”. Nhưng khi một Thánh Giá không thể tránh mà trung thành với tình yêu đòi ta mang, ta mang nó với Chúa. Và trong khi mang, ta nhìn xa hơn nó.

Người mẹ chăm con khuyết tật nhìn xa hơn những đêm mất ngủ. Người chồng trung thành trong lúc hôn nhân khó khăn nhìn xa hơn hiện tại. Người tu sĩ giữ lời khấn giữa khô khan nhìn xa hơn cảm giác. Người bệnh chịu từng đợt điều trị nhìn xa hơn bệnh viện. Người già chấp nhận ngày càng phải nhờ người khác nhìn xa hơn sự mất độc lập. Người đang chết nhìn xa hơn nấm mồ. Không phải ai cũng nhìn rõ. Có ngày chỉ thấy một centimet phía trước. Nhưng một centimet ấy đủ để bước.

Chúa không đòi ta thấy cả sáng Chúa Nhật khi đang ở chiều Thứ Sáu. Người chỉ xin ta đừng bỏ Người.

  1. ALLELUIA KHÔNG PHẢI TIẾNG CỦA NGƯỜI CHƯA TỪNG KHÓC

Alleluia đẹp nhất không phải tiếng của người chưa bao giờ đau. Đó là tiếng của người đã đi qua đêm mà vẫn hát. Trong phụng vụ, Hội Thánh cất Alleluia sau những ngày Tam Nhật rất dài. Ánh sáng nến Phục Sinh được thắp trong một nhà thờ đang tối. Điều ấy rất biểu tượng. Hội Thánh không giả vờ bóng tối không có. Hội Thánh bước vào bóng tối rồi thắp một ngọn lửa. Chỉ một ngọn lửa. Và từ ngọn lửa ấy, ánh sáng truyền từ người này sang người khác.

Có khi đó chính là cách Phục Sinh đi vào đời ta. Không phải mặt trời mọc ngay lập tức. Chỉ một ngọn nến. Một người gọi điện. Một câu Kinh Thánh chạm lòng. Một người tha thứ. Một lần xưng tội. Một bữa cơm ăn lại sau nhiều ngày buồn. Một buổi sáng thức dậy và nhận ra mình vẫn muốn sống. Một lời “con tin” rất nhỏ. Đừng khinh ngọn nến. Đêm tối không thắng được dù chỉ một ngọn lửa nhỏ.

  1. YÊU THÁNH GIÁ LÀ YÊU CON ĐƯỜNG DẪN VỀ NHÀ

Cuối cùng, yêu Thánh Giá không phải yêu sự chết. Yêu Thánh Giá là yêu con đường Đấng mình yêu đã đi. Nếu người ta nói: “Tôi yêu Thánh Giá” mà lòng ngày càng tối, cứng, cay nghiệt, mất hy vọng và ghét cuộc sống, phải xem lại. Thánh Giá của Đức Kitô luôn hướng về Phục Sinh. Người thực sự gần Thánh Giá sẽ dần trở nên người của hy vọng. Họ có thể rất buồn nhưng không tuyệt vọng. Họ có thể khóc nhưng vẫn biết an ủi. Họ có thể bị thương nhưng bớt làm người khác bị thương. Họ có thể nghĩ về cái chết nhưng không sống như người chết. Vì họ biết phía bên kia Thánh Giá không phải hư vô. Phía bên kia là Đấng Phục Sinh đang gọi tên mình.

Một ngày nào đó, mỗi người chúng ta sẽ vác cây thánh giá cuối cùng: sự chết. Không ai tránh. Tiền không tránh. Danh không tránh. Học thức không tránh. Chức thánh không tránh. Áo dòng không tránh. Nhưng người Kitô hữu có thể đi vào giờ ấy với một ký ức: Thầy mình đã đi trước.

Người đã nằm trong mồ.

Người đã bước ra.

Và Người đã nói:

“Thầy sống, và anh em cũng sẽ được sống.”

Vì thế, hãy yêu Thánh Giá, nhưng đừng dừng ở gỗ. Hãy hôn Thánh Giá, nhưng nhìn qua Thánh Giá. Hãy vác Thánh Giá, nhưng bước. Hãy khóc dưới Thánh Giá, nhưng đừng dựng lều ở Canvê. Con đường còn tiếp tục. Phiến đá sẽ được lăn đi. Bình minh sẽ đến. Những vết đinh sẽ không biến mất, nhưng sẽ sáng lên trong vinh quang. Và tất cả những gì chúng ta đã chịu, đã mất, đã khóc, đã hiến dâng trong Đức Kitô sẽ không rơi vào hư vô.

Thánh Giá không phải tiếng cuối.

Nấm mồ không phải tiếng cuối.

Tội lỗi không phải tiếng cuối.

Sự dữ không phải tiếng cuối.

Cái chết không phải tiếng cuối.

Tiếng cuối thuộc về Đức Kitô Phục Sinh.

Và tiếng ấy là:

SỰ SỐNG.

CHƯƠNG XV. NHỮNG THỰC HÀNH CỤ THỂ ĐỂ HỌC YÊU THÁNH GIÁ

Tình yêu không chỉ là một ý hướng đẹp trong lòng. Tình yêu, nếu thật, bao giờ cũng tìm một thân xác để cư ngụ, một cử chỉ để biểu lộ, một thói quen để duy trì, một hy sinh để chứng minh, một sự trung tín để đi đến cùng. Người ta có thể nói rất nhiều về tình yêu mà chưa chắc đã biết yêu; có thể xúc động trước Thánh Giá mà chưa chắc đã bước vào linh đạo Thánh Giá; có thể hát những bài rất hay về cuộc Thương Khó mà khi một chút trái ý xảy đến thì lập tức nổi nóng; có thể cúi đầu thật sâu trước tượng Chúa chịu đóng đinh mà lại không cúi mình trước một người nghèo, một người già yếu, một người làm ta khó chịu, một người trong cộng đoàn đang cần được lắng nghe. Vì thế, yêu Thánh Giá không thể chỉ dừng lại ở cảm xúc đạo đức. Yêu Thánh Giá phải được học bằng thân xác, bằng thời gian, bằng những lựa chọn nhỏ, bằng sự lập đi lập lại của lòng trung thành. Không ai thức dậy một buổi sáng rồi tự nhiên trở thành người yêu Thánh Giá. Tình yêu ấy phải được tập. Phải có những thực hành cụ thể để trí nhớ nhớ Chúa, đôi tay nhớ Chúa, đôi mắt nhớ Chúa, bước chân nhớ Chúa, miệng lưỡi nhớ Chúa, và cuối cùng cả đời mình trở thành một ký ức sống động về Đấng đã yêu ta đến cùng. Những thực hành này không phải là những kỹ thuật để “luyện đạo”, càng không phải những phương thế để ta mua công trước mặt Thiên Chúa. Chúng chỉ là những chiếc máng nhỏ giúp ân sủng chảy sâu hơn vào đời sống. Chúa là Đấng cứu độ; không phải việc đạo đức cứu ta. Nhưng chính vì đã được cứu, ta cần để thân xác và lịch sử mình học cách đáp lại. Một đứa trẻ học nói bằng cách nghe đi nghe lại, tập phát âm từng chữ; một người học đàn bằng cách lặp một thế bấm đến khi bàn tay nhớ; cũng vậy, người môn đệ học yêu Thánh Giá bằng cách để những cử chỉ nhỏ trở thành ký ức thiêng liêng của đời mình. Khi những thực hành ấy được sống trong đức tin, chúng không làm con người khép lại trong hình thức, nhưng làm cho tình yêu có hình dáng.

  1. LÀM DẤU THÁNH GIÁ CHO THẬT

Có lẽ không có cử chỉ Kitô giáo nào quen thuộc bằng dấu Thánh Giá. Quen đến mức ta có thể làm mà chẳng biết mình vừa làm gì. Tay đưa lên trán, xuống ngực, qua hai vai, nhanh như một phản xạ. Có người vừa làm vừa nói chuyện. Có người làm trước bữa ăn mà đầu đang nghĩ chuyện khác. Có người bước vào nhà thờ chấm nước thánh rồi vẽ lên người một nét gần như không còn nhận ra đó là Thánh Giá. Cử chỉ lớn nhất có thể bị thói quen làm cho nhỏ đi. Nhưng nếu được làm lại bằng ý thức, dấu Thánh Giá có thể trở thành một trong những trường học căn bản nhất của linh đạo Kitô giáo. Chạm vào trán: lạy Chúa, xin đóng ấn Thánh Giá trên trí con; xin thanh tẩy những tư tưởng kiêu ngạo, những suy tính ích kỷ, những định kiến con mang về người khác; xin cho trí con không chỉ sắc bén mà còn khiêm nhường; xin cho con đừng dùng trí khôn để biện minh cho cái tôi, nhưng để tìm sự thật. Chạm vào ngực: lạy Chúa, xin đóng ấn Thánh Giá trên trái tim con; xin thanh tẩy những yêu ghét lộn xộn, những vết thương con đang giữ, những người con chưa tha thứ, những ham muốn muốn được nhìn nhận, được hơn người, được chiến thắng. Xin trái tim con được ghép vào Trái Tim bị đâm thâu của Chúa. Chạm vào hai vai: lạy Chúa, xin cho con sức để mang lấy điều hôm nay phải mang; công việc, bổn phận, người con không chọn, trách nhiệm con không thích, tuổi già, bệnh tật, những giới hạn của bản thân, những điều con không sửa được. Hai vai là nơi gánh nặng nằm xuống. Làm dấu Thánh Giá trên vai mình là thú nhận rằng đời Kitô hữu không phải đời không gánh, nhưng là đời gánh với Chúa. Và tất cả được làm “nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”: nghĩa là tôi không thuộc về mình. Tôi bước vào ngày mới trong Danh của một Đấng khác. Tôi làm việc trong Danh ấy. Tôi yêu trong Danh ấy. Tôi chịu đựng trong Danh ấy. Tôi thất bại trong Danh ấy. Tôi chết trong Danh ấy. Dấu Thánh Giá là lời tuyên xưng cực ngắn mà cực sâu: tôi tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi; tôi tin vào Con Thiên Chúa chịu đóng đinh; tôi tin rằng tình yêu đã đi qua cái chết; tôi tin thân xác này được cứu bằng một thân xác đã hiến mình. Vì thế, hãy tập làm dấu Thánh Giá chậm lại. Không cần kịch tính. Chỉ cần thật. Sáng thức dậy, trước khi cầm điện thoại, làm dấu Thánh Giá. Trước khi bước vào một cuộc họp khó, làm dấu Thánh Giá. Trước khi nói một điều quan trọng, làm dấu Thánh Giá. Khi cơn giận bốc lên, dừng lại, làm dấu Thánh Giá. Khi nhận một tin xấu, làm dấu Thánh Giá. Khi vui lớn, cũng làm dấu Thánh Giá. Khi bước vào bệnh viện, khi ngồi bên giường một người hấp hối, khi bắt đầu một chuyến đi, khi vào một quyết định chưa biết kết quả, làm dấu Thánh Giá. Một cử chỉ vài giây có thể kéo cả ngày đang nghiêng lệch trở lại đúng trục. Có những ngày ta không cầu nguyện được dài; hãy làm dấu Thánh Giá thật. Có những lúc tâm trí rối bời không nói được gì; hãy đặt cả con người vào dấu Thánh Giá. Có những đêm chỉ còn một lời “nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” rồi ngủ; Chúa vẫn hiểu. Đừng khinh những điều nhỏ. Thiên Chúa đã từng cứu thế giới bằng một hài nhi nhỏ ở Bêlem. Người cũng có thể dùng một dấu Thánh Giá nhỏ được làm thật để cứu một ngày khỏi trôi vô nghĩa.

  1. ĐÀNG THÁNH GIÁ KHÔNG CHỈ MÙA CHAY

Nhiều người chỉ nhớ Đàng Thánh Giá vào mùa Chay, nhất là các ngày thứ Sáu. Điều ấy tốt, nhưng Thánh Giá không chỉ hiện diện bốn mươi ngày một năm. Đời người có những mùa Chay không nằm trong lịch phụng vụ. Một chẩn đoán bệnh có thể mở ra mùa Chay kéo dài nhiều năm. Một cuộc chia ly có thể biến cả căn nhà thành chặng thứ tư. Một người mẹ chăm con khuyết tật có thể sống chặng thứ năm với ông Simon mỗi ngày. Một người bị vu oan có thể ở lại chặng thứ nhất rất lâu. Một linh mục kiệt sức có thể thấy mình trong chặng Chúa ngã xuống đất. Một người già không còn tự chăm sóc được có thể đi từng bước chậm về Canvê. Vì vậy, Đàng Thánh Giá không chỉ là một việc đạo đức theo mùa; nó là bản đồ của nhiều cuộc đời. Hãy tập đi mười bốn chặng ngoài mùa Chay. Không nhất thiết lúc nào cũng phải đủ nghi thức. Có thể dành một buổi chiều, một tối thứ Sáu, hoặc một giờ chầu. Có thể đi trong nhà thờ, trong hành lang nhà dòng, trong một khu vườn, hay ngay trong căn phòng mình. Đọc một đoạn ngắn. Dừng. Đừng vội. Có khi một chặng là đủ cho cả buổi cầu nguyện. Nếu đang thất bại, hãy ở lại nơi Chúa ngã xuống. Đừng cố chạy sang chặng kế tiếp cho đủ. Hãy để Chúa nằm đó với mình. Nói với Người: “Con cũng đang nằm đây.” Nếu đang chăm sóc một người yếu, ở lại với ông Simon thành Kyrênê. Nếu đang cần một cử chỉ dịu dàng từ ai đó, ở lại với Veronica. Nếu đang mang đau khổ của một người thân, ở lại với Đức Maria gặp Chúa. Nếu đang bị lột mất danh dự, địa vị hay điều từng làm mình tự hào, ở lại chặng Chúa bị lột áo. Nếu một dự tính đã chết, ở lại nơi Chúa được đặt trong mồ. Đàng Thánh Giá trở nên sống khi ta thôi nhìn các chặng như những bức tranh xa xưa và nhận ra rằng lịch sử của Chúa đang chạm vào lịch sử mình. Có tháng ta chỉ cần học một chặng. Có năm cuộc đời ta bị giữ lại rất lâu ở một chặng. Đừng sốt ruột. Người môn đệ không phải lúc nào cũng phải “tiến bộ” theo nghĩa cảm xúc. Có những tiến bộ diễn ra bằng việc đứng yên với Chúa ở đúng chỗ mình đang đau. Đàng Thánh Giá dạy ta rằng Chúa không cứu ta bằng cách đứng ngoài đau khổ mà giảng giải. Người bước vào. Người để vai bị đè. Người để chân mỏi. Người để mình bị ngã. Người để tay người khác chạm vào Thánh Giá. Người để một phụ nữ lau mặt. Người nhìn mẹ. Người chịu bị đóng đinh. Người chết. Và vì thế, khi ta đi Đàng Thánh Giá, ta không đơn giản nhớ lại một chuyện đã xảy ra; ta cho phép chuyện ấy mở nghĩa cho chuyện đang xảy ra trong mình. Đi Đàng Thánh Giá đều đặn sẽ dạy ta một điều rất quý: không phải mọi đau đớn đều vô nghĩa. Một đau đớn được đưa vào trong đau đớn của Đức Kitô có thể trở thành nơi hiệp thông. Không phải vì đau tự nó thánh. Nhưng vì Chúa đã đi vào đau và từ đó mở một con đường.

  1. NGẮM MÌNH THÁNH CHÚA: NHÌN THÁNH GIÁ ĐƯỢC ẨN TRONG HÌNH BÁNH

Thánh Thể là một nghịch lý dịu dàng. Trên Canvê, thân xác Chúa bị phơi bày. Trên bàn thờ, thân xác ấy được ẩn đi dưới hình bánh. Trên Thánh Giá, máu chảy ra. Trong chén thánh, máu ấy được trao ban trong dấu chỉ bí tích. Một đằng là tiếng la lớn giữa trưa. Một đằng là thinh lặng của Nhà Tạm. Nhưng là cùng một tình yêu: “Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em.” Vì thế, học yêu Thánh Giá mà không học ở lại với Thánh Thể sẽ thiếu một trường học rất quan trọng. Hãy dành giờ chầu. Không nhất thiết phải luôn tìm nhiều lời. Nhiều khi chính nhu cầu phải nói liên tục làm ta mệt. Ta đến trước Chúa không phải để trình diễn khả năng cầu nguyện. Ta đến để ở. Nhìn. Và để mình được nhìn. Có một giai đoạn trong đời thiêng liêng, người ta cầu nguyện bằng nhiều ý tưởng. Rồi có lúc ý tưởng cạn. Khi ấy, việc ở lại trước Thánh Thể có thể dạy một thứ ngôn ngữ sâu hơn: ngôn ngữ của sự hiện diện. Chúa không nói nhiều trên Thánh Giá. Những lời cuối của Người rất ít. Nhưng sự hiện diện của Người nói vô cùng. Trong giờ chầu, hãy nhìn Bánh Thánh và nhớ: tình yêu thật luôn tự bẻ mình. Bánh chỉ nuôi được khi bị bẻ. Rượu chỉ được uống khi được rót ra. Đức Kitô không cứu bằng cách giữ lấy mình. Người tự trao. Hỏi mình: tôi đang giữ điều gì quá chặt? Uy tín? Thời gian? Tiện nghi? Quyền quyết định? Sự đúng của mình? Một mối hận? Một hình ảnh đẹp về chính mình? Thánh Thể không cần lên tiếng lớn. Chỉ cần ở đó, Người đã hỏi: “Con có dám trở thành bánh không?” Và câu hỏi ấy rất đáng sợ. Bởi làm bánh nghĩa là chấp nhận đời mình có thể bị dùng cho sự sống của người khác. Người mẹ trở thành bánh khi thức đêm vì con. Người cha trở thành bánh khi làm việc âm thầm không ai biết. Người linh mục trở thành bánh khi vẫn ngồi tòa giải tội lúc mệt, vẫn lắng nghe một người đã kể câu chuyện ấy lần thứ mười, vẫn chuẩn bị bài giảng cho những người có thể chẳng nhớ một câu. Người tu sĩ trở thành bánh khi làm việc nhỏ mà không cần tên mình xuất hiện. Người già trở thành bánh khi dâng sự bất lực của tuổi tác. Người bệnh trở thành bánh khi biến giường bệnh thành nơi cầu thay. Giờ chầu trước Thánh Thể giúp ta nhận ra Thánh Giá không chỉ là chịu đau; Thánh Giá là tự hiến. Không phải mọi đau đớn đều tự động trở thành Thánh Giá của Chúa. Chỉ khi đau đớn được đưa vào tình yêu tự hiến, nó mới bắt đầu mang hương vị Vượt Qua. Vì vậy, đừng chỉ đến giờ chầu để xin Chúa cất thánh giá. Có thể xin, vì Chúa không cấm. Nhưng cũng hãy xin một ơn khác: “Lạy Chúa, nếu điều này chưa được cất khỏi con, xin đừng để nó làm con cay đắng. Xin làm cho con trở thành bánh ngay trong nơi đang đau này.”

  1. HY SINH NHỎ CÓ Ý HƯỚNG

Chúng ta thường tưởng hy sinh phải lớn mới có giá trị. Nhưng phần lớn cuộc đời không cho ta những cơ hội anh hùng. Nó cho ta những chuyện rất nhỏ: một câu muốn nói mà nên im; một miếng ngon có thể nhường; một chỗ ngồi có thể dành cho người khác; một lần phải chờ; một cuộc điện thoại không muốn nghe; một công việc không ai cảm ơn; một lỗi nhỏ của người bên cạnh cứ lặp lại; một cái tôi muốn được đúng; một cơn mệt khiến ta muốn trở nên khó chịu. Chính ở đó thân xác học yêu. Hy sinh nhỏ không phải một trò hành xác. Kitô giáo không dạy ghét thân xác. Chúa đã nhập thể. Người ăn, ngủ, nghỉ, dự tiệc, khóc, mệt. Vì vậy, hy sinh Kitô giáo không phải tìm đau để chứng tỏ mình đạo đức. Hy sinh là tự do nói “không” với một nhu cầu chính đáng hoặc một thôi thúc của bản thân để nói “có” lớn hơn với tình yêu. Nhịn một lời sắc không phải vì lời ấy không đúng, nhưng vì nói lúc ấy có thể làm tổn thương. Nhường phần tiện lợi không phải vì tiện lợi xấu, nhưng vì người khác cần hơn. Tắt điện thoại mười lăm phút để lắng nghe một người không phải vì công nghệ xấu, nhưng vì con người đang ở trước mặt đáng được hiện diện. Làm việc nhà mà không đợi khen không phải vì được khen là xấu, nhưng để trái tim tập yêu mà không đòi phần thưởng. Những hy sinh nhỏ như thế là phòng tập của tự do. Người chưa bao giờ tập nói “không” với mình trong việc nhỏ sẽ khó nói “có” với Chúa trong việc lớn. Tuy nhiên, cần một điều quan trọng: hy sinh phải có ý hướng tình yêu. Nếu hy sinh làm ta thành người cau có, khắt khe, tự mãn, có lẽ ta đang hy sinh cho cái tôi tôn giáo chứ không cho Chúa. Có những người ăn chay rồi làm cả nhà khổ. Có người từ bỏ nhiều thứ nhưng lại đòi người khác phải nể mình. Có người thích kể những hy sinh của mình để ngầm xây tượng cho chính mình. Thánh Giá thật luôn làm ta mềm hơn chứ không cứng hơn, thương người hơn chứ không khinh người hơn. Hãy tập dâng những việc rất nhỏ: “Lạy Chúa, con nhường lời này vì yêu Chúa.” “Con chịu chậm một chút vì yêu Chúa.” “Con làm việc này không ai biết vì yêu Chúa.” “Con không đáp trả sự xúc phạm này ngay vì xin cho người kia được bình an.” Khi có ý hướng, những điều nhỏ được nối vào hy lễ lớn. Một giọt nước chẳng là gì, nhưng khi rơi vào chén thánh, nó trở thành một phần của dấu chỉ nhiệm mầu. Đời ta cũng thế.

  1. BÁC ÁI VỚI NHỮNG THÁNH GIÁ ĐANG ĐI LẠI

Có một cám dỗ rất tinh vi: yêu Thánh Giá bằng gỗ dễ hơn yêu con người đang mang thánh giá. Tượng chịu nạn không cãi lại ta. Người nghèo thì có thể có mùi. Người bệnh có thể lặp đi lặp lại. Người già có thể chậm. Người cô đơn có thể nói quá nhiều. Người bị tổn thương có thể khó gần. Một đứa trẻ khuyết tật có thể làm đảo lộn lịch sinh hoạt của cả nhà. Một người trầm lặng có thể không biết cảm ơn. Một người nghiện ngập có thể tái phạm. Một người đang khủng hoảng có thể gọi đúng lúc ta muốn nghỉ. Bác ái với những thánh giá sống luôn tốn hơn việc hôn một Thánh Giá trong nghi thức. Nhưng chính ở đó ta gặp Đấng chịu đóng đinh. “Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta đau yếu, các ngươi đã viếng thăm.” Chúa không nói “họ”; Người nói “Ta”. Đó là một trong những câu đáng sợ nhất của Tin Mừng. Nghĩa là có những lúc ta đã bước ngang qua chính Đức Kitô mà không nhận ra, vì Người không mặc áo lễ, không ở trong Nhà Tạm, không có hào quang. Người nằm trong hình hài một con người khiến ta thấy phiền. Học yêu Thánh Giá vì thế phải bao gồm việc đến gần những người đau khổ. Thăm người già. Ngồi bên người bệnh. Gọi điện cho một người sống một mình. Lắng nghe một người bị bỏ rơi. Chia sẻ với một gia đình đang thiếu thốn trước khi mình dư dả. Không cần đợi “có điều kiện”. Lòng bác ái luôn bắt đầu bằng cái mình đang có: một giờ, một bữa ăn, một cái nắm tay, một chuyến xe, một cuộc viếng thăm, một tin nhắn, một lời cầu nguyện có tên người cụ thể. Đừng yêu người nghèo như một “dự án”. Đừng biến đau khổ của người khác thành cơ hội để mình cảm thấy mình tốt. Hãy đến như người em gặp anh chị mình. Có khi việc bác ái lớn nhất không phải cho tiền mà là ở lại đủ lâu để nghe một câu chuyện. Có người không cần lời khuyên; họ cần một người không bỏ đi. Thánh Giá dạy ta Thiên Chúa đã không cứu loài người từ xa. Người đến gần. Người “cắm lều” giữa chúng ta. Người để mình chạm vào bệnh tật, nước mắt, cái chết. Nếu chúng ta yêu một Thánh Giá mà luôn tránh xa đau khổ thật của người khác, có điều gì đó chưa đúng. Một Kitô hữu có thể không giải quyết được đau khổ của thế giới, nhưng có thể bảo đảm rằng một người hôm nay không phải đau một mình.

  1. SÁM HỐI THƯỜNG XUYÊN: ĐỪNG BIẾN TỘI MÌNH THÀNH THÁNH GIÁ CỦA NGƯỜI KHÁC

Có những thánh giá Chúa cho phép. Có những thánh giá cuộc đời mang đến. Nhưng cũng có những thánh giá ta tự sản xuất rồi bắt người khác vác. Một người không kiểm soát cơn giận sẽ biến gia đình thành nơi chịu nạn. Một linh mục không xét mình có thể biến cộng đoàn thành nạn nhân của cái tôi. Một người chồng nghiện rượu có thể gọi hậu quả là “thánh giá Chúa gửi”, trong khi phần lớn đau khổ ấy đến từ lựa chọn của mình. Một người kiêu ngạo tạo xung đột khắp nơi rồi tự xem mình như người bị bách hại. Một người không chịu chữa lành những thương tích cũ có thể dùng người hiện tại để trả nợ quá khứ. Vì thế, muốn học yêu Thánh Giá thật, phải học phân biệt Thánh Giá của Đức Kitô với những cây thập giá giả do tội lỗi tạo ra. Sám hối là việc trả lại sự thật cho đời mình. Mỗi tối, hãy xét mình. Không cần dài. Hỏi ba điều: hôm nay Chúa đã yêu tôi ở đâu? Hôm nay tôi đã yêu ở đâu? Hôm nay tôi đã làm ai đau vì sự ích kỷ, nóng nảy, vô tâm, kiêu ngạo của mình? Xét mình không phải cuộc điều tra để tự ghét mình. Xét mình là đứng dưới ánh sáng. Chỉ những gì được đưa ra ánh sáng mới được chữa lành. Hãy đi Hòa Giải định kỳ. Bí tích Hòa Giải là một trong những nơi rất cụ thể để Thánh Giá chạm vào tội cá nhân. Ta đến với tội thật, không phải tội chung chung. Ta gọi tên nó. Và nghe một lời lớn hơn tội: “Cha tha tội cho con.” Không có linh đạo Thánh Giá trưởng thành mà không có lòng sám hối. Bởi người yêu Thánh Giá không chỉ nhìn đinh người khác đóng vào Chúa; họ nhận ra cả những chiếc đinh từ tay mình. Có những lần ta đã làm Chúa đau nơi người bên cạnh. Có những lời nói như roi. Có những im lặng như bỏ rơi. Có những phán xét như mão gai. Có những lần ta rửa tay như Philatô vì không muốn dính vào trách nhiệm. Có những lần ta chạy như các môn đệ vì sợ liên lụy. Nhận ra điều ấy không phải để tuyệt vọng, mà để hiểu sâu hơn lòng thương xót. Người đã tha cho Phêrô vẫn tha. Người đã nhìn kẻ đóng đinh và nói “xin Cha tha cho họ” vẫn tha. Nhưng lòng thương xót không được biến thành cái cớ để không đổi đời. Người được tha phải học thôi đóng đinh người khác.

  1. CẦU NGUYỆN VỚI THƯƠNG TÍCH

Có những người yêu Thánh Giá bằng cách phủ nhận thương tích của mình. Họ nghĩ người có đức tin thì không được đau. Họ nén. Họ cười. Họ nói “Chúa lo hết” nhưng trong lòng vẫn chảy máu. Đó không hẳn là đức tin; đôi khi chỉ là sợ chạm vào vết thương. Chúa Phục Sinh không xóa dấu đinh. Người mang chúng vào vinh quang. Điều ấy cho ta một tự do lớn: chữa lành không luôn có nghĩa quên. Có những chuyện không thể quên. Có những vết sẹo còn đó. Có những mất mát không được bù bằng một thứ khác. Có người đã chết thì không trở lại đời này. Có tuổi thơ đã qua không thể làm lại. Có lời nói đã gây thương tích không thể rút lại hoàn toàn. Nhưng vết thương có thể đổi nghĩa. Nó có thể từ nơi rỉ máu trở thành nơi lòng thương xót đi vào. Hãy cầu nguyện với thương tích. Gọi tên chúng trước Năm Dấu Thánh. “Lạy Chúa, đây là vết thương bị bỏ rơi của con. Đây là lần con bị phản bội. Đây là điều con xấu hổ. Đây là ký ức khiến con vẫn tức giận. Đây là thất bại con chưa tha cho mình. Đây là người con chưa thể tha.” Đừng nói quanh. Đừng dùng ngôn ngữ đạo đức để che sự thật. Chúa không cần ta lịch sự với nỗi đau. Thánh Vịnh đầy những lời kêu than rất thật. Chúa Giêsu trên Thánh Giá cũng thốt: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Đó không phải mất đức tin. Đó là đức tin đủ thật để mang cả cảm giác bị bỏ rơi vào cuộc đối thoại với Cha. Hãy đặt tay lên Thánh Giá và xin: “Xin Năm Dấu của Chúa chạm vào những nơi này.” Không phải để mê đắm trong tự thương. Không phải để định nghĩa mình bằng quá khứ. Nhưng để cho máu Chúa chảy vào nơi đang rỉ. Có một lúc người ta cần kể câu chuyện mình cho Chúa nhiều lần. Rồi sẽ đến lúc câu chuyện ấy bớt quyền lực. Nó vẫn là sự thật, nhưng không còn là ông chủ. Thánh Giá không xóa lịch sử. Thánh Giá cứu lịch sử.

  1. HÔN THÁNH GIÁ TRONG NHỮNG NGÀY KHÔNG MUỐN HÔN

Có những ngày lòng sốt sắng, hôn Thánh Giá rất dễ. Có những ngày ta nhìn tượng Chúa mà chẳng cảm thấy gì. Chính những ngày ấy cử chỉ lại có giá trị đặc biệt. Tình yêu trưởng thành không sống chỉ bằng cảm xúc. Vợ chồng trung thành không chỉ trong ngày còn rung động. Linh mục trung thành không chỉ khi mục vụ thuận lợi. Tu sĩ trung thành không chỉ lúc cộng đoàn dễ thương. Người môn đệ cũng vậy. Hãy tập hôn Thánh Giá trước khi ngủ. Một cử chỉ rất nhỏ: “Lạy Chúa, hôm nay con hiểu ít, yêu ít, làm sai nhiều. Nhưng con thuộc về Chúa.” Có những đêm hôn Thánh Giá trong nước mắt. Có những đêm hôn mà lòng lạnh. Có những đêm hôn với câu hỏi chưa có đáp án. Đừng đợi cảm xúc đúng mới làm cử chỉ trung tín. Có khi chính cử chỉ dẫn cảm xúc trở về. Nhưng cũng đừng mê tín hóa. Hôn gỗ không có nghĩa yêu Chúa nếu sau đó miệng ấy cắn xé người khác. Cái hôn Thánh Giá phải đi vào cái hôn hòa giải, cái hôn kính cha mẹ già, cái hôn trán một đứa trẻ, cái bắt tay làm hòa. Nếu môi chạm Thánh Giá mà không học dịu dàng, cử chỉ chưa đi hết đường.

  1. GIỮ MỘT THÁNH GIÁ Ở NƠI MẮT THƯỜNG THẤY

Con người là hữu thể của ký ức, nhưng cũng là hữu thể rất mau quên. Ta quên những gì quan trọng và nhớ những gì làm mình bực. Vì vậy, các dấu chỉ hữu hình có giá trị. Một Thánh Giá trong phòng không phải đồ trang trí. Hãy đặt ở nơi mắt thường thấy: cạnh bàn làm việc, gần giường ngủ, trong phòng khách, trong nhà nguyện. Không cần nhiều. Nhưng khi nhìn, hãy để nó nhắc một câu: “Người đã yêu tôi và hiến mình vì tôi.” Có thể trong một ngày bận, mắt vô tình chạm Thánh Giá mười lần. Mười lần ấy là mười cơ hội trở về. Khi muốn nói nặng, nhìn. Khi thấy mình quan trọng quá, nhìn. Khi tự thương mình, nhìn. Khi tuyệt vọng, nhìn. Khi thành công và bắt đầu nghĩ mọi sự do mình, nhìn. Thánh Giá kéo mọi sự về tỷ lệ đúng. Trước Đấng treo mình trần trụi, danh dự của ta bớt tuyệt đối. Trước Đấng bị bỏ rơi, cô đơn của ta tìm được một người đồng hành. Trước Đấng tha thứ kẻ giết mình, những lý do ta giữ hận bắt đầu bị chất vấn. Trước Đấng nói “mọi sự đã hoàn tất”, ta học rằng điều quan trọng không phải sống lâu bao nhiêu, thành công bao nhiêu, mà là có yêu đến cùng không.

  1. ĐÓN NHẬN NHỮNG BẤT TIỆN NHỎ MÀ KHÔNG LẬP TỨC THAN

Một trong những bài tập rất thực tế của linh đạo Thánh Giá là trì hoãn lời than. Không phải cấm than hoàn toàn. Kinh Thánh có than van. Nhưng ta có thể tập không phản ứng ngay trước mọi khó chịu. Kẹt xe: đừng nguyền rủa ngay. Người khác chậm: đừng tỏ thái độ ngay. Món ăn không vừa: đừng chê ngay. Thời tiết nóng: thử chịu vài phút trước khi càu nhàu. Kế hoạch đổi: thử hỏi xem mình có thể thích nghi. Một email làm bực: đừng trả lời trong phút đầu. Chính khoảng cách nhỏ giữa kích thích và phản ứng là nơi tự do sinh ra. Người không chịu nổi bất tiện nhỏ khó có sức trước thập giá lớn. Đời tu đức cổ truyền hiểu điều này rất rõ: không phải tìm đau, nhưng dùng những va chạm tự nhiên của đời sống để tập tự chủ. Mỗi lần không chiều ngay cảm xúc, ta đang nói với cái tôi: “Mày không phải chúa.” Đó là một cuộc giải phóng.

  1. CẦU CHO NGƯỜI LÀM MÌNH ĐAU

Có lẽ đây là một trong những thực hành gần Thánh Giá nhất. Chúa không chỉ chịu đựng kẻ đóng đinh; Người cầu cho họ. “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Nếu ta muốn học yêu Thánh Giá, sớm muộn ta phải bước vào lời cầu ấy. Cầu cho người làm mình đau không có nghĩa phủ nhận điều họ làm. Không có nghĩa phải tiếp tục ở trong một mối quan hệ bạo hành. Không có nghĩa bỏ công lý. Cầu cho họ nghĩa là từ chối để lòng mình trở thành bản sao của điều đã làm mình bị thương. Ta nói: “Lạy Chúa, con không thể chúc lành họ bằng cảm xúc, nhưng bằng ý chí con trao họ cho Chúa.” Có những ngày chỉ nói được câu ấy. Cũng đủ để bắt đầu. Đừng ép mình tha thứ bằng cảm xúc tức thì. Tha thứ thường là tiến trình. Nhưng mỗi lần cầu cho người ấy, một sợi dây trong lòng có thể lỏng đi một chút. Thánh Giá không chỉ là nơi ta nhận ơn tha thứ; nó còn là trường dạy ta tha.

  1. HỌC IM LẶNG KHI CÁI TÔI MUỐN TỰ BẢO VỆ

Chúa Giêsu đã có những lúc im trước lời tố cáo. Không phải vì Người không có gì để nói. Người im vì có những lúc sự thật không cần tranh cãi với ác ý. Ta thì khác. Ta muốn giải thích mọi điều, chữa mọi hiểu lầm, thắng mọi tranh luận, bảo vệ hình ảnh bằng mọi giá. Có lúc cần lên tiếng vì công lý. Nhưng cũng có lúc việc tự biện hộ chỉ nuôi cái tôi. Hãy học phân định. Khi bị hiểu lầm nhỏ, thử để nó qua. Khi một lời khen bị người khác nhận, thử không giành lại. Khi làm điều tốt mà không được ghi nhận, thử giữ im lặng. Những điều này đau vì đánh vào nhu cầu được thấy. Nhưng chính ở đó Thánh Giá giải thoát. Chúa Giêsu đã chấp nhận bị nhìn sai trong một thời gian. Người không xây đời trên dư luận. Ai sống bằng cái nhìn của Cha sẽ dần bớt lệ thuộc cái nhìn đám đông.

  1. DÂNG NGÀY MỚI TRƯỚC KHI BIẾT NGÀY ẤY SẼ RA SAO

Mỗi sáng, trước khi lịch trình nuốt mình, hãy dâng ngày. “Lạy Chúa, hôm nay con xin nhận từ tay Chúa điều vui và điều khó. Xin cho con làm điều phải làm, yêu người phải yêu, chịu điều phải chịu, bỏ điều phải bỏ.” Đây là một cách vác Thánh Giá trước khi biết hình dạng của nó. Ta không xin đau. Ta xin sẵn sàng. Sự sẵn sàng ấy làm thay đổi ngày sống. Khi điều trái ý đến, nó không hoàn toàn bất ngờ nữa; ta đã đặt đời mình trên bàn thờ từ sáng. Dâng ngày là nói: “Ngày này không phải sở hữu của tôi. Xin dùng nó.” Và rất nhiều khi Chúa dùng theo cách ta không dự tính.

  1. CUỐI NGÀY ĐẶT MỌI SỰ DƯỚI CHÂN THÁNH GIÁ

Đừng mang mọi chuyện vào giường. Có người ngủ với cả tòa án trong đầu: ai sai, ai đúng, ai làm gì, ngày mai phải đáp thế nào. Hãy tập một nghi thức cuối ngày. Nhìn Thánh Giá. Gọi tên ba điều: cảm ơn một điều, xin tha một điều, trao một điều. “Con cảm ơn vì…” “Xin tha vì…” “Con trao cho Chúa…” Rồi dừng. Đêm thuộc về Chúa. Ta không cần giải quyết đời mình trước khi ngủ. Đức Kitô đã nói “mọi sự đã hoàn tất”; ta có thể cho phép một ngày chưa hoàn tất được nằm trong tay Người. Học ngủ cũng là học tín thác. Có những người vác thánh giá cả đêm bằng lo âu, trong khi Chúa không yêu cầu. Không phải thánh giá nào ta thấy cũng phải mang ngay. Có điều phải đặt xuống.

  1. KHÔNG TÌM THÁNH GIÁ, NHƯNG KHÔNG CHẠY KHI NÓ ĐẾN

Đây là quân bình quan trọng nhất. Người Kitô hữu không đi tìm đau khổ. Nếu bệnh, hãy chữa. Nếu bị bạo hành, hãy tìm an toàn. Nếu có thể hòa giải, hãy hòa giải. Nếu một bất công có thể sửa, hãy sửa. Nếu kiệt sức, hãy nghỉ. Chúa không được vinh danh bởi việc ta phá hủy chính mình. Nhưng sau khi đã làm điều khôn ngoan, vẫn có những phần đời không thể tránh. Chính ở đó câu hỏi xuất hiện: tôi chạy mãi hay tôi học đứng lại? Thánh Giá không phải thứ ta săn lùng. Nó là nơi ta gặp Chúa khi điều không chọn được xảy đến. Không tìm đau, nhưng không phí đau. Đó là một nguyên tắc đẹp. Đau đến rồi, đừng để nó chỉ làm ta cứng. Hãy hỏi: “Lạy Chúa, trong nơi này Chúa muốn dạy con yêu thế nào?” Có khi câu trả lời là kiên nhẫn. Có khi là buông. Có khi là xin giúp đỡ. Có khi là tha thứ. Có khi là nói sự thật. Có khi là chấp nhận mình yếu. Có khi chỉ là ở lại thêm một ngày.

Sau cùng, yêu Thánh Giá không phải yêu đau. Đó là yêu Đấng đã ở trên Thánh Giá. Và vì yêu Người, ta dần học nhận ra Người trong mọi nơi tình yêu đòi trả giá. Một dấu Thánh Giá được làm thật. Một chặng Đàng Thánh Giá được đi chậm. Một giờ chầu trong im lặng. Một lời sắc được giữ lại. Một người nghèo được đến gần. Một tội được thú nhận. Một vết thương được đặt dưới Năm Dấu. Một người làm ta đau được nhớ đến trong lời cầu. Một bất tiện được nhận mà không than. Một buổi tối đặt đời dưới chân Chúa. Những việc ấy nhỏ. Nhưng Nước Trời thường bắt đầu nhỏ. Hạt cải nhỏ. Men nhỏ. Đồng tiền bà góa nhỏ. Năm chiếc bánh nhỏ. Một máng cỏ nhỏ. Và một cây gỗ đứng trên một ngọn đồi nhỏ ngoài thành Giêrusalem đã trở thành tâm điểm cứu độ của thế giới.

Đừng đợi một thánh giá lớn mới học yêu Thánh Giá. Hãy học từ hôm nay, bằng những việc nhỏ. Bởi khi thập giá lớn đến, ta sẽ không có thời gian học từ đầu. Khi ấy thân xác sẽ nhớ điều nó đã tập. Trái tim sẽ biết đường về. Bàn tay sẽ biết làm dấu. Đầu gối sẽ biết quỳ. Mắt sẽ biết nhìn lên. Miệng sẽ biết nói: “Lạy Cha, con phó thác.” Và có thể, sau nhiều năm, ta sẽ khám phá điều từng nghe mà chưa hiểu: Thánh Giá không chỉ là nơi con người chịu mất. Thánh Giá là nơi tình yêu trở nên thật nhất. Chính ở đó ta mất ảo tưởng để nhận sự thật, mất cái tôi để nhận tự do, mất quyền kiểm soát để nhận tín thác, mất điều tạm để nhận điều không mất được. Khi ấy, yêu Thánh Giá không còn là một khẩu hiệu đạo đức. Nó trở thành một cách sống. Ta không còn hỏi mãi: “Tại sao chuyện này xảy đến với tôi?” mà dần biết hỏi: “Trong chuyện này, con có thể yêu thế nào?” Và có lẽ đó chính là một trong những dấu hiệu trưởng thành sâu nhất của người môn đệ: không phải họ hết đau, nhưng đau không còn có tiếng nói cuối; không phải họ hết sợ, nhưng sợ không còn quyết định; không phải họ thích thập giá, nhưng giữa thập giá họ nhận ra một khuôn mặt. Khuôn mặt ấy là Đức Giêsu Kitô, Đấng đã yêu ta và hiến mình vì ta. Khi nhận ra Người, ta hiểu rằng mình chưa bao giờ vác một mình. Vai ta có thể đau, nhưng vai Người đã ở dưới gánh trước. Chân ta có thể mỏi, nhưng dấu chân Người đã ở trên đường. Ta có thể ngã, nhưng Người đã ngã. Ta có thể khóc, nhưng Người đã khóc. Ta có thể thấy mình bị bỏ rơi, nhưng Người đã kêu tiếng của kẻ bị bỏ rơi. Ta có thể phải chết, nhưng Người đã đi qua cái chết. Vì thế, mỗi thực hành nhỏ của tình yêu Thánh Giá cuối cùng chỉ có một mục đích: làm cho ta quen với Người đến mức, khi bóng tối đến, ta vẫn nhận ra giọng Người; khi đường dốc, ta vẫn nhận ra dấu chân Người; và khi đời mình đến chặng cuối, ta có thể đặt tất cả vào tay Cha như Người đã làm: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Khi ấy, Thánh Giá không còn chỉ treo trên tường. Thánh Giá đã đi vào lòng. Và lòng ấy, dù mang thương tích, đã bắt đầu mang hình dáng của tình yêu.

CHƯƠNG XVI. NHỮNG LỜI CẦU DƯỚI CHÂN THÁNH GIÁ

Có những lúc trong đời, người ta không còn biết cầu nguyện thế nào nữa. Có những lúc những lời kinh quen thuộc vẫn còn ở trên môi nhưng dường như không đi xuống được trái tim. Có những lúc ta mở sách kinh ra, nhìn những hàng chữ đã đọc hàng ngàn lần, mà lòng mình lại ở một nơi rất xa: nơi một căn phòng bệnh, nơi một ngôi nhà đang rạn vỡ, nơi một lời khấn đang trở nên nặng nề, nơi một người thân vừa ra đi, nơi một mối tương quan đã đổ nát, nơi một sự phản bội vẫn còn nóng như vết thương mới, nơi một thất bại khiến ta không dám ngẩng đầu, nơi một đêm dài mà câu hỏi duy nhất cứ trở đi trở lại: “Lạy Chúa, Chúa ở đâu?” Chính trong những lúc ấy, dưới chân Thánh Giá, ta học lại cầu nguyện. Không phải học những câu đẹp hơn, nhưng học nói thật hơn. Không phải học che giấu nỗi đau bằng những từ đạo đức, nhưng học đem cả nỗi đau vào trong tương quan với Chúa. Những lời cầu dưới chân Thánh Giá vì thế không phải là công thức thần chú, không phải những câu chữ có sức tự động làm thay đổi hoàn cảnh, cũng không phải những lời dùng để ép Thiên Chúa làm theo điều ta muốn. Đó chỉ là những tiếng lòng có thể được lấy mà đọc, sửa lại, ngắt quãng, lặp đi lặp lại, hoặc bỏ dở giữa chừng vì nước mắt. Có khi chỉ đọc được một câu. Có khi chỉ nói được một tiếng “Chúa ơi”. Có khi không nói gì cả, chỉ ngồi trước Thánh Giá và để cho sự hiện diện của mình trở thành lời cầu. Có khi cầu nguyện không phải là nói với Chúa rằng con tin, nhưng là thú nhận rằng con đang không tin nổi nữa. Có khi cầu nguyện không phải là nói rằng con yêu, nhưng là thú nhận rằng con đang lạnh lẽo, đang giận, đang kiệt sức. Có khi cầu nguyện chỉ là không bỏ đi. Và dưới chân Thánh Giá, chính việc không bỏ đi đã là một hình thức đức tin.

  1. KHI SỢ

Lạy Chúa Giêsu, con sợ thánh giá này. Con không muốn giả vờ mạnh mẽ trước mặt Chúa, vì Chúa biết con rõ hơn chính con biết mình. Con sợ điều đang đến. Con sợ điều con không kiểm soát được. Con sợ một kết quả xét nghiệm. Con sợ một cuộc phẫu thuật. Con sợ một ngày nào đó người con yêu sẽ rời khỏi con. Con sợ tuổi già. Con sợ cô đơn. Con sợ thất bại. Con sợ nghèo đi. Con sợ bị hiểu lầm. Con sợ bị loại trừ. Con sợ mất danh dự. Con sợ không còn làm được những điều con từng làm. Con sợ phải nhìn thấy một sự thật mà bấy lâu nay con tránh né. Con sợ phải bước vào một ngày mai không giống điều con đã dự tính. Con sợ chính mình sẽ không đủ sức để chịu điều sắp xảy ra. Và đôi khi, lạy Chúa, điều làm con sợ hơn cả thánh giá là nỗi sợ rằng trong thánh giá ấy con sẽ không còn cảm thấy Chúa nữa.

Xin cho con nhớ đến Ghetsêmani. Xin cho con nhớ rằng Chúa đã không bước vào cuộc Thương Khó như một pho tượng bằng đá. Chúa đã run rẩy. Chúa đã buồn đến chết được. Chúa đã xin chiếc chén đi qua. Chúa đã đổ mồ hôi như máu. Chúa đã cần các môn đệ ở gần, dù rồi họ lại ngủ. Khi con sợ, xin đừng để con xấu hổ vì mình sợ. Xin đừng để con nghĩ rằng đức tin có nghĩa là không run. Nếu chính Chúa đã run trong vườn Dầu, thì sự run rẩy của con không tự động là dấu hiệu con thiếu đức tin. Có lẽ chính ở nơi con run mà Chúa muốn gặp con gần nhất. Có lẽ Chúa không đòi con phải nhìn thấy hết con đường. Chúa chỉ mời con đi thêm một bước.

Lạy Chúa, con không xin được một lòng can đảm lớn đủ cho cả đời. Có lẽ con không mang nổi một ân sủng lớn như thế. Xin chỉ cho con đủ ánh sáng cho hôm nay. Xin chỉ cho con đủ sức để thức dậy sáng mai. Xin chỉ cho con đủ bình tĩnh để thực hiện việc kế tiếp. Xin chỉ cho con đủ đức tin để đặt chân xuống khỏi giường, để gọi một cuộc điện thoại khó, để bước vào phòng khám, để đối diện với một cuộc nói chuyện con đã trì hoãn, để nhận một quyết định con không thể đổi, để đi qua một ngày mà không biết ngày mai sẽ thế nào.

Con không anh hùng, lạy Chúa. Con cũng không muốn trở thành anh hùng để người khác ca tụng. Con chỉ muốn trở thành người không bỏ Chúa. Khi bản năng trong con muốn chạy, xin Chúa cầm lấy ý con đang muốn chạy. Khi trí con tưởng tượng hàng trăm tai họa chưa xảy ra, xin kéo con về với phút hiện tại. Khi con tự hành hạ mình bằng những câu “nếu như”, “biết đâu”, “rồi sẽ thế nào”, xin nhắc con rằng ân sủng ngày mai chưa được trao cho con hôm nay, bởi hôm nay con chỉ cần mang ngày hôm nay.

Xin cho con một giọt “xin vâng” vừa sức. Không phải lời xin vâng kiêu hùng khiến con thấy mình cao cả, nhưng một lời xin vâng nhỏ thôi: “Lạy Chúa, con vẫn ở đây.” Một lời xin vâng có thể vừa nói vừa khóc. Một lời xin vâng không hiểu. Một lời xin vâng chưa hết sợ. Một lời xin vâng mà tay vẫn run. Xin Chúa nhận lấy lời xin vâng vụng về ấy như Chúa đã nhận hai đồng xu của bà góa. Có thể đối với người khác nó chẳng là gì, nhưng với con, đó là tất cả những gì con đang có.

Lạy Chúa Giêsu trong Ghetsêmani, nếu Chúa không cất chiếc chén khỏi con, xin Chúa uống với con. Nếu Chúa không làm con đường ngắn lại, xin đi trên con đường ấy bên cạnh con. Nếu Chúa không cho con câu trả lời, xin cho con sự hiện diện. Nếu Chúa không cho con cảm giác bình an ngay lập tức, xin giữ con khỏi bỏ cuộc trong bất an. Nếu đêm nay con chỉ có thể thưa một câu, xin cho câu ấy là: “Lạy Chúa, con sợ, nhưng con vẫn ở với Chúa.” Amen.

  1. KHI BỊ BỎ RƠI

Lạy Chúa Giêsu, con đang nói lại lời Chúa trên Thánh Giá: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Con biết người ta có thể giải thích câu này bằng nhiều điều thần học. Con biết đây là lời mở đầu Thánh Vịnh 22. Con biết Thánh Vịnh ấy cuối cùng vẫn đi đến niềm tín thác. Con biết Chúa Cha không thật sự chấm dứt tình yêu đối với Chúa Con. Con biết những điều ấy. Nhưng lạy Chúa, hôm nay những điều con biết không làm nỗi đau nhẹ đi. Hôm nay con chỉ biết rằng con cảm thấy bị bỏ.

Có người đã hứa ở lại rồi rời đi. Có người đã từng nói thương con rồi quay lưng. Có người con đã tin lại làm con thất vọng. Có người con đã phục vụ nhiều năm nhưng khi con cần, họ không có mặt. Có những người con từng gọi là anh em, chị em, bạn hữu, đồng hành, nhưng khi con yếu nhất, con mới biết mình cô đơn đến thế nào. Có lúc chính cộng đoàn làm con đau. Có lúc chính những người nhân danh Chúa khiến con muốn tránh xa nhà Chúa. Có lúc con đã cầu nguyện rất lâu mà trời im. Có lúc con gọi Chúa mà không cảm thấy bất cứ câu trả lời nào. Có lúc con nhìn người khác được chữa lành, được an ủi, được nâng đỡ, còn con thì dường như vẫn đứng nguyên ở một nơi.

Lạy Chúa, xin cho con được phép nói điều ấy với Chúa mà không bị kết án. Xin đừng để con phải mang một chiếc mặt nạ đạo đức trước mặt Chúa. Con không hiểu. Con không giả bộ hiểu. Con không muốn dùng những câu thật đẹp để che một vết thương thật sâu. Nếu Chúa muốn con nói thật, thì đây là sự thật: con đang đau; con đang thất vọng; con đang thấy mình bị bỏ lại; và có lúc con giận cả Chúa.

Nhưng lạy Chúa, chính vì Chúa đã từng kêu lên từ Thánh Giá, con biết tiếng kêu của con không làm Chúa hoảng sợ. Chúa không xa lạ với cảm giác trời đóng kín. Chúa không đứng bên ngoài nỗi cô độc mà đưa lời khuyên. Chúa đã đi vào tận đó. Chúa đã từng ở giữa đất và trời, giữa những tiếng chế nhạo, giữa sự im lặng của những người bỏ chạy. Chúa hiểu cảm giác nhìn quanh mà không thấy người mình mong.

Xin cho con được phép khóc trên gỗ Chúa đã khóc. Xin đừng để con khóc một mình. Con không xin Chúa làm cho tất cả những người đã bỏ con quay trở lại. Có những cánh cửa có lẽ sẽ không mở nữa. Có những người đã đi quá xa. Có những điều không thể trở lại như cũ. Nhưng xin đừng để sự ra đi của họ trở thành bằng chứng trong lòng con rằng con không đáng được yêu. Xin đừng để một con người đã bỏ con làm con tin rằng Chúa cũng bỏ con.

Xin dạy con phân biệt giữa cảm giác bị bỏ và thực tại bị bỏ. Con có thể không cảm thấy Chúa, nhưng xin đừng để con kết luận quá nhanh rằng Chúa không có đó. Trên đường Emmaus, Chúa đã đi bên cạnh hai môn đệ lúc họ không nhận ra Chúa. Có lẽ trong đời con cũng có những đoạn đường như thế. Xin cho con kiên nhẫn đủ để đi cho đến khi mắt được mở ra.

Và nếu Chúa vẫn im lặng, xin cho con biết ở lại trong sự im lặng ấy. Không phải ở lại vì con hiểu, nhưng vì con không còn nơi nào khác để đi. Như Phêrô từng nói: “Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai?” Lạy Chúa, có khi đức tin của con hôm nay chỉ còn là điều ấy: con không biết đi đâu khác. Xin nhận lấy sự nghèo nàn ấy như một lời cầu. Amen.

  1. KHI PHẢI THA THỨ

Lạy Chúa Giêsu, người ấy đã làm con đau. Con không muốn nói giảm. Điều họ làm là thật. Vết thương là thật. Những hậu quả vẫn còn thật. Có những câu nói vẫn vang trong trí con. Có những hình ảnh vẫn trở lại. Có những đêm con tưởng đã quên, rồi một ký ức lại trồi lên và mọi sự đau lại như mới. Có khi người ấy chưa bao giờ xin lỗi. Có khi họ xin lỗi nhưng con không cảm thấy lời xin ấy đủ. Có khi họ vẫn sống bình thường còn con phải nhặt lại từng mảnh đời mình. Có khi người khác khuyên con “tha đi” quá dễ dàng đến mức con càng đau hơn, như thể tha thứ là một nút bấm chỉ cần nhấn.

Lạy Chúa, con chưa muốn tha. Đây có thể là lời cầu xấu xí, nhưng là lời thật. Một phần trong con còn muốn họ phải trả giá. Một phần trong con muốn họ hiểu cảm giác con đã chịu. Một phần trong con muốn công lý xảy ra theo cách con nghĩ. Một phần trong con cứ giữ vết thương lại vì sợ rằng nếu con buông, điều họ làm sẽ bị coi là không nghiêm trọng.

Xin Chúa đừng bắt con gọi điều ác là điều tốt. Xin đừng để con lầm tưởng tha thứ có nghĩa là phủ nhận sự thật, dung túng bạo lực, quay lại một mối tương quan nguy hiểm, hay để người khác tiếp tục làm hại con. Chúa không tha thứ bằng cách nói tội không quan trọng. Thập Giá chính là bằng chứng tội nghiêm trọng đến mức nào. Nhưng Thập Giá cũng là bằng chứng tình yêu của Chúa lớn hơn tội.

Máu Chúa đã chảy cho người ấy và cho con. Câu ấy làm con khó chịu, lạy Chúa, bởi con muốn máu Chúa chảy cho con thôi, còn đối với người đã làm con đau, con muốn một bản án. Nhưng Chúa đã chết giữa những người đóng đinh Chúa và vẫn cầu: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Con chưa ở được chỗ ấy. Xin đừng bắt con nhảy qua những bước mà linh hồn con chưa đi nổi. Xin kéo con từ từ.

Hôm nay có lẽ con chưa thể nói: “Con tha thứ hoàn toàn.” Nhưng có lẽ con có thể nói: “Lạy Chúa, con muốn một ngày nào đó có thể muốn tha.” Nếu ngay cả câu ấy còn quá lớn, xin cho con nói: “Lạy Chúa, xin Chúa muốn trong con điều con chưa muốn.” Xin bắt đầu công trình tha thứ ở nơi con bất lực nhất.

Xin cho con hiểu rằng tha thứ không phải lúc nào cũng là cảm xúc. Có thể hôm nay con tha rồi ngày mai nỗi đau trở lại. Có thể con phải tha cùng một người hàng trăm lần trong ký ức. Có thể mỗi lần nhớ lại là mỗi lần phải đặt món nợ vào tay Chúa. Xin cho con kiên nhẫn với tiến trình ấy.

Xin cứu con khỏi biến vết thương thành căn tính. Con đã bị tổn thương, nhưng con không chỉ là một người bị tổn thương. Điều họ làm với con là một chương trong đời con, không phải toàn bộ tên con. Tên con sâu hơn vết thương. Con thuộc về Chúa.

Lạy Chúa chịu đóng đinh, xin kéo con đến chỗ Chúa đã tha trước. Và nếu con chưa thể yêu người đã làm con đau, xin ít nhất giữ con khỏi mong họ bị hủy diệt. Nếu con chưa thể chúc lành, xin giữ con khỏi nguyền rủa. Nếu con chưa thể gặp họ, xin cho con đặt họ trong tay Chúa. Nếu công lý cần được thực hiện, xin cho công lý được thực hiện mà lòng con không bị biến thành thù hận.

Con trao cho Chúa món nợ con không đòi nổi. Xin Chúa xử lý nó theo sự công chính và lòng thương xót của Chúa. Còn con, xin giải thoát con khỏi việc phải mang người ấy trong đầu suốt phần đời còn lại. Amen.

  1. KHI BỆNH

Lạy Chúa Giêsu, thân xác con đang dạy con một sự thật con vẫn muốn quên: con không phải là Chúa. Con không điều khiển được mọi tế bào. Con không ra lệnh được cho tuổi tác. Con không bảo tim mình đừng yếu, xương mình đừng đau, mắt mình đừng mờ, trí nhớ mình đừng giảm. Con đã từng nghĩ thân xác này sẽ ngoan ngoãn phục vụ các kế hoạch của con mãi. Hôm nay nó nhắc con rằng con là thụ tạo.

Con không muốn lãng mạn hóa bệnh tật. Đau vẫn là đau. Mất ngủ vẫn làm con kiệt sức. Một cơn đau kéo dài có thể khiến cả tính tình con thay đổi. Một kết quả xét nghiệm có thể làm căn phòng nhỏ đi. Một căn bệnh có thể biến con từ người chăm sóc thành người phải được chăm. Điều đó làm con xấu hổ. Con không muốn làm phiền ai. Con không muốn người khác phải thấy sự yếu đuối của con. Có khi con cáu gắt vì đau. Có khi con ghen với người khỏe. Có khi con nhìn lại thân thể mình và không nhận ra nó nữa.

Lạy Chúa, Chúa đã mang một thân xác. Chúa biết mệt. Chúa biết đói. Chúa biết khát. Chúa biết đau. Trên Thánh Giá, thân xác Chúa đã bị kéo căng, bị đóng đinh, bị thương. Vì thế con tin Chúa không khinh thân xác yếu của con.

Xin chữa lành con, lạy Chúa. Con không ngại xin điều ấy. Con xin bởi Chúa là Chúa của sự sống. Con xin cho thuốc men có tác dụng. Con xin cho bác sĩ sáng suốt. Con xin cho cuộc điều trị thành công. Con xin cho căn bệnh lui đi. Con xin cho thân xác này còn được phục vụ, còn được yêu thương, còn được làm việc lành.

Nhưng lạy Chúa, con cũng biết có những lời cầu xin chữa lành không được đáp lại theo cách người ta mong. Vì thế, cùng với lời xin chữa, con xin một ân sủng khác khó hơn: nếu bệnh không đi, xin Chúa đừng đi. Nếu đau không hết, xin đừng để đức tin con hết trước. Nếu thân xác này ngày càng giới hạn, xin làm rộng linh hồn con.

Xin cứu con khỏi những lời kết án thiêng liêng. Xin đừng để con nghĩ rằng con bệnh vì đức tin yếu. Xin đừng để người khác biến bệnh tật thành một bài kiểm tra đạo đức. Có những vị thánh cũng bệnh. Có những người tin rất mạnh vẫn chết. Phép lạ lớn nhất đôi khi không phải là một thân xác được hồi phục, nhưng là một trái tim không cay đắng giữa bệnh tật.

Xin dạy con đón nhận sự giúp đỡ. Đó có lẽ cũng là một hình thức khiêm nhường. Trước đây con thích làm người cho. Bây giờ con phải học làm người nhận. Xin cho con hiểu rằng để người khác chăm sóc mình cũng có thể là cách cho họ cơ hội yêu.

Khi con đau quá không đọc được kinh, xin cho tiếng rên trở thành lời cầu. Khi con mệt quá không tập trung được, xin cho hơi thở trở thành kinh nguyện. Khi con nằm bất động, xin cho chính thân xác đang nằm ấy được kết hợp với thân xác Chúa trên Thánh Giá.

Và khi giờ cuối đến, bất cứ ngày nào, xin cho con đừng thấy mình rơi vào khoảng không. Xin cho con thấy đó là lúc được đặt vào tay Chúa. Thân xác này đã được xức dầu ngày Rửa Tội, đã được nuôi bằng Mình Máu Chúa, đã cúi, quỳ, làm dấu, lao động, ôm lấy người thân, lau nước mắt cho người khác. Một ngày nó sẽ trở về bụi đất. Nhưng con tin nó không bị bỏ đi. Con trông đợi ngày phục sinh của thân xác.

Lạy Chúa Giêsu chịu thương tích, nếu Chúa muốn chữa, xin chữa. Nếu Chúa muốn cùng con đi xuyên qua bệnh, xin giữ tay con. Và nếu một ngày con không còn sức cầm tay Chúa, xin Chúa cứ cầm tay con. Amen.

  1. KHI ƠN GỌI TRỞ NÊN NẶNG

Lạy Chúa Giêsu, ngày con nói “xin vâng”, con chưa thấy hết đoạn đường. Ngày con bước vào ơn gọi, con mang theo nhiệt huyết, lý tưởng, niềm vui, những hình dung đẹp đẽ. Con tưởng rằng yêu Chúa đủ nhiều thì mọi khó khăn sẽ có ý nghĩa ngay. Con tưởng rằng khi đã dâng mình, lòng sẽ nhẹ. Con không biết có những ngày lời khấn trở thành một tảng đá phải mang. Con không biết có những buổi sáng thức dậy mà không cảm thấy điều gì giống nhiệt huyết ban đầu. Con không biết rằng có lúc chính đời sống đã chọn lại làm con tự hỏi mình có chọn sai không.

Có những mệt mỏi không dễ nói thành lời. Mệt vì phải luôn có mặt. Mệt vì người ta cần con. Mệt vì ai cũng có thể đến gõ cửa nhưng con lại không biết gõ cửa ai. Mệt vì làm nhiều mà không biết có ích gì. Mệt vì những hiểu lầm trong cộng đoàn. Mệt vì những khác biệt tính tình. Mệt vì những chuyện rất nhỏ nhưng lặp đi lặp lại năm này qua năm khác. Mệt vì một hệ thống không hoàn hảo. Mệt vì thất vọng với chính mình. Mệt vì thấy những yếu đuối tưởng đã vượt qua lại trở lại.

Lạy Chúa, có những lúc con nhìn đời người khác và tưởng rằng nếu mình đã chọn một con đường khác thì dễ hơn. Có những lúc con nhớ một mái ấm mình không có, những đứa con mình sẽ không sinh, một cuộc sống riêng mình đã bỏ. Có những lúc sự độc thân được dâng hiến không còn giống tự do mà giống trống vắng. Có những lúc vâng phục không còn giống hiệp thông mà giống mất quyền quyết định. Có những lúc khó nghèo không còn giống thanh thoát mà giống thiếu thốn.

Con không muốn phủ đường lên những điều ấy. Nhưng con cũng không muốn chỉ nhìn chúng bằng mắt của một người thất vọng.

Ngày con nói xin vâng, con chưa thấy hết đoạn đường. Hôm nay con thấy thêm một đoạn. Có lẽ Chúa không lừa con. Chúa chỉ không trao cho con cả bản đồ bởi con sẽ sợ mà không đi. Chúa gọi Ápraham đi mà không cho ông biết hết nơi sẽ đến. Chúa gọi Phêrô theo mà không cho ông thấy trước sân dinh thượng tế, biển hồ sau Phục Sinh, và cái chết cuối cùng của ông. Ơn gọi luôn có một phần chỉ được hiểu sau khi đã sống.

Xin đừng để con đo tình yêu Chúa bằng sự dễ dàng. Nếu dễ là dấu Chúa yêu thì Thánh Giá sẽ là bằng chứng Chúa Cha không yêu Chúa Con. Nhưng chính nơi Thánh Giá, tình yêu Ba Ngôi lại sáng nhất. Xin cho con đừng kết luận rằng vì đời con khó nên Chúa không còn ở đây.

Lạy Chúa, xin làm mới lời khấn trong con. Không nhất thiết bằng cảm xúc mạnh. Con đã đủ tuổi để biết cảm xúc đến rồi đi. Xin làm mới nó bằng tự do. Xin cho con một lần nữa chọn điều con đã chọn. Không phải vì ngày xưa con đã chọn nên hôm nay không được thay đổi, nhưng vì hôm nay, sau khi đã biết nhiều hơn về cái giá, con vẫn muốn đặt đời mình vào tay Chúa.

Nếu có những điều trong đời sống ơn gọi cần được chữa lành, xin cho con can đảm nhìn thẳng. Đừng để con gọi mọi khổ đau là “thánh giá phải vác” nếu thực ra đó là một bất công cần sửa, một lạm dụng cần dừng, một vết thương cần được chăm sóc. Xin cho con đủ khiêm nhường để tìm sự giúp đỡ khi cần. Trung thành không có nghĩa là im lặng trước điều phá hủy linh hồn.

Nhưng với những thánh giá không thể tránh, xin dạy con mang chúng mà không cay độc. Với những giới hạn của anh em, xin cho con nhớ họ cũng đang phải mang giới hạn của con. Với những va chạm trong cộng đoàn, xin cho con đừng biến căn nhà Chúa thành chiến trường của cái tôi. Với những ngày phục vụ không ai ghi nhận, xin cho con nhớ Nadarét. Ba mươi năm Chúa sống âm thầm trước ba năm công khai. Có lẽ phần lớn ơn gọi cũng là Nadarét: rất nhiều việc không ai biết.

Khi con chán giảng, xin cho con nhớ vẫn có một người đang cần nghe Tin Mừng lần đầu như thể lần cuối. Khi con mệt cử hành, xin cho con nhớ bàn thờ không thuộc về cảm xúc của con. Khi con mỏi vì giải tội, xin cho con nhớ chính mình cũng sống nhờ lòng thương xót. Khi con thấy lời cầu nguyện khô khan, xin cho con đừng bỏ giờ hẹn với Chúa chỉ vì cuộc gặp không có cảm giác.

Và nếu một ngày con chỉ còn đủ sức nói: “Lạy Chúa, con vẫn ở đây”, xin nhận câu ấy như việc tái tuyên khấn. Amen.

  1. VỚI ĐỨC MARIA

Lạy Mẹ Maria, Mẹ đã đứng. Tin Mừng không nói Mẹ giải thích. Không nói Mẹ hiểu hết. Không nói Mẹ làm phép lạ để tháo đinh khỏi tay Con. Tin Mừng chỉ nói Mẹ đứng gần Thánh Giá. Một động từ đơn sơ ấy làm con xấu hổ về bao lần con bỏ chạy.

Xin dạy con đứng.

Đứng không phải vì không đau. Có lẽ Mẹ đau hơn tất cả. Đứng không phải vì không muốn ngã. Có lẽ từng thớ thịt trong Mẹ muốn sụp xuống. Đứng là khi tình yêu mạnh hơn bản năng chạy trốn. Đứng là ở lại nơi mình không thể sửa gì. Đứng là không bỏ người mình yêu chỉ vì mình bất lực.

Lạy Mẹ, có những thánh giá con không thể tháo cho người thân. Con nhìn con cái đi sai mà không kéo lại được. Con nhìn cha mẹ già đi mà không giữ tuổi trẻ cho các ngài. Con nhìn người thân bệnh mà không chữa được. Con nhìn một người con thương vật lộn với một cuộc khủng hoảng mà mọi lời khuyên của con trở nên vô ích. Những lúc ấy, xin dạy con đứng.

Xin cứu con khỏi việc tưởng rằng yêu là phải giải quyết được mọi thứ. Mẹ yêu Chúa Giêsu hoàn hảo mà vẫn không tháo được một chiếc đinh. Có những lúc tình yêu không cứu người khác khỏi đau; tình yêu chỉ làm cho người đau không cô độc.

Xin cho con một chỗ nhỏ dưới chân Thánh Giá. Con không xin chỗ hiểu hết. Con không xin chỗ quyền lực. Con không xin đứng ở trung tâm. Chỉ xin một chỗ đủ gần để không bỏ Chúa.

Khi con muốn hỏi “tại sao”, xin cho con được hỏi. Mẹ cũng từng hỏi ở Nadarét: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào?” Nhưng xin dẫn con từ “tại sao” đến “xin vâng”. Không phải một xin vâng ngây thơ, nhưng một xin vâng đã đi qua Bêlem, Ai Cập, Nadarét, Cana, những năm công khai, rồi đến Golgotha.

Mẹ đã từng ôm Con lúc còn thơ. Dưới chân Thánh Giá, Mẹ nhận lại thân xác Con trong một cách khác: lạnh, nặng, đầy thương tích. Xin ở với những người mẹ phải nhận lại con mình từ bệnh viện, chiến tranh, tai nạn, nghiện ngập, bạo lực, tuyệt vọng. Xin đứng cạnh những người cha không biết làm gì trước nỗi đau của con. Xin đứng cạnh những người phải chôn người mình yêu.

Lạy Mẹ Sầu Bi, xin đừng dạy con tìm đau khổ. Xin dạy con yêu khi đau khổ đã đến. Xin đừng dạy con nghĩ rằng càng đau càng thánh. Xin dạy con rằng điều làm một thánh giá trở nên thánh không phải cường độ đau, mà là tình yêu được sống trong đó.

Và khi con đã không còn lời nào, xin cho con đứng với Mẹ. Có lẽ sự hiện diện im lặng của Mẹ sẽ dạy con một thứ cầu nguyện sâu hơn những lời con biết. Amen.

  1. KHI MẤT NGƯỜI THÂN

Lạy Chúa Giêsu, hôm nay trong nhà con có một chỗ trống. Một chiếc ghế trống. Một số điện thoại sẽ không gọi nữa. Một giọng nói con sẽ không nghe lại theo cách cũ. Một khuôn mặt giờ chỉ còn trong ảnh. Người ta nói thời gian sẽ làm dịu, nhưng hôm nay con chưa cần nghe về thời gian. Hôm nay con chỉ biết nhớ.

Con nhớ những điều lớn và những điều rất nhỏ. Một thói quen. Một cách gọi tên. Một món ăn. Một tiếng ho. Một chỗ ngồi. Một câu nói từng làm con khó chịu mà giờ con lại ước được nghe thêm một lần.

Lạy Chúa, cái chết làm con hiểu rằng tình yêu khiến ta dễ bị thương đến thế nào. Nếu con chưa từng yêu, có lẽ con đã không đau như vậy. Nhưng con không muốn vì sợ mất mà thôi yêu.

Chúa đã khóc trước mộ Lazarô. Xin cho con được khóc. Đừng để ai làm con xấu hổ vì nước mắt. Nước mắt không phải chống lại đức tin. Có thể nó chính là hình dạng mà tình yêu mang khi người yêu không còn hiện diện bằng thân xác.

Con trao người con yêu cho Chúa, nhưng thú thật con vẫn muốn giữ. Xin Chúa đừng trách sự giằng co ấy. Con biết họ thuộc về Chúa trước khi thuộc về con. Nhưng việc biết không làm bàn tay con buông nhanh hơn.

Xin đón họ vào lòng thương xót. Xin thanh luyện những gì cần thanh luyện. Xin hoàn tất trong họ điều đời này còn dang dở. Xin cho ánh sáng ngàn thu chiếu soi.

Và xin cho con sống phần đời còn lại không như người bị cái chết lấy hết, nhưng như người đang đi về một cuộc gặp lại. Con không biết cuộc gặp ấy sẽ thế nào. Nhưng con tin tình yêu trong Chúa không bị xóa bởi nấm mồ.

Lạy Chúa Phục Sinh, xin giữ người ấy cho con trong Chúa, cho đến ngày mọi nước mắt được lau khô. Amen.

  1. KHI THẤT BẠI

Lạy Chúa, con đã thất bại. Con không biết phải gọi nó bằng từ nào nhẹ hơn. Điều con làm không thành. Người ta có thể đã thất vọng về con. Chính con cũng thất vọng về mình.

Con đã cầu nguyện. Con đã cố. Có thể con cũng đã sai. Có thể có phần lỗi của con rất rõ. Có thể con đã quá tự tin, quá vội, quá cứng, quá ngây thơ. Xin cho con đủ thành thật để học những gì cần học.

Nhưng xin đừng để thất bại trở thành tên của con. Con thất bại trong một việc, nhưng con không phải là một thất bại.

Phêrô đã thất bại trong chính đêm ông nói sẽ chết vì Chúa. Ông chối Chúa ba lần. Nhưng Chúa không gọi ông là “kẻ phản bội” suốt phần đời còn lại. Chúa hỏi: “Con có yêu Thầy không?”

Xin hỏi lại con câu ấy. Sau mọi đổ vỡ, xin đưa con về câu căn bản: “Con có yêu Thầy không?”

Nếu con còn yêu, dù tình yêu yếu, xin bắt đầu lại với con. Nếu một cánh cửa đóng, xin đừng để con nghĩ Nước Chúa cũng đóng. Nếu một công việc kết thúc, xin cho con đủ nghèo để nhận một việc khác. Nếu danh dự con giảm, xin giải phóng con khỏi việc phải sống bằng lời khen.

Lạy Chúa của buổi sáng Phục Sinh, xin dạy con rằng chiều Thứ Sáu không có quyền viết câu cuối. Amen.

  1. KHI TỘI LỖI ĐÈ NẶNG

Lạy Chúa Giêsu, con đã phạm tội. Không phải ai khác. Là con. Có những điều con làm vì yếu đuối. Có những điều con biết sai mà vẫn chọn. Có những điều con đã lặp đi lặp lại đến mức chính con chán mình.

Con không xin bào chữa. Nhưng con cũng xin Chúa cứu con khỏi tuyệt vọng.

Tên trộm bên phải không còn thời gian sửa quá khứ. Ông chỉ còn một lời: “Lạy Ngài, khi vào Nước Ngài, xin nhớ đến tôi.” Và Chúa đã trả lời bằng thiên đàng.

Xin nhớ đến con.

Xin cho con can đảm đi xưng tội khi cần. Xin đừng để lòng tự ái núp dưới tên “xấu hổ” mà giữ con xa lòng thương xót. Tòa giải tội không phải phòng xử án của kẻ hoàn hảo, mà là nơi người bệnh đến để được chữa.

Con đã ngã. Xin cho con đứng. Nếu con lại ngã, xin cho con lại đứng. Xin đừng để ma quỷ dùng tội cũ để thuyết phục con rằng tương lai đã đóng.

Máu từ cạnh sườn Chúa không chảy cho những con người tưởng tượng. Máu ấy chảy cho tội nhân thật. Vậy hôm nay con đến như một tội nhân thật.

Lạy Chúa, xin thương xót con. Amen.

  1. KHI KHÔNG CẦU NGUYỆN ĐƯỢC

Lạy Chúa, con không biết nói gì. Những lời con vừa đọc dường như cũng quá nhiều. Con mệt. Con trống.

Con chỉ ngồi đây.

Nếu việc ngồi đây có thể là cầu nguyện, xin nhận nó.

Con không cảm thấy sốt sắng. Con không có nước mắt. Con không có tư tưởng sâu sắc. Con chỉ có một trái tim mệt.

Xin đừng đòi con phải tạo ra cảm xúc. Xin cho con tin rằng Chúa hiện diện không vì con cảm thấy Chúa, nhưng vì Chúa trung tín.

Con nhìn Thánh Giá.

Chúa nhìn con.

Thế là đủ cho hôm nay.

Amen.

Dưới chân Thánh Giá, cuối cùng mọi lời cầu đều có thể được rút lại thành một lời rất ngắn: “Lạy Chúa, xin ở lại.” Nhưng rồi nếu ta lắng sâu hơn, ta nhận ra chính Chúa đã nói lời ấy trước. Không phải chỉ ta xin Chúa ở lại với mình; Chúa đã ở lại với ta trước. Chúa đã ở lại khi ta sợ. Chúa đã ở lại khi ta chạy. Chúa đã ở lại khi ta phạm tội. Chúa đã ở lại khi ta nghi ngờ. Chúa đã ở lại cho đến chết. Thánh Giá chính là sự ở lại của Thiên Chúa với nhân loại đến tận cùng. Vì thế, cầu nguyện dưới chân Thánh Giá không phải là cố thuyết phục một Thiên Chúa xa xôi bước xuống với đời ta. Là từ từ nhận ra Người đã bước xuống sâu hơn ta tưởng. Người đã đi vào đau khổ, cô độc, bất công, nhục nhã, thất bại, thân xác bị thương và cái chết. Không còn vực sâu nào của con người mà Đấng Chịu Đóng Đinh không thể đi vào.

Có lẽ một ngày nào đó, sau rất nhiều lời, ta không còn cần nói nhiều nữa. Ta chỉ nhìn Thánh Giá. Ta nhìn hai cánh tay giang ra và hiểu: ở đây có một tình yêu không khép lại. Ta nhìn cạnh sườn mở và hiểu: ở đây có một trái tim không giữ gì cho mình. Ta nhìn đầu cúi xuống và hiểu: ở đây có một Thiên Chúa đã cúi đến tận cùng để không một ai phải nghĩ mình ở quá thấp để được cứu.

Và khi ấy, lời cầu cuối cùng có thể chỉ còn là:

Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, con không hiểu hết đời con. Con không hiểu hết những gì Chúa cho phép. Con không hiểu tại sao có những lời cầu được đáp và những lời khác dường như rơi vào im lặng. Con không hiểu tại sao có người phải đau quá lâu. Con không hiểu tại sao một số người ra đi quá sớm. Con không hiểu tại sao những người tốt vẫn chịu bất công. Con không hiểu chính mình. Nhưng con nhìn Thánh Giá và biết ít nhất một điều: Chúa không yêu con từ xa.

Xin cho điều ấy đủ để con đi thêm hôm nay.

Khi con sợ, xin ở lại.
Khi con bị bỏ, xin ở lại.
Khi con phải tha, xin ở lại.
Khi con bệnh, xin ở lại.
Khi ơn gọi nặng, xin ở lại.
Khi con đứng với Đức Maria, xin ở lại.
Khi người thân chết, xin ở lại.
Khi con thất bại, xin ở lại.
Khi con phạm tội, xin ở lại.
Khi con không cầu nguyện được, xin ở lại.

Và khi con đi qua cửa sự chết, khi mọi lời kinh trên môi đã tắt, khi con không còn đủ sức gọi tên Chúa, xin Chúa vẫn ở lại, và xin Chúa gọi tên con.

Bởi cuối cùng, cứu độ không tùy vào việc con nắm Chúa chặt đến đâu, nhưng vào việc Chúa đã nắm lấy con và không buông.

CHƯƠNG XVII. NHỮNG CẠM BẪY KHI NÓI VỀ YÊU THÁNH GIÁ

Linh đạo Thánh Giá là một trong những kho tàng sâu thẳm nhất của Kitô giáo, nhưng cũng chính vì sâu thẳm nên rất dễ bị hiểu sai. Một sự thật càng cao cả, khi bị tách khỏi toàn bộ Tin Mừng, càng có thể trở thành một thứ méo mó nguy hiểm. Người ta có thể nhân danh Thánh Giá để nói những lời rất đạo đức mà lại làm tổn thương người đang đau; có thể nhân danh vâng phục để che đậy bất công; có thể nhân danh hy sinh để bắt người khác tiếp tục chịu bạo hành; có thể nhân danh lòng đạo đức để khuyến khích một thứ cam chịu không phải Tin Mừng; cũng có thể nhân danh “yêu Thánh Giá” để nuôi trong lòng một thái độ thích đau khổ, khinh thường niềm vui, nghi ngại hạnh phúc và coi những gì tốt đẹp của đời người như thể chúng làm ta xa Thiên Chúa. Vì thế, càng nói nhiều về Thánh Giá càng phải nói cho đúng. Thánh Giá không được phép tách khỏi Đức Giêsu. Không được phép tách khỏi tình yêu. Không được phép tách khỏi công lý. Không được phép tách khỏi lòng thương xót. Không được phép tách khỏi Phục Sinh. Và nhất là, không được phép lấy Thánh Giá của Chúa để đóng thêm đinh vào thập giá của người khác. Chúa Giêsu không nói: “Hãy tạo thập giá cho nhau.” Người nói: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (x. Lc 9,23). Thập giá của người môn đệ chỉ có ý nghĩa khi nằm trong một tương quan: “theo Tôi”. Không có Đức Kitô, thập giá chỉ là đau khổ. Có Đức Kitô, đau khổ có thể trở thành nơi hiệp thông, nơi tự hiến, nơi lòng trung thành được thanh luyện và nơi tình yêu chiến thắng sự dữ. Nhưng ngay cả khi ấy, người Kitô hữu vẫn không gọi sự dữ là tốt, không gọi bất công là thánh thiện, không gọi bệnh tật là ân phúc chỉ vì bệnh tật làm đau. Ta yêu Đấng chịu đóng đinh, chứ không thần thánh hóa những cây đinh.

  1. CẠM BẪY MỘT: TÔN THỜ ĐAU KHỔ

Cạm bẫy đầu tiên và có lẽ cũng phổ biến nhất là đồng hóa việc yêu Thánh Giá với việc yêu đau khổ. Hai điều ấy không giống nhau. Đau khổ không phải Thiên Chúa. Đau khổ không phải bí tích thứ tám. Đau khổ không phải điều tự nó có giá trị cứu độ. Thiên Chúa là tình yêu. Và chính vì là tình yêu nên Người đã bước vào đau khổ của nhân loại để biến nơi tưởng như chỉ có thất bại thành nơi tình yêu được tỏ lộ đến cùng. Nếu đau khổ tự nó là tốt, Chúa Giêsu đã không chữa người mù, người què, người phong cùi, người bị quỷ ám; Người đã không chạnh lòng trước đám đông đói; Người đã không khóc trước mộ Lazarô; Người đã không xin Cha: “Nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.” Chính lời cầu ở Ghetsêmani cho ta một nền thần học vô cùng quan trọng: con người không có bổn phận phải thích đau. Sợ đau không phải là tội. Muốn được chữa lành không phải là thiếu đức tin. Kêu cứu không phải là phản bội Thánh Giá. Đi bác sĩ không phải là chạy trốn ý Chúa. Tìm cách thoát khỏi một hoàn cảnh hủy hoại mình không phải là chống lại linh đạo hy sinh. Đức Giêsu không lao vào đau khổ vì Người thích bị đánh, thích bị nhổ vào mặt, thích bị đóng đinh. Người bước vào cuộc Thương Khó vì trung thành với tình yêu, trung thành với sự thật, trung thành với sứ mạng Cha trao. Điều cứu thế giới không phải là số roi đánh trên lưng Người. Điều cứu thế giới là tình yêu của Người trong chính những roi đánh ấy; là sự tự hiến tự do; là lòng vâng phục không rút lại; là lòng thương xót vẫn còn có thể nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ” giữa lúc chính Người đang bị giết. Bởi vậy, linh đạo Thánh Giá không dạy ta đi tìm đau khổ. Nó dạy ta đừng đánh mất tình yêu khi đau khổ tìm đến mình. Có một khác biệt rất lớn giữa “đi tìm thánh giá” và “không chạy khỏi tình yêu khi tình yêu trở thành thánh giá”. Người ta có thể làm hại thân xác, gây tổn thương cho mình, bỏ bê sức khỏe, từ chối nghỉ ngơi, từ chối điều trị, tự hành xác tinh thần rồi tưởng rằng như vậy là đạo đức. Không. Thân xác cũng là quà tặng. Sự sống cũng là quà tặng. Nghỉ ngơi khi cần là khiêm nhường. Đón nhận một niềm vui trong sạch là biết ơn. Ăn một bữa cơm ngon với lòng tạ ơn không phản lại Núi Sọ. Cười với người mình yêu không xúc phạm Đấng chịu đóng đinh. Thánh Giá không làm Kitô giáo trở thành một tôn giáo u ám. Trái lại, chính vì Thánh Giá đã được Phục Sinh xuyên qua nên người Kitô hữu có khả năng nhìn đau khổ mà không tuyệt vọng và đón niềm vui mà không thần tượng hóa nó.

Có khi một người đạo đức lâu năm lại mang một nỗi áy náy kỳ lạ: hễ cuộc đời được bình yên là thấy bất an, như thể phải có chuyện gì đau thì mới được Chúa yêu. Có người ngại xin cho hết bệnh vì sợ rằng mình “không biết vác thánh giá”. Có người nhận một niềm vui lại lập tức nghĩ: “Không biết sắp có chuyện gì xảy ra.” Đó không phải là lòng kính sợ Chúa; nhiều khi đó là một hình ảnh méo mó về Thiên Chúa, như thể Người là Đấng đứng chờ ta vừa cười thì sẽ gửi một biến cố để ta khỏi vui quá. Thiên Chúa không ghen với hạnh phúc của con cái Người. Chính Người tạo nên tiệc cưới. Chính Con Thiên Chúa đã dự tiệc Cana. Chính Người ăn uống với bạn hữu. Chính Người để một phụ nữ đổ dầu thơm quý giá lên mình. Chính Người hứa niềm vui trọn vẹn. Vậy phải nói thật rõ: không phải càng đau càng thánh. Không phải càng khổ càng gần Chúa. Có những đau khổ làm con người trưởng thành, nhưng cũng có đau khổ làm họ tan nát nếu không được trợ giúp. Có những khổ đau được dâng lên trong tình yêu, nhưng cũng có những khổ đau cần phải được chữa trị, chấm dứt, tố giác và ngăn ngừa. Thánh Giá không hợp thức hóa đau khổ. Thánh Giá công bố rằng ngay cả khi đau khổ không thể tránh, tình yêu vẫn có thể không bị đánh bại.

  1. CẠM BẪY HAI: DÙNG THÁNH GIÁ ĐỂ GIỮ NGƯỜI TA TRONG BẤT CÔNG

Đây là một cạm bẫy đặc biệt nguy hiểm vì nó mang khuôn mặt đạo đức. Có những câu nói nghe rất thánh thiện nhưng nếu đặt sai chỗ có thể trở thành bạo lực: “Ráng chịu đi, đó là thánh giá Chúa gửi”; “Thôi tha thứ đi, đừng làm lớn chuyện”; “Chúa cũng bị đánh mà còn chịu”; “Vâng phục đi, đừng phản ứng”; “Đời ai cũng có thập giá”; “Ráng hy sinh cho gia đình”; “Đừng tố cáo, kẻo làm gương xấu.” Những câu ấy đôi khi được nói với thiện ý, nhưng nếu được dùng để bắt một nạn nhân tiếp tục sống trong bạo lực, lạm dụng, áp bức, thao túng, bóc lột hay bất công, thì chúng đã phản lại chính Thánh Giá. Chúa Giêsu chịu đóng đinh, nhưng Người không gọi những kẻ đóng đinh Người là người làm điều tốt. Người chịu khổ, nhưng Người không bảo Philatô rằng bất công của ông là thánh ý Thiên Chúa. Người không tán thành sự giả hình của các lãnh đạo tôn giáo. Người không im lặng trước việc Đền Thờ bị biến thành nơi bóc lột. Người không nói với những người bị áp bức rằng cứ tiếp tục để mình bị nghiền nát là đủ. Thánh Giá phơi bày sự dữ trước khi biến sự dữ thành nơi tình yêu chiến thắng. Vì vậy, ai dùng Thánh Giá để che sự dữ thì đang làm điều hoàn toàn ngược lại với điều Thánh Giá biểu lộ.

“Hãy vác thánh giá” không phải câu của người có quyền dành cho người yếu để người yếu ngoan ngoãn hơn. Trước khi nói câu ấy với người khác, tốt hơn ta hãy tự hỏi: “Có phải chính tôi đang đặt cây thập giá này lên vai họ không?” Nếu một người chồng đánh vợ rồi bảo vợ “hãy chịu khó vác thánh giá”, đó là xúc phạm Thánh Giá. Nếu một người lãnh đạo đối xử bất công với nhân viên hay thành viên cộng đoàn rồi dùng “vâng phục” để khóa miệng họ, đó không phải là linh đạo. Nếu trong một cộng đoàn, người bị tổn thương không được phép nói vì sợ “ảnh hưởng danh dự”, đó không phải là bảo vệ Hội Thánh; đó là đặt hình ảnh tổ chức cao hơn con người. Nếu một người đang bị bạo hành được khuyên phải ở lại chỉ vì “hôn nhân là thánh giá”, thì lời khuyên ấy có thể đẩy họ sâu hơn vào nguy hiểm. Có những lúc vác Thánh Giá chính là rời khỏi nơi đang hủy diệt mình. Có lúc vác Thánh Giá là dám nói sự thật. Có lúc vác Thánh Giá là đi tìm công lý dù biết mình sẽ bị hiểu lầm. Có lúc vác Thánh Giá là bảo vệ trẻ em, người yếu thế, người lệ thuộc, người không tiếng nói. Có lúc vác Thánh Giá là đặt giới hạn rõ ràng với một người đang thao túng mình. Tha thứ không có nghĩa là cho phép sự dữ tiếp tục. Yêu kẻ thù không có nghĩa là giao thêm vũ khí cho kẻ thù đánh mình. Hiền lành không có nghĩa là nhu nhược. Đức Giêsu hiền lành nhưng có lúc Người nói: “Khốn cho các ngươi.” Người tha thứ nhưng vẫn gọi sự giả hình là giả hình. Người nộp mình vì tình yêu nhưng không bao giờ gọi ác là thiện.

Cần phân biệt thánh giá với sự áp bức có thể tránh. Có những thánh giá không thể bỏ: bệnh tật không chữa được, mất mát đã xảy ra, tuổi già, cái chết, một giới hạn không thể thay đổi, hậu quả của một lựa chọn trung thành. Nhưng cũng có nhiều “thập giá” thực ra do con người tạo ra và hoàn toàn có thể được tháo xuống. Nghèo đói vì bất công không phải điều phải lãng mạn hóa. Kỳ thị không phải thánh giá cần duy trì. Bạo lực gia đình không phải trường tu đức. Lạm quyền không phải phương pháp đào tạo. Im lặng cưỡng bức không phải vâng phục. Thánh Giá của Đức Kitô đứng về phía người bị đóng đinh, không đứng về phía kẻ đóng đinh.

  1. CẠM BẪY BA: SO SÁNH THÁNH GIÁ

Một trong những cách nhanh nhất làm tổn thương người đang khổ là so sánh nỗi đau của họ với nỗi đau của người khác. “Có vậy mà buồn”; “Người ta còn khổ hơn con nhiều”; “Cha biết người kia bệnh nặng hơn mà họ vẫn vui”; “Nhà nọ còn nghèo hơn nhà anh”; “Tôi ngày xưa chịu gấp mười mà có than đâu.” Những câu ấy nhiều khi có ý khích lệ, nhưng thường lại khiến người đau cảm thấy nỗi đau của mình không được nhìn nhận. Đau khổ không phải một cuộc thi. Không có huy chương vàng cho người chịu nhiều nhất. Người mẹ mất một đứa con không cần nghe rằng người khác mất hai. Người bị trầm uất không được chữa lành bởi thông tin rằng ngoài kia có người khổ hơn. Người cô đơn không bớt cô đơn vì ta kể về người cô đơn hơn. Người đang bị tổn thương cần trước hết một người ở lại bên cạnh và nói bằng sự hiện diện: “Tôi thấy bạn đang đau.”

Mỗi thánh giá có trọng lượng riêng vì mỗi con người có lịch sử riêng, sức chịu đựng riêng, ký ức riêng, vết thương riêng, nền tảng tâm lý riêng và hoàn cảnh riêng. Một điều nhẹ với người này có thể là tận thế đối với người kia. Một lời phê bình rất nhỏ có thể không đáng gì với người lớn lên trong an toàn, nhưng có thể mở lại cả một tuổi thơ bị nhục mạ nơi người khác. Một thất bại nghề nghiệp với người này chỉ là kinh nghiệm; với người khác nó có thể chạm vào cảm giác vô giá trị đã đeo đẳng họ nhiều năm. Vì vậy, thương xót không vội đo. Chúa Giêsu không đứng trước bà góa Nain mà nói: “Có người còn khổ hơn bà.” Người chạnh lòng. Người không bảo Marta và Maria: “Lazarô rồi cũng sống lại, khóc làm gì.” Người khóc với họ. Điều kỳ diệu của Đức Giêsu là Người biết hết sự thật mà vẫn cho phép người ta đau. Người biết Phục Sinh mà vẫn khóc trước mộ. Người biết Jairô sắp nhận lại con mà vẫn đi cùng ông trong nỗi hoảng loạn. Người biết Phêrô sẽ trở lại mà vẫn nhìn ông sau tiếng gà gáy.

So sánh thánh giá còn có một hình thức tinh vi hơn: dùng đau khổ của mình làm quyền lực đạo đức. “Tôi đã hy sinh cho anh thế nào anh biết không?”; “Tôi chịu đựng cả đời vì các con”; “Tôi đã mất tất cả vì cộng đoàn này.” Nếu không tỉnh thức, thánh giá có thể trở thành vốn liếng để ta bắt người khác mắc nợ. Nhưng Thánh Giá Đức Kitô không phải một hóa đơn Người đưa cho chúng ta sau Phục Sinh. Người không hiện ra và nói: “Các anh biết Tôi đau thế nào không? Từ nay các anh nợ Tôi.” Người hiện ra và nói: “Bình an cho anh em.” Đó là khác biệt giữa hy sinh được thanh luyện trong tình yêu và hy sinh biến thành đòi hỏi. Người thật sự đi qua Thánh Giá với Chúa thường trở nên mềm hơn, không cay độc hơn; cảm thông hơn, không kiêu hãnh hơn; kín đáo hơn về những gì mình chịu, và nhạy cảm hơn với những gì người khác đang mang.

  1. CẠM BẪY BỐN: GIẢ BỘ VUI

Có một thứ đạo đức khiến người ta nghĩ rằng người có đức tin lúc nào cũng phải tươi cười. Bị bệnh vẫn cười. Mất người thân vẫn cười. Bị phản bội vẫn cười. Thất bại vẫn phải nói “tạ ơn Chúa” thật nhanh. Hễ khóc nhiều một chút là bị nghi thiếu niềm tin. Hễ thừa nhận mình mệt là bị bảo chưa phó thác. Đây là một thứ diễn xuất thiêng liêng rất nguy hiểm. Chúa Giêsu không diễn. Người buồn thì nói: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được.” Người khóc thì khóc. Người khát thì nói: “Ta khát.” Người đau vì bị bỏ rơi thì kêu lên: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Kinh Thánh không xóa những câu ấy để bảo vệ hình ảnh Đấng Cứu Thế. Chính vì giữ những câu ấy, Kinh Thánh bảo vệ nhân tính thật của Người và cho phép chúng ta được là người thật trước mặt Thiên Chúa.

Bình an Kitô giáo không đồng nghĩa với trạng thái cảm xúc dễ chịu. Một người có thể khóc mà vẫn bình an sâu xa. Có thể run mà vẫn tín thác. Có thể không hiểu gì mà vẫn không bỏ Chúa. Có thể buồn đến kiệt sức mà vẫn trung thành. Có khi đức tin đẹp nhất không phải là câu “Con vui lắm, Chúa ơi” mà là câu “Con chẳng cảm thấy gì nữa, nhưng con vẫn ở đây.” Có những đêm người tín hữu không hát Alleluia được. Không sao. Giáo Hội có Thứ Sáu Tuần Thánh. Giáo Hội có Thánh Vịnh than van. Giáo Hội có Đức Maria đứng dưới chân Thánh Giá. Giáo Hội hiểu rằng có những giờ người ta chỉ đủ sức đứng, hoặc chỉ đủ sức khóc. Không phải mọi đau buồn đều cần được sửa ngay bằng một câu đạo đức. Có người vừa mất người thân, ta đừng vội nói: “Chúa thương nên gọi về.” Có người vừa nhận chẩn đoán bệnh nặng, ta đừng vội: “Cố vui lên.” Có người bị phản bội, đừng ép họ tha ngay trong một đêm. Nhiều khi điều thánh thiện nhất ta có thể làm chỉ là ngồi cạnh họ trong thinh lặng.

Thánh Giá giải thoát ta khỏi nhu cầu phải giả vờ mạnh. Đấng Cứu Thế đã cho phép mình được Simon vác đỡ. Điều đó thật lạ lùng. Nếu chính Đức Giêsu nhận một đôi vai khác giúp mình trên đường lên Núi Sọ, tại sao ta lại nghĩ mình phải tự vác tất cả mới là đạo đức? Xin giúp đỡ không phải là thất bại. Đi tham vấn tâm lý khi cần không có nghĩa đức tin yếu. Tìm một người để nói chuyện không có nghĩa không biết cầu nguyện. Khóc trước bạn bè không có nghĩa ta mất bình an. Nhiều khi Chúa trả lời lời cầu bằng một Simon thành Kyrênê rất bình thường bước tới và nói: “Để tôi mang với anh một đoạn.”

  1. CẠM BẪY NĂM: TÁCH ĐẠO ĐỨC KHỎI THÁNH GIÁ

Có thể làm nhiều việc đạo đức mà không hề để Thánh Giá chạm vào cái tôi. Ta có thể đọc kinh rất nhiều nhưng không chịu xin lỗi. Có thể đi lễ hằng ngày nhưng không chịu bỏ một mối hận. Có thể làm việc bác ái nhưng vẫn cần người khác biết mình tốt. Có thể nói nhiều về hy sinh nhưng rất khó chấp nhận người khác không làm theo ý mình. Có thể phục vụ Giáo Hội cả đời mà cái tôi vẫn nguyên vẹn, thậm chí còn được nuôi lớn nhờ chính việc phục vụ. Đây là một trong những nghịch lý khó nhận nhất: người ta có thể dùng cả việc đạo đức để trốn Thánh Giá.

Thánh Giá sâu nhất nhiều khi không phải là mất tiền, mất sức hay làm thêm việc. Thánh Giá sâu nhất có thể là để cái tôi chết đi. Xin lỗi khi mình sai. Im lại khi không cần thắng. Chấp nhận một người khác được khen. Không kể công. Không bảo vệ hình ảnh của mình bằng mọi giá. Không trả đũa khi bị xúc phạm. Nhìn vào phần bóng tối của mình thay vì chỉ nhìn lỗi người khác. Dám thừa nhận: “Tôi cũng có thể sai.” Đây mới là nơi gỗ Thánh Giá chạm thật sâu. Làm một việc khó có thể cho ta cảm giác anh hùng. Nhưng xin lỗi một người dưới quyền nhiều khi khó hơn nhịn ăn. Tha thứ cho người làm mình nhục có khi đau hơn ngủ đất. Không nói xấu lại người đang nói xấu mình có khi là một khổ chế lớn hơn nhiều hình thức khổ chế bề ngoài.

Thánh Phaolô nói về việc “đóng đinh tính xác thịt”, không phải đóng đinh thân xác theo nghĩa khinh thân xác, nhưng để cho những động lực vị kỷ chết đi: kiêu căng, ganh tị, tham lam, dâm ô, thù hận, chia rẽ, ham thống trị. Nếu việc đạo đức không đưa ta đến lòng thương xót lớn hơn, sự thật lớn hơn, khiêm nhường lớn hơn, tự do lớn hơn, thì phải xét lại. Nếu sau nhiều năm cầu nguyện mà ta càng dễ khinh người, càng thích xét đoán, càng chắc chắn mình đúng, càng khó xin lỗi, thì có lẽ ta đang tích lũy thói quen tôn giáo chứ chưa chắc đang đi sâu vào mầu nhiệm Thánh Giá. Thánh Giá không trang điểm cho cái tôi đạo đức. Thánh Giá giết cái tôi muốn ngồi ngai.

  1. CẠM BẪY SÁU: CHỜ CẢM XÚC YÊU RỒI MỚI VÁC

Một ảo tưởng khác là nghĩ rằng khi thật sự yêu Thánh Giá, ta sẽ cảm thấy thích thánh giá. Không. Có những thánh giá ta không bao giờ “thích” theo nghĩa cảm xúc. Mất một người thân không trở nên dễ chịu vì ta đạo đức. Bệnh kéo dài không trở nên ngọt ngào chỉ vì ta đã cầu nguyện nhiều. Cô đơn không tự nhiên biến thành một bài hát. Một lời khấn khó sống vẫn khó. Một bổn phận lặp lại vẫn mệt. Một người có tính khí nặng nề vẫn có thể làm ta kiệt sức. Yêu Thánh Giá không phải là biến vị đắng thành vị ngọt trong cảm giác. Nhiều khi tình yêu được chứng minh chính vì cảm giác vẫn đắng mà ta vẫn trung thành.

Chúa Giêsu ở Ghetsêmani không chờ đến khi Người cảm thấy thích chén đắng mới nói “xin vâng”. Lời xin vâng được nói giữa mồ hôi máu. Đây là một chân lý lớn cho đời thiêng liêng: nhiều ngày ta vác trước, yêu sau. Nhiều ngày ta làm điều đúng khi lòng không muốn. Ta cầu nguyện khi khô khan. Ta giữ lời hứa khi cảm xúc đã nguội. Ta chăm sóc một người bệnh khi cơ thể mình cũng mệt. Ta tha thứ bằng một quyết định rất nhỏ dù trái tim chưa theo kịp. Ta ở lại với ơn gọi trong một ngày chẳng cảm thấy vẻ đẹp nào của ơn gọi. Ta đứng dậy đi lễ trong một sáng thấy mọi thứ đều vô nghĩa. Chính trong những giờ ấy, tình yêu từ một cảm xúc trở thành một hành vi tự do.

Cảm xúc không xấu. Cảm xúc là quà tặng. Khi Chúa cho ta niềm vui trong hy sinh, hãy nhận lấy với lòng biết ơn. Nhưng đừng biến cảm xúc thành tiêu chuẩn duy nhất. Có những người tưởng mình mất đức tin vì không còn sốt sắng như trước. Thực ra có thể họ đang bước sang một tầng sâu hơn, nơi đức tin không còn được nâng đỡ nhiều bằng cảm giác. Em bé ôm mẹ vì thích hơi ấm. Người trưởng thành có thể ngồi cạnh mẹ bệnh suốt đêm dù không còn cảm thấy điều gì dễ chịu. Tình yêu trưởng thành không ít cảm xúc hơn vì chai lì, nhưng nó không phụ thuộc hoàn toàn vào cảm xúc. Nó biết ở lại.

  1. CẠM BẪY BẢY: NGHĨ RẰNG MỌI ĐAU KHỔ ĐỀU DO CHÚA GỬI

Một câu nói rất quen trong ngôn ngữ đạo đức là: “Thánh giá Chúa gửi.” Câu ấy có thể diễn tả niềm tin vào sự quan phòng nếu được hiểu cẩn thận. Nhưng nếu dùng không phân định, nó có thể tạo ra một hình ảnh rất đáng sợ về Thiên Chúa. Có phải Chúa gửi tai nạn? Chúa gửi ung thư? Chúa gửi bạo hành? Chúa gửi chiến tranh? Chúa gửi một kẻ lạm dụng vào cuộc đời nạn nhân để họ “nên thánh”? Nếu nói như vậy, chúng ta biến Thiên Chúa thành tác giả trực tiếp của sự dữ. Đức tin Kitô giáo tinh tế hơn thế. Thiên Chúa có thể cho phép những điều Người không muốn như một mục đích; Người có thể hoạt động trong những hoàn cảnh đổ vỡ; Người có thể rút sự lành từ điều ác mà vẫn không gọi điều ác là thiện. Câu chuyện Giuse trong Cựu Ước diễn tả rất đẹp điều ấy: anh em Giuse định làm điều dữ, nhưng Thiên Chúa có thể biến lịch sử ấy thành con đường cứu sống nhiều người. Sự quan phòng không có nghĩa rằng mọi hành động của con người đều là ý muốn tích cực của Thiên Chúa. Nó có nghĩa rằng không một hành động nào của con người mạnh đến mức đẩy lịch sử hoàn toàn ra khỏi tay Người.

Điều này rất quan trọng khi đồng hành với người đau. Có những lời giải thích thần học nói quá sớm có thể làm họ đau thêm. Một người mẹ mất con không cần ta giải thích ngay tại sao Chúa “cho phép”. Một nạn nhân bạo lực không cần nghe rằng Chúa có chương trình. Có thời điểm cho thần học, và có thời điểm cho nước mắt. Trên Núi Sọ, Đức Maria không nhận một bài giảng giải thích tại sao điều này cần xảy ra. Mẹ đứng. Đôi khi sự hiện diện khiêm tốn là hình thức thần học đúng nhất.

  1. CẠM BẪY TÁM: BIẾN THÁNH GIÁ THÀNH CÔNG THỨC GIẢI THÍCH MỌI SỰ

Một nguy hiểm nữa là dùng Thánh Giá như câu trả lời quá nhanh cho mọi câu hỏi. Người ta hỏi vì sao người lành đau khổ, ta đáp: Thánh Giá. Người ta hỏi vì sao cầu nguyện mãi không được, ta đáp: Thánh Giá. Người ta khủng hoảng, ta đáp: Thánh Giá. Người ta bị áp bức, ta đáp: Thánh Giá. Người ta mất đức tin, ta đáp: cứ vác Thánh Giá. Nhưng Thánh Giá không phải một từ để bịt miệng câu hỏi. Chính Đức Giêsu trên Thánh Giá còn hỏi: “Tại sao?” Câu hỏi không xúc phạm đức tin. Có những điều không có một đáp án gọn gàng ở đời này. Trưởng thành thiêng liêng là học sống với mầu nhiệm mà không nhét mầu nhiệm vào một câu trả lời đơn giản.

Có những người đau không phải vì họ thiếu câu trả lời, nhưng vì họ thiếu một người đồng hành. Gióp có những người bạn nói rất nhiều điều thần học. Bi kịch là họ dùng thần học để chứng minh rằng Gióp chắc chắn phải có lỗi. Cuối cùng, chính Thiên Chúa khiển trách lối nói về Người quá dễ dàng ấy. Đôi khi ta cũng giống bạn của Gióp: ta sợ sự bất lực của mình trước nỗi đau người khác nên vội giải thích. Nhưng tình yêu có thể chịu được sự bất lực. Có những lúc câu thành thật nhất là: “Tôi không biết tại sao điều này xảy ra. Nhưng tôi sẽ không để anh đi qua nó một mình.”

  1. CẠM BẪY CHÍN: LẤY KHẢ NĂNG CHỊU ĐAU LÀM THƯỚC ĐO THÁNH THIỆN

Trong lịch sử linh đạo có những vị thánh chịu đau rất phi thường. Đọc về các ngài, ta có thể bị cám dỗ nghĩ rằng càng chịu được nhiều càng thánh. Nhưng ơn gọi của mỗi người khác nhau. Không phải ai cũng được gọi vào cùng một hình thức khổ chế. Không phải ai cũng có cùng sức khỏe tâm lý và thể lý. Một người cần ngủ tám giờ không kém thánh hơn người chỉ ngủ năm giờ. Một người cần điều trị thuốc men không yếu đức tin hơn người không cần. Một người dễ khóc không kém can đảm hơn người ít khóc. Thiên Chúa không chấm điểm con cái Người bằng số đau họ chịu được.

Thánh thiện không phải khả năng chịu đau; thánh thiện là khả năng yêu trong sự thật. Có người chịu được rất nhiều nhưng trở nên cứng cỏi. Có người chỉ mang một thánh giá nhỏ theo mắt người đời mà lại mang nó với tình yêu sâu xa. Trong Đền Thờ, bà góa bỏ hai đồng tiền nhỏ nhưng Đức Giêsu nhìn thấy tất cả. Chúa nhìn tỷ lệ của trái tim, không chỉ nhìn kích thước của hy sinh.

  1. CẠM BẪY MƯỜI: DÙNG THÁNH GIÁ ĐỂ HỢP THỨC HÓA VIỆC BỎ BÊ BẢN THÂN

Có những người tốt đến mức không biết nói “không”. Họ nhận hết việc. Ai nhờ cũng làm. Ai cần cũng có mặt. Họ tưởng kiệt sức là dấu mình quảng đại. Cuối cùng họ cạn, cay đắng, mệt mỏi, mất khả năng yêu và đôi khi đổ bệnh. Rồi họ vẫn gọi đó là Thánh Giá. Nhưng không phải mọi kiệt sức đều đến từ lòng trung thành. Có kiệt sức đến từ việc không biết giới hạn. Chúa Giêsu phục vụ đám đông nhưng cũng rút vào nơi hoang vắng. Người chữa nhiều người nhưng không chữa mọi người trong toàn cõi Israel. Người có ba mươi ba năm sống trần thế, nhưng Người không cố hoàn tất mọi nhu cầu của thế giới trước khi chết. Đây là một bài học quan trọng về giới hạn.

Nhận giới hạn của mình cũng là vác Thánh Giá. Có người khó nói “không” vì sợ người khác không thích mình. Có người làm việc không ngừng vì căn tính của họ dựa trên việc được cần đến. Có người giúp tất cả mọi người vì nếu ngừng lại họ sẽ phải đối diện với khoảng trống bên trong. Như thế, điều xem ra là hy sinh đôi khi che một nhu cầu sâu kín. Thánh Giá thanh luyện cả sự phục vụ. Người môn đệ không chỉ hỏi: “Việc này có tốt không?” mà còn hỏi: “Đây có phải là điều Chúa mời tôi làm không?” Không phải mọi nhu cầu trước mắt đều là ơn gọi của ta.

  1. CẠM BẪY MƯỜI MỘT: YÊU HÌNH ẢNH NGƯỜI VÁC THÁNH GIÁ HƠN CHÍNH ĐỨC KITÔ

Đây là một cám dỗ rất tinh vi. Ta có thể yêu hình ảnh mình là người hy sinh. Ta thích được nghĩ là mình chịu nhiều. Ta kể lại những vất vả của mình với một niềm tự hào kín đáo. Ta thấy mình đạo đức vì đời mình nhiều thử thách. Dần dần, Thánh Giá không còn dẫn ta ra khỏi cái tôi mà lại trở thành một bệ cao mới cho cái tôi đứng lên. Người chịu nhiều có thể bắt đầu khinh người sống dễ hơn. Người hy sinh nhiều có thể thấy mình có quyền xét đoán người ít hy sinh. Thế là chính Thánh Giá bị dùng để xây tượng cho bản ngã.

Đức Kitô thì ngược lại. Người “hủy mình ra không”, không phải để người ta ngưỡng mộ sự chịu đựng của Người, nhưng để ban sự sống. Thánh Giá thật luôn làm con người tự do khỏi nhu cầu được thấy. Một hy sinh càng sâu nhiều khi càng kín. Một người mẹ thức đêm bên con không cần thế giới biết. Một tu sĩ trung thành trong âm thầm không cần bảng ghi công. Một linh mục vẫn cầu nguyện cho những người hiểu lầm mình mà không nhắc lại chuyện ấy có thể đang ở rất gần Thánh Giá. Điều lớn nhất không phải người khác biết mình đã chịu gì. Điều lớn nhất là giữa những gì mình chịu, trái tim mình có trở nên giống trái tim Chúa hay không.

  1. CẠM BẪY MƯỜI HAI: QUÊN RẰNG THÁNH GIÁ CỦA CHÚA LUÔN HƯỚNG VỀ NGƯỜI KHÁC

Thánh Giá không phải hành động tự hủy. Nó là tự hiến. Hai điều ấy rất khác. Tự hủy nói: “Tôi chẳng đáng gì.” Tự hiến nói: “Tôi có một sự sống quý giá và tôi tự do trao nó vì yêu.” Đức Giêsu không chết vì Người ghét mình. Người chết vì Người yêu. Người biết mình là Con yêu dấu của Cha. Chính từ căn tính vững chắc ấy Người có thể tự hiến hoàn toàn. Vì vậy, linh đạo Thánh Giá không dạy người ta khinh mình. Người không biết mình được yêu rất dễ biến hy sinh thành tự trừng phạt. Nhưng người biết mình là con được yêu có thể trao đi mà không tiêu diệt phẩm giá của mình.

“Yêu người thân cận như chính mình” giả thiết có một tình yêu đúng đắn đối với chính mình. Tự chăm sóc không đối nghịch với tự hiến. Đôi khi ngủ đủ là để ngày mai yêu người khác tốt hơn. Đi chữa lành vết thương tâm lý có thể là một hành vi trách nhiệm đối với cộng đoàn. Đặt một ranh giới có thể bảo vệ cả mình và người kia khỏi tiếp tục một mối quan hệ bệnh hoạn. Thánh Giá không hủy nhân vị; Thánh Giá làm nhân vị trở thành quà tặng.

  1. CẠM BẪY MƯỜI BA: THA THỨ QUÁ NHANH MÀ KHÔNG ĐI QUA SỰ THẬT

Trong linh đạo Thánh Giá, tha thứ là trung tâm. Đức Giêsu tha thứ ngay trên Thánh Giá. Nhưng điều ấy không có nghĩa rằng trong mọi hoàn cảnh con người có thể hoặc nên nhảy qua tất cả tiến trình chữa lành và tuyên bố “tôi tha rồi” chỉ vì sợ mình không đủ đạo đức. Có sự tha thứ bằng ý chí nhưng cảm xúc cần nhiều năm để theo kịp. Có những vết thương phải được gọi đúng tên trước khi được chữa. Có tội phải được thú nhận. Có thiệt hại phải được bồi thường. Có công lý cần được thực hiện. Tha thứ không xóa sự thật. Thật ra chỉ có thể tha thứ điều đã được nhận diện là điều sai.

Nếu một người ép mình tha quá nhanh, họ có thể chỉ đang chôn cơn giận. Sau đó cơn giận trở lại dưới hình thức khác: lạnh lùng, bệnh tật, cay đắng, tự trách. Đức tin không đòi ta giả vờ rằng không có gì xảy ra. Tha thứ là giao quyền trả thù cho Thiên Chúa và từ chối để sự dữ của người khác biến mình thành một người bị sự dữ cai trị. Nhưng tha thứ có thể đồng hành với khoảng cách. Có thể tha mà không trở lại một mối quan hệ nguy hiểm. Có thể tha mà vẫn tố giác tội phạm. Có thể tha mà vẫn yêu cầu trách nhiệm. Chúa Giêsu tha kẻ đóng đinh Người nhưng Thánh Giá vẫn phơi bày tội của thế gian.

  1. CẠM BẪY MƯỜI BỐN: QUÊN SIMON, VERONICA VÀ NHỮNG NGƯỜI ĐỨNG DƯỚI CHÂN THẬP GIÁ

Khi nói về vác thập giá, ta dễ hình dung một người hùng cô độc. Nhưng đường Thánh Giá của Đức Giêsu không hoàn toàn cô độc. Có Simon vác đỡ. Có những phụ nữ khóc. Có người môn đệ yêu dấu. Có Mẹ Người đứng gần. Có Giuse Arimathê tháo xác. Có Nicôđêmô mang hương liệu. Đây là một Tin Mừng rất đẹp: ngay cả Thánh Giá của Con Thiên Chúa cũng có những bàn tay người khác chạm vào. Vì vậy, người môn đệ không được lãng mạn hóa sự cô độc.

Có những lúc ta cần nói: “Tôi không mang nổi nữa.” Câu ấy không làm ta bớt là môn đệ. Có khi chính nó mở cửa để Hội Thánh trở thành Hội Thánh. Nếu không ai bao giờ nói mình cần giúp, Simon sẽ không bao giờ có cơ hội vác đỡ. Nếu tất cả đều giả bộ mạnh, cộng đoàn chỉ là một sân khấu của những người kiệt sức. Hội Thánh dưới chân Thánh Giá là nơi người yếu được phép yếu và người mạnh dùng sức để đỡ chứ không phán xét.

  1. CẠM BẪY MƯỜI LĂM: DỪNG Ở THỨ SÁU TUẦN THÁNH

Có một linh đạo Thánh Giá quá say mê thương khó đến mức gần như quên Phục Sinh. Mọi thứ đều buồn. Mọi bài giảng đều nói về chịu đựng. Mọi niềm vui đều bị nghi ngờ. Mọi ước mơ đều bị gọi là thế tục. Nhưng Thánh Giá Kitô giáo không đứng một mình. Cây Thánh Giá được nhìn trong ánh sáng ngôi mộ trống. Đấng chịu đóng đinh cũng chính là Đấng Phục Sinh. Và Đấng Phục Sinh vẫn mang các vết thương. Đây là sự cân bằng tuyệt đẹp: Phục Sinh không xóa Thánh Giá, nhưng Thánh Giá cũng không có tiếng cuối.

Người Kitô hữu không yêu Thánh Giá để ở lại mãi trong đau. Họ đi qua Thánh Giá về phía sự sống. Người bệnh hy vọng chữa lành. Người bị áp bức hy vọng tự do. Người tội lỗi hy vọng hoán cải. Người mất người thân hy vọng gặp lại. Người ở trong đêm tối hy vọng bình minh. Nếu lời rao giảng về Thánh Giá không sinh hy vọng, điều gì đó đã sai. Nếu người nghe xong chỉ cảm thấy phải chịu thêm, phải im thêm, phải đau thêm mà không thấy Thiên Chúa đang mở một con đường sự sống, ta cần xét lại cách mình nói.

  1. CẠM BẪY MƯỜI SÁU: NÓI VỀ THÁNH GIÁ CỦA NGƯỜI KHÁC DỄ HƠN VÁC THÁNH GIÁ CỦA MÌNH

Thật dễ giảng về đau khổ khi mình không phải người đang đau. Dễ khuyên kiên nhẫn khi mình không phải người chờ. Dễ nói tha thứ khi mình không bị phản bội. Dễ nói nghèo khó khi mình có an toàn. Dễ nói vâng phục khi mình đang ở vị trí ra lệnh. Vì vậy, bất kỳ ai giảng về Thánh Giá đều phải run một chút. Không phải run vì sợ chân lý, nhưng vì biết chân lý này đã được viết bằng máu. Nói về Thánh Giá cần lòng khiêm tốn. Ta không đứng trên Núi Sọ với tư cách chuyên gia. Ta đứng dưới chân Thánh Giá như một người cũng cần được cứu.

Một linh mục giảng cho người bệnh nên nhớ ngày chính mình sẽ nằm trên giường bệnh. Người khỏe nói với người yếu nên nhớ sức khỏe không phải sở hữu vĩnh viễn. Người lãnh đạo nói về vâng phục nên tự hỏi mình có biết vâng phục sự thật hay không. Người khuyên người khác tha thứ nên nhìn xem mình còn giữ ai trong danh sách những người không muốn tha. Thánh Giá trước hết phải đi qua người giảng rồi mới đi đến người nghe.

  1. CẠM BẪY MƯỜI BẢY: TƯỞNG RẰNG YÊU THÁNH GIÁ LÀ PHẢI CÓ NHỮNG THÁNH GIÁ LỚN

Có người mong một đời thiêng liêng anh hùng. Họ tưởng phải bệnh nặng, bị bách hại, bị hiểu lầm lớn, trải qua những thử thách phi thường thì mới thực sự sống linh đạo Thánh Giá. Nhưng phần lớn thánh giá đời người không lớn. Nó rất nhỏ và rất lặp lại. Đợi một người chậm. Nhịn một lời. Dậy khi chuông báo. Giữ một lời hứa. Làm công việc chẳng ai khen. Chăm một người già hỏi cùng một câu lần thứ mười. Kiên nhẫn với chính mình. Không bấm “gửi” một tin nhắn viết trong cơn giận. Xin lỗi trước. Nhường một chỗ. Giữ bí mật người khác. Làm lại việc hôm qua đã làm. Những thanh gỗ nhỏ ấy ghép thành cây thập giá của đời sống.

Cạm bẫy là ta tìm một Núi Sọ tưởng tượng mà bỏ qua nhà Nazareth. Ta muốn chết cho Chúa một lần thật lớn nhưng không chịu chết cho cái tôi một trăm lần mỗi ngày. Các thánh không trở thành thánh nhờ một khoảnh khắc duy nhất. Trước những hành vi anh hùng, có vô số lần trung thành không ai thấy.

  1. CẠM BẪY MƯỜI TÁM: QUÊN RẰNG THÁNH GIÁ LÀ MẦU NHIỆM TÌNH YÊU TRƯỚC KHI LÀ MẦU NHIỆM ĐAU KHỔ

Đây có lẽ là cạm bẫy bao trùm tất cả. Nếu nhìn Thánh Giá và thấy đau trước khi thấy yêu, ta sẽ sớm hiểu sai. Trên Núi Sọ có đau khổ, nhưng đau khổ không phải trung tâm. Trung tâm là một Người yêu cho đến cùng. Máu chỉ có ý nghĩa vì là máu của tình yêu được trao. Đinh chỉ được biến đổi vì những bàn tay bị đinh ấy vẫn mở. Cái chết chỉ được chiến thắng vì Đấng chết là Đấng tự hiến trong tình yêu và được Cha làm cho sống lại.

Cho nên, câu hỏi khi đứng trước thánh giá của đời mình không phải trước hết là: “Làm sao tôi chịu được?” mà là: “Trong điều này, tôi được mời yêu thế nào?” Có lúc yêu là chịu. Có lúc yêu là chiến đấu. Có lúc yêu là ở lại. Có lúc yêu là ra đi. Có lúc yêu là im lặng. Có lúc yêu là lên tiếng. Có lúc yêu là tha thứ. Có lúc yêu là đặt ranh giới. Có lúc yêu là cho. Có lúc yêu là nhận. Có lúc yêu là mạnh. Có lúc yêu là thú nhận mình yếu. Không có một công thức duy nhất ngoài Đức Kitô.

KẾT: YÊU THÁNH GIÁ LÀ YÊU CHÚA GIÊSU TRÊN THÁNH GIÁ

Cuối cùng, Kitô hữu không được gọi để yêu hai thanh gỗ. Ta được gọi yêu Đấng treo trên đó. Và vì yêu Người, ta học nhìn mọi thánh giá trong đời qua đôi mắt của Người. Ta không săn tìm đau khổ, nhưng khi đau khổ đến, ta xin đừng để nó tách mình khỏi tình yêu. Ta không chấp nhận bất công, nhưng khi chống lại bất công phải trả giá, ta chấp nhận cái giá ấy. Ta không giả bộ vui, nhưng giữa nước mắt vẫn giữ một sợi dây rất mỏng nối mình với Thiên Chúa. Ta không đo thánh giá người khác. Ta không dùng lời đạo đức làm họ đau thêm. Ta không lấy hy sinh của mình để bắt ai mắc nợ. Ta không thần tượng sức chịu đựng. Ta không nghĩ mình thánh vì đời mình khó. Ta chỉ xin một điều khi ngày mới bắt đầu: “Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, hôm nay xin dạy con yêu như Chúa.”

Có những ngày lời cầu ấy dẫn ta đến một hy sinh. Có ngày nó dẫn ta đến một cuộc nghỉ ngơi cần thiết. Có ngày nó dẫn ta đến bệnh viện. Có ngày nó dẫn ta đến tòa giải tội. Có ngày nó dẫn ta đến một cuộc đối thoại khó. Có ngày nó dẫn ta đến việc nói “xin lỗi”. Có ngày nó dẫn ta đến việc nói “không”. Có ngày nó dẫn ta đến bên một người hấp hối. Có ngày nó dẫn ta về nhà sớm để ngồi với gia đình. Có ngày nó dẫn ta vào nhà nguyện chỉ để khóc. Thánh Giá không nằm trong hình thức bên ngoài. Thánh Giá nằm ở chỗ tình yêu được chọn khi cái tôi muốn một con đường khác.

Và có lẽ dấu chắc chắn nhất cho thấy một người đang học yêu Thánh Giá không phải là người ấy nói nhiều hơn về đau khổ, nhưng là người ấy trở nên thương xót hơn. Người ấy bớt xét đoán. Bớt khoe mình mạnh. Bớt vội cho lời khuyên. Bớt dùng Thiên Chúa để giải thích những điều mình không hiểu. Người ấy có thể ngồi lâu hơn bên người đau. Có thể nghe mà không sửa. Có thể khóc mà không xấu hổ. Có thể đấu tranh chống bất công mà không nuôi hận thù. Có thể tha thứ mà không gọi điều sai là đúng. Có thể nhận giúp đỡ. Có thể cảm ơn một Simon. Có thể đứng cạnh một Đức Maria. Có thể hy vọng khi trời vẫn tối.

Thánh Giá chân thật không làm ta yêu đau khổ. Thánh Giá làm ta yêu đến mức ngay cả đau khổ cũng không còn có quyền bắt ta ngừng yêu. Và đó chính là chiến thắng của Đức Kitô: không phải vì Người đã đau nhiều hơn mọi người, nhưng vì không điều gì—đinh, roi, nhục mạ, phản bội, cô đơn, cái chết—có thể làm Người ngừng yêu. Khi tình yêu không ngừng được nữa, sự chết đã bắt đầu thua. Khi lòng thương xót vẫn còn chảy từ cạnh sườn bị đâm, hỏa ngục đã bắt đầu mất quyền. Khi giữa bóng tối vẫn vang lên lời trao phó: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha”, cây Thánh Giá đã bắt đầu trở thành cây sự sống.

Vì thế, học yêu Thánh Giá cuối cùng là học yêu như Chúa Giêsu: yêu mà không nói dối về đau; yêu mà không dung túng sự dữ; yêu mà không chạy theo cảm xúc; yêu mà không cần được khen; yêu mà biết khóc; yêu mà biết nhận trợ giúp; yêu mà dám hy vọng; yêu người khác nhưng cũng kính trọng phẩm giá Thiên Chúa đặt trong chính mình; yêu cho đến khi sự dữ không còn quyết định ta sẽ trở thành người thế nào. Đó là linh đạo Thánh Giá lành mạnh. Đó là Thánh Giá không bị bóp méo. Đó là cây gỗ trên đó con người không học cách chết vì tuyệt vọng, nhưng học cách trao mình trong tình yêu và chờ đợi bình minh Phục Sinh.

CHƯƠNG XVIII. THÁNH GIÁ GIỮA THỜI ĐẠI SỐ VÀ KỶ NGUYÊN TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

Có lẽ chưa bao giờ con người được nối với nhau nhiều như hôm nay, và cũng có lẽ chưa bao giờ người ta lại dễ cảm thấy cô đơn đến thế. Chỉ cần một chiếc điện thoại nhỏ trong lòng bàn tay, ta có thể nhìn thấy một người ở bên kia địa cầu, nghe giọng nói của họ, biết họ đang ăn gì, đi đâu, nghĩ gì, vui điều gì, buồn chuyện gì; ta có thể bước vào một cuộc họp không cần rời căn phòng, có thể gửi một lời chúc trong một giây, có thể đọc hàng nghìn trang sách mà không cần bước vào thư viện, có thể hỏi một hệ thống trí tuệ nhân tạo và nhận về trong vài khoảnh khắc một lượng thông tin mà trước đây phải mất nhiều ngày tìm kiếm. Nhưng chính giữa thế giới đầy kết nối ấy, một câu hỏi rất cũ vẫn còn nguyên: ai sẽ ở lại với tôi khi tôi đau? Ai sẽ hiểu tôi khi tôi không còn gì hấp dẫn để đăng? Ai sẽ yêu tôi khi hình ảnh của tôi không còn đẹp, thành tích của tôi không còn đáng kể, sự hiện diện của tôi không còn tạo tương tác, và tên tuổi của tôi không còn xuất hiện trên bất cứ dòng thời gian nào? Thời đại số đã thay đổi rất nhiều hình thức của đời sống, nhưng nó không xóa được câu hỏi của trái tim. Trái lại, đôi khi công nghệ chỉ làm cho câu hỏi ấy vang lớn hơn. Và chính ở đó, Thánh Giá bước vào thời đại số không phải như một biểu tượng cổ xưa bị bỏ lại phía sau lịch sử, nhưng như một ánh sáng có khả năng vạch trần những ảo tưởng mới của con người và chỉ cho chúng ta một con đường sống thật. Thánh Giá nói với con người hôm nay rằng giá trị của một người không nằm ở số người theo dõi họ, không nằm ở số lượt thích, không nằm ở khả năng được nhìn thấy, không nằm ở mức độ hiệu quả, cũng không nằm ở tốc độ phản hồi của họ. Trên đồi Canvê, Chúa Giêsu không còn gì để chứng minh. Người không còn phép lạ để làm trước đám đông, không còn diễn từ để khiến người nghe kinh ngạc, không còn đoàn người chen nhau đi theo, không còn tiếng tung hô “Hoan hô Con vua Đavít”. Trên Thánh Giá, Người bị lấy mất gần như mọi thứ mà thế gian thường dùng để định nghĩa thành công: ảnh hưởng, uy tín, khả năng hành động, tự do di chuyển, vẻ đẹp thân xác, quyền kiểm soát, sự công nhận. Vậy mà chính lúc tưởng như chẳng còn gì, tình yêu của Người lại được biểu lộ trọn vẹn nhất. Đây là nghịch lý mà thời đại hiệu năng rất khó hiểu: có những giây phút một con người không làm được gì mà vẫn vô cùng quý giá; có những người không còn sản xuất được gì mà vẫn đáng được yêu; có những cuộc đời yếu đuối, già nua, bệnh tật, chậm chạp, khuyết tật, không “tối ưu” theo tiêu chuẩn nào của máy móc, nhưng trước mặt Thiên Chúa vẫn mang một phẩm giá bất khả xâm phạm. Thánh Giá phá vỡ thứ não trạng âm thầm nhưng rất mạnh của thời kỹ thuật số: nếu anh hữu ích, anh có giá trị; nếu anh được chú ý, anh tồn tại; nếu anh có ảnh hưởng, anh quan trọng; nếu anh được nhiều người đồng thuận, anh đúng; nếu anh nhanh hơn, anh tốt hơn. Không. Con người không phải một sản phẩm phải liên tục cập nhật phiên bản để giữ giá trị. Con người là một ngôi vị được Thiên Chúa yêu trước khi làm được bất cứ điều gì. Một trẻ thơ chưa biết nói đã đáng yêu. Một người già mất trí vẫn đáng kính. Một người bệnh nằm im trên giường không tạo ra năng suất nào vẫn có phẩm giá trọn vẹn. Một linh mục già không còn giảng hay như xưa vẫn là người được Chúa yêu. Một người mẹ kiệt sức không còn sức chăm chút hình ảnh vẫn đẹp trong mắt Thiên Chúa. Một người trẻ thất nghiệp không vì thế mà trở thành người vô dụng. Một người thất bại trong sự nghiệp không vì vậy mà mất quyền ngẩng đầu. Thánh Giá đứng giữa thời đại số để nhắc lại một chân lý mà thuật toán không thể tính được: phẩm giá không phải thứ được tạo ra bằng thành tích; phẩm giá được đón nhận như quà tặng.

Một trong những thánh giá lớn nhất của thời đại số là cô đơn giữa kết nối. Ta có hàng trăm, hàng nghìn “bạn”, nhưng có thể không có một người để gọi lúc nửa đêm khi lòng mình vỡ vụn. Ta có thể nhận hàng trăm lời chúc sinh nhật tự động nhưng không có ai biết hôm đó ta đang khóc. Ta có thể trò chuyện liên tục mà không thực sự được lắng nghe. Ta có thể kể về mình rất nhiều mà vẫn chưa từng được ai gặp trong sự thật. Mạng xã hội tạo ra một nghịch lý kỳ lạ: con người xuất hiện thường xuyên hơn nhưng lại dễ giấu mình sâu hơn. Ta học cách cho người khác thấy điều ta muốn họ thấy. Một góc máy đẹp có thể che một căn phòng hỗn độn. Một nụ cười có thể che một cuộc hôn nhân đang rạn. Một dòng chữ đạo đức có thể che một trái tim đầy cay đắng. Một bài đăng về bình an có thể được viết bởi một người đang hoảng loạn. Một bức ảnh cộng đoàn rất vui có thể che những khoảng cách chưa được hòa giải. Và rồi chính người đăng cũng có thể trở thành tù nhân của hình ảnh mình tạo ra. Họ không còn sống nữa; họ phải duy trì hình ảnh về một người đang sống tốt. Họ không còn cầu nguyện; họ phải cho người khác thấy rằng mình là người cầu nguyện. Họ không còn phục vụ; họ phải có bằng chứng rằng mình đang phục vụ. Họ không còn vui; họ phải xuất hiện như đang vui. Khi ấy, Thánh Giá trở thành một lời giải thoát rất lạ: trên Thánh Giá, Chúa Giêsu không quản trị hình ảnh của mình. Người để người ta thấy Người yếu. Người để người ta thấy Người khát. Người để người ta nghe tiếng Người kêu. Người không dựng một hình ảnh anh hùng vô cảm. Người không che sự đau đớn bằng một mặt nạ thiêng liêng. Người không nói: “Tôi ổn” khi Người đang bị đóng đinh. Người kêu: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Chính sự thật trần trụi ấy cứu chúng ta khỏi cuộc đời phải liên tục trình diễn. Yêu mến Thánh Giá trong thời đại số trước hết có thể là học lại quyền được sống một đời không phải lúc nào cũng được trình bày. Có những điều không cần đăng. Có những niềm vui chỉ cần Chúa biết. Có những việc tốt không cần chụp hình. Có những lần hy sinh không cần kể. Có những giờ cầu nguyện không cần chứng minh. Có những nước mắt không cần biến thành nội dung. Có những cuộc gặp phải được bảo vệ khỏi máy ảnh để còn thật sự là gặp gỡ. Có những người nghèo cần được phục vụ chứ không cần trở thành hậu cảnh cho hình ảnh bác ái của chúng ta. Có những phút linh thiêng chỉ còn linh thiêng nếu ta không lập tức biến chúng thành một sản phẩm truyền thông. Đức Giêsu đã nói: “Đừng để tay trái biết việc tay phải làm.” Lời ấy trong thời đại số có thể được nghe lại như một lời mời rất mạnh: hãy để trong đời mình còn một vùng không thuộc về công chúng, một vùng chỉ thuộc về Thiên Chúa và lương tâm.

Một thánh giá khác của thời đại này là so sánh không ngừng. Ngày xưa, một người có thể so mình với vài người trong làng, vài đồng nghiệp, vài người thân. Hôm nay, chỉ trong mười phút lướt mạng, một người có thể so thân hình của mình với hàng trăm người đẹp nhất thế giới, so căn nhà của mình với những căn nhà được trang trí hoàn hảo, so đời sống gia đình của mình với những khoảnh khắc hạnh phúc được chọn lọc, so việc mục vụ của mình với những người có hàng triệu lượt xem, so bài giảng của mình với những diễn giả xuất sắc, so đời tu của mình với những khuôn mặt lúc nào cũng bình an trên màn hình, so giáo xứ của mình với những cộng đoàn có cơ sở vật chất tuyệt đẹp, so khả năng của mình với một trí tuệ nhân tạo có thể viết trong vài giây điều mình mất nhiều giờ mới làm được. So sánh liên tục ăn dần bình an. Nó làm ta quên ơn gọi riêng. Nó khiến ta sống đời người khác trong tưởng tượng và khinh nhẹ mảnh đất Chúa đã trao cho mình. Phêrô từng hỏi Chúa Giêsu về Gioan: “Còn người này thì sao?” Chúa trả lời rất rõ: “Phần anh, hãy theo Thầy.” Đó là một câu cần được viết lên màn hình của mỗi người môn đệ hôm nay. Phần anh, hãy theo Thầy. Đừng sống theo thuật toán của sự so sánh. Đừng để thành công của người khác trở thành lời kết án đời mình. Đừng để vẻ đẹp của người khác khiến mình ghét thân xác mình. Đừng để sự nổi tiếng của người khác làm mình nghi ngờ ơn gọi âm thầm. Đừng để một bài giảng có hàng triệu lượt xem làm mình coi thường mười người đang ngồi trước mặt. Một linh mục trung thành với một cộng đoàn nhỏ không thấp hơn một người có ảnh hưởng lớn trên mạng. Một người mẹ âm thầm thức đêm bên đứa con bệnh không nhỏ bé trước mặt Thiên Chúa hơn bất kỳ nhân vật nổi tiếng nào. Một tu sĩ không ai biết tên nhưng trung thành với giờ kinh, với người nghèo, với cộng đoàn, có thể đang đứng rất gần Thánh Giá. Thiên Chúa không hỏi ta tại sao không sống cuộc đời của người khác. Người hỏi ta đã làm gì với nén bạc, con người, hoàn cảnh, giới hạn và sứ mạng Người trao cho chính ta.

Thời đại số còn mang một thánh giá tinh vi hơn: thông tin quá nhiều làm tan sự hiện diện. Ta biết rất nhiều nhưng ở rất ít. Ta đọc tin về chiến tranh trong bữa cơm mà không nhìn người đang ngồi trước mặt. Ta xem một video cảm động về tình thân rồi trả lời cộc lốc với mẹ mình. Ta chia sẻ một câu rất đẹp về lòng thương xót nhưng không chịu nghe một người đang cần được lắng nghe. Ta theo dõi đau khổ của cả thế giới đến mức trở nên tê liệt trước đau khổ trong nhà. Ta có thể biết chuyện xảy ra ở năm châu trong vài phút nhưng không biết hôm nay người sống cùng mình có đang buồn hay không. Một trong những cám dỗ lớn của kỹ thuật số là tưởng rằng biết về một điều đồng nghĩa với đã hiện diện với điều ấy. Không. Biết một người đang đau không giống như ngồi bên họ. Bấm biểu tượng cầu nguyện không hoàn toàn giống như thực sự cầu nguyện. Gửi một trái tim không giống như dành thời gian. Đọc một bài về người nghèo không giống như chạm vào một bàn tay nghèo. Thánh Giá là mặc khải của một Thiên Chúa không cứu con người từ xa. Ngôi Lời đã làm người. Thiên Chúa không gửi cho nhân loại một thông điệp từ trời rồi thôi. Người đến. Người ở giữa. Người ăn. Người đi bộ. Người chạm vào người phong. Người khóc trước mộ Ladarô. Người ngồi với người tội lỗi. Người để Gioan tựa đầu vào ngực. Người để Tôma chạm vào vết thương. Kitô giáo vì thế là tôn giáo của nhập thể, nghĩa là tôn giáo của sự hiện diện. Công nghệ có thể nối những người ở xa; đó là một ân huệ lớn. Nhưng công nghệ không được phép khiến ta trở thành người vắng mặt với những người ở gần. Một dấu hiệu rất thực của việc yêu Thánh Giá trong thời kỹ thuật số có thể chỉ đơn giản là đặt điện thoại xuống khi một người đang nói với mình. Nhìn vào mắt họ. Không lén kiểm tra thông báo. Không vừa nghe vừa gõ. Không để một tín hiệu rung nhỏ có quyền lực hơn một con người đang trao lòng họ cho mình. Có khi thánh giá hôm nay không phải việc lớn lao. Thánh giá có thể là chịu đựng sự “khó chịu” của việc không kiểm tra điện thoại trong một giờ để ở trọn với gia đình. Thánh giá có thể là không mang màn hình vào bàn ăn. Thánh giá có thể là tắt điện thoại trong giờ cầu nguyện. Thánh giá có thể là để một tin nhắn chờ trong khi ta đang ở với một người đau khổ. Thánh giá có thể là chấp nhận không biết ngay mọi chuyện đang xảy ra để hiện diện trọn vẹn với việc Chúa đang đặt trước mắt.

Thời đại trí tuệ nhân tạo đưa đến một câu hỏi còn sâu hơn: điều gì trong đời người có thể trao cho máy, và điều gì không được phép trao? Máy có thể tính nhanh hơn ta. Máy có thể nhớ nhiều hơn ta. Máy có thể xử lý khối dữ liệu khổng lồ. Máy có thể giúp dịch ngôn ngữ, tổng hợp tài liệu, gợi ý cấu trúc, phát hiện mẫu, hỗ trợ học tập, giúp bác sĩ nhìn thấy những tín hiệu mà mắt thường có thể bỏ qua, giúp người khuyết tật giao tiếp dễ hơn, hỗ trợ người làm mục vụ chuẩn bị công việc tốt hơn, giúp tiết kiệm những giờ lao động cơ học. Những điều ấy có thể trở thành quà tặng nếu được dùng đúng. Kitô giáo không sợ công cụ chỉ vì công cụ mới. Cây bút từng là công nghệ. Máy in từng làm thế giới thay đổi. Radio, truyền hình, internet từng mở ra những câu hỏi rất lớn. Trí tuệ nhân tạo cũng phải được đặt trong dòng dài của khả năng sáng tạo mà Thiên Chúa ban cho con người. Nhưng có một cám dỗ mới: vì máy có thể giúp rất nhiều, ta bắt đầu để máy quyết những điều chỉ lương tâm sống động trước mặt Thiên Chúa mới có thể quyết. Ta hỏi máy xem mình nên yêu ai, nên tha ai, nên bỏ ai, nên chọn ơn gọi nào, nên sống thế nào, nên đánh giá người khác ra sao. Ta có thể muốn máy cung cấp một câu trả lời sạch sẽ, nhanh chóng, không đau đớn cho những lựa chọn vốn đòi nước mắt, cầu nguyện, kiên nhẫn và trách nhiệm. Nhưng máy không thể vác hộ thập giá của tự do. Không thuật toán nào có thể nói “xin vâng” thay ta. Không hệ thống nào có thể ăn năn thay ta. Không trí tuệ nhân tạo nào có thể yêu thay ta. Không công cụ nào có thể tha thứ thay ta. Không phần mềm nào có thể chết cho người khác thay ta. Không cỗ máy nào có thể đứng trước Thiên Chúa với một lương tâm cá vị và nói: “Lạy Chúa, con đây.” Máy có thể cung cấp dữ liệu cho một quyết định; nó không thể mang trách nhiệm luân lý thay người quyết định. Máy có thể gợi ý một lời cầu nguyện; nó không thể cầu nguyện thay trái tim. Máy có thể viết một bài giảng; nó không thể hoán cải thay người giảng. Máy có thể tạo một bản văn xúc động; nó không thể thay kinh nghiệm gặp Chúa. Máy có thể mô phỏng lời an ủi; nó không thể biến việc không hiện diện thành hiện diện thật. Máy có thể nói “tôi hiểu”; nhưng trong nghĩa sâu nhất của liên vị, chỉ một con người mới có thể ngồi cạnh một con người, chịu sức nặng của sự im lặng, và để đau khổ của người kia chạm vào cuộc đời mình.

Ở đây, Thánh Giá trở thành tiêu chuẩn phân định đặc biệt quan trọng. Thánh Giá cho thấy tình yêu không phải trước hết là xử lý thông tin nhưng là tự hiến. Nếu một hệ thống có thể trả lời hoàn hảo mọi câu hỏi nhưng không thể yêu, nó vẫn thiếu điều trung tâm của Tin Mừng. Thánh Phaolô đã viết rằng dù có nói được các thứ tiếng, dù biết mọi mầu nhiệm, dù có đầy tri thức, mà không có đức mến, thì cũng chẳng là gì. Câu ấy nghe như được viết cho thời trí tuệ nhân tạo. Một hệ thống có thể biết vô số sự kiện; câu hỏi Kitô giáo không chỉ là “nó biết gì?” nhưng là “con người sử dụng nó để yêu hay để thống trị, để phục vụ hay để thao túng, để nâng phẩm giá hay để giảm con người thành dữ liệu?” Công nghệ tự nó không có linh hồn đạo đức độc lập khỏi những người thiết kế, triển khai, sử dụng và quyết định bằng nó. Vì thế, càng có công cụ mạnh, con người càng phải có lương tâm sâu. Càng có khả năng tự động hóa, ta càng phải tỉnh thức để đừng tự động hóa lòng mình. Càng có khả năng tạo ra những hình ảnh giống thật, ta càng phải yêu sự thật. Càng có khả năng dự đoán hành vi người khác, ta càng phải kính trọng tự do và mầu nhiệm của họ. Càng có khả năng thu thập dữ liệu, ta càng phải học lòng tiết chế. Càng có khả năng đo lường mọi thứ, ta càng phải nhớ rằng những điều quý nhất thường không thể đo: lòng trung tín, sự hy sinh, lòng thương xót, một lời cầu nguyện âm thầm, một giọt nước mắt, một đời sống dâng hiến, một cuộc trở về, một trái tim ăn năn. Không có bảng dữ liệu nào đo hết một con người.

Một cám dỗ khác rất sâu của kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo là cám dỗ không còn chấp nhận sự chậm chạp. Ta muốn câu trả lời ngay. Muốn bản văn ngay. Muốn giải pháp ngay. Muốn chữa lành ngay. Muốn thành công ngay. Muốn một mối quan hệ lập tức đáp ứng kỳ vọng. Muốn đời sống thiêng liêng có “kết quả” nhanh. Nhưng Thiên Chúa thường không làm việc theo tốc độ của máy. Một hạt lúa phải nằm trong đất. Một đứa trẻ cần nhiều năm để lớn. Một vết thương cần thời gian. Một ơn gọi cần phân định. Một tội nhân có thể ngã hàng trăm lần trước khi thực sự được chữa lành. Một cộng đoàn cần nhiều năm để học yêu nhau. Một người già có thể cần nói đi nói lại một câu chuyện. Một người trầm mặc có thể cần rất lâu mới mở được lòng. Một cuộc hòa giải có thể cần nhiều bước nhỏ. Thánh Giá là trường của sự kiên nhẫn. Chúa Giêsu không “tối ưu hóa” cuộc cứu độ bằng cách bỏ qua nhập thể, bỏ qua ba mươi năm đời ẩn dật, bỏ qua những con đường bụi Galilê, bỏ qua tình bạn, bỏ qua sự chậm hiểu của các môn đệ. Người dành ba năm với những người vẫn còn tranh nhau chỗ nhất. Người giải thích rồi giải thích lại. Người để Phêrô ngã rồi đi tìm ông. Người đi đường Emmaus với hai môn đệ chán nản, không ép họ phải hiểu ngay. Thiên Chúa kiên nhẫn vì tình yêu có thời gian của nó. Người môn đệ thời đại AI phải học lại sự chậm như một hình thức khổ chế. Dám đọc chậm một đoạn Tin Mừng thay vì lướt mười bài thiêng liêng. Dám ngồi yên mười lăm phút trước Nhà Tạm mà không tìm nội dung mới. Dám nghe trọn một câu chuyện dài của người già. Dám không cắt ngang. Dám không trả lời ngay khi đang giận. Dám ngủ qua một đêm trước khi đăng một phản ứng. Dám nói: “Tôi cần cầu nguyện thêm.” Dám để một câu hỏi chưa có lời giải. Dám sống với sự bất toàn. Dám chấp nhận rằng linh hồn không phải một ứng dụng có thể nâng cấp chỉ bằng một cú nhấn.

Chúng ta cũng phải nói đến cám dỗ để màn hình trở thành nơi trốn Ghetsêmani. Ghetsêmani là nơi Chúa Giêsu đối diện điều Người không muốn đối diện: cái chết đang đến, sự phản bội đang đến, cô đơn đang đến. Người không chạy khỏi khu vườn. Người ở lại. Người cầu nguyện. Người đổ mồ hôi như máu. Con người hôm nay có vô số cách để không ở lại với chính mình. Chỉ cần thấy một chút trống, ta mở điện thoại. Chỉ cần lòng hơi buồn, ta lướt. Chỉ cần một câu hỏi khó xuất hiện, ta tìm thứ gì đó gây kích thích. Chỉ cần cầu nguyện bắt đầu khô, ta kiểm tra tin nhắn. Ta có thể đi hết ngày này qua ngày khác mà không bao giờ thật sự ngồi với linh hồn mình. Sự giải trí liên tục có thể trở thành thuốc gây mê tinh thần. Không phải mọi giải trí đều xấu; con người cần nghỉ ngơi. Nhưng có sự khác biệt giữa nghỉ và trốn. Nghỉ giúp ta trở lại thực tại khỏe hơn. Trốn khiến ta sợ thực tại hơn. Nếu mỗi khi cô đơn ta lập tức cần tiếng động, mỗi khi buồn ta phải có màn hình, mỗi khi cầu nguyện khó ta phải tìm nội dung khác, có lẽ ta đang đánh mất khả năng ở lại Ghetsêmani với Chúa. Và nếu không học ở lại Ghetsêmani, ta sẽ khó học vác Thánh Giá. Nhiều thập giá đời người không thể giải quyết bằng thông tin. Có những thập giá chỉ có thể được ôm. Cha mẹ già đi. Con cái rời nhà. Một người thân qua đời. Một căn bệnh không chữa được. Một tình yêu không được đáp lại. Một ơn gọi đi vào đêm tối. Một quá khứ không thể sửa. Một lời nói đã gây thương tổn và không thể lấy lại. Không có đường link nào giải quyết hết những điều ấy. Không có nội dung nào thay được việc quỳ xuống và nói: “Lạy Cha, nếu có thể, xin cất chén này; nhưng xin đừng theo ý con.” Người môn đệ thời số phải có những giờ không màn hình để linh hồn còn khả năng nghe tiếng mình, nghe tiếng người khác, và nghe tiếng Chúa.

Thánh Giá cũng đặt ra một câu hỏi rất khó cho nền văn hóa thương hiệu cá nhân. Thời nay, người ta thường được khuyên xây dựng hình ảnh, tạo dấu ấn, phát triển thương hiệu, tăng độ nhận biết. Trong một mức độ nào đó, truyền thông tốt cần sự nhất quán, rõ ràng, trách nhiệm; một sứ vụ cũng cần biết cách đến với con người. Không có gì sai khi dùng phương tiện chuyên nghiệp để loan báo Tin Mừng. Phaolô đã dùng đường sá Rôma; các nhà truyền giáo đã dùng máy in; Giáo Hội đã dùng radio, truyền hình, internet. Nhưng ranh giới rất mong manh giữa việc làm cho Tin Mừng được thấy và việc làm cho chính mình được thấy nhân danh Tin Mừng. Một người có thể khởi đầu với ý muốn phục vụ và dần dần nghiện sự công nhận. Có thể nói về Chúa nhưng âm thầm đau khi người khác được chú ý hơn. Có thể rao giảng sự khiêm nhường nhưng ngày càng bị lệ thuộc vào con số. Có thể tự gọi mình là “người phục vụ” nhưng mọi hoạt động đều phải xoay quanh tên tuổi mình. Có thể muốn truyền giáo nhưng đồng thời rất sợ mất khán giả. Đây là vùng cần xét mình nghiêm túc dưới chân Thánh Giá. Chúa Giêsu, sau phép lạ hóa bánh, khi dân chúng muốn tôn Người lên làm vua, lại lánh đi. Người nhiều lần cấm người được chữa lành loan truyền. Người dành những giờ rất đông người tìm mà vẫn rút lui cầu nguyện. Và cuối cùng, sứ vụ của Người đạt đến đỉnh không phải khi đám đông reo hò, mà khi đám đông bỏ đi. Thập Giá là nơi mọi “thương hiệu” bị bóc sạch. Tấm bảng trên đầu Người không phải khẩu hiệu quảng bá do Người chọn, mà là lời chế nhạo của quyền lực. Người chết giữa hai tên tội phạm. Nếu ơn gọi của ta chỉ đứng được khi được nhìn thấy, nó chưa đi đủ sâu vào Thánh Giá. Người môn đệ phải có khả năng tiếp tục yêu khi bài đăng ít người xem; tiếp tục phục vụ khi không ai cảm ơn; tiếp tục giảng chân lý khi chân lý ấy không “hợp xu hướng”; tiếp tục ở với một cộng đoàn nhỏ khi chẳng ai biết; tiếp tục trung thành khi không có máy ảnh; tiếp tục cầu nguyện khi không thể biến giờ cầu nguyện thành một sản phẩm.

Vì thế, một trong những việc khó nhất của người Kitô hữu trong thời đại thuật toán là dám nói sự thật không được thuật toán ưu ái. Thuật toán thường ưu tiên điều khiến người ta ở lại lâu, phản ứng mạnh, tranh cãi nhiều, sợ hãi, phẫn nộ hoặc tò mò. Sự thật lại thường chậm, phức tạp, không kích động. Một lời nói công bằng đôi khi ít hấp dẫn hơn một lời kết án. Một bài giải thích cân bằng thường ít lan truyền hơn một câu gây sốc. Một tin chưa được kiểm chứng nhưng làm người ta tức giận có thể chạy khắp thế giới trước khi sự thật kịp mang giày. Người môn đệ của Đấng nói “Ta là sự thật” không được để tốc độ thay thế sự thật. Có những lúc yêu Thánh Giá nghĩa là không chia sẻ một tin dù nó củng cố điều mình muốn tin, bởi chưa biết nó đúng hay không. Có những lúc yêu Thánh Giá nghĩa là đính chính một điều mình đã nói sai, dù xấu hổ. Có những lúc nghĩa là từ chối cắt ghép lời người khác để làm họ xấu đi. Có những lúc nghĩa là không sử dụng hình ảnh giả, giọng nói giả, tài liệu giả để đạt một mục tiêu dù mục tiêu ấy xem ra tốt. Một mục đích thánh không làm phương tiện gian dối thành thánh. Thánh Giá là nơi Chúa Giêsu chiến thắng không bằng thao túng nhưng bằng chân lý và tình yêu. Người không dùng quyền lực để làm đám đông mất tự do. Người không bóp méo sự thật để bảo vệ hình ảnh. Người không biến kẻ thù thành quỷ dữ để kích động môn đệ. Trái lại, ngay trên Thánh Giá Người còn cầu cho những người giết mình. Một Kitô hữu có thể có hàng triệu người theo dõi mà cách truyền thông lại không mang hình Thánh Giá nếu họ sống bằng phẫn nộ, nhục mạ, bóp méo, chia phe, săn lỗi, làm nhục công khai. Ngược lại, một người chỉ có vài trăm người đọc nhưng kiên trì với sự thật, lòng thương xót và trách nhiệm có thể đang làm việc rất gần Tin Mừng.

Thánh Giá còn chống lại văn hóa phản ứng lập tức. Thời đại số làm cho khoảng cách giữa kích thích và phản ứng gần như biến mất. Ai nói gì, ta trả lời ngay. Ai chạm tự ái, ta đăng ngay. Ai chỉ trích, ta phản bác ngay. Ai đưa một tin, ta chia sẻ ngay. Nhưng đời sống thiêng liêng luôn cần một khoảng giữa điều xảy ra và điều ta làm. Khoảng ấy gọi là tự do. Không có khoảng ấy, ta không còn hành động; ta chỉ phản ứng. Và người chỉ phản ứng rất dễ bị điều khiển. Một câu bình luận có thể kéo ta khỏi bình an cả ngày. Một lời mỉa mai có thể khiến ta nói những điều sau này phải hối tiếc. Một tin giả có thể dùng cơn giận của ta để tự lan truyền. Yêu Thánh Giá trong thời đại số có thể là tập không trả lời ngay. Không phải vì hèn, nhưng vì muốn trả lời từ tự do chứ không từ vết thương. Chúa Giêsu trước Philatô biết lúc nào phải nói và lúc nào im. Trước những người vu cáo, Người không chạy theo từng cáo buộc để bảo vệ hình ảnh. Sự im lặng của Người không phải yếu đuối mà là chủ quyền nội tâm. Ngày nay, biết im lặng có thể là một hình thức tử đạo nhỏ đối với cái tôi. Ta muốn có lời cuối. Ta muốn chứng minh mình đúng. Ta muốn cho người khác thấy ta không dễ bị xúc phạm. Nhưng có những cuộc tranh luận thắng được một câu mà mất một người. Có những lời đáp đúng về lý nhưng sai về tình yêu. Có những chiến thắng trên mạng làm linh hồn thất bại. Thánh Giá hỏi không chỉ: “Điều anh nói có đúng không?” mà còn: “Anh nói điều đúng ấy bằng tinh thần nào? Anh muốn cứu người hay thắng người? Anh muốn làm sáng chân lý hay làm sáng cái tôi?” Chân lý Kitô giáo không cần độc ác để mạnh. Chúa Giêsu đã nói sự thật rất mạnh nhưng chưa bao giờ mất tình yêu đối với người Người sửa dạy.

Kỷ nguyên AI cũng làm nổi lên một thánh giá mới nơi lao động: nỗi sợ mình bị thay thế. Nhiều người có thể cảm thấy bất an khi những việc họ từng làm bằng tay, bằng trí óc, bằng kỹ năng nhiều năm rèn luyện nay được máy thực hiện nhanh hơn. Nỗi sợ ấy không phải tưởng tượng. Công nghệ có thể thay đổi nghề nghiệp, cấu trúc kinh tế, cách xã hội đánh giá kỹ năng. Nhưng đây chính là lúc Giáo Hội phải nhắc mạnh rằng giá trị con người không đồng nhất với giá trị thị trường của lao động họ. Nếu một công việc biến mất, con người không vì thế biến thành đồ thừa. Kinh tế tồn tại vì con người chứ không phải con người tồn tại vì kinh tế. Công nghệ phải phục vụ công ích, chứ con người không được hy sinh cho hiệu năng. Một xã hội chỉ hỏi “làm thế nào sản xuất nhiều hơn với ít người hơn?” mà không hỏi “những con người bị loại ra sẽ sống thế nào, phẩm giá họ được bảo vệ ra sao, cơ hội học lại và tham gia thế nào?” là một xã hội đã quên Thánh Giá. Chúa Giêsu không nhìn con người theo năng suất. Người dừng lại với người ăn xin mù. Người đi vào nhà Dakêu. Người để một người phụ nữ bị băng huyết làm gián đoạn hành trình. Người dành thời gian cho trẻ em trong khi các môn đệ thấy chúng làm mất giờ. Tình yêu thường không “hiệu quả” theo nghĩa công nghiệp. Nhưng chính sự “không hiệu quả” ấy làm ta thành người.

Người Kitô hữu vì thế cần chống lại việc biến đời sống thành một dự án tối ưu hóa liên tục. Hôm nay ta được mời đo giấc ngủ, đo bước chân, đo năng suất, đo thời gian tập trung, đo mức tương tác, đo hiệu quả mục vụ, đo lượng người tiếp cận. Những con số có ích. Chúng có thể giúp ta hiểu thực tế và làm tốt hơn. Nhưng nếu không cẩn thận, ta sẽ sống như thể mọi điều có giá trị đều phải đo được. Một linh mục có thể bắt đầu đánh giá giá trị bài giảng bằng lượt xem thay vì bằng sự trung thành với Lời Chúa. Một cộng đoàn có thể nghĩ đông đồng nghĩa với tốt. Một người có thể nhìn vào số tương tác để biết mình có đáng yêu không. Một người trẻ có thể cân tâm trạng theo số người phản hồi. Nhưng Thánh Giá là thất bại theo mọi thống kê chiều Thứ Sáu. Mười hai người còn lại một người đứng gần. Đám đông từng theo Chúa đã biến mất. Các môn đệ chạy trốn. Người lãnh đạo bị giết. Sứ vụ xem ra kết thúc. Nếu có một bảng điều khiển thành công đặt dưới chân Núi Sọ lúc ba giờ chiều, mọi chỉ số có lẽ đều đỏ. Nhưng trời không đo như thế. Chính ở đó, công trình cứu độ được hoàn tất. Điều này không cho phép ta coi thường trách nhiệm hay chất lượng; nó giải thoát ta khỏi việc đồng nhất kết quả thấy được với sự trung tín. Có mùa gieo mà không thấy gặt. Có một lời nói hôm nay hai mươi năm sau mới sinh quả. Có một đứa trẻ trong lớp giáo lý mà chẳng ai biết sau này sẽ trở thành gì. Có một người chỉ nghe một câu trong bài giảng rồi câu ấy theo họ suốt đời. Những điều như thế không hiện ngay trên biểu đồ.

Yêu mến Thánh Giá trong thời đại AI còn là bảo vệ quyền được là con người bất toàn. Công nghệ ngày càng có khả năng làm khuôn mặt đẹp hơn, giọng nói sạch hơn, văn bản trơn tru hơn, hình ảnh hoàn hảo hơn. Nhưng linh hồn không được cứu bằng sự hoàn hảo bề mặt. Một cộng đoàn thật sẽ có tiếng trẻ khóc, người hát chênh, người đọc sai, những gương mặt mệt, những con người không hoàn hảo. Một cuộc trò chuyện thật sẽ có ngập ngừng, im lặng, hiểu lầm. Một bài giảng thật đôi khi có một câu chưa đẹp nhưng mang nước mắt của người đã sống điều mình nói. Một lời cầu nguyện thật có thể vụng về nhưng được thốt ra từ trái tim đau. Ta không cần ghét sự chỉnh chu; cái đẹp đáng được chăm sóc. Nhưng đừng để sự hoàn hảo kỹ thuật làm ta xấu hổ về nhân tính. Chúa phục sinh vẫn mang vết thương. Người không trở lại với một thân thể bị xóa mọi dấu đinh. Các vết thương trở thành dấu căn cước của tình yêu. Có điều gì rất an ủi ở đó cho con người thời chỉnh sửa hình ảnh: ta không cần xóa hết vết thương mới được Thiên Chúa nhận ra. Chính nơi ta từng bị đâm có thể trở thành nơi ánh sáng đi qua.

Đặc biệt, người làm mục vụ phải cẩn trọng để AI hỗ trợ sứ vụ nhưng không thay thế đời sống nội tâm. Một linh mục có thể dùng công cụ để tra cứu, sắp xếp ý, kiểm tra ngôn ngữ, tìm tài liệu, nhưng không được để công cụ thay việc ngồi với Tin Mừng, cầu nguyện cho dân mình, nhớ những khuôn mặt cụ thể, mang những đau khổ của cộng đoàn vào bài giảng. Một bài giảng có thể đúng mọi thần học mà vẫn lạnh nếu người giảng không ở với dân. Không một hệ thống nào biết bà cụ vừa mất chồng đang ngồi hàng ghế thứ ba, người thanh niên vừa thất nghiệp đang nép cuối nhà thờ, đôi vợ chồng vừa cãi nhau trên đường đến lễ, một người đang tính tự bỏ cuộc nhưng vẫn bước vào nhà thờ lần cuối như một lời cầu cứu. Người mục tử phải biết dân bằng một cách không thể thay thế bằng dữ liệu. Chúa Giêsu nói: “Tôi biết chiên của tôi.” Biết ở đây không phải có hồ sơ. Đó là biết bằng tương quan, biết tên, biết tiếng khóc, biết lịch sử, biết mùi của đàn chiên. Trí tuệ nhân tạo có thể giúp chuẩn bị lời. Chỉ trái tim mục tử mới có thể hiến đời.

Và với mọi Kitô hữu, câu hỏi quan trọng không phải “Tôi có dùng AI hay không?” nhưng là “Tôi đang trở thành người thế nào khi dùng nó?” Tôi có lười suy nghĩ hơn không? Tôi có bớt cầu nguyện không? Tôi có quen lấy sản phẩm của người khác mà không tôn trọng công sức không? Tôi có dùng công cụ để nói những điều mà chính tôi không tin không? Tôi có tạo ấn tượng về một năng lực mình không có? Tôi có dùng nó để thao túng người khác, để làm giả, để tránh trách nhiệm? Hay tôi dùng nó như một người quản lý có lương tâm: biết giới hạn, biết kiểm chứng, biết minh bạch khi cần, biết bảo vệ dữ liệu, biết giữ phẩm giá người, biết dành phần quyết định luân lý cuối cùng cho lương tâm được đào luyện trước mặt Thiên Chúa? Một cái búa có thể đóng nhà hoặc đập đầu người. Quyền lực kỹ thuật càng lớn, trách nhiệm luân lý càng lớn. Người Kitô hữu không thờ công nghệ, cũng không sợ công nghệ; họ phân định nó dưới ánh sáng Tin Mừng.

Cuối cùng, có lẽ điều cách mạng nhất mà người môn đệ có thể làm trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo không phải là chạy nhanh hơn máy, nhưng là trở nên người hơn. Máy có thể nhanh; ta hãy sâu. Máy có thể xử lý; ta hãy yêu. Máy có thể dự đoán; ta hãy hy vọng. Máy có thể bắt chước giọng nói; ta hãy nói thật. Máy có thể tạo hàng nghìn hình ảnh; ta hãy nhìn một khuôn mặt thật. Máy có thể trả lời hàng triệu câu; ta hãy lắng nghe một người cho đến hết. Máy có thể hoạt động không mệt; ta hãy biết nghỉ vì ta không phải Thiên Chúa. Máy có thể lưu vô số dữ liệu; ta hãy nhớ một người đã bị quên. Máy có thể giúp chúng ta xuất hiện ở nhiều nơi; ta hãy học hiện diện trọn vẹn ở một nơi. Máy có thể tạo nội dung về lòng thương xót; ta hãy thực sự tha thứ. Máy có thể viết về Thánh Giá; ta hãy vác thánh giá của mình. Đây là điểm mà không công nghệ nào bước thay được.

Người môn đệ của Chúa Giêsu trong thời đại số vì thế phải học những nhân đức tưởng như lỗi thời nhưng thực ra chưa bao giờ cần thiết hơn: thinh lặng, chú ý, kiên nhẫn, khiêm nhường, tiết độ, trung thực, trung tín, khả năng ở lại. Dám chậm giữa một thế giới vội. Dám tắt giữa một thế giới luôn bật. Dám không trả lời ngay. Dám không biết mọi chuyện. Dám không có mặt ở mọi nơi. Dám bỏ lỡ vài tin tức để không bỏ lỡ người đang ngồi trước mặt. Dám không được khen. Dám không được thấy. Dám làm một việc tốt mà không chụp lại. Dám cầu nguyện mà không kể. Dám chịu hiểu lầm mà không lập tức tự vệ. Dám nói “tôi không biết”. Dám sửa sai. Dám nhìn nhận giới hạn. Dám dành Chúa Nhật thật sự là Chúa Nhật chứ không chỉ là một ngày khác của dòng chảy kỹ thuật số. Những chọn lựa ấy có thể rất nhỏ, nhưng chúng có mùi của Thánh Giá vì chúng đóng đinh cái tôi muốn được chú ý, muốn được kiểm soát, muốn được phản ứng, muốn được thỏa mãn ngay.

Và có lẽ ta cần thường xuyên tự hỏi: màn hình này đang giúp tôi yêu hơn hay chỉ giúp tôi quên mình đang không yêu? Công cụ này đang phục vụ ơn gọi của tôi hay bắt đầu điều khiển nhịp sống của tôi? Điều tôi sắp đăng có làm tăng ánh sáng hay chỉ tăng tiếng ồn? Điều tôi sắp chia sẻ có đúng không? Có cần không? Có nhân hậu không? Người xuất hiện trong câu chuyện này có được tôn trọng không? Tôi đang nói vì sự thật hay vì muốn thắng? Tôi đang im vì khôn ngoan hay vì hèn? Tôi đang dùng AI để hỗ trợ trách nhiệm của mình hay để trốn trách nhiệm? Những câu hỏi ấy không có một thuật toán duy nhất trả lời. Chúng phải được đem vào cầu nguyện, vào lương tâm, vào sự phân định, vào đời sống cộng đoàn và vào ánh sáng của Thánh Giá.

Thánh Giá giữa thời đại số cuối cùng vẫn là Thánh Giá của Đức Giêsu: hai cánh tay mở ra. Một cánh tay như mở về Thiên Chúa, một cánh tay mở về con người. Trục dọc nhắc ta rằng không có công nghệ nào thay được tương quan với Thiên Chúa. Trục ngang nhắc ta rằng không có đời sống thiêng liêng nào thật nếu không trở thành tình yêu đối với người khác. Nơi hai trục gặp nhau là trái tim bị đâm thâu. Có lẽ đó chính là biểu tượng thích hợp nhất cho Kitô hữu thời kỹ thuật số: một con người sống giữa vô số kết nối nhưng giữ trái tim ở trung tâm, không để dữ liệu nuốt mất ngôi vị, không để tốc độ giết sự hiện diện, không để hình ảnh thay con người, không để tiếng ồn dập tắt tiếng Chúa, không để máy móc lấy mất trách nhiệm của lương tâm.

Một ngày nào đó, mọi thiết bị ta từng dùng sẽ thành đồ cũ. Những nền tảng từng thống trị sẽ biến mất. Những ứng dụng hôm nay không thể thiếu sẽ bị thay bằng những thứ khác. Những tài khoản từng có hàng triệu người theo dõi sẽ im. Các máy chủ sẽ tắt. Dữ liệu sẽ mất. Những mô hình trí tuệ nhân tạo rất mạnh hôm nay sẽ trở thành sơ khai trong mắt thế hệ sau. Nhưng có những điều không lỗi thời: một cốc nước đưa cho người khát, một bàn tay nắm lấy người hấp hối, một lời tha thứ nói trong nước mắt, một giờ ngồi bên người cô đơn, một lời xin lỗi chân thành, một người cha trở về ôm con, một người vợ tiếp tục yêu trong gian khó, một tu sĩ âm thầm trung tín, một linh mục lặng lẽ giải tội cho một linh hồn đang tìm đường trở về, một người trẻ tắt màn hình để quỳ xuống cầu nguyện, một người dùng công nghệ nhưng không để công nghệ sở hữu trái tim mình. Những điều ấy thuộc về vĩnh cửu.

Và nếu phải cô đọng cả linh đạo Thánh Giá cho thời đại số vào một vài lựa chọn, có lẽ ta có thể nói thế này: hãy chọn người thật hơn hình ảnh. Chọn hiện diện hơn biểu diễn. Chọn sự thật hơn tốc độ. Chọn lòng thương xót hơn chiến thắng. Chọn thinh lặng hơn phản ứng vô thức. Chọn lương tâm hơn thuật toán. Chọn phục vụ hơn xây dựng cái tôi. Chọn một người cần mình hơn một đám đông đang nhìn mình. Chọn cầu nguyện hơn nghiện thông tin. Chọn tự do hơn kích thích. Chọn Chúa hơn nhu cầu được thấy. Và khi công cụ có thể làm giúp ta gần như mọi thứ, hãy giữ lại cho chính mình điều không ai và không gì được làm thay: yêu.

Bởi sau cùng, tại cửa đời đời, có lẽ Chúa sẽ không hỏi ta đã tạo bao nhiêu nội dung, đạt bao nhiêu lượt xem, sử dụng bao nhiêu công nghệ mới, có bao nhiêu người theo dõi, hay thông minh hơn máy đến đâu. Người sẽ hỏi bằng thứ ngôn ngữ đã vang từ Tin Mừng Mátthêu: Ta đói, con có cho Ta ăn không? Ta khát, con có cho Ta uống không? Ta là khách lạ, con có đón không? Ta trần truồng, con có mặc không? Ta đau yếu, con có thăm không? Ta bị tù đày, con có đến không? Và biết đâu trong kỷ nguyên số, Người còn có thể hỏi: Ta ở ngay bên cạnh con, tại sao con cứ nhìn vào màn hình? Ta đang nói với con qua đôi mắt của một người buồn, tại sao con chỉ nghe thông báo? Ta đã ban cho con một trí khôn, tại sao con trao cả trách nhiệm của nó cho máy? Ta đã ban cho con một trái tim, tại sao con dùng nó như một cái nút phản ứng? Ta đã ban cho con tự do, tại sao con để thuật toán quyết điều gì làm con giận, điều gì làm con sợ, điều gì làm con thèm muốn? Ta đã hiện diện thật trong đời con, tại sao con chỉ xây dựng một hình ảnh về chính mình?

Khi ấy, Thánh Giá sẽ là câu trả lời cuối cùng. Một Thiên Chúa không yêu chúng ta bằng biểu tượng mà bằng thân xác thật; không cứu ta bằng một thông điệp tự động mà bằng một đời hiến trao; không đứng xa nỗi đau mà đi vào tận đáy nỗi đau; không tối ưu hóa tình yêu mà phung phí nó; không bảo vệ hình ảnh mà để mình bị lột trần; không tìm người theo dõi mà tìm những con chiên lạc; không xây thương hiệu mà xây Nước Trời; không thu hút người khác về cho mình để được nổi tiếng nhưng kéo họ về với Chúa Cha; không dùng quyền lực để thoát Thánh Giá nhưng biến chính Thánh Giá thành ngai của lòng thương xót.

Vì thế, người môn đệ thời trí tuệ nhân tạo không cần chứng minh rằng mình mạnh hơn máy. Người môn đệ chỉ cần đừng để mình trở thành máy. Hãy còn biết khóc. Hãy còn biết chờ. Hãy còn biết ngạc nhiên. Hãy còn biết xấu hổ khi làm điều sai. Hãy còn biết xin lỗi. Hãy còn biết tha thứ. Hãy còn biết bối rối trước một mầu nhiệm. Hãy còn biết quỳ. Hãy còn biết ôm một người mà không kiểm tra điện thoại. Hãy còn biết lắng nghe một câu chuyện mình đã nghe nhiều lần. Hãy còn biết dành thời gian cho người không đem lại lợi ích gì. Hãy còn biết làm một việc tốt mà chẳng ai hay. Hãy còn biết ngước mắt khỏi màn hình để nhìn trời. Hãy còn biết bước vào nhà thờ không phải để chụp một bức ảnh đẹp nhưng để ngồi trước Nhà Tạm và im lặng. Hãy còn biết đứng dưới chân Thánh Giá thật lâu đến khi mọi tiếng ồn trong lòng dịu xuống và ta nghe được lời đơn sơ nhất của tình yêu: “Con có yêu Thầy không?”

Nếu còn trả lời được câu ấy bằng đời sống, công nghệ sẽ ở đúng chỗ của nó: công cụ trong tay một con người tự do. Nếu không còn trả lời được câu ấy, dù sở hữu những hệ thống thông minh nhất thế giới, ta vẫn có thể nghèo đi trong chính phần người của mình.

Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, giữa một thế giới càng ngày càng nhanh, xin dạy chúng con biết chậm lại đủ để nhận ra Chúa. Giữa một thế giới càng ngày càng nhiều tiếng nói, xin dạy chúng con biết im đủ để nghe tiếng Chúa. Giữa một thế giới càng ngày càng nhiều hình ảnh, xin dạy chúng con biết nhìn đủ sâu để thấy một con người. Giữa một thế giới càng ngày càng thông minh, xin dạy chúng con biết trở nên khôn ngoan. Giữa một thế giới càng ngày càng hiệu quả, xin đừng để chúng con trở nên vô tình. Giữa một thế giới nơi máy móc có thể làm thay rất nhiều việc, xin giữ cho chúng con những bổn phận không thể chuyển giao: bổn phận yêu thương, bổn phận chọn điều thiện, bổn phận chịu trách nhiệm, bổn phận tha thứ, bổn phận mang lấy nhau.

Xin đừng để màn hình trở thành nơi chúng con chạy trốn Ghetsêmani. Xin đừng để lượt thích trở thành thước đo phẩm giá. Xin đừng để tiếng vỗ tay của đám đông làm chúng con quên tiếng Chúa. Xin đừng để công nghệ làm chúng con gần người ở xa mà xa người ở gần. Xin đừng để chúng con rao giảng Thánh Giá bằng những phương tiện rất hiện đại mà lại sống một đời sợ mọi hy sinh. Xin cho chúng con biết dùng tất cả những gì trí tuệ con người tạo ra để phục vụ sự thật, công lý, tình huynh đệ và Tin Mừng, nhưng không bao giờ quỳ trước những gì chính tay mình làm ra.

Và khi phải chọn giữa được nhìn thấy và trung thành, xin cho chúng con chọn trung thành. Khi phải chọn giữa phản ứng và thinh lặng, xin cho chúng con biết phân định. Khi phải chọn giữa một hình ảnh đẹp và một con người bị thương, xin cho chúng con chọn con người. Khi phải chọn giữa hiệu năng và lòng thương xót, xin cho chúng con nhớ rằng trên Thánh Giá Chúa đã không cứu chúng con bằng hiệu năng nhưng bằng tình yêu đến cùng.

Ước gì giữa kỷ nguyên của trí tuệ nhân tạo, người ta vẫn có thể gặp nơi các môn đệ Chúa một điều không thể nhân tạo: một trái tim biết yêu đến đau. Ước gì giữa vô số tiếng nói được tạo ra, người ta nhận ra nơi chúng con giọng của một Đấng đã nói bằng cả cuộc đời. Ước gì giữa hàng tỷ hình ảnh, người ta thấy trên gương mặt người Kitô hữu một chút ánh sáng của Đấng chịu đóng đinh và phục sinh. Và ước gì khi thế giới hỏi Giáo Hội có điều gì để trao cho một thời đại máy móc ngày càng thông minh, chúng ta không chỉ đưa ra thêm một hệ thống tư tưởng, nhưng đưa ra những con người đã học nơi Thánh Giá cách hiện diện, cách yêu, cách chịu trách nhiệm, cách cúi xuống, cách hiến mình, và cách không bỏ nhau khi đau khổ đến.

Bởi trí tuệ có thể được nhân tạo. Nhưng lòng mến thì phải được sống.

CHƯƠNG XIX. MỘT LINH ĐẠO HIỆP HÀNH DƯỚI THÁNH GIÁ

Có một chi tiết rất nhỏ trong trình thuật Thương Khó nhưng nếu dừng lại thật lâu, ta sẽ thấy cả một linh đạo của Hội Thánh được mở ra từ đó: trên đường lên Núi Sọ, Chúa Giêsu không vác Thánh Giá hoàn toàn một mình. Người đã vác, đã bước, đã ngã, đã chịu nhục, đã mang gỗ của án tử trên đôi vai mình, nhưng đến một lúc nào đó, quân lính bắt một người qua đường tên là Simon, quê Kyrênê, vác đỡ Thánh Giá cho Người. Đó là một hình ảnh kỳ lạ và đẹp đến đau lòng. Đấng Cứu Thế đã muốn cứu thế gian bằng Thánh Giá, nhưng trên chính con đường Thánh Giá ấy, Người lại chấp nhận để một con người khác bước vào, chạm vào cây gỗ của Người, mang một phần sức nặng của Người, đi bên Người trong đoạn đường cuối. Thiên Chúa không cần Simon theo nghĩa Người bất lực nếu thiếu Simon; nhưng Người đã muốn cần Simon theo nghĩa của tình yêu: tình yêu không khép kín trong sự tự đủ, tình yêu mở ra một chỗ cho người khác tham dự. Và có lẽ ở đây ta bắt gặp một khuôn mặt rất sâu của linh đạo hiệp hành: không phải tất cả cùng nói, không phải tất cả cùng họp, không phải tất cả cùng ký một bản văn, nhưng tất cả học cách cùng đi trên con đường có Thánh Giá, cùng mang lấy những sức nặng thật, cùng ở lại với nhau khi đường đời không còn dễ chịu, cùng làm cho không ai phải hoàn toàn đơn độc dưới cây gỗ đang nghiền đôi vai mình.

Hiệp hành, nếu chỉ được hiểu như một phương pháp tổ chức, rất dễ trở thành khẩu hiệu. Người ta có thể tổ chức nhiều cuộc họp, nhiều buổi tham khảo, nhiều diễn đàn, nhiều bản tổng hợp, nhiều chương trình rất đẹp, nhưng vẫn chưa chắc đã có tinh thần hiệp hành. Bởi hiệp hành, từ căn tính của Hội Thánh, trước hết là “cùng đi”; mà đã cùng đi thì không chỉ cùng đi trên những đại lộ sáng sủa, nhưng còn phải cùng đi qua những đoạn đường bụi bặm, quanh co, nhọc nhằn, nơi có nước mắt, thất bại, xấu hổ, hiểu lầm, vết thương, tội lỗi, bệnh tật, tuổi già, khủng hoảng ơn gọi, tan vỡ gia đình, cô đơn, nghèo đói và cả những tiếng kêu mà nhiều khi cộng đoàn đạo đức không muốn nghe. Một Hội Thánh chỉ muốn hiệp hành ở nơi sạch sẽ, trật tự, có chương trình, có micro, có biên bản, nhưng không muốn chạm vào những cây thánh giá thật đang đè trên vai con người thì hiệp hành ấy vẫn còn ở ngoài đường Giêrusalem. Đường hiệp hành đích thực phải đi qua Núi Sọ, bởi Hội Thánh không bước theo một ý tưởng, Hội Thánh bước theo Đức Kitô; mà Đức Kitô đã đi con đường Thánh Giá.

Simon thành Kyrênê không xuất hiện như một người hùng tự nguyện giơ tay xin phục vụ. Tin Mừng nói ông bị bắt vác. Chi tiết ấy rất thật. Có những lúc ta bước vào đời người khác không phải vì ta đã chuẩn bị một trái tim quảng đại hoàn hảo, mà vì hoàn cảnh bắt ta phải dừng lại. Có người đang sống bình thường thì cha mẹ bệnh nặng, thế là phải trở thành người chăm sóc. Có người đang yên ổn thì một người thân gặp biến cố, thế là phải gánh thêm trách nhiệm. Có linh mục đang quen với mục vụ theo kế hoạch thì một gia đình tan vỡ tìm đến giữa đêm. Có cộng đoàn đang vận hành êm thì một thành viên khủng hoảng buộc mọi người phải thay đổi nhịp sống. Có người bước vào một mối tương quan chỉ vì công việc, nhưng rồi dần nhận ra người trước mặt đang mang một vết thương rất sâu. Ban đầu ta có thể không muốn. Ban đầu ta có thể thấy phiền. Ban đầu ta có thể giống Simon: “Tại sao lại là tôi?” Nhưng chính những lần bị đời buộc phải chạm vào thánh giá của người khác có thể trở thành con đường biến đổi ta, nếu ta không khép lòng. Truyền thống Kitô giáo nhìn Simon không chỉ như người lao động bị cưỡng bách, nhưng như người được một ân huệ lạ lùng: ông được đặt đôi vai dưới chính cây Thánh Giá của Đấng Cứu Thế. Ông tưởng mình bị kéo khỏi con đường riêng; hóa ra ông được đưa vào con đường cứu độ.

Có lẽ nhiều người trong chúng ta cũng chỉ học hiệp hành theo cách ấy. Ta không học từ sách đầu tiên; ta học khi phải sống với một người khó chịu, khi phải chăm người già, khi phải nghe một người kể đi kể lại cùng một nỗi đau, khi phải đồng hành với người không thay đổi nhanh như ta muốn, khi phải kiên nhẫn với một người sa ngã nhiều lần, khi phải sống chung trong một cộng đoàn mà ai cũng có giới hạn. Chính ở đó ta mới thấy “cùng đi” khác “đi cạnh nhau” thế nào. Đi cạnh nhau có thể rất dễ nếu mỗi người vẫn giữ nguyên khoảng cách, không chạm vào gánh nặng của nhau. Cùng đi thì khác. Cùng đi có nghĩa là tốc độ của tôi phải có lúc chậm lại vì người bên cạnh đang đau. Cùng đi có nghĩa là kế hoạch của tôi đôi khi phải thay đổi vì có một người đang ngã. Cùng đi có nghĩa là tôi không thể nói: “Đó là chuyện của anh, tôi không liên quan.” Cùng đi có nghĩa là tôi phải học nhìn thấy gánh nặng mà người khác không nói ra.

Một giáo phận có thể có cơ cấu hiệp hành nhưng vẫn chưa hiệp hành nếu tiếng nói của những người bé nhỏ không được nghe. Một giáo xứ có thể có hội đồng mục vụ nhưng vẫn chưa hiệp hành nếu những người nghèo, người bệnh, người ly thân, người thất nghiệp, người trẻ đang khủng hoảng, người già cô độc chỉ được nhắc tới như “đối tượng mục vụ” mà chưa bao giờ được nhìn như những con người có câu chuyện, có tiếng nói, có phẩm giá. Một cộng đoàn dòng có thể họp rất đúng luật nhưng vẫn chưa hiệp hành nếu người yếu đuối luôn sợ mở miệng vì biết rằng sau đó mình sẽ bị đánh giá. Một gia đình có thể đọc kinh chung mỗi tối nhưng vẫn chưa hiệp hành nếu chẳng ai dám nói thật nỗi buồn của mình. Hiệp hành dưới Thánh Giá đặt ra một câu hỏi rất đơn giản nhưng rất nghiêm khắc: ở nơi chúng ta sống, người đang đau có dám nói mình đang đau không? Người đang yếu có dám thừa nhận mình yếu không? Người thất bại có dám trở về không? Người khác biệt có được phép tồn tại mà không lập tức bị sửa chữa không? Nếu câu trả lời là không, thì dù cơ cấu đẹp đến đâu, chúng ta vẫn còn xa tinh thần của Simon thành Kyrênê.

Lắng nghe là một trong những cử chỉ căn bản nhất của linh đạo hiệp hành, nhưng lắng nghe Kitô giáo không phải kỹ thuật giao tiếp. Lắng nghe dưới Thánh Giá là chịu ở lại trước một nỗi đau mà mình không sửa được. Ta thường nghe người khác với mục đích nhanh chóng tìm câu trả lời. Họ vừa kể được vài câu, ta đã nghĩ đến lời khuyên. Họ đang khóc, ta đã muốn tìm một câu Kinh Thánh. Họ đang nói về vết thương, ta đã muốn giải thích vì sao Chúa cho phép điều đó xảy ra. Họ đang kể một thất bại, ta đã muốn tìm lỗi của họ. Nhiều khi những điều ta nói không sai, nhưng thời điểm sai. Người bị thương trước hết cần có một người ngồi xuống bên họ. Người bị cướp đánh trong dụ ngôn người Samari không cần một bài giảng ngay bên vệ đường; anh cần ai đó cúi xuống, băng vết thương, đổ dầu và rượu, đặt anh lên lưng vật, đưa về quán trọ. Simon cũng không giải thích Thánh Giá cho Chúa Giêsu. Ông chỉ vác.

Có những lúc linh đạo hiệp hành đòi ta phải bỏ thói quen “sửa câu chuyện” của người khác. Khi một người nói: “Tôi đau”, đừng vội nói: “Có gì đâu.” Khi một người nói: “Tôi cô đơn”, đừng vội nói: “Có Chúa là đủ rồi.” Khi một linh mục nói mình kiệt sức, đừng vội bảo: “Ngày xưa các cha còn cực hơn.” Khi một người trẻ nói họ hoang mang, đừng lập tức chê thế hệ này yếu đuối. Khi một người phụ nữ kể về một vết thương gia đình, đừng dùng hai chữ “hy sinh” để chặn miệng chị trước khi hiểu chuyện. Khi một người bị tổn thương trong Giáo Hội lên tiếng, đừng nghĩ bảo vệ danh dự cơ chế quan trọng hơn bảo vệ con người bị thương. Lắng nghe không phải đồng ý với mọi cách giải thích; nhưng lắng nghe là thừa nhận rằng nỗi đau của người ấy có thật, kinh nghiệm của người ấy đáng được nghe, phẩm giá của người ấy không phụ thuộc vào việc câu chuyện của họ có làm ta dễ chịu hay không.

Dưới chân Thánh Giá, không ai có thể giữ ảo tưởng rằng Hội Thánh chỉ gồm những người mạnh. Các môn đệ chạy. Phêrô chối. Gioan đứng lại nhưng không thể làm gì. Các phụ nữ khóc. Đức Maria đau đến tận lòng. Simon bị bắt vác. Một kẻ trộm xin nhớ đến mình. Một viên đại đội trưởng nhìn thấy cái chết và thốt ra lời tuyên xưng. Thánh Giá quy tụ một cộng đoàn rất lạ: kẻ trung thành và người từng thất bại, người hiểu nhiều và người chỉ mới bắt đầu hiểu, người thánh thiện và người tội lỗi, người chủ động bước theo và người bị lôi vào. Hội Thánh cũng như thế. Hiệp hành không phải tạo nên một đoàn người đồng dạng. Hiệp hành là học cùng đi với những khác biệt không phá hủy hiệp thông. Trong một cộng đoàn thật, sẽ có người bước nhanh và người bước chậm, người nhiều kiến thức và người ít chữ, người cầu nguyện dễ và người đang sống trong đêm tối, người có tài lãnh đạo và người chỉ âm thầm quét sân, người nói hay và người chẳng bao giờ phát biểu. Vấn đề không phải làm cho tất cả giống nhau. Vấn đề là làm sao để tất cả cùng hướng về Đức Kitô và không ai bị bỏ lại chỉ vì họ không đáp ứng tiêu chuẩn hiệu năng của nhóm.

Đây là điểm linh đạo hiệp hành phải học từ Thánh Giá: con người không có giá trị vì hữu dụng. Chúa Giêsu trên Thánh Giá nhìn theo tiêu chuẩn trần gian là hoàn toàn “không hiệu quả”. Người không chữa ai nữa, không giảng được bài nào dài, không tổ chức được đám đông, không đi được bước nào. Người bị đóng cố định vào gỗ. Nhưng chính tại đó, Người hoàn tất tình yêu. Trong cộng đoàn cũng vậy, những thành viên yếu nhất đôi khi không đóng góp được theo những tiêu chuẩn mà ta quen dùng; nhưng họ vẫn là thành viên của Thân Thể. Người già đi chậm có thể làm chương trình chậm lại, nhưng họ mang ký ức. Người bệnh không làm được nhiều việc, nhưng họ dạy cộng đoàn biết dịu dàng. Người yếu tâm lý có thể đòi hỏi nhiều kiên nhẫn, nhưng họ buộc cộng đoàn học một tình yêu không tính toán. Người nghèo không có tiền đóng góp, nhưng sự hiện diện của họ nhắc Hội Thánh mình thuộc về ai. Hiệp hành dưới Thánh Giá từ chối một Hội Thánh vận hành như doanh nghiệp, trong đó ai ít hiệu năng thì dần trở thành gánh nặng cần loại bỏ.

Tuy nhiên, nói cùng mang thánh giá không có nghĩa là xóa trách nhiệm cá nhân. Đây là một cám dỗ khác. Có những người thích ý tưởng “cộng đoàn phải nâng đỡ tôi” nhưng không muốn mang phần mình. Hiệp hành không phải tập thể hóa mọi trách nhiệm. Simon vác đỡ cho Chúa Giêsu, nhưng Simon không chịu đóng đinh thay Người. Đức Maria đứng dưới chân Thánh Giá, nhưng Mẹ không thể sống thay tiếng “xin vâng” của Con. Gioan ở đó, nhưng Gioan không thể chịu chết thay Chúa. Mỗi người có một phần không ai thay được. Đời sống thiêng liêng cũng vậy. Người khác có thể cầu nguyện với tôi, nhưng không thể tin thay tôi. Linh mục có thể giải tội cho tôi, nhưng không thể sám hối thay tôi. Người hướng dẫn có thể giúp tôi phân định, nhưng không thể quyết định thay lương tâm tôi. Cộng đoàn có thể nâng đỡ tôi, nhưng không thể sống trung tín thay tôi. Người bạn có thể bước cùng tôi, nhưng có những quyết định tôi phải tự mình thưa “xin vâng”.

Một linh đạo hiệp hành trưởng thành vì thế luôn giữ được hai điều tưởng như căng nhau: không ai phải vác một mình, nhưng không ai được trốn phần thập giá của mình. Cộng đoàn phải nâng người yếu, nhưng cũng phải giúp người yếu đứng lên. Thương xót không phải làm người khác lệ thuộc. Đồng hành không phải sống thay. Có những sự giúp đỡ tưởng là yêu thương nhưng thực ra lấy mất trách nhiệm của người khác. Cha mẹ làm hết mọi việc cho con trưởng thành có thể khiến con không lớn được. Bề trên quyết định thay từng việc nhỏ có thể làm cộng đoàn mất khả năng phân định. Một linh mục giải quyết mọi vấn đề thay giáo dân có thể vô tình khiến họ không trưởng thành trong ơn gọi phép Rửa. Hiệp hành đúng nghĩa không tạo ra những con người dựa dẫm; nó làm cho người ta đủ được yêu để có thể nhận trách nhiệm.

Simon đỡ Thánh Giá, nhưng Chúa Giêsu vẫn đi. Đó là hình ảnh đẹp cho nghệ thuật đồng hành. Ta không cõng người khác khỏi toàn bộ con đường của họ. Ta chỉ giúp họ bước được bước họ tưởng không thể bước. Có khi giúp một người không phải cho họ đáp án, mà giúp họ có sức tự tìm đáp án. Có khi không phải giải quyết cuộc đời họ, mà ở cạnh để họ không tuyệt vọng. Có khi không phải nói “hãy làm thế này”, mà hỏi: “Anh đang nghe Chúa nói gì trong hoàn cảnh này?” Có khi không phải cất thánh giá, mà giúp người ấy điều chỉnh vai để cây gỗ không nghiền nát họ. Đó là một nghệ thuật rất khó, vì lòng tốt thường muốn làm nhanh. Nhưng tình yêu trưởng thành biết rằng có những con đường chỉ người kia mới có thể bước.

Hiệp hành dưới Thánh Giá cũng đòi cộng đoàn học nói sự thật. Đừng nghĩ lắng nghe có nghĩa là không bao giờ sửa sai. Chúa Giêsu vừa đầy lòng thương xót vừa nói sự thật rất rõ. Một cộng đoàn yêu nhau không phải cộng đoàn nơi mọi người tránh mọi khó chịu. Có lúc ta phải nói cho nhau biết một thái độ đang làm tổn thương người khác, một thói quen đang phá cộng đoàn, một cách dùng quyền đang gây sợ hãi, một kiểu nói chuyện đang xúc phạm, một lối sống đang bất trung. Nhưng cách nói sự thật phải mang hình Thánh Giá: không nhằm thắng, không nhằm hạ nhục, không nhằm phô quyền lực, mà nhằm cứu người. Có những lời đúng nhưng được nói bằng tinh thần sai nên trở thành đinh. Có những lần nhân danh “sự thật” để đóng đinh người khác. Một linh đạo hiệp hành không né chân lý, nhưng cũng không dùng chân lý làm vũ khí.

Trong gia đình, hiệp hành dưới Thánh Giá có thể bắt đầu bằng những việc rất nhỏ: vợ chồng học nghe nhau đến hết câu; cha mẹ bớt áp đặt giấc mơ của mình lên con; con cái nhận ra cha mẹ già đi không còn nhanh như trước; anh chị em thôi nhắc lại lỗi cũ để làm vũ khí; mọi người biết xin lỗi mà không thêm chữ “nhưng”. Một gia đình cùng đi không phải gia đình không có xung đột, mà là gia đình không để xung đột biến thành đoạn tuyệt. Có những gia đình cùng sống dưới một mái nhà nhưng đã thôi cùng đi từ lâu. Mỗi người mang một thánh giá riêng vào phòng riêng. Cha không biết con buồn gì. Vợ không còn kể cho chồng điều mình sợ. Con không dám nói với mẹ rằng mình thất bại. Bữa ăn vẫn có nhưng hiệp thông đã thiếu. Linh đạo hiệp hành mời gia đình trở lại với một câu rất đơn giản: “Hôm nay gánh của anh nặng không?” Có khi chỉ một câu ấy cứu cả một người khỏi cảm giác bị bỏ quên.

Trong giáo xứ, hiệp hành dưới Thánh Giá đòi ta nhìn lại cách cộng đoàn đối xử với những người không “đẹp” trong mắt tập thể. Người ly dị, người nghiện, người từng ở tù, người có con ngoài hôn nhân, người thất bại kinh tế, người bỏ lễ nhiều năm rồi quay lại, người trẻ ăn mặc không giống ý ta, người ít biết giáo lý, người có tiếng xấu trong quá khứ: họ có cảm thấy nhà thờ là nơi mình có thể bước vào không? Hay ánh mắt của cộng đoàn khiến họ đứng ngoài? Chúa Giêsu đã chịu đóng đinh ngoài thành. Hội Thánh nếu chỉ dễ chịu với những người đúng chuẩn thì đã quên rằng Đấng mình thờ đã chết giữa hai tội phạm. Hiệp hành không nghĩa là gọi điều sai thành đúng. Hiệp hành nghĩa là không biến lỗi của một người thành toàn bộ căn tính của họ.

Trong đời sống tu trì, hiệp hành dưới Thánh Giá càng cần thiết. Cộng đoàn dòng rất dễ sống cạnh nhau nhiều năm mà ít khi thật sự gặp nhau. Cùng nhà, cùng bàn, cùng nhà nguyện, cùng sứ vụ, nhưng mỗi người có thể vẫn sống trong một hòn đảo. Những vết thương không nói, những căng thẳng không giải quyết, những so sánh âm thầm, những phe nhóm, những bất mãn với bề trên, những thất vọng với anh em, những cô đơn trong đời khiết tịnh có thể tích tụ rất lâu. Và vì ai cũng mang danh đời thánh hiến, người ta càng khó thừa nhận mình đang yếu. Một linh đạo hiệp hành dưới Thánh Giá đòi cộng đoàn tu trì phải là nơi một người có thể nói: “Tôi đang mệt,” mà không bị coi là kém quảng đại; có thể nói: “Tôi đang mất lửa,” mà không bị dán nhãn; có thể xin giúp đỡ trước khi khủng hoảng trở thành đổ vỡ. Đời tu không cần những người đóng vai thánh. Đời tu cần những người đủ thật để ân sủng có chỗ hoạt động.

Đối với hàng giáo sĩ cũng thế. Linh mục không đứng ngoài linh đạo hiệp hành. Người linh mục đôi khi quen làm Simon cho người khác đến mức không cho ai làm Simon cho mình. Ngài nghe bao nhiêu chuyện, giải quyết bao nhiêu nỗi đau, đứng cạnh bao nhiêu quan tài, hòa giải bao nhiêu gia đình, nhưng những thánh giá của chính mình lại không biết đặt xuống ở đâu. Đây là nguy cơ lớn. Không ai có thể vác mãi mọi thánh giá một mình mà không mòn. Chúa Giêsu đã cho Simon vác đỡ. Linh mục cũng phải học để người khác đỡ mình: một người anh em, một cha linh hướng, một cộng đoàn, một tình bạn lành mạnh. Nhận giúp đỡ không làm giảm chức linh mục; nhiều khi đó là cách bảo vệ chức linh mục khỏi sự kiệt sức và cay đắng.

Hiệp hành còn là học bước theo tốc độ của Chúa. Thời đại này thích nhanh. Ta muốn chữa lành nhanh, cải tổ nhanh, có kết quả nhanh, giải quyết xung đột nhanh. Nhưng đường Thánh Giá chậm. Người đang mang gỗ không chạy. Người bị thương không thể chạy theo chương trình của ta. Có những tiến trình hòa giải cần nhiều năm. Có những tổn thương không biến mất sau một cuộc nói chuyện. Có những người phải ngã nhiều lần trước khi thật sự đứng. Hiệp hành nghĩa là không bỏ họ chỉ vì họ tiến chậm. Thiên Chúa rất kiên nhẫn với con người. Phêrô thất bại rất sâu nhưng Chúa vẫn trở lại hỏi ba lần: “Con có yêu Thầy không?” Cộng đoàn mang tinh thần Thánh Giá cũng phải biết kiên nhẫn như thế.

Có một hình thức cô đơn rất đau: không phải không có người xung quanh, mà là không ai thực sự biết mình đang vác gì. Hiệp hành chữa kiểu cô đơn ấy bằng sự hiện diện. Không phải sự hiện diện ồn ào, mà sự hiện diện trung tín. Có khi người đang đau không cần ta nói. Họ chỉ cần biết ta vẫn ở đó ngày mai. Khi Chúa Giêsu trên Thánh Giá, rất ít người làm được gì cho Người. Đức Maria không tháo được đinh. Gioan không hạ được Người xuống. Các phụ nữ không ngăn được quân lính. Nhưng họ đứng. Sự đứng lại ấy chính là tình yêu. Trong đời ta cũng có những lúc không thể cứu người mình yêu khỏi bệnh, khỏi cái chết, khỏi hậu quả một quyết định, khỏi nỗi đau sâu kín. Khi ấy, hiệp hành có thể chỉ còn nghĩa là không bỏ đi.

Thế giới hôm nay có rất nhiều kết nối nhưng thiếu người ở lại. Ta có thể gửi biểu tượng cầu nguyện rất nhanh, nhấn thích rất nhanh, chia sẻ rất nhanh, nhưng người đau vẫn có thể hoàn toàn cô độc. Linh đạo Kyrênê mời ta bước ra khỏi kiểu thương cảm từ xa. Simon phải chạm vào cây gỗ. Thánh giá có mùi mồ hôi, máu và bụi. Hiệp hành thật luôn có giá. Nó lấy thời gian. Nó làm ta mệt. Nó cắt vào lịch riêng. Nó có thể khiến ta mang một phần gánh nặng không do mình tạo ra. Nếu một tình yêu không bao giờ làm chương trình cá nhân của ta bị gián đoạn, có lẽ ta vẫn chưa yêu sâu.

Nhưng cũng cần nhớ rằng không phải mọi gánh nặng của người khác đều được Chúa trao cho ta. Hiệp hành không phải mang cả thế giới trên vai. Có những người vì tốt quá mà kiệt sức, vì tưởng mình phải cứu tất cả. Chỉ Đức Kitô là Đấng Cứu Thế. Simon chỉ vác một đoạn. Đây cũng là bài học quan trọng. Ta được mời giúp, không được mời làm Thiên Chúa. Có lúc đồng hành nghĩa là biết giới hạn của mình, biết giới thiệu người cần giúp đến người chuyên môn, biết nghỉ ngơi, biết nói không với một đòi hỏi vượt khả năng. Nếu không, ta có thể biến lòng tốt thành kiêu ngạo kín đáo: tưởng rằng nếu không có mình thì mọi sự sụp đổ. Chỉ có Chúa không thể thiếu. Ta là người phục vụ.

Một Hội Thánh hiệp hành dưới Thánh Giá vì thế không phải Hội Thánh nơi không ai đau, mà là Hội Thánh nơi nỗi đau không bị bỏ mặc. Không phải nơi mọi vấn đề được giải quyết, mà là nơi không ai bị biến thành vấn đề. Không phải nơi mọi người nghĩ giống nhau, mà là nơi người ta còn có thể nhìn nhau như anh chị em khi chưa đồng ý. Không phải nơi mọi yếu đuối được che giấu, mà là nơi yếu đuối có thể được đem ra ánh sáng mà không bị nghiền nát. Không phải nơi người mạnh làm tất cả, mà là nơi sức mạnh trở thành phục vụ. Không phải nơi người yếu được thần tượng hóa, mà là nơi họ được tôn trọng và giúp lớn lên. Không phải nơi trách nhiệm cá nhân bị hòa tan vào tập thể, mà là nơi mỗi người được nâng đỡ để sống trách nhiệm của mình trước mặt Chúa.

Ta cần trở lại với hình ảnh Simon. Ông không nói gì trong Tin Mừng. Không bài diễn văn. Không lời hứa. Không kế hoạch. Chỉ có một bờ vai dưới gỗ. Có lẽ Hội Thánh hôm nay cần nhiều bờ vai như thế hơn là nhiều khẩu hiệu. Một bà mẹ âm thầm chăm con bệnh. Một người chồng không bỏ vợ trong giai đoạn khủng hoảng. Một linh mục ngồi nghe một người trẻ đến hết câu. Một nữ tu ở cạnh người hấp hối. Một giáo dân dẫn một người vô gia cư đi ăn. Một người bạn gọi điện đều đặn cho người đang trầm uất. Một cộng đoàn không bỏ người anh em đã thất bại. Một giáo xứ mở cửa cho những người từng cảm thấy mình không xứng đáng bước vào. Đó là hiệp hành.

Và còn một điều rất đẹp: khi Simon chạm vào cây Thánh Giá của Chúa, cây Thánh Giá ấy chắc chắn cũng chạm vào ông. Ta không thể vác thánh giá của người khác mà không bị thay đổi. Ai thật sự đồng hành với người nghèo sẽ không còn nhìn tiền bạc như trước. Ai ngồi lâu bên giường người hấp hối sẽ nhìn thời gian khác đi. Ai lắng nghe người bị tổn thương sẽ nói chuyện thận trọng hơn. Ai đã chăm một người bệnh sẽ hiểu sức khỏe là ân huệ. Ai đã đỡ một người sa ngã đứng dậy sẽ bớt kiêu ngạo khi xét xử. Simon tưởng mình chỉ đang giúp một tử tội; nhưng có thể chính cây gỗ ấy đã cứu trái tim ông. Hiệp hành vì vậy không chỉ tốt cho người được giúp. Người giúp cũng được cứu khỏi sự khép kín của mình.

Cuối cùng, linh đạo hiệp hành dưới Thánh Giá đưa ta trở về với Đức Kitô. Chúng ta không hiệp hành chỉ để xây một cộng đồng dễ chịu. Chúng ta cùng đi vì đang theo một Đấng đã đi trước. Người vừa là Đấng vác Thánh Giá, vừa là Đấng để người khác vác đỡ. Người vừa mạnh vừa yếu. Người vừa cứu vừa để mình được giúp. Trong Người, quyền năng không loại trừ sự dễ bị tổn thương. Đó là mẫu mực cho Hội Thánh. Một Hội Thánh đủ mạnh để phục vụ và đủ khiêm nhường để được phục vụ. Một mục tử đủ mạnh để nâng người khác và đủ thật để nói khi mình mệt. Một cộng đoàn đủ quảng đại để gánh cho nhau và đủ khôn ngoan để gọi mỗi người về trách nhiệm của mình.

Có lẽ mỗi ngày ta nên tự hỏi ba câu trước Thánh Giá: hôm nay ai đang vác một cây gỗ gần tôi mà tôi đã không nhìn thấy? Tôi có thể làm Simon cho ai một đoạn? Và cây gỗ nào là phần của chính tôi mà tôi đang cố đẩy sang vai người khác? Nếu trả lời thật ba câu ấy, hiệp hành sẽ không còn là khái niệm. Nó sẽ trở thành một lối sống.

Lạy Chúa Giêsu, trên đường lên Núi Sọ, Chúa đã cho Simon bước vào Thánh Giá của Chúa. Xin dạy chúng con biết nhận ra những Simon Chúa gửi đến khi vai chúng con mỏi. Xin cũng dạy chúng con đừng đi ngang qua khi người khác đang gục dưới gỗ. Cho chúng con một trái tim biết lắng nghe mà không vội phán xét, biết hiện diện mà không kiểm soát, biết giúp đỡ mà không làm thay, biết nói sự thật mà không làm đau thêm, biết yêu thương mà không chiếm hữu. Xin cho các gia đình biết mang nhau, các giáo xứ biết mang nhau, các cộng đoàn tu trì biết mang nhau, các mục tử và đoàn chiên biết mang nhau. Đừng để trong Hội Thánh của Chúa có ai phải chết trong cảm giác mình hoàn toàn đơn độc. Nhưng cũng xin cho mỗi chúng con can đảm nhận lấy phần Thánh Giá của mình, không trốn tránh trách nhiệm, không đổ lỗi, không bắt người khác sống thay cuộc đời mình. Xin làm cho Hội Thánh trở thành một đoàn người biết đi cùng nhau, không phải chỉ trên những ngày lễ sáng rực, mà cả trên con đường bụi dẫn đến Núi Sọ. Và khi chúng con cùng nhau bước dưới bóng Thánh Giá, xin cho chúng con nhớ rằng đường ấy không kết thúc nơi mồ. Phía bên kia cây gỗ là bình minh Phục Sinh. Phía bên kia những bước chân mỏi mệt là cuộc gặp gỡ. Phía bên kia mọi hiệp hành thật sự là bàn tiệc của Nước Trời, nơi không còn ai vác thánh giá một mình, bởi Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt trên mọi khuôn mặt, và tất cả những người đã cùng nhau bước trong đức tin sẽ nhận ra rằng từng lần họ cúi vai dưới gánh của một người anh em, họ đã chạm vào chính Thánh Giá của Đức Kitô.

CHƯƠNG XX. KẾT: HÔN THÁNH GIÁ

Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, có một khoảnh khắc rất lạ. Nhà thờ không rực sáng như đêm Giáng Sinh, không vang Alleluia như đêm Phục Sinh, bàn thờ trống, Nhà Tạm trống, chuông im, đàn im, cộng đoàn bước vào một thứ thinh lặng có sức nặng của một buổi chiều năm xưa trên đồi Golgotha. Rồi Thánh Giá được đưa vào giữa cộng đoàn. Người chủ sự từ từ mở khăn che và cất tiếng: “Đây là cây Thánh Giá, nơi treo Đấng Cứu Độ trần gian.” Và dân Chúa đáp: “Chúng ta hãy đến thờ lạy.” Sau đó từng người tiến lên. Người già bước chậm. Người trẻ cúi đầu. Có người quỳ. Có người chạm tay. Có người áp trán. Có người hôn. Một cái hôn đặt lên một dụng cụ hành hình. Nếu đứng bên ngoài đức tin, người ta có thể thấy đó là một điều gần như không thể hiểu nổi. Tại sao lại hôn một cây gỗ từng dùng để giết người? Tại sao lại cúi mình trước dấu tích của nhục hình? Tại sao không tránh nó, không ghê sợ nó, không che nó đi? Nhưng người Kitô hữu biết mình không hôn cái ác. Không ai hôn sự tra tấn. Không ai tôn thờ đau khổ. Không ai phong thánh cho bạo lực. Chúng ta hôn Thánh Giá bởi vì trên cây gỗ ấy có một Người đã yêu. Một Người đã yêu đến mức không còn giữ gì cho mình. Một Người đã để hai tay mình bị đóng mở ra để từ đó không bao giờ khép lại trước nhân loại. Một Người đã để chân mình bị đóng xuống để không bỏ chạy khỏi những kẻ Người đến cứu. Một Người đã để cạnh sườn mình bị mở ra để ngay cả sau khi chết, Người vẫn còn cho đi máu và nước. Vì thế, cái hôn của Thứ Sáu Tuần Thánh không phải là cái hôn dành cho đau khổ; đó là cái hôn dành cho Tình Yêu đã đi xuyên qua đau khổ. Không phải hôn gỗ, nhưng hôn Người trên gỗ. Không phải hôn đinh, nhưng hôn đôi tay đã chịu đinh vì ta. Không phải hôn thất bại, nhưng hôn Đấng đã bước xuống tận nơi con người tưởng là thất bại cuối cùng để biến chính nơi ấy thành khởi đầu của sự sống. Không phải hôn cái chết, nhưng hôn Đấng đã đi vào cái chết để cái chết từ nay không còn là căn phòng không cửa. Có lẽ sau tất cả những gì đã nói về Thánh Giá, cuối cùng đức tin Kitô giáo có thể được thu lại trong một cử chỉ rất nhỏ như thế: tiến đến, cúi xuống và hôn. Không còn nhiều lý luận. Không còn cần chứng minh. Khi yêu đủ sâu, người ta thường hết lời. Maria dưới chân Thánh Giá không có một bài diễn văn. Gioan không ghi rằng Mẹ đã giải thích tại sao Con mình phải chết. Mẹ đứng. Và có những lúc trong đời, đức tin trưởng thành cũng chỉ còn là thế: đứng, nhìn, khóc, yêu, và không bỏ đi. Hôn Thánh Giá là nói với Chúa bằng môi, bằng nước mắt và bằng cả những gì không thể thành lời: “Lạy Chúa, con không hiểu hết, nhưng con ở đây. Con không thích đau khổ, nhưng con không bỏ Chúa vì đau khổ. Con vẫn sợ, nhưng con không muốn chạy nữa. Con không biết ngày mai sẽ thế nào, nhưng con tin bàn tay đã bị đóng đinh này vẫn giữ được đời con.”

Làm sao để yêu mến Thánh Giá? Có lẽ trước hết là nhìn cho thật. Đừng trang trí Thánh Giá đến mức không còn thấy máu. Đừng biến Thánh Giá thành một món trang sức đẹp đến độ quên rằng từng có một thân xác run rẩy trên đó. Đừng để cây thánh giá vàng trên ngực làm ta quên cây thập giá bằng gỗ trong Tin Mừng. Đức Giêsu không chết trong một khung cảnh sạch sẽ. Có máu. Có mồ hôi. Có nước bọt. Có bụi đường. Có tiếng chế giễu. Có sự trần trụi. Có một người mẹ phải nhìn con chết. Có một người môn đệ đứng bất lực. Có những kẻ từng hô “Hosanna” nay không còn thấy đâu. Có những người lính chia áo Người. Có một tên trộm nhạo báng và một tên trộm xin được nhớ đến. Có tiếng “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” Có cơn khát. Có hơi thở cuối cùng. Có một lưỡi đòng xuyên cạnh sườn. Nếu loại tất cả những điều ấy ra, Thánh Giá trở thành một biểu tượng vô hại. Nhưng Thánh Giá thật không vô hại. Thánh Giá làm ta khó chịu vì nó phơi ra sự thật về tội lỗi, về bạo lực, về sự nhát đảm, về phản bội, về quyền lực, về cái giá của tình yêu. Đồng thời, chính khi nhìn cho thật, ta mới phát hiện một sự thật còn sâu hơn: không có tầng sâu nào của đau khổ con người mà Thiên Chúa từ chối đi vào. Có người nghĩ: “Chẳng ai hiểu tôi.” Thánh Giá đáp: “Có Người hiểu.” Có người nói: “Tôi đã bị bỏ.” Thánh Giá đáp: “Người cũng đã nếm sự bị bỏ.” Có người nói: “Tôi đã bị phản bội bởi người thân.” Thánh Giá nhắc đến cái hôn của Giuđa. Có người nói: “Danh dự của tôi bị nghiền nát.” Thánh Giá cho thấy một vị Vua bị đội mão gai. Có người nói: “Tôi cầu nguyện nhưng trời im lặng.” Thánh Giá vang lên lời kêu của Đức Giêsu trong bóng tối. Có người nói: “Thân xác tôi đau.” Thánh Giá không trả lời bằng triết học nhưng bằng một thân xác mang thương tích. Có người đứng trước quan tài người mình yêu và cảm thấy cái chết đã lấy mất tất cả. Thánh Giá không bảo họ đừng khóc. Đức Giêsu đã khóc trước mồ Lazarô. Kitô giáo không dạy người ta tê liệt trước đau khổ; Kitô giáo cho người ta một Người để ôm lấy trong đau khổ. Yêu Thánh Giá vì thế không phải là tập thích đau. Nếu đau mà có thể chữa, hãy chữa. Nếu bất công mà có thể sửa, hãy sửa. Nếu bạo lực mà có thể thoát, hãy thoát. Nếu một người đang bị áp bức, đừng bảo họ ở lại chỉ để “vác thánh giá”. Thánh Giá không phải dụng cụ để kẻ mạnh bắt người yếu im lặng. Chính Đức Kitô trên Thánh Giá đã phơi trần bạo lực của thế gian. Nhưng có những thánh giá sau khi đã làm tất cả những gì đúng đắn, ta vẫn không thể tháo xuống: một quá khứ không thể viết lại, một người thân đã chết, một giới hạn thân xác, một tuổi già đang đến, một thất bại đã xảy ra, một vết thương đã thành sẹo, một trách nhiệm không thể bỏ, một tiếng “xin vâng” đã trao cho Chúa, một ngày mai ta không kiểm soát. Lúc ấy, yêu Thánh Giá nghĩa là ngừng đòi cuộc đời phải trở thành một đời khác mới chịu sống. Ta nhận lấy ngày đang có và nói: “Lạy Chúa, nếu đây là mảnh đất Chúa đặt con hôm nay, xin dạy con yêu Chúa trên chính mảnh đất này.” Không phải cam chịu. Không phải buông xuôi. Nhưng là một tự do rất sâu: tôi sẽ không để điều tôi không chọn lấy mất khả năng yêu của tôi.

Yêu Thánh Giá còn là đứng như Maria khi không giải quyết được. Con người hiện đại rất quen giải quyết. Có vấn đề thì tìm phương án. Có triệu chứng thì tìm thuốc. Có lỗi thì sửa. Có dữ liệu thì phân tích. Có câu hỏi thì tìm câu trả lời. Điều ấy tốt. Trí khôn là quà của Chúa. Y khoa là quà. Khoa học là quà. Kỹ thuật là quà. Những phương pháp quản trị, tâm lý, giáo dục, mục vụ đều có giá trị. Nhưng rồi một ngày, mỗi người sẽ gặp một Golgotha không có nút “sửa”. Một căn bệnh mà bác sĩ chỉ còn có thể giảm đau. Một người con đã chọn con đường cha mẹ không thể thay. Một cuộc hôn nhân đã mang thương tích lâu năm mà sự chữa lành rất chậm. Một người thân nằm hấp hối. Một tiếng oan không thể lập tức rửa sạch. Một cộng đoàn có vết thương mà không bài họp nào giải quyết trong một buổi. Một linh mục nhìn người giáo dân đau mà không còn câu nào đủ để nói. Một người mẹ nhìn con đau mà chỉ ước mình có thể đổi chỗ. Lúc ấy, Maria dạy ta một linh đạo khác: đứng. “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người.” Mẹ không làm phép lạ kéo đinh ra. Mẹ không thay đổi Philatô. Mẹ không làm đám đông đổi ý. Mẹ không làm thời gian quay ngược. Mẹ chỉ ở đó. Nhưng đừng bao giờ coi chữ “chỉ” ấy là nhỏ. Có khi điều thánh thiện nhất ta có thể làm cho một người đau khổ là không bỏ họ. Không giảng quá sớm. Không giải thích thay Thiên Chúa. Không nói những câu đạo đức rẻ tiền như thể một câu Kinh Thánh có thể lập tức làm vết thương khép lại. Không buộc họ phải tươi cười để chứng minh đức tin. Chỉ ở đó. Ngồi bên giường. Nắm bàn tay. Lắng nghe câu chuyện lặp lại lần thứ mười. Cho phép nước mắt rơi. Cầu một kinh nhỏ. Pha một ly nước. Đưa họ đi khám. Trực một đêm. Gọi một cuộc điện thoại. Nhắn một câu rằng: “Tôi vẫn ở đây.” Đó là linh đạo Maria dưới chân Thánh Giá. Và đôi khi ta cũng phải đứng với chính mình như thế. Có những ngày ta không sửa được mình ngay. Những tập tính cũ chưa biến mất. Những yếu đuối vẫn trở về. Đừng vì thế mà tuyệt vọng. Đứng trước Chúa. Đem đúng con người mình đến. Đừng chỉ đem phiên bản đẹp của mình đến nhà nguyện. Hãy đem cả sợ hãi, tức giận, chán nản, thất bại, ghen tị, xấu hổ. Thánh Giá không dành cho những người đã hoàn tất; Thánh Giá là nơi những kẻ cần được cứu đến. Maria đứng đó không phải vì bà hiểu tất cả nhưng vì bà yêu Người đang ở đó. Đức tin sau cùng không phải là hiểu mọi điều về Thiên Chúa. Đức tin là không bỏ Thiên Chúa khi ta không còn hiểu.

Yêu Thánh Giá cũng là run như Chúa ở Ghetsêmani rồi vẫn nói xin vâng. Đây là điều rất quan trọng, bởi người ta dễ dựng nên một thứ anh hùng Kitô giáo không có trong Tin Mừng. Đức Giêsu không bước vào cuộc Thương Khó với vẻ mặt của một người không cảm thấy gì. Người buồn đến chết được. Người ngã xuống đất. Người toát mồ hôi. Người xin chén ấy nếu có thể hãy qua khỏi. Đức tin không xóa phản ứng của thân xác. Can đảm không có nghĩa là không sợ. Can đảm Kitô giáo có thể run. Có thể khóc. Có thể mất ngủ. Có thể hỏi. Có thể xin Chúa đổi hoàn cảnh. Có thể đi bác sĩ. Có thể xin người khác giúp. Có thể thưa: “Con không muốn điều này.” Và sau tất cả, trong nơi sâu nhất của lòng mình, vẫn có thể thêm: “Nhưng xin đừng theo ý con, một theo ý Cha.” “Xin vâng” không phải là một cảm xúc ngọt ngào. Đôi khi nó rơi ra khỏi môi giữa hai tiếng nấc. Đôi khi phải nói lại mỗi sáng. Có những tiếng xin vâng chỉ kéo dài được một ngày: “Lạy Chúa, hôm nay thôi, cho con trung tín.” Và ngày mai ta lại nói lại. Chúa không luôn trao cho ta sức mạnh của mười năm. Người cho manna từng ngày. Người nói: “Ngày nào có cái khổ của ngày ấy.” Vì vậy đừng hoảng khi nghĩ đến cả con đường. Có người chịu được hôm nay nhưng sợ: “Nếu bệnh này kéo dài năm năm thì sao?” Đừng vác năm năm trong một buổi chiều. Hôm nay vác hôm nay. Ngày mai có ân sủng ngày mai. Có người lo: “Nếu tôi phải sống cô đơn suốt đời?” Đừng sống cả đời trong một đêm. Hãy sống đêm này với Chúa. Có người tự hỏi: “Nếu người ấy không bao giờ thay đổi?” Ta không biết. Nhưng ta biết hôm nay Chúa đang ở đây. Linh đạo Thánh Giá là linh đạo của từng bước. Đức Giêsu đã không mang cây gỗ đến Golgotha bằng một cú nhảy. Người bước. Người ngã. Người đứng dậy. Simon giúp một đoạn. Veronica theo truyền thống trao khăn. Những phụ nữ khóc. Cuối cùng Người tới. Đời môn đệ cũng thế. Đừng khinh những tiếng xin vâng nhỏ. “Con sẽ không trả lời lời xúc phạm này bằng xúc phạm.” Đó là một tiếng xin vâng. “Con sẽ làm công việc này tử tế dù không ai biết.” Đó là một tiếng xin vâng. “Con sẽ chăm người bệnh thêm hôm nay.” Đó là một tiếng xin vâng. “Con sẽ không bỏ cầu nguyện chỉ vì hôm nay không cảm thấy gì.” Đó là một tiếng xin vâng. “Con sẽ xin lỗi trước.” Đó là một tiếng xin vâng. “Con sẽ thú nhận rằng con cần giúp đỡ.” Đó cũng là một tiếng xin vâng. Thiên Chúa xây sự thánh thiện bằng vô vàn tiếng xin vâng bé như hạt cải.

Vì thế, yêu Thánh Giá là vác phần hằng ngày, nhỏ, nhàm, không ai vỗ tay. Thập giá mà ta mơ tưởng thường hùng tráng hơn thập giá Chúa trao. Ta tưởng mình sẽ can đảm nếu phải tử đạo, nhưng lại cáu vì một người nói chuyện khó nghe. Ta tưởng mình có thể hy sinh mạng sống cho Chúa nhưng khó hy sinh mười phút để nghe một người già kể chuyện cũ. Ta tưởng mình sẵn sàng làm những điều lớn lao, nhưng khó rửa một cái chén không phải của mình. Ta yêu những thánh giá có khán giả hơn những thánh giá trong bếp, trong phòng bệnh, trên bàn làm việc, trong phòng khách gia đình, trong cộng đoàn. Nhưng chính những điều nhỏ lặp đi lặp lại mới mài trái tim thành hình Thánh Giá. Một người mẹ thức lúc hai giờ sáng vì con sốt. Một người chồng kiên nhẫn với người vợ đang mệt mỏi. Một người vợ chăm chồng bệnh năm này qua năm khác. Một người con gọi điện cho cha mẹ già dù câu chuyện chẳng có gì mới. Một tu sĩ vẫn trung thành với giờ kinh khi tâm hồn khô khan. Một linh mục ngồi nghe người thứ mười trong ngày trong khi bản thân đã kiệt sức. Một giáo lý viên chuẩn bị bài dù lớp chỉ có vài em. Một người lao động từ chối gian dối dù biết mình sẽ thiệt. Một người bị xúc phạm nhưng không gieo thêm độc trên mạng xã hội. Một người âm thầm nhường phần tốt hơn cho người khác mà không đăng lên đâu. Một người làm việc thiện và không cần biết ai có biết hay không. Đó là những cây thập giá rất ít tiếng động. Không ai làm phim. Không ai trao huy chương. Nhưng trên trời, tình yêu được cân bằng một cái cân khác. Chúa Giêsu nói về ly nước lã, về đồng tiền bà góa, về men trong bột, về hạt cải, về việc thăm người bệnh và cho người đói ăn. Nước Trời thích ẩn mình trong những điều bé. Vậy nên đừng chờ một Golgotha lớn mới bắt đầu sống linh đạo Thánh Giá. Golgotha đã bước vào căn nhà ta dưới những hình thức bình thường. Hãy yêu ở đó. Và cũng đừng vác thập giá của người khác thay họ chỉ vì ta không muốn nhìn phần của mình. Ta dễ nói người khác phải thay đổi, dễ chỉ ra khuyết điểm trong Giáo Hội, gia đình, cộng đoàn, xã hội. Có lúc cần nói. Nhưng câu hỏi không thể thiếu là: “Phần gỗ của tôi ở đâu?” Tôi cần sửa điều gì? Tôi phải xin lỗi ai? Tôi đang trốn trách nhiệm nào? Tôi đang đổ lỗi cho ai? Tôi đang dùng đau khổ của mình như giấy phép làm đau người khác ở chỗ nào? Thánh Giá của Chúa không bao giờ biến ta thành nạn nhân chuyên nghiệp. Gặp Thánh Giá thật sẽ làm ta khiêm nhường và có trách nhiệm hơn.

Yêu Thánh Giá còn là thương xót, vì cạnh sườn còn mở. Nếu sau nhiều năm cầu nguyện trước Thánh Giá mà ta ngày càng lạnh với người yếu, ngày càng thích phán xét, ngày càng cay nghiệt với người sa ngã, thì cần hỏi ta đã thực sự nhìn thấy gì trên cây gỗ ấy. Bởi từ cạnh sườn bị đâm không chảy ra bản án, nhưng máu và nước. Từ miệng Đức Giêsu không phát ra lời nguyền dành cho kẻ đóng đinh, nhưng lời: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Người không nói tội là không có thật. Chính Thánh Giá cho thấy tội ghê gớm đến đâu. Nhưng cùng lúc, Thánh Giá cho thấy lòng thương xót còn sâu hơn tội. Một Hội Thánh quỳ trước Thánh Giá không thể đứng lên rồi ném đá. Một linh mục hôn Thánh Giá không thể sau đó coi thường những người đến với mình trong tội lỗi và đổ vỡ. Một người Kitô hữu đeo Thánh Giá trên cổ không thể dùng miệng hủy hoại danh dự anh em như thể họ không được Đức Kitô đổ máu cho. Điều ấy không có nghĩa bỏ sự thật. Chúa Giêsu đầy ân sủng và sự thật. Thương xót không gọi bóng tối là ánh sáng. Nhưng thương xót nói sự thật theo cách mở ra đường trở về. Thương xót phân biệt con người với tội của họ. Thương xót biết rằng người làm ta đau cũng là một lịch sử ta chưa hiểu hết. Thương xót không nhất thiết là nối lại mọi quan hệ như cũ; có những quan hệ cần khoảng cách lành mạnh. Tha thứ không có nghĩa trao lại quyền làm tổn thương. Nhưng tha thứ nghĩa là tôi từ chối để vết thương biến trái tim tôi thành bản sao của người đã làm tôi đau. Tôi không để cái ác sinh thêm cái ác trong tôi. Tôi trao công lý cho Chúa và cho những cơ chế có trách nhiệm, còn linh hồn tôi xin được giải thoát khỏi lòng thù. Điều ấy rất khó. Nhiều lần không thể làm bằng ý chí. Vì thế phải đứng dưới cạnh sườn mở và xin: “Lạy Chúa, con chưa tha được. Xin cho lòng thương xót của Chúa đi qua trái tim con trước.” Có khi sự tha thứ bắt đầu không phải bằng cảm giác yêu người kia, nhưng bằng việc thôi cầu cho họ bị hủy diệt. Rồi một ngày có thể cầu: “Xin Chúa cứu họ.” Đó đã là một phép lạ của Thánh Giá.

Và yêu Thánh Giá là hy vọng, vì ngôi mộ sẽ mở. Nếu cuốn sách này dừng lại ở chiều Thứ Sáu, nó chưa phải là sách Kitô giáo. Người Kitô hữu không yêu Thánh Giá như điểm cuối. Thánh Giá luôn chỉ về sáng ngày thứ ba. Chúng ta không nói mọi đau khổ rồi sẽ có một kết thúc đẹp theo cách thế gian định nghĩa. Có bệnh nhân không khỏi. Có gia đình không lấy lại được người đã mất. Có giấc mơ không thành. Có những vết thương đi theo con người đến hết đời. Hy vọng Kitô giáo không phải một lời đảm bảo rằng mọi tình huống trên trần gian sẽ kết thúc như ta muốn. Hy vọng sâu hơn thế nhiều: sự chết không có tiếng nói cuối cùng. Tội không có tiếng nói cuối cùng. Thất bại không có tiếng nói cuối cùng. Oan khuất không có tiếng nói cuối cùng. Bệnh tật không có tiếng nói cuối cùng. Tuổi già không có tiếng nói cuối cùng. Ngôi mộ không có tiếng nói cuối cùng. Thiên Chúa có. Vì Đức Kitô phục sinh không xóa các dấu đinh. Người đem chúng vào vinh quang. Điều ấy là một trong những mầu nhiệm đẹp nhất của Kitô giáo. Chúa sống lại vẫn mang thương tích. Người nói với Tôma: “Hãy đặt ngón tay vào đây.” Nghĩa là sự phục sinh không giả vờ rằng Thứ Sáu chưa từng xảy ra. Ân sủng không xóa lịch sử; ân sủng cứu lịch sử. Một ngày nào đó, những gì làm ta khóc hôm nay sẽ được nhìn trong ánh sáng ta chưa có. Ta sẽ không nói: “Nỗi đau ấy chẳng đáng gì.” Ta có thể nói: “Chúa đã ở đó mà khi ấy con không biết.” Có lẽ trên trời ta sẽ nhận ra nhiều khoảnh khắc mình tưởng Chúa vắng mặt lại chính là lúc Người đứng gần nhất. Ta sẽ hiểu tại sao một số lời cầu xin được đáp khác điều ta xin. Ta sẽ gặp lại những người đã ra đi trong Chúa. Ta sẽ được chữa tận căn khỏi những vết thương mà trần gian chỉ có thể băng lại. Và nước mắt cuối cùng sẽ được chính Thiên Chúa lau. Vì thế hy vọng Kitô giáo có thể khóc. Người có hy vọng không phải người không khóc; đó là người khóc mà vẫn tin nước mắt không phải ngôn ngữ cuối cùng của vũ trụ.

Rồi cuối cùng: hôn. Hôn bằng môi khi phụng vụ mời, và hôn bằng đời khi sáng thứ Hai mời. Hôn Thánh Giá Thứ Sáu Tuần Thánh tương đối dễ: nhà thờ thinh lặng, cộng đoàn sốt sắng, cây Thánh Giá đặt trước mặt, mọi người cùng tiến lên. Khó hơn là hôn Thánh Giá vào sáng thứ Hai khi chuông báo thức reo, khi công việc đang chất, khi người mình không thích lại xuất hiện, khi bệnh cũ lại đau, khi một lời nói làm mình tổn thương, khi cầu nguyện khô khan, khi kế hoạch không thành, khi tuổi già nhắc rằng sức lực đang giảm, khi điện thoại báo một tin không muốn nhận. Chính lúc đó phụng vụ tiếp tục ngoài nhà thờ. Cây Thánh Giá không còn đặt giữa cung thánh mà đi vào căn bếp, bệnh viện, văn phòng, nhà dòng, giáo xứ, lớp học, đường phố, phòng ngủ, màn hình điện thoại. Hôn bằng đời nghĩa là nói: “Lạy Chúa, con nhận ra Chúa đang đợi con ở đây.” Hôn không có nghĩa là thích hoàn cảnh. Người ta có thể vừa hôn Thánh Giá vừa xin Chúa cất nó. Chúa Giêsu đã làm thế. Nhưng hôn nghĩa là không để đau khổ tách mình khỏi Chúa. “Thánh giá này có thể lấy sức khỏe con, nhưng con không cho nó lấy đức tin.” “Nó có thể lấy kế hoạch của con, nhưng con không cho nó lấy tình yêu.” “Nó có thể làm con khóc, nhưng con không cho nó biến con thành người cay độc.” “Nó có thể khiến con phải đi chậm, nhưng con vẫn đi về phía Chúa.” Có những cái hôn rất đắng. Có những ngày môi chỉ chạm được một giây rồi rút lại. Chúa hiểu. Người không đòi ta diễn vai thánh nhân. Người chỉ xin sự thật. Phêrô từng nói sẽ chết với Thầy rồi bỏ chạy; Chúa Phục Sinh không loại ông mà hỏi ba lần: “Con có yêu Thầy không?” Có lẽ Chúa cũng không hỏi ta: “Con có hiểu hết Thánh Giá không?” Người hỏi: “Con có yêu Thầy không?” Nếu câu trả lời hôm nay chỉ là: “Lạy Chúa, Chúa biết con muốn yêu Chúa, dù con đang rất sợ,” thì hãy bắt đầu ở đó.

Sau cùng, tất cả những gì ta học về Thánh Giá sẽ phải đi qua một thử thách rất đơn giản: nó có làm ta yêu Chúa hơn và yêu người hơn không? Nếu linh đạo Thánh Giá làm ta khắc nghiệt, có gì đó sai. Nếu nó làm ta coi thường thân xác, sai. Nếu nó khiến ta ca tụng bạo hành, sai. Nếu nó khiến ta bắt người yếu phải im lặng trước bất công, sai. Nếu nó khiến ta tưởng càng đau càng thánh, sai. Nhưng nếu Thánh Giá làm ta bớt chạy khỏi người đau, bớt sợ sự mong manh của chính mình, bớt phán xét, bớt giữ thù, bớt cần được nhìn nhận, bớt bám vào kiểm soát; nếu nó làm ta trung tín hơn, hiền hơn, thật hơn, tự do hơn, có lòng thương xót hơn; nếu nó giúp ta có thể ngồi bên một người sắp chết mà không cần nói nhiều, có thể bước vào căn phòng của người bị bỏ rơi, có thể xin lỗi, tha thứ, phục vụ, hy sinh mà không tính toán; nếu nó dạy ta biết rằng một đời đáng sống không phải là một đời không đau mà là một đời biết yêu trong mọi sự — lúc đó Thánh Giá đang từ biểu tượng trở thành linh đạo. Và đó có lẽ là điều ta xin sau khi khép cuốn sách này: không phải biết thêm nhiều điều về Thánh Giá, nhưng trở thành một con người mang hình Thánh Giá. Đôi tay biết mở ra. Trái tim biết bị thương mà không khép lại. Đôi chân biết ở lại khi người khác cần. Cái miệng biết tha thứ. Đôi mắt biết nhìn người bị bỏ quên. Đầu gối biết quỳ. Vai biết mang. Và tâm hồn biết phó mình cho Cha.

Tôi không hứa rằng đọc xong những trang này, thánh giá sẽ nhẹ cân. Có thể ngày mai thánh giá vẫn nặng nguyên. Bệnh vẫn còn. Người khó tính vẫn khó. Vết thương vẫn nhói. Hoàn cảnh vẫn chưa thay đổi. Câu hỏi vẫn chưa có câu trả lời. Tôi không dám bán cho ai một thứ đức tin làm thuốc mê. Đức Giêsu không đến để nói rằng đau khổ không đau. Chính Người đã kêu lên. Chính Người đã ngã xuống. Chính Người đã cần Simon. Chính Người đã nói “Tôi khát.” Nhưng tôi dám nói điều các thánh đã nói bằng chính đời họ: Thánh Giá có Người. Và có Người thì mọi sự đổi nghĩa. Có Người thì gỗ không còn chỉ là gỗ. Có Người thì đêm không còn là hết. Có Người thì căn phòng bệnh không hoàn toàn cô độc. Có Người thì tuổi già không chỉ là mất mát nhưng có thể thành mùa trao lại. Có Người thì thất bại không còn toàn quyền định nghĩa con người. Có Người thì tội nhân vẫn có thể trở về. Có Người thì kẻ phản bội như Phêrô vẫn có ngày được trao đoàn chiên. Có Người thì tên trộm trong những phút cuối vẫn nghe lời hứa Thiên Đàng. Có Người thì một người mẹ đứng dưới chân Thánh Giá có thể trở thành Mẹ của cả Hội Thánh. Có Người thì một ngôi mộ được niêm phong vẫn có thể mở. Có Người thì kẻ sợ vẫn có thể yêu.

Có lẽ đến cuối đời, nhiều điều ta từng cho là lớn sẽ hóa nhỏ. Danh tiếng nhỏ. Thành tích nhỏ. Những cuộc tranh thắng nhỏ. Những điều người khác nghĩ về ta nhỏ. Những món đồ ta sở hữu nhỏ. Có thể chỉ còn vài điều thật lớn: ta đã yêu ai, ta đã tha thứ chưa, ta đã để Chúa yêu mình chưa, ta đã làm gì với những người Người đặt trên đường đời, ta đã vác phần gỗ của mình thế nào, và khi Thánh Giá đến gần, ta đã chạy hay đã ở lại. Không ai trong chúng ta ở lại hoàn hảo. Các môn đệ đầu tiên cũng không. Tin Mừng được viết bởi một cộng đoàn biết rất rõ con người có thể bỏ chạy. Nhưng Tin Mừng cũng biết một điều lớn hơn: Đấng chịu đóng đinh đã sống lại và đi tìm những kẻ bỏ chạy. Người không đứng bên bờ hồ Galilê để hỏi Phêrô: “Tại sao con hèn?” Người nhóm lửa, chuẩn bị bánh và cá, rồi hỏi: “Con có yêu Thầy không?” Đây là hy vọng cuối cùng của mọi linh đạo Thánh Giá: không phải sức ta bám lấy Chúa, nhưng trước hết là sức Chúa không buông ta. Ta có thể ngã dưới thánh giá mình, và Chúa biết ngã là gì. Ta có thể cần một Simon, và Chúa đã từng nhận sự giúp đỡ của Simon. Ta có thể khóc, và Chúa đã khóc. Ta có thể sợ, và Chúa đã run. Ta có thể cảm thấy bị bỏ, và Chúa đã đi qua chính tiếng kêu ấy. Không có cảm nghiệm nhân loại chân thật nào mà Người Con đã hoàn toàn đứng ngoài. Bởi vậy, khi chẳng còn biết cầu gì, ta có thể chỉ nhìn Thánh Giá và nói: “Chúa biết.” Hai chữ ấy đôi khi đủ cho cả một đêm.

Và khi ngày cuối cùng của đời mình đến — ngày mà tất cả các cây thánh giá nhỏ hội tụ vào cây thánh giá cuối cùng là cái chết — xin cho chúng ta cũng có thể làm điều đã tập suốt đời: phó mình. Không ai biết mình sẽ chết thế nào. Có người ra đi thanh thản. Có người trải qua bệnh tật dài. Có người còn tỉnh táo, có người không. Nhưng ta có thể chuẩn bị từ hôm nay bằng từng cái chết nhỏ của cái tôi: chết cho tự ái, chết cho nhu cầu thắng, chết cho thù hận, chết cho tham vọng phải kiểm soát, chết cho ảo tưởng mình bất tử. Mỗi lần tha thứ là một chút chết và một chút phục sinh. Mỗi lần cho đi là một chút chết và một chút phục sinh. Mỗi lần xin vâng là một chút chết và một chút phục sinh. Đến lúc phải trao hơi thở cuối cùng, ta chỉ hoàn tất điều đã thực tập từ lâu: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Và phía bên kia tiếng ấy không phải hư vô. Là Đấng đã nói với người trộm: “Hôm nay, anh sẽ ở với tôi trên Thiên Đàng.” Là Đấng đã đi trước qua cửa sự chết và để cửa ấy mở cho ta.

Vậy hãy hôn Thánh Giá. Hôn khi hiểu và khi không hiểu. Hôn khi lòng sốt sắng và khi lòng khô khan. Hôn khi đời bình an để học trước ngôn ngữ ta sẽ cần trong ngày giông bão. Hôn khi đang đau, không phải vì đau là tốt, nhưng vì Chúa đang ở đó. Hôn những vết thương của Chúa để học đừng sợ vết thương của con người. Hôn đôi tay bị đóng đinh để bàn tay mình biết phục vụ. Hôn đôi chân bị đóng để đôi chân mình biết đi về phía người bị bỏ quên. Hôn cạnh sườn mở để trái tim mình thôi khóa cửa. Hôn mão gai để thôi quá khát vinh quang. Hôn sự trần trụi của Chúa để thôi xây đời trên vẻ bên ngoài. Hôn sự im lặng của Chúa để học không phải lúc nào cũng cần thắng bằng lời. Hôn tiếng “xin tha cho họ” để học tha thứ. Hôn tiếng “Tôi khát” để nhận ra cơn khát của người nghèo, cô đơn, bị bỏ rơi quanh ta. Hôn lời “Mọi sự đã hoàn tất” để đến ngày cuối ta cũng có thể trao đời lại mà không tiếc vì đã yêu.

Rồi hãy đứng lên khỏi cái hôn ấy và sống. Đừng ở mãi dưới chân cây gỗ như thể Kitô giáo kết thúc ở Thứ Sáu. Hãy bước về phía ngôi mộ trống. Hãy mang tình yêu vừa hôn được vào đời. Hãy để người trong gia đình nhận ra Thánh Giá qua sự kiên nhẫn của ta. Hãy để người nghèo nhận ra Thánh Giá qua lòng quảng đại của ta. Hãy để người có lỗi nhận ra Thánh Giá qua lòng thương xót của ta. Hãy để người cô đơn nhận ra Thánh Giá qua sự hiện diện của ta. Hãy để người đang tuyệt vọng nhận ra Phục Sinh qua niềm hy vọng của ta. Khi ấy Thánh Giá không còn nằm trên tường. Nó đã đi vào da thịt. Nó trở thành cách ta yêu. Và khi một người đã yêu theo hình Thánh Giá, người ấy tự nhiên bắt đầu mang dáng Phục Sinh, bởi bất cứ nơi đâu có tình yêu tự hiến thật, ở đó sự chết đã bắt đầu mất quyền.

Xin Chúa Giêsu chịu đóng đinh dạy chúng ta yêu Ngài không phải vì Ngài hứa làm đời ta luôn êm, nhưng vì Ngài đã yêu chúng ta đến cùng. Xin Người cho chúng ta đừng xin một đời không có thập giá, nhưng xin một đời trong đó không thập giá nào có thể tách chúng ta khỏi Người. Xin cho khi đau chúng ta biết kêu với Người; khi sợ biết run với Người; khi phải chọn biết xin vâng với Người; khi ngã biết đứng dậy với Người; khi gặp người đau biết đứng bên họ như Maria; khi người khác cần giúp biết trở thành Simon; khi bị xúc phạm biết nhìn lên Đấng nói “xin tha”; khi khát biết nhớ Đấng đã nói “Tôi khát”; khi cô đơn biết nhớ rằng Người từng đi qua cô đơn; khi cái chết đến biết nhớ rằng Người đã vào mộ trước và đã bước ra. Xin cho chúng ta, sau một đời đeo Thánh Giá, thực sự trở thành môn đệ của Đấng chịu đóng đinh. Xin cho cây Thánh Giá trên bàn thờ không chỉ được hôn một lần mỗi năm nhưng được hôn bằng từng ngày sống: bằng sự trung thành, bằng lòng thương xót, bằng việc phục vụ âm thầm, bằng sự thật, bằng tha thứ, bằng lòng tín thác, bằng một tiếng xin vâng được lặp đi lặp lại cho đến hơi thở cuối.

Và nếu có một lời cuối cùng cho tất cả những trang này, có lẽ không cần dài. Chỉ là: Đừng sợ Thánh Giá khi trên Thánh Giá có Chúa. Đừng yêu đau khổ; hãy yêu Chúa đến mức ngay cả đau khổ cũng không thể làm ta lìa khỏi Người. Đừng tìm thập giá; nhưng khi thập giá đến trên con đường của bổn phận và tình yêu, đừng bỏ Chúa để chạy trốn nó. Hãy nhìn. Hãy đứng. Hãy khóc nếu cần. Hãy xin người khác giúp. Hãy vác từng bước. Hãy tha thứ. Hãy hy vọng. Và khi đã chẳng còn gì để nói, hãy hôn.

Bởi tình yêu của Chúa đã đi đến cùng.

Và đến cùng vẫn chưa phải là hết.

Bởi sau Thứ Sáu có Chúa Nhật.

Sau cây gỗ có ngôi mộ mở.

Sau tiếng khóc có Alleluia.

Sau vết đinh có thân xác vinh hiển.

Sau cái chết có sự sống.

Và sau cái hôn Thánh Giá của một đời trung tín, xin cho chúng ta được gặp chính Đấng mà suốt đời ta đã hôn trên cây gỗ, nhưng bấy giờ không còn trong bóng tối của đức tin nữa, mà mặt đối mặt.

Adoramus te, Christe, et benedicimus tibi, quia per sanctam crucem tuam redemisti mundum.

Chúng con thờ lạy Chúa, và chúc tụng Chúa, vì Chúa đã dùng Thánh Giá mà chuộc tội cho thiên hạ.

Lm. Anmai, CSsR

Bài viết liên quan

Back to top button
error: Content is protected !!